Nghe những phân tích của bạn Hiền cũng phần nào thấy có lý nhưng cô vẫn không nén nổi những tiếng tức tưởi trong cổ họng. Hảo ôm chặt Hiền hơn, giọng cô xa xôi:
- Thôi, nín đi nào! Vợ bộ đội thời chiến, chẳng biết thế nào mà nói trước được. Ngay cả tao đây này cũng chỉ biết sống bằng hy vọng mà thôi. Mà lão Nhã nhà mày là lính xe tăng, dù sao cũng còn có cái vỏ thép nó che đỡ chứ như lão Minh nhà tao…- Cô bỏ lửng câu nói, mãi sau mới tiếp- Thôi, nín đi rồi về không bà cụ lại mong.
Hiền vẫn tức tưởi:
- Làm sao bây giờ hở mày?
Hảo cứng cỏi:
- Còn làm thế nào nữa? Cứ phải tỏ ra bình thường như không có chuyện gì xảy ra. Từ ngày mai phải cố gắng ở bên cụ nhiều hơn, đừng để mấy cái bà hay ngồi lê đôi mách có dịp lân la gần cụ. Hình như tin này không phải chỉ có một mình tao biết đâu. Nín đi rồi về!- Cô rút cái khăn mùi xoa trong túi ra đưa cho Hiền lau mắt.
Về đến nhà Hiền kêu mệt rồi lên giường đi ngủ ngay. Cô hơi lạ khi thấy mẹ chồng cũng chẳng gặng hỏi gì thêm, bà chỉ bảo hôm nay sẽ ngủ riêng ở nhà ngoài.
Những ngày này có thể nói là những ngày vui nhất của Cân. Trải qua hơn hai tháng hành quân vượt gần hai nghìn ki- lô- mét tiểu đoàn anh đã đưa được gần như 100 phần trăm người và xe đến đích. Vừa vào đến nơi chưa đầy một tuần thì đại đội anh đã nhận lệnh tham gia tiến công chi khu Lộc Ninh. Đây là trận đánh hiệp đồng binh chủng quy mô lớn đầu tiên có xe tăng tham gia ở chiến trường B2, đồng thời là trận đánh mở màn cho chiến dịch Nguyễn Huệ nên Bộ tư lệnh Miền rất quan tâm. Đối với cán bộ chiến sĩ thiết giáp miền Đông thì trận đánh này cũng có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Nếu thắng lợi nó sẽ khẳng định sự đúng đắn của chủ trương đưa xe tăng vào tham gia chiến đấu ở các chiến trường xa và sẽ mở ra một thời kỳ mới trong phát triển lực lượng tăng thiết giáp ở đây. Chính vì vậy trận đánh đã được sự quan tâm đặc biệt, chỉ có một đại đội đi chiến đấu nhưng ở sở chỉ huy có đủ mặt cả phái viên mặt trận, đoàn trưởng thiết giáp miền Đông và các cán bộ tiểu đoàn.
Trước sự kỳ vọng của mọi người, khi nhận nhiệm vụ Cân cũng thấy lo lo, nhỡ ra có vấn đề gì thì thật khó ăn, khó nói. Vì vậy, với những kinh nghiệm của chính mình từ hồi đánh Làng Vây và Đường Chín- Nam Lào, Cân đã đề nghị đại đội tổ chức trinh sát thật kỹ mục tiêu, đặc biệt là đường cơ động. Đồng thời cũng phải đề nghị cấp trên tăng cường lực lượng phòng không, tuyệt đối không để kẻ địch làm chủ bầu trời muốn làm mưa làm gió gì cũng được. Những ý kiến đó sau này đều được trên chấp thuận. Đại đội anh đã được bố trí thời gian đi trinh sát mục tiêu tương đối kỹ, ngoài ra cùng tham gia chiến đấu với đại đội anh còn có một trung đội cao xạ tự hành.
Là một thị trấn gần biên giới Việt Nam- Căm Pu Chia, là cửa ngõ phía bắc của thị xã An Lộc, lại là vùng tranh chấp quyết liệt giữa địch và ta nên lực lượng địch bố trí ở chi khu Lộc Ninh khá mạnh. Đồn trú ở đây có ba tiểu đoàn bộ binh cùng với sở chỉ huy chiến đoàn 9, một thiết đoàn xe tăng và một trận địa pháo binh. Đặc biệt hệ thống công sự, vật cản ở đây được xây dựng rất cơ bản và vững chắc. Kẻ địch hy vọng với lực lượng, phương tiện và cơ sở vật chất như vậy Lộc Ninh sẽ xứng đáng là thành đồng, vách sắt cho An Lộc và cả một vùng rộng lớn dọc quốc lộ 13.
Tuy nhiên, trận đánh đã diễn ra rất thuận lợi. Có lẽ bọn địch đã không thể ngờ tới việc xe tăng Việt Cộng lại có thể có mặt ở một chiến trường xa như vậy nên hết sức hoảng loạn và nhanh chóng tan rã. Sau gần ba tiếng đồng hồ chiến đấu quân ta đã hoàn toàn làm chủ chi khu Lộc Ninh, tiêu diệt và bắt sống hơn 1000 tên địch, trong đó có cả tên đại tá tư lệnh chiến đoàn 9 và 1 cố vấn Mỹ. Chiến thắng Lộc Ninh đã mở toang cánh cửa vào thị xã An Lộc, tạo đà cho chiến dịch Nguyễn Huệ phát triển, cùng với các chiến trường khác làm rung động cả miền Nam. Về phía xe tăng ta chỉ có một xe bị đứt xích do mìn và một xe hư hỏng nhẹ. Cả hai đã được kéo ngay về hậu cứ và nhanh chóng được khắc phục.
Trong cuộc họp rút kinh nghiệm sau trận đánh cả đại đội ai cũng hào hứng, tranh nhau kể về những tình huống xảy ra với xe mình. Không trực tiếp tham gia chiến đấu mà chỉ ở phía sau lo công tác bảo đảm hậu cần và công tác thương binh, tử sĩ nhưng Cân cũng thấy lòng mình rưng rưng một niềm vui khó tả. Ngay sau cuộc họp là buổi liên hoan mừng chiến thắng bằng con lợn Bộ tư lệnh miền thưởng bộ đội xe tăng. Cả tiểu đoàn chìm trong niềm vui tưởng chừng bất tận. Nhớ lại những ngày hành quân gian khổ để hôm nay có chiến thắng này trong Cân bật lên mấy câu thơ. Lẳng lặng về chỗ của mình anh móc vội cuốn sổ tay bất ly thân và nắn nót viết: “Ta đã qua bao nơi, Chưa kịp nhớ tên vì xích lăn gấp gáp, Nghe tiếng đất rung lòng ấm lên hạnh phúc, Mặt trận đây rồi mong đợi tự bao lâu”…
Đang thả hồn theo những vẫn thơ Cân chợt giật mình vì tiểu đoàn trưởng Nghi bất ngờ xuất hiện sau lưng. Cân chưa kịp chào đã thấy Nghi kéo mình ra một góc xa. Nhìn quanh quất không thấy một ai anh hạ giọng thì thầm:
- Cân này! Cậu Nhã “bị” rồi thì phải!
Cân choáng người, anh lắp bắp:
- Anh nói sao? Anh Nhã bị thế nào? Anh nghe tin ở đâu?
Vẫn đảo mắt nhìn quanh Nhã hạ giọng nhỏ hơn:
- Đêm qua tớ mở lướt qua đài Sài Gòn. Trong tiết mục “Nhịp cầu yêu thương” nó thông báo đã tiêu diệt được một chiến đoàn xe tăng ở Quảng Trị. Nó còn đọc cả một danh sách dài những người hy sinh, trong đó tớ nghe rõ có cậu Nhã nhà ta, đủ cả tên tuổi, quê quán, cấp bậc, chức vụ. Lại còn cả tên vợ nữa chứ. Đúng vợ cậu ấy là cô Hiền phải không?
Cân gật đầu xác nhận:
- Đúng thế! Chị ấy tên là Hiền.
Nghi nhăn trán:
- Nhưng tớ vẫn thấy thế nào ấy. Có cái gì đó không bình thường ở đây. Chả lẽ cậu Nhã mà ấu trĩ đến thế?
Cân vẫn bàng hoàng:
- Anh bảo sao? Không bình thường thế nào?
Nghi nhỏ nhẹ:
- Thì đấy! Cậu cũng biết rồi, đã đi chiến đấu ai lại mang giấy tờ, sổ sách đi. Dẫu có hy sinh cũng chỉ một mẩu giấy ghi họ tên, quê quán là cùng thôi chứ. Đằng này… Mà thôi! Tớ chỉ nói cho mỗi cậu biết tin này thôi đấy, dầu sao ngày xưa các cậu đã ở cùng xe mấy năm. Biết thế nhưng để bụng thôi nhé! Tớ về đây!
Nghi đi rồi Cân bàng hoàng ngồi thụp xuống ngay tại chỗ. Anh thẫn thờ: “Dẫu biết rằng đi chiến trường ai cũng có thể sẽ hy sinh nhưng sao sớm thế, Nhã ơi! Mà không lẽ anh lại nổi tiếng theo cách này”. Chả là hôm đi xem triển lãm chiến thắng Đường Chín- Nam Lào về ông nội Cân cứ tấm tắc khen mãi Nhã và Hòa, ông bảo: “Hai anh này về sau đều nổi tiếng lẫy lừng”. Thấy ông khen bạn mình mà mặt lại lộ vẻ đăm chiêu không vui Cân cứ gặng mãi ông đành nói thật: “Nổi tiếng thì nổi tiếng đấy nhưng là cái nổi tiếng của sự hy sinh”. Nghe ông nội nói Cân cũng bán tín, bán nghi nhưng rồi anh gạt phắt đi. Chả lẽ điều ông nói đã thành sự thật đối với Nhã? Còn Hòa nữa, từ hôm chia tay ở Đoàn Mười anh không có tin tức gì của cậu ta, chỉ biết Hòa được điều về trung đoàn bộ binh cơ giới H02 và cũng đã vào Quảng Trị. Cân thầm mong những gì ông nội nói chỉ là sự phỏng đoán vô căn cứ của người già. Những đồng đội của anh tốt đẹp như thế, thông minh như thế làm sao mà “đi” dễ dàng như vậy.
Dưới chân dãy núi Ngọc Tụ sậm đỏ màu ba dan có một người cũng nghĩ như vậy, đó là Thắng. Ngay khi cuộc tổng tiến công nổ ra đại đội 7 của Thắng đã nhận lệnh hành quân từ hậu cứ Tà Sẻng về tập kết ở đây để chuẩn bị tham gia chiến dịch Đắc Tô- Tân Cảnh. Xe cộ đã được củng cố, lính tráng đã được nghỉ ngơi mấy tuần nên cuộc hành quân theo con đường quân sự làm gấp tuy hơi vất vả nhưng cũng khá suôn sẻ. Bọn máy bay thì hình như đang phải tập trung vào mấy đòn nghi binh của Bộ tư lệnh chiến dịch ở gần Kon Tum nên cũng không thấy quấy phá gì. Chỉ mỗi tội bụi. Đất Tây Nguyên cuối mùa khô bị những băng xích nghiền tơi ra rồi cuộn lên tạo thành những đám mây bụi khổng lồ dài hàng cây số. Chiếc xe dắt của tổ kỹ thuật lại đi cuối đội hình nên có bao nhiêu bụi phải hứng tất. Bụi mờ mịt trong không trung. Bụi len vào mọi ngõ ngách trong xe. Bụi táp vào mặt như có người ném. Bụi chui vào khắp người bết lại với mồ hôi biến tất cả thành người da đỏ... Dẫu đã cuốn quanh miệng một cái khăn mặt “dạ dày bò” để lái xe mà lúc khạc ra Thắng vẫn thấy một bãi nước bọt đặc quánh, đỏ sẫm như máu. Đã thế lại phải khắc phục xe hỏng hóc, cứu kéo xe lầy, rệ nên mấy anh em tổ kỹ thuật lúc nào cũng phờ phạc như người mất hồn.
Tuy nhiên, khi vào đến vị trí tập kết rồi thì tổ kỹ thuật lại khá thảnh thơi. Cán bộ đại đội, cán bộ trung đội, một số trưởng xe và lái xe phải đi trinh sát thì tổ kỹ thuật của Thắng lại được ở nhà với nhiệm vụ kiểm tra, khôi phục tình trạng kỹ thuật của trang bị. Ngày thì lụi cụi “đầu dầu, đít mỡ”, chiều đến kiếm cái gì đó “ca cóng”, tối về túm tụm tán gẫu và thay phiên nhau gí tai nghe tin tức từ cái đài “ô- ri- ông- chế”.
Gọi là “ô- ri- ông- chế” vì cái đài này đích thực là sản phẩm của cơ công Chế. Từ khi về làm kỹ thuật viên đại đội, được phụ trách tổ kỹ thuật này Thắng đã đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác về “hoa tay” của mấy anh em trong tổ. Cậu Nhuần thợ điện thì tài viết vẽ. Cứ mỗi lần đại đội tổ chức thi báo tường thì cả tổ tha hồ mà “hưởng sái” vì các trung đội mỗi khi mang báo lên nhờ trang trí hộ đều phải kèm theo cái gì đó bồi dưỡng họa sĩ. Cậu Độ thợ cơ thì có thể biến mọi thứ, từ ống pháo sáng, mảnh máy bay thành ca, thành đĩa, thành hộp đựng thuốc đánh răng… Chỉ với một con dao díp bé tẹo ngồi dũi một lúc trên mặt tấm đuya- ra đã hiện ngay ra một bức họa đẹp như vẽ. Cái điếu cày của cậu ta thì đúng là một tác phẩm nghệ thuật thực sự. Hai con rồng uốn lượn giữa những đám mây rồi chầu vào cái nõ điếu há hốc mồm ra như muốn hít lấy, hít để cái thứ khói ma mị sinh ra từ đó. Kỹ tính như trung đội trưởng Triệu cũng phải buột miệng khen: “tuyệt đẹp”. Tuy nhiên cũng có ý kiến: “đáng lẽ phải lưỡng long chầu nguyệt thì ở đây lại là lưỡng long chầu nõ”. Nghe vậy Độ chỉ tủm tỉm cười mà không phát biểu gì. Riêng cơ công Chế thì mới phát lộ tài năng gần đây. Với hai bánh lương khô Chế đổi được một cái “cây nhiệt đới” của cánh công binh. Lại nhờ Độ gia công một miếng nhôm thành cái loa ôm lấy một tai nghe mũ công tác. Thêm vài buổi kỳ cạch hàn hàn, nối nối Chế đã sản xuất ra một cái đài bán dẫn chính cống. Mỗi tội âm lượng của loa quá nhỏ, khi nghe cứ phải gí sát tai vào. Không có tụ xoay cậu ta tính toán thế nào đó rồi kéo ra ba đầu dây, muốn nghe đài nào thì câu vào đài đó thành ra chỉ nghe được ba đài: đài Hà Nội, đài Giải Phóng và đài Sài Gòn. Cái đầu dây nghe đài Sài Gòn cậu ta giấu kín vào bên trong, chỉ nội bộ tổ mới biết. Và chính nhờ cái đài của Chế này mà Thắng nghe được tin dữ về Nhã và đại đội của anh khi đang nằm dưới chân dãy Ngọc Tụ.
Hôm ấy, ngay khi nghe hết bản tin Thắng nghĩ ngay đến bà mẹ Nhã. Đã từng về nhà Nhã, đã được mẹ Nhã coi như con nên anh hiểu lòng bà. Nhà chỉ có hai con trai, ông anh đã đi chiến trường mấy năm không có tin tức nên bao nhiêu hy vọng về một đứa cháu nối dõi tông đường được bà đặt hết vào Nhã và Hiền. Thế mà đợt phép hồi đưa xe ra triển lãm vẫn chưa có kết quả gì. Không biết tin này mà đến bà có qua khỏi được không. Lại còn Hiền nữa, mới chưa đầy ba mươi tuổi đã trở thành góa phụ.
Nhưng đêm nằm tĩnh trí lại Thắng bắt đầu thấy phân vân. Đã là lính chiến dày dạn cả rồi đi đánh nhau ai lại mang trong người cả cái sơ yếu lý lịch như vậy. Ai chứ chắc chắn Nhã thì không! Mà đây lại là danh sách cả một đại đội chứ đâu có ít. Chắc chắn có vấn đề gì đó không bình thường ở đây. Cuối cùng Thắng khẳng định: “không thể có chuyện đó được”. Hôm Triệu đi trinh sát về, Thắng đem chuyện này nói lại với anh thì Triệu cũng hoàn toàn đồng ý: “cái bọn ấy ngu bỏ mẹ đi. Nói như thế thì ai chả biết là chuyện vớ vẩn”.
Nhưng có những người lại không cho đó là chuyện vớ vẩn. Ngày hôm đó chủ nhiệm chính trị Thu được Tổng cục Chính trị gọi lên gặp gấp. Tưởng có chuyện gì hóa ra là cái tin về một chiến đoàn xe tăng bị tiêu diệt và danh sách của một đại đội được phát trên đài Sài Gòn. Tổng cục yêu cầu binh chủng về kiểm tra lại ngay và phúc đáp gấp. Vừa nghe chủ nhiệm chính trị Thu tường trình lại đầu đuôi câu chuyện tư lệnh Lân gầm lên như hổ đói:
- Không biết các ông ấy làm ăn thế nào mà để xảy ra cơ sự này! Chỉ nói là giỏi thôi!- Dường như ông muốn trút hết nỗi bực dọc lên đầu vị cấp phó lúc nào cũng tỏ vẻ coi thường mình- Lúc nào cũng lý thuyết này, kinh nghiệm kia. Giờ thì mới trắng mắt ra.
Đợi cho tư lệnh hạ hỏa một chút chủ nhiệm chính trị Thu mới nhẹ nhàng:
- Báo cáo anh! Về sự việc này trên Tổng cục cũng mới chỉ đặt vấn đề nghi vấn thôi chứ chưa có kết luận gì. Không loại trừ đó là tin vịt. Các anh ấy mới chỉ yêu cầu binh chủng kiểm tra lại và báo cáo cụ thể lên thôi.
Ông Lân vẫn chưa nguôi cơn giận:
- Thế mà bức điện nào ra cũng báo cáo tình hình bình thường. Có mà bình thường cái cục c. ấy!
Chủ nhiệm chính trị Thu vẫn nhỏ nhẹ:
- Thì sự việc này cũng mới chỉ xảy ra một hai ngày nay thôi. Chắc là anh em trong đó người ta còn phải xác minh xem thế nào đã chứ. Tôi tin rằng nếu có chuyện gì đặc biệt nhất định anh Đào anh ấy sẽ báo cáo ra ngay.
Ông Lân vẫn bực dọc:
- Các anh chỉ được cái bênh nhau chằm chặp là giỏi- Tuy nhiên ông cũng đã nguôi nguôi- Thế anh định làm gì vây giờ?
Chắc là đã có phương án đối phó trên đường về nên chủ nhiệm chính trị Thu trả lời ngay:
- Theo tôi trong tình hình này ta phải hết sức bình tĩnh kiểm tra xem thực hư ra sao đã. Trước hết có lẽ phải điện vào trong kia yêu cầu báo cáo thật cụ thể tình hình. Thứ hai là có biện pháp trấn an dư luận, không để cho tin này lan rộng, nhất là trong bộ đội của ta.
Ông Lân vẫn làu bàu:
- Trấn thế quái nào được! Nó đã phát trên đài rồi. Cấm thì cứ cấm mà người ta nghe vẫn cứ nghe. Thế rồi một đồn mười, mười đồn trăm. Tôi đảm bảo chỉ một, hai ngày nữa là khắp nơi người ta biết tin này.
Chủ nhiệm chính trị Thu gật đầu:
- Tôi đồng ý với anh. Vì vậy ta cần kiểm tra cụ thể xem sự việc thế nào rồi mới có biện pháp được.
Đúng lúc ấy đồng chí cơ yếu xuất hiện, nhìn thấy vẻ bực bội trên gương mặt thủ trưởng anh run run:
- Báo cáo tư lệnh! Có điện của tiền phương ạ!
Tư lệnh Lân giật phắt lấy bức điện trong tay người chiến sĩ cơ yếu, ông lướt qua một lượt rồi đưa cho chủ nhiệm chính trị Thu:
- Đây! Anh xem đi! Ấu trĩ đến thế là cùng. Đi đánh nhau lại còn mang theo sổ trích ngang của đơn vị. Mà không biết ông Đào chỉ đạo tác chiến thế nào lại để nó bắt sống được cả xe tăng?- Ông nhướng mắt lên khiêu khích- Mà anh Thu này, có lẽ đây là lần đầu tiên trong lịch sử có chuyện xe tăng bị bắt sống đấy. Chẳng lẽ chiến sĩ của các anh lại “bỏ của chạy lấy người” hả?
Chủ nhiệm chính trị Thu nín lặng. Một cảm giác khó tả dâng lên trong lòng ông. Chả lẽ đến giờ mà “ông ấy” vẫn chưa coi cái binh chủng này là của chính mình, chiến sĩ xe tăng là chiến sĩ của chính mình. Sao vẫn là “chiến sĩ của các anh”. Tuy nhiên ông cố nén lòng nói thật nhẹ nhàng:
- Có lẽ có chuyện gì đó bất thường xảy ra thôi anh ạ! Tôi có thể khẳng định không bao giờ có chuyện chiến sĩ của chúng tôi lại bỏ của chạy lấy người. Tôi đề nghị một mặt yêu cầu tiền phương báo cáo cụ thể hơn tình huống này. Thứ hai là phải nắm lại cái danh sách đó. Nếu cần thiết phải tổ chức một đoàn cán bộ đến từng gia đình cán bộ, chiến sĩ để giải thích cho họ hiểu.
Tư lệnh Lân buông thõng:
- Tùy anh! Anh muốn làm gì thì làm.
Cứ nấn ná định ở lại thêm nhưng rồi cũng đến ngày mà chính ủy Ngọc phải lên đường ra Bắc. Trong ba lô của ông đã có đầy đủ ảnh và thư của hơn ba chục cán bộ, chiến sĩ đại đội 1 của Ngô Quang Nhã. Chuyện ra, vào ở cơ quan mặt trận này cũng là bình thường nên chẳng có liên hoan chia tay, chia chân gì cả. Tuy nhiên, biết rằng lần này mình sẽ rời khỏi binh chủng nên ông muốn có một buổi chia tay thật ý nghĩa với phó tư lệnh Đào. Vì vậy ngay từ chập tối ông đã pha một bi đông trà ngon rồi mời ông Đào cùng thưởng thức.
Hai người ngồi đối ẩm ngay trên miệng hầm. Mảnh trăng non đầu tháng chênh chếch phía đông tỏa ra một thứ ánh sáng yếu ớt nhưng cũng đủ để hai người lờ mờ thấy mặt nhau. Ông Ngọc cẩn trọng nghiêng bi đông rồi đưa chén nước trà vào tận tay người đồng sự của mình:
- Anh uống nước đi! Chè ngon lắm đấy!
Ông Đào đón chén nước, nhấp một ngụm nhỏ rồi gật đầu:
- Công nhận, chè ngon thật!
Hai người cùng im lặng nhấp từng ngụm nhỏ. Tự nhiên bao nhiêu điều đã chuẩn bị từ mấy hôm nay bỗng dưng chẳng cất nổi thành lời.
Nói cho công bằng, ngày mới về binh chủng ông cảm thấy con người này thật khó gần, thậm chí là không thể gần được. Lúc nào cũng bộ mặt khó đăm đăm. Lúc nào cũng một thái độ lạnh lùng, xa cách. Lại còn giọng lưỡi nữa chứ, cứ sắc lẻm và cay nghiệt như một mụ dì ghẻ chính cống. Nhưng rồi càng cộng tác với nhau lâu, hiểu thêm về hoàn cảnh xuất thân của người đồng sự ông càng cảm thấy thông cảm với ông Đào. Ông tự nhủ: “thôi thì nhân vô thập toàn”. Ông cũng nhận thấy đằng sau cái vẻ bên ngoài cay nghiệt ấy là một trái tim nhân hậu, biết yêu thương con người, lúc nào cũng mong muốn những người xung quanh mình ngày càng hoàn thiện để vươn tới những đỉnh cao hơn. Đằng sau cái vẻ ngoài khó gần đó còn là một trí tuệ hết sức uyên bác, một từ điển bách khoa sống không chỉ về tăng thiết giáp mà về mọi lĩnh vực trong cuộc sống. Và trên hết, đó là một con người của công việc. Lúc nào cũng chỉ có công việc và công việc. Cách nhà chỉ có hơn hai chục ki- lô- mét mà mỗi tháng cũng chỉ đảo qua một lần chiếu lệ. Dường như tất cả sức lực, trí tuệ của con người đó chỉ biết dành cho những chiếc xe tăng thì phải.
Mà cũng lạ, lúc đầu ông không hiểu tại sao những chiếc xe tăng nặng nề, thô kệch dường kia lại có sức quyến rũ đối với ông Đào và những cán bộ, chiến sĩ dưới quyền đến vậy. Cứ như là bị “bùa mê, thuốc lú” ấy. Họ có thể say sưa nói chuyện ngày này qua ngày khác về nó. Họ chăm chút nó như chăm chút con thơ. Họ trìu mến nó như trìu mến người yêu. Đối với họ hình như những chiếc xe ấy cũng có tâm hồn thì phải.
Còn một điều lạ nữa mà ông cảm nhận thấy, hình như lính xe tăng họ gắn bó với nhau hơn thì phải. Cùng một đơn vị thân nhau đã đi một nhẽ. Đằng này chỉ cần biết nhau là lính xe tăng thôi mà đã thân thiết như anh em một nhà. Còn nếu là thành viên trong một kíp xe thì cứ như tình nhân của nhau, quấn quýt không rời.
Thế rồi đến lượt chính ông hình như cũng phải lòng những chiếc xe tăng và những con người ấy. Ông đã cảm nhận được sự gắn bó của bản thân mình với cái binh chủng đầy xa lạ lúc mới về. Rồi thì đến lúc chính ông đã bao đêm trăn trở vì sự lớn mạnh của nó. Ông cũng từng phấp phỏng dõi theo mỗi vòng xích lăn trên những cung đường Trường Sơn. Ông cũng đã quên ăn, quên ngủ chờ đợi tin của từng trận đánh.
Mới đây, khi xuống thâm nhập các đơn vị trước khi vào chiến dịch ông còn phát hiện ra một điều mới nữa. Ấy là chuyện lính xe tăng bây giờ lại gọi nhau bằng “quê” mới lạ chứ. Không hiểu xuất xứ từ đâu nhưng thôi thì đủ kiểu. Nào là “anh quê”, “thằng quê”, “quê gì ơi” hay đại khái chỉ là “quê ơi”…, chỗ nào cũng thấy “quê” là “quê”. Người ngoài đơn vị nghe cứ tưởng có anh nào đó tên Quê. Đến lúc thấy tất cả gọi nhau như vậy thì lại tưởng cả bọn cùng một quê. Nhưng té ra là sai tuốt. Họ cứ gọi nhau như thế đến mức ông đồ rằng ở binh chủng này chắc chỉ có mấy thủ trưởng Bộ Tư lệnh là lính tráng không dám gọi là quê thôi.
Là một cán bộ chính trị lâu năm, lại hay chiêm nghiệm và tổng kết rồi ông cũng đi đến một kết luận: sở dĩ những người lính xe tăng họ gắn kết với nhau như vậy là bởi vì đặc điểm tổ chức biên chế chiến đấu của chính họ. Mỗi một kíp xe có từ 3 đến 5 thành viên. Mỗi thành viên có một chức trách, nhiệm vụ khác nhau. Nhưng kíp xe đó chỉ hoàn thành nhiệm vụ khi tất cả các thành viên hoàn thành nhiệm vụ. Còn một lẽ nữa làm họ gắn bó mà chẳng mấy ai nói ra, ấy là họ không chỉ chung nhau nhiều thứ mà còn chung nhau cả cái chết. Đã không ít kíp xe hy sinh khi trúng đạn mà xương cốt của mấy anh em đều thành tro bụi trộn lẫn với nhau.
Hiểu như thế rồi ông Ngọc lại càng thông cảm với ông Đào. Tuy vậy nhiều lúc ông vẫn muốn góp ý với ông Đào nên có những điều chỉnh sao cho dễ gần hơn, “quần chúng” hơn. Những điều định nói thì rõ nhiều thế nhưng cuối cùng ông lại nói sang chuyện khác:
- Mai tôi ra rồi, anh có gửi gì về nhà không?
Ông Đào đặt chén nước xuống, giọng bình thản:
- Có gì mà gửi hả anh?
Hai người lại im lặng. Ông Ngọc nghiêng bi đông rót thêm nước vào chén rồi khẽ khàng:
- Đang lúc nước sôi, lửa bỏng thế này mà trên lại gọi tôi ra gấp. Chắc anh sẽ vất vả nhiều.
Ông Đào nhấp thêm ngụm nước rồi gật đầu:
- Có thế thật! Nhưng theo tôi “các cụ” thế là tinh đời lắm đấy. Kéo anh ra làm công việc ấy là rất thích hợp.
Điều này thì ông Đào nói thật lòng. Thực ra, hồi ông Ngọc mới về bản thân ông cũng thấy không ưa cho lắm. Nguyên nhân đầu tiên có lẽ cũng là do cái hẹp hòi, cục bộ trong sâu thẳm của mỗi con người. Chả là ở binh chủng không thiếu gì cán bộ chính trị lâu năm, lại được đào tạo rất bài bản cả về nghiệp vụ công tác chính trị lẫn kỹ chiến thuật xe tăng. Về niên hạn phục vụ cũng đã khá dày dặn. Ấy thế mà đùng một cái trên lại điều người khác về làm chính ủy binh chủng. Đã thế lại còn cái dáng người mảnh khảnh thư sinh, “tướng trói gà không chặt thế kia mà lại làm chính ủy xe tăng thật chẳng hợp tý nào” như lời xì xào của một số cán bộ. Lại còn cái tác phong lúc nào cũng có vẻ lừ đừ nữa, thiếu hẳn đi cái xông xáo, năng nổ của một chính ủy binh chủng chiến đấu…
Nhưng rồi dần dà ông cũng nhận ra người chính ủy ấy có rất nhiều ưu điểm. Mặc dù là người rát khắt khe song ông cũng chẳng chê ông Ngọc được điểm nào cả về đạo đức tư cách cũng như tác phong, phương pháp công tác. Mặc dù vẫn gọi vụng ông Ngọc là “ông Bụt” nhưng ông cũng phải thừa nhận rằng vị chính ủy này đã làm khá tốt vai trò của một người “cầm cân, nảy mực”, giữ gìn hòa khí trong Bộ Tư lệnh. Nếu như trong các cuộc họp ông là cái nồi súp- de lúc nào cũng sôi sùng sục thì ông Ngọc như một cái van điều áp. Các cuộc họp do ông chủ trì đang căng như dây đàn mà có mặt ông Ngọc lập tức không khí sẽ chùng xuống, dịu ngay. Nói cho công bằng ông Ngọc không có cái sắc xảo, nhanh nhạy nhưng lại có sự chín chắn, điềm đạm rất cần thiết của một cán bộ chính trị.
Dường như muốn nói rõ hơn ý của mình ông Đào lại tiếp:
- Trong hoàn cảnh hiện nay của mình, công tác đối ngoại cũng vô cùng quan trọng. Theo tôi, anh rất hợp với công việc đó.
Ông Ngọc cười hiền lành:
- Thôi thì tổ chức phân công việc gì ta làm việc đó, anh ạ!
Như chợt nhớ ra điều gì đó ông Đào quay lại nhìn thẳng vào ông Ngọc và thấp giọng:
- Anh đi rồi nhưng nếu trên có hỏi ý kiến về người thay anh làm chính ủy thì anh sẽ đề cử ai?
Có lẽ cũng đã lường trước thế nào ông Đào cũng hỏi câu này nên ông Ngọc đáp ngay:
- Tất nhiên việc quyết định là do trên. Tuy nhiên, nếu trên hỏi ý kiến thì tôi sẽ giới thiệu anh Thu. Mấy năm về công tác ở đây tôi thấy anh ấy rất xứng đáng.
Cuộc đối ẩm lại rơi vào im lặng. Mãi sau ông Ngọc mới khẽ khàng:
- Thời gian trôi nhanh thật đấy. Thế mà đã bảy năm ở với anh rồi.
Ông Đào gật đầu phụ họa:
- Nhanh thật đấy!
Lặng đi một lúc ông Ngọc lên tiếng, giọng đầy cảm xúc:
- Trong thời gian công tác với các anh, có gì không phải anh bỏ quá cho nhé!
Như bị lây cái cảm giác của người đồng sự nên giọng ông Đào cũng khác hẳn ngày thường:
- Không! Không có gì! Người nói câu đó phải là tôi mới đúng. Thực tình, nhiều lúc nghĩ lại tôi thấy mình cũng có nhiều cái không phải với anh và với các anh em khác. Nhưng anh thông cảm cho. Tính tôi nó vậy, quen mất rồi. Mà có lẽ anh cũng đi nghỉ một chút đi. Xe sắp đến rồi- Ông đứng dạy, chìa tay ra- Chúc anh lên đường mạnh khỏe, hoàn thành nhiệm vụ!
Hai người bắt tay nhau rồi ai về hầm nấy.
Như hòn đá ném xuống ao bèo, cái chuyện rùm beng về danh sách cả một đại đội xe tăng bị hy sinh được phát trên đài Sài Gòn rồi cũng chìm lỉm đi trước muôn vàn công việc của thời chiến. Nhưng riêng với phó tư lệnh Đào nó cũng để lại nhiều day dứt. Nỗi xấu hổ của một người chỉ huy để xảy ra quá nhiều chuyện không hay dồn dập xảy đến trong một thời gian ngắn vẫn dày vò ông, làm ông ăn không ngon, ngủ không yên. Mặc dù qua cuộc họp rút kinh nghiệm vừa rồi những nguyên nhân chủ yếu của các thất bại đã được mổ xẻ tương đối sâu sắc. Một số đối sách cũng đã được đề ra. Nhưng với ông Đào như thế vẫn chưa đủ. Câu hỏi “Tại sao lại đến nông nỗi ấy” vẫn ngày đêm nung nấu trong ông, đòi hỏi ông phải có một câu trả lời thấu đáo đến tận cùng của vấn đề. Đêm nay cũng vậy, câu hỏi đó lại trở đi trở lại trong óc ông.
Chiến tranh, đó là cuộc đấu trí, đấu lực giữa hai thế lực đối kháng, bên nào cũng muốn giành chiến thắng lớn nhất với thiệt hại nhỏ nhất. Vì vậy mỗi bên đều tìm trăm phương, nghìn kế để đạt được mục đích của mình. Ngoài ra lại còn tác động của những yếu tố ngẫu nhiên như tình hình địa hình, thời tiết và trăm thứ bà rằn khác. Cũng chính vì vậy các sự kiện, các tình huống của cả cuộc chiến tranh cũng như của mỗi chiến dịch, mỗi trận đánh đều diễn ra hết sức phong phú, muôn hình, vạn trạng và cực kỳ khó nắm bắt, phán đoán. Lịch sử chiến tranh đã cho thấy có những chiến dịch được sự chuẩn bị hết sức công phu của hàng vạn con người song lại bị “đổ bể” vì những nguyên nhân cực kỳ vớ vẩn. Nhưng cũng có những trận đánh mà sự ngẫu nhiên lại dâng tặng chiến thắng cho người ta mà chẳng phải hao tâm, tổn sức gì nhiều lắm. Một chú bé tè bậy có biết đâu mình lại cứu được cả thành phố khỏi thảm họa. Một con hẻm chìm nghỉm trong cây cỏ vùng Oa- téc- lô lại là nguyên cớ nhấn chìm cả Đế chế Na- pô- lê- ông… Sự thiên biến, vạn hóa của chiến tranh là cái không phải bàn cãi. Đó là cái “vạn biến”. Vậy cái “bất biến” để người ta dựa vào đó mà ứng phó với nó là cái gì? Phải chăng đó chính là bản lĩnh nội tại của những người tham gia vào cuộc chiến, từ người chỉ huy cao nhất ở đại bản doanh cho đến mỗi người lính trực tiếp chiến đấu trên chiến trường. Đó không chỉ là bản lĩnh chính trị vững vàng, sẵn sàng xả thân vì lý tưởng mà còn là trí tuệ, là mưu mẹo, là khả năng phản ứng linh hoạt, sáng tạo trước mỗi diễn biến của tình hình, là trình độ sử dụng trang bị kỹ thuật, là sức khỏe, là kỹ năng chiến đấu... Có lẽ vấn đề cốt yếu là ở đây- bản lĩnh của ông, của các cán bộ, chiến sĩ dưới quyền ông chưa đủ tầm, chưa đạt đến độ chín cần thiết. Nếu linh hoạt hơn, khi đứng trước con sông Bến Hải mà họ chưa biết gì về nó họ đã tìm đến nơi cần thiết để tìm hiểu. Nếu sáng tạo hơn khi bọn địch thay đổi thủ đoạn chiến đấu họ cũng phải vắt óc để tìm ra cách đối phó hữu hiệu, không để thiệt hại lớn đến thế. Nếu chủ động hơn cái cậu Nhã kia phải biết phán đoán tình hình, lập tức tổ chức đánh địch phản kích thì đâu đến nỗi thất bại ê chề đến vậy vv… và vv… Biết bao chữ “nếu” quay cuồng trong đầu óc ông và cuối cùng đều dẫn đến một câu trả lời: “bản lĩnh chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ xe tăng chưa đáp ứng yêu cầu của cuộc chiến”.
Nhưng cũng không thể trách họ được! Sự phát triển quá nhanh về quy mô lực lượng đã buộc những cán bộ, chiến sĩ của ông phải khoác chiếc áo quá rộng so với mình. Hàng trăm cán bộ từ Lục quân chuyển về chỉ được học về xe tăng vỏn vẹn ba tháng. Hàng trăm người khác đang là thành viên kíp xe được gọi về đào tạo cấp tốc trong vòng sáu tháng rồi được trao vào tay một trung đội, một đại đội. Ông chua xót nhớ lại câu chuyện một cán bộ chính trị cử bốn người đi lĩnh “cầu chì”. Khổ! Mỗi cái cầu chì chỉ bằng ngón tay út. Thế mà lại cử những bốn người đi “khiêng” vì nghĩ “cầu làm bằng chì chắc là nặng lắm”. Cán bộ đã vậy còn chiến sĩ cũng chẳng khá hơn. Hàng nghìn chiến sĩ vừa mới nhập ngũ, học chưa hết chương trình đã phải đưa vào chiến trường. Trong khi đó những nơi họ học cũng đâu đã phải là những cơ sở đào tạo chính quy, cơ bản. Cán bộ thì được đào tạo ở một Đoàn huấn luyện tổng hợp mới nâng cấp lên. Thành viên kíp xe thì được đào tạo ở các đơn vị chiến đấu, không có đội ngũ giáo viên chuyên trách. Chương trình, nội dung cũng chắp vá, mới chỉ được xây dựng cấp tốc để đáp ứng yêu cầu trước mắt của chiến trường. Không! Không thể trách họ được. Cái cần làm bây giờ là phải xây dựng những trung tâm đào tạo thật ra trò, kể cả đào tạo cán bộ cũng như đào tạo thành viên kíp xe. Phải xây dựng những bộ chương trình vừa đáp ứng yêu cầu cơ bản, lại vừa đáp ứng yêu cầu bức thiết của nhiệm vụ. Nội dung huấn luyện cũng phải được biên soạn lại theo hướng vừa cơ bản, vừa thiết thực, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và phải đưa bằng được được những kinh nghiệm thực tế vào các bài giảng. Có lẽ đó là công việc cấp bách nhất đối với binh chủng của ông bây giờ. Ông tự dặn mình sau chiến dịch này bằng mọi cách sẽ đề nghị cấp trên cho thành lập Trường sĩ quan Thiết giáp và ít nhất một trung tâm chuyên đào tạo thành viên kíp xe. Thực ra không phải binh chủng không đề nghị, đã vài lần trao đổi trực tiếp, rồi công văn này nọ nhưng chẳng thấy hồi âm. Về phía binh chủng khi thấy trên không có ý kiến gì thì cũng thôi. Không! Lần này ông sẽ làm bằng được, nếu cần ông sẽ trực tiếp xin gặp người chỉ huy cao nhất của quân đội để trình bày. Có trường, có giáo viên chuyên trách, có chương trình, nội dung phù hợp mới có thể lấp được cái lỗ hổng này, mới xây được cái “bất biến” để anh em người ta dựa vào đó ứng phó với cái “vạn biến” của chiến tranh. Trả lời được câu hỏi đó phó tư lệnh Đào cảm thấy nhẹ lòng hơn.
Còn bây giờ là vấn đề trước mắt: “bí mật đào công sự và đưa xe tăng vào để chọc thủng lớp vỏ cứng của địch”. Quả thật đây cũng là một vấn đề mới, chưa hề có trong các giáo trình về sử dụng xe tăng trên thế giới. Có thể đây cũng là một nét riêng độc đáo của xe tăng Việt Nam. Tuy nhiên, hiệu quả như thế nào, cách tiến hành ra sao, liệu có giữ bí mật được không vv… vẫn còn chưa biết. Có lẽ cần có sự khảo sát, nghiên cứu thật kỹ càng. Ông đi đến quyết định sẽ phái “chuyên gia xạ kích” Trần Bắc xuống cùng H03 để tổ chức thực hiện biện pháp này, sau đó phải có một bản tổng kết thật chi tiết đem về.
Nghĩ đến đây đầu óc ông thấy nhẹ hẳn đi rồi chìm dần vào giấc ngủ. Đã nửa tháng rồi ông mới được một giấc ngủ ngon đến vậy.
Mặc dù vẫn hay trêu chọc Liên là “lái xe tăng kiêm triết gia nửa mùa” Nhã vẫn thừa nhận thằng cha này trích dẫn nhiều câu rất hay, rất hợp cảnh hợp tình. Sau hôm đại đội anh xảy ra “sự cố Phượng Hoàng” Liên bảo: “Đau khổ bao giờ cũng là điều không ai mong muốn. Nhưng đau khổ làm người ta trưởng thành, cao quý hơn lên”. Đúng là như vậy, sau sự cố đó cán bộ, chiến sĩ trong đại đội như già dặn hẳn lên. Trên những khuôn mặt gày sắt, sạm đen chỉ còn thấy hai con mắt nhưng ẩn chứa bên trong là một ý chí không gì bẻ gãy nổi: “phải chiến thắng, chiến thắng để rửa hận”.
Sau khi đi dự hội nghị rút kinh nghiệm do binh chủng tổ chức về Nhã và Hàn đã tổ chức sinh hoạt Hội đồng quân nhân. Sau khi đánh giá một cách tổng thể ưu, khuyết điểm của trận đánh đích thân đại đội trưởng Nhã đã tự kiểm điểm một cách sâu sắc trước toàn đơn vị. Có lẽ trong đời đây là lần đầu tiên Nhã nói dài và xúc động như vậy. Anh nhận về mình khuyết điểm đã chỉ huy đơn vị chưa tốt, lại thiếu chủ động khi đánh giá tình hình, thực hiện chế độ trực liên lạc chưa nghiêm nên đã để xảy ra hậu quả nghiêm trọng cho đơn vị.
Tiếp đó đến phần kiểm điểm của chính trị viên Hàn. Hàn không nói nhiều, anh nhận tất cả khuyết điểm về mình. Là một chính trị viên, người anh cả của đại đội nhưng anh đã phụ lòng tin của mọi người, đã giáo dục chiến sĩ không tốt, đã chấp hành không nghiêm chế độ bảo mật vv… và vv… Cuối cùng Hàn xin lỗi tất cả anh em và bật khóc nức nở trước toàn đơn vị.
Dường như nước mắt của người chính trị viên đại đội có khả năng lây lan thì phải. Hơn ba chục chàng trai trẻ mắt đều đỏ hoe, có cậu khóc thành tiếng. Ngồi duy trì cuộc họp nhưng Nhã cũng cảm thấy mắt mình ươn ướt. Anh hiểu đây không phải là những giọt nước mắt yếu đuối. Những người lính của anh là một thế hệ có văn hóa, hơn một phần ba trong số họ là sinh viên các trường đại học. Vì thế họ có lòng tự trọng rất cao. Chắc chắn họ không khóc vì sợ hãi, vì nản chí. Họ khóc vì sự non nớt, vụng dại của mình. Họ khóc vì những người đồng đội và bốn chiếc xe tăng thân yêu đã vì sự non nớt ấy mà ra đi một cách oan uổng. Họ khóc vì tủi hổ, vì đã phụ lòng kỳ vọng của cấp trên, của đồng đội. Họ khóc vì mỗi người đều cảm thấy bản thân mình có phần khuyết điểm trong đó. Thế rồi họ nói, tranh nhau nói. Không vòng vo, không tránh né họ tuôn ra hết những suy nghĩ, những ấm ức đã chôn chặt trong lòng mình bấy lâu nay. Nhưng có một điểm chung: tất cả đều hết sức thành khẩn nhận những thiếu sót về mình- kể cả những việc mà nếu họ không nói ra thì chẳng ai được biết.
Khi những ẩn ức được giải tỏa những người lính như được lột xác. Không còn những bộ mặt chán chường, uể oải mà thay vào đó là một sinh khí mới. Họ lao vào chuẩn bị cho cuộc chiến đấu sắp tới với một bản lĩnh mới, một tâm thế mới.
Vụ việc um xùm trong dư luận cuối cùng cũng được giải quyết rốt ráo. Chính trị viên Trần Xuân Hàn bị kỷ luật giáng chức, chính trị viên phó Dư lên thay. Đại đội trưởng Nhã bị kỷ luật cảnh cáo nhưng được giữ nguyên chức vụ. Pháo thủ Thủy cũng bị cảnh cáo nhưng Nhã không thay, vẫn để cậu ta ở lại xe mình. Về phía Bộ tư lệnh cũng phải tổ chức mấy đoàn cán bộ đến các gia đình cán bộ, chiến sĩ có tên trong danh sách để giải thích, động viên. Nhưng công việc này cũng không hề đơn giản. Chủ nhiệm chính trị Thu bảo: “không dưng kéo đến nhà người ta mà không khéo có khi lại sinh chuyện”. Vì vậy các đoàn đi đều được căn dặn kỹ về phương pháp làm việc. Trước hết là phải dựa vào đảng bộ, chính quyền địa phương. Sau nữa phải nghe ngóng dư luận để tùy tình hình mà xử trí. Thật may, hơn ba chục lá thư cùng với ảnh từ Bộ tư lệnh tiền phương đã được chính ủy Ngọc cầm ra rất kịp thời. Anh em cán bộ vì vậy cũng có “bảo bối” nên dễ ăn, dễ nói hơn.
Theo nhiệm vụ được phân công trợ lý Hữu đã rong ruổi ba ngày nay trên chiếc xe Phượng Hoàng tiếp phẩm mượn của nhà bếp. Suốt ba ngày mải miết đi, nghe ngóng, tìm hiểu anh đã đến được năm gia đình chiến sĩ ở cái tỉnh trung du này. Mới có năm gia đình nhưng cũng đủ cả “hỷ, nộ, ái ố”. Hai gia đình đã nghe được tin dữ, nhà buồn như có đám tang, người nhà còn lên xã đòi địa phương phải tổ chức lễ truy điệu cho con em mình cho nó “hy sinh được thanh thản”. Một gia đình khác cũng đã biết tin nhưng ông nội của chiến sĩ đó vẫn bình tĩnh như không, cụ bảo: “thằng ấy có ném vào giữa bãi bom nó vẫn sống nhăn răng”. Thế rồi khi Hữu mang thư và ảnh đến cụ cười khoái chí bảo bố, mẹ cậu ta vẫn đang nửa tin, nửa ngờ: “Thấy chưa? Tôi đã bảo mà! Cháu tôi làm sao chết được!”. Tò mò, Hữu hỏi sao cụ dám chắc như đinh đóng cột vậy thì cụ cười: “Tử vi của nó, cung Mệnh có Thiên Lương miếu địa, lại hội hợp Quang, Quý, Thiên Giải, Địa Giải thì tai họa nào mà chẳng qua. Ngày nó đi bộ đội bố mẹ nó cứ lo chứ tôi thì tôi bảo cứ đi đi, hoàn thành nhiệm vụ với quốc gia là trên hết. Đấy! Các anh chị còn bảo tôi là mê tín nữa hay không?”. Hai gia đình nữa thì chưa biết tin gì nhưng cán bộ địa phương cũng đã nghe loáng thoáng, khi Hữu về các anh như trút được gánh nặng. Nhận được thư và ảnh của con em, lại giải tỏa được mối lo nhà nào cũng khẩn khoản làm cơm đãi. Thành ra mấy ngày nay hôm nào Hữu cũng được ăn cỗ. Còn hôm nay anh sẽ đến địa chỉ cuối cùng của chuyến công tác. Đó là nhà đại đội trưởng Ngô Văn Nhã.
Vừa gò lưng trên con ngựa sắt tồng tộc Hữu vừa nhớ lại lần gặp Nhã đầu tiên. Đó là dịp đầu năm ngoái, khi anh đi thâm nhập đơn vị trong chiến dịch Đường Chín- Nam Lào. Lần đó cậu lái xe hay thơ đã kéo anh và họa sĩ Trí về xe 567 đón Xuân sớm. Trong căn hầm chật chội dưới bụng chiếc xe PT76 ấy mấy anh em anh đã cùng thưởng thức chè Thái chính hiệu, hút thuốc lá Điện Biên, ăn kẹo Hải Châu và tán dóc đủ thứ chuyện của đời lính chiến trường. Hai trợ lý chính trị chỉ ngồi nghe mấy cậu lính trẻ kể bao nhiêu chuyện buồn cười của lính, nhất là cái cậu pháo thủ Hòa đen, mồm mép cứ như tép nhảy. Nhưng người để lại ấn tượng sâu sắc nhất đối với Hữu hôm ấy lại chính là người trưởng xe ít nói nhất. Không hoa mỹ như Cân, không lém lỉnh như Hòa, cũng không bộc tuệch như Thắng nhưng đã nói câu nào là chắc như đinh đóng cột câu đó. Ở anh toát lên vẻ điềm đạm, chín chắn và đặc biệt là sự tin cậy. Đối với những con người như vậy đồng chí, đồng đội có thể tin tưởng hoàn toàn. Hữu nghĩ bụng: “Không biết hôm nay tình huống sẽ xảy ra thế nào đây?”.
Nơi dừng chân đầu tiên của Hữu như thường lệ là trụ sở ủy ban xã. Đang giữa đợt cao điểm chăm sóc lúa chiêm nên trụ sở ủy ban vắng như chùa Bà Đanh. Phải đợi gần nửa tiếng cô văn thư mới tìm được chủ tịch xã về. Vừa trông thấy Hữu với đôi quân hàm trung úy xe tăng trên ve áo chủ tịch xã đã niềm nở:
- Đồng chí ở binh chủng Thiết giáp à? Về xã tôi có việc gì đấy? Hay lại sắp tuyển quân?
Liếc nhìn xung quanh chẳng thấy một ai Hữu mới nhỏ nhẹ:
- Dạ! Không ạ! Tôi có chút việc hơi đặc biệt một chút.
Sau khi nghe Hữu trình bày lý do đến công tác ở địa phương chủ tịch xã nở nụ cười thật hồ hởi để lộ cả hàm răng ám khói thuốc lào vàng khè:
- May quá! Thực ra chúng tôi cũng đang đau đầu về việc của cậu Nhã đây. Tin này chúng tôi cũng nghe được từ mấy hôm nay rồi. Khổ! Cậu anh đi B từ năm 65 đến nay chẳng thấy tin tức gì. Bây giờ lại có tin cậu Nhã hy sinh. Bà cụ mà biết tin này không hiểu có qua khỏi được không? Có đồng chí về thế này may quá!
Hữu cúi đầu lặng im. Đúng là những người lính như anh đi vào chiến trường nhẹ nhàng bao nhiêu thì đối với những người mẹ, người vợ ở nhà sự chờ đợi lại nặng nề bấy nhiêu. Mãi sau anh mới hỏi:
- Thế các đồng chí đã có biện pháp gì chưa? Mà tình hình gia đình Nhã thế nào, các đồng chí có nắm được không?
Chủ tịch xã lắc đầu:
- Thì còn biết làm gì hơn ngoài việc răn de, ngăn chặn mấy tay hay ngồi lê, đôi mách trong xã thôi. Tuy nhiên cũng chẳng biết có hiệu quả gì không. Tai vách mạnh rừng mà, đồng chí ạ! Nhưng chúng tôi cũng thường xuyên theo dõi. Từ hôm ấy đến nay không thấy có điều gì đặc biệt, có vẻ như gia đình vẫn chưa biết gì. Cô Hiền vẫn đi làm bình thường. Còn bà cụ bị mệt thì phải, thấy nằm trong nhà suốt.
Hữu nhanh nhảu:
- Vậy thì thuận lợi rồi. Bây giờ nhờ đồng chí đưa tôi đến nhà cậu ấy. Trước là thăm hỏi bà cụ và gia đình. Sau nữa sẽ nói rõ mọi chuyện để gia đình yên tâm.
Khi hai người đã vào đến sân căn nhà ba gian vẫn im lặng như tờ. Mãi đến khi bước lên thềm hai anh em mới thấy mẹ Nhã đang nằm bẹp trên giường, mặt quay vào phía trong, bên cạnh là một bà cụ đang ngồi bỏm bẻm nhai trầu. Thấy hai người xuất hiện bà cụ đang ngồi bên mép giường quệt vội quết trầu bên mép rồi đon đả:
- Chào hai ông!- Bà quay vào lay vai người nằm trên giường- Thím ơi! Ông chủ tịch đến thăm này.
Mẹ Nhã từ từ quay lại, đôi mắt mờ đục dường như không còn sinh khí. Hữu vội bước lại bên giường, anh đặt gói quà đã chuẩn bị sẵn xuống đầu giường rồi khẽ khàng:
- Thưa mẹ! Con ở binh chủng Thiết giáp. Có việc qua đây vào thăm mẹ một chút. Có chút quà của thủ trưởng binh chủng biếu mẹ.
Bà cụ nhìn chằm chằm vào ve áo Hữu một lát rồi cất giọng nhỏ nhưng rành giọt:
- Thằng Nhã nhà tôi chết rồi phải không?
Hữu cuống quýt:
- Sao mẹ lại nói vậy! Chúng con đến thăm mẹ thật mà.
Chủ tịch xã cũng bối rối:
- Cụ nghe ở đâu mà nói thế! Tôi đã xem giấy giới thiệu của đồng chí ấy rồi. Đúng là đồng chí ấy ở đơn vị của cậu Nhã nhà ta đấy cụ ạ!
Bà cụ ráo hoảnh:
- Các anh không phải nói nữa! Tôi đã biết rồi. Tôi chịu được! Nhưng tôi xin các anh đừng cho con dâu tôi biết. Cứ để yên cho nó sống với tôi ít nữa. Chắc cũng chẳng được lâu đâu.
Hữu bỗng thấy cổ họng mình khô lại, anh e hèm mấy cái rồi mới cất được lời bằng cái giọng khản đặc:
- Không phải thế đâu mẹ ạ! Nhã vẫn mạnh khỏe, lại có thư về nhà đây này.
Hữu lúi húi mở cái xắc- cốt lấy thư. Mẹ Nhã vẫn ráo hoảnh:
- Các anh đừng nói dối tôi nữa. Có ông chủ tịch xã ở đây, tôi cũng chẳng dám giấu ông: mấy người ở xã bên nghe được đài miền Nam nó đọc tên thằng Nhã chết rồi. Mà không phải một người nói đâu.- Bà dừng lại hơi dỏng tai lên rồi gấp gáp- Con dâu tôi nó về rồi đấy! Các ông làm ơn đừng nói gì với nó nhé!
Đúng là Hiền đã về thật. Đang cắm cúi tát nước vào đám ruộng “phần trăm” cô thấy bà hàng xóm bảo có ông chủ tịch xã với một anh bộ đội đến nhà. Thế là chẳng kịp thu bộ gầu sòng cô cắm đầu, cắm cổ chạy về. Nước mắt lưng tròng, cô nghĩ: “Chả lẽ anh chết thật rồi sao? Lạy Trời các anh ấy đừng có cho bà cụ biết”. Cô những mong bay được về nhà để ngăn họ lại. Nhưng có lẽ không kịp nữa rồi. Họ đã ở trong nhà được một lúc, anh bộ đội thì đang móc mớ giấy tờ trong xắc- cốt ra, ông chủ tịch thì đang nói gì đó với bà cụ. Nghĩ bụng: “chắc là anh ta đang lấy giấy báo tử” cô chạy vụt vào nhà cố nặn ra bộ mặt tươi tỉnh:
- Chào bác! Chào anh! Anh ở đơn vị nhà em về chơi ạ?
Hữu dừng tay ngẩng lên, anh cũng tươi cười:
- Chào chị! Vâng, tôi ở đơn vị anh Nhã về đây!
Hiền liến thoắng:
- Mời bác, mời anh ngồi chơi xơi nước!- Cô xăng xái bước đến bên chiếc bàn gỗ mộc kê ở gian giữa rót nước từ bình tích ra mấy cái chén- Thế nhà em có khỏe không? Anh ấy có viết thư về không hả anh?
Bà cụ lúc này mới nhỏ nhẹ:
- Vâng! Tôi sơ ý quá. Mời ông chủ tịch và anh ngồi chơi xơi nước ạ! Nhà quê chả có chè cháo gì, chỉ có nước vối thôi.
Hiền vẫn liến thoắng:
- Thế anh mới ở trong kia ra à? Trong ấy mình đánh to quá anh nhỉ? Ở ngoài này suốt ngày nghe tin chiến thắng mà phấn khởi quá. Có cả một trung đoàn địch ra hàng hả anh?
Hữu hơi ngạc nhiên về thái độ của hai mẹ con bà cụ nhà này. Chợt một tia chớp lóe lên trong đầu anh: cả hai con người này đều đã nghe tin dữ nhưng đang cố tìm cách giấu nhau. Mắt Hữu chợt rưng rưng, anh ngồi ghé xuống mép giường nắm lấy tay bà cụ và khẽ khàng:
- Thưa mẹ! Thưa chị! Đúng là trong kia ta đang đánh rất to và thắng rất lớn. Còn anh Nhã nhà mình thì vẫn khỏe, vẫn vui và có biên thư về đây, có cả ảnh nữa mẹ ạ!
Hữu đặt lá thư và mấy tấm ảnh vào tay mẹ Nhã. Bà cụ cầm lấy nhưng mắt vẫn nhìn đâu đó như đang nhìn vào cõi hư vô. Dường như cụ nghĩ đây chỉ là “trò mèo” mà mấy người này đem ra lòe mình. Hiền xán lại gần mẹ, bà cụ đưa mớ giấy tờ cho cô như người mộng du:
- Con đọc đi! Có gì hay thì kể cho mẹ nghe!
Hiền chăm chú nhìn mấy tấm ảnh, cô reo lên vui mừng nhưng nghe đầy giả tạo:
- Mẹ ơi! Anh Nhã đây này! Ôi! Ảnh đẹp quá- Cô chìa mấy tấm ảnh về phía bà cụ- Mẹ xem này! Nhà con có khi còn béo khỏe hơn hồi về phép năm ngoái mẹ ạ!
Mẹ Nhã vẫn bình thản:
- Ừ! Cứ để đấy lúc nào mượn cái kính bên bác Cả về rồi mẹ xem. Mắt mũi bây giờ có nhìn thấy cái gì đâu.
Nghe những lời ấy Hữu biết rằng cả mẹ Nhã và Hiền đều không tin Nhã còn sống. “Chắc họ nghĩ rằng đây là thư cũ, ảnh cũ của Nhã bây giờ đem về để lừa họ đây”. Nghĩ vậy anh đứng dậy khẽ khàng nhưng đĩnh đạc:
- Thưa mẹ! Thưa chị! Chúng con không dám giấu mẹ, giấu chị việc này: vừa rồi do sơ xuất của một đồng chí cán bộ khi đi công tác, danh sách của đơn vị đồng chí Nhã nhà ta bị lọt vào tay địch rồi bị chúng đem phát trên đài. Sợ rằng gia đình nghe được sẽ lo lắng nên chúng con đã phải vào tận đơn vị của anh Nhã, chụp ảnh cho anh em và yêu cầu tất cả anh em trong đơn vị viết thư gửi về nhà ngay để ở nhà yên tâm. Mẹ đừng nghĩ chúng con nói dối- Quay sang Hiền anh giục- Chị cứ bóc thư anh Nhã ra sẽ biết, thư mới viết cách đây có mấy ngày thôi.
Hiền run run bóc lá thư. Vừa liếc qua mấy dòng đầu cô đã khóc òa:
- Mẹ ơi…! Nhà con vẫn s…ống!
Đến lúc này bà cụ mới run run túm lấy tay Hữu, đôi mắt bà sáng lên tia hy vọng mong manh:
- Anh nói thật đấy chứ! Thật chứ?
Hữu đưa cả hai tay cầm bàn tay nhăn nheo của mẹ, anh nghẹn ngào:
- Thưa mẹ! Chúng con đâu dám nói dối mẹ. Chính vì sợ mẹ, sợ chị ở nhà nghe được tin không hay rồi suy nghĩ này khác chúng con mới về đây chứ. Mẹ cứ tin ở con! Anh Nhã nhà mình đang rất khỏe nhưng cũng đang rất bận nên chưa thể về thăm nhà được.
Mẹ Nhã đột ngột ngồi thốc dậy, bà gạt tay người chị dâu đang định đỡ mình ra. Hiền hoảng hốt chạy lại bên mẹ:
- Kìa mẹ! Mẹ đang ốm mà.
Bà cụ vung tay tuyên bố rất hùng hồn:
- Ốm nhưng giờ thì khỏe rồi.
Hiền thì cười trong nước mắt:
- Thế mà…
Chiều hôm ấy mặc dù từ chối mãi Hữu vẫn phải ở lại ăn bữa cơm với mẹ con Hiền. Mãi tối mịt anh mới lên xe đạp miết về cơ quan nhưng lòng vui như trảy hội. Còn mẹ Nhã từ tối hôm ấy lại vào ngủ với con dâu. “Hôm nay hết cúm rồi, không sợ lây nữa”- Bà bảo vậy.