Mấy cán bộ theo Hòa ra bìa làng, chăm chú nhìn về phía tây. Cách đó chừng gần một cây số là một vệt xanh rì đầy bí hiểm. Đồng chí du kích sốt sắng:
- Báo cáo các anh! Phía trước mặt là làng Ngô Xá. Làng này có hai nửa: Ngô Xá Đông và Ngô Xá Tây. Cái làng này dài lắm, có khi phải đến hơn một cây số. Qua hết làng một chút là đến cầu Ba Bến rồi. Có điều khác với mấy làng ta vừa qua là con đường không đi ở cạnh mà lại chạy vào giữa làng.
Hòa gật gù. Đúng là nếu đường chạy giữa làng như thế này sẽ gây nhiều khó khăn cho quân ta hơn. Ở Linh An, khi bất ngờ gặp địch còn nép xuống một bên đường mà đánh lại được, còn ở đây thì không thể làm như thế. Nhìn sang phía bên phải làng thấy đó là những cồn cát xen lẫn với đám ruộng cao, Hòa quyết định:
- Bây giờ ta sẽ chia đại đội làm hai mũi. Mũi chủ yếu sẽ triển khai ở cồn cát phía bắc làng đánh vào sườn địch. Còn mũi hỗ trợ vẫn do trung đội 2 đảm nhiệm, các cậu sẽ cơ động theo đường này. Bọn tớ sẽ nổ súng trước. Khi địch đang mải chống cự với mũi chủ yếu thì các cậu bất ngờ đánh vào sườn chúng. Còn hai khẩu đội 23 ly vẫn tiếp tục cảnh giới trên không, sẵn sàng đánh máy bay địch để bảo vệ đội hình chiến đấu. Nhiệm vụ như thế, rõ cả chưa?
Hai trung đội trưởng và các trưởng xe gật đầu:
- Rõ!
Hòa khoát tay:
- Vậy thì về chuẩn bị đi!
Mọi người tản đi. Hòa quay lại chỗ chiếc M113 còn gần như mới nguyên. Anh chui vào buồng lái bật nút khởi động. Tiếng động cơ lập tức rồ lên. Hòa vào số, anh nhẹ nhàng đưa chiếc xe vào sát một ngôi nhà. Vừa nhô đầu ra thấy mấy chiến sĩ trố mắt nhìn, Hòa cười:
- Để vào đấy. Lúc nào xong việc thì kéo về! Xe này còn ngon lắm.
Toản sán lại, mặt tươi hơn hớn:
- Đại trưởng biết lái M113 à? Hướng dẫn em một tý đi!
Hòa lắc đầu cười:
- Để sau nhé. Bây giờ về chuẩn bị đi đã!
Hòa nhảy xuống xe đi về phía xe mình để lại phía sau những ánh mắt ngạc nhiên và những lời xuýt xoa thán phục.
Trận đánh đã diễn ra đúng như trù liệu của Hòa. Sau khi triển khai đội hình chiến đấu ở bắc Ngô Xá Đông, Hòa cho bộ binh xuống xe áp sát bìa làng dưới sự yểm trợ hỏa lực của khẩu pháo 85 và mấy khẩu súng máy của xe thiết giáp. Bọn địch trong làng lợi dụng từng bờ tre, từng căn nhà để chống cự. Đúng lúc đó trung đội 2 bí mật cơ động theo đường 8 đánh vào bên sườn bọn chúng. Bị tiến công cả từ hai phía bọn địch hoảng sợ bỏ chạy tán loạn. Ngay lập tức Hòa cho bộ đội lên xe và lệnh cho đại đội truy kích địch. Theo những gì Hòa được người chiến sĩ du kích cho biết thì cầu Ba Bến, mục tiêu chủ yếu của các anh hôm nay đã ở ngay trước mặt. Anh chắc mẩm hôm nay đại đội mình sẽ hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc.
Nhưng mọi sự không dễ dàng như vậy. Ngay khi vừa ló đầu ra khỏi làng Ngô Xá Tây đại đội Hòa đã được đủ thứ súng đạn nghênh tiếp. Từ phía cây cầu mấy khẩu trọng liên M50 xổ hàng tràng đạn dài dằng dặc. Những viên đạn cày tung mặt đất trước mũi xe, nhiều viên trúng vào mũi xe tóe lửa. Từ bờ sông bên kia các loại đạn bộ binh cũng rộ lên từng hồi, thỉnh thoảng lại điểm xuyết một tiếng nổ của đạn pháo. Biết là gặp phải một mục tiêu khá “rắn” Hòa lệnh cho đại đội lùi lại, chiếm địa hình có lợi để bắn trả. Còn anh thụp xuống chỉnh lại kính trưởng xe để quan sát và đánh giá tình hình.
Cây cầu Ba Bến không to, nó chỉ dài chừng 20 mét bắc ngang sông Vĩnh Định. Chắc là nó đã bị ta đánh sập một lần nên hiện đang được thay bằng những nhịp cầu thép Ben- lây. Có lẽ đây là một mục tiêu quan trọng ở ngay cửa ngõ phía đông thị xã Quảng Trị nên nó được bảo vệ khá chắc chắn. Mỗi đầu cầu có hai lô cốt bê tông cốt thép to đùng, trên một lô cốt phía bên này cầu còn có một cái tháp canh cao nghệu. Trên đỉnh các lô cốt đều bố trí một ổ trọng liên có thể quay được 360 độ như tháp pháo xe tăng. Từ các ổ trọng liên và các lỗ châu mai bên sườn lô cốt đạn bắn ra như vãi trấu. Ngoài ra, lực lượng địch còn được bố trí dọc bờ sông phía bên kia cũng đang bắn mạnh vào sườn phải của đội hình. Đặc biệt nguy hiểm là mấy chiếc xe tăng vừa rút từ Phương Lang về đang thỉnh thoảng lại nã một phát pháo về phía các anh. Có một điều bất lợi cho các anh là địa hình ở đây quá trống trải nên rất khó triển khai lực lượng tiến công. Hòa quyết định sẽ cho các xe chiếm địa hình có lợi, dùng hỏa lực chi viện cho bộ binh tiếp cận mục tiêu. Khi bộ binh đã tiêu diệt được các lô cốt đầu cầu thì sẽ cho đội hình xe xung phong đánh chiếm. Nghĩ vậy Hòa bóp công tắc ngực:
- 01 chú ý! Các xe chiếm địa hình có lợi, tập trung hỏa lực chi viện bộ binh. Các b cho bộ đội xuống xe, lợi dụng địa hình tiếp cận mục tiêu. Nhận đủ, trả lời!
Tiếng 2 trung đội trưởng vang lên trong tai nghe:
- Báo cáo, nhận đủ!
Hòa lại bóp công tắc phát:
- 85 chú ý! 85 lợi dụng bờ đường, dùng hỏa lực khống chế xe tăng ở bờ bên kia chi viện cho bộ binh. Nhận đủ, trả lời!
Tiếng trưởng xe K63- 85 chắc nịch:
- 85 nhận đủ!
Cũng may cho Hòa là đoạn đường phía trước cầu hơi lượn sang trái. Như vậy các anh có thể lợi dụng con đường làm tấm chắn để hạn chế bớt hỏa lực trực diện từ các lô cốt đầu cầu và hỏa lực bắn vào sườn từ bờ sông bên kia. Hiểu được ý định của Hòa các trung đội trưởng đã điều xe của mình vào những vị trí có lợi nhất. Các chiến sĩ bộ binh cũng đã xuống xe và tản ra đám ruộng phía bên phải đường. Họ đang lợi dụng từng mô đất, từng cái bờ ruộng để nhích từng bước về phía cây cầu. Riêng chiếc tăng K63- 85 đã nép sát xuống bên phải vệ đường, chỉ giây lát sau nó đã bắt đầu lên tiếng. Chỉ với một phát pháo nó đã bắn gục cái tháp canh đầu cầu, một khẩu trọng liên câm bặt. Với một phát pháo nữa nó đã diệt nốt cái lô cốt kia. Tuy nhiên ngay sau đó một phát đạn chống tăng từ phía bên kia bờ sông làm bay mất khẩu 12 ly 7 trên tháp pháo buộc nó phải hướng pháo về bên đó để chống cự. Có một khó khăn là do khoảng cách khá xa nên những khẩu đại liên 7 ly 62 gắn trên xe thiết giáp gần như không có tác dụng. Hòa quyết định sẽ tăng cường hỏa lực để khống chế hai chiếc lô cốt bên kia cầu. Anh lên đài:
- 23 chú ý nhận lệnh! Cho khẩu đội hạ nòng pháo bắn vào lô cốt bên kia cầu. Nhận đủ, trả lời!
Ngay sau tiếng trả lời của trưởng xe là tràng tiếng nổ đĩnh đạc của hai khẩu 23 ly. Những chớp lửa lem lém xuất hiện ở hai lô cốt phía bên kia đầu cầu. Hỏa lực của địch từ đó bắn ra giảm đi trông thấy. Tận dụng thời cơ, một tốp chiến sĩ bộ binh đã tiến gần đến đầu cầu. Một chiến sĩ trong trong nhóm kê khẩu B41 lên bờ đường rồi ngắm rất cẩn thận. Giây lát sau quả đạn chống tăng với cái đuôi đỏ lừ đã chui tọt vào lô cốt bên trái. Đúng lúc đó chiếc tăng K63- 85 đã diệt được chiếc M41 bên kia sông. Nó quay pháo về phía cầu và chỉ với một phát đạn xuyên chiếc lô cốt thứ hai đã câm họng. Nhận thấy thời cơ đã đến Hòa bóp công tắc phát:
- 01 chú ý! Nhanh chóng xung phong đánh chiếm cầu. Nhận đủ, trả lời!
Chẳng đợi các xe trả lời Hòa nhấn nút báo gọi:
- Lái xe, tiến!
Xe chưa kịp nhúc nhích Hòa đã nhìn thấy chiếc 234 của Nhật vọt lên mặt đường rồi tăng tốc lao về phía cầu. Khẩu đại liên trên nóc xe nhả hàng tràng dài về phía hai chiếc lô cốt. Anh thầm khen những thành viên cũ của mình vẫn giữ được sự linh hoạt, nhanh nhạy cần thiết trong những tình huống như thế này. Mấy xe nữa cũng đã lao lên đường. Chỉ còn vài chục mét nữa cầu Ba Bến sẽ thuộc quyền kiểm soát của ta.
Nhưng có một cái gì đó không bình thường đang xảy ra. Những mũi tiến công của bộ binh bỗng dưng bị chùn lại. Cũng không nghe thấy tiếng pháo của chiếc xe K63- 85 nữa. Hòa bật cửa trưởng xe nhổm người lên quan sát. Mắt anh như lộn tròng khi nhìn thấy hai chiếc trực thăng đang quần đảo ngay trên đầu mình. Mặc dù đã bị 2 khẩu 23 ly bắn lên rất mạnh nhưng chúng vẫn lượn vòng tròn và bắn như đổ đạn xuống đoạn đường phía đông cầu. Những chớp lửa của đạn 20 ly nháng lên như hoa cà, hoa cải trên mặt đường, trên cả nóc những chiếc xe thiết giáp chạy trước anh. Ngoảnh lại phía sau Hòa hoảng hốt vì thấy chiếc tăng K63- 85 đang nghi ngút khói. Hòa nghĩ bụng: “chắc là nó bị rốc- két trên trực thăng bắn trúng”. Tình thế thật nguy cấp. Nhưng không còn cách nào khác là xông lên. Anh bóp công tắc phát, cũng chẳng nhớ đến mật ngữ nữa:
- Toàn đại đội tăng tốc độ! Nhanh chóng đánh chiếm cầu!- Nhấn luôn nút báo gọi Hòa quát- Lái xe, tăng tốc độ!
Mặc cho những làn đạn như roi quất vào lưng, chiếc xe 234 vẫn băng băng lao về phía trước. Nó đã vào được cầu. Hòa thấy tim mình như rung lên vì sung sướng. Chỉ cần hai đến ba xe qua cầu, thiết lập được một bàn đạp ở đầu cầu bên kia là có thể coi như các anh hoàn thành nhiệm vụ.
Chừng như nhận thấy nguy cơ bị mất mục tiêu đã nhãn tiền, một chiếc trực thăng sà xuống thật thấp. Từ bụng nó một tia khói xuất hiện và hướng về chiếc xe đang chạy trên cầu. Ngay sau đó chiếc xe 234 khựng lại như vấp phải một bức tường vô hình. Một đám khói ở buồng truyền động của nó bốc lên. Giây lát sau đám khói đã bùng lên thành ngọn lửa càng lúc càng to. Ngực Hòa như thắt lại, anh bóp công tắc ngực hét thật to mà không hề biết đồng đội mình có nghe thấy không:
- Nhật, Toản! Nhảy ra đi!
Phóng được quả rốc- két trúng mục tiêu nhưng chiếc trực thăng cũng phải trả giá, nó lĩnh trọn một tràng 23 ly của Huề và trở thành một bó đuốc lửa trước khi rơi xuống đám ruộng bên phải đường. Chiếc còn lại không dám mạo hiểm mà cứ lượn vòng tít trên cao nhưng vẫn bắn như điên xuống khu vực đầu cầu. Trong khi đó còn một điều đáng lo hơn xuất hiện: từ phía thị xã Quảng Trị, một chiếc M48 to kềnh càng vừa chạy, vừa bắn dẫn đầu lực lượng phản kích chỉ còn cách đầu cầu chừng vài trăm mét.
Một bài toán lướt nhanh trong đầu Hòa. Cán cân lực lượng giữa hai bên bây giờ đã nghiêng về phía địch. Chiếc tăng K63- 85 duy nhất trong đội hình đã bị cháy. Trong tay anh chẳng còn vũ khí gì khả dĩ đối chọi với mấy chiếc tăng M48 bên kia. Tuy nhiên, chiếc xe cháy giữa cầu giờ đây đã trở thành một vật cản tạm thời ngăn không cho chúng vượt qua. Hòa quyết định cho đại đội lùi về đầu làng Ngô Xá để bảo toàn lực lượng và ngăn không cho địch qua cầu.
Chiếc xe 234 vẫn ngùn ngụt cháy giữa cầu. Đến lúc này Hòa mới thảng thốt tự hỏi mình: “Nhật với Toản đâu nhỉ? Có kịp thoát ra hay không? Chắc là không kịp rồi! Mà nếu có thoát ra được cũng khó mà sống sót bởi hỏa lực dày đặc như thế!”. Thế là anh lại mất đi hai người đồng đội thân thiết nhất. Trong đầu anh thoáng qua cái cười toe toét của Nhật ở ngã ba Linh Chiểu cách đây mới chỉ hơn nửa giờ. Anh gục đầu vào kính trưởng xe mặc cho hai hàng nước mắt tuôn trào.
Dường như lực lượng phản kích của địch cũng không quá mạnh, lại bị vướng chướng ngại trên cầu nên chúng chỉ dừng lại ở bên kia cầu. Lợi dụng lúc mặt trận yên tĩnh Hòa cho bộ đội nấu một bữa ăn nóng để lại sức. Tuy vậy, lúc bưng bát cơm lên anh vẫn không sao nuốt được. Không muốn để bộ đội chứng kiến tâm trạng của mình, Hòa cố gắng ăn nhưng cổ họng anh cứ nghẹn tắc cả lại.
Đúng lúc đó Nhật và Toản xuất hiện như từ trên trời rơi xuống. Cả hai nhem nhuốc như chui từ lò than ra, áo quần thì cháy từng mảng. Hòa bỏ bát cơm chạy tới giang rộng vòng tay ôm lấy cả hai. Thì ra, khi xe bị trúng tên lửa Nhật và Toản đều bị sức ép ngất đi. Khi lửa đã bén vào quần áo cả hai mới tỉnh dậy. Họ tìm cách dập lửa cho nhau rồi chui xuống cửa an toàn. Từ đấy lần xuống bờ sông và ẩn nấp ở đấy cho đến khi trận đánh im tiếng súng cả hai bên mới tìm cách lần về.
Đối với phó tư lệnh Đào thì đêm 27 tháng Tư đó thật là dài. Ngay từ chập tối ông đã quanh quẩn ở hầm tổng đài để ngóng từng mẩu tin từ phía H02 gửi về. Theo quy ước, nếu không có gì đặc biệt thì cứ mỗi đầu giờ H02 sẽ báo cáo một lần bằng mật khẩu về vị trí cũng như tình hình đơn vị. Vì vậy có đi đâu đó nhưng cứ sắp đến giờ đã thấy ông xuất hiện ở cửa hầm. Ông sốt ruột cũng phải thôi. Có ai lại không biết rằng khi hứa với tư lệnh mặt trận rằng H02 sẽ có mặt ở Nam Cửa Việt trước 4 giờ sáng là ông đã đi một nước cờ rất mạo hiểm, có thể nói là “được ăn cả, ngã về không”. Quả thật, nếu “nó” không đến đích trước thời gian quy định mà lại phơi lưng giữa đồng trống như ở Vinh Quang Thượng thì có lẽ ông chỉ còn cách “chui xuống lỗ nẻ”. Mà thế nào đã hết, sẽ còn bao nhiêu hệ lụy kéo theo nữa chứ. Nhưng ông tin vào các đồng đội của mình. Sau thất bại hôm mồng Hai tháng Tư họ đã rút kinh nghiệm một cách rất nghiêm túc, rất sâu sắc và cũng đã cùng nhau bàn bạc tìm ra những giải pháp tốt nhất để khắc phục những yếu kém của mình. Đó là những bài học đã phải trả bằng biết bao máu, mồ hôi và nước mắt. Vì vậy ông tin rằng đêm nay nhất định họ sẽ thực hiện được yêu cầu của trên đề ra.
Và đúng như vậy thật. Lúc gần 3 giờ sáng một bức điện hết sức ngắn gọn: “Lệ Thủy đã qua đò số 2” được gửi về đã làm ông thở phào nhẹ nhõm. Như vậy là các đồng đội của ông đã vượt được con sông Cửa Việt, vật chướng ngại chủ yếu nhất trong cuộc hành quân này. Thế là bước đầu đã thành công. Mà đầu đã xuôi thì thế nào đuôi cũng lọt. Ít phút sau một bức điện nữa báo về: “Lệ Thủy đã về nhà mới”. Căn hầm chật chội như muốn vỡ tung bởi niềm vui. Trong lúc mấy trợ lý hớn hở bắt tay chúc mừng nhau thì ông lặng lẽ đứng nhìn về phía nam như muốn gửi gắm tất cả niềm tin của mình vào những người đồng đội ở nơi xa đó. Một lúc sau ông quay lại nhắc:
- Thôi, các cậu tranh thủ về hầm nghỉ ngơi một chút đi! Còn hai tiếng nữa mới đến giờ nổ súng cơ.
Nhắc nhở mọi người như vậy nhưng ông lại lôi tấm bản đồ dí sát vào ngọn đèn bão tù mù như đang toan tính một điều gì đó. Mãi đến gần 5 giờ ông mới đứng dậy tập mấy động tác võ thể dục rồi ngồi im một lúc như người nhập thiền. Trước giờ nổ súng đã thấy ông có mặt ở sở chỉ huy mà vẫn tỉnh như sáo.
Từ hôm bắt đầu đợt Hai của chiến dịch, sở chỉ huy mặt trận lúc nào cũng sôi sùng sục. Tư lệnh mặt trận có lúc hai tay hai tổ hợp điện thoại, hết quát vào bên này lại nhỏ nhẹ vào bên kia. Những báo cáo tình hình dồn dập truyền về. Những mệnh lệnh, chỉ thị cũng nối nhau được gửi đi. Ai cũng hiểu giờ phút quyết định của chiến dịch đã đến.
Dường như tư lệnh mặt trận cũng đang nóng lòng muốn biết tình hình cơ động của H02 nên vừa thấy ông Đào ló mặt vào hầm chỉ huy đã hỏi ngay:
- Thế nào? H02 đến đâu rồi?
Phó tư lệnh Đào đứng nghiêm lại:
- Báo cáo thủ trưởng, H02 đã có mặt tại vị trí tập kết lúc 3 giờ 30!
Tư lệnh mặt trận nở nụ cười rõ tươi:
- Thế thì tốt lắm!- Ngẫm nghĩ một lát ông vẫy phó tư lệnh Đào lại gần- Bên cánh đông hôm nay chủ yếu là tác chiến của H02. Vì vậy anh trực tiếp theo dõi bên ấy giúp tôi nhé.
Đúng lúc ấy trưởng phòng tác chiến mặt trận lại gần tư lệnh:
- Báo cáo thủ trưởng! Đã sắp đến giờ nổ súng ạ!
- Tình hình các hướng thế nào?- Tư lệnh mặt trận ngước lên.
- Dạ! Các hướng đã báo cáo về đủ. Trên tất cả các hướng bộ đội đã sẵn sàng. Thủ trưởng có chỉ thị gì không ạ?
- Không! Cứ tiến hành theo đúng kế hoạch- Tư lệnh mặt trận lắc đầu.
- Rõ!- Vừa dứt lời anh đã quay về bên máy điện thoại của mình và dõng dạc- Các hướng chú ý nhận lệnh! Thực hiện theo kế hoạch!
Sở chỉ huy lặng đi, một không khí trang nghiêm trùm lấy căn hầm. Những người có mặt dường như đều cố giữ im lặng để đón nghe những âm thanh mà tất cả đang mong đợi- âm thanh của trận pháo hỏa chuẩn bị mở màn cho đợt Hai chiến dịch.
Đúng 5 giờ 30 phút ngày 28 tháng Tư, một trận pháo kích dữ dội lại dội xuống cụm các căn cứ Đông Hà, Ái Tử, Quảng Trị, La Vang. Hơn một chục trận địa pháo tầm xa cùng các dàn hỏa tiễn H12, A12, các trận địa ĐKB và trận địa bắn ngắm trực tiếp của xe tăng… hòa thành một bản hợp xướng trầm hùng của lửa và thép chụp xuống đầu quân địch. Các cứ điểm địch chìm ngập trong khói lửa. Các trận địa pháo và pháo hạm của địch cũng bắt đầu phản pháo nhưng xem chừng đã yếu ớt đi nhiều. Tư lệnh mặt trận phá tan sự im lặng bằng cái giọng đầy hứng khởi:
- Rồi các anh xem! Giỏi lắm thì chúng nó cũng chỉ trụ lại được một, hai ngày nữa mà thôi.
Không ai nói gì nhưng tất cả đều tin như vậy. Lực của ta đã lớn mạnh lên nhiều. Còn thế của ta hôm nay cũng đã khác.
Hơn 8 giờ, cánh bắc báo cáo một trung đoàn đã đột nhập vào được một số đường phố của Đông Hà. Một trung đoàn đã đánh chiếm được Trung Chỉ, quân địch tháo chạy về Đại Áng. Tiếng ồn ào đầy hứng khởi lan nhanh khắp cả khu vực sở chỉ huy: “chắc chắn hôm nay ta sẽ chiếm được Đông Hà”.
Trong lúc đó thày trò ông Đào vẫn loay hoay bên chiếc máy vô tuyến điện. Trời không nóng nhưng cái áo của Bắc và mấy chiến sĩ thông tin đều đẫm mồ hôi. Đã hơn một tiếng rồi các anh không thể liên lạc được với H02. Trả lời cái nhìn như một câu hỏi của phó tư lệnh Đào, Bắc lắc đầu chán nản:
- Báo cáo thủ trưởng, vẫn không liên lạc được.
- Đã có kinh nghiệm rồi sao vẫn để thế này?- Ông Đào nhăn mặt gắt.
- Dạ! Lần này đội hình H02 đi đã có xe chỉ huy 50PU đi theo! Nhưng chắc là do “nó” liên tục di chuyển nên chưa kịp triển khai đài tầm xa, thủ trưởng ạ- Bắc phân trần.
- Thế bây giờ thì chịu à?- Ông Đào trừng mắt.
Bắc bối rối:
- Trước mắt thì mình cứ phải đợi thôi. Khi nào xe chỉ huy “nó” dừng lại triển khai đài tầm xa mình chắc chắn sẽ bắt được liên lạc!
Biết có làm căng cũng chẳng giải quyết vấn đề gì ông Đào lẳng lặng bỏ lên hầm chỉ huy. Nhưng những diễn biến ở đó lại làm ông càng nóng ruột.
Cánh Bắc tiếp tục báo về: lúc 10 giờ ta chiếm được cầu Lai Phước, đặt bộc phá phá cầu. Đông Hà chính thức bị cô lập từ bốn phía. Quân địch ở Đông Hà hoang mang cực độ, nhiều chỗ bỏ khí giới, xe cộ để thoát thân. Binh lính địch tràn vào các làng xóm ven đường cướp quần áo, thuyền ghe của nhân dân để tháo chạy.
Cánh Tây đã giải phóng Triệu Ái, Triệu Giang và đánh chiếm được một phần căn cứ Ái Tử. Quân địch đang chống cự điên cuồng.
Cánh Nam đã đưa một trung đoàn qua sông Thạch Hãn tổ chức tiến công vào thị xã. Đã đánh chiếm được ga Quảng Trị, đang chuẩn bị đánh cầu.
Thế mà cánh Đông chỉ thấy báo cáo đang phát triển theo kế hoạch. Có vẻ như ở sở chỉ huy cánh đông cũng không nắm được gì cụ thể hơn so với ở đây. Ruột gan ông Đào nóng như lửa đốt. Ông sốt ruột cũng là lẽ thường. Nếu như H03 đã xuất kích từ hôm qua và chiến thuật đưa xe tăng xuống công sự để phá vỡ lớp vỏ cứng của địch đã thành công thì chiến thuật tiến công trong hành tiến trong trận thọc sâu dọc duyên hải cánh đông của H02 vẫn chưa có câu trả lời. Không muốn thấy đôi mắt đầy ẩn ý của tư lệnh mặt trận ông lại bỏ xuống hầm thông tin.
Sự nôn nóng của phó tư lệnh Đào chỉ được giải tỏa lúc gần trưa khi đồng chí chiến sĩ thông tin chạy bổ vào tìm. Ông hấp tấp bước như chạy vào hầm thông tin. Bắc đang nói gì đó vào tổ hợp quay lại:
- Mời thủ trưởng vào nói chuyện trực tiếp với anh Lãm!
Ông Đào lập cập choàng đôi tai nghe lên đầu, miệng lắp bắp:
- Số 1 đây! Số 2 nghe rõ không?- Chắc bên đầu kia đã nghe rõ nên nghe ông giục- Ừ! Thế báo cáo đi! Nói chậm thôi!
Không biết bên kia nói những gì, chỉ thấy ông Đào luôn mồm “À”, “Ừ”. Gương mặt ông cứ hồng dần lên đầy phấn khích. Một lát sau ông nói to:
- Đợi đã nhé! Bắc đâu, mang bản đồ ra đây! Tìm cho tôi những địa danh này. Nào, nói đi! Ngô Xá hả? Phương Lang hả? Gia Đẳng hả? Được rồi! Bắc đánh dấu vào cho tôi! Kết quả cụ thể thế nào? Không cần mật ngữ nữa, cứ nói thẳng ra cũng được! Bắn rơi một máy bay OV10, một máy bay trực thăng hả? Bắn cháy một xe tăng, một xe thiết giáp, bắt sống một xe thiết giáp M113 hả? Tốt lắm! Về phía ta thì sao? Cháy một xe tăng, một xe thiết giáp hả? Nhớ nhắc anh em chú ý công tác thương binh, tử sĩ nhé! Thôi, được rồi! Nhớ giữ liên lạc thường xuyên đấy!- Gỡ đôi tai nghe ra khỏi đầu trao cho người chiến sĩ thông tin ông quay sang Bắc- Thế nào, tìm được chưa?
Bắc đã tìm được và đang lấy bút chì đỏ khoanh tròn vào mấy địa danh trên. Anh trở đầu cây bút chỉ cho ông Đào xem từng vị trí. Ông Đào hể hả:
- Thế là thành công rồi! Như vậy là mũi thọc sâu này đã xuống đến nam thị xã Quảng Trị rồi phải không? Còn mũi đánh vào Ngô Xá có phải sát nách thị xã, cắt hẳn con đường ra cảng Mỹ Thủy rồi. Lại còn một mũi nữa đã phá tan trại tập trung Gia Đẳng. Như vậy mục tiêu cô lập Quảng Trị ở phía đông đã đạt được- Ông chỉ vào bản đồ- Anh Bắc tính xem từ sáng đến giờ anh em mình đã tiến được bao nhiêu cây số?
Móc từ trong rúi ra chiếc địa bàn quân dụng Bắc lăn bánh xe theo con đường số 8 từ nam sông Cửa Việt đến địa điểm xa nhất mà anh vừa đánh dấu rồi đưa lên tận mắt nhìn, phải một phút sau Bắc mới thốt ra được:
- Hơn ba mươi cây số thủ trưởng ạ!
Ông Đào tươi hẳn nét mặt, những nếp nhăn trên trán cũng như giãn ra:
- Tuyệt vời! Tốc độ tiến công trên 30 cây số trong một buổi sáng. Tôi phải sang gặp tư lệnh mặt trận ngay bây giờ.
Ở sở chỉ huy những tin tức đầy phấn khởi từ các hướng vẫn liên tục dội về. Những nét mệt mỏi trên gương mặt của tư lệnh mặt trận và các sĩ quan ở sở chỉ huy hình như đã tan biến theo từng bước tiến của bộ đội.
Nhác thấy bộ dạng tươi tỉnh của ông Đào, tư lệnh mặt trận đã đoán ra ngay tình hình:
- Ngon lành rồi hả?
Ông Đào hớn hở như trẻ nhỏ được khen:
- Báo cáo thủ trưởng, H02 đã đánh xuống đến phía nam thị xã Quảng Trị rồi ạ!
Tư lệnh mặt trận trợn mắt:
- Nhanh như vậy sao?
Ông Đào tiến sát đến bên tấm bản đồ vẫn trải rộng trước mặt tư lệnh mặt trận, chỉ vài giây ông đã tìm ra mấy địa danh cần thiết và chỉ tay vào:
- Báo cáo tư lệnh, anh em đã chiếm được Ngô Xá, Gia Đẳng và Phương Lang. Ngô Xá thì sát nách thị xã, còn Phương Lang xuống tận phía nam đây này.
Tư lệnh mặt trận hít hà:
- Tốt lắm! Như vậy là phía đông chúng đã bị cô lập rồi, hết đường chạy ra biển. Này, nhưng sao “nó” đánh nhanh thế!
Ông Đào phấn khởi:
- Đó chính là một thế mạnh của binh đoàn bộ binh cơ giới đấy thủ trưởng ạ. Gì chứ tốc độ tiến công của nó có thể đạt vài chục ki- lô- mét một ngày.
Tư lệnh mặt trận gật đầu:
- Được! Ta cần tiếp tục phát huy thế mạnh này. Anh thông báo cho anh em sẵn sàng thọc sâu xuống phía nam. Nếu điều kiện thuận lợi thì vượt luôn sông Mỹ Chánh sang Thừa Thiên nhé!
Ông Đào vừa trả lời vừa quày quả về vị trí của mình.
Quá trưa, quân ta đã làm chủ cầu Quảng Trị, uy hiếp trực tiếp sở chỉ huy sư đoàn 3 ngụy.
Ba giờ chiều ta hoàn toàn làm chủ thị trấn Đông Hà. Quân địch rút chạy bỏ lại hàng chục xe quân sự.
Bị đánh từ nhiều hướng, bị cắt ra từng mảng, bị cô lập không thể chi viện ứng cứu lẫn nhau, quân địch ở Quảng Trị hoang mang tột độ. Bộ tư lệnh mặt trận đôn đốc các đơn vị liên tục tiến công, quyết không để quân địch hồi phục.
Ngày 29 tháng Tư chi khu quân sự Triệu Phong đầu hàng. Sáng hôm đó quân ta cũng chiếm được cầu Nhùng, cắt dứt đường số Một ở phía nam Quảng Trị
Ngày 30 tháng 4 ta tiếp tục tiến công căn cứ Ái Tử và đánh chiếm cầu Bến Đá. Hai giờ chiều căn cứ Ái Tử đã bị xoá sổ. Quân địch túa vào các làng xóm xung quanh cướp thuyền của dân để vượt sông chạy về Quảng Trị. Các loại phương tiện chiến trang và xe cộ vứt đầy đường.
Bị cô lập cả bốn phía, lại bị uy hiếp trực tiếp Bộ Tư lệnh sư đoàn 3 và tỉnh trưởng Quảng Trị quyết định cho “rút lui có kế hoạch”. Chúng tổ chức hàng chục đợt tiến công để khai thông đường Một nhưng bất thành.
17 giờ ngày 1 tháng Năm bốn cánh quân gặp nhau tại khu vực thành cổ. Trước đó vài phút chiếc trực thăng cuối cùng vội vã cất cánh chở theo chuẩn tướng Vũ Văn Giai và Bộ Tư lệnh sư đoàn 3. Thị xã Quảng Trị, thị xã đầu tiên của miền Nam được giải phóng.
Biết là bị ngăn chặn nhưng không còn cách nào khác, tàn quân địch vẫn phải mở đường máu rút lui theo quốc lộ Một . Tư lệnh mặt trận lệnh cho cánh đông tiến công đánh chiếm quận lỵ Hải Lăng để hợp quân với cánh nam chặn đường rút lui của địch. Cuộc rút lui của tàn quân địch trở nên hết sức khó khăn. Chúng đi đến đâu cũng bị quân ta bám đánh. Đoạn đường 30 ki- lô- mét từ Quảng Trị về Mỹ Chánh trở thành đại lộ kinh hoàng của chúng. Hàng trăm xe tăng, thiết giáp, xe ô tô và quân trang, quân dụng bị bỏ lại trên đường. Ngày 2 tháng Năm tỉnh Quảng Trị hoàn toàn giải phóng.
Khi nhận được tin bốn cánh quân đã hội tụ với nhau tại dinh tỉnh trưởng Quảng Trị, Tư lệnh mặt trận cười sảng khoái:
- Có thế chứ! Đánh như vậy thì chúng nó chịu làm sao nổi!- Ông cao giọng đầy phấn khích- Bên Tham mưu khẩn trương chọn địa điểm và cho triển khai sở chỉ huy ngay tại căn cứ sư đoàn 3 ở Ái Tử. Còn các bộ phận khác chuẩn bị sẵn sàng, đêm mai sở chỉ huy sẽ chuyển vào đó.
Chỉ có chưa đầy ba mươi ki- lô- mét mà mất gần suốt đêm vật lộn các sĩ quan trong Bộ Tư lệnh mặt trận mới đến được vị trí mới của sở chỉ huy. Với cường độ sử dụng không hạn chế không quân, pháo hạm từ đầu chiến dịch đến giờ hình như mọi con đường trên đất Quảng Trị này đã bị băm nát. Hố bom nối tiếp hố bom. Lại thêm những cơn mưa đầu mùa đang đến làm cho chúng nát nhoét. Xe cộ cứ trầy trật, trồi lên hụp xuống, nhiều lúc cả quan lẫn lính phải xuống gò lưng đẩy. Ấy thế mà vừa đến nơi tư lệnh mặt trận đã oang oang:
- Các bộ phận nhận vị trí xong khẩn trương bắt liên lạc nắm tình hình các đơn vị. Đúng 8 giờ sáng họp giao ban thì báo cáo tình hình cho tôi.
Sở chỉ huy mới của mặt trận được đặt trong khu trung tâm chỉ huy của sư đoàn bộ binh 3 tại căn cứ Ái Tử. Sở dĩ bên tham mưu mặt trận chọn địa điểm này bởi nó được xây dựng hết sức cơ bản, có cả hệ thống hầm ngầm bê- tông cốt thép rất kiên cố. Vì vậy, mặc dù đã rất nhiều đạn pháo của ta trúng vào khu vực này nhưng những công trình quan trọng nhất vẫn còn khá vững chắc.
Nhận vị trí xong Bắc mở đài ngay, chỉ một lát sau anh đã bắt được liên lạc với hai trung đoàn. Vì vậy khi ông Đào đi rửa mặt quay trở lại anh đã hớn hở:
- Báo cáo phó tư lệnh, tình hình các đơn vị rất tốt ạ!
Ông Đào lắc đầu:
- Tốt thế nào? Phải cụ thể hơn chứ!
Vẻ biết lỗi Bắc trịnh trọng:
- Báo cáo phó tư lệnh, ngày hôm qua trung đoàn H02 đã phối hợp với bộ binh tiến công quận lỵ Hải Lăng, bắn cháy 15 xe tăng thiết giáp địch, bắt sống hơn 100 xe cơ giới các loại. Về phía ta chỉ mất 2 xe. Hiện trung đoàn đang tập kết ở khu vực Phương Lang và Ngô Xá phía đông thị xã Quảng Trị. Riêng tiểu đoàn 198 vẫn tăng cường cho bộ binh ở Bắc Mỹ Chánh, sẵn sàng đánh về Huế. Còn H03 thì tiểu đoàn 512 đang nằm ở Đông Hà, Lai Phước. Tiểu đoàn 397 nằm ở Ái Tử, một đại đội của nó thì đang ở thị xã Quảng Trị. Tính chung cả đợt Hai này ta chỉ mất 6 xe. Tinh thần bộ đội rất phấn khởi. Khó khăn nhất lúc này là một số xe đã gần như hết đạn pháo, nhiên liệu thì cũng đã tiêu thụ hai phần ba cơ số, nhất là bên H03. Về kỹ thuật đơn vị nào cũng có một số xe bị hư hỏng, cần sửa chữa nhưng nằm quá phân tán nên các phân đội sửa chữa không đưa trang bị, khí tài đến được. Báo cáo hết ạ!
Ông Đào gật đầu trầm ngâm:
- Đánh nhau liên tục trên một chính diện và chiều sâu lớn như thế thì việc tiếp tế và sửa chữa chắc chắn là khó khăn rồi. Cậu nắm lại thật chắc yêu cầu về đạn dược, nhiên liệu và các thứ khác để lát nữa giao ban tớ sẽ báo cáo Bộ Tư lệnh.
- Rõ!- Bắc vừa trả lời xong đã cúi ngay xuống chiếc máy vô tuyến điện.
Rời căn hầm ông Đào bước ra ngoài. Trời đã tang tảng sáng. Trong ánh sáng bàng bạc của buổi ban mai khung cảnh khu trung tâm chỉ huy trông thật tan hoang và ảm đạm. Những căn nhà mái tôn đã bay từng mảng. Những bức tường đổ sập. Những chiếc tủ mở toang. Những đống bao cát bị trúng đạn pháo văng tung tóe. Đó đây vài chiếc xe Jeep lật nghiêng. Vài cái hố đạn vẫn còn sạm màu khói. Những con đường và các khoảnh sân phủ trắng giấy tờ, sách báo các loại… Đứng lên đỉnh một đống bao cát trên nóc hầm ngầm ông nhìn bao quát xung quanh. Đúng là tiền của của Mỹ đổ vào có khác. Từ ngoài vào trong căn cứ có dễ đến sáu, bảy lớp hàng rào với chiều sâu cỡ hơn năm chục mét. Cạnh hàng rào trong cùng là một con đường trải nhựa chắc là để tuần tra. Cứ cách vài chục mét lại có một chiếc lô cốt bê- tông cốt thép đứng sừng sững. Ông Đào nghĩ bụng: “nếu phải đánh vào đây thì mở cửa cũng hơi mệt đây”. Chợt ông nhớ đến mấy xe FR mà ông và đồng đội đã đặt bao nhiêu kỳ vọng vào đấy té ra lại không dùng được. Đúng là anh em mình cũng đơn giản thật. Cứ nghĩ rằng tìm cách lắp được thiết bị lên xe là ổn rồi. Nào ngờ với cái chuồng cu ngất ngưởng nặng hàng tấn bên trên, chiếc xe trở nên mất cân bằng nghiêm trọng. Thế là trong chuyến vượt sông Bến Hải lần thứ nhất, chỉ cần vài đợt sóng lớn táp vào cả hai xe FR đều bị nước tràn và chìm ngay giữa sông. Từ đó ý tưởng đưa FR theo đội hình bộ binh cơ giới để bảo đảm mở cửa đành phải hủy bỏ.
Liếc nhìn đồng hồ thấy đã gần 8 giờ ông vội rảo bước về hầm của mình. Một lát sau đã thấy ông xuất hiện ở cửa hầm chỉ huy.
Cuộc họp giao ban được tiến hành trong hầm chỉ huy sư đoàn bộ binh 3 của ngụy. Đó là một căn hầm bê tông cốt thép nằm dưới mặt đất. Trên nóc ngoài lớp bê tông dày gần một mét là hàng đống bao cát được xếp lại trông như một quả đồi nhỏ. Một số quả đạn pháo đã bắn trúng vào đây nhưng xem ra “còn xa mới tới ruột” như cách nói của cánh lính trẻ.
Nhìn lớp bê tông trên nóc và hai bên thành hầm ông Đào thấy thật sự ngỡ ngàng và có phần thán phục. Đúng là nước Mỹ giàu mạnh nhất thế giới đã đổ không biết bao nhiêu tiền của vào đây. Bước vào sau cánh cửa sắt dày cộp ông Đào một lần nữa ngỡ ngàng: trên trần hầm một dãy bóng đèn tuýp sáng trắng làm cả căn hầm sáng như ban ngày. Chính giữa căn hầm là một chiếc bàn dài phủ nỉ màu xanh thẫm. Hai bên là hai hàng ghế bọc nhung màu huyết dụ thẳng tắp. Định thần một lát ông Đào mới nhận ra tư lệnh mặt trận và một số sĩ quan trong Bộ Tư lệnh đã có mặt. Nhìn vẻ ngạc nhiên trên mặt ông Đào, tư lệnh mặt trận cười sảng khoái:
- Thế nào? Choáng hả?
Ông Đào xuýt xoa:
- Chỉ huy đánh trận mà thế này thì… sướng thật!
Mấy sĩ quan vào sau ông Đào cũng trầm trồ hết lời. Người thì đưa tay vuốt mãi lớp nỉ xanh bọc trên mặt bàn. Người thì lay lay chiếc ghế rồi nhún nhảy đầy khoái trá. Người thì băn khoăn đang đánh nhau thế này mà vẫn có điện xài. Mãi đến lúc trưởng phòng tác chiến mặt trận lên tiếng mời vào họp những tiếng xuýt xoa mới dứt hẳn.
Sau khi điểm qua tình hình tư lệnh mặt trận nhấn mạnh:
- Sau hơn một tháng chuẩn bị và tiến hành chiến dịch, mặt trận chúng ta đã thu được những thắng lợi vô cùng to lớn. Chúng ta đã giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Trị, một trong những địa bàn trọng yếu nhất của ngụy quyền Sài Gòn. Đây là tỉnh đầu tiên của miền Nam được giải phóng, tạo nên một tiếng vang rất lớn trên bình diện quốc tế. Song song với mặt trận Quảng Trị của chúng ta các chiến trường miền Nam Bộ, Tây Nguyên và Khu Năm cũng thu được những chiến thắng vang dội. Chủ trương của Quân ủy trung ương và Bộ Tổng tư lệnh trong giai đoạn tới là “phát huy kết quả các chiến dịch, đẩy mạnh tiến công trên mọi mặt trận, giành chiến thắng trên các chiến trường để tạo thế cho hội nghị Pa- ri”- Ông đứng dạy cầm cái que chỉ và vòng một vòng cung trên tấm bản đồ treo trên vách hầm phía sau- Vì vậy, ý định của mặt trận là nhanh chóng củng cố vùng giải phóng và bổ sung lực lượng cho các đơn vị. Khi đủ điều kiện sẽ chuyển sang tiến công trực diện từ phía bắc vào phối hợp với mũi vu hồi phía tây Huế của B4. Mục tiêu trước mắt của đợt Ba này là tiêu diệt ba đến bốn trung đoàn địch, phá vỡ tuyến phòng thủ của địch từ Mỹ Chánh đến bắc sông Hương. Đồng thời hỗ trợ địa phương tiến công nổi dạy giải phóng các vùng nông thôn làm bàn đạp để tiến công Huế khi có thời cơ. Dự kiến đợt Ba sẽ bắt đầu vào trung tuần tháng Sáu. Như vậy thời gian chuẩn bị cũng còn khá dài. Sau đây đề nghị các đơn vị báo cáo tình hình và đề đạt ý kiến.
Lần lượt tư lệnh các cánh quân, đại diện các binh chủng phát biểu ý kiến. Ý kiến nào cũng đều nhất trí với đánh giá cũng như chủ trương của trên. Tuy nhiên, tất cả các ý kiến cũng thống nhất với nhau là có rất nhiều khó khăn đang chờ đợi họ, đặc biệt là hao hụt quân số và thiếu thốn trang bị, lương thực, thuốc men… và nhất là mùa mưa đang tới rất gần. Ông Đào là người phát biểu cuối cùng:
- Thưa toàn thể các đồng chí! Sau khi tổ chức rút kinh nghiệm chiến đấu đợt Một rất nghiêm túc các đơn vị xe tăng đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong đợt Hai vừa qua. Trên hướng bắc và hướng tây xe tăng của H03 đã chi viện tích cực cho bộ binh tiến công hệ thống phòng thủ vững chắc của địch, đã dẫn đầu các cánh quân tiến công Đông Hà, Lai Phước, Trung Chỉ, Đại Áng, Ái Tử, La Vang và thị xã Quảng Trị. Bên cánh đông trung đoàn H02 đã làm nòng cốt lực lượng thọc sâu. Chỉ trong hai trận đánh đã giải phóng hai huyện Triệu Phong và Hải Lăng, thực hiện cô lập địch ở phía đông. Trong khi đó, thiệt hại về người và trang bị đều không đáng kể- Ông nhìn quanh một lượt rồi hạ giọng- Tuy nhiên, hiện nay chúng tôi đang gặp một số khó khăn rất lớn. Một là, sau hơn một tháng chiến đấu các loại trang bị của chúng tôi đã bị thiếu hụt nghiêm trọng về số lượng, hầu hết các đơn vị chỉ còn trên dưới 50 phần trăm so với biên chế. Thứ hai là tình trạng kỹ thuật xe pháo sau hơn một tháng hành quân, chiến đấu liên tục đã xuống cấp nhiều, một số xe bị hỏng hóc cần sửa chữa mà không có khí tài. Trong khi đó lại bố trí quá phân tán nên công tác bảo đảm gặp rất nhiều khó khăn. Thứ ba, chúng tôi đang thiếu trầm trọng đạn dược các loại, nhất là đạn pháo xe tăng. Nếu không tổ chức chi viện kịp thời sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sức chiến đấu, thậm chí là không đánh nhau được. Thứ tư là sức khỏe bộ đội cũng giảm sút nhiều, đã xuất hiện một số ca sốt rét rải rác ở các đơn vị. Chúng tôi lo rằng sắp tới tỷ lệ này sẽ tăng lên thì ảnh hưởng rất lớn đến khả năng tác chiến. Ngoài ra cũng xin báo cáo các đồng chí, hai đại đội xe tăng đưa vào B4 hiện cũng đều gặp khó khăn. Một đại đội vào trước đã được đưa vào đường 12 để đánh xuống Huế nhưng chỉ đến cây số 20 phải nằm lại vì đường sạt lở nặng không cơ động được. Đại đội xe tăng bơi hiện vẫn chưa vào tới nơi vì mùa mưa năm nay đến sớm, đường sá bị hỏng nhiều. Vì vậy, lực lượng xe tăng tham gia vu hồi ở hướng tây Huế coi như không có. Trước tình hình này chúng tôi đề nghị như sau: một là bên hậu cần, kỹ thuật khẩn trương bổ sung đạn dược, nhiên liệu và thuốc men cho bộ đội. Hai là tạm thời cho chúng tôi rút các đơn vị về tập trung cấp tiểu đoàn để tiện cho công tác bảo đảm kỹ thuật. Báo cáo, hết ạ!
Gương mặt tư lệnh mặt trận đầy vẻ trầm tư, ông hỏi nhỏ:
- Còn ai có ý kiến gì nữa không?- Không thấy ai nói gì, một lát sau ông tiếp- Đúng là sau hơn một tháng tác chiến liên tục trong điều kiện hết sức ác liệt, hiện tại các đơn vị của ta gặp rất nhiều khó khăn. Những đề nghị của các đồng chí hoàn toàn hợp lý. Tôi yêu cầu các cơ quan của mặt trận khẩn trương tổ chức bổ sung quân số và các loại vật chất theo yêu cầu. Về phía các đơn vị cũng phải tích cực chủ động tìm cách tháo gỡ. Riêng đối với các binh chủng đề nghị các đồng chí bổ sung gấp các loại vật tư chuyên ngành. Chúng ta phải đảm bảo đến trước thời điểm nổ súng đợt Ba mọi thứ phải đầy đủ. Còn bây giờ mời các đồng chí nghỉ!
Mọi người ồn ào rời khỏi phòng họp nhưng đằng sau cái ồn ào ấy là nặng trĩu những âu lo.
Ông Đào vừa về đến hầm mình thì lại nhận được điện triệu tập ra Bắc gấp. Cầm bức điện ông lầu bầu: “Có việc quái gì mà phải gọi gấp mình ra thế này. Trong đây cần mình hơn chứ!”. Nhưng rồi ông cũng gọi Bắc vào và bảo anh nhanh chóng sắp xếp một kế hoạch gặp gỡ với hai trung đoàn trưởng trước khi về Bộ tư lệnh.
★ ★ ★
Những thắng lợi trên toàn chiến trường miền Nam, mà đặc biệt là trên chiến trường Quảng Trị đã phả một làn hơi nóng sực lên bàn Hội nghị Pa- ri cũng như chính trường Oa- sinh- tơn và Sài Gòn.
Không muốn thất thế trên bàn Hội nghị, nhưng cũng không thể đưa lục quân quay lại miền Nam nên một mặt Mỹ đẩy mạnh đánh phá trở lại miền Bắc, một mặt hỗ trợ đắc lực cho Sài Gòn nhằm bảo vệ vững chắc những vùng đang chiếm giữ và lấy lại phần nào những vùng đã mất. Hàng trăm ngàn tấn vũ khí trang bị và phương tiện chiến tranh được vận chuyển cấp tốc tới miền Nam bằng cả đường biển lẫn đường không. Trong khi đó lại tổ chức phong tỏa chặt chẽ các cảng biển và đường giao thông ở miền Bắc. Các phi vụ oanh kích bằng cả không quân chiến thuật lẫn không quân chiến lược đều được tăng cường gấp 2 đến 3 lần. Ngoài khơi, hạm đội 7 hùng mạnh đã làm chủ Biển Đông. Bốn hàng không mẫu hạm cùng hơn 20 tuần dương hạm, khu trục hạm là nơi xuất kích của hàng trăm máy bay chiến thuật và cũng là nơi dội những trận bão lửa kinh thiên động địa xuống những vùng chiến sự theo yêu cầu của quân đội Sài Gòn.
Về phía mình Nguyễn Văn Thiệu cũng đã có những phản ứng quyết liệt và những điều chỉnh rất mạnh tay. Một mặt Thiệu cơ cấu lại hệ thống chỉ huy, sẵn sàng cách chức hoặc thay thế những viên tư lệnh cấp quân khu, quân đoàn và sư đoàn tỏ ra kém hiệu quả. Một mặt tung toàn bộ quân trù bị để ứng cứu cho các mặt trận đang nguy cấp.
Trên địa bàn quân khu Ba, Lộc Ninh đã bị mất, nhận thấy An Lộc nguy ngập Thiệu lập tức tung sư đoàn bộ binh 21 của chuẩn tướng Hồ Trung Hậu và lữ đoàn dù 1 của đại tá Lê Quang Lưỡng cùng một số đơn vị của sư đoàn 9, lữ đoàn biệt cách dù 81, liên đoàn biệt động quân số 3 lên cứu viện.
Tại quân khu Hai, ngay sau khi Đắc Tô- Tân Cảnh thất thủ, phần lớn diện tích tỉnh Kon Tum được giải phóng Thiệu lập tức cách chức tư lệnh quân khu của tướng Ngô Du. Thay vào đó là tướng Nguyễn Văn Toàn, một viên tướng trẻ và khét tiếng chống cộng. Đồng thời sư đoàn bộ binh 23 của tướng Lý Tòng Bá được cấp tốc đưa lên Tây Nguyên thay thế cho sư đoàn 22 vừa bị thiệt hại nặng nhằm giữ vững Kon Tum. Thiệu cũng rút từ lực lượng tổng trù bị ra tăng cường cho mặt trận này Lữ đoàn dù số 2. Lý Tòng Bá được giao đặc trách tư lệnh mặt trận Kon Tum.
Trên địa bàn quân khu Một, một ngày sau khi mất Quảng Trị tướng Hoàng Xuân Lãm và tướng Vũ Văn Giai bị triệu hồi về Sài Gòn. Ra thay Lãm làm tư lệnh quân khu Một kiêm tư lệnh quân đoàn Một là tướng Ngô Quang Trưởng. Tướng Giai vừa về đến Sài Gòn liền bị quân pháp tống vào nhà lao Chí Hòa chờ ngày xét xử vì tội làm tan rã sư đoàn 3 và mất Quảng Trị.
Xuất thân từ binh chủng nhảy dù sau khi tốt nghiệp Trường võ bị Đà Lạt, tướng Trưởng được giới quân sự Sài Gòn đánh giá là một trong những tướng “tuổi trẻ, tài cao”. Không biết những đánh giá đó chính xác đến mức nào nhưng những gì Trưởng làm được khi ra nhậm chức cho thấy đây là một viên tướng có tầm nhìn chiến lược khác xa so với tướng Hoàng Xuân Lãm trước đây.
Ngày đầu tiên ở cương vị Tư lệnh quân khu 1, Trưởng ban hành mệnh lệnh: “bắn bỏ tại chỗ những quân nhân gây hoang mang, rối loạn”. Quyết định này đã có tác dụng rõ rệt, thành phố Huế đang náo loạn đã được vãn hồi phần nào trật tự. Tiếp theo Trưởng quyết định phải tổ chức lại cơ cấu chỉ huy. Trong đó quan trọng nhất là thành lập Bộ tư lệnh tiền phương tại Huế và thành lập Ủy ban ấn định mục tiêu nhằm phân định rõ ràng hơn nhiệm vụ của các đơn vị thuộc quyền. Cụ thể giao cho sư đoàn 1 bộ binh của tướng Phạm Văn Phú đặc trách bảo vệ phía nam và tây- nam Huế. Sư đoàn thủy quân lục chiến chịu trách nhiệm phía bắc và tây- bắc Thừa Thiên, đặc biệt là phòng tuyến Mỹ Chánh. Bên cạnh đó bằng nhiều biện pháp tổ chức thu dung và tái huấn luyện lực lượng tàn quân của sư đoàn 3 và các đơn vị bị thiệt hại nặng ở Quảng Trị chạy về.
Để hỗ trợ cho những nỗ lực của Trưởng, Bộ Tổng Tham mưu Sài Gòn đã tăng phái cho quân khu Một một lữ đoàn Dù và một liên đoàn Biệt động quân. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ trên địa bàn quân khu Hai và quân khu Ba các lữ dù số 2 và số 3 đều được tăng phái cho quân khu Một. Ngoài ra các lữ đoàn thiết kỵ và pháo binh bị thiệt hại ở Quảng Trị đã được bổ sung đầy đủ trang bị. Tính đến trung tuần tháng Năm, quân số xung quanh thành phố Huế đã lên tới 35 nghìn. Với những nỗ lực này Sài Gòn hy vọng Huế sẽ đứng vững và có thể phản công tái chiếm lại Quảng Trị.
Những cố gắng của Sài Gòn, lại được công cuộc Mỹ hóa trở lại của Mỹ hỗ trợ cộng với những khó khăn trong công tác tiếp vận bổ sung của ta đã làm chậm lại nhịp độ tiến công trên tất cả các mặt trận.
Tại B2, sau 5 lần tiến công thị xã An Lộc không thành công, Bộ Tư lệnh Miền quyết định bỏ mục tiêu này để tập trung vào các nhiệm vụ khác. Một sư đoàn và đại bộ phận binh chủng hợp thành chuyển địa bàn về khu Tám hỗ trợ cho chiến trường đồng bằng sông Cửu Long, phá thế kềm kẹp của bình định. Lực lượng của miền đông chuyển sang làm nhiệm vụ bao vây An Lộc và giữ vững hai huyện mới giải phóng là Lộc Ninh, Bù Đăng. Tuy vẫn giữ được An Lộc nhưng trên chiến trường miền Đông địch vẫn ở thế bị động đối phó, luôn lo sợ ta phát triển xuống vùng trung tuyến và vùng sâu. Bộ Tư lệnh Miền cũng ra quyết định thành lập Đoàn cơ giới M26 trực thuộc Miền nhằm thống nhất chỉ huy các đơn vị tăng thiết giáp trên chiến trường B2.
Tại B3, sau khi tiêu diệt Đắc Tô- Tân Cảnh ta tiếp tục tiến công một số cứ điểm như Plây Cần, K- Leng… để mở đường xuống đánh Kon Tum. Tuy nhiên, do địch đã kịp tăng viện và có thời gian chuẩn bị nên cuộc tiến công thị xã Kon Tum gặp nhiều khó khăn, ta bị tổn thất khá nhiều. Vì vậy Bộ Tư lệnh B3 quyết định tạm ngừng tiến công, tổ chức củng cố lực lượng và bảo vệ vững chắc vùng giải phóng. Tiểu đoàn 297 rút về tập kết ở chân dãy Ngọc Linh, củng cố xe pháo và chờ tiếp viện từ Bắc vào.
Trên địa bàn Trị- Thiên ý định tiến sâu xuống phía nam giải phóng Thừa Thiên Huế trong đợt Ba chiến dịch đã không thể thực hiện được. Một mặt do tương quan lực lượng lúc này đã thay đổi. Do được tập trung hỗ trợ cao độ nên cả quân số cũng như hỏa lực của địch đều chiếm ưu thế trên chiến trường này. Lại thêm mùa mưa đến sớm, những con sông trên khắp đất Trị Thiên lũ ngập trắng bờ đã làm công tác tiếp vận của ta vốn đã khó khăn lại càng khó khăn. Được Nguyễn Văn Thiệu và Tổng Tham mưu trưởng Cao Văn Viên đến tận nơi bàn bạc và chỉ đạo, ngày 28 tháng Sáu Ngô Quang Trưởng phát lệnh tổ chức cuộc hành quân “Lam Sơn 72”, thực chất đó là chiến dịch phản công quy mô lớn ra vùng giải phóng Quảng Trị. Hắn hy vọng chiếm lại được Quảng Trị trước ngày 13 tháng Bảy là ngày Hội nghị Pa- ri tái nhóm họp.
Như ngọn đèn bùng lên trước lúc sắp tắt hẳn, những cố gắng trong tuyệt vọng của thày trò Ních- xơn- Nguyễn Văn Thiệu cũng đem lại được một số kết quả. Giữ được An Lộc, Kon Tum, giành lại được thị xã Quảng Trị nhưng chúng cũng đã phải trả giá rất nhiều.
Đã về Bộ tư lệnh nhưng đầu óc ông Đào vẫn như còn đang để cả ở chiến trường. Ra ngoài này rồi ông mới có đầy đủ thông tin hơn về tình hình tác chiến của các đơn vị xe tăng ở các chiến trường khác. Cầm trên tay những báo cáo tình hình tổn thất của các đơn vị ở An Lộc, Kon Tum mà ông không khỏi xót xa. Như thế là hai tiểu đoàn xe tăng đầu tiên có mặt tại B2 gần như bị xóa sổ sau một chiến dịch. Điều dáng nói ở đây là dường như các trận đánh cứ diễn ra theo một kịch bản như nhau. Trận nào cũng nhanh chóng đột phá được trận địa vòng ngoài. Nhưng rồi cứ vào đến các mục tiêu trong trung tâm thị xã thì lại bị chặn đứng. Xe tăng đi đường xe tăng. Bộ binh đi đường bộ binh. Không có bộ binh đi cùng, bọn địch thả sức lợi dụng các nhà cao tầng hoặc nấp trong các ngõ hẻm để bắn M72 ở khoảng cách gần thì xe nào chịu nổi. Rồi thì không có phòng không bảo vệ, bọn địch hoàn toàn làm chủ bầu trời. Trực thăng vũ trang gần như tự do quần lượn trên đầu và phóng tên lửa xuống. Thế mà trận sau lại vẫn như trận trước? Có cái gì đó phi lô- gic ở đây! Có phải vì là chiến trường xa nhất, từ người chỉ huy đến anh chiến sĩ đều mong mỏi có xe tăng. Và khi xe tăng có mặt thì người ta lại đặt vào đó quá nhiều kỳ vọng. Sự kỳ vọng ấy lại được thổi bùng qua hai trận ra quân thắng lợi oanh liệt ở Xa Mát, Lộc Ninh. Có phải vì vậy mà họ đã có phần ỷ lại, phó mặc cho xe tăng xoay xở? Nhưng còn anh em mình đâu mà để xảy ra cơ sự này. Không thể nói những Nguyễn Phúc Mai, Phạm Hải Hà, Hồ Thái Hồng, Ngô Xuân Nghi… là những người thiếu kinh nghiệm và thiếu bản lĩnh. Các anh ấy đều là những người đã vào chiến trường lâu năm và cũng đã kinh qua chiến trận nhiều rồi. Vậy thì nguyên nhân là gì đây? Chắc chắn phải ở cả hai phía: một bên là người chỉ huy binh chủng hợp thành và các chiến sĩ bộ binh. Còn phía bên này là cán bộ, chiến sĩ xe tăng. Nhưng các cụ đã dạy: “tiên trách kỷ, hậu trách nhân”, nói gì thì nói nguyên nhân chủ yếu vẫn nằm ở phía mình. Và chẳng còn cách nào khác ngoài việc nâng cao bản lĩnh cho cán bộ, chiến sĩ của mình. Đó chính là cái “bất biến” để ứng phó với “vạn biến” trong thực tế muôn mặt ở chiến trường.
Đã thế, tình hình ở Bộ tư lệnh cũng không phải mọi cái đều thuận buồm xuôi gió. Ông cứ chắc mẩm khi mình về cơ quan thì chủ nhiệm chính trị Thu đã yên vị ở ghế chính ủy rồi. Nếu điều đó thành hiện thực thì tốt biết bao. Ông Thu là cán bộ chính trị nhưng được đào tạo rất bài bản về xe tăng, lại đã cùng công tác với ông từ ngày mới thành lập binh chủng. Ngay cả ông Ngọc trước khi chia tay ông ra ngoài này cũng đã hứa chắc như đinh đóng cột là sẽ giới thiệu ông Thu nếu được trên hỏi ý kiến. Vậy mà không phải. Lại cũng như năm nào, trên lại “dúi” về cho một chính ủy lạ hoắc, “một chữ bẻ đôi” về xe tăng cũng không biết. Ông cũng chẳng hiểu cấp trên nghĩ thế nào mà lại làm như vậy. Chình vì thế mà cuộc gặp mặt ban đầu của ông với vị chính ủy mới cũng nhạt nhẽo và toàn là những câu chào hỏi xã giao chẳng mấy tình cảm. Thậm chí đã thấy những câu bóng gió về tình hình sử dụng xe tăng ở Quảng Trị kém hiệu quả của ông.
Mặc dù không mấy phấn khởi nhưng ông Đào đã chuẩn bị bản báo cáo đánh giá về tình hình kết quả sử dụng xe tăng trên các chiến trường trong chiến dịch Xuân Hè 1972 rất công phu và tỷ mỷ. Trong đó ông đã kiểm điểm rất sâu sắc vai trò cá nhân mình trong quá trình trực tiếp chỉ đạo tại Quảng Trị. Bản báo cáo đưa ra trước Thường vụ đảng ủy binh chủng đã nhận được sự nhất trí cao độ. Các ủy viên còn đóng góp thêm rất nhiều ý kiến quý báu, đặc biệt là các biện pháp khắc phục. Trong đó, chủ trương quan trọng nhất là phải xúc tiến nhanh việc thành lập các trung tâm đào tạo cán bộ, chiến sĩ cho binh chủng. Có thể coi đây là khâu then chốt để nâng cao bản lĩnh chiến đấu cho lực lượng tăng thiết giáp cả trước mắt và lâu dài. Thực ra, vấn đề này đã được nêu trong kế hoạch phát triển lực lượng tăng thiết giáp giai đoạn 1971- 1975. Binh chủng cũng đã có công văn đề nghị Bộ nhiều lần nhưng không hiểu sao Bộ chưa chấp thuận. Vì vậy lần này thường vụ đảng ủy quyết nghị đích thân ông Đào sẽ phải gặp thủ trưởng Bộ phụ trách về tổ chức xây dựng lực lượng để báo cáo trực tiếp. Để cho “chắc ăn” tham mưu trưởng Dương sẽ đi cùng, ông sẽ là người hạ hỏa cho phó tư lệnh của mình khi cần thiết.
Vị thiếu tướng phụ trách công tác tổ chức lực lượng đón hai cán bộ xe tăng không được niềm nở cho lắm. Hai người vừa chào hỏi xong ông đã khó đăm đăm:
- Tôi đang rất bận. Hai cậu có trình bày gì thì nói cho nhanh. Mười lăm phút nữa tôi có cuộc họp với Nhà nước. Mà sao các cậu không gửi công văn nhỉ?
Thấy gò má bên trái của phó tư lệnh Đào giật liền mấy cái ông Dương vội túm lấy lưng áo cấp trên giật nhẹ rồi mềm mỏng:
- Báo cáo thủ trưởng, chúng tôi đề nghị gặp thủ trưởng lần này vì có một việc hết sức quan trọng và cấp bách! Chúng tôi cũng xin thủ trưởng ít phút thôi ạ!
Vị tướng chỉ hai cái ghế trước mặt, hất hàm:
- Thôi, được rồi! Các cậu trình bày đi!
Biết là không có thời gian để trình bày dài dòng, ông Đào quyết định sẽ đi thẳng vào vấn đề:
- Báo cáo thủ trưởng, chúng tôi hôm nay đến đây với mục đích đề nghị thủ trưởng và các thủ trưởng trên Bộ cho phép chúng tôi thành lập các trung tâm đào tạo cán bộ, thành viên kíp xe và nhân viên kỹ thuật để đảm bảo cho việc phát triển lực lượng của binh chủng. Chắc thủ trưởng cũng biết rồi, chỉ từ cuối năm ngoái đến nay lực lượng của chúng tôi đã phát triển gấp hơn ba lần. Nếu không có các trung tâm này sẽ không đảm bảo cả về số lượng và chất lượng cán bộ, chiến sĩ cho sự phát triển sắp tới ạ!
Vị thiếu tướng nhướng hai con mắt lên đày vẻ ngạc nhiên:
- Thế thì từ trước đến nay các cậu đào tạo ở đâu? Tớ thấy thành lập hết tiểu đoàn này đến tiểu đoàn khác mà các cậu vẫn đủ người cơ mà? Sao bây giờ lại giở giói ra đòi thành lập trung tâm làm cái gì?
Thấy phó tư lệnh Đào đã muốn bùng lên ông Dương lại phải giật nhẹ lưng áo cấp trên và cướp lời:
- Báo cáo thủ trưởng! Do yêu cầu phát triển lực lượng nên chúng tôi vẫn phải cố gắng đào tạo đủ cán bộ, thành viên kíp xe và nhân viên kỹ thuật mặc dù chưa có một cơ sở đào tạo nào thật chính quy. Cụ thể là chúng tôi đào tạo cán bộ tại Đoàn 10, đó là một tiểu đoàn huấn luyện mới được nâng cấp lên. Còn thành viên kíp xe và nhân viên kỹ thuật thì đào tạo ngay tại các trung đoàn chiến đấu. Vì vậy, có thể nói rất thật rằng những cơ sở đào tạo của chúng tôi hiện tại còn rất thô sơ, rất manh mún, chưa đảm bảo đào tạo cơ bản cho bộ đội và vì vậy ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng đào tạo.
Vị thiếu tướng lại tỏ vẻ ngạc nhiên:
- Về cán bộ thì tôi đồng ý là chưa có trường sĩ quan cho binh chủng là hơi chậm. Nhưng còn chiến sĩ thì cứ đưa về các trung đoàn chiến đấu mà huấn luyện là được rồi còn gì? Bộ binh và các binh chủng khác cũng đều như vậy cả mà. Có thấy binh chủng nào đòi hỏi thành lập trung tâm đào tạo chiến sĩ như các cậu đâu nào?
Đến lúc này thì phó tư lệnh Đào không còn chịu ngồi im nữa, mặc cho “tín hiệu” của tham mưu trưởng ông vẫn cao giọng:
- Thủ trưởng mà nghĩ thế thì chết chúng tôi rồi. Thảo nào mà công văn chúng tôi gửi lên từ bao lâu mà đến giờ vẫn chưa thấy có hồi âm gì cả.
Vị thiếu tướng có vẻ bực, ông hậm hực:
- Anh Đào nói thế là có ý gì? Anh định bảo cơ quan Bộ quan liêu chứ gì?
Tham mưu trưởng Dương nhanh nhảu:
- Báo cáo thủ trưởng, anh Đào muốn nói đến sự khác biệt trong huấn luyện chiến sĩ xe tăng với chiến sĩ bộ binh và các binh chủng khác thôi chứ không có ý gì đâu ạ.
Thiếu tướng vẫn có vẻ không thoải mái, ông dửng dưng:
- Chiến sĩ nào mà chẳng là chiến sĩ! Xe tăng của các anh thì khác gì nào?
Thấy ông Đào định nhổm lên tham mưu trưởng Dương lại phải giật áo:
- Báo cáo thủ trưởng, đúng là huấn luyện chiến sĩ xe tăng có những đặc thù rất khác biệt so với bộ binh và các binh chúng khác đấy ạ! Vâng, khác biệt nhiều lắm ạ!
Đến đây thì vị thiếu tướng hơi có vẻ quan tâm, ông hất hàm:
- Được rồi, các cậu nói cụ thể xem nào?
Dường như đã bình tâm hơn ông Đào hạ giọng tuôn một mạch:
- Báo cáo thủ trưởng, trong quân đội ta cũng như quân đội các nước trên thế giới xe tăng vẫn là một loại trang bị chiến đấu tương đối hiện đại và có hiệu quả cao. Để sử dụng nó một cách hiệu quả thì cần phải có những kíp chiến đấu được đào tạo cơ bản, trong đó mỗi thành viên phải nắm vững và đủ khả năng hoàn thành chức trách của mình- Ông giơ bàn tay phải lên bấm từng ngón- Cụ thể là trưởng xe phải nắm được cấu tạo chung của xe, sử dụng được tất cả các loại vũ khí trên xe, đặc biệt là nắm vững cấu tạo, nguyên lý làm việc và cách sử dụng điện đài trên xe tăng, nắm được các nguyên tắc chiến thuật và chỉ huy xe tăng tham gia chiến đấu trong các hình thức khác nhau. Còn đối với lái xe thì phải hiểu biết về cấu tạo, tính năng và nguyên lý làm việc của động cơ, của các thiết bị truyền động, vận hành vv.. Về thực hành thì phải đủ khả năng lái xe vượt qua những địa hình phức tạp, lại phải biết bảo quản, bảo dưỡng và sửa chữa đúng quy trình, quy phạm…
Đến đây thì thiếu tướng ngắt lời ông Đào:
- Rắc rối thế cơ à?
Được đà ông Đào tiếp tục thao thao:
- Báo cáo thủ trưởng, đúng thế ạ! Chả thế mà bên nước bạn đào tạo chiến sĩ xe tăng ở các trường đều phải mất một năm. Còn đào tạo sĩ quan thì phải mất ba đến bốn năm. Việc đào tạo này nhất thiết phải được tiến hành ở các nhà trường vì chỉ có ở đó mới đủ điều kiện về cơ sở vật chất, về đội ngũ giáo viên. Sau khi đào tạo xong ở các trường người ta mới phân về các đơn vị chiến đấu. Ở đó sẽ biên chế ghép các thành viên lại thành từng kíp xe và bắt đầu huấn luyện các nội dung chiến thuật. Nói như vậy để thủ trưởng hiểu là việc tổ chức đào tạo thành viên kíp xe tại các trung đoàn chiến đấu như ở ta vẫn làm chỉ là giải pháp tình thế thôi…
Một lần nữa thiếu tướng ngắt lời ông Đào:
- Nghĩa là các cậu đề nghị thành lập cả trường đào tạo sĩ quan lẫn trường đào tạo chiến sĩ chứ gì?
Phấn khởi như bắt được vàng, cả ông Đào lẫn ông Dương hý hửng:
- Dạ, đúng thế ạ!
Thiếu tướng nín lặng một lát rồi gật đầu:
- Thôi được, tôi sẽ báo cáo lại với các thủ trưởng Bộ về ý định của các cậu. Về thành lập trường sĩ quan chắc sẽ không có vấn đề gì. Tuy nhiên trường đào tạo chiến sĩ thì có lẽ hơi khó đấy.
Tham mưu trưởng Dương cố nài:
- Báo cáo thủ trưởng, thì cũng như các trường đào tạo lái xe thôi mà.
Thiếu tướng hơi nhăn trán:
- Đã đành là như thế, nhưng một đằng là nhân viên chuyên môn kỹ thuật, một đằng là chiến sĩ trực tiếp chiến đấu nói giống nhau sao được. Mà sao các cậu cứ đòi thành lập trường làm gì. Cứ thành lập một trung đoàn chuyên huấn luyện thành viên kíp xe, rồi các cậu muốn tổ chức nó như thế nào là do các cậu có hơn không?
Cả hai anh em ông Đào lại một lần nữa như vớ được vàng:
- Dạ, thế cũng được ạ!
Thiếu tướng đứng dậy xem đồng hồ:
- Vậy thì các cậu về làm đề án cụ thể mang lên ngay trong tuần này, tớ sẽ đề nghị Bộ xem xét sớm. Tới đây tăng thiết giáp còn phát triển nữa nên sẽ ưu tiên giải quyết nhanh. Còn bây giờ tớ phải đi họp đã!
Cả ông Đào và ông Dương cùng đứng dậy bắt tay thiếu tướng và cũng ra khỏi phòng. Lên xe rồi ông Dương mới nói nhỏ:
- Không trực tiếp đi mà cứ chờ các “cụ” nghiên cứu công văn thì chỉ có chết!
Cả hai ông cùng không ngờ chỉ hơn một tuần sau khi bản đề án gửi lên Bộ đã có quyết định thành lập Trung đoàn huấn luyện H07. Thật là một điều kỳ diệu ngoài sức tưởng tượng!
Dường như mùa mưa năm nay đến sớm hơn mọi năm. Nghe phong phanh đâu đó rằng Mỹ đã nghiên cứu ra một loại chất gây mưa và đã đem sang rải ở miền Nam Việt Nam. Chẳng viết thực hư thế nào nhưng quả thật mùa mưa năm nay chẳng những đến sớm mà còn dữ dội hơn những năm trước rất nhiều.
Ngồi trong căn hầm thùng nhìn ra màn mưa dày đặc Nhã thấy ruột nóng như lửa đốt. Đã ở chiến trường này mấy năm nhưng chưa bao giờ Nhã thấy mùa mưa nào ác liệt như năm nay. Con sông Ái Tử dưới chân ngọn đồi mà các anh đang trú ngụ thường ngày chỉ như một con suối hiền hòa chảy nay đã trở thành một con giao long dữ tợn. Dòng nước đục ngầu tràn cả hai bờ lao băng băng về phía hạ lưu cuốn theo đủ các thứ từ trên thượng nguồn đổ xuống. May mà đang ở sườn đồi nên việc đào rãnh thoát nước hầm xe, hầm người cũng khá thuận lợi. Tuy nhiên công việc sửa chữa, bảo dưỡng xe thì đều phải tạm dừng vì không thể mở được máy móc ra dưới trời đất thế này.
Sau khi đánh Ái Tử xong đại đội Nhã còn 4 xe. Tất cả đạn dược đều đã sử dụng gần như hết. Dầu thì cũng đã sử dụng quá nửa cơ số. Gạo, thịt còn được một tuần. Về kỹ thuật thì xe nào cũng có trục trặc nhỏ. Bình điện cũng đã hai tháng nay chưa được nạp bổ sung… Định xin trở về đội hình trung đoàn thì đơn vị bộ binh mà các anh đến phối thuộc không chịu. Họ bảo: “chưa hết nhiệm vụ” và chỉ định các anh về trú quân tại ngọn đồi Tân Vĩnh này. Từ hôm đó cũng xuất xe đánh mấy trận cò con nhưng kết quả chẳng đâu vào đâu. Công tác tiếp tế thì vẫn hết sức “phọt phẹt”. Kêu mãi rồi nhưng trên chỉ bảo đảm cho đủ cơ số đạn và một ít gạo, thịt hộp. Còn nhiên liệu, khí tài thay thế cùng với thợ sửa chữa thì chỉ có câu trả lời là: “hãy đợi đấy!”. Thế rồi mưa ập xuống, mọi con sông nước cứ dềnh lên ăm ắp nhấn chìm hầu hết những con đường quanh đó. Mà sao cái vùng này lắm sông đến thế. Nhìn về phía nào cũng thấy sông. Như cái ngọn núi Tân Vĩnh này cũng vậy. Nó bị hai con sông Vĩnh Phước và sông Ái Tử ôm gần như trọn, chỉ có một lối thoát là đi lên phía tây nhưng lại chẳng có đường. Nhã nghĩ bụng: “kiểu này thì tự mình phải khắc phục lấy thôi”. Anh thầm phác thảo ra một lịch làm việc và phương pháp tiến hành trong thời gian tới. Lại thêm nỗi lo về sức khỏe bộ đội. Theo kinh nghiệm của Nhã, mùa mưa nếu cứ ăn ở thế này thì sốt rét sẽ hỏi thăm gần hết đại đội cho mà xem. Đã thế, còn phải đối phó với nạn “tọa độ” nữa chứ. Trời xấu, bọn phản lực ít hoạt động nhưng B52 và pháo biển thì lại dày hơn. Khốn nạn nhất là bọn này nó dội không có quy luật nào cả. Khi thì nửa đêm. Lúc thì sáng sớm. Có hôm giữa trưa. Vì vậy lúc nào cũng nơm nớp, cứ phải bám chặt lấy hầm, lấy xe.
Bên cánh đông của Hòa cũng chẳng khá hơn. Từ hôm bắt đầu mùa mưa các anh đã chuyển vào ở trong làng. Tuy bộ đội có cái mái nhà che được mưa gió nhưng hầm hố thì lúc nào cũng ngập đầy nước. Ấy, ngập thế nhưng động một tý vẫn phải nhảy xuống. Thành ra cứ suốt ngày ở trần mặc độc chiếc quần lót, lúc có động nhảy xuống hầm cho tiện. Hôm qua cậu Nhật lại có sáng kiến làm cái hầm nổi Hòa thấy cũng hay hay. Chặt mấy cây gỗ làm khung, nhặt đâu đó về mấy tấm cánh cửa hoặc tấm tôn rách áp vào thành hai cái mái, sau đó thì đổ đất trùm lên, bên ngoài xếp thêm một lớp bao cát thế là được một cái hầm kèo khá vững chắc và khô ráo. Hòa định bụng sẽ kéo các xe khác đến tham quan để làm theo. Nhìn Nhật đang đắc chí với công trình của mình Hòa lại buồn cười nhớ lại cái đêm chạy mưa hôm nào.
Đêm ấy, trong lúc anh và Nhật đang ôm nhau ngủ trong căn hầm chữ A chật hẹp trên cồn cát thì mưa đổ xuống. Đang ngủ say hai anh em cứ nằm rốn. Thế rồi, chỉ một lúc sau nước đã xâm xấp mặt sạp hầm. Thấy lạnh lưng hai anh em mới bật dậy ôm chăn chiếu chạy lên xe. Lát sau cả kíp xe và tiểu đội bộ binh cũng lên chen chúc nhau trong khoang chở bộ binh. Chỉ có Toản từ khi xe về đây đã chiếm chiếc ghế lái xe để ngủ là vẫn dàng hoàng. Thấy mấy anh em co ro chen vai thích cánh ngủ ngồi hắn còn toe toét cười trêu chọc:
- Sướng chưa? Cứ bảo ngủ trên xe độc mùi dầu sao lại còn chen lên đây cho khổ?
Thế mà nào đã xong. Ngủ thêm được một lúc nữa thì mấy cậu bó gối ngủ ngồi dưới sàn xe kêu toáng cả lên vì ướt quần. Toản với tay bật cái đèn cấp bị mọi người giật mình thấy nước đã lênh láng trong xe. Trên mặt nước là lớp dầu cặn nhầy nhụa, váng vất. Mà cái xe lại như hơi tròng trành nữa chứ. Hòa ngạc nhiên không hiểu “đầu cua tai nheo” ra sao, anh hơi gắt:
- Mấy cậu lúc nãy che bạt thế nào mà để nước vào thế này?
Toản soi cái đèn công tác lên tấm bạt nhưng không thấy giọt nước nào cả, cậu ta lắc đầu:
- Không phải dột! Có lẽ do nước ngấm từ ngoài vào, anh ạ!
Hòa lầm bầm:
- Nước ở đâu mà ngấm vào được? Mà ngấm làm sao được, đây là xe bơi nước cơ mà!
Nói vậy nhưng anh vẫn vén bạt nhìn ra. Dưới ánh chớp vừa nháng lên Hòa giật mình thấy đám ruộng xung quanh nước trắng băng cả, còn cái hầm của xe anh lúc này đã thành một cái ao đầy nước. Trong cái ao đó xe anh tròng trành là phải. Nhật và Toản cũng đã ghé đầu nhìn ra, Toản phán đoán:
- Chắc là do gioăng, đệm của mình cũ rồi nên nước mới ngấm vào được. Bình thường lúc bơi còn có máy bơm nước chạy đồng hành. Còn bây giờ nằm đây một lúc nữa khéo nước vào đầy xe mất.
Đúng lúc ấy mấy trưởng xe trong đại đội lúp xúp chạy đến. Cậu Hào trưởng xe 235 mếu máo:
- Đại trưởng ơi, nước vào đầy trong hầm, trong xe rồi. Làm thế nào bây giờ?
Hòa nhìn quanh, mưa vẫn như trút nước. Biết rằng không thể chần chừ được nữa Hòa bảo:
- Cứ đánh xe lên khỏi hầm đi đã!
Hào vẫn chưa chịu đi:
- Nhưng mà lên khỏi hầm rồi thì ngụy trang ra làm sao đây? Sáng mai tạnh mưa nó mà mò ra thì chết cả lũ à?
Hòa gắt:
- Thì cứ về đưa xe lên đi đã! Mọi việc khác tính sau.
Khi mấy chiếc xe đánh lên khỏi hầm rồi Hòa mới thấy Hào có lý. Trên trảng cát trống huếch, trống hoác lơ thơ vài đám cây bụi thì 4 chiếc xe thiết giáp đứng lồ lộ đúng là những mục tiêu ngon lành cho đám OV10 hay L19. Tuy nhiên, đây lại là vị trí mà trung đoàn quy định cho đại đội anh bố trí để sẵn sàng tham gia đánh địch hỗ trợ cho các đơn vị phòng ngự trong Thành Cổ và thị xã Quảng Trị. Bây giờ bỏ đi cũng chết mà ở lại cũng chết. Chui vào xe xe mở đài liên lạc với trung đoàn không được, Hòa quyết định:
- Cứ chạy vào làng cái đã! Mọi cái tính sau!
Mất gần một tiếng trầy trụa, lúc bơi, lúc lội, lúc đi chế độ hỗn hợp đại đội Hòa mới mò được vào bìa làng Phương Lang. Bố trí xong xuôi đâu đấy thì trời vừa sáng. Đúng lúc đó một trận bom tọa độ chụp xuống cồn cát. Hòa thở phào:
- Đúng là trong cái rủi lại có cái may!
Đối với Thắng thì đó là những ngày khá vất vả, cực nhọc. Sau khi đánh Kon Tum không thành công tiểu đoàn của anh được lệnh rút lên phía Bắc để củng cố. Cả tiểu đoàn còn chưa đầy hai chục xe nhưng cái nào cũng có vấn đề về kỹ thuật, không hỏng cái này thì hỏng cái khác. Ngoài ra các anh còn tổ chức thu dung đưa về hậu cứ được hơn chục chiếc xe tăng của địch. Tiểu đoàn giao nhiệm vụ cho nhóm kỹ thuật bao gồm các kỹ thuật viên và thợ sửa chữa phải tổ chức khôi phục tình trạng kỹ thuật của cả xe ta lẫn số thu được của địch. Đồng thời phải nghiên cứu tài liệu để tổ chức huấn luyện cho bộ đội về sử dụng số xe thu được.
Công việc chưa đâu vào đâu thì mùa mưa ập đến. Con sông Đăk Mỹ ngay cạnh chỗ trú quân của tiểu đoàn vừa hôm trước xắn quần lội qua bỗng trở thành một đại trường giang sau đúng một đêm mưa. Thế rồi nước cứ như có người nghiêng chĩnh rót từ trên trời xuống. Mọi công việc phải đình lại. Tiểu đoàn quyết định làm lán cho xe. Cũng may rừng Ngok Linh vẫn còn nhiều cây cối nên vật liệu làm lán xe không mấy khó khăn. Tuy nhiên, lính thì vất vả vô cùng. Mưa như trút vẫn phải lội rừng chặt gỗ, cắt tranh. Phải mất hơn một tuần cật lực lán xe mới hoàn thành. Xong được mấy cái lán xe thì lác đác vài chiến sĩ lăn ra sốt. Thế rồi như một đại dịch tràn đến, cả tiểu đoàn lần lượt sốt rét không sót một ai. Còn một điều may mắn nữa là vị trí trú quân ở khá sâu nên ít bị máy bay các loại hỏi thăm.
Đêm hành quân qua Đắc Tô để về trên này khi ngang qua chỗ mai táng bốn anh em xe 377 đại đội trưởng Độ cho đại đội dừng lại nghỉ ngắn. Xe vừa dừng anh đã lớn tiếng:
- Xe nào cần kiểm tra kỹ thuật hoặc bổ sung nước thì tranh thủ làm đi! Còn các đồng chí khác cùng tôi lên viếng mộ đồng chí Triệu và các anh em xe 377.
Chẳng biết có xe nào cần phải làm gì không nhưng rồi tất cả đều bỏ đấy leo lên lưng chừng đồi, nơi bốn anh em xe 377 nằm. Dưới ánh trăng mười sáu vằng vặc bốn ngôi mộ nằm song song quay mặt về hướng Bắc trông thật là cô quạnh. Sau thủ tục mặc niệm của đại đội Thắng ngồi sụp xuống cạnh mộ Triệu. Anh móc trong túi ra bao thuốc lá “Quân tiếp vụ” đổi được của một tay bộ binh hôm ở Kon Tum rồi bật lửa châm một điếu. Ngắt một cọng cỏ Thắng cắm điếu thuốc vào rồi cắm lên mộ Triệu. Anh châm ba điếu nữa lần lượt cắm lên mộ Vinh, Cao, Tiến rồi đưa bao thuốc mời mọi người hút. Những ngọn gió cao nguyên lồng lộng thổi làm đầu những điếu thuốc đỏ rực lên như một hòn than.
Đợi cho mọi người hút hết điếu thuốc, mấy điếu thuốc cắm trên mộ bốn liệt sĩ cũng đã tàn thì Độ đứng dạy, anh hô nhỏ nhưng dằn từng tiếng:
- Toàn đại đội chú ý! Thành hai hàng ngang, tập hợp! Chúng ta chia tay các liệt sĩ rồi còn tiếp tục hành quân. Một phút mặc niệm, bắt đầu!- Cả đại đội cúi đầu, mỗi người dường như đều đang theo đuổi những ý nghĩ của riêng mình. Một lát sau Độ dằn giọng- Thôi! Các đồng chí đi vòng quanh một lượt chia tay các liệt sĩ rồi về xe ngay. Năm phút nữa tiếp tục hành quân.
Mọi người đã về xe hết rồi Thắng vẫn nán lại bên mộ Triệu, anh tần ngần một lát rồi vốc một nắm đất trên mộ Triệu bỏ vào túi quần. Từ hôm ấy, nắm đất trên mộ Triệu cùng với nắm cơm cháy được anh giữ gìn như những báu vật trong một chỗ kín đáo trong buồng thao tác của chiếc xe dắt.
Nhưng có lẽ không ở đâu cảm nhận hết cái cay cực của mùa mưa bằng cán bộ chiến sĩ tiểu đoàn xe tăng 408 của quân khu Trị Thiên. Cái tiểu đoàn được hình thành với ý định làm một con dao đâm vào sườn thành Huế nay đang chôn chân ở đường 12 và thung lũng A Sầu. Nằm ở cái rốn mưa của dải Trường Sơn, lúc nào cũng thấy nước trên trời dội xuống mấy cậu lính trẻ cứ ngơ ngác hỏi nhau: “không biết nước ở đâu ra mà lắm thế?”. Mà đúng thế thật! Những nơi khác mưa vài ngày còn có ngày hửng nắng, ngay trong một ngày có lúc mưa nhưng cũng có lúc ngừng. Còn ở đây mưa dường như bất tận. Mưa suốt ngày suốt đêm. Mưa ngày này qua ngày khác. Không ào ào thì lại tý tách giọt ngắn, giọt dài. Mưa biến suối thành sông, biến sông thành dòng thác lũ cuốn trôi mọi thứ nó gặp trên đường. Chính trị viên phó đại đội 4 Vũ Đăng Toản đã từng ở vùng này hồi năm 69 thì ngạc nhiên: “không hiểu mùa mưa năm nay sao ác liệt đến vậy?”. Đối với đại đội 3 vào sau được nằm ở hậu cứ còn đỡ chứ đại đội 4 đang châng lâng ở cây số 17 đường 12 thì “hết chỗ nói”.
Khi ở Quảng Trị bắt đầu đợt Một của chiến dịch thì đại đội 4 được lệnh tiến theo đường 12 để xuống Huế. Trầy trật hai ngày, hai đêm đại đội mới lết vào đến cây số 17 thì đành nằm lại vì đường không thể cơ động được. Con đường độc đạo từ đỉnh Trường Sơn xuống đồng bằng một bên là ta- luy dương cao vút, một bên là vực sâu thăm thẳm nhìn xuống chóng hết cả mặt. Đã thế do là vùng tranh chấp, không được bảo dưỡng, duy tu thường xuyên nên sạt lở từng đoạn dài. Mặt khác, sau mấy ngày đầu thuận lợi, cuối đợt Một chiến dịch gặp nhiều khó khăn nên hướng tây này cũng không có hoạt động gì phối hợp được. Cả thiên thời lẫn địa lợi không ủng hộ, đại đội 4 đành nằm lại hai bên bờ sông Bồ chờ thời cơ khác.
Nhưng thời cơ đâu chẳng thấy, chỉ thấy mùa mưa chụp xuống đầu một cách bất ngờ. Con sông Bồ chia đôi vị trí trú quân của đại đội bây giờ thành một vật chướng ngại dường như bất khả xâm phạm. Nhưng điều đáng sợ hơn là những mảng đường lại tiếp tục theo nhau sạt lở, nhiều chỗ lở gần hết mặt đường, người đi bộ cũng phải nép sát vào ta- luy mới dám đi qua. Nhìn cái cảnh “tiến thoái lưỡng nan” của đơn vị, đại đội trưởng Thuận thật sự lo lắng. Anh tự hỏi: “nếu lúc này mà địch nó nống ra thì đánh đấm thế nào?”.
Rồi cái lo ấy cũng trở thành hiện thực: quân địch đã nống ra đến Tà Lương, cách chỗ đơn vị trú quân chỉ hơn 4 ki- lô- mét. Thuận một mặt cho người cấp báo tình hình lên quân khu đề nghị hỗ trợ, một mặt anh triệu tập cán bộ toàn đại đội đến hội ý để bàn phương án đánh địch tại chỗ.
Trong lúc đó, tại một cánh rừng cao su sát biên giới Việt Nam- Căm Pu Chia, Cân đang bận tíu tít với công việc chuẩn bị cho lễ ra mắt của Đoàn thiết giáp M26. Đây được coi là một sự kiện trọng đại vì lần đầu tiên xe tăng có mặt ở chiến trường này, lại còn ra quân đánh thắng trận đầu thật giòn giã ở Lộc Ninh. Mới cách đây vài hôm hai tiểu đoàn xe tăng vừa được bổ sung vào nâng tổng số đơn vị xe tăng ở đây lên đến bốn tiểu đoàn. Chính vì nhận thấy vai trò của tăng thiết giáp ngày một lớn nên Bộ Tư lệnh Miền đã quyết định thành lập đoàn thiết giáp M26. Có thể coi đây là một bước phát triển vượt bậc của Quân giải phóng B2, hứa hẹn những trận đánh hiệp đồng binh chủng quy mô lớn trong một tương lai gần.
Buổi lễ diễn ra giản dị nhưng trang trọng. Sau các thủ tục công bố quyết định thành lập, ổn định về tổ chức biên chế là bài phát biểu của chính ủy Miền và lời chào mừng của các binh chủng bạn. Cuối cùng đoàn trưởng Mai, tư lệnh kiêm chính ủy đoàn đứng dậy, giọng đầy xúc động:
- Kính thưa đồng chí chính ủy! Thưa toàn thể các đồng chí! Cách đây hơn tám năm, tôi và một số đồng đội nữa nhận lệnh rời binh chủng đi tay không vào mặt trận với nhiệm vụ nghiên cứu chiến trường, chuẩn bị cho xe tăng vào tham gia chiến đấu đồng thời tổ chức lấy xe địch đánh địch. Thật tình, lúc đó đi thì cứ đi nhưng ít ai nghĩ có ngày những chiếc xe tăng lại có thể vượt hàng nghìn cây số dưới mưa bom, bão đạn của quân thù để vào được đến đây. Thế mà hôm nay, điều đó đã trở thành hiện thực. Với những nỗ lực cao nhất của mình, với sự giúp đỡ của bộ đội Trường Sơn và các đơn vị bạn, những chiến sĩ xe tăng Việt Nam đã làm được những việc chỉ có trong chuyện cổ tích ngày xưa. Đối với chúng tôi, những cán bộ chiến sĩ từ binh chủng ra đi năm xưa thì ngày mà chiếc xe tăng đầu tiên của ta lăn xích trên chiến trường B2 thật sự là ngày… hạnh phúc nhất- Anh chợt dừng lại đưa tay lên quệt ngang mắt. Hội trường im phăng phắc. Một vài người mắt cũng rưng rưng. Phải một lát sau Mai mới tiếp tục bằng cái giọng khản đặc- Tuy nhiên, chúng tôi cũng xin chân thành nhận khuyết điểm là chưa đáp ứng được kỳ vọng của các thủ trưởng và của các đơn vị bạn, nhất là trong trận đánh An Lộc vừa qua. Thay mặt cán bộ chiến sỹ tăng thiết giáp miền chúng tôi xin hứa sẽ nghiêm túc rút kinh nghiệm để thời gian tới sẽ hoàn thành nhiệm vụ xuất sắc hơn. Một lần nữa xin cảm ơn các đồng chí!
Ngồi trong một góc hội trường Cân tỏ ra vô cảm với tất cả những bài phát biểu đang được cất lên một cách trang trọng trên diễn đàn. Trong lòng anh nhoi nhói một nỗi đau không thể nói lên lời. Cách đây chỉ hơn một tháng chứ mấy, cứ sau mỗi trận đánh chính bản thân anh đã phải mò vào thị xã An Lộc để hủy xe hỏng và lấy thi hài đồng đội ra. Xe thì dù sao cũng chỉ là những vật vô tri vô giác, có cháy, có hỏng rồi sẽ được bổ sung vào. Nhưng còn các đồng đội của anh, đó là những người con của một gia đình, là chồng của một người vợ, là cha của những đứa con, là niềm thương nỗi nhớ của bao nàng thiếu nữ thì đã mất đi sẽ không bao giờ sống lại được nữa. Mà nào có lấy về được bao nhiêu đâu. Những xe không cháy anh em chạy ra ngoài thì chẳng biết đằng nào mà tìm. Còn những xe bị cháy có khi cả bốn người chỉ còn một dúm. Những đêm đầu Cân còn khóc được. Về sau, dường như nước mắt anh cũng đã cạn khô. Những cảm xúc tưởng như chai lì đi giờ đây lại trỗi dậy. Anh cảm thấy giận những người đang thao thao bất tuyệt kia: “sao họ nói hay vậy mà họ lại chẳng làm gì để bớt đi những cái chết của đồng đội?”. Anh bỏ ra ngoài đi sâu vào trong rừng và ngồi như hóa đá bên một con suối cạn mà không dự bữa liên hoan.
Nhưng có một người đã phát hiện ra sự vắng mặt của Cân, đó là đoàn phó Hồng. Thực ra, từ hôm Cân lên đây giúp việc cho phòng chính trị chuẩn bị cho lễ ra mắt Hồng đã đoán chắc trong lòng người cán bộ trẻ này đang có điều gì đó vô cùng bức xúc giằng xé. Quen biết nhau từ hồi chuẩn bị đánh Làng Vây anh biết đó là một thành niên tốt, một chiến sĩ giỏi, một con người tận tụy với công việc và có trách nhiệm cao với mọi người. Trong những lúc khó khăn, gian khổ nhất ở cậu ta vẫn toát lên sự lạc quan, yêu đời và có phần lãng mạn. Có lẽ suốt đời anh sẽ không thể quên cái căn hầm dưới bụng xe 567 trong cái đêm giao thừa năm Mậu Thân ở đồi Pê Sai chỉ cách địch có 6 ki- lô- mét. Từ hồi đó anh đã tự bảo mình: “với những chiến sĩ như thế này chắc chắn chúng ta sẽ thắng”. Thế mà lần này cũng con người đó lại mang một bộ mặt khác hẳn. Nhưng rồi công việc bận bịu đã không cho phép anh tìm hiểu sâu thêm. Định bụng sau buổi lễ anh em sẽ ngồi tâm sự nhưng rồi trong bữa liên hoan chẳng thấy cậu ta đâu nên Hồng quyết định đi tìm. Khi nhìn thấy Cân đang ngồi lặng phắc bên con suối nhỏ trong rừng anh lặng lẽ lại gần và ngồi xuống.
Không niềm nở như mọi lần anh em gặp nhau, Cân lẳng lặng nhìn như xoáy xuống dòng nước đang lặng lờ chảy dưới chân, đôi mắt ầng ậc nước. Hồng là người đầu tiên phá vỡ sự im lặng, anh nhẹ nhàng đặt tay lên vai Cân:
- Có chuyện gì thế em? - Từ ngày gặp lại nhau ở chiến trường này Hồng vẫn gọi Cân âu yếm như vậy.
Cân vẫn lặng im không nói nửa lời. Có vẻ như cậu ta đang cố nuốt một cái gì đó đang mắc nghẹn ở cổ họng vào trong bụng. Lại một lần nữa Hồng vỗ về:
- Thôi, có cái gì vướng mắc thì cứ nói hết ra mới nhẹ lòng được em ạ!
Cân vùng vằng:
- Em chẳng có gì vướng mắc cả!
Hồng tỏ vẻ quan tâm:
- Thế thì vì sao? Từ hôm em lên đây anh đã thấy em khang khác. Mệt mỏi quá à? Hay là vì…
Không để Hồng nói hết câu, Cân bùng lên như một thùng thuốc súng:
- Vì sao à? Vì các anh đấy! Các anh ở trên này làm cái gì mà để người ta xua anh em mình vào chỗ chết hết trận này đến trận khác thế? Sao các anh không chịu rút kinh nghiệm với bộ binh? Sao các anh không có ý kiến gì với cấp trên? Bốn, năm trận đều cùng một kết cục như nhau, các anh không thấy xót à?
Hồng ngớ ra. Thì ra tâm tư của người cán bộ trẻ này là như vậy. Cậu ta xót xa vì sự hy sinh liên tiếp của đồng đội trong mấy trận đánh vừa qua. Thật tình anh cũng đau xót chẳng kém gì cậu ta cả. Biết bao mong mỏi, biết bao gian nan mới đưa được một chiếc xe tăng vào đây. Thế mà chỉ nguyên cái thị xã An Lộc bé con con này thôi đã xóa sổ ngót một tiểu đoàn. Đau lắm chứ! Nhưng có phải ai cũng hiểu hết nỗi lòng các anh? Sự kỳ vọng quá đáng của cấp trên? Đúng! Đã bao năm mong đợi mới có ngày này cơ mà. Sự hối thúc, ỷ lại của bộ binh? Đúng! Từ xưa đến nay họ đã đơn độc chiến đấu, nay có xe tăng tội gì mà không dùng. Tâm lý giành thắng lợi bằng mọi giá? Rất tiếc là cũng đúng. Mà không phải chỉ có cấp trên, ngay cả trong số cán bộ xe tăng mình cũng có. Nhưng cũng không thể không kể đến những yếu kém, sự thiếu kinh nghiệm của anh em mình. Không chỉ có chiến sĩ mà cả cán bộ cũng vậy. Biết thế nhưng cũng chẳng trách anh em được. Huấn luyện ngoài kia thì chủ yếu là tiến công quân địch phòng ngự vững chắc trên điểm cao, vùng đồi núi. Có ai được huấn luyện và thực hành chiến đấu ở thành phố, thị xã bao giờ? Bản thân anh anh cũng phải tự nhận là mình đã có phần hữu khuynh, mặc dù cũng đã lờ mờ nhận ra những bất cập sau một, hai trận đánh nhưng đã thiếu kiên quyết, thiếu mạnh dạn đề đạt với cấp trên suy nghĩ của mình. Nhưng còn một vấn đề nữa mà bây giờ anh mới nhận ra là tác động của những tổn thất ấy lớn đến mức nào. Ngay cả một cán bộ trẻ đày tâm huyết như Cân mà còn lung lay thế này thì các chiến sĩ trẻ sẽ ra sao? Có lẽ điều cần thiết nhất bây giờ là phải “vực” tư tưởng bộ đội dạy. Rồi anh sẽ phải phản ánh vấn đề này với đảng ủy. Nhưng đó là việc về sau. Còn bây giờ phải kéo chú em Cân ra khỏi trạng thái này càng nhanh càng tốt. Nghĩ vậy Hồng hết sức mềm mỏng:
- Em đừng nghĩ thế mà oan các anh. Thấy đồng đội hy sinh, thấy xe mình bị cháy nhiều như vậy bọn anh cũng xót xa lắm chứ. Vừa rồi bọn anh trên này cũng đã rút kinh nghiệm rất sau sắc rồi. Em cứ tin rằng từ nay những chuyện như vậy sẽ không xảy ra nữa.
Cân vẫn sụt sịt:
- Nhưng những người đã chết cũng sẽ không bao giờ sống lại được nữa.
Mặc dù biết những lời mình sắp nói đầy sáo rỗng song Hồng vẫn phải nói:
- Chiến tranh mà em. Thế nào mà chả có tổn thất.
Hồng không ngờ câu nói ấy của anh làm Cân bùng lên một lần nữa:
- Các anh đừng có dựa vào đấy mà ngụy biện. Anh em chúng tôi đâu có sợ chết. Vấn đề là chết như thế nào mà thôi. Nếu các anh xót xa sao không dừng lại mà rút kinh nghiệm ngay. Nếu các anh làm được như thế biết bao người sẽ đỡ phải chết oan ức. Anh không biết chứ, nhiều cái chết thảm lắm…- Vừa dứt lời Cân bật khóc tu tu.
Chẳng biết nói gì nữa Hồng chỉ ngồi vỗ vỗ nhẹ vào vai Cân. Chừng như những giọt nước mắt đã làm lòng Cân nhẹ bớt nên anh thủ thỉ:
- Em xin lỗi thủ trưởng! Chả là cứ sau mỗi trận em đều phải vào thị xã làm công tác thương binh, tử sĩ. Em đã tận mắt nhìn thấy đồng đội của mình hy sinh như thế nào nên đã không giữ được bình tĩnh. Nhưng nói thật, em rất không bằng lòng với các cán bộ cấp trên của mình. Biết rõ sẽ thất bại, sẽ bị tổn thất vô ích mà vẫn xua quân vào theo em đó cũng là tội lỗi, thủ trưởng ạ.
Hồng đắng lòng, anh lặng im suy nghĩ và tự nhủ: “Không! Cân ơi! Em đã đúng! Chính các anh mới là người có lỗi!”.
Những nỗ lực trong tuyệt vọng của Bộ Tư lệnh quân viễn chinh Mỹ và quân ngụy Sài Gòn được sự hậu thuẫn của mùa mưa khác thường năm Nhâm Tý cũng đã đem lại một số kết quả nhất định. Trên các địa bàn chiến lược chúng cũng đã chiếm lại được một số vị trí, tuy nhiên còn xa mới đạt được mục tiêu “khôi phục nguyên trạng như trước ngày 29 tháng Ba năm 1972” mà chúng đề ra. Trên mặt trận Quảng Trị, sau 81 ngày đêm phát động chiến dịch “Lam Sơn 72” và chấp nhận những tổn thất khá nặng nề chúng đã chiếm lại được thị xã Quảng Trị. Nhưng những nỗ lực đó cũng đã làm cho quân ngụy Sài Gòn kiệt lực và Oa- sinh- tơn mệt mỏi. Ngay cả chiến dịch “Lai- nơ- bếch- cơ” dùng máy bay chiến lược B52 ném bom hủy diệt Hà Nội cũng không làm cho cái dân tộc nhỏ bé nhưng đày kiêu hãnh này khuất phục, Mỹ buộc phải thúc ép chính quyền Sài Gòn cùng ngồi vào bàn ký Hiệp định Pa- ri.
Cái tin Hiệp định Pa- ri đã được cả bốn bên ngồi vào ký như một luồng gió mát lành lan đến mọi hang cũng ngõ hẻm trên cái đất nước mà suốt mấy chục năm qua cứ liên miên hết cuộc chiến tranh này đến cuộc chiến tranh khác. Đi đến đâu, ngồi ở đâu cũng thấy người ta bàn tán về hiệp định, về hòa bình và trong ánh mắt những người mẹ, những người vợ cùng sáng lên cái hy vọng con họ, chồng họ sẽ được trở về nay mai.
Ở nhà ông Đào, bà Hạnh phấn khởi ra mặt: “thế là từ nay ông ấy thôi không phải ra chốn hòn tên, mũi đạn nữa rồi”. Gớm, cái hồi ông ấy ở trong chiến trường Quảng Trị ra dạo tháng Sáu, tháng Bảy năm ngoái trông mới khiếp làm sao. Tuy không bị thương thêm lần nào nhưng trông ông ấy già đi đến hàng chục tuổi, người thì sút đi dễ đến hàng chục cân. Tính khí thì lại trở nên bẳn gắt còn hơn trước khi bị thương. Hình như có những điều gì đó ông ấy không được vừa ý thì phải. Hỏi câu gì thì trả lời câu ấy, mà lại cộc lốc nữa chứ. Con cái vì vậy cứ “len lét như rắn mồng năm”. Mãi sau này ông ấy mới lại người, tính nết cũng đỡ khó chịu. Thế nhưng nhân hôm chủ nhật ông tranh thủ qua nhà, bà đem chuyện hiệp định Pa- ri ra nói với ông thì mặt ông cứ khó đăm đăm:
-Bà thì biết cái gì mà nói! Thằng thầy nó rút rồi nhưng còn thằng tớ nó ở đấy thì bà bảo yên sao được? Thế nào rồi cũng vẫn phải giải quyết thôi!
Bà tỏ vẻ ngạc nhiên kèo nèo:
- Sao bảo sau khi Mỹ rút thì bên nào ở nguyên bên ấy cơ mà?
Đến lúc này thì ông gắt um lên:
- Đã bảo bà không biết thì đừng có nói rồi mà- Nhưng có lẽ thấy mình cáu gắt với vợ là vô lý nên ông dịu giọng- Đó là sách lược của mình thôi bà ạ! Bác Hồ đã dạy “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” rồi cơ mà. Nghĩa là ta phải làm từng bước, sau khi đuổi thằng Mỹ ra khỏi đất nước ta rồi ta sẽ đánh đổ nốt thằng ngụy. Có làm như thế mới thống nhất được nước nhà chứ.
Hôm qua ông cũng vừa mới gửi một bức điện đến tất cả các đơn vị xe tăng yêu cầu bộ đội nêu cao tinh thần cảnh giác, kiên quyết đánh bại mọi âm mưu lấn chiếm của kẻ địch. Thực tế mấy chục năm cầm súng đã dạy cho ông bài học không bao giờ được đặt lòng tin vào kẻ thù. Thì đấy, cuối tháng Mười hai chính phủ vừa mới thỏa thuận với nhau, tưởng rằng mọi việc đã đâu vào đấy thì 18 tháng Mười Hai nó cho B52 hủy diệt mình. Thật may, nếu không có những bộ óc thiên tài dự đoán được hành động phiêu lưu điên rồ này của chúng thì thiệt hại còn lớn đến đâu. Đúng là đàn bà, nhẹ dạ cả tin quá thể.