Đã hơn hai năm, kể từ ngày Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại ra miền Bắc, cơ quan Bộ Tư lệnh Thiết giáp sơ tán về sát chân dãy núi Tam Đảo. Những căn nhà cấp 4 lợp ngói, lợp lá cọ áp lưng vào núi, quay mặt xuống chân ruộng trũng nằm thấp thoáng sau những tán cây rậm rạp và những nương sắn, nương ngô của dân. Trên sườn đồi rải rác vài cây cọ già vươn những tấm lá rộng xòe như nan quạt lên nền trời, thỉnh thoảng lại rung lên phành phạch khi có cơn gió mạnh thổi qua. Quanh nhà bộ đội đã tranh thủ vỡ đất trồng được mấy đám rau. Đất mới lại được tưới tắm đầy đủ nên lúc nào cũng xanh mươn mướt. Nhìn thoáng qua cả khu vực trông không khác mấy một xóm của người dân địa phương. Hai ngôi nhà dành cho Tư lệnh và Chính ủy binh chủng cũng không khác gì những ngôi nhà xung quanh. Cũng mái ngói, tường trát “tooc-xi”, chỉ khá hơn là có trần bằng cót.
Đối với quyền Tư lệnh Đào chuyện ăn ở không có gì quá quan trọng, cốt sao bảo đảm sức khỏe để làm việc là được. Đồ đạc cá nhân của ông cũng lèo tèo vài thứ để không hết một ngăn cái tủ đứng hai buồng, chỉ có sách là nhiều. Sách đầy trên hai giá áp lưng vào bức tường hồi, sách la liệt trên bàn làm việc, vài cuốn để đầu giường ngủ... Số sách này phần lớn là do ông sưu tầm, cóp nhặt suốt mấy chục năm qua, đặc biệt là trong các cuộc đi học nước ngoài và những lần làm việc với chuyên gia bạn. Ngoài ra là sách mua, sách xin bạn bè, đồng đội và sách mượn từ thư viện. Xuất thân từ một hương sư trước cách mạng tháng Tám ông hiểu sâu sắc giá trị của những con chữ, những cuốn sách đối với cuộc đời mỗi con người. Sau này ông lại càng tâm đắc với câu nói của Lê- nin: “Không có sách thì không có tri thức, không có tri thức thì không có chủ nghĩa cộng sản”. Vì vậy khi có điều kiện ông hay la cà ở các hiệu sách, thấy quyển nào hay là dốc túi mua luôn. Khi được đi học nước ngoài có bao nhiêu phụ cấp mọi người dành mua đồ dùng cá nhân, riêng ông chủ yếu để dành mua sách. Còn mấy nhân viên thư viện cơ quan Bộ Tư lệnh thì phục ông “sát đất”, ông không chỉ đọc nhiều mà còn thuộc cả vị trí các đầu sách về nghệ thuật quân sự trên giá. Khi họ còn loay hoay tra cứu trong số mục lục thì ông đã bảo “vào chỗ này, chỗ kia mà lấy”. Với ông sách không chỉ là phương tiện giúp ông làm phong phú thêm vốn tri thức của mình mà còn là một người bạn tri âm lặng lẽ và sâu sắc. Và chẳng biết từ bao giờ sưu tầm sách và đọc sách đã trở thành một thú vui và gần như là thú vui duy nhất của ông. Cũng nhờ thế mà vốn tri thức của ông ngày càng được mở rộng. Vốn Hán tự từ ngày còn đi “gõ đầu trẻ” ở trường làng khi sang Trung Quốc học được bổ sung một cách rất bài bản nên ông có thể đọc sách và nói chuyện thoải mái với các đồng chí Trung Quốc về mọi chủ đề. Từ khi về nước thấy xe tăng chủ yếu là do Liên Xô viện trợ, tài liệu tiếng Nga rất nhiều nên ông đã đề ra cho mình một kế hoạch học tiếng Nga rất khoa học. Sau mấy năm mày mò tự học giờ đây ông đã có thể đọc, hiểu được các tài liệu kỹ, chiến thuật tăng thiết giáp từ nguyên bản tiếng Nga.
Thế mà hôm nay, từ sáng đến giờ ông chẳng đọc được chữ nào mặc dù cuốn “Binh pháp Tôn Tử” bằng chữ Hán vẫn mở ngay trước mặt. Đây là cuốn sách của thày chủ nhiệm khoa chiến thuật Học viện xe tăng số 1 tặng ông vì quý mến người học viên vừa thông minh vừa sắc xảo lại vừa giỏi tiếng Hán, có hiểu biết sâu sắc về văn hóa Trung Hoa và cũng là người có những câu hỏi thật hóc búa không dễ trả lời thấu đáo. Từ khi có nó mỗi khi rảnh rỗi ông lại đem ra nghiền ngẫm và suy nghĩ đến việc vận dụng vào chiến tranh hiện đại. Tuy nhiên hôm nay sách mở đấy mà đầu óc ông vẫn để tận đâu đâu. Lúc thì nó phiêu du đến những trận đánh xe tăng nổi tiếng trên chiến trường châu Âu trong Thế chiến Hai, lúc lại đột nhiên nhớ lại bài giảng về sử dụng xe tăng trong tiến công ở Học viện, có lúc lại là những tình huống xảy ra trong lần diễn tập hiệp đồng quân binh chủng cùng sư đoàn Quân tiên phong hồi cuối năm ngoái... Và cái hình ảnh trở đi trở lại nhiều nhất trong tâm trí ông là những tưởng tượng về buổi báo cáo tình hình binh chủng của tham mưu trưởng Dương trước Quân ủy trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh hôm nay.
Tất nhiên đây không phải lần đầu tiên cấp trên gọi binh chủng lên báo cáo tình hình nhưng rõ ràng buổi báo cáo hôm nay có ý nghĩa vô cùng quan trọng: xe tăng, thiết giáp có được sử dụng ở chiến trường miền Nam hay không? sử dụng với quy mô nào? dưới hình thức nào? vv... sẽ được quyết định sau buổi báo cáo tình hình hôm nay.
Hiểu rõ tầm quan trọng của buổi làm việc này ngay từ khi nhận được thông báo của trên Thường vụ đảng ủy binh chủng đã dành ra gần một tuần làm việc với các cơ quan liên quan, sau đó là hai ngày họp bàn cật lực để thống nhất đến từng chi tiết của bản báo cáo, ngoài ra còn phải dự kiến những câu hỏi và phương án trả lời. Đến cả việc cử người đi báo cáo cũng phải bàn bạc rất kỹ. Ông chính là người đề cử tham mưu trưởng Dương thay mặt Bộ tư lệnh làm việc này. Với những lý lẽ rất chắc chắn của mình ông đã thuyết phục được tập thể thường vụ đảng ủy đồng ý với mình. Không phải vì ông không nắm chắc nội dung để truyền tải những vấn đề cốt lõi đến cấp trên nhưng ông cho rằng tham mưu trưởng Dương đi báo cáo sẽ tốt hơn. Bản thân ông tự nhận mình là người nóng nảy, bộc trực, dễ phản ứng tức thì và có phần gay gắt khi xảy ra bất đồng chính kiến. Còn tham mưu trưởng Dương là người nhũn nhặn, chín chắn và cẩn trọng, có vấn đề gì không lọt tai vẫn nhẹ nhàng tìm cách giải thích có đầu có đuôi nên khả năng thuyết phục cao hơn. Cái khó khăn lớn nhất cần phải vượt qua trong buổi báo cáo này là phải chứng minh cho cấp trên thấy hoàn toàn có thể sử dụng và sử dụng một cách có hiệu quả xe tăng thiết giáp ở miền Nam bằng những luận cứ sắc bén và thuyết phục nhất. Ông nhớ lại những lần làm việc trước mà thấy lo lo: ngay trong Quân ủy trung ương và lãnh đạo Bộ vẫn còn không ít người phản đối việc sử dụng xe tăng ở Việt Nam nói chung và miền Nam nói riêng. Thậm chí có vị cán bộ cao cấp còn nửa đùa nửa thật nói với ông khi đến thăm binh chủng ngày mới từ nước ngoài về: “Xe tăng các cậu về chủ yếu là để duyệt binh thôi!”. Lý lẽ của các “cụ” đưa ra cũng rất thực tế, khó phủ nhận: “Địa hình Việt Nam ba phần tư là đồi núi, chủ yếu là đèo cao dốc đứng; phần còn lại là đồng bằng lúa nước, nền đất yếu, nhiều sông ngòi,... Với trọng lượng lớn của tăng thiết giáp thì làm sao có thể cơ động và phát huy sức mạnh được (?)”. Có vị chỉ huy cấp chiến dịch còn tuyên bố: “Nếu cho tôi lựa chọn giữa một đại đội xe tăng và một đại đội đặc công thì tôi sẽ chọn đại đội đặc công!!!”. Ngay cả các chuyên gia bạn cũng có chung quan điểm như vậy, các đồng chí đó cho rằng với đặc điểm địa lý quân sự phức tạp như ở Việt Nam thì chỉ nên xây dựng lực lượng xe tăng để đề phòng địch mở rộng chiến tranh ra miền Bắc mà thôi.
Quả thật, từ khi ra đời được đưa vào sử dụng ở Thế chiến Một và phát huy cao độ tác dụng trong Thế chiến Hai xe tăng thiết giáp chủ yếu được sử dụng ở châu Âu với những bình nguyên rộng lớn tương đối bằng phẳng và ít bị chia cắt. Trong điều kiện đó xe tăng thiết giáp đã phát huy được những ưu việt không thể phủ nhận là tính cơ động cao, sức đột kích dũng mãnh, hỏa lực mạnh và khả năng tự bảo vệ bằng vỏ thép dày. Còn ở Việt Nam từ quân đội Pháp trước đây đến quân đội Mỹ hiện nay cũng chỉ mới đưa vào sử dụng một số loại xe tăng thiết giáp hạng nhẹ như M18, M24, M113 và cũng chỉ sử dụng ở một mức độ rất hạn chế. Chính vì vậy ngay khi còn đang ngồi ghế Học viện xe tăng ở nước ngoài ông đã nung nấu một suy nghĩ: tác chiến xe tăng ở chiến trường Việt Nam không thể giống châu Âu, Trung Quốc; không thể có chuyện hàng tập đoàn quân xe tăng dàn hàng ngang đấu nhau như ở Kursc hay hàng sư đoàn xe tăng dàn trận công phá Béc- lin vv... Ông đã đem ý nghĩ này trao đổi với các đồng đội và tất cả đều trăn trở cùng ông: “Phải tìm ra một cách đánh riêng cho xe tăng thiết giáp Việt Nam”. Điều trăn trở này ngày càng nung nấu khi ông được giao nhiệm vụ làm trung đoàn trưởng trung đoàn xe tăng đầu tiên và sau đó là quyền Tư lệnh binh chủng Thiết giáp của Quân đội nhân dân Việt Nam. Và thế là ngoài công việc hàng ngày của một người chỉ huy ông dành phần lớn thời gian còn lại cho công việc nghiên cứu định hình nên một cách đánh riêng của xe tăng thiết giáp phù hợp với điều kiện Việt Nam.
Để làm được điều này ông đề ra một phương pháp nghiên cứu rất khoa học và có trình tự: trước hết là phải nghiên cứu kỹ về lịch sử quân sự, trong đó đặc biệt lưu ý các trận đánh bằng xe tăng. Thứ hai là phải nghiên cứu về tình hình địa hình, phân loại địa hình và đánh giá về khả năng sử dụng xe tăng ở từng khu vực. Sau nữa là nghiên cứu về địch, đặc biệt chú ý cách thức bố phòng, hệ thống công sự vật cản và vũ khí chống tăng. Ngoài ba vấn đề chủ yếu trên cũng cần nghiên cứu đến khả năng bảo đảm của ta như bảo đảm kỹ thuật, bảo đảm cơ động, bảo đảm phòng không vv... Ông cũng chỉ đạo Phòng Tham mưu hình thành một Tổ nghiên cứu khoa học quân sự do đích thân tham mưu trưởng phụ trách để cùng ông giải bài toán hóc búa này.
Sau nhiều đêm trăn trở bên những trang sách, sau vài lần đi nghiên cứu địa hình ông chỉ đạo phòng tham mưu xây dựng phương án tham gia diễn tập cùng với bộ binh trên những địa bàn khác nhau. Từ kết quả các cuộc diễn tập đó đã định hình nên những vấn đề lý luận cơ bản về sử dụng xe tăng thiết giáp trong điều kiện Việt Nam. Mặc dù chưa được kiểm chứng trong thực tế chiến đấu song cũng đã có những cơ sở khá chắc chắn và tất cả đã được đưa vào nội dung bản báo cáo mà tham mưu trưởng Dương sẽ trình bày trước Quân ủy trung ương và Bộ Quốc phòng hôm nay.
Biết rằng có ở nhà cũng chẳng làm được việc gì ra hồn ông bảo công vụ gọi xe và rảo bước về phía ngôi nhà của chính ủy Lê Quang Ngọc.
Đang ngồi trầm ngâm trước tập tài liệu thấy cái bóng thấp đậm của quyền tư lệnh Đào trước sân, chính ủy Ngọc đã vội đứng lên tươi cười:
- Anh Đào đấy à? Mời anh vào uống nước!
Chỉ định sang thông báo mình xuống đơn vị kiểm tra, nhưng thấy chính ủy Ngọc đã rời bàn làm việc ra bộ bàn ghế tiếp khách ông Đào đành nán lại. Vừa ghé ngồi vào chiếc ghế ba nan ông đã nói luôn:
- Không biết anh Dương sẽ xoay xở thế nào đây hả anh Ngọc?.
Vừa từ tốn rót nước ra chén ông Ngọc nhẹ nhàng:
- Anh cứ yên tâm! Tôi tin rằng với sự chuẩn bị kỹ càng của ta thế nào anh Dương cũng sẽ thuyết phục được các thủ trưởng thôi!
Đẩy chén nước về phía quyền tư lệnh Đào, ông tiếp:
- Anh uống nước đi!
Ông Đào nâng chén nước lên ngắm nghía, màu vàng chanh của nước chè xanh hãm khéo sóng sánh trên nền chiếc chén sứ Hải Dương trông thật ngon mắt. Ông từ tốn nhấp một ngụm nhỏ rồi nói:
- Từ ngày về sơ tán ở đây tôi đâm ra nghiện món chè xanh này rồi anh ạ!
Ông Ngọc cười:
- Tôi cũng thế! Mỗi ngày cứ đều đặn hai ấm. Mà cậu Lưu công vụ nó biết hãm chè nên uống thấy càng ngon.
Quả thật ở vùng chân dãy núi Tam Đảo này chè xanh có vị ngon đặc biệt. Tuy nhiên nếu không biết hãm mà cứ vặt bỏ vào nồi nấu thì uống chán phèo. Lưu là người vùng này, từ bé đã lớn lên cùng với những đồi chè nên biết rất rõ điều đó. Vì vậy khi sơ tán về đây Lưu đề nghị ngay với bên hành chính mua cho hai bộ ấm tích chuyên để hãm chè. Cậu ta bảo: “Chè xanh phải hãm bằng ấm tích mới ngon”. Sáng sớm hái nắm chè về, rửa sạch, để ráo nước rồi đun nước, tráng ấm. Chuẩn bị cho chè vào thì vò nhẹ nắm chè cho hơi dập dập lá. Sau khi rót nước sôi thì cho ngay vào dành để ủ. Chè được hãm đúng cách lúc rót ra màu vàng hơi phơn phớt xanh, lại sóng sánh như mật, uống vào cảm được ngay cái vị chát chát, ngọt ngọt và cái mùi hăng hăng của nhựa cây như còn đọng lại.
Liếc qua tập tài liệu trên bàn ông Đào hỏi:
- Anh cũng đang đọc lại bản báo cáo đấy à?
Ông Ngọc cười bối rối:
- Đọc thì đọc đấy nhưng đầu óc nó cứ ở đâu đâu ấy!
- Cũng y như tôi, nhìn vào trang sách mà cứ như nhìn vào ma trận ấy! Đúng là “đồng bệnh tương liên”!- Ông Đào bật cười ha hả, một kiểu cười cực kỳ hiếm thấy ở ông.
Thấy ông Đào cười ông Ngọc cũng bật cười theo và thú thật:
- Cầm tài liệu đọc nhưng rồi cái đầu lại chỉ tưởng tượng ra anh Dương đang bị “các cụ” quay thế nào thôi.
Nhìn bề ngoài ông Ngọc có vẻ già dặn hơn cái tuổi 45 của mình. Có lẽ vì cái dáng vẻ đạo mạo và phong thái từ tốn của một cán bộ chính trị lâu năm. Tuy nhiên, đằng sau cái vẻ bề ngoài đó là một con người của hành động mạnh mẽ và quyết đoán. Không giống như ông Đào được đào tạo bài bản từ nước ngoài về tăng thiết giáp, ông Ngọc chỉ mới được điều về làm chính ủy khi thành lập binh chủng năm kia. Ngay khi vừa về nhận nhiệm vụ ông đề nghị Thường vụ đảng ủy và Bộ Tư lệnh dành cho ông một tháng học về kỹ chiến thuật binh chủng. Ông nói: “Muốn làm tốt công tác Đảng, công tác chính trị ở một đơn vị mà mình chẳng hiểu gì về nó thì chỉ có ăn ốc nói mò thôi”. Thế là một mình ông xuống tiểu đoàn huấn luyện, cũng lái, cũng bắn, cũng bảo dưỡng kỹ thuật, quai búa, bơm dầu... y như một người lính. Khi về cơ quan người ông sắt lại và đen hẳn đi nhưng hể hả lắm: “Có đi như thế mới hiểu lính xe tăng vất vả như thế nào và máu chiến đến mức nào”. Ông còn dí dỏm: “Ở đâu đó phải lo làm công tác tư tưởng cho bộ đội đi chiến trường chứ ở binh chủng này lo làm công tác cho bộ đội ở lại ngoài Bắc lại vất vả hơn”. Quả thật, từ ngày thành lập đến nay đã gần chục năm, bộ đội được huấn luyện cơ bản, kỹ càng, lại được hưởng tiêu chuẩn cao hơn bộ binh và các binh chủng bạn mà cứ án binh bất động, quanh đi quẩn lại lúc nào cũng huấn luyện rồi bảo dưỡng kỹ thuật nên anh em ai cũng nóng ruột. Vì vậy khi được dịp gần gũi chính ủy ai cũng bày tỏ nguyện vọng được đi chiến trường. Ông lại phải trổ tài cán bộ chính trị để động viên, an ủi nhưng rồi chính ông cũng bị “lây” cái khí thế đó và trong đầu ông cũng nhanh chóng hình thành một suy nghĩ cháy bỏng: “Xe tăng thiết giáp là loại vũ khí hiện đại và có hiệu suất chiến đấu cao, phải làm sao nhanh chóng đưa được vào chiến trường để trong đó bớt đổ xương, đổ máu, để cho ngày toàn thắng đến sớm hơn”. Và cũng vì thế ông đã hòa nhập rất nhanh với tập thể thường vụ đảng ủy và Bộ Tư lệnh. Với quyền tư lệnh Đào ông cũng có mối quan hệ cộng tác rất chân tình và cởi mở. Hai ông trọng nhau về nhân cách, tri thức và quý nhau bởi lối sống giản dị, trọng tình nghĩa. Ngay như lúc này cả hai cùng có suy nghĩ giống nhau và cùng lo lắng như nhau.
Thấy quyền tư lệnh Đào vẫn trầm ngâm nâng chén nước chè lên mà hồn vía vãn như đang để tận đâu đâu chính ủy Ngọc láy lại:
- Anh đừng lo lắng nữa! Theo tôi tình thế lúc này cũng đã chín muồi, cộng với sự chuẩn bị kỹ càng của ta thế nào cũng trót lọt thôi!
- Thì vẫn biết vậy nhưng tâm tưởng nó cứ làm sao ấy.- Cúi nhìn đồng hồ quyền tư lệnh Đào nói với chính ủy Ngọc- Anh ở nhà trực, có việc gì giải quyết giúp tôi nhé! Tôi xuống chỗ H03 một lát, hôm trước nghe anh em báo cáo tình trạng kỹ thuật xe máy ở chỗ sơ tán không được tốt lắm. Đến trưa tôi sẽ về.
- Được! Anh cứ đi đi!- Ông Ngọc tỏ ra thông cảm với tâm trạng của người đồng nhiệm, ông hiểu rằng có ngồi ở nhà ông Đào cũng sẽ không làm được việc gì.
Hai người bắt tay nhau, ông Đào rảo bước về phía chiếc xe Bắc Kinh đã đợi sẵn trước nhà mình.
Trong lúc đó tham mưu trưởng Dương đã vào đến Thành Nội và đang ngồi chờ ở phòng thường trực khu A. Cùng đi với ông hôm nay có trưởng ban tác chiến Phúc và chủ nhiệm hậu cần- kỹ thuật Nhật. Hai người thấy tham mưu trưởng có vẻ căng thẳng nên cũng ngồi im lặng trái hẳn với thường ngày.
Chiếc máy điện thoại trên bàn đổ một hồi chuông dài. Người sĩ quan trực ban nhấc ống nghe rồi quay sang ba thày trò:
- Mời các đồng chí đi theo tôi!
Cả ba lặng lẽ theo người trực ban đi về phía sở chỉ huy. Thực tình khi được thông báo là sẽ đi báo cáo cấp trên tình hình binh chủng ông Dương vẫn nghĩ sẽ là ở một địa điểm sơ tán nào đó. Vì vậy mà ông thấy bất ngờ khi biết nơi mình đến báo cáo lại nằm ngay trong Thành Cổ Hà Nội. Trong lòng ông dấy lên niềm cảm phục, như vậy Bác Hồ, Trung ương Đảng và các đồng chí lãnh đạo Bộ Quốc phòng vẫn bám trụ Hà Nội để lãnh đạo kháng chiến mặc dù không quân Mỹ đánh phá miền Bắc ngày càng ác liệt.
Lần đầu tiên được vào chốn thâm nghiêm này ông Dương nhìn quanh với một vẻ tò mò không giấu diếm. Ngôi nhà sở chỉ huy nằm trên một thềm ca, có vẻ như nền cũ một cung điện nào đó thì phải vì hai bên bậc thềm còn nguyên hai con rồng đá uy nghiêm nằm trầm mặc thi gan cùng tuế nguyệt. Bước xuống cuối một cầu thang sâu hút, người trực ban đưa tay ngăn ba thày trò đứng lại chờ rồi đẩy cửa bước vào trong phòng. Một lát sau anh ta quay lại nói nhỏ:
- Mời các đồng chí vào!.
Ông Dương bước lên trước rồi cả ba người thành một hàng dọc đi vào phòng họp. Chưa kịp định thần nhìn rõ từng người song ông cũng dừng lại và hơi cúi người về phía trước:
- Chào các thủ trưởng!
- Mời các đồng chí vào!- Một người đầm đậm ngồi chính giữa hai dãy bàn kê thành hình chữ U lên tiếng.
Cả ba anh em hơi ngỡ ngàng vì đó chính là Đại tướng Tổng Tư lệnh, phó bí thư Quân ủy trung ương. Một sĩ quan trong phòng đứng dạy hướng dẫn ba người ngồi vào vị trí. Đến lúc này ông Dương mới nhận thấy phần lớn những người có mặt trong phòng họp ông đều đã biết, đã gặp trong một số buổi làm việc trước đây. Đó là những sĩ quan cao cấp thuộc Bộ Tổng tham mưu và Tổng cục hậu cần, kỹ thuật. Có vài người ông chưa biết, trong đó có một đồng chí ngồi ngay cạnh Tổng tư lệnh cứ nhìn ông chăm chú và cười rất tươi.
Thấy sự có mặt của Đại tướng Tổng tư lệnh ông Dương hiểu thêm tầm quan trọng của buổi bảo cáo này và nhẩm lại rất nhanh những gì cần nói. Đúng lúc đó tiếng người sĩ quan trực vang lên:
- Báo cáo Tổng tư lệnh! Thành phần dự họp đã đầy đủ!
- Được! Đồng chí ngồi xuống!- Tiếng Tổng tư lệnh trầm và ấm- Hôm nay chúng ta có mặt ở đây để nghe báo cáo của Bộ tư lệnh thiết giáp, trên cơ sở đó Bộ sẽ hạ quyết tâm về sử dụng xe tăng tại chiến trường miền Nam. Đây là một công việc rất hệ trọng, vì vậy trong phần thảo luận đề nghị các đồng chí cứ nói thẳng, nói thật quan điểm của mình, không việc gì phải né tránh cả. Bây giờ mời các đồng chí xe tăng lên báo cáo.
- Rõ!- Ông Dương đứng bật dậy đáp.
- Cứ bình tĩnh!- Tổng tư lệnh nhỏ nhẹ và nở một nụ cười thật hiền hậu.
Đã được phân công từ trước nên trưởng ban tác huấn Phúc đem mấy bản báo cáo đặt trước mặt Tổng tư lệnh và mấy đồng chí ngồi xung quanh, anh có vẻ hơi bối rối vì số báo cáo không đủ cho mỗi người một bản. Rất tinh ý Tổng tư lệnh vẫy tay:
- Không sao! Nào xe tăng, đột phá đi chứ!
Cả phòng họp cùng cười trước câu đùa rất ý nhị của Tổng tư lệnh, không khí trong phòng họp cũng dịu đi phần nào, ông Dương thấy mình đỡ hồi hộp hơn.
Dựa vào sườn bản báo cáo, có lúc dừng lại để nhấn mạnh và lấy ví dụ minh họa, trong gần ba mươi phút tham mưu trưởng Dương đã trình bày đầy đủ những luận cứ cơ bản về vấn đề sử dụng xe tăng thiết giáp ở Việt Nam. Cả phòng họp im phăng phắc lắng nghe, có vẻ như ai đó đều đang suy nghĩ về những chủ kiến riêng của mình. Mặc dù trong phòng rất mát nhưng ông Dương vẫn cảm thấy mồ hôi đang chảy thành dòng dọc sống lưng mình. Cuối cùng ông đặt bản báo cáo xuống và cao giọng:
- Trên cơ sở những luận cứ trên chúng tôi đề nghị với cấp trên một số điểm sau. Một là, chúng ta hoàn toàn có thể sử dụng được và sử dụng một cách có hiệu quả xe tăng thiết giáp ở chiến trường miền Nam. Hai là, để xe tăng thiết giáp chiến đấu một cách hiệu quả cần thiết phải làm tốt công tác bảo đảm các mặt, trong đó đặc biệt chú trọng là bảo đảm kỹ thuật, bảo đảm cơ động và bảo đảm phòng không. Ba là, để kiểm chứng cho những kết luận trên đề nghị cấp trên cho phép chúng tôi đưa một phân đội xe tăng vào tác chiến ở chiến trường. Trên cơ sở đó rút kinh nghiệm và tăng dần quy mô lực lượng. Báo cáo hết!
Phòng họp ắng lại một lát. Tổng tư lệnh quay sang người ngồi bên cạnh:
- Trước hết chúng ta nghe ý kiến của đại diện Quân giải phóng miền Nam.
Đến lúc đó ông Dương mới biết người cứ nhìn ông chăm chú và tươi cười lúc ông mới bước vào phòng họp chính là Tư lệnh quân giải phóng miền Nam. Vị tướng chiến trường lừng danh mà sao trông thật hiền, thật dễ gần. Ngay lúc này đồng chí đứng lên cũng vẫn với một nụ cười thường trực trên môi:
- Thay mặt anh em Quân giải phóng tôi xin nhiệt liệt chờ đón sự có mặt của xe tăng ta trên chiến trường miền Nam.- Ông ngừng lại một chút nhìn về phía ba cán bộ xe tăng và mỉm cười thật tươi- Cho đến thời điểm này, với sự có mặt của quân Mỹ ngày càng đông trên chiến trường cộng với viện trợ quân sự tăng đột biến nên tương quan lực lượng có phần nghiêng về phía địch. Hệ thống phòng thủ của chúng cũng ngày càng được củng cố vững chắc hơn. Để đánh thắng địch chúng ta cần có một lực lượng đột kích mạnh và chúng tôi nghĩ rằng không có gì tốt hơn là xe tăng thiết giáp. Còn về những khó khăn khi sử dụng xe tăng thiết giáp thì cũng như bản báo cáo của binh chủng đã nêu, chúng ta đều có cách khắc phục cả. Vì vậy tôi hoàn toàn nhất trí với đề nghị của đồng chí đại diện xe tăng. Cứ phải làm tới đi mới biết hay dở thế nào chứ! Có phải thế không các đồng chí?- Ông hất đầu một cái rồi đột ngột dừng lại và ngồi xuống.
Tổng tư lệnh nheo mắt cười:
- Hay lắm! Chiến trường rất là mong ngóng. Thế thì chúng ta cũng phải nghiên cứu thực hiện nguyện vọng của anh em thôi- Ông giơ tay khoát một vòng- Nào! Bây giờ mời các đồng chí phát biểu! Tôi đề nghị chúng ta cứ mạnh dạn, nói thẳng, nói thật, nói hết suy nghĩ của mình vì đây là một vấn đề rất hệ trọng.
Phòng họp lặng đi chừng vài phút. Rồi đột ngột một cánh tay giơ lên, ông Dương nhận ra đó là một sĩ quan cao cấp ở văn phòng Bộ tổng tham mưu mà hôm đến tham quan diễn tập đã tranh luận rất sôi nổi với ông. Trong cuộc diễn tập đó vị sĩ quan này đã bày tỏ quan điểm rất cực đoan của mình trước cách tổ chức sử dụng lực lượng xe tăng của binh chủng Thiết giáp. Thấy Tổng tư lệnh gật đầu anh ta đứng dạy và vào đề ngay khá gay gắt:
- Theo tôi chúng ta cần phân biệt nguyện vọng chủ quan và thực tế khách quan. Về chủ quan ai chẳng mong muốn đưa xe tăng vào chiến đấu, đưa được sớm ngày nào thì bớt đổ xương đổ máu ngày ấy. Nhưng đấy là ý muốn chủ quan. Còn thực tế khách quan thì sao: với địa hình Việt Nam này, với khả năng bảo đảm của ta hiện nay... liệu đưa xe tăng vào có sử dụng được không hay chỉ làm mồi cho vũ khí chống tăng và máy bay, phi pháo của Mỹ. Ngay như cuộc diễn tập gần đây nhất của binh chủng thiết giáp với sư đoàn Quân tiên phong, khi đưa tình huống cầu bị đánh sập cả đoàn xe tăng ùn lại, vòng tránh không có đường, vượt sông không có phương tiện, xe tăng bơi thì không có bến lên... như thế làm sao mà đánh nhau được. Vì vậy tôi đề nghị cấp trên cần tiếp tục nghiên cứu, nếu có thì cũng chỉ nên sử dụng hạn chế trên một số địa bàn chọn lọc mà thôi.
Không khí trong phòng họp bỗng lặng hẳn đi. Một cánh tay nữa giơ lên. Tham mưu trưởng Dương nhận ra đó là một đại diện của Tổng cục kỹ thuật. Sau cái khoát tay của Tổng tư lệnh vị sĩ quan này đứng lên với vẻ rất trịnh trọng:
- Kính thưa đồng chí Tổng tư lệnh! Kính thưa toàn thể các đồng chí! Về cơ bản tôi đồng ý với báo cáo của binh chủng Thiết giáp. Tuy nhiên tôi có một băn khoăn thế này, theo như chúng tôi được biết do trọng lượng lớn nên giờ bảo hiểm động cơ cũng như thân xe của tăng thiết giáp rất hạn chế. Ở các nước khác khi sử dụng xe tăng người ta thường có các phương tiện chuyên dùng hoặc xe lửa, tàu thủy... chở xe tăng gần đến khu vực tác chiến mới cho xe tăng chạy bộ bằng xích. Còn ở ta hiện nay các phương tiện này hầu như không có. Nếu ta cho xe tăng hành quân bằng xích từ đây vào đến chiến trường thì liệu còn sử dụng được nữa hay không. Vì vậy đề nghị binh chủng thiết giáp nghiên cứu kỹ vấn đề này. Báo cáo hết!
Một người nữa giơ tay. Ông Dương nhận ra đó là vị sĩ quan thuộc Cục khoa học quân sự cũng đã từng có mặt trong hầu hết các cuộc diễn tập có xe tăng tham gia. Được sự đồng ý của Tổng tư lệnh ông đứng lên từ tốn:
- Thưa toàn thể các đồng chí! Chúng tôi đã có nhiều nghiên cứu về sử dụng xe tăng trên thế giới, của quân đội viễn chinh Pháp tại chiến trường Việt Nam trước đây và của quân đội Mỹ tại miền Nam hiện nay, chúng tôi cũng đã theo dõi đầy đủ các cuộc diễn tập của binh chủng thiết giáp trong những năm vừa qua và cũng đã theo dõi rất kỹ báo cáo của binh chủng thiết giáp hôm nay. Qua đó chúng tôi thấy rằng cách sử dụng xe tăng do binh chủng thiết giáp đề xuất là rất mới chưa từng có trong bất kỳ tài liệu nào cũng như trong thực tế sử dụng xe tăng ở bất kỳ nước nào. Đề nghị đại diện xe tăng nói rõ thêm về những cơ sở của cách đánh này, các đồng chí dựa vào đâu để đề xuất như vậy. Ngoài ra cũng còn một vấn đề cần lưu ý: truyền thống đánh giặc của dân tộc ta, của quân đội ta từ xưa đến nay là “lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều”. Để đạt được điều đó trong nghệ thuật quân sự của chúng ta luôn coi trọng yếu tố bí mật, bất ngờ, đánh địch trên nhiều hướng. Mà xe tăng thiết giáp thì như các đồng chí đều biết: mục tiêu thì to, tiếng ồn thì lớnvv... liệu có phù hợp với cách đánh truyền thống không? Hết!
Từ phía cuối dãy bàn một người nữa nhấp nhổm. Tổng tư lệnh mỉm cười hỏi:
- “Ông nhìn đâu cũng thấy địch” có ý kiến gì?
Thì ra đó là một sĩ quan của Cục 2. Vị này đứng dạy nói ngay:
- Trong cách đánh mà binh chủng thiết giáp nêu ra có một vấn đề tôi thấy cần phải nghiên cứu kỹ thêm. Theo chúng tôi nắm được hiện nay các phương tiện trinh sát điện tử cả trên không và dưới đất của Mỹ đã và đang sử dụng ở miền Nam là rất hiện đại và khá phổ biến. Vậy việc các đồng chí có ý định đưa xe tăng bí mật đến gần mục tiêu liệu có thực hiện được không? Ngoài ra còn một vấn đề nữa các đồng chí cũng cần phải nghiên cứu: đó là đánh giá tương quan lực lượng tăng thiết giáp giữa ta và địch. Theo chúng tôi được biết, sau khi đưa quân vào miền Nam, Mỹ đã đưa theo rất nhiều trang bị kỹ thuật hiện đại. Cụ thể về xe tăng Mỹ đã đưa vào miền Nam một số lượng khá lớn xe tăng M48. Theo tài liệu nước ngoài đây là loại xe tăng hiện đại vào loại nhất hiện nay. Xin hỏi các đồng chí đã nắm được tính năng kỹ chiến thuật của chúng chưa và so sánh tương quan lực lượng của ta với địch về tăng thiết giáp như thế nào? Bên cạnh đó các loại vũ khí chống tăng của Mỹ cũng rất hiện đại và tinh xảo, ngoài M72 tương đương với B41 của ta chúng còn đưa vào trang bị rất nhiều pháo chống tăng, đặc biệt là tên lửa chống tăng TOW. Đây cũng là loại tên lửa chống tăng hiện đại vào loại nhất thế giới hiện nay. Để đổi phó với chúng các đồng chí có phương sách nào?.
Ông Dương cảm thấy hơi buồn vì toàn thấy những ý kiến phản đối, chẳng có ai có ý kiến ủng hộ xe tăng mình cả. Trong những buổi làm việc trước đây số người ủng hộ việc sử dụng xe tăng ở miền Nam không phải là ít, tại sao hôm nay chẳng thấy ai lên tiếng. Ông tự nhủ: “Hay là họ đợi giải thích của binh chủng trước rồi mới có ý kiến sau”. Rất may tất cả những vấn đề này đã được tính đến từ ở nhà và đã thống nhất phương án trả lời nên ông cũng không thấy quá lo lắng.
Nhìn lướt về phía đoàn cán bộ xe tăng Tổng tư lệnh cười:
- Xe tăng bị pháo kích dữ dội quá nhỉ? Có run không?
Cả phòng họp cùng cười. Tham mưu trưởng Dương cũng mỉm cười:
- Thưa đại tướng, cũng hơi run ạ!
Nói như vậy nhưng thực ra ông Dương cảm thấy rất bình tĩnh. Ông tự nhủ: nếu chỉ có những ý kiến như thế này thì mình sẽ qua được.
Tổng tư lệnh khoát tay:
- Thôi! Hãy tạm dừng đặt câu hỏi để xe tăng giải đáp đã. Nào! Mời các đồng chí! Cứ bình tĩnh trả lời từng vấn đề một.
Như được tiếp thêm sức mạnh bởi vẻ ân cần và thiện cảm của Tổng tư lệnh, ông Dương đứng lên và bắt đầu một cách rất nhỏ nhẹ:
- Thưa toàn thể các đồng chí! Tất cả những vấn đề các đồng chí nêu đều đúng và cũng đã được chúng tôi tính toán đến. Trước hết xin trả lời câu hỏi của đồng chí đại diện Tổng cục kỹ thuật. Vấn đề tiết kiệm tuổi thọ động cơ xe tăng là vấn đề được chúng tôi hết sức quan tâm và đã có tính toán cụ thể và bước đầu đã có những thực nghiệm cần thiết. Cụ thể như sau: Trong trường hợp xấu nhất chúng ta phải tổ chức hành quân bằng xích từ ngoài này vào chiến trường thì cự ly hành quân dài nhất cũng chỉ khoảng hai nghìn cây số, với tốc độ bình quân 10 cây số trên giờ thì cũng chỉ mất khoảng 200 giờ. Như vậy số giờ bảo hiểm còn lại vẫn khá cao và có thể chấp nhận được. Còn nếu chúng ta tận dụng được đường xe lửa tới Vinh, đường thủy tới Đồng Hới thì cự ly hành quân bộ sẽ rút ngắn được 500 đến 700 cây số và sẽ tiết kiệm thêm khoảng 50 đến 70 giờ máy nổ nữa. Đó là tính toán, còn thực tế chúng tôi đã kiểm nghiệm qua cuộc hành quân của Tiểu đoàn M77 từ Vĩnh Yên vào Nam quân khu 4 năm ngoái. Cụ thể như sau: Tổng chiều dài đường hành quân 896 cây số, có 150 cây số bằng đường sắt, còn lại 746 cây số hành quân bằng xích theo đường 15, đường 22 rất khó đi song đơn vị đã đưa được 100% trang bị đến đích an toàn. Tốc độ hành quân đạt trung bình 10 cây số trên giờ. Số khí tài hư hỏng không lớn, chủ yếu là xích và bánh đỡ nặng. Trên cơ sở đó chúng tôi kết luận: hoàn toàn có thể đưa được xe tăng vào chiến trường miền Nam, kể cả những chiến trường xa nhất mà khi vào đến nơi vẫn còn dủ khả năng chiến đấu.
Mấy cái đầu gật gù. Tổng tư lệnh quay sang vị đại diện Tổng cục kỹ thuật:
- Thế nào? Có thể chấp nhận được không?
Vị sĩ quan của Tổng cục kỹ thuật vội đứng lên:
- Thưa thủ trưởng! Nếu duy trì được tốc độ bình quân như vậy thì có thể chấp nhận được.
Quay về phía ông Dương, Tổng tư lệnh lại mỉm cười:
- Nào! Xe tăng tiếp tục nổ đi!
Đã bình tĩnh hơn nên tham mưu trưởng Dương tỏ ra rất tự tin:
- Về những khó khăn của địa hình miền Nam đối với việc sử dụng xe tăng chúng tôi cũng đã có nghiên cứu rất kỹ lưỡng. Thông qua việc nghiên cứu trên bản đồ, thông qua kết quả khảo sát thực tế và tổng hợp báo cáo của các đoàn cán bộ xe tăng được cử đi các chiến trường từ năm 1964 đến nay chúng tôi thấy rằng: mặc dù chúng ta không có những bình nguyên, sa mạc rộng lớn, bằng phẳng như ở châu Âu nhưng cũng có những vùng có thể tác chiến xe tăng với quy mô lớn khá thuận lợi như vùng Tây Quảng Trị, Nam Tây Nguyên và Miền Đông Nam Bộ. Ở đây địa hình chủ yếu là đồi thấp, nền đất cứng chắc nên có thể sử dụng tất cả các loại tăng thiết giáp kể cả xe hạng nặng. Còn ở địa hình đồng bằng ven biển chúng ta có thể sử dụng các loại xe tăng hạng nhẹ, xe tăng bơi mà trong trang bị hiện tại chúng ta đã có. Những cuộc diễn tập ở đồng bằng mấy năm vừa rồi cũng chứng tỏ điều đó. Còn tình huống như đồng chí cục phó cục Tác chiến nêu ra là do chúng tôi muốn rèn anh em cho sát thực tế hơn. Mặt khác, trong thực tế ở miền Nam chiến thuật “thiết xa vận” của Mỹ với các loại xe M113, M41 cũng chứng tỏ có thể sử dụng được xe tăng ở đồng nước. Từ những cơ sở trên chúng tôi cho rằng: nếu sử dụng đúng chủng loại, đúng tính năng ta hoàn toàn có thể khắc phục được những khó khăn về địa hình để sử dụng có hiệu quả xe tăng thiết giáp ở miền Nam.
Tư lệnh quân giải phóng miền Nam nãy giờ vẫn ngồi im lặng chợt chen vào:
- Sử dụng được quá đi chớ! Bọn thiết giáp Mỹ nó vẫn băng qua đồng nước rượt chúng tôi chạy thấy mồ mấy phen rồi đấy!
Tổng tư lệnh gật đầu tỏ vẻ hài lòng nhìn về phía nhóm cán bộ xe tăng đầy khích lệ:
- Được đấy! Tiếp tục đi!
Như được tiếp thêm sức mạnh tham mưu trưởng Dương thêm hùng hồn:
- Còn về cách đánh như chúng tôi đã đề xuất thì cũng xin báo cáo với các đồng chí đây là kết quả của cả một quá trình nghiên cứu của tập thể binh chủng thiết giáp chúng tôi. Quả thật nó chưa hề có trong các tài liệu giáo khoa chiến thuật xe tăng nước ngoài, nó cũng chưa hề có tiền lệ trong các cuộc chiến tranh trước đây. Cơ sở để xây dựng nên cách đánh này là do những đặc điểm riêng có của Việt Nam về địa hình, về địch, về ta và cũng xuất phát từ cách đánh truyền thống của dân tộc, của quân đội ta.
Dừng lại một chút theo dõi phản ứng của cử tọa, thấy tất cả mọi người đều lắng nghe rất chăm chú ông Dương tiếp:
- Trước hết xin nói về địa hình. Ở nước ngoài do địa hình cho phép nên người ta thường sử dụng xe tăng với quy mô lớn và thường áp dụng chiến thuật tiến công từ hành tiến. Nghĩa là xe tăng được tập kết ở một khoảng cách khá xa, có thể là 20 đến 30 cây số hoặc hơn rồi dùng tốc độ cao để xung phong đột phá tuyến phòng ngự của địch. Còn ở ta nhìn chung địa hình bị chia cắt nhiều, nếu để xe tăng ở xa như vậy quá trình cơ động vào sẽ hết sức khó khăn, thậm chí không thể đến được mục tiêu do đường sá không bảo đảm hoặc bị địch ngăn chặn. Vì vậy, có thể đến một lúc nào đó điều kiện cho phép chúng ta có thể áp dụng hình thức này, còn trước mắt phải có một hình thức chiến thuật khác. Vấn đề thứ hai là về địch: có một đặc điểm đáng lưu ý là hệ thống phòng thủ của Mỹ- ngụy tại miền Nam hiện nay là một hệ thống các cứ điểm, cụm cứ điểm phòng ngự với các loại công sự kiên cố và vật cản đa dạng như rào thép gai, mìn các loại vv... Như vậy có thể nói chúng phòng ngự theo điểm và chúng ta phải tiến công điểm chứ không phải tiến công theo diện. Vấn đề thứ ba là về phía ta cũng còn nhiều khó khăn như: lực lượng còn mỏng, công tác bảo đảm chưa đồng bộ vv... Xuất phát từ những cơ sở trên chúng tôi đề xuất một cách đánh mới như đã báo cáo ở trên. Có thể tóm tắt cách đánh đó là: “bí mật đến gần, bất ngờ xung phong, phát huy tối đa hỏa lực, xung lực chi viện bộ binh nhanh chóng làm chủ trận địa”. Nghĩa là bằng mọi cách bí mật đưa xe tăng đến cách mục tiêu 6 đến 7 cây số hoặc gần hơn nữa. Đợi đến khi bắt đầu hỏa lực chuẩn bị thì tăng tốc độ đến cách mục tiêu trên dưới 1000 mét sẽ triển khai đội hình và phát huy hỏa lực, vừa chạy vừa bắn xung phong vượt qua cửa mở. Nếu địa hình cho phép thì dẫn dắt bộ binh, nếu địa hình khó khăn thì ở phía sau dùng hỏa lực chi viện bộ binh làm chủ trận địa. Có thể nói đây là cách đánh riêng của xe tăng Việt Nam và cũng rất phù hợp với cách đánh truyền thống của quân đội ta. Một khác biệt nữa là ở nước ngoài xe tăng thường được sử dụng độc lập, còn quan điểm của chúng tôi về sử dụng xe tăng ở Việt Nam là xe tăng phải nằm trong đội hình chiến đấu của binh chủng hợp thành, phải gắn chặt với bộ binh và hỗ trợ lẫn nhau trong chiến đấu. Xe tăng dẫn dắt, chi viện bộ binh; còn bộ binh thì yểm hộ, bảo vệ xe tăng. Như thế sẽ nâng cao được khả năng sống còn của cả hai và đạt hiệu suất chiến đấu cao hơn. Còn về quy mô sử dụng chúng tôi đã đề nghị chỉ nên sử dụng phân đội nhỏ từ trung đội đến tiểu đoàn, khi có thời cơ mới sử dụng ở quy mô lớn hơn.
Vị sĩ quan đại diện Cục 2 nhấp nhổm:
- Công nhận là cách đánh này hay nhưng có bí mật đến gần được không mới quan trọng chứ?
Liếc về phía Tổng tư lệnh không thấy có biểu hiện gì ông Dương tiếp tục:
- Vấn đề này chúng tôi cũng đã tính toán đến. Thực nghiệm trong diễn tập cho thấy với các phương tiện quan sát, trinh sát thông thường xe tăng có thể đến cách tiền duyên địch 1500 mét, thậm chí gần hơn mà địch vẫn không phát hiện ra. Còn đối với các loại phương tiện trinh sát điện tử tất nhiên sẽ khó khăn hơn song không phải thế là chúng ta chịu bó tay. Thực tế đã chứng tỏ lực lượng công binh trên đường Trường Sơn đã vô hiệu hóa rất nhiều phương tiện trinh sát hiện đại cả trên không và dưới mặt đất bằng những biện pháp hết sức đơn giản như nghi binh, đánh lừa vv... Vì vậy chúng tôi cho rằng chúng ta cũng có thể vận dụng các biện pháp đó để bịt mắt địch trong thời điểm đưa xe tăng đến gần. Về phía chúng tôi cũng sẽ có những biện pháp như: huấn luyện đội ngũ lái xe điêu luyện hơn, sử dụng chân dầu thuần thục hơn để giảm đến mức tối thiểu tiếng ồn và nhiệt phát ra từ động cơ. Ngoài ra các biện pháp về ngụy trang cũng sẽ được huấn luyện kỹ hơn. Chúng tôi tin rằng với các giải pháp đó nhất định chúng ta sẽ thực hiện được thủ đoạn “bí mật đến gần” trong cách đánh của xe tăng.
Dừng lại một chút theo dõi động tĩnh ông Dương nhận thấy rất nhiều cái gật đầu như đang ngầm khích lệ mình nên càng phấn khích:
- Còn về lực lượng tăng thiết giáp của địch thì chúng tôi cũng đã có một số tài liệu do chuyên gia Liên Xô cung cấp. Qua nghiên cứu chúng tôi thấy rằng M48 quả thật là một loại xe tăng hiện đại, có nhiều điểm ưu việt hơn so với xe tăng ta, nhất là về hệ thống điều khiển. Tuy nhiên chúng cũng có những nhược điểm chết người như: trọng lượng quá nặng nề, xe M48 nặng gần 50 tấn nên phạm vi sử dụng sẽ rất hạn chế. Trong khi đó pháo lại chỉ có 90 ly thua hẳn T54 của ta về uy lực cũng như tầm bắn. Ngoài ra xung quanh vấn đề này thì chúng ta cũng đều đã biết: vũ khí dù có hiện đại đến đâu cũng chỉ giữ vai trò quan trọng, còn quyết định là ở con người sử dụng vũ khí đó. Thực tế cho thấy các đồng chí quân giải phóng miền Nam của chúng ta chỉ với vũ khí thô sơ mà đã làm nên nhiều chiến thắng vang dội. Ngay ở miền Bắc đây thôi, có những trung đội dân quân đã bắn rơi phản lực Mỹ bằng súng trường. Vì vậy chúng tôi tin rằng với những trang bị hiện có trong tay chúng tôi hoàn toàn có thể đương đầu và giành thắng lợi trước tăng thiết giáp của Mỹ. Báo cáo hết!
Phòng họp ắng đi một lát. Tổng tư lệnh nhìn quanh rồi hỏi:
- Còn ai có ý kiến gì nữa không nào?- Chờ một lát không thấy cánh tay nào giơ lên ông tiếp- Tôi cho rằng báo cáo của binh chủng Thiết giáp và những giải thích của đồng chí tham mưu trưởng binh chủng như thế là đã rất rõ ràng. Tôi xin biểu dương các đồng chí binh chủng Thiết giáp đã có sự chuẩn bị khẩn trương, nghiêm túc và rất kỹ càng cho buổi làm việc hôm nay. Các đồng chí cho một tràng vỗ tay đi chứ!
Phòng họp ran lên tiếng vỗ tay. Quay sang hai người bên cạnh trao đổi nhỏ vài câu ông tiếp:
- Ta dừng cuộc họp hôm nay ở đây. Văn phòng Bộ sẽ có văn bản chính thức gửi binh chủng Thiết giáp sau nhưng tôi sơ bộ kết luận thế này: Bộ đồng ý cho binh chủng Thiết giáp tổ chức đưa một phân đội, có thể từ một đại đội đến một tiểu đoàn vào chiến trường miền Nam chiến đấu để rút kinh nghiệm. Việc xác định địa bàn, mục tiêu tác chiến và các vấn đề khác các đồng chí Cục tác chiến sẽ cử người xuống làm việc trực tiếp với binh chủng. Ngay sau đây các đồng chí về tiến hành công tác chuẩn bị.
Nói xong ông chủ động đứng dạy tiến lại phía đoàn cán bộ xe tăng và đưa tay bắt tay từng người một. Cảm động quá tham mưu trưởng Dương cứ líu cả lưỡi mãi mới nói được câu:
- Cảm ơn thủ trưởng!
Vị Tư lệnh quân giải phóng cũng bước đến bắt tay ông Dương và hai đồng chí cùng đi, ông cười rất tươi:
- Nhanh lên nhé! Chúng tôi đang chờ các đồng chí!
- Vâng! Bất cứ lúc nào cấp trên có lệnh bộ đội xe tăng sẽ ngay lập tức lên đường.
Vừa ra khỏi phòng họp tham mưu trưởng Dương đã rảo bước ra khỏi cổng hướng về phía chiếc xe con đi như chạy. Trời đã gần trưa, mặt trời đã lên cao nhưng khu vực sở chỉ huy vẫn mát rượi dưới tán lá những cây cổ thụ. Vừa thấy thủ trưởng lên xe cậu lái xe hỏi ngay:
- Có về qua nhà một tý không thủ trưởng?
Không trả lời, tham mưu trưởng Dương quay sang Phúc và Nhật:
- Sáng nay đi có cắt cơm không đấy?
- Dạ, không ạ!
- Thế thì về cơ quan ngay! Càng nhanh càng tốt!- Ông mường tượng đến sự mong ngóng của các thủ trưởng Bộ Tư lệnh và thực lòng chỉ muốn bay ngay về báo tin vui cho các anh ấy.
Chiếc xe nổ máy nhằm hướng phà Chèm lao vụt đi. Tham mưu trưởng Dương ngả người trên ghế mắt lim dim như ngủ. Chủ nhiệm kỹ thuật Nhật và trưởng ban tác huấn Phúc ngồi ghế sau thì thầm nói chuyện như sợ làm ảnh hưởng đến giấc ngủ của tham mưu trưởng. Thực ra ông Dương không ngủ. Trong đầu ông là bộn bề những toan tính, ông đang thầm gọi ra hàng núi công việc sẽ phải làm để đưa một đơn vị xe tăng đi chiến đấu.
Lúc tham mưu trưởng Dương bắt đầu báo cáo cũng là lúc quyền tư lệnh Đào đang trên đường xuống khu vực sơ tán của Trung đoàn H03. Đây là trung đoàn xe tăng thứ hai của Quân đội nhân dân Việt Nam và cũng mới được thành lập năm 1965 nhằm chuẩn bị lực lượng để đối phó với chiến lược chiến tranh cục bộ của đế quốc Mỹ. Tuy vậy, từ khi thành lập đến nay trung đoàn vẫn án binh bất động ở đây. Bộ đội chủ yếu được sử dụng tham gia các phân đội cao xạ tự hành để bảo vệ sân bay Đa Phúc, sân bay Bạch Mai và một số mục tiêu quan trọng khác. Số còn lại tập trung làm công tác bảo quản, bảo dưỡng xe. Ở nơi sơ tán, lán trại không đảm bảo, phải để xe dưới hầm âm nên công tác bảo quản khá vất vả mà vẫn tiềm ẩn những nguy cơ lớn làm trang bị xuống cấp nhanh chóng. Đã nghe cán bộ cơ quan kỹ thuật báo cáo lên nhưng chưa có lúc nào đến “mục sở thị” nên hôm nay ông Đào muốn xuống kiểm tra trực tiếp xem thế nào.
Từ khu vực sơ tán của cơ quan Bộ tư lệnh đi khoảng hai ki- lô- mét đường đất thì chiếc xe con ra đến con đường nhựa lên Tam Đảo. Thoát khỏi những rặng tre làng tầm mắt rộng hẳn ra. Từ đây đã nhìn thấy ngọn núi Đinh sừng sững phía trước, trên sườn núi là dòng chữ “Quyết tâm đánh thắng đế quốc Mỹ” đầy ngạo nghễ và thách thức. Ông Đào nhìn như dán mắt vào dòng chữ mà lòng dạ nao nao. Đây chính là công trình lao động xã hội chủ nghĩa của đoàn viên thanh niên trung đoàn H02 năm xưa. Chả là sau khi Mỹ ném bom miền Bắc, tinh thần chống Mỹ trong bộ đội, nhân dân lên cao chưa từng thấy. Để khích lệ tinh thần đó ông Thu hồi ấy còn là chính ủy trung đoàn đã có sáng kiến làm một khẩu hiệu lớn trên sườn núi Đinh. Và thế là chỉ sau một chủ nhật lao động xã hội chủ nghĩa câu khẩu hiệu mà mỗi chữ cái cao tới 10 mét, rộng 3 mét đã hình thành. Đi từ phía Tam Đảo xuống cách xa 5, 6 ki- lô- mét đã nhìn thấy. Anh em ai cũng thích và bảo nhau: “thằng phi công nào bay qua đây chắc phải sởn tóc gáy khi đọc dòng chữ này”. Từ bấy đến nay đã mấy năm, mưa gió bào mòn khắc nghiệt như vậy nhưng câu khẩu hiệu vẫn còn sắc nét như ngày nào, cũng như quyết tâm chiến đấu của những người lính xe tăng không hề phai nhạt.
Ngồi trên xe nhưng tâm trí ông Đào vẫn vẩn vơ nghĩ về buổi báo cáo của tham mưu trưởng Dương trước thủ trưởng Bộ đang diễn ra cách đó vài chục cây số. Dẫu biết rằng công tác chuẩn bị đã rất kỹ càng, đã tính đến mọi tình huống và khả năng được chấp nhận rất cao nhưng ông vẫn thấy lo lo. Nhớ lại những lần làm việc trước với thủ trưởng Bộ ông cảm thấy hơi buồn buồn vì hình như những người lính xe tăng chưa chiếm được lòng tin của cấp trên. Cũng phải thôi. Ra đời đã gần chục năm mà chưa được đi chiến đấu, chưa lập được chiến công nào. Bất chợt ông nhớ tới bài báo tường của anh em chiến sĩ đại đội 9 hồi Tết năm ngoái: “Tiếng súng Đông Xuân đã nổ rồi, Ông Đào cùng lính vẫn ngồi chơi, Ngày ngày vác búa đi gõ mối, Tủi lính xe tăng thủ trưởng ơi!”. Bài thơ ngắn này không hiểu bằng cách nào lan truyền rất nhanh trong binh chủng và trở thành đề tài bàn luận của mọi người. Khi bài thơ đến tai ông lúc đầu ông cũng hơi bực mình vì nghe nó như một lời than thở, lại lôi cả tên ông vào đó. Nhưng nghĩ đi nghĩ lại ông thấy anh em có cái lý của nó và chính ông cũng đồng cảm với họ. Đến lượt ông trong một lần báo cáo tình hình với thủ trưởng Bộ Tổng tham mưu, nhân lúc mọi người vui vẻ đã đọc nguyên văn bài thơ trên. Đồng chí Tổng tham mưu phó lúc đó đã rất cảm động ôm chặt vai ông và thốt lên: “Có những người lính thiết tha ra chiến trường như vậy chắc chắn chúng ta sẽ chiến thắng. Vấn đề là chúng ta còn phải đợi thời cơ thích hợp mà thôi”. Có thể thời cơ ấy đã đến và hôm nay Bộ lại muốn nghe Binh chủng báo cáo tình hình một lần nữa. Ông quyết định sẽ đến đại đội Chín, nơi ra đời của bài thơ nói trên.
Gần đến doanh trại cũ của trung đoàn H02 ông bảo lái xe rẽ vào rồi từ đó sẽ đi tắt sang nơi sơ tán của đại đội Chín. Từ ngày sơ tán chống chiến tranh phá hoại khu doanh trại chính quy của trung đoàn chỉ để lại một tiểu đội để trông nom, bảo quản. Xe vừa đến trước cổng chính người chiến sĩ vệ binh đã nhận ra xe của tư lệnh nên nhanh chóng ròi chòi gác mở rộng hai cánh cửa và bồng súng đứng nghiêm. Ông Đào tỏ vẻ hài lòng trước ý thức kỷ luật của người chiến sĩ.
Xe vào đến khu trung tâm doanh trại ông bảo dừng xe rồi mở cửa bước xuống trầm tư ngắm nhìn bốn phía. So với ngày mới bắt đầu xây dựng khu vực doanh trại nay đã xanh tốt hơn nhiều. Hồi đó, nơi đây chỉ là một dãy đồi trọc lưa thưa vài bụi sim mua và cây dại. Những ngày hè nắng như đổ lửa xuống sườn đồi, ngồi trong nhà nhìn ra thấy không khí cũng rung rinh như đang nhảy múa. Chính ông đã bàn với ban chỉ huy trung đoàn: “muốn sống được ở đất này không có con đường nào khác ngoài phát động trồng cây”. Thế là, ngoài vườn cây chung do từng đơn vị phụ trách trung đoàn quy định mỗi cán bộ, chiến sĩ có trách nhiệm trồng và chăm sóc một cây, nếu bị chết phải trồng lại kỳ cho đến sống mới thôi. Giống cây được chọn chủ yếu là xà cừ. Ngoảnh đi ngoảnh lại mới có mấy năm mà cây đã tốt um, nhiều cây đã bằng bắp đùi, cây nào cây ấy lá cứ xanh mơn mởn. Giá như không có chiến tranh phá hoại thì đây có thể là một trong những doanh trại chính quy nhất và đẹp nhất trong toàn quân chứ chẳng chơi. Hàng dãy nhà ở bộ đội hai tầng được thiết kế thống nhất, giống nhau tăm tắp. Tất cả cửa đều trong kính, ngoài chớp, mùa hè thì mát, mùa đông thì ấm. Khu nhà làm việc của các cơ quan được đặt ở đỉnh đồi trông thật bề thế, uy nghiêm. Khu nhà giảng đường huấn luyện rộng rãi, thoáng mát, có đủ mô hình các cụm máy và đồ dùng học tập. Còn khu xe thì khỏi nói. Từng dãy nhà xe cao ráo, nền đổ bê tông, phía trước có cửa sắt chắc chắn. Từng khoang có biển số xe đóng ngay ngắn, nghiêm cẩn. Bãi thử xe và toàn bộ đường cơ động cũng được đổ bê tông dày tới 40 phân, xe tăng chạy thoải mái không hề hấn gì. Tất cả đã được xây dựng để hồ hởi chờ đón những người lính xe tăng đầu tiên của đất nước. Có thể nói sự quan tâm và kỳ vọng của Đảng, của nhà nước đối với ông và đồng đội lớn biết bao. Thế mà gần chục năm qua ông và đồng đội chẳng làm được bao nhiêu để đền đáp lại.
Đang vẩn vơ suy nghĩ thì đồng chí tiểu đội trưởng vệ binh chạy đến. Không biết từ đâu chạy về nhưng khi đã đứng trước mặt ông người tiểu đội trưởng vệ binh vẫn còn hổn hển:
- Báo... cáo... thủ trưởng! Tôi, tiểu đội trưởng canh gác doanh trại có mặt!
- Được! Đồng chí nghỉ!- Ông cười hiền từ và đùa- Cứ thở đi đã nào.
Sau khi hỏi han vài câu về tình hình bảo quản doanh trại ông lên xe và bảo lái xe đi tiếp.
Xe đã rời doanh trại đi vào con đường đất chân núi. Lái xe Năm thấy thủ trưởng vẫn đang tư lự nên chỉ dám nói khẽ:
- Thủ trưởng ngồi chắc chắn nhé! Đường xóc lắm đấy!
Không nói gì ông chỉ khoát tay ra hiệu cho Năm tiếp tục đi. Đã hiểu tính thủ trưởng Năm không nói thêm câu nào mà tập trung tinh lực vào tay lái. Chiếc xe lượn ngoằn ngoèo tránh các ổ voi, ổ gà trên đường một cách điêu luyện. Chợt ông ngồi thẳng dậy và nói:
- Đi thẳng vào khu để xe của đại đội Chín nhé!
- Vâng ạ!- Năm đáp ngắn gọn, đã xuống đây vài lần nên anh vẫn nhớ đường.
Mặc dù ở nơi sơ tán nhưng khu để xe của đại đội vẫn khá tươm tất. Một dãy lán dựa lưng vào sườn núi được đào sâu xuống mấy chục phân, hai bên băng xích được xếp đá cuội, trên lợp mái tranh, xung quanh là các tấm phên nứa để che mưa nắng. Tất nhiên không thể bằng được ở doanh trại chính quy nhưng đây cũng là cố gắng rất lớn của những người lính xe tăng đang chăm chút cho vũ khí của mình.
Thấy chiếc xe con dừng trước lán xe trung đội phó Ngô Văn Nhã vội hô lớn:
- Tất cả chú ý!
Ngay lập tức mọi người dừng tay, đứng nghiêm tại chỗ. Nhã chạy tới cạnh xe, đúng lúc ông Đào bước xuống. Nhã dập gót chân đứng nghiêm báo cáo:
- Tôi, thượng sĩ Ngô Văn Nhã báo cáo đồng chí Tư lệnh, anh em trong đại đội đang bảo dưỡng xe định kỳ! Báo cáo hết!
- Được! Đồng chí cho anh em tiếp tục công việc!- Ông Đào điềm đạm trả lời.
- Rõ!- Nhã cao giọng rồi quay bên phải chờ quyền tư lệnh đi trước.
Nhìn hai đầu gối anh chàng trung đội phó hơi run run ông Đào thấy thương thương. Ông biết trong binh chủng vẫn loan truyền những giai thoại không mấy hay ho về ông. Nào là “hét ra lửa”, nào là “ăn cứt sắt, ị ra xà beng”, nào là “cay nghiệt như dì ghẻ” vv... nên anh em cán bộ chiến sĩ mỗi khi gặp ông đều thấy kiềng kiềng, sợ sợ. Kể cả những anh được coi là cứng bóng vía nhất cũng vậy. Nói cho công bằng bảo ông hét ra lửa thì hơi quá nhưng nghiêm khắc thì đúng, mà nghiêm khắc đến mức cực đoan. Ông không chỉ nghiêm khắc với mọi người mà còn nghiêm khắc với chính bản thân mình. Đã trải qua mấy chục năm quân ngũ cho đến giờ ở cương vị Tư lệnh một binh chủng ông hiểu sức nặng của trách nhiệm đè lên vai người chỉ huy. Ông vẫn tâm niệm: “Mỗi người đều có thể sai lầm nhưng hậu quả của những sai lầm thường khác nhau. Một người thày thuốc sai lầm có thể làm mất đi sinh mạng một người. Nhưng người chỉ huy quân sự nếu sai lầm có thể làm mất đi sinh mạng của hàng trăm, hàng ngàn con người, thậm chí cả một đạo quân”. Vì vậy trong cuộc sống cũng như trong công việc ông luôn đòi hỏi cao ở mình và ở tất cả mọi người xung quanh. Ông mong muốn rằng tập thể của mình phải là những con người ưu tú, đủ khả năng hoàn thành tốt chức trách nhiệm vụ của mình để hạn chế thấp nhất những sai lầm có thể xảy ra. Còn chuyện “ăn cứt sắt” cũng đâu phải do ông. Cái giai thoại này đã được đặt thành vè và ông cũng đã biết: “Bao giờ mọt đục xe tăng, Thì ông Đào mới cho thăng quân hàm”. Anh em đâu có hiểu họ không lên được quân hàm là do thời thế, là do lực lượng không phát triển chứ đâu phải vì ông muốn thế. Nghĩ vậy ông dịu dàng lại gần Nhã, tay phải đưa ra vỗ vai và mỉm cười hỏi rất ôn tồn:
- Thế nào? Vẫn đang gõ mối đấy hả?
Thấy vậy Nhã đã bớt run, anh đáp lại một cách tự tin hơn:
- Báo cáo tư lệnh! Dạo này chúng tôi không phải gõ mối nữa rồi mà tập trung bảo dưỡng kỹ thuật thôi.
- Thế đất ở đây hết mối rồi à?- Ông Đào hơi sửng sốt.
- Dạ không ạ! Thủ trưởng cứ vào lán xe rồi sẽ thấy.
Vừa bước qua tấm phên che nắng vào lán xe ông Đào đã thấy nhao nhao tiếng chào hỏi:
- Chào thủ trưởng ạ!
Vẫy tay về phía anh em ông lớn tiếng:
- Chào các đồng chí! Cứ tiếp tục công việc đi.
Nhìn những gương mặt nhem nhuốc đang hì hụi trong buồng truyền động ông thấy trong lòng dội lên những cảm xúc khác lạ. Hãy hiểu cho tôi. Các em không thể biết tôi thương các em đến mức nào đâu. Nhưng có lẽ tôi là người nệ cổ nên cứ phải “cho roi, cho vọt” đã. Có như thế các em mới nên người, có như thế khi vào chiến trường các em mới bớt đổ xương đổ máu.
Một đàn gà bỗng chạy túa từ dưới gầm xe ra, một con gà trống tía to lớn đang lùa đàn gà mái chạy tứ tung. Ông Đào ngạc nhiên:
- Sao lại cho gà vào lán xe thế này?
- Báo cáo thủ trưởng, đó là những dũng sỹ diệt mối của chúng tôi đấy ạ!
- Cái gì? Dũng sỹ diệt mối à?- Ông Đào sửng sốt.
- Vâng ạ! Nhờ có chúng mà chúng tôi đỡ vất vả với lũ mối đấy ạ! Lúc đầu cứ phải lừa mãi chúng mới vào, bây giờ thì chúng quen rồi, cứ thi nhau bới và thế là hết sạch cả mối.
- Hay! Đúng là một sáng kiến.- Ông Đào thốt lên đầy thú vị rồi ngồi thụp ngay xuống chăm chú nhìn vào gầm xe. Quả thật không còn thấy đấu vết của lũ mối ở các băng xích nữa.
Đúng lúc đó trung đoàn phó Nguyễn Văn Lãm và tiểu đoàn phó Dương Xuân Tại nghe tin tư lệnh đến đã chạy sang tới nơi. Đứng nghiêm trước mặt ông Đào rồi mà Lãm vẫn còn thở dốc:
- Chào tư lệnh! Sao tư lệnh xuống mà không báo để chúng tôi còn đón?
Ông Đào cười:
- Thế thì còn gì là kiểm tra đột xuất nữa. Nói vậy thôi! Hôm trước nghe bên kỹ thuật báo cáo tình hình trang bị có một số loại khí tài xuống cấp, tớ muốn xuống xem cụ thể ra sao?.
Tiểu đoàn phó kỹ thuật Tại vội đứng nghiêm lại:
- Báo cáo tư lệnh! Khi mới đưa xe vào khu sơ tán, do chưa có kinh nghiệm nên một số khí tài quang học và điện đài bị ẩm mốc. Khi phát hiện ra chúng tôi đã báo cáo cơ quan kỹ thuật và có biện pháp khắc phục kịp thời nên đã cơ bản chấm dứt được tình trạng trên.
- Biện pháp thế nào nào?- Ông Đào dồn.
- Báo cáo Tư lệnh! Chúng tôi đã áp dụng một số biện pháp như sau: một là hàng tuần đều cho nổ máy chống rỉ 15 phút, khi nổ máy thì cũng bật đài, bật công tắc sấy kính và cho các thiết bị điện khác làm việc. Thứ hai là chúng tôi cho vào buồng chiến đấu mỗi xe mấy ki- lô- gam vôi củ. Từ đó đến nay không thấy cái kính nào bị mốc nữa. Điện đài cũng thường xuyên thông suốt, không còn bị chập chạp nữa ạ!
- Sao lại cho vôi vào buồng chiến đấu?- Ông Đào tỏ vẻ ngạc nhiên.
- Dạ! Đây là kinh nghiệm dân gian đấy ạ! Một số anh em nhà có nghề nấu kẹo cho biết, để giữ cho kẹo khỏi bị chảy nước họ vẫn dùng vôi sống để vào thùng kẹo. Chúng tôi cho làm thử ở một vài xe thấy có kết quả tốt nên hiện nay đã mở rộng ra toàn tiểu đoàn. Các anh ở cơ quan kỹ thuật Bộ Tư lệnh xuống theo dõi cũng đồng ý cho chúng tôi sử dụng biện pháp này. Giá như có si- li- ca- zen thì tốt nhưng chúng ta lại không có nên đành phải thay thế vậy thôi.
Ông Đào gật gù:
- Có lý đấy! Vôi là thứ hút ẩm rất tốt nhưng nếu để nó dây vào kim loại thì lại ăn mòn rất mạnh.
Trung đoàn phó Lãm vội chen vào:
- Báo cáo tư lệnh! Chúng tôi cũng biết như vậy nên yêu cầu anh em phải gói bọc rất kỹ, tuyệt đối không để vôi tiếp xúc trực tiếp với các trang bị trong buồng chiến đấu.
- Thôi được rồi! Tôi sẽ lên xe xem cụ thể thế nào?.
Dứt lời ông xăm xăm bước về phía chiếc xe tăng gần nhất và bám vào tay vịn bộ binh để leo lên, Tại vội chạy lại định đỡ thì ông quay lại cười:
- Anh Tại! Anh hơi coi thường tôi đấy! Giờ tôi với anh ra lái thi với nhau chưa biết mèo nào cắn mỉu nào đâu nhé!
Nhún mình một cái rất nhẹ nhàng quyền tư lệnh Đào đã lên được xe, cả Lãm và Tại cũng lên theo. Nhìn vào buồng truyền động ông lắc đầu:
- Xe bẩn quá anh Tại ạ!
Tại vội thanh minh:
- Báo cáo tư lệnh! Đây là ba xe vừa mới đi bắn về hôm qua nên chưa kịp bảo dưỡng. Còn các xe khác xin đảm bảo với Tư lệnh: dù có mặc áo trắng chui vào truyền động cũng không sao cả.
- Anh có nói khoác không đấy!
- Xin mời tư lệnh cứ thử xem sao ạ!
- Được! Lát nữa tôi sẽ thử. Còn bây giờ xem kính, đài của các anh thế nào đã.
Ông Đào nhún mình chui vào cửa tháp pháo một cách rất gọn gàng theo đúng động tác vào xe của lính xe tăng và đưa mắt nhìn quanh buồng chiến đấu. Đây là xe sẵn sàng chiến đấu nên các loại vũ khí đã đầy đủ trong xe nhưng được sắp xếp rất gọn gàng và cố định chặt chẽ. Nhìn thấy một thùng gỗ để trên sàn ông đoán đấy là hòm đựng vôi hút ẩm. Sau khi ngồi vào ghế trưởng xe ông ghé mắt nhìn vào kính ngắm, tay xoay xoay núm lấy thước ngắm và điều chỉnh thị độ. Ông quay nhẹ cơ cấu tấm và cơ cấu hướng, nòng pháo từ từ dịch chuyển không một tiếng động. Tiếp theo ông lại ghé mắt vào kính quan sát của trưởng xe, chăm chú nhìn xem trong đó có sơi nấm mốc nào không. Ông hiểu trong điều kiện nhiệt đới gió mùa có độ ẩm cao như ở Việt Nam thì đây là một kẻ thù rất nguy hiểm đối với các loại khí tài quang học. Nhưng tuyệt nhiên không! Thị trường các ống kính mà ông nhìn vào đều trong suốt. Chụp cái mũ công tác lên đầu ông bật công tắc điện đài, trong tai nghe vang lên những tiếng rào rào quen thuộc. Bật công tắc ngực về phát, tiếng động cơ Y55 ở hộp dưỡng điện rú lên, còn tiếng rào trong tai nghe im bặt, ông búng nhẹ tay vào ống nói, hồi âm trong tai nghe rõ mồn một.
Vẫn ngồi nguyên trong ghế trưởng xe ông ngửa mặt lên hỏi:
- Các xe khác có được như thế này không?
Cả trung đoàn phó Lãm và tiểu đoàn phó Tại đều tranh nhau trả lời:
- Báo cáo tư lệnh! Tất cả đều như thế này và tốt hơn.
- Thế thì tốt!
Hiếm khi nghe được lời khen của tư lệnh, cả Lãm lẫn Tại đều hết sức phấn khởi nhưng không dám để lộ ra.
- Thế bây giờ đi đánh nhau được chưa?- Ông nghĩ nếu buổi báo cáo của tham mưu trưởng Dương thành công thì chả mấy nữa điều đó sẽ thành hiện thực.
Trung đoàn phó Lãm đáp ngay lập tức:
- Báo cáo tư lệnh! Chúng tôi mong mỏi lắm rồi. Bất cứ lúc nào trên có lệnh là H03 sẽ lập tức lên đường.
- Về tư tưởng thì đã đành là thế, nhưng còn vũ khí trang bị thì thế nào?- Ông quay sang phía tiểu đoàn phó kỹ thuật Tại.
Hơi ngần ngừ một chút Tại mới trả lời:
- Báo cáo tư lệnh! Về trang bị vũ khí chúng tôi cũng luôn luôn sẵn sàng, tất cả xe máy, khí tài đều được bảo dưỡng chăm sóc đúng chế độ và không có hỏng hóc gì. Tuy nhiên....- Tại hơi ngần ngừ.
- Tuy nhiên sao?- Tư lệnh Đào lại dồn.
Hơi đắn đo một chút Tại mới tiếp:
- Tiểu đoàn chúng tôi hiện có 2 đại đội trang bị T54 và 1 đại đội trang bị xe PT76. So sánh hai loại này anh em chúng tôi nhận thấy giá như xe PT76 này cũng có một khẩu cao xạ 12 ly 7 như T54 thì chắc chắn khả năng tự vệ sẽ cao hơn rất nhiều. Tư lệnh cũng biết rồi đấy, không quân Mỹ rất mạnh mà hỏa lực phòng không của mình thì hạn chế...
Ông Đào gật gù:
- Ừ, ừ! Đó cũng là một ý kiến hay! Nhưng làm sao mà đặt 12 ly 7 lên đây được?.
- Cũng không khó lắm ạ! Chỉ cần hàn thêm một bộ giá vào chỗ này rồi đặt súng lên là xong!- Tại chỉ vào phía bên phải cửa tháp pháo.
- Thôi được rồi! Vấn đề này tôi sẽ lưu ý và sẽ chỉ thị cho cơ quan kỹ thuật nghiên cứu ngay.
Tự nhiên ông Đào cảm thấy rưng rưng: những cán bộ chiến sĩ dưới quyền ông thật là đáng quý biết bao. Họ không chỉ cháy bỏng một nguyện vọng ra chiến trường chiến đấu, họ không chỉ miệt mài huấn luyện trên thao trường cũng như chăm sóc bảo dưỡng trang bị vũ khí của mình mà họ còn là những con người hết sức thông minh, sáng tạo. Thế mà ông vẫn không thốt ra được một lời khen. Ông tự trách cái bản tính khắc kỷ và khắt khe của mình. Nhưng biết làm sao được, cái bản tính ấy đã ăn sâu trong người ông mấy chục năm rồi.
Cúi nhìn đồng hồ trung đoàn phó Lãm nói với tư lệnh Đào:
- Gần trưa rồi. Mời tư lệnh về trung đoàn bộ ăn cơm với anh em chúng tôi.
Nhìn ra ngoài trời thấy đã gần đứng bóng ông Đào vội nhún người chui ra khỏi xe và nhảy xuống đất:
- Thôi! Cảm ơn các cậu nhưng tớ không ở được. Tớ phải về cơ quan ngay. Thôi, chào tất cả anh em nhé! À, bảo cậu gì tác giả bài thơ Tết năm ngoái sửa lại đi! Sắp được đi đánh nhau rồi đấy!
Cánh lính trẻ nhô hết cả ra khỏi buồng truyền động nhao nhao chào tư lệnh.
Ông bước nhanh bra khỏi lán xe, bắt tay Lãm, Tại và Nhã rồi vội vàng bước về phía chiếc xe con. Lái xe Năm lập tức nổ máy. Ông nói ngắn gọn:
- Về cơ quan ngay.
- Vâng!- Lái xe Năm cũng đáp rất ngắn gọn và tăng ga.
Chiếc xe con lao vụt đi để lại đằng sau một quầng bụi đỏ. Lãm lắc đầu nói nhỏ với Tại:
- Không hiểu có việc gì mà “cụ” vội thế!
Đúng là ông Đào vội thật. Ông đoán rằng giờ này tham mưu trưởng Dương cũng đang trên đường về và ông muốn mình phải có mặt trước khi ông Dương về đến nơi. Biết ý thủ trưởng Năm cho xe chạy với tốc độ cao nhưng vẫn cố vòng tránh những ổ gà, ổ trâu trên đường một cách rất điêu luyện.
Nãy giờ mải việc kiểm tra trang bị và trò chuyện với anh em đầu óc ông không vương vấn gì về buổi báo cáo của tham mưu trưởng Dương nhưng nay ngồi trên xe nó lại như một cái máy tự động quay về chuyện ấy. Ông mường tượng ra vẻ mặt của tham mưu trưởng Dương khi gặp nhau lát nữa. Nếu ông Dương tươi cười, vui vẻ thì là thắng lợi. Còn nếu ông Dương có vẻ mặt buồn bã thì... chẳng còn gì để nói nữa. Thực ra trong thâm tâm ông tin vào kết quả tốt đẹp của lần làm việc này. Trước hết vì thời cơ đưa xe tăng vào chiến đấu cũng đã chín muồi. Đế quốc Mỹ đã mở rộng chiến tranh theo chiến lược chiến tranh cục bộ, số lượng quân Mỹ đưa vào miền Nam đang tăng lên từng ngày và đã đạt con số nửa triệu. Cùng với nó là hàng vạn tấn trang bị hiện đại như máy bay, tàu chiến, pháo binh và xe tăng thiết giáp. Rõ ràng là yêu cầu của chiến trường đã vô cùng cấp thiết. Thứ hai, ông tin vào sự chuẩn bị kỹ càng của binh chủng trước buổi làm việc này. Đó là kết quả một quá trình làm việc công phu, nghiêm túc của cả một tập thể những cán bộ đầy nhiệt tình, trách nhiệm nhưng cũng không kém phần uyên bác và sáng tạo. Trong những nội dung đã chuẩn bị phần ông lo ngại nhất là vấn đề xác định cách đánh của xe tăng bởi vì đây là vấn đề rất mới. Cách đánh mà ông cùng các cộng sự xây dựng nên mang một sắc thái rất riêng biệt và hầu như chưa được đề cập đến trong lý luận sử dụng xe tăng trên thế giới. Chính vì nó mới như vậy nên nếu không hiểu thật thấu đáo về xe tăng thì sẽ khó chấp nhận. Ông nhớ lại đã không ít lần nổ ra những cuộc tranh luận nảy lửa về vấn đề này trong nội bộ tổ nghiên cứu khoa học quân sự của binh chủng. Những lúc đó những sĩ quan trẻ như Phúc, Ba, Phùng... hình như không còn kiêng dè gì ông nữa. Họ cũng đỏ mặt tía tai, cũng to tiếng... có khi át cả tiếng ông. Nhưng chính từ những tranh luận nghiêm túc đó đã làm sáng tỏ được rất nhiều vấn đề. Nhất là sau khi ông cùng một số cán bộ chủ chốt tiến hành một cuộc khảo sát nghiên cứu hình thái bố trí và đặc điểm bố phòng của địch tại chiến trường Quảng Trị về thì những nghiên cứu đi vào chiều sâu hơn và có cơ sở vững chắc hơn. Chính từ chuyến đi ấy đã định hình vững chắc hơn cho lý luận về chiến thuật tiến công địch phòng ngự trong công sự vững chắc của phân đội xe tăng. Sau khi định hình về mặt lý luận, chiến thuật đó đã được đưa vào thực hiện thí điểm ở một vài cuộc diễn tập. Kết quả diễn tập đã chứng tỏ đó là cách đánh tối ưu của xe tăng trong điều kiện Việt Nam hiện tại. Tuy nhiên đấy mới chỉ là diễn tập, để khẳng định mình lý luận đó còn đòi hỏi phải được kiểm nghiệm tại chiến trường.
Chừng hơn mười một giờ thì xe về đến cơ quan. Vừa bước xuống xe, chưa kịp về nhà ông chợt nhìn thấy chiếc xe của tham mưu trưởng Dương đang xồng xộc lao tới đầu xóm. Bước vội về phía căn nhà của chính ủy ông gọi to:
- Anh Ngọc có nhà không? Anh Dương về rồi đây này!
Từ trong nhà chính ủy Ngọc lao ra rất nhanh, có vẻ ông cũng đang ngồi đếm từng phút chờ tham mưu trưởng Dương thì phải.
Xe vừa dừng bánh, tham mưu trưởng Dương đã bật cửa bước xuống và đi nhanh đến trước quyền tư lệnh và chính ủy. Nhìn nét mặt người tham mưu trưởng của mình ông Đào đoán mọi việc đều tốt đẹp. Còn cách mấy bước tham mưu trưởng Dương đã hồ hởi:
- Chào tư lệnh! Chào chính ủy!
Ông Ngọc nhanh nhảu:
- Thế nào anh Dương? Mọi việc trót lọt cả chứ?.
- Vâng ạ! Mọi việc đều như dự tính!
Ông Đào khoát tay:
- Mời các anh sang cả bên tôi! Cả các cậu Nhật, Phúc nữa!- Ông vẫy tay về phía chủ nhiệm kỹ thuật Nhật và trưởng ban tác chiến Phúc.
Cả năm anh em kéo vào ngôi nhà của tư lệnh Đào, ông chỉ tay vào bộ bàn ghế tiếp khách:
- Mời các anh ngồi tạm ở đây!- Đợi mọi người yên vị ông tiếp- Nào, bây giờ anh Dương báo cáo sơ bộ tình hình xem sao?.
Theo thói quen tham mưu trưởng Dương mở cặp lấy ra cuốn sổ công tác đặt trước mặt nhưng cũng chẳng nhìn vào mà nói ngay:
- Báo cáo các thủ trưởng! Tình hình diễn ra đúng như ta đã dự kiến ở nhà. Cũng có một số ý kiến phản đối nhưng sau khi nghe ta giải thích, làm rõ thì đều thuận cả.
- Vậy kết luận của Thủ trưởng Bộ thế nào?- Ông Đào nôn nóng.
- Bộ đã nhất trí với đề nghị của ta, cho phép ta đưa từ một đại đội đến một tiểu đoàn vào chiến trường để tham gia chiến đấu và rút kinh nghiệm. Địa bàn và mục tiêu cụ thể ta sẽ bàn bạc cùng cục Tác chiến. Nhưng vài ngày tới mới có văn bản của Bộ gửi xuống binh chủng.
- Tốt rồi! Thắng lợi rồi!- Chính ủy Ngọc thốt lên đầy phấn khích.
Quyền tư lệnh Đào quay ra phía sau hơi cao giọng:
- Cậu Lưu đâu!
Nhanh như chớp công vụ Lưu đã xuất hiện trước cửa:
- Có tôi ạ!
- Cậu xuống nhà ăn cơ quan lấy mấy suất cơm của anh em tôi về đây.
Quay lại phía ông Ngọc và mấy anh em ông nháy mắt:
- Ta phải liên hoan mừng thắng lợi bước đầu một tý chứ! Bây giờ tôi thống nhất thế này: trước hết đề nghị anh Ngọc cho triệu tập họp đảng ủy mở rộng vào ngày mai, có lẽ ta nên mời cả ban chỉ huy hai trung đoàn và một số đồng chí cán bộ chủ chốt các cơ quan bộ tư lệnh. Có được không anh?
Chính ủy Ngọc gật đầu:
- Tôi hoàn toàn nhất trí! Chiều tôi sẽ cho thông báo!.
Nhìn thẳng vào mặt tham mưu trưởng Dương ông nhấn mạnh:
- Còn anh Dương, trong ngày hôm nay cho anh em tập trung soạn thảo toàn bộ kế hoạch công tác chuẩn bị để thực hiện nhiệm vụ quan trọng này. Các anh cần xác định cụ thể về lực lượng sẽ đi đợt đầu, chủng loại xe, sử dụng đơn vị nào, biên chế từng đơn vị bao nhiêu, các lực lượng bảo đảm cần những bộ phận nào, lấy ở đâu?.vv... Bên anh Nhật cho xây dựng kế hoạch bảo đảm kỹ thuật, cần dựa vào kinh nghiệm của M77 để tính toán khối lượng khí tài dự trữ cho sát. Trước 5 giờ sáng mai các anh có văn bản báo cáo tôi và anh Ngọc. Có kịp không?
Tham mưu trưởng Dương và chủ nhiệm kỹ thuật Nhật đồng thanh trả lời:
- Chúng tôi sẽ cố gắng ạ!
Quay sang chính ủy Ngọc ông tiếp lời:
- Đề nghị anh Ngọc cho phòng chính trị rà soát lại đội ngũ cán bộ, ta phải chọn những cán bộ tốt nhất cho đi đợt này anh ạ! Đồng thời cũng đề nghị anh chỉ đạo xây dựng kế hoạch công tác đảng, công tác chính trị giúp cho.
- Tôi cũng nghĩ vậy! Anh cứ yên tâm.- Ông Ngọc vui vẻ trả lời.
Hơi nhăn trán tư lệnh Đào quay về phía tham mưu trưởng Dương:
- Này anh Dương! Anh cho chủ nhiệm phòng không sang làm việc với bên quân khí xem có thể lắp thêm một khẩu 12 ly 7 lên tháp pháo xe PT76 không nhé! Tôi thấy ý kiến này cũng hay đấy!.
- Vâng ạ! Một số lần xuống kiểm tra đơn vị tôi cũng thấy anh em dưới đó có ý kiến như vậy. Tôi sẽ cho làm ngay- Tham mưu trưởng Dương gật đầu ra vẻ tâm đắc lắm.
Trời đã đứng bóng, công vụ Lưu đã thập thò trước cửa ra ý giục các thủ trưởng đi ăn cơm. Quyền tư lệnh Đào bước vào buồng trong rồi quay ra rất nhanh, trên tay là một chai rượu màu nâu sẫm. Ông nở một nụ cười hiếm hoi:
- Hôm trước kêu đau người quân y có cho chai rượu thuốc. Hôm nay ta sẽ làm tý. Nào, mời các anh ra phòng ăn!
Nói là phòng ăn cho oai chứ thực ra là cái chái nhà quây thêm ở phía sau. Mâm cơm nhà bếp chắc đã được công vụ Lưu tăng cường đĩa trứng tráng trông cũng khá tươm tất. Đợi mọi người ngồi xuống xung quanh bàn ăn ông Đào tự tay mở nút chai rượu rót ra năm cái chén. Rượu thuốc ngâm đặc sóng sánh một màu nâu sẫm tỏa mùi thơm hăng hắc. Nâng chén rượu trên tay ông trịnh trọng:
- Mời các anh nâng cốc mừng thắng lợi bước đầu!
Chính ủy Ngọc và ba anh em đứng dạy cùng nâng chén. Một tiếng “cạch” vang lên. Ông Ngọc vui vẻ:
- Nào! Cạn chén! Chúc cho đầu xuôi đuôi lọt!
Cả năm người cùng cạn chén. Ở với nhau đã lâu hôm nay ông Dương mới thấy quyền tư lệnh “bốc đồng” như vậy.
Khi tư lệnh, trung đoàn phó Lãm và tiểu đoàn phó kỹ thuật Tại vừa đi khỏi cả hội lính trẻ đang bảo dưỡng đòi nghỉ giải lao. Được trung đội phó Nhã đồng ý cả hội xúm lại chỗ xe 567 của Cân. Đây chính là tác giả bài báo tường nổi tiếng hồi Tết năm ngoái. Hòa đen, “cây cù” của đại đội bắt đầu mở máy:
- Lúc tư lệnh đến tớ thấy mặt cậu Cân tái mét đi, cứ chúi đầu xuống buồng truyền động cấm dám ho he một tý nào. Cậu nào thử kiểm tra xem đũng quần nó có ướt không?
Mấy tay ngồi gần thò tay dứ dứ, Cân lắc đầu quầy quậy:
- Bậy nào! Tớ sợ quái gì! Dám làm dám chịu. Mà các cậu không thấy tư lệnh vẫn nhớ và lại còn khen tớ nữa đấy.
Thực ra hồi ấy khi định đưa bài thơ lên báo tường Cân cũng hơi run run. Nhưng rồi nghĩ đi nghĩ lại thấy rằng mình phản ảnh đúng tinh thần, tâm trạng của anh em chứ có gì sai đâu, lại được chính trị viên đại đội động viên nên mới quyết định đăng và ghi tên thật. Sau khi bài thơ loan truyền rộng khắp trong binh chủng lại thấy sờ sợ. Thế rồi một hôm anh Hữu là cán bộ tuyên huấn của binh chủng xuống gặp, chẳng thấy anh ấy trách mà lại còn khen ngợi là “bài thơ làm rung động lòng người” nên mới thấy hết lo. Cân bỗng chuyển đề tài:
- Nhưng này, các cậu có thấy tư lệnh hôm nay khang khác không? Không “hắc xì dầu” như những lần trước. Mà trước lúc về lại còn bảo chúng mình sắp được đi đánh nhau nữa chứ.
Nhã cũng gật gù xác nhận:
- Tớ công nhận hôm nay tư lệnh rất khác mọi lần. Có lẽ chúng mình sắp được đi đánh nhau thật các cậu ạ!
- Thế thì nhất rồi còn gì! Mong mỏi mãi.
Hòa lại chĩa mũi dùi sang hướng khác:
- Nếu thế thì gay go nhất là ông Nhã đây này. Đi gấp không về cưới vợ kịp, cái “bầu tâm sự” nó mà ngày một to ra thì lộ hết bí mật chứ còn gì nữa!
Ý Hòa muốn nói đến chuyện Nhã đã có người yêu sắp cưới. Thường ngày Nhã là người ít nói, có phần cục mịch, anh em vẫn đùa là “dùi đục chấm nước cáy” nhưng không hiểu sao hôm nay lại phản công rất nhanh:
- Người ta yêu nhau đường đường chính chính, được cả hai bên gia đình cho phép chứ có dấm dấm dúi dúi “ăn cơm trước kẻng” sau lán xe đâu mà sợ cái bầu tâm sự nó to ra.
Chả là tối hôm trước có việc phải ra lán xe Nhã đã chứng kiến Hòa đang “cưa kéo” một cô gái trong Xóm Mới ngay bên cạnh khu sơ tán của đại đội 9. Mấy anh em cùng nhao nhao:
- Thằng nào ăn cơm trước kẻng đấy Nhã?.
Bị điểm trúng huyệt Hòa chột dạ. Của đáng tội, tuy nước da có hơi đen song lại có khuôn mặt khá điển trai và cái mỏ dẻo quẹo Hòa cũng là tay sát gái. Từ hôm sơ tán về đây hắn đã “tia” được một em khá ngon mắt và bước đầu tiếp cận thành công, tối hôm qua đã được nàng cho cầm tay. Vụ việc vẫn trong vòng bí mật thế mà lại bị cái thằng cha nông dân một cục này phát hiện ra mới gay chứ. Hòa định tìm cách lảng đi thì bị Nhã kéo lại:
- Ấy! Đừng có đánh bài chuồn như thế! Khai thật ra bọn tớ tha cho không báo cáo đại đội.
Hòa đỏ mặt ấp úng:
- Có gì đâu?. Tớ đang gác gặp cô ấy đi làm về qua ghé vào xin chai dầu thắp, thế là đứng nói với nhau vài câu chuyện tầm phào thôi chứ có chuyện gì đâu.
Cân trẻ tuổi nhất, chưa có người yêu nên rất tò mò:
- Cô nào đấy, Hòa?.
Hòa càng lúng túng tợn:
- Thì... thì...
Thật may cho Hòa, đại đội trưởng Nghi xuất hiện đúng lúc:
- Thế nào? Hết việc ngồi tán gẫu đấy à?.
Nhã vội nhảy xuống xe đứng nghiêm:
- Báo cáo đại trưởng, anh em vừa mới giải lao mấy phút thôi ạ!
- Tình hình ở nhà có gì mới không?- Nghi nghiêm mặt hỏi.
- Báo cáo đại trưởng! Lúc nãy tư lệnh binh chủng có qua đây kiểm tra trang bị nhưng đã về rồi ạ!- Nhã trả lời.
- Thế tư lệnh có nhận xét gì không?.
- Báo cáo đại trưởng! Tư lệnh khen công tác bảo quản trang bị của đại đội ta rất tốt. Tư lệnh còn bảo sắp được đi đánh nhau rồi ạ!
- Thế hả? Thôi các cậu tiếp tục làm việc đi nhé!.
Nói rồi anh quày quả quay đi như chạy về phía tiểu đoàn bộ. Nhã quay lại giục anh em:
- Ta tiếp tục đi các cậu! Gần trưa rồi.
Ăn trưa xong tham mưu trưởng Dương vẫy Phúc về ngay. Trên đường đi ông sắp xếp lại những công việc đã tính toán lúc còn ngồi trên xe. Vừa về đến phòng họp chung ông đã bảo Phúc:
- Anh cho thông báo mời anh Ba cùng tất cả các trưởng ban, chủ nhiệm và trợ lý đầu ngành lên đây họp vào đầu giờ chiều. Riêng ban tác huấn thì gọi tất cả các trợ lý lên cùng nghe luôn.
- Rõ!- Phúc trả lời ngắn gọn và bước vội về phía nhà ở cơ quan.
Ngồi vào bàn ông mở cặp lấy cuốn sổ ra tay cắm cúi ghi chép, thỉnh thoảng ông buông bút nhăn trán như cố nhớ lại điều gì đó rồi lại cúi xuống hý hoáy viết. Kẻng báo thức chiều đã vang lên dóng dả nhưng hình như ông vẫn không nghe thấy. Mãi đến khi mấy thấy mấy cái bóng lố nhố trước cửa ông mới ngẩng lên. Thấy mọi người có mặt đủ ông vội lên tiếng:
- Mời các đồng chí vào!
- Chào tham mưu trưởng!- Tham mưu phó Ba là người đầu tiên cất tiếng chào và bước vào phòng họp, sau ông là các trưởng ban tác huấn, ban quân lực và các chủ nhiệm ngành, các trợ lý tác huấn.
- Mời các đồng chí ngồi cả xuống đây.- Ông Dương đưa tay chỉ hai dãy ghế xung quanh chiếc bàn lớn rồi tiếp- anh em tranh thủ uống nước đi. Hôm nay khá nhiều việc đấy.
Chắc đã được trưởng ban tác huấn cho biết tình hình đi báo cáo trên Bộ về nên ai cũng chăm chú và có vẻ hơi căng thẳng. Tất cả im lặng chứ không nói chuyện ồn ào như những lần họp khác. Thấy mọi người đã sẵn sàng tham mưu trưởng Dương đứng dạy:
- Báo cáo các đồng chí trong phòng! Hôm nay được sự ủy nhiệm của Thường vụ đảng ủy và thủ trưởng Bộ tư lệnh tôi đã lên báo cáo Quân ủy trung ương và Thủ trưởng Bộ quốc phòng về tình hình binh chủng cũng như đề đạt nguyện vọng được đi chiến đấu của cán bộ chiến sĩ tăng thiết giáp. Kết quả bước đầu thủ trưởng Bộ đã đồng ý để binh chủng ta đưa một phân đội vào chiến trường chiến đấu để rút kinh nghiệm mọi mặt. Sau khi về tôi đã báo cáo đồng chí Tư lệnh và đồng chí Chính ủy. Các đồng chí quyết định ngày mai sẽ họp đảng ủy mở rộng để thông qua kế hoạch tổ chức đưa xe tăng đi chiến đấu. Phòng tham mưu của chúng ta có nhiệm vụ soạn thảo chi tiết toàn bộ kế hoạch này. Vì vậy hôm nay triệu tập các đồng chí lên để phổ biến tình hình và giao nhiệm vụ cụ thể cho các bộ phận. Các đồng chí cần chú ý lắng nghe, ghi chép cẩn thận, có vấn đề gì chưa rõ cần hỏi lại ngay vì thời gian chuẩn bị rất ngắn. Tất nhiên có những vấn đề chúng ta đã thảo luận trước rồi nhưng bây giờ phải đi vào cụ thể và hết sức chặt chẽ. Sau đây tôi phổ biến trước một số nội dung làm cơ sở để các đồng chí chuẩn bị.
Đợi mọi người giở sổ sách xong ông Dương ngồi xuống:
- Trước hết về quy mô Bộ thống nhất cho phép ta được đưa từ một đại đội đến một tiểu đoàn vào tham gia chiến đấu. Theo tôi ta nên đưa một tiểu đoàn vì các đại đội còn có thể hỗ trợ lẫn nhau khi cần thiết. Về chủng loại xe như ta đã thảo luận trước tôi cho rằng đợt này ta vẫn chỉ nên sử dụng xe PT76 thôi. Về địa bàn tác chiến mặc dù chưa trao đổi với Cục tác chiến song theo tôi ta nên chọn một địa bàn gần miền Bắc và gần biên giới Việt- Lào để tiện cơ động vào cũng như rút ra. Sau đây là nhiệm vụ cụ thể của các bộ phận. Ban tác huấn hôm nay đủ cả chứ?
Trưởng ban tác huấn Phúc vội ngẩng lên trả lời:
- Báo cáo tham mưu trưởng! Ban tôi đủ.
- Vậy các đồng chí chú ý ghi chép nhé! Ban tác huấn các đồng chí có các nhiệm vụ sau: một là lựa chọn địa bàn tác chiến cho tiểu đoàn này. Các đồng chí cần lưu ý những yêu cầu tôi nêu trên. Hai là xác định đường hành quân, vị trí tập kết, lập kế hoạch hành quân, phân chia cung chặng cho cụ thể. Sở dĩ ta phải lập kế hoạch hành quân cho đơn vị vì chúng ta đã có dịp đi khảo sát thực tế, trong khi các đồng chí chỉ huy đơn vị chưa được đi nên ta làm sẽ sát hơn. Khi lập kế hoạch hành quân các đồng chí cần chú ý vận dụng những kinh nghiệm rút ra từ đợt hành quân của tiểu đoàn M77 năm ngoái, cần khắc phục triệt để những yếu kém đã được chỉ ra trong hội nghị tổng kết vừa rồi. Ba là nghiên cứu soạn thảo chương trình huấn luyện bổ sung cho đơn vị, đặc biệt cần hoàn chỉnh tài liệu “phân đội xe tăng tiến công địch trong công sự vững chắc” để anh em đưa vào huấn luyện ngay. Ngoài ra các đồng chí phải liên hệ với cục tác chiến và đề nghị trên đó thông báo để đoàn 559 cùng các lực lượng khác tạo điều kiện giúp đỡ xe tăng trong quá trình hành quân. Tạm thời như thế đã, các đồng chí rõ nhiệm vụ chưa?
Trưởng ban Phúc tay vẫn nhoay nhoáy ghi, miệng trả lời rõ to:
- Báo cáo! Rõ rồi ạ!
Quay sang phía tham mưu phó Ba ông Dương nhẹ nhàng:
- Đề nghị anh Ba dành thời gian giúp anh em tác huấn nhé.
Tham mưu phó Ba gật đầu:
- Anh yên tâm! Tôi sẽ trực tiếp làm việc với anh em.
Tham mưu trương Dương ngồi lại ngay ngắn:
- Bây giờ là nhiệm vụ của ban quân lực. Vì biên chế hiện nay của chúng ta là các tiểu đoàn hỗn hợp, mỗi tiểu đoàn chỉ có một đại đội PT76. Vì vậy nhiệm vụ trước hết của quân lực là các đồng chí đề xuất phương án thành lập tiểu đoàn mới sẽ bao gồm những đơn vị nào. Các đồng chí cần chú ý đến kết quả huấn luyện và hoàn thành các nhiệm vụ khác của từng đơn vị để lựa chọn. Tiếp theo, các đồng chí cần tính toán bổ sung đầy đủ thành viên cho các đơn vị, lưu ý là phải có quân số dự bị vì vào trong đó rồi mà thương vong là không có bổ sung đâu. Một vấn đề quan trọng nữa là việc xác định các lực lượng bảo đảm đi cùng: bao nhiêu thợ, bao nhiêu công binh, bao nhiêu thông tin, cơ yếu vv... và bao nhiêu phương tiện từng loại nữa. Anh Hạ rõ nhiệm vụ chưa?
Trưởng ban quân lực Hạ vội đáp:
- Báo cáo! Rõ rồi ạ!
Quay về phía các chủ nhiệm và trợ lý đầu ngành khác tham mưu trưởng Dương nói chậm rãi:
- Các ngành thông tin, cơ yếu, trinh sát căn cứ yêu cầu nhiệm vụ của chuyên ngành mình lập kế hoạch và đề đạt những vấn đề cần giải quyết để tôi đề nghị lên trên. Đồng chí chủ nhiệm trinh sát cần sưu tầm thêm các tài liệu về các phương tiện trinh sát và chống tăng của địch đã và đang sử dụng ở chiến trường miền Nam để anh em đưa vào huấn luyện. Riêng chủ nhiệm phòng không phải sang bên quân khí làm việc, các anh nghiên cứu xem có thể lắp thêm một khẩu cao xạ 12 ly 7 lên tháp pháo xe PT76 hay không? Nếu lắp thì phải hàn giá như thế nào và động tác bắn ra sao, đồng thời phải đưa vào chương trình huấn luyện bổ sung. Kết quả thế nào tối nay cũng phải cho tôi biết. Các đồng chí rõ cả chưa?
Mấy chủ nhiệm và trợ lý đầu ngành đồng thanh:
- Rõ ạ!
Gấp cuốn sổ lại ông Dương dõng dạc:
- Sau đây các đồng chí về bắt tay vào việc ngay. Chậm nhất 21 giờ tối nay phải có văn bản nộp cho tôi. Ngày mai đồng chí Phúc và đồng chí Hạ sẵn sàng chờ đảng ủy gọi thì báo cáo và giải trình. Vì vậy khi làm kế hoạch các đồng chí phải chuẩn bị đầy đủ cơ sở để bảo vệ ý kiến trước cấp trên. Chiều nay tôi ở nhà, có vấn đề gì cần trao đổi các đồng chí cứ đến bất cứ lúc nào. Nhiệm vụ thế các đồng chí đã rõ cả chưa?
Tất cả đồng thanh:
- Rõ!
- Thế thì về làm việc đi! Mời anh Ba ở lại với tôi một lúc.
Ông Ba quay ra bảo Phúc:
- Các cậu về trước đi! Lát nữa tớ sang.
Mọi người tản đi, còn lại ông Dương và ông Ba ngồi chụm đầu rì rầm trao đổi.
Như một cỗ máy đã được khởi động, chiều hôm ấy cả cơ quan Bộ tư lệnh thiết giáp lao vào công việc chuẩn bị cho đơn vị xe tăng đầu tiên đi chiến trường. Bận bịu nhất là Ban tác huấn, toàn ban người nào người nấy chúi mũi vào công việc. Trưởng ban Phúc và một trợ lý tập trung xây dựng chương trình huấn luyện bổ sung cho phân đôi. Tổ khoa học quân sự vừa tranh luận vừa gạch xóa để hoàn chỉnh tài liệu chiến thuật. Còn trợ lý Phùng cùng tham mưu phó Ba đang dò dẫm từng đoạn đường trên bản đồ để lập kế hoạch hành quân.