Bão Thép

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 3 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 16

❊ ❊ ❊

Sau một hồi chuyện trò hỏi thăm sức khỏe và tình hình công việc Tổng Tham mưu trưởng đi vào vấn đề chính:

- Từ sau trận Làng Vây đến nay chắc sốt ruột lắm hả?

Như được gãi trúng chỗ ngứa quyền tư lệnh Đào sôi nổi hẳn lên:

- Thưa Tổng Tham mưu trưởng! Quả thật chúng tôi rất sốt ruột, cứ tưởng sau Làng Vây sẽ được sử dụng nhiều hơn ai ngờ lại vẫn án binh bất động.

Tổng Tham mưu trưởng cười hiền từ:

- Nuôi quân ba năm dùng một giờ mà. Các cậu cứ yên trí, rồi sẽ được trọng dụng- Giọng ông trầm xuống- Thực ra sau trận Làng Vây nhận thức về sử dụng xe tăng của trên đã có nhiều thay đổi, ai cũng thừa nhận khả năng đột phá của tăng thiết giáp rất cao, nhất là trong điều kiện địch tổ chức phòng ngự vững chắc như hiện nay. Tuy nhiên cái gì cũng có thời cơ của nó, dùng không đúng lúc, đúng chỗ có khi còn có hại là đằng khác. Vì vậy trong hai năm qua Bộ chưa “sờ” đến các cậu.

Hai anh em nhìn nhau, chủ nhiệm chính trị Thu góp chuyện:

- Dạ! Chúng tôi cũng biết vậy nên vẫn thường xuyên giáo dục cho anh em kiên trì chờ đợi, trước mắt cứ huấn luyện cho giỏi, khi cấp trên gọi là lên đường chiến đấu được ngay.

Tổng Tham mưu trưởng gật đầu:

- Thế thì tốt! Bây giờ các cậu cho tớ biết ý định xây dựng, phát triển lực lượng của binh chủng như thế nào.

Quyền tư lệnh Đào phấn khởi ra mặt:

- Thưa Tổng Tham mưu trưởng! Sau khi phân tích tình hình mọi mặt ý định của chúng tôi về phát triển lực lượng tăng thiết giáp như sau: Một là, phải nhanh chóng tăng cường lực lượng cho các chiến trường trọng điểm. Hai là phải khẩn trương xây dựng hệ thống nhà trường và các trung tâm đào tạo để đảm bảo sĩ quan và thành viên kíp xe được huấn luyện cơ bản, kỹ càng nhất. Ba là phải tiếp tục hoàn thiện các loại tài liệu cả về kỹ, chiến thuật để đảm bảo việc huấn luyện được chính quy, thống nhất.

Tổng Tham mưu trưởng ngắt lời:

- Cậu nói cụ thể hơn về mặt xây dựng, phát triển lực lượng xem nào.

Quyền tư lệnh Đào giở tập kế hoạch của phòng tham mưu ra và hắng giọng:

- Báo cáo Tổng Tham mưu trưởng! Vừa qua chúng tôi đã xây dựng bản kế hoạch phát triển lực lượng tăng thiết giáp giai đoạn 70- 75, hiện đang hoàn thiện để báo cáo Bộ. Hôm nay tôi xin trình bày sơ lược để Tổng Tham mưu trưởng nắm được. Trước hết, nói về quy mô các đơn vị đưa đi bổ sung cho các chiến trường chúng tôi thấy tốt nhất là ở quy mô từng tiểu đoàn. Đưa đi như vậy thì đội hình sẽ gọn hơn, công tác bảo đảm cũng đỡ cồng kềnh hơn mà không phải thành lập thêm các trung đoàn mới ở ngoài Bắc. Về lực lượng cụ thể cho từng chiến trường chúng tôi dự kiến đưa vào B2 từ năm đến sáu tiểu đoàn. Vì tại B2 hiện nay chúng tôi đã có bộ khung cán bộ vào đó từ mấy năm trước nên khi lực lượng vào đủ có thể thành lập khoảng hai trung đoàn. Còn B3, B1 chúng tôi dự kiến mỗi chiến trường từ hai đến ba tiểu đoàn, có điều kiện thì sẽ ghép lại thành trung đoàn. Riêng B4 vì ở gần hậu phương theo chúng tôi nên đưa một trung đoàn trọn vẹn vào, có thể là H03. Như vậy tổng cộng sẽ phải đưa vào chiến trường một trung đoàn và chín đến mười hai tiểu đoàn. Về lực lượng đảm nhiệm nhiệm vụ huấn luyện ở hậu phương chúng tôi đề nghị Bộ cho nâng cấp đoàn 10 thành trường sĩ quan, thành lập một trung tâm đào tạo thành viên kíp xe và một trung đoàn nữa để thay thế H03 đã vào B4.

Tổng Tham mưu trưởng gật gù tỏ vẻ đồng tình:

- Có lẽ được đấy! Các cậu cứ hoàn thiện đi rồi báo cáo Bộ. Đó là chuyện lâu dài, cần phải nghiên cứu thật kỹ lưỡng. Còn hôm nay tớ cho gọi các cậu lên vì một việc khác cơ, trước mắt thôi.

Hai anh em lại nhìn nhau ngơ ngác, chủ nhiệm chính trị Thu mạnh dạn:

- Thủ trưởng cứ nói ạ! Chúng tôi lúc nào cũng sẵn sàng.

Ngừng lại một chút như cân nhắc Tổng Tham mưu trưởng hạ giọng:

- Như các cậu đã biết, do những thất bại nặng nề Mỹ đã bắt đầu thực hiện chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh từ hai năm nay. Trong các mục tiêu mà chiến lược này đề ra có một mục tiêu là ngăn chặn hoàn toàn sự chi viện của miền Bắc vào miền Nam. Theo những tin tức mà ta nắm được vào Đông Xuân này có khả năng chúng sẽ mở một cuộc hành quân quy mô lớn nhằm thực hiện mục tiêu trên. Về địa bàn tác chiến gần như chắc chắn sẽ là đường Chín vì nếu làm chủ được con đường này chúng sẽ ngăn chặn được toàn bộ hành lang vận chuyển trên bộ từ bắc vào nam của ta. Với đặc điểm địa hình khu vực này Bộ cho rằng chúng sẽ sử dụng chủ yếu là tăng thiết giáp và máy bay trực thăng. Để đối phó lại ta cũng phải có lực lượng cơ giới đủ mạnh ở đó. Vì vậy các cậu hãy tính toán chuẩn bị trước đi, có thể ém sẵn một số lực lượng ở các khu vực lân cận, khi nào tình huống xảy ra sẽ nhanh chóng có mặt.

Quyền tư lệnh Đào lẩm nhẩm như ngầm tính toán một cái gì đó, một lát sau ông ngẩng lên:

- Báo cáo thủ trưởng! Nếu địa bàn tác chiến ở đường Chín thì tương đối thuận lợi cho chúng tôi vì hai năm qua anh em tôi cũng đã làm quen với khu vực này nhiều rồi, hiện tại chúng tôi lại đang có một tiểu đoàn nằm sẵn trong đó.

Tổng Tham mưu trưởng ngắt lời:

- Có phải cái tiểu đoàn đã đánh Làng Vây không?

Quyền tư lệnh Đào gật đầu xác nhận:

- Dạ, đúng ạ! Sau chiến dịch Đường Chín- Khe Sanh chúng tôi vẫn để tiểu đoàn này nằm trong đó. Còn bây giờ chỉ cần đưa thêm độ hai đến ba tiểu đoàn nữa vào là đủ ạ. Mà theo kế hoạch sắp tới Bộ có tổ chức một cuộc diễn tập chống đổ bộ đường biển ở nam quân khu Bốn. Có lẽ chúng tôi sẽ đưa lực lượng vào tham gia diễn tập rồi để lại trong đó chuẩn bị tham gia chiến đấu luôn.

Tổng Tham mưu trưởng hồ hởi:

- Ừ! Bố trí thế cũng được.

Thấy đã gần trưa chủ nhiệm chính trị Thu ý tứ:

- Dạ! Cũng đã muộn rồi, có lẽ chúng tôi xin phép về để thủ trưởng nghỉ ạ!

Tổng Tham mưu trưởng cười độ lượng:

- Hay các cậu ở lại đây mà ăn cơm. Để tớ gọi công vụ nó báo cơm cho.

Chủ nhiệm chính trị Thu vội đứng dạy:

- Dạ, thôi ạ! Chúng tôi ở ngay chân dốc mà, chỉ vù một tý là về đến nhà thôi.

Tổng Tham mưu trưởng đứng dạy bắt tay hai người rồi tiễn ra tận cửa. Ra đến cửa rồi ông còn giữ hai anh em lại và dặn:

- Nhớ là tuyệt đối giữ bí mật đấy nhé!

Vừa mới yên vị trên xe chủ nhiệm chính trị Thu đã sôi nổi:

- Chuyến này lại có công ăn việc làm rồi anh Đào ơi.

Quyền tư lệnh Đào vẫn điềm đạm:

- Trước sau gì thì cũng đến lúc thôi- Ngẫm nghĩ một lát ông quay lại- Này, lấn này có lẽ ta cho số T34 xuất quân đi. Dù sao nó cũng đã quá cũ rồi, dẫu có hỏng hết nhưng cũng được đóng góp công lao vào truyền thống của binh chủng. Ông thấy thế nào?

Chủ nhiệm chính trị Thu gật đầu:

- Tôi hoàn toàn nhất trí. Tuy nhiên đưa “anh” này đi hành quân đường dài cũng khá mệt mỏi đây.

Quyền tư lệnh Đào cười nhẹ:

- Cứ đưa vào được đến nơi an toàn là coi như thắng lợi được năm mươi phần trăm rồi.

Chủ nhiệm chính trị Thu nghĩ ngợi một lát rồi hạ giọng:

- Anh Đào này, nếu bọn chúng dùng nhiều xe tăng, thiết giáp như Tổng Tham mưu trưởng nói thì ta cũng phải đưa vào kha khá một chút. Hiện nay ta cũng có cả T54 rồi. Hay là ta cũng đưa vào đó một đơn vị để thử sức xem sao!

Quyền tư lệnh Đào gật đầu:

- Tôi cũng nghĩ vậy! Sơ bộ tôi định thế này: trước hết là đề nghị lên trên kéo “xê Chín” ra, sau đó ta sẽ đưa thêm một tiểu đoàn T34, một tiểu đoàn T54 vào. Như vậy cả ba loại xe trong trang bị chính của ta đều có dịp được thể nghiệm, chắc sẽ rút ra được nhiều kinh nghiệm quý.

Chủ nhiệm chính trị Thu tỏ vẻ phấn khởi:

- Cá nhân tôi hoàn toàn nhất trí như vậy. Nhưng vấn đề này có lẽ ta phải báo cáo thường vụ đảng ủy để quyết định.

Quyền tư lệnh Đào gật đầu:

- Đương nhiên rồi.

Từ đấy về đến nhà quyền tư lệnh Đào không nói thêm gì nữa. Hình như ông đang suy nghĩ điều gì nung nấu lắm.

Ngay chiều hôm ấy ban thường vụ đảng ủy binh chủng có cuộc hội ý đột xuất. Sau khi nghe quyền tư lệnh Đào báo cáo lại toàn bộ tình hình và dự kiến của mình thường vụ đảng ủy đã hoàn toàn nhất trí sẽ đưa hai tiểu đoàn vào tham gia diễn tập ở quân khu Bốn rồi ém luôn trong đó. Hội nghị cũng thống nhất biện pháp thực hiện: sẽ phát động một đợt thi đua đột kích với chủ đề “huấn luyện giỏi, kỷ luật nghiêm, bảo quản trang bị tốt” từ nay đến tháng Tám, qua đó lựa chọn những đơn vị xuất sắc nhất để đưa đi đợt này. Đồng thời giao cho Phòng Tham mưu làm văn bản báo cáo Bộ phê chuẩn về ý định sử dụng xe tăng trong Đông Xuân 70- 71 của binh chủng.

Không khí thi đua lại một lần nữa sôi sục trong toàn binh chủng. Đi đến đâu cũng thấy khí thế hừng hực, một trăm phần trăm cán bộ, chiến sĩ viết quyết tâm thư xin được đi chiến đấu. Đơn vị nào cũng có phong trào phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật và đồ dùng huấn luyện rất sôi nổi. Khối các cơ quan Bộ tư lệnh cũng tất bật chẳng kém. Ngoài việc kiểm tra, theo dõi sát tình hình các đơn vị các cơ quan còn phải tập trung xây dựng kế hoạch bảo đảm cho các đơn vị hành quân và chiến đấu. Mặc dù đã có kinh ngiệm tổ chức đưa một số đơn vị đi chiến trường song đây là lần đầu tiên đưa xe tăng đi với quy mô lớn nhất và chủng loại cũng phong phú hơn, trong đó có hai dòng xe hạng trung, đặc biệt là số T34 đã xuống cấp nhiều. Bên tham mưu thì xây dựng kế hoạch hành quân, liên hệ với các cơ quan, đơn vị liên quan, xác định hệ thống tổ chức chỉ huy và nắm ý định của Bộ trong cuộc diễn tập ở quân khu Bốn sắp tới. Phòng Chính trị thì lo công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng, đảm bảo cho bộ đội luôn có ý chí chiến đấu cao trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Bên hậu cần, kỹ thuật cũng khá nặng việc vì phải tính toán bảo đảm cho ba tiểu đoàn hành quân hàng nghìn ki- lô- mét và chiến đấu dài ngày trong chiến trường.

Kết thúc đợt thi đua, qua sự bình chọn của các trung đoàn và kết quả theo dõi của cơ quan Bộ tư lệnh Hội đồng thi đua Binh chủng đã chọn ra được hai đơn vị tiêu biểu nhất để đưa đi đợt này là tiểu đoàn 3 của H02 và Tiểu đoàn 1 của H03. Bộ Tổng Tham mưu cũng đã có văn bản phê chuẩn kế hoạch của Binh chủng.

Cuối tháng Tám thường vụ đảng ủy binh chủng họp để xem xét lần cuối mọi công tác chuẩn bị để đưa các đơn vị đi chiến đấu. Gương mặt ba ủy viên đều tươi roi rói, riêng quyền tư lệnh Đào vẫn giữ vẻ mặt ưu tư, lạnh lùng thường nhật. Mở đầu cuộc họp chính ủy Ngọc tuyên bố:

- Báo cáo các đồng chí! Vừa qua Bộ đã có văn bản trả lời đồng ý với ý định sử dụng xe tăng của ta trong Đông- Xuân này. Kế hoạch bảo đảm của các cơ quan cũng đã được Bộ tư lệnh thông qua. Chúng ta cũng đã kết thúc đợt thi đua đột kích và đã chọn được hai đơn vị xứng đáng nhất đưa vào tham gia chiến đấu cùng với 198 là tiểu đoàn 3 của H02 và tiểu đoàn 1 của H03. Hôm nay thường vụ triệu tập cuộc họp nhằm xem xét lại mọi vấn đề công tác chuẩn bị đưa hai tiểu đoàn này đi chiến đấu. Trước hết đề nghị các đồng chí cho biết còn những khó khăn, trở ngại gì cần phải giải quyết ngay, sau đó ta sẽ bàn cách khắc phục.

Tham mưu trưởng Dương là người mở đầu:

- Thưa các đồng chí! Đây là lần đầu tiên chúng ta đưa xe tăng đi chiến trường với quy mô lớn nhất và cũng là lần đầu tiên nhiều chủng loại xe được đưa đi nhất. Tuy nhiên, với những kinh nghiệm đã tích lũy được trong mấy năm qua công tác chuẩn bị của chúng ta ở cả cơ quan và đơn vị đã được tiến hành khá chu đáo. Theo tôi cái ta cần xem xét lại cho kỹ là vấn đề tổ chức chỉ huy. Phải làm sao cho thật gọn, nhẹ nhưng hiệu quả.

Chính ủy Ngọc nhẹ nhàng:

- Đề nghị anh Dương nói cho cụ thể hơn:

Tham mưu trưởng Dương dường như đã có sự chuẩn bị kỹ từ trước nên ông mở sổ tay ra và tiếp tục một cách lưu loát:

- Theo tôi, rút kinh nghiệm từ chiến dịch Đường Chín- Khe Sanh và các hoạt động bên Lào thời gian vừa qua ta phải có đại diện xe tăng ở bên cạnh sở chỉ huy các cấp. Vì vậy tôi đề nghị ta phải tổ chức một Bộ tư lệnh tiền phương bên cạnh Bộ chỉ huy chiến dịch. Các trung đoàn H02 và H03 cũng phải tổ chức một sở chỉ huy nhẹ đi theo các tiểu đoàn. Tùy theo yêu cầu từng trận đánh sẽ phái cử một tổ đại diện xuống các trung hoặc sư đoàn bộ binh làm tham mưu cho người chỉ huy binh chủng hợp thành. Có như vậy việc sử dụng xe tăng mới đảm bảo hiệu quả.

Quyền tư lệnh Đào lạnh lùng buông một câu:

- Cái này thì rõ rồi. Cứ thế mà làm thôi!

Có vẻ như mọi người đều nhất trí như vậy nhưng không khí cuộc họp vẫn trầm trầm hình như có một cái gì đó khó nói. Cuối cùng chủ nhiệm chính trị Thu đột phá:

- Tôi hoàn toàn nhất trí với đồng chí Dương. Tôi cho rằng việc tổ chức các sở chỉ huy nhẹ hiện tại với các trung đoàn thì không khó khăn lắm nhưng ở Bộ tư lệnh thì lại hơi khó khăn. Cụ thể là đồng chí Đào và đồng chí Dương hiện tại sức khỏe đều chưa được tốt, không bảo đảm để đi chiến trường được...

Quyền tư lệnh Đào tỏ vẻ bực bội:

- Ai bảo anh là tôi sức khỏe kém.

Chủ nhiệm chính trị Thu vẫn giữ ý kiến của mình:

- Xin lỗi anh Đào, tôi nói đúng sự thật khách quan thôi. Anh thì vết thương nặng như thế, nhìn người là biết yếu hay khỏe chứ còn gì nữa. Anh Dương thì rõ rồi, vừa phải trải qua một cuộc đại phẫu, giờ lại đang điều trị theo một chế độ riêng thì làm sao đi chiến trường được. Theo tôi ta nên cử anh Kiệm tham mưu phó đi cũng được, anh ấy cũng đã trải qua thời kỳ chỉ đạo tác chiến bên Lào nên cũng là người có kinh nghiệm. Còn về chính trị xin phép anh Ngọc lần này để tôi đi thay anh, cũng phải có đóng góp một chút chứ.

Quyền tư lệnh Đào vằn con mắt lành lên:

- Vấn đề này không phải bàn bạc lôi thôi gì nữa. Về quân sự thì tôi sẽ đi, còn về chính trị thì tùy các anh, ai đi cũng được.

Thấy tình hình có vẻ căng chính ủy Ngọc dàn hòa:

- Thôi! Các anh đừng tranh luận nữa. Anh Đào ạ! Anh Thu nói cũng có lý đấy! Mà tôi chắc chắn rằng khi báo cáo lên Bộ cũng không thủ trưởng nào đồng ý cho anh và anh Dương đi đâu- Liếc thấy ông Đào vẫn tỏ vẻ bực bội chính ủy Ngọc tươi cười- Thôi được! Vấn đề này ta sẽ báo cáo lên Bộ cả hai phương án, Bộ quyết thế nào ta chấp hành thế đó. Còn đối với các trung đoàn ta sẽ yêu cầu lập danh sách đưa lên đây sớm để ta phê duyệt. Nào, mời các anh xem còn vấn đề gì nữa không?

Tham mưu trưởng Dương giơ tay:

- Tôi xin có ý kiến! Còn một vấn đề nữa là công tác bảo đảm. Rút kinh nghiệm từ việc 198 vào đến trong kia thì không còn khí tài thay thế, đại đội 9 suýt bị liệt tôi đề nghị ta cần chú trọng hơn đến công tác này. Theo tôi ta phải chỉ đạo ngành kỹ thuật tính toán lượng dự trữ cho đầy đủ hơn. Ngay từ bây giờ có thể lót trước trong các kho của 559 các loại khí tài, vật tư hay bị hỏng hóc và các loại dầu mỡ đặc chủng. Đặc biệt là các loại khí tài của T34 vì số xe này đã cũ, lại hay bị hư hỏng. Hết ý kiến!

Chính ủy Ngọc gật đầu:

- Vấn đề này sẽ đưa vào nghị quyết. Tôi đề nghị anh Dương sẽ thay mặt thường vụ làm việc thật cụ thể với bên kỹ thuật- Nhìn một lượt các ủy viên thấy có vẻ như không có ai có ý kiến gì ông tiếp- Có lẽ buổi họp hôm nay ta dừng ở đây. Đề nghị anh Dương làm báo cáo về phương án tổ chức chỉ huy của binh chủng để báo cáo lên Bộ càng sớm càng tốt. Mời các anh nghỉ!

Chợt chủ nhiệm chính trị Thu giơ tay và lên tiếng:

- Xin các anh vài phút nữa! Đề nghị các anh cho ý kiến về việc đặt tên cho hai tiểu đoàn này. Từ mấy năm nay ta đã thành truyền thống các tiểu đoàn đi độc lập đều được đặt tên mới, vì vậy xin ý kiến các anh luôn về tên hai tiểu đoàn này.

Quyền tư lệnh Đào thủng thẳng:

- Thì các ông định thế nào cứ nói ra.

Thấy chính ủy Ngọc cũng nhìn mình như khuyến khích, chủ nhiệm chính trị Thu mạnh dạn:

- Thực ra đây cũng mới là suy nghĩ cá nhân của tôi thôi. Theo kế hoạch thì tiểu đoàn 1 của H03 lên đường vào ngày mồng Hai tháng Chín năm 1970 nên ta lấy tên là 297. Còn tiểu đoàn 3 của H02 lên đường sau một ngày nên lấy tên là 397. Các anh thấy thế có được không?

Tham mưu trưởng Dương gật gù:

- Chính trị các ông lúc nào chả kín kẽ!

Thấy các ủy viên có vẻ đồng ý cả nên chính ủy Ngọc đứng dạy:

- Tôi thấy hai cái tên ấy cũng ý nghĩa đấy. Nếu các đồng chí không ai có ý kiến gì nữa thì xin mời các đồng chí nghỉ.

Đúng ngày Quốc khánh tiểu đoàn 297 làm lễ xuất quân. Một ngày sau tiểu đoàn 397 cũng lên đường. Sau hơn mười ngày hành quân cả hai tiểu đoàn đã có mặt tại nam quân khu Bốn để tham gia diễn tập. Cuộc diễn tập với đề tài “đánh địch đổ bộ đường biển” được tiến hành tại một khu vực có bãi biển tuyệt đẹp, trong đó xe tăng chủ yếu được sử dụng làm lực lượng phản kích đánh địch đột nhập tuyến phòng thủ. Ngay sau khi hoàn thành nhiệm vụ diễn tập hai tiểu đoàn được đưa vào miền tây Quảng Bình, bộ đội được lệnh tuyệt đối giữ bí mật về sự có mặt của xe tăng ở đây.

Mặc dù chưa có văn bản chính thức của Bộ trả lời về việc ai đi, ai ở nhưng thường vụ đảng ủy binh chủng vẫn quyết định cử chủ nhiệm chính trị Thu cùng một số cán bộ cơ quan Bộ tư lệnh vào trước có nhiệm vụ chỉ đạo trực tiếp các đơn vị và tổ chức trinh sát chuẩn bị chiến trường. Tiễn chủ nhiệm chính trị Thu đi quyền tư lệnh Đào vẫn nói chắc như đinh đóng cột:

- Anh cứ vào trước chuẩn bị đi! Ít hôm nữa tôi sẽ vào.

Chủ nhiệm chính trị Thu cũng vui vẻ:

- Tôi cũng rất mong được gặp anh ở trong ấy- Nói thì nói vậy nhưng ông thầm nghĩ: sức khỏe anh ấy thế kia không đời nào Bộ lại đồng ý cho đi chiến trường nên láy lại- Nhưng anh cũng phải chịu khó ăn uống, tẩm bổ đi cho chóng khỏe.

Về phía H02 cũng đã tổ chức một sở chỉ huy nhẹ do trung đoàn phó Lê Quang Sỹ phụ trách. Còn sở chỉ huy nhẹ của H03 do đích thân trung đoàn trưởng Lê Quang Ẩm dẫn đầu. Binh chủng cũng đã đề nghị Bộ có ý kiến với B5 điều đại đội 9 từ A Sầu ra trở về đội hình của tiểu đoàn 198.

Sau khi lùi sâu vào phía nam A Sầu vị trí trú quân của đại đội 9 tương đối ổn định. Mấy cuộc hành quân lấn chiếm A Sầu- A Lưới của Mỹ và quân ngụy Sài Gòn trong mùa mưa 69- 70 đều không đụng đến họ nên lực lượng không bị sứt mẻ gì. Cán bộ, chiến sĩ cũng đã quen với chiến trường nên tổ chức cuộc sống cũng không đến nỗi nào. Tranh thủ thời gian mùa khô họ đã xây dựng được một cơ ngơi khá khang trang: tất cả các hầm xe đều có lán che mưa nắng, hai vệt xích xe được kê cao bằng đá cuội hoặc thân cây. Các hầm người và hầm phục vụ sinh hoạt như hầm họp, hầm bếp đều được củng cố, thành hầm được kè bằng cành cây, có mái che, có ghế ngồi khá đàng hoàng. Xe máy thì thường xuyên được bảo dưỡng nên xe nào xe ấy sạch bong, mỗi tháng nổ máy chống rỉ mười lăm phút nên các thiết bị điện và quang học đều hoạt động tốt. Nhờ tổ chức tốt việc cải thiện nên mặc dù tiêu chuẩn hạn hẹp nhưng chất lượng bữa ăn vẫn được đảm bảo, mỗi bếp còn sấy được vài chục cân măng khô làm thức ăn dự trữ. Sốt rét thì hình như cũng đã quen, sau mùa mưa đầu gần như cả đại đội dính sốt đến nay đã bình phục cả, chỉ còn lác đác vài người. Đại đội cũng thường xuyên tổ chức huấn luyện các khoa mục kỹ chiến thuật binh chủng nên “tay nghề” của các thành viên nay đều rất vững. Nói như Hòa đen thì “mọi thứ đều “tương đối”, chỉ mỗi cái là không biết đến bao giờ mới đánh xuống Huế được thôi”. Mà cũng chẳng hiểu ở đâu ra cái từ “tương đối”, cái gì cũng “tương đối”. Gặp nhau hỏi “có khỏe không?” được trả lời: “tương đối”, “sốt rét có nặng không?” “tương đối”, “cơm ăn có đủ không? “tương đối”, quen cũng vậy mà lạ cũng vậy. Không biết có thật hay không nhưng ai đó kể trong một buổi giao ban khi được yêu cầu báo cáo tình hình, một cán bộ trung đội báo cáo hết sức ngắn gọn: “tình hình trung đội tôi cũng tương đối”...

 

Thời gian này tiểu đoàn trưởng Tân đã được điều sang Lào đảm nhiệm chức vụ trung đoàn phó H02, thay anh làm tiểu đoàn trưởng là đại úy Nguyễn Văn Viên. Đại đội trưởng Nghi cũng đã chuyển công tác khác, về làm đại đội trưởng đại đội 9 là Nguyễn Đức Hiến. Nhã cũng đã được đề bạt lên trung đội trưởng. Còn lái xe Cân đã được “thăng chức” kỹ thuật viên đại đội nhưng vẫn ở cùng xe 567.

Đang là mùa khô nên công tác tiếp vận của 559 tương đối thuận lợi. Nhờ vậy thực phẩm và các loại nhu yếu phẩm không đến nỗi quá thiếu thốn. Mỗi khi rảnh rỗi Hòa đen thường kéo Thắng và mấy cậu tre trẻ nữa ra đường tuyến nhận đồng hương hoặc lặn lội vào bản của đồng bào Pa Cô ở tít sâu trong núi để dân vận. Cũng nhờ đường vận chuyển thông suốt nên anh em trong đại đội đã nhận được những lá thư đầu tiên. Hôm ấy đồng chí giao liên mang đến cho đại đội cả một ba lô thư, anh mệt mỏi phàn nàn nhưng lại cười rõ tươi: “chưa bao giờ một đại đội mà lại lắm thư đến thế!”. Nghe tin có thư cả đại đội ùa đến xúm vào làm chính trị viên Giỏ phải ra tay bắt xếp hàng lần lượt vào nhận. Nhưng vừa mở gói thư được gói kín bằng mấy lần ni- lông ra anh đứng lặng đi, mắt rân rấn nước. Lá thư trên cùng của xấp thư ở mục người nhận được viết bằng thứ chữ rất nắn nót và tô rất đậm: Người nhận Nguyễn Anh Tú, Hòm thư.... Đám đông đang huyên náo trầm hẳn xuống, ai nấy nhận thư xong lẳng lặng đi ra nhường chỗ cho người khác, những lời cười đùa tếu táo bặt hẳn đi, đến như Hòa đen mà cũng im như thóc. Có đến già nửa số thư là thư viết cho họ theo hòm thư cũ ngoài Đường Chín.

Kíp xe 567 hôm nay có bữa đại tiệc thư. Người nhận nhiều thư nhất là Cân, thư của “cậu tú” chủ yếu là thư bạn học. Cái lớp 10A ngày ấy của Cân quá nửa nam giới đi bộ đội, số còn lại hầu hết vào đại học, trung cấp chuyên nghiệp đến nay cũng đã ra trường. Từ khi chia tay nhau mỗi người một ngả họ vẫn thường xuyên viết thư cho nhau. Học giỏi, thơ hay, tính tình lại nhuần nhụy, dễ mến nên Cân được bạn bè cả nam lẫn nữ quý mến. Vì vậy, từ khi còn ở ngoài Bắc bao giờ Cân cũng là người nhận đwọc thư nhiều nhất của đại đội. Hôm nay, ôm cả đống thư về Cân lại chúi đầu vào cái chỗ quen thuộc của mình trong buồng lái, chắc những lá thư đều mang đến nhiều tin thú vị nên “cậu tú” cứ vừa đọc vừa tủm tỉm cười.

Thắng thì nhận được gần chục lá thư, cũng chủ yếu là thư bạn. Cậu cứ bô lô, bô la đọc toáng cả lên. “Có gì mà phải giấu”- Cậu bảo thế. Nhưng thật ra Thắng đã giấu biệt mấy lá thư của bố mẹ gửi vào vì xấu hổ. Trong thư bố mẹ cậu vẫn coi cậu như thằng trẻ con vừa mới nứt mắt ra, lo lắng thì toàn lo chuyện không đâu. Đại loại “cơm không biết nấu lấy gì mà ăn”, hay “không biết khâu vá, quần áo mà rách thì lấy gì mà mặc”...

Nhã nhận được hơn chục lá thư nhưng chỉ của một người gửi: đó là Hiền. Từ chỗ chính trị viên Giỏ về anh lẳng lặng chui vào căn hầm ngủ rồi thắp đèn lên. Xé một loạt phong bì ra Nhã chọn lấy mấy bức thư viết hồi cuối năm 67 đọc trước. Nhưng càng đọc mặt Nhã càng ỉu xìu: vợ chồng anh vẫn chưa có tin vui! Đọc hết một lượt hơn chục lá thư anh quay sang thổi tắt ngọn đèn rồi chắp tay sau gáy nằm thở dài sườn sượt. Tự nhiên, hai dòng nước mắt Nhã ri rỉ chảy ra, anh thầm tự nhủ: “thế này chỉ khổ cho Hiền thôi”.

Chỉ riêng Hòa là nhận được “nhõn” một bức thư của ông chú. Cầm lá thư Nhã đưa cho Hòa chẳng tỏ thái độ gì. Thực ra, đằng sau cái vỏ tếu táo bên ngoài của Hòa là những uẩn khúc không dễ tâm sự cùng ai. Anh em cùng xe ở với Hòa cũng đã lâu chỉ biết đại loại: Hòa mồ côi bố mẹ từ nhỏ nên phải ở với ông bà và các bác, các chú cho đến khi đi bộ đội. Thực ra họ đâu có biết bố Hòa là liệt sỹ thời chống Pháp, hy sinh từ khi Hòa mới lọt lòng. Mẹ Hòa còn trẻ nên sau đó đã gửi con lại cho ông bà nội để đi bước nữa. Suốt những năm thơ ấu lúc còn nhỏ Hòa ở với ông bà, ông bà mất thì ở với các bác, các chú. Vất vả, cơ cực đã đành nhưng Hòa vượt qua một cách khá dễ dàng. Với Hòa có lẽ cái thiếu thốn nhất là tình cảm. Khi còn bé thấy chúng bạn có cha, có mẹ Hòa hận mẹ lắm nhưng càng lớn cậu càng hiểu mẹ và thương mẹ hơn. Chính vì vậy chẳng biết tự bao giờ trong cậu đã dần hình thành một suy nghĩ như một lời nguyền: “sẽ không bao giờ để một người phụ nữ vì mình mà rơi vào hoàn cảnh như mẹ”. Chính lời nguyền đó đã làm trái tim Hòa khép lại trước rất nhiều người bạn gái, trong đó có cả cô gái người Xóm Mới là Thu. Hôm nay cũng vậy, Hòa thờ ơ bóc lá thư đọc lướt qua một lượt. Vẫn chỉ là mấy lời thông báo tình hình ở nhà và dặn dò cháu cẩn thận mà thôi. Hòa đút lá thư vào túi áo rồi ra ngoài xe tếu táo với Thắng.

Những ngày mùa khô vui vẻ, dễ chịu rồi cũng sắp hết. Phía trước họ lại là một mùa mưa. Ở đâu không biết chứ ở chiến trường Tây Thừa Thiên này thì mùa mưa là một thử thách cực kỳ lớn đối với những người lính. Đó là đói. Là rét. Là sốt triền miên. Là mùa “ta thua Mỹ thắng”.vv... và vv...

Nhưng khi những đám mây đen kịt nặng trĩu xuất hiện ngày một nhiều trên bầu trời báo hiệu một mùa mưa khắc nghiệt thì đại đội 9 nhận được lệnh “quay ra đường Chín gấp”. Cả đại đội thở phào nhẹ nhõm, chỉ một ngày sau họ đã lên đường, và chưa đến một tuần sau đại đội 9 đã có mặt tại Bắc đường Chín cùng với người anh em đại đội 3. Mới thế mà đã xa nhau hơn một năm, nay gặp lại nhau mừng vui khôn kể xiết. Niềm vui còn được nhân lên gấp bội khi họ biết được gọi ra đây để chuẩn bị tham gia một chiến dịch “cực kỳ” lớn.

Đúng như dự đoán của ta, cuối năm 1970 một kế hoạch hành quân đánh vào tuyến vận tải chiến lược và triệt phá hệ thống kho tàng của ta đã được Bộ Tham mưu liên quân Hoa Kỳ phối hợp với quân ngụy Sài Gòn điều nghiên và xây dựng. Địa bàn được lựa chọn là quân đoàn 1 và Hạ Lào. Mục tiêu của cuộc hành quân là làm chủ đường Chín từ Đông Hà đến Sê Pôn nhằm mục đích ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc đối với miền Nam và lực lượng cách mạng Lào, Căm Pu Chia. Tất nhiên mục tiêu sâu xa là muốn thay đổi cán cân lực lượng tại miền Nam, đảm bảo cho ngụy quân Sài Gòn có đủ sức mạnh gánh vác trọng trách tiến hành chiến tranh theo lộ trình của chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh đã đề ra.

Tuy nhiên, có một lý do nữa khiến cho Nhà Trắng hết sức quan tâm, hối thúc cuộc hành binh này diễn ra càng sớm càng tốt vì năm 1972 sắp đến là năm bầu cử ở Mỹ. Trong lời hứa khi lên nhậm chức tổng thống Mỹ Ních- xơn đã hứa với các cử tri sẽ sớm kết thúc chiến tranh ở Việt Nam. Nay đã sắp hết nhiệm kỳ thứ nhất, muốn tái cử nhiệm kỳ hai Ních- xơn phải tỏ ra là người biết giữ lời hứa, phải cho cử tri Mỹ thấy tình hình cuộc chiến ở Việt Nam đang rất khả quan, đồng minh đang thắng thế... Một cuộc tiến công qua Lào sẽ làm suy yếu Việt Cộng, làm thay đổi cán cân lực lượng có lợi cho quân đội Sài Gòn và sẽ đảm bảo tiến trình của chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh.

Vì tất cả những lý do về chính trị và quân sự kể trên cuộc hành quân mang tên Lam Sơn 719 đã được tiến hành rất khẩn trương với một lực lượng vô cùng hùng hậu cùng với hỏa lực yểm trợ tối đa của không quân, pháo binh Hoa Kỳ.

Cuộc hành quân được chia thành bốn giai đoạn. Giai đoạn I mang tên Đi- uy- ca- ni- ơn II do các lực lượng quân đoàn XXIV Hoa Kỳ đảm nhiệm, chỉ huy là Thiếu Tướng Su- ther- land, tư lệnh quân đoàn. Mục tiêu của giai đoạn I là giải tỏa quốc lộ Chín từ Đông Hà tới biên giới Việt- Lào tại Lao Bảo, trong đó chủ yếu là tái chiếm Khe Sanh để thiết lập Bộ Chỉ huy tiền phương cho cuộc hành quân và tái thiết phi trường Khe Sanh làm điểm trung chuyển tiếp vận.

Từ giai đoạn II đến giai đoạn IV do quân ngụy Sài Gòn đảm nhiệm và mang tên Lam Sơn 719 và do đích thân trung tướng Hoàng Xuân Lãm, tư lệnh quân đoàn I ngụy trực tiếp chỉ huy. Theo quy ước của quân lực Việt Nam cộng hòa thì Lam Sơn là các cuộc hành quân trên địa bàn quân đoàn I, cũng như Toàn Thắng là của quân đoàn III, Cửu Long của quân đoàn IV... Còn 71 là năm tiến hành, 9 là khu vực tác chiến tại đường Chín. Lực lượng tham gia cuộc hành quân bao gồm: sư đoàn 1 Bộ Binh, sư đoàn Nhảy Dù, sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến. Ngoài ra, còn có liên đoàn 1 Biệt Ðộng Quân, Pháo Binh và Thiết Giáp cơ hữu thuộc Quân Ðoàn 1.

Trong giai đoạn II các lực lượng Việt Nam cộng hòa sẽ tiến quân theo trục lộ Chín đánh chiếm Bản Đông mà trong kế hoạch của chúng có mật danh là A Lưới- một vị trí quan trọng trên đường Chín, cách biên giới Việt Lào chừng 12 ki- lô- mét. Đây chính là nơi giao nhau giữa đường Chín với đường 16A chạy theo hướng Bắc- Nam.

Giai đoạn III của cuộc hành quân sẽ dùng trực thăng đổ bộ quân dù xuống chiếm Sê- Pôn với mật danh trong kế hoạch là A Sầu, một thị trấn thuộc tỉnh Xa- Van- Na- Khét cách biên giới Việt- Lào chừng 42 ki- lô- mét. Đây là nơi giao nhau của nhiều tuyến đường giao thông quan trọng tại lưu vực sông Sê- Pôn và Cửu Long. Trong khi đó quân thiết kỵ vẫn tiếp tục tiến theo đường Chín và sẽ hợp quân cùng quân dù tại Sê- Pôn để đánh phá hệ thống kho tàng cũng như các căn cứ hậu cần của đối phương tại đó.

Giai đoạn IV: sau khi hoàn thành nhiệm vụ tại Sê- Pôn toàn bộ lực lượng sẽ trở về Việt Nam theo hướng Đông- Nam để tiếp tục triệt phá các căn cứ tiếp vận ở thung lũng A Sầu- A Lưới. Dự kiến cuộc hành quân kéo dài trong ba tháng, bắt đầu sau Tết Tân Hợi cho đến đầu tháng Năm, khi mùa mưa đến ở Hạ Lào.

Để thực hiện mục tiêu của cuộc hành quân tướng Hoàng Xuân Lãm đã phê chuẩn kế hoạch sử dụng lực lượng như sau: ngoài lực lượng xung kích tiến chiếm Sê- Pôn theo đường Chín sẽ tổ chức lực lượng án ngữ sườn bắc và lực lượng án ngữ sườn nam.

Lực lượng án ngữ sườn Bắc do liên đoàn 1 Biệt động quân dưới quyền chỉ huy của đại tá Nguyễn Văn Hiệp, gồm các tiểu đoàn 21, 37 và 39 đảm trách, có nhiệm vụ che chở sườn cực Bắc cho lực lượng xung kích. Bộ chỉ huy liên đoàn 1 Biệt động quân đóng tại Phú Lộc cùng với tiểu đoàn 37. Các tiểu đoàn 39 chiếm mục tiêu Biệt Ðộng Quân Bắc và tiểu đoàn 21 chiếm căn cứ Biệt Ðộng Quân Nam tại cực Bắc khu vực hành quân.

Lực lượng án ngữ sườn Nam do sư đoàn 1 Bộ Binh đảm nhiệm dưới quyền chỉ huy của thiếu tướng Phạm Văn Phú, đại tá Vũ Văn Giai làm tư lệnh phó, gồm các trung đoàn 1 và 3, có nhiệm vụ tảo thanh mặt Nam đường số 9 để bảo vệ sườn Nam cho thành phần xung kích.

Lực lượng xung kích gồm toàn bộ sư đoàn Nhảy Dù cùng với lữ đoàn 1 Thiết Kỵ tăng phái. Trung tướng Dư Quốc Ðống, tư lệnh sư đoàn Nhảy Dù chia quân làm 3 thành phần chính sau đây:

Thành phần yểm trợ mặt Bắc do lữ đoàn 3 Dù gồm có các tiểu đoàn 2, 3 và 6 dưới quyền chỉ huy của đại tá Nguyễn Văn Thọ, có nhiệm vụ thiết lập một số căn cứ hỏa lực sát mặt Bắc đường số 9 để yểm trợ cho lực lượng chính. Sau các căn cứ của Biệt động quân xa hơn về phía Bắc, các căn cứ hỏa lực của lữ đoàn Dù 3 là lớp khiên thứ hai che chở sườn Bắc vì dự tính đa số lực lượng đối phương sẽ được điều động tới từ phía này.

Thành phần chính do chiến đoàn 1 Ðặc Nhiệm đảm trách, gồm lữ đoàn 1 Dù và lữ đoàn 1 Thiết Kỵ tăng phái, có nhiệm vụ tiến dọc đường số 9 về hướng Tây để chiếm mục tiêu chính là Sê- Pôn. Lữ đoàn 1 Dù gồm các tiểu đoàn 1, 8 và 9 do đại tá Lê Quang Lưỡng chỉ huy. Lữ đoàn 1 Thiết Kỵ gồm các thiết đoàn 10, 11 và 17 do đại tá Nguyễn Trọng Luật chỉ huy. Cánh quân hỗn hợp Dù và Thiết Giáp này được đặt dưới quyền chỉ huy của đại tá Nguyễn Trọng Luật.

Thành phần trù bị do lữ đoàn 2 Nhảy Dù gồm các tiểu đoàn 5, 7 và 11 do đại tá Trần Quốc Lịch chỉ huy có nhiệm vụ đổ bộ bằng trực thăng vào Sê- Pôn khi Chiến đoàn 1 Ðặc Nhiệm khai thông được đường số 9 và tiến gần tới thị trấn mục tiêu này.

Làm lực lượng trù bị cho cuộc hành quân gồm sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến với các tiểu đoàn Pháo Binh cơ hữu đóng tại Khe Sanh.

Tổng quân số tham gia cuộc hành quân mang tên Lam Sơn 719 này lên tới hơn ba vạn quân chủ lực Sài Gòn cùng với một khối lượng lớn phương tiện chiến tranh: 460 xe tăng, thiết giáp, 250 khẩu pháo, 700 máy bay trong đó có 300 máy bay lên thẳng.

Nhiệm vụ tiếp vận, yểm trợ cho cuộc hành quân vẫn do quân đoàn XXIV Hoa Kỳ đảm nhiệm. Ngoài ra quân đoàn này có nhiệm vụ bảo vệ an toàn đoạn đường Chín trong lãnh thổ Việt Nam. Bên cạnh đó chúng còn huy động thêm lực lượng phản động Lào cùng phối hợp hoạt động.

Ngoài ra, để nghi binh cho cuộc hành quân này chúng còn đẩy mạnh hoạt động tại nam khu phi quân sự. Đồng thời tung một số toán thám báo, biệt kích ra nam quân khu Bốn và điều động một số tàu chiến lảng vảng ngoài khơi phía bắc vĩ tuyến 17 để chi phối sự chú ý của ta.

Với một kế hoạch được tính toán đến từng chi tiết, với một lực lượng tham gia vô cùng hùng hậu, với sự yểm trợ không hạn chế của không quân, pháo binh Mỹ và sự phối hợp tác chiến của quân đội Hoàng gia Lào, Bộ Tham mưu liên quân Hoa Kỳ và Bộ Tổng Tham mưu ngụy quân Sài Gòn hy vọng sẽ cắt đứt hoàn toàn hệ thống đường tiếp vận của ta. Qua đó làm gián đoạn các hoạt động quân sự tại miền Nam trong vòng hai đến ba năm, ít nhất cũng là qua được kỳ bầu cử tổng thống năm 1972 và chứng tỏ cho cử tri Mỹ thấy sự đúng đắn của “học thuyết Ních- xơn”.

Phán đoán được ý đồ của địch ngay từ cuối năm 1970 ta đã có sự chuẩn bị để đối phó. Quyết tâm của ta là: nắm vững thời cơ, tập trung lực lượng kiên quyết tiêu diệt thật nhiều địch, bảo vệ bằng được đường Hồ Chí Minh. Chuẩn bị sẵn sàng để đánh địch trên các hướng: đường Chín, vùng ba biên giới đồng thời có kế hoạch tác chiến bảo vệ nam quân khu Bốn.

Để thực hiện quyết tâm này tháng Mười năm 1970 Bộ Tổng Tư lệnh quyết định thành lập Binh đoàn B70 bao gồm ba sư đoàn bộ binh và một số đơn vị binh chủng làm lực lượng nòng cốt có nhiệm vụ cùng các lực lượng tại chỗ như B4, B5, 559 tiêu diệt địch. Bộ còn thành lập Bộ Tư lệnh tiền phương với mật danh B702 do một Tổng Tham mưu phó làm Tư lệnh và một Phó chủ nhiệm Tổng cục chính trị làm chính ủy để trực tiếp chỉ huy tại mặt trận này.

Lực lượng xe tăng tham gia chiến dịch gồm có tiểu đoàn 198 đã ém sẵn tại Đường Chín từ cuối năm 1967 và các tiểu đoàn 297, 397 vừa được điều vào tham gia diễn tập ở nam quân khu Bốn. Cho đến trước Tết Tân Hợi hai tiểu đoàn này đã tập kết ở Tây Quảng Bình và sẵn sàng chờ lệnh. Bộ tư lệnh thiết giáp đã cử chủ nhiệm chính trị Thu, tham mưu phó Kiệm cùng một số cán bộ vào làm đại diện xe tăng bên cạnh Bộ tư lệnh B702. Bộ tư lệnh chiến dịch chủ trương sử dụng xe tăng tham gia đánh một số trận then chốt ở hướng bắc đường Chín nhằm chặn bước tiến quân địch tại Bản Đông, từ đó đánh bại hoàn toàn cuộc hành quân và hoàn thành thắng lợi toàn bộ chiến dịch.

Để tập trung cho bộ đội chuẩn bị chiến đấu tham mưu phó Kiệm bàn với chủ nhiệm chính trị Thu:

- Sắp Tết đến nơi rồi. Có khi ta phải cho bộ đội ăn Tết trước để đảm bảo sẵn sàng chiến đấu anh ạ!

Nhẩm tính thấy chỉ còn hơn tuần nữa là đến Tết Tân Hợi chủ nhiệm chính trị Thu gật đầu:

- Tôi đồng ý- Ngẫm nghĩ một lát ông tiếp- Ngày kia đã là 23 tháng Chạp, ngày ông Táo lên Trời rồi. Có lẽ ta cho bộ đội ăn Tết luôn vào hôm đó cũng được.

Tham mưu phó Kiệm cười khà khà:

- Hôm nào cũng được nhưng theo tôi phải nhanh nhanh lên. Hôm vừa rồi tôi thấy các cụ bàn bạc căng lắm, có khi nó “chơi” mình vào ngay dịp Tết này đấy!

Trưởng ban tác huấn Phước ngồi bên nói xen vào đầy hoài cảm:

- Thời gian trôi nhanh thật! Ngày ông Táo lên trời năm kìa chính ủy Ngọc và bọn tôi còn ăn Tết với đại đội 3 ở Cha- ki- phìn. Thế mà vèo một cái hôm nay đã lại ở đây rồi.

Chủ nhiệm chính trị Thu thì cười:

- Chắc ông Táo năm nay có khối chuyện để báo cáo Ngọc Hoàng đây.

Cuối cùng thì quyết định cũng nhanh chóng được thông qua: bộ đội sẽ ăn Tết trước vào ngày 23 tháng Chạp. Thật may đang ở gần hậu phương nên cái Tết cũng không đến nỗi quá đạm bạc. Hậu cần mặt trận cấp hàng Tết có đủ măng, miến, kẹo Hải Châu, rượu Lúa Mới, chè Ba Đình. Đặc biệt nhất là có cả thuốc lá Thăng Long bao bạc. Cầm bao thuốc vàng tươi có in hình Cột Cờ Hà Nội lên mân mê, hít hít, ngửi ngửi mãi mà không dám bóc, tham mưu phó Kiệm thì thầm:

- Thuốc này ngoài Hà Nội phải cấp tướng mới có mà hút. Đúng là “tất cả cho tiền tuyến” thật.

Nhưng không chỉ có vậy.

Sáng sớm ngày ông Táo lên trời. Vừa ra khỏi căn lán làm mấy động tác thể dục buổi sáng chủ nhiệm chính trị Thu chợt ngỡ ngàng khi thấy chiếc xe chiếu phim của phòng chính trị binh chủng đang đỗ lù lù gần đó, mấy chiếc võng mắc toòng teng xung quanh vẫn im thin thít như thịt nấu đông. Không tin vào mắt mình ông lại gần nhìn cho rõ hơn. Quái lạ, không thể nhầm được, biển số thế kia, số hiệu đơn vị ghi trên cánh cửa ca- bin thế kia chắc chắn là quân mình rồi. Ông lại gần một cái võng khe khẽ lật tấm đắp phía trên ra. Người nằm trên võng không phải ai xa lạ, đó chính là trợ lý tuyên huấn Nguyễn Hữu, một cánh tay đắc lực của ông. Bình tâm lại một chút ông chợt nhớ ra: cách đây chừng một tuần Bộ tư lệnh có điện vào là sẽ có món ăn tinh thần cho bộ đội đón Tết. Thì ra món ăn tinh thần là đây.

Chắc là đã ngủ được một giấc ngon, lại bị cái lạnh cuối đông trong rừng thấm vào nên Hữu chợt tỉnh giấc. Anh dụi mắt và thốt lên:

- Chào thủ trưởng! Sao thủ trưởng không gọi tôi dạy.

Chủ nhiệm chính trị Thu cười hiền từ:

- Chắc là mệt lắm hả?

Hữu đã tỉnh hẳn:

- Báo cáo thủ trưởng! Cũng không mệt lắm ạ!- Anh đứng hẳn dậy, sửa lại tư thế thật nghiêm trang- Lúc vào đến đây đã quá nửa đêm nên chúng tôi không đánh thức thủ trưởng để báo cáo: Bộ tư lệnh cử chúng tôi vào đây phục vụ bộ đội và thâm nhập thực tế để sáng tác. Ngoài mấy bộ phim mới chúng tôi còn mang theo sách, báo và cả quà Tết của gia đình một số đồng chí nữa ạ.

Chủ nhiệm chính trị Thu mừng rỡ:

- Thế thì hay quá! Mà cũng thật may các cậu đến kịp, chúng tớ quyết định cho bộ đội ăn Tết sớm vào đúng ngày hôm nay đấy. Thế đoàn của các cậu gồm những ai?

Hữu quay lại gọi mấy đồng đội dậy. Từ ba cái võng xung quang ba cái đầu bù xù ngỏng lên. Nhưng vẻ ngái ngủ của họ ngay lập tức biến mất, cả ba đứng bật dậy đứng nghiêm và đồng thanh:

- Chào thủ trưởng ạ!

Chủ nhiệm chính trị Thu tiến lại bắt tay từng người, miệng thì xuýt xoa:

- Chà chà! Lê Trí này, Thiệu này, Toàn này! Phòng ta chuyến này xuất quân đông đảo quá nhỉ!

Hữu đứng nghiêm báo cáo:

- Báo cáo thủ trưởng! Theo chỉ thị của chính ủy Ngọc thì đội chiếu bóng sau khi phục vụ xong sẽ ra trước, còn tôi và họa sĩ Lê Trí sẽ ở lại để thâm nhập thực tế cho đến hết chiến dịch ạ!

Từ trong mấy căn hầm bên cạnh các cán bộ cơ quan tiền phương cũng đã dạy, họ ùa cả ra bên cạnh chiếc xe tay bắt mặt mừng như đã xa nhau từ lâu lắm. Hữu bảo Thiệu:

- Mở cửa xe đưa quà xuống cho các anh ấy!

Cánh cửa hậu chiếc xe được mở ra. Mọi người ngỡ ngàng khi thấy ba sọt bắp cải to đùng nằm choán gần hết chỗ trong thùng xe. Hữu bẽn lẽn phân trần:

- Hôm trước nhận được thư mấy anh em nói trong này chỉ thiếu rau nên đi đường tôi cho mua mấy sọt bắp cải này vào làm quà.

Tham mưu phó Kiệm cất giọng oang oang:

- Cậu này thế mà tâm lý! Thịt thà có đủ cả rồi, chỉ còn thiếu mỗi rau thì lại được tiếp tế thế này thì còn gì bằng.

Hữu cười thật tươi:

- Tôi cũng không nghĩ trong này lại thiếu rau đến thế!- Anh ghé tai tham mưu phó nói nhỏ- Thủ trưởng còn có quà riêng của chị nhà nữa đấy!

Quả thật, ba sọt bắp cải cộng với một đống sách báo, thư từ và quà Tết đội chiếu bóng mang vào đã làm cho cái Tết của các đơn vị xe tăng ở chiến trường thêm thi vị biết bao.

Đối với đại đội 9 thì cái Tết này đúng là “thiên đường”. Có gì lạ đâu, suốt từ khi vào chiến trường đến nay đại đội này đã có năm nào được ăn một cái Tết cho ra hồn đâu. Tết Mậu Thân thì náu mình tại Pê Sai, cách địch vẻn vẹn có 6 ki- lô- mét, đón giao thừa trong chập chờn ánh ma trơi của pháo sáng địch. Hai cái Tết vừa rồi thì nằm tít trong thung lũng A Sầu, tiêu chuẩn Tết cũng chẳng hơn ngày thường được bao nhiêu mà suốt ngày nơm nớp đề phòng bọn “kỵ binh bay” đổ bộ lên đầu. Tết này ra đây gần hậu phương lớn, tiêu chuẩn khá phong phú, có quà của Bộ tư lệnh gửi vào, lại được xem phim thì đúng là “lên tiên”. Tất nhiên bom pháo vẫn ùng oàng tứ phía nhưng với cánh lính trẻ đại đội 9 thì thế vẫn còn “xa ruột chán”, xe nào xe ấy ngầm thi đua với nhau chuẩn bị một cái Tết thật “xôm”.

Mặc dù đã được lên chức kỹ thuật viên nhưng với lý do “ở lại kèm cặp thêm cho Thắng” nên Cân vẫn ở cùng xe 567. Còn lý do thực chẳng cần nói ra ai cũng biết là vì anh đã quá gắn bó với cái xe này, với những anh em trong kíp xe này. Cái xe 567 đã trở thành một phần cơ thể của anh; còn Nhã, Hòa, Thắng đã thành ruột thịt của anh. Vì vậy vừa mới ổn định xong chỗ ở, được trên thông báo sẽ cho ăn Tết sớm Cân đã bàn với cả xe:

- Ba năm nay vất vả quá rồi. Tết này ta phải tổ chức một cái Tết thật ra trò nhé! Tớ với Thắng lo về trang trí, còn Hòa phải lo khoản hậu cần, ông Nhã thì tiếp khách, đối ngoại và đi đấu cờ nếu đại đội tổ chức.

Nhã điềm đạm gật đầu:

- Nhất trí thôi! Tuy nhiên tớ phải nhắc cậu một điều thế nào cậu cũng bị đại đội “trưng dụng” nên phải liều liệu mà hướng dẫn cho Thắng kỹ vào.

Đúng như nhận định của Nhã. Ra ngoài này ban chỉ huy cũng muốn tổ chức một cái Tết cho ra trò nên đã đặc trách giao cho Cân phải đảm nhiệm khâu trang trí và lo chương trình đón Tết của cả đại đội. Tuy nhiên Cân đã có một kế hoạch rất tỷ mỷ để Thắng cứ thế mà làm. Cậu bảo Thắng lấy đất đỏ đắp thành hai cái gờ hai bên lối vào hầm rồi lấy búa tạ đầm chặt, sau đó xuống suối đãi lấy một bao tải sỏi trắng rửa sạch đem về. Vãn việc của đại đội về hai anh em mới găm sỏi vào bờ đất thành hai hàng chữ đối nhau: một bên là “ĐÃ RA QUÂN”, bên kia là “LÀ ĐÁNH THẮNG”. Hai đầu hàng chữ là hình hai chiếc xe tăng nhìn chính diện. Những viên sỏi trắng muốt xếp sít vào nhau trên nền đất ba- dan đỏ tươi trông như khảm trai thật nổi bậtChính giữa cửa hầm là một cái cổng chào tết bằng lá song, trên đó là tờ giấy trắng nổi bật hàng chữ “Chúc mừng năm mới” theo kiểu “phăng- tơ- ri” bằng thuốc đỏ. Còn bàn thờ Tổ quốc vẫn đặt trong hầm như mọi năm, Thắng cứ thế mà thực hiện. Năm nay còn có một cái hơn là bộ ấm chén gò bằng ống pháo sáng cũng được đem ra sử dụng. Thắng còn kỳ công luồn rừng kiếm được ít rễ hương bài sấy khô rồi tán ra thành bột vấn vào giấy pơ- luya làm hương, “cho nó có hương vị Tết” như cậu nói.

Khâu trang trí như thế là ổn, còn khoản hậu cần thì hơi khó khăn vì tiêu chuẩn chỉ có thế thôi, có giỏi ngoại giao đến đâu cũng không thêm được một cái kẹo hay điếu thuốc nào. Dân bản thì mới ra chưa có điều kiện tiếp xúc để dân vận. Tuy nhiên đối với Hòa đen thì thế nào cũng có cách giải quyết. Sau một đêm suy nghĩ hôm sau Hòa quyết định mở kho dự trữ xuất ra hai tấm dù pháo sáng trắng muốt và một chiếc chăn “thám báo” mới tinh. Cậu đoán chắc cánh mới vào bên 297, 397 mà nhìn thấy những thứ này thì chỉ có sướng mê tơi và chắc chắn cậu sẽ săn được mấy thứ hàng độc. Quả nhiên như vậy. Kể ra cũng hơi xót ruột nhưng cũng khuân về được nửa cân chè “móc câu” Thái Nguyên chính hiệu, một gói kẹo Hải Châu, một gói bánh bích quy Hương Thảo còn nguyên trong giấy bóng và mấy bao Điện Biên bao bạc. Hòa chắc mẩm: “thế này thì chắc chắn là nhất đại đội rồi”.

Sáng ngày 23 tháng Chạp ban chỉ huy đại đội đi chúc Tết từng xe đồng thời cũng là kiểm tra chấm điểm việc tổ chức ăn Tết ở các trung đội. Trong mùi hương bài ngào ngạt ngồi nhấm nháp chén trà đặc quánh, thưởng thức vị ngọt kẹo Hải Châu và phì phèo điếu Điện Biên thơm lừng rồi ngắm nghía “công trình nghệ thuật” ai cũng tấm tắc kíp xe 567 là “số một”.

Không hiểu có phải là ưu tiên đơn vị vất vả nhất hay không mà ngay chiều hôm ấy đội chiếu bóng của binh chủng đã đến phục vụ đại đội 9. Thật đúng là một ngày hội. Cả đại đội quần áo chỉnh tề chen chúc nhau trong căn hầm thùng đã được che kín bốn phía hau háu nhìn lên màn ảnh như nuốt lấy từng hình ảnh, từng lời thoại. Suốt ba tiếng đồng hồ ngồi một chỗ mà cấm thấy anh nào chạy ra ngoài lấy một phút. Nói gì thì nói, đã hơn ba năm nay họ mới lại được thế này.

Buổi chiếu bóng kết thúc ban chỉ huy mời mấy anh em văn nghệ sĩ ở lại ăn Tết. Gặp được người bấy lâu nay mình vẫn hâm mộ Cân nì nèo bằng được Nguyễn Hữu về thăm xe mình. Khi nhận ra đây chính là tác giả bài báo tường làm “rung động lòng người” bốn năm về trước Hữu vui vẻ nhận lời và kéo cả họa sĩ Trí cùng đi. Rừng chiều cuối đông nhưng không hề ảm đạm mà rộn ràng tiếng hát lời ca và những trò tinh nghịch của cánh lính trẻ.

Đến trước hầm xe 567 cả hai cùng sững lại nhìn. Ánh mắt hai người như bị thôi miên bởi hàng chữ bằng sỏi trắng nổi bật trên nền đất đỏ tươi như son. Đằng sau đó là chiếc xe tăng đường bệ với một ngôi sao đỏ rực trên tháp pháo. Ngay cửa vào hầm là màu xanh tươi mát của chiếc cổng chào bằng lá song. Có vẻ như những người lính của kíp xe này rất biết phối màu- Trí thầm nghĩ vậy. Theo thói quen nghề nghiệp Trí rút luôn cuốn sổ tay và mẩu bút chì bất ly thân ra phác vài nét ký họa. Còn Hữu cũng lặng thinh, trong đầu anh vừa ngân lên một cái gì đó như một tứ thơ nhưng anh còn chưa nắm bắt được. Hai người chỉ chợt bừng tỉnh khi trưởng xe Nhã lên tiếng:

- Mời hai anh vào trong hầm uống nước!

Trí vẫn cố gắng đưa thêm vài nét bút, anh thốt ra một lời khen tự đáy lòng:

- Đẹp lắm! Lạc quan lắm!

Khom người bước vào trong hầm hai anh em lại một lần nữa ngạc nhiên. Một căn hầm chật hẹp dưới bụng xe tăng nhưng thật trang trọng và ấm cúng, bốn vách hầm được quây bằng những tấm tăng, sàn hầm là tấm sạp nằm bằng tre đã lên nước bóng loáng. Đối diện với cửa ra vào là bàn thờ Tổ quốc, trên đó lá cờ đỏ sao vàng và chân dung Bác Hồ được treo ngay ngắn. Ngay bên dưới ảnh Bác là một bóng đèn 0,5 oát hắt ánh sáng ngược lên, cạnh đó một nén hương đang ngun ngún khói tỏa ra một thứ mùi thơm thật dễ chịu. Giữa sạp nằm là một bộ ấm chén bằng nhôm, một đĩa hai ngăn đầy bánh kẹo và một bao thuốc lá. Cân vui vẻ:

- Mời hai anh ngồi lên đây thưởng thức với bọn em một chút hương vị Tết.

Nhã cũng đã ngồi lên sạp, anh niềm nở:

- Các anh thông cảm! Hơi chật chội một tý- Nghiêng cái ca nhôm chắt nước ra chén anh đưa tận tay từng người một- Mời các anh uống nước.

Đón chén nước bỏng rãy từ tay Nhã theo thói quen Hữu đưa lên mũi hít hà, anh tròn mắt:

- Chè Thái hả? Các cậu lấy đâu ra thứ này?

Nhã cười cười:

- Dạ! Bọn em “binh vận” của cánh mới vào đấy mà.

Nhấp một ngụm nước nhỏ Hữu gật gù:

- Chè ngon lắm! Ngay ở ngoài Bắc cũng khó kiếm được loại này- Anh quay sang Cân- Mấy năm nay có sáng tác được nhiều không?

Cân bẽn lẽn:

- Sáng tác gì anh! Toàn bị các ông tướng này bắt làm hộ báo tường thôi.

Hữu quay sang giới thiệu với Trí:

- Ông mới về chưa biết, đây chính là tác giả bài thơ làm “rung động lòng người” năm 66 đấy.

Trí gật gù, là những người làm công tác văn hóa nhưng hình như cả Hữu lẫn Trí hôm nay mới nhận ra vẻ đẹp tâm hồn trong những người lính bình thường, dung dị. Anh lại móc trong túi ngực ra cuốn sổ tay và hý hoáy. Có tiếng người gọi ngoài cửa, chắc là đại đội gọi về ăn cơm. Hữu đưa tay bắt tay Nhã và Cân, anh còn cầm tay Cân mãi:

- Hôm nào đưa cho tớ những sáng tác của cậu tớ sẽ góp ý cho. Còn bây giờ thì tạm biệt nhé. Chúc năm mới sức khỏe, thắng lợi.

Chuyến phục vụ của đội chiếu bóng kéo dài suốt cả tuần cuối năm. Thuyết minh “bất đắc dĩ” Nguyễn Hữu đã khản hết cả cổ vì ngày nào cũng phải kéo cày mấy tiếng đồng hồ với tất cả “hỷ, nộ, ái, ố” trong phim nên ít nói hẳn. Đã thế hôm nay anh bạn cùng trung đội ngày xưa Lê Đức Tuấn lại ngỏ ý mời sau khi chiếu phim xong sẽ ở lại bình thơ cho đại đội nghe. Hữu lo lắm, từ chối thì không nỡ nhưng giọng này mà bình thơ thì không ổn chút nào. Trí cũng đoán được bạn đang lo lắng nên góp ý:

- Ông cứ mở máy như mọi hôm là ông chết đấy! Theo tôi ông phải “tương kế, tựu kế” mới được.

Hữu tò mò:

- Có kế gì thì nói mau xem nào!

Trí thì thào ra vẻ quan trọng:

- Tôi để ý thấy lính nhà mình cũng hay thơ lắm. Vậy tối nay ông cứ khích bọn họ đọc thơ của họ rồi lại khích họ bình thơ của nhau, cuối cùng ông chỉ kết luận vài ý bài này hay ở chỗ nào, dở ở chỗ nào thôi. Như vậy đáng lẽ phải nói hai tiếng ông chỉ phải nói độ mười lăm, hai mươi phút.

Hữu hớn hở:

- Kế này được đấy! Tôi khản cổ gần chết rồi đây này.

Chiếu phim xong Tuấn xin đại đội cho Hữu về liên hoan với xe mình. Gọi là liên hoan cho oai chứ thực ra bao nhiêu tiêu chuẩn Tết cũng đã tiêu thụ hết sạch. Móc từ đáy cóc ba lô ra được một hộp thịt nửa cân Tuấn bảo anh em xào với bắp cải do chính Hữu mang vào và nấu một nồi canh rau tàu bay. Chẳng biết tay nghề của cậu nào mà hơi bị kém, nồi canh nấu quá lửa rau cứ nát nhừ ra như cháo bốc mùi hăng hắc. Nhìn mâm cơm cậu lái xe của Tuấn phàn nàn:

- Anh buồn cười thật! Mời khách về mà lại không bảo gì anh em trong xe. Cơm nước thế này thì xấu cả mặt.

Tuấn hơi ngượng:

- Thì chiến trường mà, có gì dùng nấy- Nhưng rồi anh vung tay- Thôi được rồi! Cậu nào còn món gì dự trữ thì đem ra đây.

Như sau một khẩu lệnh “lên xe chiến đấu”, năm thành viên bật dậy nhảy phắt lên xe. Một lát sau anh nào anh nấy chui ra, trên tay mỗi người là một thứ gì đó: hộp thịt, hộp giò, gói chè, gói kẹo, gương mặt thì tươi như hoa. Hữu ngơ ngẩn ngồi nhìn. Dưới tán rừng xanh ngắt chiếc xe tăng thân thuộc hôm nay sao trông oai hùng quá, ngôi sao trên tháp pháo sao hôm nay đỏ quá- như một ngọn lửa vậy, còn năm chiến sĩ mỗi người một tư thế trên chiếc xe sao trông như một bàn tay đang xòe ra... Cái tứ thơ đã hình thành từ hôm đến với kíp xe 567 lại trở về lơ lửng trong đầu anh. Suốt bữa ăn Hữu cứ miên man với những hình ảnh ấy và hình như anh đã bắt được nó. Bỏ vội bát cơm Hữu lôi cuốn sổ tay ra viết vội như sợ những ý nghĩ sẽ bay khỏi đầu mình:

“Năm anh em trên một chiếc xe tăng

Như năm bông hoa xòe cùng một cội

Như năm ngón tay trên một bàn tay”

Dòng nối dòng, chữ nối chữ như một mạch ngầm tuôn chảy không ngừng. Cả kíp xe của Tuấn nín lặng như sợ làm kinh động người viết. Đôi mắt Hữu như cháy rực lên nhìn ra khoảng trống xanh xao của cánh rừng chiều, anh nhấn mạnh ngọn bút viết những dòng cuối cùng:

“Một con đường đất đỏ như son

Một màu rừng xanh bạt ngàn hy vọng

Một ý chí bay ra đầu ngọn súng

Một niềm tin nghiến nát mọi quân thù”

Hữu buông bút, anh thở ra một hơi thật dài. Ghé mắt vào trang sổ tay lướt qua vài dòng Tuấn thốt lên:

- Hay lắm! Cậu đọc cho anh em xe tớ nghe trước đi!

Hữu mệt mỏi lắc đầu, dường như mọi sức lực của anh đều đã biến đi đâu hết. Anh nói nhỏ:

- Cậu đọc cho anh em nghe đi. Tớ nói không ra hơi nữa rồi.

Thật may, tối hôm đó Hữu không phải bình thơ nữa. Ngay sau bữa cơm chiều ba tiểu đoàn xe tăng nhận lệnh cơ động vào vị trí tập kết. Hôm đó hình như là ba mươi Tết.

Chiếc xe chiếu bóng cũng lên đường về miền Bắc để Hữu và Trí ở lại chiến trường. Hữu được chủ nhiệm Thu phân công đi thâm nhập ở đại đội 9 của 198, còn Trí thì đi với đại đội 7 tiểu đoàn 297.

Nhận được điện báo từ tiền phương về: “các đơn vị đã hành quân vào vị trí tập kết” quyền tư lệnh Đào cũng chuẩn bị khăn gói sẵn sàng lên đường. Hôm 23 tháng Chạp vừa rồi ông đã tranh thủ ghé qua nhà. Bà Hạnh thấy ông về thì mừng lắm vì chắc mẩm mới vừa ốm dậy ông sẽ được nghỉ ở nhà ăn Tết. Thấy thái độ vợ như vậy ông không nỡ thông báo ngay, chỉ bảo lái xe mang ít hàng Tết vào rồi đi đâu đó đến chiều quay lại đón. Buổi trưa ông bảo vợ sắm sửa mâm cỗ cúng ông Công, ông Táo cẩn thận. Bà Hạnh vui lắm vì chưa khi nào ông để ý gì đến tết nhất ở cái nhà này cả. Đợi đến cuối giờ chiều ông mới bảo nhỏ bà:

- Tôi về ăn Tết với bà và các con rồi phải đi công tác ngay.

Bà Hạnh xịu ngay mặt xuống:

- Công tác gì thì cũng phải nghỉ ngơi, tết nhất chứ!

Ông nở một nụ cười hiếm hoi nhưng rồi nghiêm mặt lại ngay:

- Cái bà này hay nhỉ! Còn thằng Mỹ thì đừng nói gì đến chuyện nghỉ ngơi, tết nhất được- Nhưng rồi nhìn nét mặt buồn bã của vợ ông dịu giọng- Thôi, bà ạ! Tôi cũng muốn nghỉ ngơi lắm chứ nhưng anh em ở trong kia đang cần mình vào.

Bà cố giấu giọt nước mắt:

- Thế ông lại đi chiến trường à?

Ông gật đầu cười:

- Bộ đội không ở chiến trường thì ở đâu?

Nhưng rồi mọi công tác chuẩn bị của ông trở nên thừa. Bộ đã có một quyết định bất ngờ: “điều động đại tá Nguyễn Thế Lân, nguyên tư lệnh binh chủng Pháo binh về làm tư lệnh binh chủng Thiết giáp và sẽ vào Bộ tư lệnh tiền phương ngay sau Tết. Đồng chí Vũ Huy Đào tiếp tục giữ chức vụ phó tư lệnh binh chủng”.

Đọc lướt qua tờ quyết định của Bộ gửi xuống quyền tư lệnh Đào bỗng thấy sây xẩm mặt mày, con mắt giả của ông giật giật liên hồi. Cái đầu ông từ ngày bị thương mỗi khi gặp chuyện bất ngờ lại trở chứng như vậy. Ngồi yên lặng mấy phút cho tĩnh tâm trở lại ông chợt thấy một nỗi buồn vô hạn đang từ từ dâng lên trong lòng. Ông không buồn vì từ nay ông không còn được là người đứng đầu binh chủng nữa. Chuyện đó đối với ông là quá bình thường. Kể cả Bộ có quyết định bổ nhiệm bất cứ ai trong số thủ trưởng phòng tham mưu binh chủng lên làm tư lệnh ông cũng không phản đối. Bởi vì ông biết tất cả họ đều được đào tạo chính quy, bài bản từ nước ngoài về xe tăng và đều đã trải qua trận mạc. Mấy năm qua ít nhiều họ cũng đã tích lũy được những kinh nghiệm cần thiết đủ để hoàn thành nhiệm vụ. Đằng này lại đi đưa một người chẳng biết tý gì về chuyên môn tăng thiết giáp về làm người đứng đầu một binh chủng hiện đại và mới mẻ nhất của quân đội thì thật trớ trêu làm sao! Lại đúng vào lúc chiến dịch sắp bắt đầu. Ông ngao ngán than thầm: “thiết giáp hết người rồi sao mà phải làm thế các thủ trưởng ơi!”.

Càng ngồi lâu nỗi buồn càng thấm thía, nó cứ từ từ ngấm dần vào tận từng tế bào trong cái đầu đang nhoi nhói đau của ông. Như thế có nghĩa là mình chưa được cấp trên hoàn toàn tin tưởng. Mà không phải chỉ có mình mình, các anh em khác hay nói rộng ra là cả cái binh chủng này vẫn chưa chiếm được lòng tin của cấp trên chăng? Mà có lẽ thế thật, mới đánh có một hai trận thì chưa nói lên điều gì cả. Chính vì vậy ông rất kỳ vọng vào Đông- Xuân này, đưa ba tiểu đoàn với gần trăm “voi thép” vào trận. Nếu thắng lợi giòn giã có thể sẽ là một cú “hích” để mọi người có dịp nhìn nhận cho chính xác sức mạnh của cái binh chủng còn mới mẻ này. Thế mà nay lại “thay ngựa giữa dòng”. Liệu rồi có nên cơm, nên cháo gì không?

Trời đã ngả về chiều, những cơn gió mùa đông bắc dường như mạnh hơn làm lòng ông thêm tê tái. Cầm tờ quyết định ông cúi đầu bước từng bước dài sang nhà chính ủy Ngọc. Chẳng nói chẳng rằng ông đặt tờ quyết định xuống trước mặt chính ủy Ngọc rồi quay ra ngay mặc cho ông Ngọc nhiệt tình mời vào uống nước.

Hơi ngạc nhiên trước thái độ của người đồng sự, chính ủy Ngọc vội cầm tờ giấy lên. Đọc qua một lần, như chưa tin vào mắt mình ông đọc lại thật chậm một lần nữa rồi buông tờ quyết định xuống. Một cơn gió mạnh ập vào thổi bay tờ giấy vào góc nhà ông cũng mặc mà cứ ngồi bần thần suy nghĩ. Ông đã hiểu ra nguyên nhân dẫn đến chuyện ông Đào có thái độ như vừa rồi: “đúng là anh ấy bị sốc, mà sốc là phải”. Mặc dù không được đào tạo bài bản, chuyên sâu về tăng thiết giáp nhưng về binh chủng này công tác đã bốn năm nay, ông hiểu những yêu cầu cần phải có đối với những cán bộ chỉ huy xe tăng, những cái đó không phải ngày một ngày hai mà có được. Vậy mà cấp trên lại quyết định như thế này! Giá như trên ấy tham khảo ý kiến binh chủng một chút thì tốt hơn biết bao.

 

Quyết định điều động này không chỉ bất ngờ đối với Bộ tư lệnh thiết giáp mà còn bất ngờ với cả đại tá Lân- người được điều động. Nói cho công bằng ông Lân cũng không muốn về Thiết giáp. Gì thì gì chứ đang là tư lệnh một binh chủng có bề dày truyền thống mấy chục năm, đã lập công ngay từ đầu kháng chiến chống Pháp. Lực lượng thì bề thế với hàng chục trung, lữ đoàn rải khắp các mặt trận nay lại phải về nhận công tác ở một binh chủng bé tẹo teo độc có hai trung đoàn. Đã thế lại vừa mới được thành lập chưa được chục năm, kỳ cạch mãi mới tham gia chiến đấu được một hai trận thì chẳng ai muốn. Vì vậy khi được Bộ gọi lên hỏi ý kiến ông đã trả lời một cách khéo léo:

- Báo cáo các đồng chí! Bản thân tôi luôn sẵn sàng nhận mọi nhiệm vụ trên giao. Tuy nhiên cũng đề nghị các đồng chí nghiên cứu lại, giữa thiết giáp với pháo binh có rất nhiều điểm khác biệt. Bản thân tôi lại chưa từng được học tập, nghiên cứu về thiết giáp mà nay về đó công tác chắc sẽ gặp nhiều khó khăn. Vì vậy nếu có thể thì xin Bộ cho tôi tiếp tục công việc của mình. Hoặc nếu không thì có thể cho tôi đi bất cứ chiến trường nào cũng được- Ông nói vậy vì ai cũng biết trước khi về pháo binh ông đã từng là tư lệnh một mặt trận trong chiến trường.

Tuy nhiên, tham khảo cũng chỉ để mà tham khảo. Vị đại diện Bộ Quốc phòng nhỏ nhẹ trả lời ông:

- Chúng tôi cũng biết vậy nhưng đó cũng là điều bình thường. Có ai sinh ra đã biết tất cả mọi thứ đâu. Đồng chí cứ về đó rồi tìm hiểu dần dần. Mà hiện nay thiết giáp đang rất thiếu người. Đồng chí Đào thì bị thương chưa khỏi hẳn. Đồng chí Dương tham mưu trưởng cũng vừa mới ra viện sau khi cắt túi mật. Tiền phương trong kia phải giao cho chủ nhiệm chính trị và tham mưu phó cáng đáng. Vì vậy Bộ mới quyết định điều đồng chí về đấy chứ.

Ông Lân hơi ngao ngán: chiến dịch nổ ra đến nơi rồi, chắc chắn về một cái là ông sẽ vào chiến trường ngay thì tìm hiểu với học hỏi cái nỗi gì. Nhưng phẩm chất người lính được tôi luyện suốt hơn hai chục năm đã giục ông trả lời rất cứng cỏi:

- Nếu Bộ đã quyết định như vậy thì tôi xin chấp hành- Nhận thấy không khí có gì đó hơi căng thẳng ông pha trò- Cảm ơn các thủ trưởng đã cho tôi cái vinh dự này: ở đời mấy ai mà được làm tư lệnh hai binh chủng hiện đại của quân đội là pháo binh và thiết giáp như tôi.

Câu pha trò có hiệu quả tức thì, một vị tướng đến gần ông vỗ vai vừa cười vừa nói:

- Khá lắm! Mà xe tăng thì cũng là khẩu pháo đặt trên cái xe xích thôi chứ có gì đâu, phải không?

Ông cũng đành phải cười trừ công nhận:

- Vâng ạ!

Nói thì nói vậy nhưng trong lòng ông cũng không thấy vui vẻ gì. Ngoài cái chuyện chuyên môn ông biết chắc chắn rằng việc mình về đấy sẽ làm mếch lòng những cán bộ chỉ huy đương nhiệm của thiết giáp. Dù sao người ta cũng đã đóng góp công lao xây dựng binh chủng từ ngày thành lập đến nay, giờ mình lại từ đâu đó “nhảy dù” về thì cũng khó coi thật. Nhưng mệnh lệnh vẫn là mệnh lệnh và dù muốn hay không ông vẫn phải về đó.

ài cuốn để đầu giường ngủ... Số sách này phần lớn là do ông sưu tầm, cóp nhặt suốt mấy chục năm qua, đặc biệt là trong các cuộc đi học nước ngoài và những lần làm việc với chuyên gia bạn. Ngoài ra là sách mua, sách xin bạn bè, đồng đội và s
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Nguyễn Khắc Nguyệt

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.