Bão Thép

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 27 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 35

❊ ❊ ❊

Chuyến công tác của phó tư lệnh Kiệm và đoàn cán bộ, nhân viên kỹ thuật của binh chủng Thiết giáp cho đến lúc này là khá suôn sẻ và thực hiện đúng kế hoạch. Chỉ sau hai ngày đêm, đoàn đã đến địa điểm của lữ đoàn H03 ở Quảng Trị. Dẫu đã có hơn một năm yên tiếng súng nhưng dấu tích những trận đánh ác liệt vẫn còn như nguyên vẹn. Bên những hố bom, hố pháo doanh trại, lán xe của H03 đã được dựng lên khá khang trang, có đủ hội trường, bệnh xá, chiêu đãi sở. Phong trào tăng gia sản xuất được đẩy mạnh, bữa ăn của bộ đội được cải thiện đáng kể đã làm tăng quan số khỏe lên hơn 90 phần trăm. Một cứ điểm gần như còn nguyên vẹn của chi khu Cam Lộ được anh em sử dụng làm thao trường huấn luyện chiến thuật. Nề nếp sinh hoạt, học tập đã mang dáng dấp của một đơn vị chính quy như hồi còn ở miền Bắc. Nói cho công bằng, phó tư lệnh Kiệm rất hài lòng về công tác quản lý và tổ chức huấn luyện bộ đội ở đây. Sau mấy ngày làm việc và đi khảo sát chung tình hình khu vực Kiệm đã đề nghị với Bộ tư lệnh binh đoàn cho H03 sử dụng thêm một phần khu căn cứ sư đoàn 3 ngụy ở Ái Tử làm thêm một thao trường nữa. Với hệ thống đường sá, kho tàng, công trình xây dựng và hàng rào vật cản gần như còn nguyên vẹn khu vực này rất phù hợp cho nội dung huấn luyện tiến công địch phòng ngự ở thành phố, thị xã mà đoàn của anh đưa vào để tập huấn cho đơn vị.

Kết thúc thời gian làm việc ở H03 đoàn của Kiệm đến tiểu đoàn xe tăng trực thuộc sư đoàn bộ binh C68 ở cao nguyên Xa- ra- van và trung đoàn N74. Nơi nửa tháng, nơi một tuần nên mãi đến đầu tháng 12 đoàn các anh mới tới trung đoàn H73. Được trở lại chiến trường quen thuộc từ hồi đánh Pháp và cũng là nơi mấy năm trước chính mình đã có mặt để chuẩn bị đưa xe tăng vào Kiệm vui lắm. Dọc đường đi Kiệm nói luôn mồm. Không hẳn vì anh vui chuyện mà còn muốn giới thiệu cho các sĩ quan đi cùng về địa hình, khí hậu, thời tiết và những đặc điểm khác của Tây Nguyên. Đối với những sĩ quan mới lần đầu được đặt chân đến vùng đất này như Ngô, Lê và Nguyễn Hữu thì những câu chuyện dọc đường này thật sự bổ ích. Các anh vừa say sưa ngắm nhìn những cao nguyên trải dài, những đỉnh núi cao chót vót, những cánh rừng nguyên sinh xanh um vừa lắng nghe như nuốt từng lời của vị phó tư lệnh đã nhiều năm gắn bó với chiến trường này.

Vào đến H73, chỉ sau một ngày nghỉ ngơi đoàn công tác đã ai vào việc nấy. Một lớp tập huấn cán bộ được tổ chức cấp tốc để các sĩ quan tham mưu giới thiệu những vấn đề mới về chiến thuật. Còn bộ phận thợ kỹ thuật thì bắt tay ngay vào khảo sát và sửa chữa trang bị. Cũng như ở các đơn vị các anh đã đi qua, xe pháo của H73 về cơ bản đã khắc phục được những hư hỏng thông thường, còn những hư hỏng mà đơn vị bó tay chủ yếu là các thiết bị điện và hệ thống thông tin liên lạc. Một tháng qua đi nhanh chóng. Những ngày cuối năm 1974, Kiệm quyết định đưa đoàn công tác của mình rời Tây Nguyên vào B2.

Có vẻ như sức mạnh của không lực Việt Nam cộng hòa đã giảm sút đáng kể sau hai năm quan thày về nước nên không còn đủ sức vươn xa lên kiểm soát các tuyến đường mòn Hồ Chí Minh nữa thì phải. Cũng có thể là do lực lượng phòng không của ta đã được đưa vào sâu hơn nên lũ “lính nhà trời” Sài Gòn kiềng mặt. Vì vậy, trên bầu trời không còn cảnh những chiếc L19 hay OV10 tự do bay lượn, nhòm ngó như trước kia. Các phương tiện vận tải của ta vô tư chạy ban ngày, chỉ khi đi sâu vào gần đến căn cứ Bộ tư lệnh Miền mới phải thực hiện các biện pháp nguỵ trang cẩn thận hơn.

Đang là mùa khô. Những con đường cao nguyên bị hàng vạn, hàng vạn lượt bánh xe lăn qua nghiền thành bột và cứ mỗi chiếc xe qua nó lại cuốn lên thành một đám mây bụi khổng lồ dài vài trăm mét. Ngồi trên xe ai cũng sù sụ một cái khăn mặt dạ dày bò thấm nước quấn ngang mặt để chống bụi mà khi nghỉ giải lao khạc ra vẫn thấy một bãi đờm đỏ khé. Trên những đoạn đường như vậy thì cái máu hay chuyện của phó tư lệnh Kiệm cũng không còn phát huy được nữa. Cũng như các thành viên trong đoàn anh đang phải vất vả chống cự lại những cái xóc kinh người và đám bụi khổng lồ đang trùm lên cả đoàn xe. Cũng còn may là xe đi đầu nên chiếc xe của Kiệm còn đỡ chứ ba xe đi sau thì đúng là một cực hình.

Rời khỏi H73 đã được hai ngày, bây giờ đoàn xe đang chạy trên một cao nguyên trống trải ở vùng ba biên giới. Theo tính toán của Kiệm thì chỉ không đến hai ngày nữa đoàn của mình sẽ vào tới căn cứ của đoàn M26. Trời vẫn xanh trong không một gợn mây. Cỏ cây hai bên đường thì bạc phếch một màu vì bụi. Phía trước là một ngã ba, lái xe Chiến giảm tốc độ, cậu ta nghiêng ngó như muốn xác định xem mình sẽ đi theo đường nào. Ngay cạnh ngã ba là một tấm bảng gỗ cũng bạc phếch vì bụi, trên đó là mấy dòng chữ nguệch ngoạc chắc là viết bằng than. Liếc qua tấm bản đồ trên tay Kiệm hất cằm:

- Cứ đi thẳng!

Chợt trợ lý Lê vỗ vai Kiệm và chỉ vào tấm bảng gỗ bên trái đường:

- Anh Kiệm! Hình như trên cái bảng kia có tên anh kìa.

Kiệm ngơ ngác một chút nhưng rồi cũng bảo Chiến:

- Dừng lại! Đâu? Bảng đâu?

Chiếc xe vừa dừng lại là luồng bụi phía sau trùm lên ngay. Phải mất vài phút mọi người mới nhìn rõ tấm biển. Trên nền gỗ trắng bạc bây giờ hiển hiện dòng chữ: “Bộ tư lệnh B3 cần gặp anh Kiệm Thiết giáp gấp. Đi theo mũi tên chỉ”. Chữ Kiệm to hơn hẳn các chữ khác và được tô đậm, nổi bật hơn hẳn các chữ khác nên Lê đã kịp đọc.

Lột cái khăn lau qua đám bụi trên mặt, Kiệm càu nhàu:

- Sao mấy bố B3 lại biết mình sẽ đi qua đây là mà cắm biển thế này nhỉ?

Ngô bàn góp:

- Chắc anh em dưới H73 báo cáo lên. Nhưng tôi đoán chắc có việc gì đó cần thiết lắm nên Bộ tư lệnh B3 mới làm thế này.

Ba chiếc xe đi phía sau cũng đã dồn lên và dừng lại ngay phía sau xe Kiệm. Mọi người dồn lên túm tụm nhìn tấm biển rồi bàn ra, tán vào. Chủ nhiệm hậu cần Quýt đùa:

- Chắc phó tư lệnh có ông bạn nào ở Bộ tư lệnh B3 muốn chiêu đãi đây mà.

Mọi người cười ồ cả lên. Kiệm nhăn trán suy nghĩ rồi nói:

- Chắc chắn là các anh ấy cần gặp mình rồi. Mà mình đã nhận được tin nhắn thế này thì chắc chắn sẽ phải vào. Nhưng…- anh bỏ lửng câu nói.

Đại diện cơ quan chính trị Nguyễn Tặng tham gia:

- Chắc anh phân vân chỉ mình anh vào thôi hay cả đoàn chứ gì.

Kiệm gật đầu:

- Đúng vậy! Mình thì nhất định phải vào rồi. Nhưng đoàn ta lại còn nhiệm vụ phía trước ở trong B2. Nếu sa lầy ở đây sợ rằng sẽ bị chậm so với kế hoạch.

Chủ nhiệm kỹ thuật Hổ tham gia:

- Theo tôi ta cứ vào cả đấy để xem tình hình thế nào. Nếu anh Kiệm phải ở lại lâu thì chúng tôi lại quay ra để vào B2 trước. Còn nếu chỉ một, hai ngày thì ta đợi đi cùng cũng được. Tiện thể cho anh em nghỉ ngơi tắm giặt một tý chứ hai ngày nay ngập trong bụi rồi. Khó chịu lắm.

Kiệm gật đầu dứt khoát:

- Tôi thống nhất thế này nhé: bây giờ ta cứ vào cả đoàn. Khi đến gần khu vực cơ quan ba xe các anh cứ dạt vào rừng cho anh em nghỉ ngơi, tắm giặt đi. Sau khi tôi vào gặp các anh ấy ta sẽ quyết định tiếp.

Mọi người lục tục về xe. Cả đoàn xe rẽ trái nhằm hướng dãy núi xanh rì phía trước. Càng đi xa đường tuyến cây cối càng rậm rạp và đỡ bụi hơn hẳn.

Không còn phải quấn khăn chống bụi nữa nhưng từ lúc đó Kiệm cứ im như thóc trái hẳn với bản tính của anh. Thực ra, trong đầu Kiệm suy nghĩ rất lung. Không hiểu có chuyện gì quan trọng mà Bộ tư lệnh B3 lại muốn gặp mình như vậy. Không lẽ trong thời gian công tác ở H73 đoàn mình có vấn đề gì sơ xuất. Chắc chắn là không. Kế hoạch công tác được thực hiện đầy đủ. Mọi yêu cầu sửa chữa của H73 đã được đáp ứng, số đầu xe chiến đấu được nâng lên đáng kể. Hay là Bộ có nhiệm vụ gì đột xuất giao cho mình. Chắc cũng không phải. Đoàn có mang theo đài 15 oát, ngày nào cũng làm việc với Bộ tư lệnh cơ mà, có việc gì thông qua Bộ tư lệnh Thiếp giáp truyền đạt được ngay. Vậy thì chỉ còn chuyện nhiệm vụ của xe tăng trong thời gian sắp tới. Anh chợt nhớ đến cuộc gặp Tổng Tham mưu trưởng trước khi đi công tác, đồng chí đã dặn đại ý “Cố gắng làm cho tốt, Đông Xuân này ta làm ăn lớn đấy”. Vậy thì chỉ còn việc đó thôi.

Đúng như vậy. Vừa gặp nhau, sau vài câu chào hỏi Tư lệnh B3 đã cho Kiệm biết cơ quan tham mưu của B3 đang có cuộc hội nghị triển khai kế hoạch chiến đấu Đông Xuân 1975 theo chỉ thị của Bộ. Hội nghị đang thảo luận và có nhiều ý kiến khác nhau. Khi nghe H73 báo cáo đoàn công tác của Binh chủng đã rời đơn vị và đang trên đường vào B2 nên muốn mời phó tư lệnh Thiết giáp vào để tham khảo ý kiến. Nghe thủng câu chuyện, Kiệm ngần ngừ:

- Thú thực với anh, tôi thì không ngại gì. Tuy nhiên, thiết giáp chúng tôi cũng đã có đại diện ở đây rồi. Đó là những anh em đã công tác ở trong này lâu năm và rất có kinh nghiệm về sử dụng xe tăng, có gì anh cứ yêu cầu anh em người ta đề đạt. Còn tôi chỉ là người đi công tác qua, đã nắm được tình hình gì đâu mà tham gia ý kiến. Vả lại, chúng tôi còn có nhiệm vụ ở B2 nên không thể nấn án ở đây lâu được.

Tư lệnh B3 ôn tồn:

- Không phải là tôi không tin anh em cơ quan binh chủng ở đây. Vừa rồi các anh ấy đã tham mưu cho chúng tôi sử dụng xe tăng đánh một số trận ở Chư Nghé, Đắc Pét giành thắng lợi rất hiệu quả. Tuy nhiên, nhiệm vụ lần này có khác. Nặng nề hơn rất nhiều và quy mô cũng lớn hơn rất nhiều nên muốn tham khảo ý kiến của các anh. Còn thời gian thì cũng không dám giữ các anh lại lâu, chỉ một, hai ngày thôi mà.

Nghe đến đánh lớn hơn máu trong người Kiệm như sôi lên, anh tỏ ra quan tâm:

- Anh cho biết cụ thể hơn xem nào?

Tư lệnh B3 hạ giọng vẻ bí mật:

- Thế này anh ạ! Khi nhận nhiệm vụ tác chiến Đông Xuân 75 này, căn cứ vào thực lực của mình chúng tôi xác định sẽ tiến hành một số chiến dịch cấp sư đoàn tăng cường nhằm vào một số mục tiêu như Gia Nghĩa, Đức Lập là vừa. Suốt hàng tháng nay cán bộ các cấp đã đi chuẩn bị chiến trường theo hướng ấy. Thế rồi, đùng một cái ngoài Bộ điện vào chỉ thị cần nghiên cứu thêm mục tiêu Buôn Ma Thuột. Mà Buôn Ma Thuột nó to lắm, anh ạ. Nếu Gia Nghĩa, Đức Lập là con nai con hoẵng thì Buôn Ma Thuột nó phải là con voi, nó là thủ phủ hậu phương của quân khu Hai này mà. Muốn động được vào nó chắc phải dồn lực cả B3 này, trong đó xe tăng các anh có khi phải dùng đến quy mô trung đoàn. Vì vậy, chúng tôi phải tổ chức hội nghị này để mở rộng dân chủ tìm biện pháp thực hiện nhưng cũng đang bí- Nhìn thẳng vào mắt Kiệm, anh cười thân mật- Anh ở ngoài đó, gần mặt trời hơn nên anh em chúng tôi cũng muốn tham khảo ý kiến. Vậy thôi! Anh cố gắng ở lại nhé!

Thấy Tư lệnh B3 đã nói đến mức như vậy nên Kiệm đành gật đầu:

- Thế cũng được! Vậy để tôi phổ biến tình hình cho anh em trong đoàn rồi sẽ vào tham gia họp với các anh.

Sau khi giao nhiệm vụ cho anh em trong đoàn tổ chức nghỉ ngơi và bảo dưỡng xe cộ, khí tài Kiệm quay ngay vào phòng họp. Cuộc họp có mặt đầy đủ các cán bộ chủ chốt của cơ quan tham mưu B3 và đã tiến hành được hai ngày. Sau một buổi ngồi nghe Kiệm nhận thấy ý kiến các cán bộ đang hình thành hai phe. Một phe kiến nghị với Bộ tiếp tục cho B3 mở các chiến dịch tiến công Gia Nghĩa, Đức Lập. Lý do mà phe này đưa ra là khả năng của mặt trận chỉ đủ sức đánh những mục tiêu như vậy là vừa tầm. Vả lại, toàn mặt trận đã nghiên cứu chuẩn bị chiến trường ở các khu vực này khá kỹ rồi. Nếu chuyển sang tiến công Buôn Ma Thuột sẽ phải đi chuẩn bị chiến trường lại. Ngoài ra, để cơ động lực lượng vào đánh Buôn Ma Thuột sẽ rất khó khăn. Phe thứ hai thì thống nhất với chỉ đạo của Bộ. Biết là khó khăn đấy nhưng chắc chắn với tầm nhìn của trên thì phải có một lý do gì đó mới chỉ định mục tiêu như thế chứ. Hơn nữa, phải đánh những mục tiêu lớn như Buôn- Ma- Thuột thì mới tạo được sự đột biến trên chiến trường chứ cứ “mần ba cái vụ lẻ tẻ” như cũ thì lại “vẫn đâu đóng đấy” thôi. Vấn đề đặt ra bây giờ là tìm biện pháp để thực hiện mà thôi. Sau gần hai ngày thảo luận thì phe thứ nhất có vẻ như đang chiếm ưu thế.

Ngồi nghe thảo luận, Kiệm thấy hơi buồn vì anh nhận thấy tầm nhìn của các cán bộ ở đây vẫn có phần chưa được cập nhật. Không phải ngẫu nhiên mà trên Bộ lại đưa ra một quyết định như vậy. Rõ ràng là với cách bố trí lực lượng “nhẹ ở giữa, nặng hai đầu” của địch thì chắc chắn Đông Xuân năm nay ta sẽ nhằm vào Tây Nguyên để đánh trận mở màn. Mà đã là trận mở màn thì chí ít cũng phải một thị xã lớn như Pley Cu, Kon Tum hoặc Buôn Ma Thuột mới tạo nên được một hiệu ứng nào đó chứ mấy cái thị xã nhỏ như Gia Nghĩa, Đức Lập thì cũng lại chỉ như mọi năm mà thôi. Trong khi đó, ngay tại Tây Nguyên này địch cũng đang rất chú trọng phòng thủ phía bắc mà trọng điểm là Kon Tum, Pley Cu, còn ở phía nam lực lượng bố trí khá mỏng. Thế mà lực lượng của B3 so với mấy năm trước đã lớn mạnh hơn rất nhiều. Trong tay Bộ tư lệnh có đến 3 sư đoàn bộ binh, hai trung đoàn pháo, hai trung đoàn phòng không, một trung đoàn xe tăng và một số đơn vị trực thuộc khác. Vì vậy, nếu chỉ so sánh đơn thuần về lực lượng ta hoàn toàn có đủ sức để đánh Buôn Ma Thuột. Tất nhiên sẽ có nhiều khó khăn, nhất là về cơ động lực lượng. Nhưng khó khăn nào mà chả có giải pháp.

Cuối buổi chiều, khi thấy mọi người thảo luận đã khá nhiều mà chưa đi đến thống nhất, Tư lệnh B3 đứng dạy:

- Báo cáo các đồng chí! Chúng ta thảo luận cũng đã nhiều nhưng chưa đi đến nhất trí quan điểm được. Bây giờ, xin mời đồng chí Lê Xuân Kiệm, phó tư lệnh binh chủng Thiết giáp có ý kiến với hội nghị- Ông cười hóm hỉnh- Xin nói thêm là đồng chí Kiệm chỉ đi công tác qua đây thôi. Nhưng trước khi đi vào đây, đồng chí đã được gặp và trực tiếp nhận nhiệm vụ từ đồng chí Tổng tham mưu trưởng nên chúng tôi đã mời đồng chí tham dự với hội nghị chúng ta. Xin mời anh Kiệm!

Kiệm đứng dạy từ tốn:

- Thưa toàn thể các đồng chí! Được sự đồng ý của các đồng chí trong Bộ tư lệnh tôi xin phép được tham gia một số ý kiến mang tính chất cá nhận thôi ạ. Trước hết, theo tôi cả hai nhóm ý kiến của các đồng chí đều có cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn. Tuy nhiên, tôi cho rằng không phải ngẫu nhiên mà cấp trên lại chỉ thị cho chúng ta nghiên cứu mục tiêu Buôn Ma Thuột. Chắc chắn rằng phải có một lý do nào đó rất quan trọng, rất cần thiết tập thể Bộ Chính trị, tập thể Quân ủy trung ương mới đi đến quyết định đó. Vì vậy, theo tôi chúng ta không nên bàn cãi là có nên đánh hay không mà nên tập trung vào tìm biện pháp thực hiện là hơn. Còn theo nhận định của tôi đây không phải là một nhiệm vụ bất khả thi. Với cách bố trí nhẹ ở giữa, nặng ở hai đầu thì quân địch trên chiến trường này đang tập trung ở hướng Kon Tum, Pley Cu. Vì vậy, mặc dù là thủ phủ hậu phương của Tây Nguyên nhưng lực lượng địch phòng ngự ở đây cũng không quá mạnh. Trong khi đó lực lượng của B3 mấy năm qua đã lớn mạnh lên rất nhiều. Chúng ta lại có một thời gian dài chuẩn bị, huấn luyện, diễn tập… nên tôi cho rằng chúng ta hoàn toàn có thể tiến công Buôn Ma Thuột thành công bằng một chiến dịch hợp đồng binh chủng quy mô lớn- Sau khi phân tích thêm một số thuận lợi, khó khăn Kiệm nhấn mạnh- Theo tôi, để chiến dịch thành công chúng ta nên tiến hành theo hai bước. Bước một, sử dụng khoảng một sư bộ binh tăng cường tiến công tiêu diệt Đức Lập. Sở dĩ phải diệt “thằng” này trước bởi vì diệt được nó ta sẽ cơ động lực lượng thuận lợi hơn. Mặt khác, nó ở cách Buôn Ma Thuột có 14 ki- lô- mét. Nếu không diệt nó trước nó sẽ có thể ứng cứu rất đắc lực cho Buôn Ma Thuột khi bị tiến công. Ngay sau khi diệt được Đức Lập ta sẽ nhanh chóng đưa lực lượng áp sát Buôn Ma Thuột và đồng loạt nổ súng tiến công các mục tiêu trong thị xã bằng hợp đồng binh chủng. Riêng về xe tăng, theo tôi cần phải sử dụng tập trung cả trung đoàn H73 cho chiến dịch này- Nhìn quanh một vòng Kiệm hạ giọng- Tuy nhiên, trên đây cũng chỉ là ý kiến cá nhân của tôi. Còn việc quyết định thế nào thì xin mời các đồng chí tiếp tục thảo luận. Hết ý kiến!

Ngồi nán lại nghe thêm một vài ý kiến nữa Kiệm lại gần Tư lệnh B3 xin phép được tiếp tục chuyến công tác. Tư lệnh B3 thân mật:

- Chuyện công tác của anh đã có kế hoạch rồi, tôi không dám giữ. Nhưng cũng rất mong anh hoàn thành nhanh và quay ra đây với chúng tôi. Tôi tin rằng Tây Nguyên xuân này sẽ có nhiều chuyện lớn đấy- Ông chợt hạ giọng- Cũng xin báo với anh, tôi vừa nhận được điện của trên cho biết trong B2 đã mở chiến dịch Đường 14- Phước Long. Anh vào trong ấy cố gắng đúc kết lấy một ít kinh nghiệm đánh thành phố, thị xã rồi ra giúp chúng tôi nhé.

Kiệm mở to đôi mắt. Thế thì anh càng phải vào trong đó nhanh hơn. Xiết chặt tay người đồng đội, anh gật đầu:

- Hứa với anh, xong việc ở B2 tôi sẽ quay ra ngay.

Về tới đoàn Kiệm không nói cho ai biết chuyện ở B2 đã vào chiến dịch, anh chỉ nhắc ngắn gọn các lái xe thay nhau lái, anh em tranh thủ ngủ để đến B2 càng nhanh càng tốt rồi đưa đồ đoàn lên xe. Chỉ ít phút sau đoàn xe đã quay ra tới đường tuyến tiếp tục cuộc hành trình về phía nam.

Những cánh rừng khộp Tây Nguyên đã lùi dần lại phía sau nhưng những đám bụi đỏ thì còn theo mãi đoàn xe. Cả đoàn, người nào người nấy cuốn chặt cái khăn mặt dạ dày bò vào miệng chống bụi nên câu chuyện không còn sôi nổi như trước nữa. Hay chuyện như Kiệm mà đến lúc này cũng chịu, chỉ thỉnh thoảng pha trò vài câu nhưng cũng chẳng có ai hưởng ứng. Riêng đối với Nguyễn Hữu thì anh lại thấy thích thú sự im lặng này hơn bởi có nhiều thời gian để quan sát và suy ngẫm hơn. Nói cho công bằng, chuyến đi này đối với Hữu thật sự bổ ích và thú vị. Đây là lần đầu tiên Hữu đi xa đến như thế vào chiến trường. Anh đã vượt hàng nghìn cây số trên con đường Trường Sơn huyền thoại. Anh đã được đi qua bao địa danh nổi tiếng một thời. Và điều quan trọng hơn là anh đã gặp nhiều người, rất nhiều người- từ anh lính binh nhì vừa mới chân ướt, chân ráo vào chiến trường cho đến những vị tư lệnh tiếng tăm lừng lẫy. Mỗi con người có một hoàn cảnh riêng, một suy nghĩ riêng nhưng đều lung linh một vẻ đẹp tâm hồn và đều có chung một niềm tin về ngày chiến thắng đang tới rất gần. Những miền đất đã đi qua, những con người đã được gặp cho anh một cái nhìn đày đủ hơn về tầm vóc cuộc kháng chiến này và cũng giúp anh lý giải cái câu hỏi vẫn đau đáu trong lòng về cội nguồn sức mạnh của dân tộc. Những cảm xúc, những tứ thơ bất chợt nảy ra trong đầu được anh ghi kín hàng chục trang sổ tay. Một ý định lúc đầu còn mơ hồ nhưng dần dần rõ nét hơn trong đầu Hữu. Nhất định, sau chuyến đi này anh sẽ phải viết hẳn một trường ca về những người đồng đội của mình. Đúng là chỉ có thể loại này mới chuyển tải hết những gì mà anh và đồng đội anh đã trải qua để đến được ngày chiến thắng.

Còn một lẽ nữa làm Hữu thấy vô cùng hạnh phúc trong chuyến đi này. Đó là bài thơ “Trên một chiếc xe tăng” của anh sau khi được nhạc sĩ Doãn Nho phổ nhạc đã có sức lan tỏa vô cùng rộng lớn. Đi đến đơn vị nào cũng thấy anh em hát. Trước giờ sinh hoạt, hát “Năm anh em trên một chiếc xe tăng”. Giải lao giữa giờ, lại “Năm anh em trên một chiếc xe tăng”. Giao lưu văn nghệ với địa phương “Năm anh em trên một chiếc xe tăng” cũng là bài tủ. Còn hội diễn văn nghệ cấp trung đoàn, như ở H73 vừa rồi cả 3 tiểu đoàn đều có tiết mục này. Tất nhiên ở mỗi đơn vị nó được dàn dựng, biểu diễn theo một phong cách khác nhau. Nói cho công bằng, Hữu rất cảm ơn người nhạc sĩ đã chắp cánh cho lời thơ của anh bay xa và lan rộng đến thế. Cũng vẫn những lời thơ mộc mạc, giản dị như tâm hồn người chiến sĩ giờ đây trở thành những ca từ mượt mà với giai điệu vừa tha thiết, vừa hùng dũng. Ngay bản thân anh là tác giả bài thơ mà còn cảm thấy như nó đã được lột xác. Và điều quan trọng nhất là bài hát được anh em bộ đội rất thích. Không phải chỉ lính xe tăng mà anh còn thấy anh em ở các đơn vị khác cũng hát. Phải chăng sự đồng cảm giữa anh và người nhạc sĩ đã tạo nên một sự thăng hoa để bài hát đi được vào lòng người. Chính vì vậy trong đoàn công tác mọi người cứ đùa “Cậu bây giờ là người nổi tiếng nhất Bộ tư lệnh đấy”. Thực sự thì điều đó không sai.

Hữu bồi hồi nhớ lại hôm anh xuống sinh hoạt cùng tiểu đoàn 1 của Nhã. Trước khi bước vào nội dung chính cả tiểu đoàn đồng ca bài “Năm anh em trên một chiếc xe tăng”. Bài hát vừa dứt thì chính trị viên Cự đứng lên dõng dạc: “Có đồng chí nào biết tác giả bài hát chúng ta vừa hát là ai không?”. Hàng chục cánh tay giơ lên. Cự chỉ định một chiến sĩ trả lời. Cậu ta đứng dạy rành giọt: “Báo cáo, bài hát này do nhạc sĩ Doãn Nho phổ thơ Nguyễn Hữu”. Cự hỏi tiếp: “Thế đồng chí có biết Nguyễn Hữu là ai không?”. Cậu ta lúng túng: “Dạ, chỉ nghe nói đó là một cán bộ của binh chủng ta thôi ạ!”. Hữu chưa biết Cự định làm gì gì anh ta đã tới kéo anh đứng dậy và trịnh trọng: “Vậy thì xin giới thiệu với các đồng chí, người đứng trước mặt các đồng chí đây chính là đồng chí Nguyễn Hữu, trợ lý tuyên huấn của binh chủng ta, tác giả phần lời bài hát “Năm anh em trên một chiếc xe tăng” mà chúng ta vừa hát”. Cự chưa dứt lời thì tiếng vỗ tay đã đồng loạt nổi lên như sấm, có cả tiếng hò reo nữa. Hữu đứng như trời trồng, rồi anh cũng vỗ tay theo như một phản xạ tự nhiên. Có lẽ đó là tràng pháo tay dài nhất mà Hữu đã được chứng kiến.

Ngay khi buổi sinh hoạt kết thúc rất nhiều anh em đã đến gặp anh. Chẳng để làm gì cả, chỉ để hỏi han vài câu hoặc bắt tay anh một cái. Nhưng cũng có người muốn hỏi anh về kinh nghiệm làm thơ. Có chàng còn dúi cho anh mấy bài thơ để xin ý kiến. Xúc động trước những dòng thơ chân chất của những người lính mới quen, Hữu đã đề nghị với đoàn trưởng Kiệm cho anh tranh thủ thời gian mở một lớp bồi dưỡng viết văn tại trung đoàn vào các buổi tối. Và thế là trong gần một tuần liền, những kiến thức anh tiếp thu được hồi ở trường viết văn Nguyễn Du, những kinh nghiệm tự anh chăt lọc được trong quá trình sáng tác đã được dốc ra đến cạn. Nhìn những ánh mắt đầy tin yêu, ngưỡng mộ trong cái lớp học tự phát ấy anh tin rằng những đồng đội của anh nếu không làm ra được những tác phẩm lớn thì ít nhất cũng ghi lại được những cảm xúc chân thực nhất trong cuộc đời mình. Phát huy thắng lợi, vào đến 273 một lớp học tương tự cũng được tổ chức và thu được kết quả ngoài mong đợi. Tiếp xúc với những người lính trẻ tràn đầy sức sống, yêu đời, yêu đất nước, sẵn sàng hiến mình cho Tổ quốc Hữu càng thấy tự hào về đồng đội của mình, về binh chủng của mình. Những ngày đó Hữu lại nhớ nhiều đến Cân, cậu chiến sĩ trẻ của đại đội 9 năm nào. Tập thơ viết tay của Cân gửi anh mang ra Bắc hồi chiến dịch Đường Chín- Nam Lào anh đã chọn được một số bài gửi đăng các báo trung ương và tờ tin của binh chủng. Cuốn sổ đó hiện anh đang giữ và mang theo định bụng sẽ trả lại cho tác giả của nó trong đợt này. Qua Nhã anh được biết hiện Cân đã trở thành chính trị viên một đại đội ở B2. Hữu quyết định trong chuyến vào B2 lần này anh sẽ tìm gặp bằng được người chính trị viên trẻ tuổi đó.

Trời đã sang chiều. Đã thấp thoáng thấy những rừng cao su dăng hàng thẳng tắp của miền Đông. Anh em công binh trực ở một trạm ba- ri- e cho biết chỉ còn chừng 2 tiếng nữa sẽ đến Bù Đốp, hậu cứ của đoàn thiết giáp miền. Nghe được tin này, Hữu như mở cờ trong bụng. Thế là anh sắp được đặt chân đến mảnh đất “miền Đông gian lao và anh dũng”, anh quyết định tối nay sẽ tìm gặp bằng được Cân. Chắc chắn người cán bộ trẻ yêu văn thơ ấy sẽ giúp anh hiểu sâu sắc hơn về những chiến sĩ xe tăng ở chiến trường này.

Hữu không ngờ rằng vào lúc đó Cân đang dán mắt vào kính trưởng xe để chỉ huy cho pháo thủ bắn diệt từng hỏa điểm trong trung tâm hành quân, mục tiêu cuối cùng của tiểu khu Phước Long còn đang ngoan cố chống cự. Lưng áo anh ướt đẫm mồ hôi, còn bụng thì đói cồn cào vì từ sáng tới giờ chỉ mới được lót dạ mấy thanh lương khô bé tẹo. Chiếc xe 475 của anh đang nép sát vào một ngôi nhà hai tầng bên phải đường Trần Hưng Đạo, chốc chốc từ họng khẩu pháo 100 ly của nó lại khạc ra một bụm lửa sáng lòa. Phía sau xe 475 chừng ba chục mét là xe 482, nó cũng đang liên tục bắn vào khu vực mục tiêu để chi viện cho bộ binh mở cửa. Từ phía đó, súng các loại của địch vẫn bắn ra như vãi trấu. Đây đã là trận thứ tư đại đội anh tiến công vào cái thị xã này. Sáng hôm nay, các anh đã chi viện đắc lực cho bộ binh lần lượt đánh chiếm dinh tỉnh trưởng, toà hành chính, trận địa pháo của địch. Bọn tàn quân dồn hết về trung tâm hành quân này và điên cuồng chống cự. Có lẽ chúng đã ở thế “chó cùng dứt giậu” rồi nên ngoan cố đến cùng. Chỉ cần tiêu diệt nốt mục tiêu này nữa là ta đã làm chủ hoàn toàn thị xã. Nhưng nếu không dứt điểm nhanh, để trời tối sập xuống thì chưa biết chuyện gì sẽ xảy ra.

Là tỉnh lỵ của tỉnh Phước Long, cách Sài Gòn chỉ có chưa đầy 100 ki- lô- mét theo đường chim bay nên Phước Long có một tầm quan trọng đặc biệt trong hệ thống phòng thủ vòng ngoài của ngụy quân Sài Gòn. Diện tích thị xã tuy không lớn nhưng địa thế của nó lại khá đặc biệt. Phía bắc và phía đông của nó được dòng sông Bé với hai bờ gần như dựng đứng bao bọc. Chả biết ai là người đầu tiên đã gọi nó là sông Bé nhưng nó chẳng hề nhỏ chút nào, chỗ hẹp nhất cũng đến non trăm mét. Phía tây thì con suối Đắc Gion tuy không rộng nhưng lại rất sâu, hai bên bờ là sình lầy, lau lách rậm như rừng. Thành ra, để tiến công thị xã bằng xe tăng thiết giáp thì chỉ có theo đường liên tỉnh lộ số Hai từ hướng nam và đường 311 từ hướng đông nam lên mà thôi.

Có lẽ địch cũng biết vậy nên chúng đã thiết lập ở đây những vị trí tiền tiêu nhằm bảo vệ an toàn cho thị xã. Án ngữ con đường số Hai là chi khu Phước Bình do một tiểu đoàn bảo an trấn giữ kết hợp với lực lượng dân vệ ấp, xã chốt giữ vòng ngoài. Xác định đây là vị trí tiền tiêu nên hệ thống vật cản, công sự ở chi khu Phước Bình được xây dựng tương đối kiên cố. Ngay trong chi khu có một sân bay với đường băng đủ dài cho các loại máy bay vận tải quân sự hạ cánh. Án ngữ đường 311 bên hướng đông nam là núi Bà Rá cao 736 mét. Giữa một vùng đồi thấp núi Bà Rá cao vọt lên như một đài quan sát thiên nhiên nên có tầm khống chế rất rộng. Trên đỉnh núi có trạm truyền tin và do một đại đội bảo an đóng giữ. Thị xã Phước Long rộng chừng hai ki- lô- mét vuông với khoảng hơn ba vạn dân. Công sở, nhà dân đa số là nhà trệt và một trệt, một lầu xây bằng gạch và xi măng vững chắc. Tiểu khu Phước Long được tổ chức phòng ngự nhiều tầng, có trọng điểm. Vòng ngoài là hệ thống đồn, bốt của bảo an, dân vệ. Bên trong có nhiều cứ điểm quân sự và cơ quan hành chính bố trí xen kẽ nhau. Những mục tiêu quan trọng được bố phòng chu đáo, cẩn mật là trung tâm hành quân, khu hành chính, dinh tỉnh trưởng, sân bay, trận địa pháo, trạm tiếp liệu và trại cảnh sát. Tại cầu Đắc Gion, ngã ba Tư Hiền và các ngã tư đường phố đều bố trí các lô- cốt, công sự chiến đấu. Trên đường liên tỉnh lộ số Hai địch bố trí nhiều vật cản như dây thép gai bùng nhùng hoặc thùng phuy đổ đất xếp ngang đường. Lực lượng địch phòng ngự tại thị xã Phước Long có một tiểu đoàn thuộc trung đoàn 7, sư đoàn 5, bốn tiểu đoàn bảo an, hai đại đội trinh sát và khoảng sáu mươi trung đội dân vệ. Đặc biệt, sau khi ta mở chiến dịch đường 14 tiêu diệt một số chi khu, cứ điểm như Đồng Xoài, Bù Đốp… thì bọn tàn quân dồn cả về đây. Tiểu khu Phước Long, chi khu Phước Bình và cứ điểm Bà Rá tạo thành “thế chân vạc” yểm hộ, hỗ trợ cho nhau rất đắc lực và tạo thành một hệ thống phòng thủ tương đối vững chắc. Tuy nhiên, sau đợt một của chiến dịch Phước Long đã bị cô lập gần như hoàn toàn nên tâm lý bọn ngụy quân, ngụy quyền ở đây cũng hết sức hoang mang, lo sợ.

Rạng sáng 31 tháng Mười Hai chiến dịch bắt đầu nổ súng tiến công chi khu Phước Bình. Địch phản kích quyết liệt đồng thời đưa một tiểu đoàn từ tiểu khu Phước Long tới đánh vào sườn quân ta nên sau gần một ngày chiến đấu nhưng bộ binh không giải quyết dứt điểm được. Đến 13 giờ, Bộ tư lệnh chiến dịch quyết định đưa xe tăng vào chiến đấu. Đại đội Tăng 1 của Cân lúc đó đang nằm ở sở cao su Phước Bình. Nhận được lệnh, đại đội trưởng Sáu Thanh chỉ huy thê đội Một lập tức xuất phát. Chưa ra khỏi rừng cao su, một xe đã bị hỏng cơ cấu hướng vì nòng pháo vướng vào cây. Sáu Thanh chửi bới ỏm tỏi lên nhưng rồi cũng đành để xe này lại vì không thể quay pháo được. Vừa qua ngã ba chi khu, chiếc xe đi đầu đội hình dính ngay một quả mìn, băng xích bên trái đứt tung, bánh dẫn xích cũng bay mất. Thanh lệnh cho xe này tại chỗ dùng pháo bắn vào chi khu chi viện cho phía trước, đồng thời anh chỉ huy hai xe còn lại vượt lên chạy dọc theo đường sân bay, vừa chạy vừa bắn vào chi khu và đội hình tăng viện của địch. Thấy xe tăng xuất hiện, bọn địch vô cùng hoảng loạn và nhanh chóng vỡ đội hình, chúng hò nhau tháo chạy về phía cầu Đắc Gion. Bộ binh và xe tăng ta thừa thắng truy kích địch đến đầu sân bay thì xe Thanh hết đạn. Anh vừa chỉ huy xe chạy ra đường lớn định quay về lấy đạn thì lại dính luôn một quả mìn, xích cũng bay mất gần chục mảnh. Thanh bỏ xe đấy lên chiếc xe còn lại tiếp tục cùng bộ binh truy kích. Đến gần cầu Đắc Gion, một quả đạn chống tăng bắn trúng tháp pháo, pháo thủ bị thương nặng, Thanh cũng bị thương nhưng không nặng lắm. Nhưng gay cấn nhất là đường điện trên tháp pháo bị hỏng hoàn toàn. Chẳng còn cách nào hơn anh đành đưa xe lui lại khu vực sân bay. Đến 16 giờ ta làm chủ hoàn toàn chi khu nhưng cũng bị thiệt hại không nhỏ. Riêng đại đội xe tăng cả bốn chiếc đều bị thương vong, nhưng thật may là không ai hy sinh cả. Ngay trong đêm hôm đó và ngày hôm sau Cân đã chỉ huy các xe còn lại ra cứu kéo và khắc phục được mấy xe bị mìn. Cho đến chiều ngày mồng Một tháng Giêng thì các anh đã khôi phục được sức chiến đấu của đơn vị. Cũng trong ngày hôm đó, một đơn vị đặc công của ta đã đột nhập cứ điểm địch trên núi Bà Rá và tiêu diệt gọn đại đội bảo an địch đóng giữ tại đây. Mất Phước Bình, Bà Rá, thế chân vạc của địch bị lung lay dữ dội. Bọn chỉ huy tiểu khu Phước Long một mặt đề nghị Sài Gòn tăng viện gấp, một mặt chúng tăng cường hệ thống công sự, vật cản và huy động mọi lực lượng tham gia phòng thủ thị xã.

Trận tiến công đầu tiên vào thị xã diễn ra chiều mồng Hai tháng Giêng. Đại đội của Cân có nhiệm vụ phối thuộc cho trung đoàn bộ binh 12 tiến công trên hướng chủ yếu theo đường số Hai lên. Đại đội 3 thì chi viện cho trung đoàn bộ binh 271 tiến công trên hướng thứ yếu. Còn đại đội 10 được sử dụng làm dự bị của chiến dịch. Rút kinh nghiệm từ trận đánh An Lộc, Cân bàn với Sáu Thanh tổ chức đại đội thành hai thê đội, hình thành hai tuyến trước, sau để chi viện và hỗ trợ lẫn nhau. 16 giờ, Cân chỉ huy thê đội Một xuất kích từ Phước Bình. Sau khi đánh tan chốt địch ở cầu Đắc Gion và chờ anh em công binh gỡ mìn dưới ngầm xong thì vượt qua cầu và bắt liên lạc với bộ binh ở ngã ba Tư Hiền. Tại đây, Cân chỉ huy cho các xe dùng hỏa lực bắn mạnh vào trận địa pháo ở phía tây đường và chi viện cho bộ binh mở cửa, khắc phục vật cản. Cửa mở xong, Cân cho thê đội mình tăng tốc độ xung phong. Phía sau là thê đội Hai do Sáu Thanh chỉ huy cũng đang bắn mạnh vào các hỏa điểm của địch để chi viện cho thê đội Một. Có lẽ do quá hoảng sợ nên bọn địch chạy dạt hết cả vào các ngõ ngách và gọi máy bay đến đánh. Hỏa lực pháo binh từ trận địa phía bắc thị xã bắn về cộng với bom đạn từ mấy chiếc A37 dội xuống đã tạo nên một bức tường lửa cắt rời sự liên kết giữa bộ binh với xe tăng. Chạy dọc theo đường Đinh Tiên Hoàng đến gần một ki- lô- mét vào tới chợ trung tâm thì Cân phát hiện ra xung quanh mình không có bóng dáng một chiến sĩ bộ binh nào, chỉ trơ trọi độc có ba chiếc xe tăng giữa một thị xã trống vắng và xa lại. Trời thì lại sắp tối. Sợ rơi vào bẫy của địch, anh điện về sở chỉ huy xin chỉ thị. Chắc cũng chẳng thấy có cách nào hơn, sở chỉ huy đồng ý cho anh rút ra ngã ba Tư Hiền. Thế là bài toán hiệp đồng giữa bộ binh và xe tăng vẫn chưa có lời giải. Về đến ngã ba Tư Hiền, hai bên xe tăng và bộ binh gặp nhau để hiệp đồng lại. Sáu Thanh thì bực lắm nhưng Cân thì hiểu, bom đạn bời bời như thế, mình còn có cái vỏ thép che chắn chứ anh em bộ binh thì có cái gì? Vì vậy phải thông cảm với người ta. Ngay trong đêm hôm ấy, đại đội của anh đã dùng pháo chi viện cho bộ binh đánh chiếm được trận địa pháo ở tây nam thị xã và bãi để xe cơ giới cạnh đó.

Sau một ngày nghỉ ngơi và tiến hành công tác chuẩn bị, trận tiến công thứ hai vào thị xã bắt đầu lúc tang tảng sáng ngày mồng Bốn. Dường như về phía địch cũng đã có những sự điều chỉnh lực lượng nhất định. Cái trại Lê Lợi nằm ngay cửa ngõ thị xã hôm trước các anh chạy qua cấm có thấy nó hó hé một phát súng nào, cứ tưởng địch đã bị bỏ chạy cả thì hôm nay đã trở thành một vị trí phòng ngự tiền tiêu khá vững chắc. Vì vết thương của Sáu Thanh sơ cứu không tốt, bị nhiễm trùng nên Cân vẫn phải chỉ huy thê đội Một hiệp đồng với bộ binh đánh vào trại Lê Lợi. Vừa mới xuất kích qua khỏi ngã ba Tư Hiền được một đoạn thì hai chiếc A37 xuất hiện và ném bom ngăn chặn đội hình. Mặc dù đã dùng 12 ly 7 đánh trả nhưng rồi một xe vẫn bị trúng bom phải nằm lại. Cân chỉ huy hai xe còn lại dùng pháo chi viện cho bộ binh mở cửa. Thế mà cũng mất hơn một tiếng mới mở xong cửa. Đúng lúc ấy xe 477 báo cáo “hết đạn pháo, súng máy kẹt. Xin phép quay ra tiếp đạn!”. Thời cơ xung phong đã đến, không thể bỏ qua nên dẫu chỉ còn một xe mình Cân vẫn quyết định xung phong. Đồng thời anh lên đài đề nghị thê đội Hai nhanh chóng lên tiếp viện. Thấy xe tăng xông vào, bọn địch trong trại Lê Lợi bỏ chạy tán loạn về phía sau. Thừa thắng, Cân lệnh cho lái xe tăng tốc độ truy kích. Thấy nguy cơ mất trại Lê Lợi, địch tăng cường pháo binh và máy bay đánh phá ngay vào trong trại bất chấp lính của chúng còn trong đó. Phát triển đến ngã ba sân bay, Cân quay cửa trưởng xe lại sau định nhìn xem bộ binh thế nào, anh toát mồ hôi hột khi thấy bốn, năm bóng áo rằn ri đang bám thành xe trèo lên. Phải công nhận bọn này cũng liều, chắc là chúng đã ở thế cùng đường rồi nên liều chết đây. Không nói không rằng anh ấn nút chỉ mục tiêu, tay kia thì ấn vào cò súng máy. Khẩu pháo 100 ly quay vèo về phía sau với tốc độ cao nhất gạt luôn hai thằng bay xuống đất, những thằng còn lại thì bị quật ngã ngay bởi loạt đạn đại liên căng như sợi chỉ. Pháo thủ Quang sau một thoáng ngẩn người ra khi thấy mình không điều khiển được pháo nữa thì cũng hiểu ra vấn đề khi quan sát thấy tình hình, cậu gạt tay Cân ra và tự mình giữ cò súng máy. Đúng lúc ấy thê đội Hai lên đến nơi. Cân lệnh cho cả đại đội tiếp tục cơ động lên đánh chiếm tòa hành chính. Tuy nhiên, lại vẫn là chuyện bộ binh không theo kịp xe tăng nên 12 giờ trưa thì trên lệnh cho đại đội anh quay lại ngã ba Tư Hiền. Về đến vị trí tập kết Sáu Thanh lại sôi sùng sục lên về chuyện hiệp đồng giữa xe tăng và bộ binh, Cân phải can mãi anh mới thôi. Tuy nhiên, anh cũng nhận thấy nếu cứ nhùng nhằng thế này thì không biết đến bao giờ mới dứt điểm được.

Mà đúng thế thật. Ngay chiều hôm ấy, vượt qua lưới lửa phòng không của ta, hơn chục chiếc trực thăng đã kịp đổ xuống hai đại đội biệt kích dù để tăng viện cho bọn ngụy ở đây.

Ngày hôm sau, bộ chỉ huy chiến dịch quyết định tung một trung đội của đại đội 10 đang làm dự bị vào chiến đấu. Tuy nhiên, tình hình vẫn chưa có gì chuyển biến. Gặp tham mưu phó Nghi xuống nắm tình hình đơn vị, Cân và Thanh bộc bạch hết mọi suy nghĩ của mình. Nghi thừa nhận những vấn đề đó là có thật. Anh đồng ý với hai anh em họ là sẽ đề nghị Bộ tư lệnh chiến dịch sử dụng lực lượng tập trung để đánh một trận quyết định.

Ngày mồng Sáu, toàn bộ ba đại đội tăng được sử dụng tăng cường cho trung đoàn bộ binh 2 tiến công các mục tiêu cuối cùng trong thị xã. Nói là ba đại đội nhưng thực ra sau mấy ngày chiến đấu cũng chỉ còn hơn chục xe. Bộ binh đang sung sức, xe tăng thì tập trung nên có hiệu quả tức thì. Đến 9 giờ 50 phút ta đã chiếm được tòa hành chính và dinh tỉnh trưởng. Gần như toàn bộ quân địch đã bị tiêu diệt và ra hàng, số còn lại rút vào cố thủ ở trung tâm hành quân. Đây chính là sở chỉ huy của tiểu khu nên có hệ thống công sự và vật cản vào loại kiên cố nhất. Và lúc này đây, Cân đang cùng anh em chi viện cho bộ binh áp sát hàng rào để mở cửa mở.

Rút kinh nghiệm mấy trận đánh trước anh em ta bắn mạnh tay quá nên chóng hết đạn, Cân bóp công tắc ngực về phát, anh rành giọt từng tiếng:

- 75 gọi 01! Chú ý tiết kiệm đạn!- Quay về nội bộ anh nhắc Quang- Quan sát kỹ vào rồi hãy bắn, chỉ còn chục viên nữa thôi đấy.

Cựu sinh viên tổng hợp toán nhỏ nhẹ:

- Anh quê cứ yên tâm! Quang này đã bắn phát nào là chắc phát đó.

Mà đúng thế thật, từ hôm tham chiến đến nay chưa hôm nào xe Cân rơi vào tình trạng hết đạn phải quay ra tiếp.

Gần 5 giờ chiều thì các vật cản trước cổng tiểu khu đã được dọn tương đối sạch. Nhận được tín hiệu cửa mở đã thông Cân lập tức bóp công tắc phát:

- 75 gọi 01! Nhanh chóng xung phong qua cửa mở! 47!

Chẳng đợi anh giục, lái xe Đoàn tăng ga lao vọt lên. Ngay sau xe Cân là hai xe nữa. Quang rê nhẹ tay hướng và giữ chặt cò súng máy. Những loạt đạn đại liên thẳng căng tạo thành một cánh quạt lửa trước mũi xe. Ba chiếc xe tăng như ba con mãnh hổ tung hoành trong trung tâm hành quân địch như trong chỗ không người. Có lẽ không còn chút ý thức kháng cự nào nữa nên từ trong các tòa nhà, các công sự những lá cờ trắng bằng đủ các loại khăn, áo lót mọc lên như nấm. Cân cho xe dừng lại trước tòa nhà trung tâm. Bộ binh tỏa ra lùng sục bắt tù binh. Qua khai thác nhanh các anh biết còn bọn chỉ huy đang trú trong hầm ngầm. Các chiến sĩ bộ binh chất ngay mấy cân bộc phá vào cửa hầm. Sau một tiếng nổ lộng óc, cửa hầm mở toang. Vài phút sau, mấy bóng người vật vờ trong làn khói xuất hiện, hai tay giơ cao trên đầu. Thằng nào thằng ấy trông cứ như chuột phải khói. Cho đến giờ phút đó, thị xã Phước Long đã hoàn toàn nằm trong tay ta.

Sẩm tối hôm đó thì đoàn công tác của Kiệm cũng vào đến sở chỉ huy của đoàn thiết giáp miền Đông H6. Niềm vui gặp gỡ như được nhân đôi vì tin chiến thắng từ Phước Long cũng vừa được báo về. Ôm chặt lấy Kiệm, đoàn phó Hà nghẹn ngào:

- Đã quá anh ạ! Thấy trận đánh cù nhày cả tuần, cứ ngỡ lại xuất hiện một cái An Lộc mới. Bây giờ thì ngon rồi. Tối nay, mời các anh ở lại đây liên hoan luôn.

Kiệm thì tiếc hùi hụi:

- Giá như tôi không nán lại ở B3 mấy ngày thì đã kịp vào đây cùng các anh tham gia trận này- Nhẫm nghĩ một lát anh giật tay Hà- Này, hay ngày mai anh bố trí cho bọn tôi xuống dưới đó tham quan một buổi. Chắc chắn có nhiều bài học rút ra từ trận đánh này.

Hà cười giả lả:

- Cứ từ từ rồi đâu có đó! Còn bây giờ mời anh đi tắm rửa rồi còn liên hoan.

Trong lúc đó thì Hữu đã xuống Phòng chính trị. Sau phút hàn huyên anh hỏi thăm ngay về Cân. Chủ nhiệm chính trị cười:

- Thằng chả còn trẻ mà làm việc chắc chắn lắm. Đại đội của nó đang đánh nhau dưới Phước Long, chắc vài bữa nữa mới về.

Hữu cũng hơi tiếc nhưng anh tự nhủ thời gian công tác ở đây còn dài, thế nào rồi anh cũng gặp được Cân.

Cuộc gặp gỡ ấy đã diễn ra sớm hơn dự kiến. Sau khi làm việc với ban chỉ huy đoàn, thống nhất kế hoạch công tác và giao nhiệm vụ cho các bộ phận, Kiệm quyết định lên đường đi Phước Long cùng hai trợ lý tham mưu. Vì công việc cũng chưa có gì gấp gáp lắm nên Hữu xin phép được đi cùng. Kiệm ngần ngừ giây lát rồi gật đầu cười khà khà:

- Cậu đi cũng được, có khi lại ra được một bài thơ hay ấy chứ!

Mất hơn hai tiếng như đánh vật trên con đường quân sự làm gấp, tầm quá trưa thì thày trò Kiệm đến được sở cao su Phước Bình là vị trí tập kết sau chiến đấu của xe tăng. Đón các anh ở ngay bìa rừng là đoàn phó Hồng và tham mưu phó Nghi. Lại những cái bắt tay, ôm hôn thắm thiết và những lời hỏi thăm chí tình, chí nghĩa như những người anh em ruột thịt đã xa cách lâu ngày. Những câu chuyện cứ nổ như ngô rang. Mãi một lúc sau đoàn phó Hồng mới chợt nhớ ra:

- Vui chuyện quá, quên mất là đã quá bữa rồi. Chắc các anh đều đã đói cả rồi phải không?

Kiệm dễ dãi thú nhận:

- Thực tình là tớ đói gần chết rồi đây này.

Tham mưu phó Nghi cũng giật mình:

- Chết thật! Báo cáo phó tư lệnh, nghe trên đoàn điện báo xuống anh em chúng tôi đã chuẩn bị cơm nước xong cả rồi. Thế nhưng gặp thủ trưởng và anh em ở đây thành ra quên mất.

Cả đoàn đi sâu vào rừng cao su chừng vài trăm mét thì đến chỗ trú quân của tiểu đoàn xe tăng. Nhìn những chiếc xe tăng sứt sẹo còn đỏ bụi đất miền đông cùng những gương mặt trẻ đang chìm trong giấc ngủ mê mệt trên những cánh võng toòng teng bên cạnh, Kiệm hiểu bộ đội mình đã phải trải qua những ngày ác liệt, gian khổ đến mức nào. Nghi định gọi anh em dạy chào phó tư lệnh binh chủng nhưng Kiệm ra hiệu để yên cho anh em ngủ.

Bữa cơm trưa được dọn ra trên một tấm bạt ngay cạnh lán chỉ huy. Liếc qua mâm cơm Kiệm thấy khá là thịnh soạn, có cả thịt tươi, thịt hộp và giò hộp, chắc là chiến lợi phẩm mới thu được. Bên cạnh đó là mấy cái hộp hình trụ bằng cổ tay, sơn màu xanh đỏ sặc sỡ. Vốn háu đói, Kiệm sà ngay xuống mâm nhón một miếng giò nhai ngấu nghiến. Anh gật gù:

- Ngon ra phết, các cậu ạ- Cầm cái hộp nhôm màu xanh lên tay, Kiệm tò mò- Thế còn cái này là cái gì? Trông cứ y như quả lựu đạn khói ấy.

Mấy anh em cùng ngồi xuống, Nghi tươi cười giải thích:

- Bia lon với nước ngọt chiến lợi phẩm đấy, thủ trưởng ạ. Mấy lon màu xanh là bia, còn những lon màu đỏ này là nước ngọt- Nói rồi anh giật nắp một lon bia đưa cho Kiệm- Thủ trưởng uống thử xem có ngon bằng bia Hà Nội không?

Hơi ngần ngừ một lát nhưng rồi Kiệm cũng ngửa cổ làm một ngụm, lát sau anh gật:

- Ngon lắm các cậu ạ! Mà bây giờ thì cái gì chả ngon.

Đúng vậy thật. Suốt từ sáng đến giờ chưa có cái gì vào bụng, được bữa ăn thịnh soạn như thế này thì còn gì bằng. Vì vậy, chỉ một loáng sau nồi cơm to đùng và toàn bộ thức ăn, bia bọt đã được thanh toán xong. Mọi người nhẩn nha ngồi nhấm nháp nước ngọt. Cái vị ngòn ngọt rất lạ, lại tê tê đầu lưỡi làm cho ai cũng thấy thú vị. Cầm lon nước ngọt trên tay, cố đọc những hàng chữ bằng tiếng Anh, Hữu nhủ thầm: “Đi đánh nhau mà chơi sang thế này thì tiền của đâu chịu nổi”.

Có vẻ như đã thỏa mãn cái dạ dày nên Kiệm đi ngay vào công việc:

- Lần này chúng tôi vào đây có nhiệm vụ tổ chức tập huấn cho các đơn vị trong này một số vấn đề mới về chiến thuật và sửa chữa xe pháo. Trong các nội dung tập huấn có cả nội dung xe tăng tiến công thành phố, thị xã. Thật may lại gặp dịp xe tăng chúng ta vừa tham gia giải phóng Phước Long này. Vì vậy, chúng tôi muốn xuống tận nơi tham quan và gặp gỡ các anh em trực tiếp chiến đấu. Qua đó rút ra những bài học kinh nghiệm để bổ sung vào bài giảng và phổ biến rộng rãi trong lực lượng thiết giáp toàn quân. Ngay sau đây, đề nghị các anh triệu tập mấy đồng chí cán bộ đại đội đã trực tiếp chiến đấu trong những ngày qua lên đây cùng đi với đoàn.

Nghi gọi một chiến sĩ liên lạc lại truyền đạt chỉ thị. Chỉ một loáng sau đã thấy đại đội trưởng đại đội 3, đại đội trưởng đại đội 10 và Cân, chính trị viên đại đội 1 có mặt. Thấy báo cáo là chính trị viên, Kiệm có vẻ hơi không bằng lòng. Đoàn phó Hồng vội giải thích:

- Báo cáo anh, đại đội 1 là đại đội chủ công, tham gia đánh địch trên hướng chủ yếu của chiến dịch. Ngay từ trận đánh chi khu Phước Bình, đại đội trưởng đã bị thương, hiện đang bị sốt cao. Vì vậy, các trận đánh vào Phước Long đều do đồng chí Cân, chính trị viên chỉ huy- Anh cười hóm hỉnh- Nếu tính số trận tham gia thì cậu này tham gia nhiều nhất đấy ạ.

Nét mặt Kiệm giãn ra:

- Thế thì tốt! Đồng chí Nghi và ba đồng chí lên đi xe với tôi- Anh chỉ mấy trợ lý- Còn các cậu xuống đi với xe anh Hồng.

Hữu và Cân cũng đã nhận ra nhau nhưng chỉ kịp nắm tay nhau thật chặt. Chưa nói với nhau được câu nào nhưng Hữu cảm nhận một cách rõ ràng người chiến sĩ yêu thơ năm nào đã có sự trưởng thành vượt bậc.

Hai chiếc xe bám sát nhau chạy về hướng thị xã. Trên đường, lác đác từng toán bà con tản cư nay trở về nhà. Người nào cũng lếch thếch tay xách nách mang nhưng gương mặt thì tươi roi rói. Có lẽ những người dân này đã quá chán ngán cái chính thể mà họ đã sống dưới đó mấy chục năm trời và hy vọng vào một thể chế mới đã được thiết lập trên quê hương họ từ ngày hôm qua.

Theo sự chỉ dẫn của Cân, hai chiếc xe lần lượt đi qua chi khu Phước Bình, cầu Đắc Gion, bãi để xe cơ giới, trại Lê Lợi, trung tâm hành quân, dinh tỉnh trưởng và đích cuối cùng là tòa thị chính. Đến từng điểm, Kiệm đều bắt xe dừng lại và yêu cầu các cán bộ đi cùng mô tả lại trận đánh tại đó. Ngoài việc nghe kỹ về diễn biến anh còn yêu cầu các cán bộ đại đội đưa ra nhận xét về tình hình chỉ huy, hiệp đồng và những ưu khuyết điểm mà họ nhận thấy.

Cuối buổi chiều cả đoàn mới đến tòa thị chính. Ở đó có một đại đội bộ binh chốt giữ và là nơi làm việc của ủy ban quân quản vừa mới được thành lập. Ngước nhìn ngôi nhà hai tầng bề thế còn khá nguyên vẹn, lại có một cái tháp cao như tháp chuông nhà thờ ngay chính giữa mặt tiền, Kiệm ngạc nhiên:

- Lạ nhỉ? Tại sao nó lại làm cái lầu cao ngay chính giữa mặt tiền thế kia? Trông cứ ngang phè phè ấy!

Mấy cán bộ xe tăng cũng chẳng biết gì nên chỉ xì xào trao đổi. Một cán bộ quân quản, dáng chừng là lực lượng địa phương hoạt động lâu năm ở đây xen vào giải thích:

- Thưa các anh! Ở trong này ngụy quyền Sài Gòn áp dụng chính sách chính quyền quân sự. Mỗi tỉnh là một tiểu khu, tỉnh trưởng là sĩ quan. Như ở Phước Long này tỉnh trưởng là đại tá Nguyễn Thống Thành. Còn tòa hành chính, gọi là thế nhưng thực ra nó cũng như nơi làm việc của cơ quan chỉ huy tiểu khu. Vì vậy, cái lầu cao kia có thể coi như một đài quan sát. Đứng trên đó các anh có thể nhìn thấy toàn bộ thị xã và các vùng ven nội.

Kiệm gật gù:

- Hay thật! Xin cảm ơn đồng chí đã có lời giải thích rất thấu đáo- Kiệm bắt tay người cán bộ quân quản thật chặt, anh cười làm thân- Vậy, xin phép anh chúng tôi lên đó một lát có được không?

Người cán bộ quân quản tươi cười:

- Vâng! Xin mời các anh!

Quả thật, đứng trên cái lầu cao trước tòa thị chính các anh có thể nhìn thấy rõ toàn cảnh thị xã. Không chỉ thế. Về phía bắc và phía đông các anh có thể nhìn thấy những rừng cao su xanh rì bên kia sông Bé. Về phía tây có thể nhìn rõ dẫy đồi thấp um tùm cây cối bên kia suối Đắc Gion, thấp thoáng đây đó là những đoạn đường đất mà các anh mới đi từ Bù Đốp về. Về phía nam có thể nhìn thấy chi khu Phước Bình với những dãy nhà dài và rõ nhất là cái đường băng sân bay đang sáng lên nhờ nhờ trong nắng chiều. Ngắm nghía một lúc, Kiệm gật gù:

- Đúng đây là một đài quan sát quân sự thật. Từ đây có thể thấy được những hoạt động trên cả một vùng rộng lớn.

Cân xuýt xoa:

- Thảo nào mà nó chỉ điểm cho pháo binh và máy bay đánh trúng thế. Hôm mồng Hai, chúng tôi cứ chạy đến đâu là pháo nện đến đó. Cả máy bay nữa, kể cả lúc mình đã tìm chỗ ẩn nấp rồi, cứ tưởng kín mà nó vẫn đánh sát sạt. Thành ra, đại đội tôi đã vào tận đến chợ trung tâm kia kìa- Anh chỉ khu chợ lúp xúp cách đó chừng dăm trăm mét- Chỉ còn vài bước chân nữa là đến đây mà rồi lại phải quay ra vì không thấy bóng một chiến sĩ bộ binh nào đi cùng. Lúc ấy trời lại sắp tối nữa.

Kiệm nhíu mày:

- Lại vẫn trục trặc chuyện hiệp đồng giữa xe tăng và bộ binh à?

Mấy cán bộ đoàn H6 cùng gật đầu. Có vẻ chưa hết bức xúc, Cân nói luôn một mạch:

- Báo cáo thủ trưởng, còn chưa bằng trận thứ hai cơ. Hôm ấy, sau khi xung phong đánh qua trại Lê Lợi, khi phát triển đến ngã ba sân bay tôi quay lại nhìn. Đã chẳng thấy bóng đồng chí bộ binh nào, lại còn phát hiện mấy thằng ngụy trèo lên phía sau xe định thả lựu đạn nữa. Tôi mà không nhanh trí dùng chế độ chỉ mục tiêu gạt bọn chúng xuống thì không biết sẽ xảy ra chuyện gì.

Kiệm quay sang Hồng và Nghi gặng:

- Tình hình như thế các anh có nắm được không?

Nghi gật đầu:

- Báo cáo thủ trưởng, sau khi rút ra anh em đều có phản ánh với chúng tôi. Chúng tôi cũng báo cáo lại với bộ tư lệnh chiến dịch và trao đổi với chỉ huy các trung đoàn bộ binh. Thực tình là ai cũng biết cả. Tuy nhiên, thủ trưởng cũng phải thông cảm cho họ. Các đơn vị này đã tác chiến liên tục từ đầu chiến dịch, cơ động liên tục, lại không được bổ sung quân số nên mỗi đại đội chỉ còn mười lăm, hai mươi tay súng. Trong khi đó máy bay và pháo binh địch bắn chặn quá dày. Cứ chỗ nào xe tăng xuất hiện là chúng bắn vào đấy. Vì vậy anh em người ta không thể theo sát xe tăng được.

Kiệm gật gù đăm chiêu:

- Đúng thế thật! Người ta mà chạy theo mình thì cũng bị thương vong hết- Anh lại nhìn quanh cái lầu- Công nhận cái lầu này cũng lợi hại thật đấy, các cậu chạy đến đâu là nó phát hiện được ngay. Mà sao các cậu không tương cho nó một quả nhỉ?

Mấy anh em H6 cùng cúi mặt. Đúng là họ không nhận thấy vị trí quan sát này có ý nghĩa như thế nào? Đại đội trưởng đại đội 3 rụt dè:

- Báo cáo thủ trưởng, đúng là chúng tôi cũng không thật tinh. Nhưng thực tình trước khi đánh vào đây chúng tôi có biết tý gì về địa hình địa vật và các mục tiêu nó nằm ở đâu đâu. Đi trinh sát thì đứng mãi ở cái điểm cao bên kia sông mà nhìn vào thôi. Bản đồ cũng không có. Đến lúc đánh nhau thì khói lửa mù mịt, bên đại đội tôi còn có xe đi lạc sang bên hướng của đại đội 1 cơ. May mà thị xã này cũng nhỏ chứ nếu nó to hơn một tý thì chẳng biết đằng nào mà lần.

Đoàn phó Hồng bổ sung:

- Báo cáo anh, ý định giải phóng Phước Long thực ra chỉ xuất hiện khi đợt Một của chiến dịch này phát triển thuận lợi. Chính vì vậy việc chuẩn bị bản đồ quân đoàn không tiến hành kịp. Ngay cả bộ chỉ huy chiến dịch cũng chỉ có bản sơ đồ do các đồng chí hoạt động bí mật ở đây cung cấp để chỉ huy thôi ạ.

Kiệm gật đầu:

- Đây cũng là một vấn đề đặt ra trong tác chiến ở các đô thị sắp tới. Mà sao nó bé tý hin thế này mà các ông ấy phải cù nhày mất cả tuần nhỉ?

Đến lượt đại đội trưởng đại đội 10 lên tiếng:

- Báo cáo phó tư lệnh, để tình hình kéo dài thế này theo tôi có nguyên nhân về sử dụng lực lượng. Đại đội tôi được sử dụng làm dự bị của chiến dịch, đến ngày hôm kia mới được tung vào chiến đấu. Nhưng lúc nhận lệnh tôi mới ngớ ra là trên chỉ đưa một trung đội 3 xe vào. Kết quả là vẫn không giải quyết xong. Đến hôm qua, trên mới quyết đưa cả đại đội vào, cộng với các xe còn lại của “xê” 1, “xê” 3 tập trung lại đánh nên dứt điểm được ngay. Theo tôi, nếu sử dụng lực lượng tập trung hơn chắc chắn sẽ không kéo dài như thế này.

Kiệm ngước nhìn Hồng, đoàn phó H6 nhỏ nhẹ:

- Báo cáo anh, chúng tôi cũng đã có ý kiến với bộ chỉ huy chiến dịch nhưng các anh ấy cũng có lý do để sử dụng như vậy. Như tôi đã nói hồi nãy, sức chiến đấu của các đơn vị bộ binh tham chiến trận này đã suy giảm quá nhiều vì chiến đấu liên tục dài ngày mà không được bổ sung, nghỉ ngơi. Vì vậy, với một thị xã được phòng thủ nhiều tầng, nhiều lớp như thế này, xe tăng lại chỉ tiến công theo được một hướng thì sử dụng như ban đầu là hợp lý. Riêng việc chỉ tung một trung đội của đại đội 10 vào đánh trận hôm mồng Năm thì chính tôi cũng bất ngờ. Hôm đó tôi đang xuống rút kinh nghiệm với hướng chủ yếu bên đại đội 1. Ngay sau đó tôi có ý kiến và hôm qua các anh ấy đã quyết định tung cả đại đội vào.

Kiệm gật gù ra chiều đã hiểu, anh hất cằm:

- Vậy tổng kết lại, trận này tổn thất của xe tăng thế nào?

Nét mặt đoàn phó Hồng và tham mưu phó Nghi tươi hẳn lên. Nghi hồ hởi:

- Báo cáo phó tư lệnh, lần này xe tăng ta thiệt hại không đáng kể ạ. Chỉ có ba xe bị mìn, một xe bị bom và hai xe trúng đạn chống tăng nhưng không cháy, chỉ bị hỏng đường điện tháp pháo. Tất cả xe hỏng đã được kéo về khu tập kết và đang khắc phục. Về người chỉ có một đồng chí hy sinh và mấy đồng chí bị thương nhưng cũng không nặng lắm. Có thể nói đây là một thành tích đáng kể đấy ạ!

Kiệm mừng rỡ:

- Thế hả? Thế thì tốt quá. Thật tình, hôm ở B3 nghe tin các cậu đánh Phước Long, tớ cứ nơm nớp sợ lại xảy ra một cái An Lộc nữa thì chẳng còn mặt mũi nào- Anh nghiêng đầu- Các cậu có bí quyết gì không? Nói đi xem nào!

Hồng khiêm tốn:

- Thì cũng nhờ rút kinh nghiệm từ trận An Lộc thôi, thủ trưởng ạ. Trước hết, về mặt đội hình chúng tôi quyết định tổ chức thành hai thê đội, hình thành hai tuyến cách nhau chừng hai trăm mét để hỗ trợ và bảo vệ lẫn nhau được. Thứ hai là trước khi qua các ngã ba, ngã tư phải thăm dò, đảm bảo diệt hết địch mới được qua. Thứ ba là phải tăng cường quan sát các nhà cao tầng, các ngõ hẻm không được để địch lợi dụng, bất ngờ bắn vào sườn. Và một biện pháp quan trọng nữa là không được tách rời với bộ binh. Nếu không thấy bộ binh phải kiên quyết dừng lại. Chính vì thực hiện tốt những biện pháp đó mà chúng tôi đã giảm được tổn thất xuống đến mức này đấy ạ.

Kiệm gật đầu:

- Tốt lắm! Đó đúng là những bài học xương máu- Anh chỉ tay vào hai trợ lý tham mưu- Các cậu nhớ bổ sung ngay những kinh nghiệm này vào tài liệu tiến công thành phố, thị xã nhé! Còn bây giờ ta về thăm anh em một chút. Ngay đêm nay chúng tôi sẽ về đoàn bộ, các anh ạ.

Nói rồi Kiệm xăm xăm bước lại phía cầu thang. Tuy nhiên, anh lại đột ngột dừng lại nhìn về phía cái chợ. Mọi người thấy vậy cũng đứng lại chờ. Chừng một phút sau Kiệm mới thốt ra:

- Này, giá như ta tổ chức một mũi thọc sâu, cho bộ binh lên sau tháp pháo xe tăng rồi cơ động với tốc độ cao lao thẳng vào đây thì có khi trận đánh sẽ kết thúc sớm hơn nhiều đấy, các cậu nhỉ!

Hồng, Nghi và mấy cán bộ cùng đi đều trầm ngâm suy nghĩ. Lát sau Hồng gật đầu công nhận:

- Đúng vậy! Có lẽ từ nay về sau khi đánh chiếm thành phố thị xã nên tổ chức một mũi thọc sâu, đánh vào mục tiêu chủ yếu, vào cơ quan đầu não chỉ huy của bọn chúng thì mới kết thúc nhanh trận đánh được.

Cả đoàn xuống lầu. Hữu và Cân còn nán lại một chút, hai anh em hẹn nhau sẽ nói chuyện nhiều sau khi Cân về. Hoàng hôn đang xuống dần. Lác đác đã thấy le lói ánh đèn, nhà nào đó còn máy phát điện. Tiếng gọi nhau và cười đùa í ới. Thị xã giải phóng mới có một ngày mà sao thanh bình quá.

★ ★ ★

Hội nghị Tổng kết chiến đấu 2 năm 1973- 1974 và triển khai nhiệm vụ năm 1975 của binh chủng Thiết giáp đã bước sang ngày thứ hai. Trên diễn đàn chính ủy Phạm Sính đang báo cáo trước Hội nghị tinh thần Nghị quyết 21 của Bộ Chính trị và Nghị quyết của Quân ủy trung ương về quyết tâm giải phóng miền Nam trong hai năm 1975- 1976. Hội trường im lặng như tờ. Hàng trăm đại biểu đang lắng nghe như nuốt lấy từng lời của nghị quyết. Những gương mặt còn ám khói bụi chiến trường đều như sáng bừng lên một niềm vui mới, niềm vui về một ngày chiến thắng không xa. Đúng lúc ấy, một chiếc xe Von- ga đen bóng đỗ xịch trước cửa hội trường. Từ ghế trước một sĩ quan nhanh nhẹn chạy vòng lại phía sau mở cửa. Một người cao lớn với mái tóc đã bạc gần hết bước xuống. Ông đứng lặng nhìn xung quanh chừng vài giây rồi bước lên cầu thang với những bước đi dứt khoát và nhanh nhẹn.

Ngồi ngay dãy bàn đầu nên tư lệnh Đào nhìn thấy Tổng tham mưu trưởng xuất hiện gần như trước tiên. Mặc dù bị giật mình nhưng phản xạ của một người chỉ huy đã kịp mách bảo ông hành động như thế nào trong trường hợp này. Ông đứng phắt dậy, hô lớn:

- Chú ý!- Vừa dứt lời, ông Đào bước vội ra phía cửa và dập gót chân đứng nghiêm- Báo cáo đồng chí Tổng Tham mưu trưởng! Binh chủng Thiết giáp đang tổ chức Hội nghị tổng kết nhiệm vụ hai năm 1973- 1974 và triển khai nhiệm vụ năm 1975. Quân số tham gia 96 đồng chí. Xin chỉ thị đồng chí. Hết!

Tổng tham mưu trưởng giơ tay vẫy chào và nhỏ nhẹ:

- Mời các đồng chí tiếp tục!

Rất nhanh trí, từ trên diễn đàn chính ủy Phạm Sinh cao giọng:

- Kính thưa toàn thể các đồng chí! Rất vinh dự cho hội nghị của binh chủng ta được đón tiếp đồng chí đại tướng Tổng tham mưu trưởng quân đội nhân dân Việt Nam về dự. Tôi đề nghị chúng ta nhiệt liệt hoan nghênh!

Tràng pháo tay dài như không dứt. Tổng tham mưu trưởng đứng dạy, hơi quay mặt về phía dưới hội trường cười hiền từ:

- Báo cáo các đồng chí! Hôm trước, binh chủng đã có giấy mời tôi về dự hội nghị. Tuy nhiên, do công việc quá nhiều nên tôi đã phúc đáp là không về dự được. Nhưng hôm nay, sau khi thu xếp được, tôi quyết định về đây với các đồng chí, kể ra cũng hơi bất ngờ một chút, phải không?- Ông cười nhẹ rồi quay về phía chính ủy Sính- Còn bây giờ, xin mời đồng chí chính ủy cứ tiếp tục chương trình.

Hội nghị lại tiếp tục. Ngồi nghe đấy nhưng ông Đào suy nghĩ rất lung. Không phải ngẫu nhiên mà Tổng Tham mưu trưởng lại về đây bất ngờ như thế này. Hôm Bộ tổ chức phổ biến hai nghị quyết này cho cán bộ cao cấp ông có gặp Tổng tham mưu trưởng và có lời mời thủ trưởng về dự hội nghị cùng binh chủng. Tuy nhiên Tổng tham mưu trưởng cho biết ông đang rất bận và chuẩn bị đi công tác xa. Ấy thế mà hôm nay thủ trưởng lại bất ngờ về đây, chắc chắn không chỉ để dự hội nghị mà sẽ còn có những việc cần trao đổi với binh chủng. Nhưng đó là vấn đề gì. Nghĩ đi nghĩ lại ông đi đến kết luận, tất cả sẽ không ngoài việc bố trí và sử dụng xe tăng trong thời gian sắp tới. Nhưng có lẽ trước hết là mời Tổng tham mưu trưởng nói chuyện với hội nghị đã. Những thông tin của một cán bộ tầm cỡ như vậy sẽ là minh họa tốt nhất cho hai nghị quyết mà chính ủy Sính đang báo cáo. Nghĩ vậy, ông ghi mấy chữ vào một mảnh giấy rồi chuyển sang cho thủ trưởng. Tổng tham mưu trưởng xem xong thì gật nhẹ đầu.

Phần giới thiệu nghị quyết của chính ủy Sính đã xong. Ông Đào sải từng bước dài lên bục diễn giả, trịnh trọng:

- Kính thưa toàn thể các đồng chí! Mặc dù đang bận trăm công nghìn việc song đồng chí Tổng tham mưu trưởng vẫn dành thời gian quý báu về với hội nghị của chúng ta. Điều đó chứng tỏ các thủ trưởng cấp trên rất quan tâm tới sự phát triển và trưởng thành của binh chủng Thiết giáp. Thay mặt cán bộ, chiến sĩ toàn binh chủng, tôi xin chân thành cảm ơn đồng chí Tổng Tham mưu trưởng. Xin kính chúc Tổng Tham mưu trưởng luôn luôn mạnh khỏe, tiếp tục cùng quân ủy trung ương lãnh đạo toàn quân thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ- Một tràng vỗ tay nổi lên hưởng ứng. Đợi cho ngớt tiếng vỗ tay ông thong thả- Nhân dịp này, xin kính mời Tổng Tham mưu trưởng phát biểu ý kiến chỉ đạo hội nghị!

Tổng tham mưu trưởng đứng dạy giữa tiếng vỗ tay kéo dài. Khi ông đã lên đến bục nói chuyện tiếng vỗ tay vẫn chưa ngớt. Ông phải vẫy tay mấy lần hội trường mới trật tự trở lại. Không cần sách vở, tài liệu gì, ông nói luôn:

- Thưa các đồng chí! Các đồng chí đã được nghe đồng chí chính ủy binh chủng phổ biến những tinh thần cơ bản nhất nghị quyết của Bộ chính trị và những kết luận của hội nghị Quân ủy trung ương, tôi không có ý định nhắc lại nữa mà chỉ bổ sung thêm một số vấn đề. Có thể tóm tắt lại như thế này: sau khi phân tích tình hình thế giới và trong nước, sau khi so sánh cả về thế lẫn lực giữa ta và địch Bộ chính trị đánh giá thời cơ giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà đã đến. Trên cơ sở đó Bộ chính trị đã đề ra kế hoạch giải phóng miền Nam trong hai năm 1975- 1976 như các đồng chí đã được nghe. Ngoài ra, cũng xin báo cáo với các đồng chí là Bộ chính trị còn dự kiến thêm một kế hoạch thời cơ. Cụ thể là, nếu thời cơ thuận lợi sẽ tiến hành giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà ngay trong năm 1975 này- Tiếng vỗ tay bất chợt nổi lên rào rào kéo dài. Sau khi đợi cho ngớt tiếng vỗ tay, Tổng Tham mưu trưởng tiếp tục phân tích thêm một số nội dung của nghị quyết. Cuối cùng ông điềm đạm- Có thể khẳng định rằng, nghị quyết của Bộ chính trị đã được xây dựng trên những cơ sở rất vững chắc và có tính thực tiễn cao. Chiến dịch Đường 14- Phước Long vừa qua là một minh chứng hết sức rõ ràng. Nhìn trên toàn cục, có thể coi chiến dịch này là một phép thử giữa thế và lực của ta với ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn, đồng thời cũng là một phép thử xem thái độ của Mỹ như thế nào khi ta mở các chiến dịch lớn. Và kết quả như chúng ta đã thấy, ở Sài Gòn Thiệu lớn tiếng kêu gọi tử thủ Phước Long. Đến khi ta giải phóng rồi thì lại hô hào quyết lấy lại bằng được. Đến lúc bất lực thì cho để quốc tang những ba ngày. Còn về phía Mỹ cũng lớn tiếng sẽ tiếp tục ủng hộ Sài Gòn, khi ta mở chiến dịch chúng đã cho hàng không mẫu hạm In- tơ- prai- đơ dẫn một lực lượng đặc biệt tiến về phía bờ biển Việt Nam, đồng thời ra lệnh báo động sư đoàn 3 thủy quân lục chiến đang đóng ở Phi- líp- pin. Ngoài ra, bộ phận hiếu chiến ở Lầu năm góc còn dọa ném bom trở lại miền Bắc. Nhưng rồi chúng cũng chỉ dừng lại ở đó và phớt lờ lời kêu gọi thảm thiết của Thiệu. Điều đó chứng tỏ thế và lực của thày tớ chúng đều đã suy sụp nghiêm trọng. Ta giải phóng cả một tỉnh ở cách Sài Gòn chỉ một trăm ki- lô- mét mà chúng đành bất lực. Điều đó cho thấy lực lượng tổng trù bị của chúng đã bị xé lẻ, phân tán đến mức nào rồi. Các đồng chí nhớ lại xem, năm 72 sau khi ta giải phóng Quảng Trị chúng đã lồng lộn phản công đến mức nào. Thế mà lần này chỉ là những lời hò hét suông. Nói tóm lại, thời cơ giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà đã điểm. Nhiệm vụ trọng đại của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trong đó có binh chủng Thiết giáp của các đồng chí lúc này là phải nắm lấy thời cơ, thực hiện bằng được nguyện vọng thống nhất đất nước mà nghị quyết đã đề ra. Để thực hiện được điều đó chắc chắn chúng ta sẽ phải mở nhiều chiến dịch lớn, đánh liên tục, đánh đổ từng mảng tiến tới đánh đổ toàn bộ ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn. Trong tình thế ấy, lực lượng xe tăng của các đồng chí với sức mạnh đột kích của mình có vị trí rất quan trọng. Bản thân tôi cũng như các đồng chí trong Bộ Tổng tư lệnh, trong Quân ủy trung ương rất mong các đồng chí phát huy truyền thống “Đã ra quân là đánh thắng”, đóng góp nhiều hơn nữa sức mạnh của mình trong trận đánh cuối cùng này. Nhân dịp đầu năm mới, xin chúc toàn thể các đồng chí sức khỏe, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ, xây dựng binh chủng Thiết giáp thành binh chủng anh hùng của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng.

Lại một tràng pháo tay nữa nổi lên mãi không dứt.

Sau phần phổ biến những nhiệm vụ chủ yếu trong năm 1975 của tư lệnh Đào, hội nghị kết thúc trong không khí cực kỳ phấn khởi.

Về đến phòng khách Bộ tư lệnh, khi chỉ còn có hai người Tổng tham mưu trưởng mới nhỏ nhẹ:

- Nói thực với cậu, tớ đang rất bận. Chỉ vài hôm nữa tớ sẽ vào trong kia nên công việc đang chồng chất. Tuy nhiên, có một vài điểm tớ chưa thật yên tâm lắm nên phải thu xếp xuống dưới này. Dự hội nghị chỉ là một chuyện, còn chủ yếu là muốn trao đổi với các cậu một số vấn đề liên quan.

Đưa chén nước chè xanh tận tay Tổng tham mưu trưởng, ông Đào chăm chú:

- Dạ, xin mời thủ trưởng cứ nói.

Nhấp một ngụm nước chè xanh đặc sánh, Tổng tham mưu trưởng gật đầu ra ý hài lòng rồi chậm rãi:

- Thế này Đào ạ! Chắc chắn trong các chiến dịch sắp tới, xe tăng sẽ phải sử dụng đến nhiều. Thế mà trong bảng so sánh lực lượng bên cục Tác chiến chuẩn bị thì tớ thấy về mặt số lượng xe tăng của ta thua kém bên nó nhiều quá, chỉ có 1 trên 6 thì liệu ta có lép vế quá không? Các cậu nghĩ như thế nào về vấn đề này?

Thật may cho ông Đào là thời kỳ học ở Liên Xô cũng đã tiếp cận được với khá nhiều thông tin về tổ chức lực lượng tăng thiết giáp của Mỹ. Mới đây, chuyến đi kiểm tra nắm tình hình của tham mưu phó Đỗ cũng có một số tài liệu do các đơn vị xe tăng ta thu thập về tăng thiết giáp ngụy nên ông cũng nắm khá vững vấn đề và tỏ ra không lúng túng chút nào:

- Báo cáo thủ trưởng! Đúng là thế thật. Theo số liệu mà ta nắm được thì ngụy quân Sài Gòn hiện có trong tay khoảng 2000 xe tăng và thiết giáp. Còn về phía ta, cho đến lúc này trên toàn chiến trường miền Nam chỉ có 4 trung, lữ đoàn với khoảng hơn 300 đầu xe. Tỷ lệ 1 trên 6 mà các anh cục Tác chiến đánh giá là tương đối chính xác đấy ạ.

Tổng tham mưu trưởng hơi có vẻ nôn nóng:

- Đấy! Chênh lệch quá lớn thế thì liệu có đánh được nó không. Thông thường, bên tiến công phải chiếm ưu thế về lực lượng mới chắc thắng được. Thế mà ở đây thì lại ngược lại.

Ông Đào nhỏ nhẹ công nhận:

- Dạ! Chúng tôi cũng thấy như thế nhưng hiện giờ trang bị trong các kho của ta đã hết. Để khắc phục tình trạng này chúng tôi đã có công văn đề nghị Bộ cho phép điều động hai lữ đoàn trực thuộc và trung đoàn H06 bổ sung cho các chiến trường rồi ạ.

Tổng Tham mưu trưởng hơi ngạc nhiên:

- Tớ chưa thấy cơ quan báo cáo lên- Ông hơi nhướng mắt lên- Này, như thế thì ngoài này không còn đơn vị nào à?

Tư lệnh Đào gật đầu xác nhận:

- Vâng ạ! Đúng ra thì còn H02 nhưng là của binh đoàn Quyết Chiến.

Tổng Tham mưu trưởng lắc đầu:

- Không được! Không thể để ngoài này “rỗng ruột” được. Các cậu không nhớ bài học Triều Tiên à? Khi liên quân Trung Triều mải mê tiến xuống phía nam thì Mỹ và Đại Hàn cho quân đổ bộ cắt ngang vĩ tuyến 38 chặn đường về bị thiệt hại bao nhiêu, cậu biết không? Vì vậy, dứt khoát không được “dốc túi” như vậy. Thế nào cũng phải để lại một số đơn vị trực thuộc ngoài Bắc này và khu vực nam quân khu Bốn. Ít nhất, tại mỗi địa bàn phải có một trung hoặc lữ đoàn.

Tư lệnh Đào có vẻ ngượng vì tầm suy nghĩ hạn hẹp và sự hăng hái quá đáng của mình, ông thẹn thùng:

- Dạ! Tôi cứ nghĩ mình còn binh đoàn Quyết Chiến và lực lượng tại chỗ của các quân khu thì cũng đủ bảo vệ miền Bắc rồi ạ.

Tổng Tham mưu trưởng kiên quyết:

- Không được! Các lực lượng đó thì có đấy nhưng chưa đủ mạnh. Vì vậy, dù thế nào cũng cần phải có xe tăng để tổ chức phản kích khi cần thiết.

Ông Đào suy nghĩ một lát rồi thận trọng:

- Như vậy, xin phép Tổng Tham mưu trưởng cho chúng tôi rút bớt một số tiểu đoàn của H15 và H06 chi viện cho B2 thôi vậy.

Tổng tham mưu trưởng gật đầu:

- Có lẽ chỉ thế thôi- Ông trầm ngâm một lát rồi thở dài- Nhưng nếu chỉ đưa thêm được ba, bốn tiểu đoàn vào thì cũng chẳng làm thay đổi cán cân lực lượng được bao nhiêu, phải không?

Ông Đào xác nhận:

- Đúng thế! Có đưa thêm thì cúng chỉ tăng được khoảng gần một trăm đầu xe thôi ạ!

Tổng tham mưu trưởng nôn nóng:

- Vậy thì các cậu phải tham mưu cho các mặt trận sử dụng sao cho hiệu quả nhất. Tất nhiên, khi ta tiến công tức là ta chủ động chọn mục tiêu và có thể tập trung lực lượng vào đó, đánh vào chỗ địch mỏng yếu nhất, bất ngờ nhất. Nhưng khi phát hiện được hướng tiến công của ta chúng cũng dồn quân vào đó tổ chức phòng ngự hoặc phản công thì sao.

Ông Đào thận trọng:

- Báo cáo thủ trưởng! Đây cũng là câu hỏi mà chúng tôi trăn trở nhiều. Vì vậy, chúng tôi cũng đã nghiên cứu rất kỹ về lực lượng tăng thiết giáp của quân ngụy. Qua nghiên cứu chúng tôi nhận thấy lực lượng của chúng tuy có hơn ta về mặt số lượng nhưng về mặt chất lượng và sức mạnh thực sự thì cũng chưa hẳn thế đâu ạ.

Tổng tham mưu trưởng phẩy tay:

- Cậu nói cụ thể xem nào.

Ông Đào rành giọt:

- Báo cáo thủ trưởng! Hiện tại ngụy quân Sài Gòn có 4 lữ đoàn kỵ binh thiết giáp, bao gồm 21 thiết đoàn. Tuy nhiên, trong số này chỉ có 3 thiết đoàn chiến xa là trang bị M48, còn lại chủ yếu là trang bị M113 và một số M41. Như vậy, về mặt số lượng M48 theo lý thuyết là có khoảng 162 xe, còn trong thực tế thì không đến vì có một số đã bị ta diệt hồi 1972 chưa được bổ sung đủ theo biên chế. Ngoài ra, qua nghiên cứu của anh em trong chiến trường thì số lượng xe của địch hư hỏng không có khí tài thay thế cũng khá nhiều nên theo chúng tôi, số lượng M48 của địch chỉ còn trên dưới 100 đầu xe. Đó sẽ là đối thủ chủ yếu của xe tăng ta. Như vậy, nếu so sánh về số lượng xe tăng chủ lực thì ta lại có phần trội hơn một chút. Còn về sức mạnh hỏa lực thì ngay cả M48 cũng chỉ tương đương T54, T59 của ta, thậm chí còn kém hơn. Ngoài tất cả những cái đó ra, nói về yếu tố tinh thần thì ta hơn hẳn. Đặc biệt, từ sau hiệp định Pa- ri tới giờ cán bộ, chiến sĩ xe tăng cũng đã có thêm nhiều thời gian để huấn luyện nâng cao trình độ sử dụng trang bị vũ khí. Các cơ quan đại diện xe tăng tại các binh đoàn, các chiến trường cũng đã được kiện toàn và đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm làm tham mưu cho thủ trưởng các đơn vị về sử dụng xe tăng. Vì vậy, mặc dù về số lượng có ít hơn so với địch nhưng xin thủ trưởng cứ yên tâm về xe tăng ạ.

Khuôn mặt của Tổng tham mưu trưởng như giãn ra:

- Thế hả? Như thế thì tớ yên tâm rồi. Mà cái đó cũng phù hợp với truyền thống “lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều” của dân tộc ta phải không?- Như chợt nhớ ra điều gì, ông hất cằm- Này, cậu Kiệm đi đâu mà không thấy dự hội nghị nhỉ? Mà các cậu đã nhận được điện cử người tham gia đoàn công tác của Bộ vào Tây Nguyên chưa đấy?

Tư lệnh Đào lễ phép:

- Báo cáo thủ trưởng! Chúng tôi nhận được rồi ạ. Còn anh Kiệm đang dẫn đầu một đoàn cán bộ, nhân viên kỹ thuật đi giúp các đơn vị sửa chữa trang bị và tổ chức tập huấn một số nội dung mới về chiến thuật. Hiện anh ấy đang ở B2. Chúng tôi định cử anh Kiệm tham gia đoàn của Bộ. Nếu các thủ trưởng đồng ý thì tôi sẽ điện cho anh ấy quay ra B3 ngay.

Tổng tham mưu trưởng gật đầu:

- Thế cũng được!

Thập thò ở ngoài một lúc rồi. Thấy câu chuyện của hai người đã vãn, chính ủy Sính mới đẩy cửa bước vào:

- Mời thủ trưởng đi ăn cơm ạ. Muộn quá rồi.

Tổng tham mưu trưởng đưa tay nhìn đồng hồ, ông vui vẻ:

- Ờ! Muộn thật rồi nhỉ. Mà bây giờ tớ mới thấy đói.

ài cuốn để đầu giường ngủ... Số sách này phần lớn là do ông sưu tầm, cóp nhặt suốt mấy chục năm qua, đặc biệt là trong các cuộc đi học nước ngoài và những lần làm việc với chuyên gia bạn. Ngoài ra là sách mua, sách xin bạn bè, đồng đội và s
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Nguyễn Khắc Nguyệt

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.