Những ngày cuối năm trôi qua thật nhanh. Chẳng mấy mà cái Tết Ất Mão đã tới sau lưng. Có vẻ như năm nay kinh tế khá hơn nên các phiên chợ cuối năm hàng hóa phong phú hơn hẳn. Bất chấp cảnh mưa phùn, gió bấc người ta lũ lượt kéo nhau đi chợ sắm Tết. Mà hình như năm nay bộ đội được về phép Tết nhiều hơn thì phải. Chợ nào cũng thấy nhan nhản những bóng áo xanh của lính.
Biết tư lệnh Đào đã mấy năm không ăn Tết cùng gia đình nên chính ủy Sính gợi ý năm nay ông nên nghỉ mấy ngày phép vào dịp Tết. Trước thiện ý của người đồng cấp, ông Đào vui vẻ nhận lời. Ông dự định sẽ xin nghỉ phép trước Tết độ một tuần, đến Mồng Hai sẽ lên cơ quan trực thay cho các đồng chí khác đi nghỉ. Một phần vì đã lâu ông được ăn Tết cùng gia đình. Một phần vì thằng Hưng, cái thằng con nuôi của ông bà dạo vừa rồi bất ngờ viết thư lên thông báo với bố là ra Tết sẽ nhập ngũ. Cái thằng này ngày bé xanh xao, còi cọc lắm nhưng hai năm nay lớn phổng hẳn lên, trông cũng ra dáng đàn ông ra phết. Việc nó tự giác đi khám sức khỏe và chấp hành mọi quyết định của địa phương làm ông thấy phấn khởi. Như thế nghĩa là nó cũng biết nghĩ, biết bổn phận của mình với đất nước. Thực tình, bố con ông cũng ít khi nói chuyện với nhau nhưng ông tin rằng chính sự giáo dục bằng tấm gương của bản thân mình còn hơn vạn lần những câu giảng giải lý thuyết suông. Chuyện nó nhập ngũ ông cũng không có ý kiến gì, cũng chẳng tác động với địa phương hay xin cho nó về đơn vị mình. Ông muốn con đi lên bằng chính đôi chân của mình, không phải dựa dẫm vào ai. Và bước đầu nó đã làm được như vậy.
Bà Hạnh thì không quan tâm nhiều lắm tới những chuyện xa xôi đó. Nó lớn rồi thì nó phải đi. Nó đi bộ đội thì cũng như cha nó, như biết bao thanh niên trai tráng ở cái làng này, ở đất nước này. Chỉ biết Tết này ông ấy được nghỉ hẳn một tuần và cả nhà đoàn tụ là bà vui rồi. Ngay từ hôm biết ông về ăn Tết bà đã đăng ký với ông anh họ xin đụng hẳn một góc con lợn hơn bốn chục cân. Gạo nếp, đỗ xanh, măng miến… cũng đã chuẩn bị đủ cả. Bà muốn cái Tết này phải thật tươm tất. Mọi năm ông ấy đi vắng, chỉ có mấy mẹ con ở nhà thì đơn giản một chút cũng được. Còn năm nay dứt khoát phải đàng hoàng hơn.
Về nhà, thấy bà săm sắn chuẩn bị Tết ông cũng thấy vui vui. Cho đến lúc này ông mới thấy để chuẩn bị cho cái Tết của một gia đình không hề đơn giản một chút nào. Thời buổi chiến tranh, cái gì cũng khó kiếm, có thứ bà phải tích trữ từ mấy tháng trước rồi. Thằng Hưng thì đang bận đi thăm và chia tay bạn bè để chuẩn bị lên đường. Mấy đứa con gái thì mắt trước, mắt sau nhấp nhỉnh lên chợ thị trấn chơi. Thấy các con như vậy, ông bảo chúng cứ đi đi, năm nay đã có bố về, có việc gì bố sẽ làm cho. Nói như vậy, nhưng đến lúc vào việc thì ông cứ lúng ta, lúng túng như gà mắc tóc. Có bó giang bà bảo ông chẻ lạt gói bánh mà loay hoay mãi, được một bó lạt thì trăm cái lẹm cả chín chục. Bảo ông đi xiết đỗ thì đỗ cứ lăn lung tung, hạt vỡ vụn, hạt lại còn nguyên trông đến chán. Cuối cùng bà giao cho ông mỗi việc rửa lá dong. Ông vừa ngồi tỷ mẩn rửa lá, vừa nhìn bà tất bật đãi gạo, thổi đỗ, ướp thịt… vừa lẩm bẩm: “Thì ra, để làm được một cái bánh chưng thơm ngon, béo ngậy mà ông vẫn ăn ấy lại phức tạp đến thế. Cả một quy trình khép kín không thể bỏ qua một công đoạn nào”. Nghĩ đến đây, chợt ông nhớ lại hồi mới đi học lái xe tăng. Quy tắc lái thì học thuộc lòng rồi, bất cứ yếu lĩnh nào cũng phải thực hiện hàng loạt các động tác, thao tác theo một thứ tự nhất định. Nổ máy thì 13 thao tác. Khởi xe thì 5 thao tác vv… Ấy thế nhưng anh em nhà ta lại hay khôn vặt, chỉ nhăm nhăm “ăn cắp động tác”. Chả là làm như thế thì vừa nhanh, đạt chỉ tiêu về thời gian vừa đỡ mệt. Trợ giáo của bạn nhắc mãi vẫn không chừa. Thế rồi, hiệu quả nhãn tiền của cái trò làm tắt ấy đã hiển hiện. Trong một lần lái xe, quy định khi sang số phải đạp “hai ly hợp” nhưng lính ta chỉ đạp một lần và kết quả là cái hộp số vỡ tung. Thế mới biết không phải ngẫu nhiên mà người ta lại đề ra cả một mớ quy trình, quy phạm rắc rối đến thế. Sau đận ấy, đoàn phải họp và ra nghị quyết kiên quyết chống làm bừa, làm ấu, chấp hành nghiêm mọi quy định trong quy tắc sử dụng trang bị. Nghĩ đến đây, ông bật cười. Thấy ông cười, bà ngẩng lên nhìn rồi nhăn nhó: “Rửa như ông thì ăn cả đất à”. Rồi bà nhặt lấy một cái lá, hướng dẫn ông từng động tác lau sao cho sạch mà không bị rách. Ông chỉ biết cười rồi lẩm bẩm: “Phức tạp đến thế kia à?”. Đúng là cả đời làm lính nên những việc thông thường nhất ông cũng không biết.
Tết năm nay ở nhà Nhã cũng vui lắm. Nhà chỉ có hai mẹ con song bà cụ Đảm vẫn quyết định phải ăn Tết cho đàng hoàng. Mọi năm đạm bạc thế nào chứ năm nay nhất định phải đầy đủ. Chẳng gì bà cũng sắp có cháu để bế bồng. Cái thằng bé, hay con bé không biết vẫn còn đang nằm trong bụng Hiền kia nhưng dường như nó đã hiện hữu khắp mọi nơi trong căn nhà này. Làm cái gì, mua cái gì mẹ Nhã cũng bảo hồ hởi nói với mấy bà bạn là mua cho cháu tôi cứ như nó đang bám nhằng nhẵng theo bà. Gạo nếp, đỗ xanh, măng miến, nấm hương… mỗi thứ một tý bà tích cóp dành dụm từ bao giờ không biết nhưng cũng đủ cho một cái Tết dư dật. Chỉ có mỗi vại hành nén bà đã muối từ hàng tháng trước là Hiền thích nhất. Đến bữa cô cứ lấy ra hàng bát nên vợi đi trông thấy. Bà ca cẩm con dâu: “Ăn vừa vừa tôi, không xót ruột chết” nhưng lại như mở cờ trong bụng “Ăn dở như thế chắc chắn là con trai rồi”. Giáp Tết, anh họa sĩ Trí đi công tác ở Quảng Trị ra còn mang theo một gói quà to tướng. Ngoài bánh kẹo và tấm chăn dù vừa nhẹ vừa ấm còn có một gói cá thu khô. Anh bảo đấy là quà của mẹ Thảnh gửi ra cho mẹ con Hiền. Anh còn thông báo một tin vui, cả hai anh con trai của mẹ Thảnh đã tìm về được với mẹ. Anh lớn đi tập kết, được mấy năm thì bố mất. Anh được nuôi ăn học ở một Trường học sinh miền Nam rồi đi bộ đội tên lửa, giờ đã là cán bộ trung cấp của quân đội ta. Sở dĩ giờ anh mới về quê được là vì vừa mới đi học nước ngoài. Anh thứ hai đi lính ngụy, đóng tận trong Huế nhưng đã đào ngũ trốn về. Ngày gặp nhau, cả hai mừng mừng, tủi tủi. Chỉ có mẹ là mừng. Mẹ nói trong nước mắt: “Giừ thì mẹ chết cũng được rồi”. Cầm gói quà của người mẹ miền xa gửi cho, Hiền xúc động đến trào nước mắt. những kỷ niệm về những ngày được sống trong tình thương của mẹ ở cái làng Phó Hội xa xôi đó lại hiện về dồn dập. Cô thầm hứa một ngày nào đó, khi đất nước yên hàn rồi nhất định cô sẽ dẫn con mình vào thăm mẹ.
Với Hiền, mặc dù Tết này Nhã không về nhưng cô không thấy cái cảm giác lẻ loi, buồn tủi như mấy năm trước. Dường như cái sinh linh nhỏ bé cô đang mang trong bụng đã tiếp thêm cho cô nguồn sinh lực không bao giờ cạn và những niềm vui mới. Mặc dù đang bụng mang, dạ chửa nhưng việc gì cô làm cũng băng băng. Bà cụ thì thương con dâu và sợ có chuyện gì không hay xảy ra với đứa cháu tương lai nên cấm cô không được làm việc nặng. Nhưng cứ cấm việc này thì cô lại tìm việc khác để làm. Nhà nông thì thiếu gì việc vặt. Vậy nên, nhiều khi bà cằn nhằn với con dâu nhưng thế hóa ra lại vui cửa, vui nhà.
Nhìn cảnh mẹ chồng săm sắn sắm Tết Hiền lại thấy thương Nhã nhiều hơn. Con nhà nghèo, vừa lớn lên lại đi bộ đội nên cái nết ăn uống của Nhã cũng đơn giản, dễ chiều. Hình như anh ăn gì cũng ngon vậy. Đến nỗi ông bố Hiền, vốn là người cầu kỳ trong chuyện ăn uống phải kêu lên: “Cái anh này, ăn cái gì anh cũng khen ngon thì tôi biết đãi anh món gì bây giờ”. Hiền biết bố mình có ngầm ý chê anh con rể là loại “thực bất tri kỳ vị”. Nhưng chính vì vậy cô càng thương anh hơn. Thế là cưới nhau đã bảy, tám năm mà hai vợ chồng chưa năm nào được ăn Tết cùng nhau, chưa năm nào cô được nấu cho anh ăn những món ăn cổ truyền ngày Tết mà cô đã được mẹ dạy cho từ ngày còn bé. Hồi vào thăm anh cô cũng đã trổ hết tài nấu nướng để chăm sóc, bồi bổ cho anh nhưng nào có được như ý vì cái gì cũng thiếu, đâu có được như dịp Tết ở nhà. Chắc chỉ đến khi hòa bình thì cái mong ước giản dị ấy mới thực hiện được.
★ ★ ★
Trái ngược hẳn với cái không khí sôi động, vui vẻ của cái Tết cổ truyền là một không khí cũng sôi động nhưng lại hết sức khẩn trương và bí mật trong các đơn vị quân đội. Ngày 25 tháng Chạp năm Giáp Dần, đại tướng Tổng tham mưu trưởng cùng đoàn cán bộ B75 bay vào chiến trường. Chuyến đi của ông chẳng mấy ai hay biết vì những gói quà và thư chúc Tết của ông đã được chuẩn bị sẵn, vẫn đến đúng các địa chỉ cần gửi vào ngày giáp Tết. Những bức điện chúc mừng ngày thành lập quân đội các nước anh em vào tháng Hai, tháng Ba cũng được ông ký sẵn để văn phòng gửi đi. Nhưng dẫu cho ông chưa vào đến Tây Nguyên thì ở đó mọi việc đã được triển khai để chuẩn bị cho trận đánh mở màn vào đầu năm tới.
Ở đó, cán bộ chỉ huy các đơn vị đang lặn lội băng rừng, lội suối đi chuẩn bị chiến trường.
Ở đó, các đơn vị công binh đang làm việc ngày đêm để mở thêm hàng trăm ki- lô- mét đường mới về phía nam.
Ở đó, cán bộ các cơ quan đang gò mình bên những bản đồ quyết tâm, sơ đồ kế hoạch chiến đấu và những bảng biểu tính toán dày đặc những con số.
Ở đó, các đơn vị chiến đấu đang sẵn sàng chờ lệnh cơ động như một mũi tên đã lắp trên dây cung.
Dường như chẳng một ai còn nghĩ đến Tết.
Đối với Thắng thì đó là những ngày hết sức bận rộn. Theo mệnh lệnh sơ bộ thì trung đoàn của anh sẽ phải cơ động khoảng gần ba trăm ki- lô- mét xuống phía nam Tây Nguyên. Đường thì toàn đường quân sự làm gấp, hết sức khó đi, lại phải qua nhiều sông suối, trong đó có con sông Sê- Rê- Pốc nổi tiếng về hiểm trở và hung dữ. Tình trạng kỹ thuật của xe pháo sau một thời gian dài củng cố và nhất là được đoàn cán bộ kỹ thuật của binh chủng vào giúp đỡ hồi tháng trước nên tương đối tốt và có thể yên tâm. Nhiệm vụ của anh bây giờ là phải làm kế hoạch bảo đảm kỹ thuật cho cuộc hành quân và sơ bộ phác thảo kế hoạch bảo đảm kỹ thuật trong chiến đấu cho cả trung đoàn. Trưởng thành từ lái xe rồi kỹ thuật viên đại đội lên, chuyện sửa chữa hỏng hóc của xe pháo thì anh không hề ngần ngại. Tuy nhiên, bây giờ lại phải ngồi đây moi óc tính toán xem phải mang theo bao nhiêu tấn khí tài, mang những loại gì, mỗi xe mang bao nhiêu, còn lại thì cần bao nhiêu ô tô vận tải vv… rồi tổ chức các tổ sửa chữa cơ động như thế nào, tiếp nhận xăng dầu ở đâu, phải mất bao nhiêu xe chở đạn, vị trí tiếp đạn ở chỗ nào mà lại phải thể hiện lên bản đồ nữa mới chết chứ. Đúng là rối tinh, rối mù lên.
Đang bù đầu lên về những tính toán với sơ đồ thì dưới tiểu đoàn 3 lại yêu cầu ban kỹ thuật xuống cùng nghiên cứu về cách bố trí, sắp xếp lại trong buồng chiến đấu để có thể tăng cơ số đạn mang theo. Thắng đã định không xuống nhưng nghĩ đi, nghĩ lại thấy cũng hay hay. Nếu sáng kiến đó mà thực hiện được thì rất tốt. Nhớ lại hồi trực tiếp đánh nhau ở Làng Vây, trận đánh chỉ kéo dài thêm một chút nữa thì khối xe hết đạn. Mà đúng là cái loại T54, T59 này, mỗi xe chỉ có 34 viên đạn pháo thì ít quá thật. Ngoài chuyện đó ra, mỗi xe mang thêm được vài quả đạn thì cả trung đoàn chí ít cũng dôi ra được một, hai xe tải chở đạn. Vì vậy, gác mọi công việc lại Thắng lao ngay xuống tiểu đoàn.
Chẳng chờ ban kỹ thuật xuống, dưới tiểu đoàn 3 anh em đã bắt đầu cho làm thử ở một xe. Chính ra, chuyện này đã được khơi mào từ sau trận tiến công cụm cứ điểm Đắc Pét hồi cuối năm ngoái. Nằm giữa một thung lũng, xung quanh có sông Pô- Cô và suối Đắc Pét bao quanh, lại có hệ thống vật cản nhân tạo tương đối vững chắc nên xe tăng rất khó xung phong. Tuy nhiên, xung quanh nó lại có một số điểm cao nên ta đã lợi dụng để đưa xe tăng lên đó bắn ngắm trực tiếp vào cứ điểm. Với 5 chiếc xe tăng bố trí trên hai ngọn đồi ở khoảng cách trên dưới 2000 mét, sau 45 phút triển khai hỏa lực hầu hết các công sự trong cứ điểm địch bị phá hủy, bộ binh chỉ việc xông vào làm chủ. Tuy nhiên, cũng trong trận này có mấy xe đã bắn hết đạn pháo. Vì vậy, vấn đề làm thế nào để tăng thêm cơ số đạn pháo cho xe tăng đã được đặt ra và bây giờ, khi chuẩn bị đi chiến đấu thì trở thành vấn đề cấp bách. Thực ra, đây không phải là một việc đơn giản. Nó không chỉ đơn thuần là đưa thêm đạn vào buồng chiến đấu mà vấn đề là làm sao phải cố định thật chặt chẽ, không để va đập dẫn đến móp méo hay tự nổ trong xe. Đặc biệt là phải sắp xếp sao cho không ảnh hưởng đến thao tác của kíp chiến đấu. Chính vì vậy, mặc dù đã làm thử song ban chỉ huy tiểu đoàn vẫn phải báo cáo lên trung đoàn yêu cầu ban kỹ thuật xuống kiểm tra và cho ý kiến.
Lúc Thắng và tiểu đoàn phó kỹ thuật Thành xuống đến lán xe thì chiếc xe 983 của đại đội trưởng Hướng đã được anh em làm thử xong. Hướng dẫn hai người ra xe, Hướng hồ hởi:
- Mỗi cơ số chỉ có 34 viên đạn, bắn thòm thèm lắm. Anh em nó nghĩ thế này là hợp lý đấy. Bản thân tôi đã kiểm tra rồi, thấy tốt lắm, không ảnh hưởng gì đến thao tác của kíp xe cả- Anh bắt tay hai người- Bây giờ các anh cứ kiểm tra rồi cho ý kiến, tôi phải về hội ý ban chỉ huy một lát.
Pháo thủ Vi Văn Thể đang hì hục trong buồng chiến đấu thấy hai cán bộ cấp trên đến thì ngửa cái mặt bê bết dầu mỡ lên cười toe toét:
- Cố hết sức thì được 10 viên, anh ạ!
Thắng gật đầu, nghiêm trang:
- Biết thế đã! Các cậu lên cả đây rồi báo cáo lại xem làm thế nào?
Cả kíp xe trèo lên tháp pháo. Lái xe Khả lau vội những giọt mồ hôi trên mặt rồi rành giọt:
- Cũng không có gì lớn, anh ạ. Chỉ cần sắp xếp lại cho gọn các thứ trong buồng chiến đấu và ít dây buộc là xong thôi mà- Thấy Thắng liếc mắt về phía cái bình tăng nhiệt vứt chỏng chơ sau buồng truyền động, Khả cười lấp liếm- À, cái bình tăng nhiệt này chứ gì. Ở nước mình thì cần quái gì đến nó. Đang nóng bỏ “xừ” lên đây này.
Thắng gật đầu:
- Tháo bỏ bình tăng nhiệt thì được, nhưng còn các ống dẫn của nó thì giải quyết thế nào?
Khả đáp ngay tắp lự như đã suy nghĩ kỹ từ trước rồi:
- Có gì đâu. Tất cả các ống dẫn em cứ đút nút lại rồi vặn vòng kẹp cho thật chặt. Nổ máy lên mà không thấy rò rỉ là được chứ gì. Còn dây điện thì cuốn băng cách điện cho dầy, cũng không thấy chập chạp gì cả- Khả cười hể hả- Đấy, nguyên chỗ cái bình tăng nhiệt này là đã được 3 viên rồi, anh ạ.
Chưa thật yên tâm, Thắng gặng lại:
- Nổ máy thử lại thật chưa?
Tiểu đoàn phó Thành giờ mới lên tiếng:
- Anh yên tâm. Tôi đã chỉ đạo anh em làm rất cẩn thận. Chính mắt tôi đã theo dõi rồi mà.
Thắng nhìn kỹ cái bình tăng nhiệt. Đúng là nó thuộc cấu tạo của xe nhưng quả thật nó chỉ có tác dụng ở xứ lạnh. Còn ở mình thì tháo bỏ ra cũng chẳng ảnh hưởng gì. Anh gật đầu ra vẻ đồng ý rồi hỏi:
- Thế tổng cộng các cậu mang thêm được mấy viên.
Thể lẩm nhẩm một lát rồi kể:
- Tổng cộng được mười viên anh ạ. Chỗ bình tăng nhiệt được ba viên này. Trên vành tháp pháo được bốn viên. Thành xe bên phải dẹp mấy cái hòm đạn K53 đi chỗ khác được thêm hai viên. Dưới sàn xe, chỗ vách ngăn buồng động lực được một viên nữa.
Thắng khằn khừ:
- Liệu lúc xe chạy nó có lăn lông lốc không đấy?
Cậu Vinh pháo hai cười:
- Lăn thế nào được hả anh. Bọn em cột chặt lắm rồi. Anh Thể anh ấy kiếm được thứ dây rừng chắc lắm.
Thắng cúi người nhìn vào trong xe. Anh đưa tay lay thử mấy viên đạn ngay trên vành tháp pháo thấy không nhúc nhích. Thì ra nó được cột chặt vào cái giá của mấy viên đạn phía trong. Nhìn sâu xuống phía dưới, mấy viên đạn ở hai bên thành xe cũng được cột chặt bằng dây rừng vào những cái móc, cái gờ và những con ốc có sẵn ở đó. Chui hẳn vào trong xe, Thắng lay từng quả đạn theo tất cả các hướng nhưng thấy chúng vẫn không hề suy suyển. Anh nghĩ bụng: “Công nhận bọn này sáng ý. Cố định như thế này thì có chạy từ Bắc vào Nam cũng không bung ra được. Chợt một ý nghĩ lóe lên trong đầu, Thắng ngẩng lên hỏi giật giọng:
- Hừ! Nhưng cột chặt thế nào lúc đánh nhau loay hoay mất hàng phút mới lấy được quả đạn ra thì tiêu đời.
Pháo hai Vinh rút trong túi áo ra một con dao nhỏ sáng loáng, miệng cười hý hửng:
- Anh không phải lo, chỉ cần xoẹt hai nhát là đã lấy được quả đạn ra rồi. Có khi lại còn nhanh hơn tháo móc khóa ấy chứ.
Liếc qua con dao Thắng nhận ra ngay đó là loại dao được làm từ các đai hãm xe tăng hỏng. Đó là loại thép cực tốt nên dao sắc lắm. Loại này mấy anh râu rậm thích lắm vì mài kỹ một tý là có thể cạo dâu. Chính anh cũng có một con anh em “xê 11” tặng. Đúng là các loại dây rừng, dây dù có chắc đến đâu thì nó cũng chỉ cần đưa nhẹ một cái là đứt tung. Tuy nhiên, với bản tính cẩn thận của con nhà kỹ thuật, Thắng vẫn lắc đầu:
- Cậu vào thao tác thử tớ xem nào.
Không chút ngần ngừ, Vinh chui vào vị trí của pháo hai, cậu ta cài con dao một cách cẩn thận vào túi ngực. Sau đó Vinh mở khóa nòng pháo rồi hạ ghế xuống ngồi đàng hoàng và nói:
- Anh hô đi rồi bấm giây xem.
Thắng gật đầu rồi hô nhỏ:
- Chuẩn bị…! Bắt đầu!
Như một cái máy, Vinh vừa quay người lại vừa rút con dao ra. Tay trái cậu ta đỡ lấy viên đạn, còn tay phải đưa dao lách vào mối dây. Chỉ thấy “xoẹt, xoẹt” viên đạn đã rời ra. Đút con dao vào túi, hai tay Vinh đỡ lấy viên đạn và tống vào buồng đạn. Một tiếng “phập” của khóa nòng vang lên trầm đục. Trong nháy mắt, tay cậu ta trượt lên ấn vào nút bảo hiểm PA, miệng hô:
- Xong!
Thắng đã ngừng nhẩm đếm, anh gật đầu:
- Tốt lắm! Mất có 7 giây. Như thế là được.
Xem xét thêm một hồi thấy không vướng víu gì đến thao tác của từng thành viên, Thắng nhoài ra tháp pháo bắt tay tiểu đoàn phó Thành:
- Tốt đấy, anh ạ. Sau đây tôi sẽ về báo cáo với ban chỉ huy trung đoàn. Nếu các đồng chí ấy đồng ý thì sẽ phổ biến để áp dụng trong tất cả các đơn vị. Lúc ấy thì nhờ các anh làm mẫu cho nhé.
Thành vui mừng gật đầu:
- Chúng tôi sẵn sàng.
Đã định đi về, chợt Thắng thần người ra. Lúc làm kế hoạch hành quân anh đã biết, quãng đường sắp tới của trung đoàn mình sẽ phải đi qua những cao nguyên đang vào cao điểm của mùa khô. Vì vậy, vấn đề dự trữ nước cũng vô cùng quan trọng. Nói dại, lúc ấy mà hệ làm mát cạn nước thì có khi phải bỏ cả xe chứ chẳng chơi. Thấy Thắng ngẩn mặt ra nghĩ ngợi, Thành và kíp xe không ai nói gì. Một lát, Thắng vồ vập:
- Này, tiện đây các cậu nghiên cứu thêm xem có cách nào cố định để dự trữ thêm vài chục lít nước được không?
Tiểu đoàn phó Thành cười hồ hởi:
- Anh không nói thì chúng tôi cũng nghĩ đến rồi. Đảm bảo với anh là chỉ với mấy cái bao nhựa dúi vào các hốc trong xe chúng tôi cũng đã có 60 lít nước rồi. Ngoài ra, phía ngoài xe thì mang bao nhiêu chả được.
Thắng thở phào nhẹ nhõm. Đúng là trí tuệ quần chúng có khác. Chào mọi người ra về, Thắng đi như chạy. Đúng là một sáng kiến hay. Tuy nó rất nhỏ nhưng lại một công đôi việc. Vừa có thêm đạn chiến đấu vừa đỡ được hai xe tải chở đạn.
★ ★ ★
Đã cuối tháng Chạp, trong khi những cơn mưa phùn gió bấc dai dẳng đang làm tê tái cả miền Bắc thì ở miền Đông Nam Bộ lại đang là cao điểm của mùa khô. Mấy tháng rồi không mưa, lại thêm cái nắng chói chang từ vầng mặt trời rực rỡ cứ cần mẫn chiếu xuống mỗi ngày hơn chục tiếng đồng hồ làm cho mọi thứ trở nên khô như rang. Những vạt cỏ tranh đổi màu vàng rực, nhiều chỗ bị cháy táp cả đi. Trong rừng cao su lá khô ngập đầy, cái nào cái nấy cứ giòn như bánh đa nướng. Những đám rẫy tăng gia mặc dù vẫn được tưới tắm thường xuyên nhưng cây cối vẫn cứ héo úa, còi cọc.
Vừa từ Phước Long rút quân về, đơn vị của Cân lại bị cuốn vào một guồng quay bận rộn mới. Hết họp rút kinh nghiệm chiến đấu lại tham gia tập huấn cán bộ, vừa tập trung khôi phục xe pháo lại phải lo chống hạn cho mấy cái rẫy tăng gia. Lại phong thanh nghe nói một chiến dịch mới sắp được mở nên không khí càng trở lên khẩn trương gấp bội. Thành ra, Tết đến nơi rồi mà chẳng ai quan tâm.
Ở đoàn công tác của Bộ tư lệnh Thiết giáp, sau khi tổ chức tập huấn cán bộ xong phó tư lệnh Kiệm cùng hai trợ lý tham mưu đã quay trở ra B3 theo điện từ ngoài Bộ tư lệnh gửi vào để tham gia đoàn công tác B75 của Tổng Tham mưu trưởng. Nhóm cán bộ, nhân viên kỹ thuật thì túi bụi với công việc khôi phục, sửa chữa xe pháo, chỉ có Hữu là đã vãn vãn việc. Anh cũng định mở một lớp bồi dưỡng viết văn cho anh em như ở H03, H73 nhưng rồi thấy đơn vị bận bịu quá nên thôi. Vì vậy thời gian rỗi anh dùng để đi thăm thú những địa danh nổi tiếng ở quanh đây và hệ thống lại những ghi chép bề bộn trong gần hai tháng qua của mình. Hôm qua, anh đã lên tận thị trấn Lộc Ninh, bỏ ra hàng giờ đi lang thang trong cái thị trấn đã được mệnh danh là thủ đô của Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam. Mặc dù chỉ cách Sài Gòn có hơn trăm cây số nhưng dường như chính quyền Thiệu cũng không còn đủ sức uy hiếp nơi đây nên thị trấn khá thanh bình và sầm uất. Đặc biệt là hàng hóa thì hết sức phong phú. Thôi thì, hàng từ Sài Gòn lên, hàng từ Thái Lan và Căm- Pu- Chia sang, hàng từ ngoài Bắc vào… đủ cả. Tiền thì miễn là có, còn tiền gì cũng được. Anh cũng đã ngẩn ngơ đứng ngắm những dãy nhà khang trang, nơi đặt cơ quan đại diện của chính phủ cách mạng và trụ sở của ủy ban quân sự bốn bên ngay bên cạnh sân bay Lộc Ninh lộng gió. Anh cũng đã dành nhiều thời gian gặp gỡ những cán bộ chiến sĩ đã vào đây từ những năm 64- 65. Hồi ấy, vừa mới nhập ngũ vào binh chủng anh đã nghe kể do chưa có điều kiện đưa xe tăng vào miền Nam, binh chủng đã cử hàng trăm cán bộ, chiến sĩ đi bộ vào đây để “lấy xe địch đánh địch”. Trong mắt Hữu và các đồng đội trẻ hồi ấy thì đó chính là những anh hùng đích thực, những Kinh Kha của thời nay. Vì vậy, mỗi khi có dịp được gặp anh Bùi Tâm, anh Hải Hà hay bất cứ cán bộ nào khác là Hữu lại xoắn xuýt hỏi đủ thứ chuyện, sau đó mới về ghi chép lại một cách có hệ thống. Chiều nay, khi đang lúi húi bên cuốn sổ dày cộm trong lán của Phòng chính trị thì một chiến sĩ còn khá trẻ, gương mặt sáng sủa hơi có phần láu lỉnh đột ngột xuất hiện. Cậu ta đứng nghiêm, hơi có vẻ trịnh trọng:
- Xin lỗi anh! Có phải anh là anh Hữu không ạ?
Hữu hơi ngạc nhiên, đây là lần đầu tiên mình gặp cậu ta sao cậu ta lại biết tên mình. Anh gật đầu theo phản xạ:
- Đúng! Tớ là Hữu đây. Có việc gì thế?
Cậu chiến sĩ trẻ giờ mới tươi cười:
- Chúng em nghe tên anh mãi rồi, hôm nay mới được gặp. Em là Quang, pháo thủ xe anh Cân. Hôm nay, anh Cân cho em lên mời anh xuống thăm đại đội. Nếu anh đi được thì em sẽ chờ ở đây để dẫn đường luôn.
Hữu mừng quýnh, thật ra anh đã định tự đi xuống chỗ Cân từ mấy hôm nay nhưng ngại anh em đang bận nên còn nấn ná. Bây giờ, chắc đã vãn việc rồi nên Cân mới mời anh xuống đây. Gấp vội quyển sổ, đút vào chiếc túi mặt nạ anh gật đầu:
- Ừ! Đợi tớ một tý nhé!- Anh chạy vội sang phòng bên, chắc là báo cáo với thủ trưởng phòng chính trị đoàn rồi quay lại tươi tỉnh- Nào, ta đi!
Chàng pháo thủ tên Quang đúng là người hay chuyện. Mới đi được nửa đoạn đường về đại đội thì Hữu đã cảm thấy thân thuộc với từng người trong kíp xe 475 như đã quen nhau từ lâu lắm. Quang còn đọc cho Hữu nghe bài thơ “QUÊ” của Cân viết về kíp xe của mình rồi còn bình luận thêm như một nhà phê bình chính cống. Hữu lắng nghe một cách thú vị. Không chỉ vì bài thơ của Cân khá hay, mà còn vì cái sự thẩm thơ rất mộc mạc nhưng cũng đầy tinh tế của người bạn đồng hành. Đúng là một thế hệ chiến sĩ có văn hóa, họ không chỉ là đối tượng mà có khi lại chính là chủ thể sáng tạo của văn học nghệ thuật. Hai anh em cứ vừa đi vừa thủ thỉ chuyện trò nên mãi gần tối mới về đến đại đội. Vừa trông thấy Hữu đại đội trưởng Thanh đã chạy lại nắm chặt hai tay anh:
- Quý hóa quá! Hôm nay đúng là “rồng đến nhà tôm”. Cứ hát mãi bài hát của anh mà mãi tận hôm nay mới được gặp anh. Nhất định hôm nay anh phải ở lại đây để kể chuyện làm sao anh viết được bài hát hay thế!
Hữu ngượng ngập đính chính:
- Ấy chết! Đấy không phải bài hát của tớ. Tớ chỉ viết phần lời thôi!
Thanh cười cởi mở:
- Hà… Hà…! Nhạc nhiếc thì bọn tôi không biết, chỉ biết hát lời thôi. Mà lời là của anh thì là bài hát của anh, có đúng không?
Đến lúc này Cân mới chen vào được:
- Anh thông cảm! Từ hôm quay về trên này đến nay bận quá, mãi đến hôm nay mới sắp xếp đón anh xuống được- Anh vỗ vai Thanh- Để anh Hữu đi rửa mặt mũi chân tay cho đỡ mệt đã nào.
Đến lúc ấy Thanh mới buông tay Hữu ra, anh lại cười hể hả:
- Anh đi rửa mặt rồi vào đây ăn với anh em chúng tôi bữa cơm rau mắm mừng ngày gặp mặt.
Bữa cơm mừng ngày gặp mặt thật vui vẻ cùng với những câu chuyện về đủ mọi đề tài. Chuyện hành quân. Chuyện xây dựng đơn vị. Chuyện đánh Phước Long. Sáu Thanh là người nói nhiều nhất. Anh vui cũng phải vì chặng đường về quê hương của anh có vẻ như đã gần đến đích. Ngày ra đi cứ tưởng hai năm rồi sẽ trở về, nào ngờ nó lại kéo dài đến hai mươi năm với biết bao chông gai gian khổ thế này. Chỉ còn một băn khoăn không biết mẹ già có đợi được đến ngày chiến thắng mà gặp con hay không. Nhắc đến mẹ, giọng Thanh chùng hẳn xuống, mắt thì ngân ngấn nước. Đã gần hai mươi năm anh chưa nhận được bất cứ tin tức nào của bà. Từ khi vào trong này, Thanh cũng đã nhờ vả các cơ quan dân chính trên Miền giúp đỡ thăm dò tin tức nhưng cũng chưa có kết quả. Chính điều đó làm anh nôn nóng chờ ngày được đi chiến đấu nhất.
Hữu vừa nhẩn nha nhấm nháp cái vị là lạ của những món mà lần đầu anh mới được ăn vừa lắng nghe câu chuyện của Sáu Thanh và những người đồng đội trẻ tuổi. Thật là thú vị. Người ta bảo “đi một ngày đàng, học một sàng khôn”. Thế mà chuyến đi này của anh là biết mấy ngày đàng, gặp biết bao nhiêu người, nghe biết bao câu chuyện. Anh thèm được như những bạn viết văn, với những tư liệu này họ có thể dựng nên nhiều cuốn tiểu thuyết. Còn anh lại chỉ biết làm thơ. Cái ý nghĩ mới manh nha trên đường hành quân vào đây lại trở về trong đầu Hữu, không viết được tiểu thuyết thì anh sẽ viết một trường ca. Phải, chỉ có một trường ca thật tầm cỡ mới giúp anh trải được hết những cảm xúc của lòng mình.
★ ★ ★
Sự vội vã quay trở ra Tây Nguyên của phó tư lệnh Kiệm tỏ ra hợp lý. Sau hai ngày hai đêm hành quân liên tục, khi vừa về đến hậu cứ của cơ quan mặt trận thì anh được biết, sau khi anh đi Bộ đã cử một Tổng tham mưu phó vào trực tiếp truyền đạt quyết định của Bộ thống soái tối cao cho B3 là chuẩn bị tiến công Buôn Ma Thuột làm trận mở màn cho chiến dịch Xuân Hè 1975 tại mặt trận Tây Nguyên. Bộ cũng đã ra quyết định thành lập Bộ tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên và cử trung tướng Hoàng Minh, nguyên tư lệnh khu Năm, một vị tướng dày dạn kinh nghiệm trận mạc làm Tư lệnh chiến dịch. Ngày Kiệm có mặt tại B3 cũng là ngày Bộ Tư lệnh chiến dịch thông qua kế hoạch tiến công Buôn Ma Thuột để chuẩn bị báo cáo đại diện Quân ủy trung ương thông qua. Không kịp thay quần áo, Kiệm đề nghị được gặp Tư lệnh ngay. Vừa nhìn thấy Kiệm, Tư lệnh chiến dịch đã đon đả:
- Sao! Nghe anh em báo cáo cậu đang ở B2 cơ mà?
Kiệm vừa thở vừa trả lời:
- Báo cáo Tư lệnh, trước khi đi vào B2 tôi đã được biết ta chuẩn bị mở chiến dịch ở B3. Vừa rồi tôi lại nhận được điện ở nhà báo vào cử tôi tham gia đoàn B75 của Bộ. Vì vậy, vừa vãn việc trong ấy là tôi tức tốc quay ra đây ngay.
Nhìn bộ dạng nhếch nhác của Kiệm, Tư lệnh tỏ vẻ quan tâm:
- Chắc là chạy suốt ngày suốt đêm hả?
Kiệm cười cười xác nhận:
- Báo cáo thủ trưởng, đúng là chạy suốt hai ngày hai đêm đấy ạ.
Tư lệnh chiến dịch ngạc nhiên:
- Thế chưa kịp ăn uống gì sao?
Kiệm lại gật đầu cười:
- Vâng ạ! Nhưng không sao thủ trưởng ạ. Lính xe tăng bọn tôi ăn khỏe nhưng cũng giỏi nhịn đói lắm.
Tư lệnh mặt trận lắc đầu:
- Không được! Cuộc chiến đấu còn dài, phải biết giữ gìn sức khỏe để mà theo cho kịp chứ- Ông liếc nhìn đồng hồ rồi gọi thư ký riêng của mình- Đồng chí bảo công vụ nấu cho mấy anh chàng xe tăng này nồi cháo. Còn cậu, cứ về rửa mặt mũi, thay quần áo xong là có cháo ngay thôi. Tớ sẽ cho lùi cuộc họp lại vài phút để chờ các cậu.
Kiệm thật sự cảm động. Mặc dù chưa được làm việc cùng tướng Hoàng Minh nhiều nhưng anh cũng đã được nghe nhiều giai thoại về ông. Đó là một vị tướng văn võ song toàn và đặc biệt là nhân hậu, yêu thương cấp dưới như con em mình. Anh chân thành:
- Thay mặt anh em trong đoàn tôi xin cảm ơn thủ trưởng. Chúng tôi sẽ cố gắng có mặt đúng giờ ạ. Nhưng tôi cũng xin phép trước, thủ trưởng cố gắng dành cho tôi một chút thời gian để phát biểu về vấn đề hiệp đồng binh chủng trong tiến công thành phố, thị xã. Vừa qua vào B2 chúng tôi có dịp gặp gỡ các đơn vị đánh chiếm Phước Long và cũng rút ra một số kinh nghiệm rất quý báu muốn truyền đạt lại cho các đơn vị.
Tư lệnh chiến dịch gật đầu:
- Đồng ý! Bây giờ cứ về ăn sáng đi đã.
Giữ đúng lời hứa của mình. Tư lệnh chiến dịch đã lùi cuộc họp lại mười lăm phút. Chỉ khi thấy Kiệm và hai trợ lý có mặt ông mới khai mạc cuộc họp và yêu cầu đồng chí trưởng phòng Tác chiến báo cáo toàn bộ dự thảo quyết tâm. Kiệm vừa lắng nghe vừa nhìn quanh phòng họp. Như vậy, không chỉ có anh mà có cả Tư lệnh Pháo binh, Tư lệnh Thông tin, phó Tư lệnh Công binh cũng có mặt ở đây. Thì ra đoàn B75 của Bộ đã vào đến đây và tham gia giúp đỡ cho Bộ Tư lệnh chiến dịch ngay từ bước làm quyết tâm. Liếc thấy Trần Doãn đang ngồi phía cuối phòng họp đang mỉm cười nhìn mình, anh khẽ gật đầu chào. Đó chính là người đồng đội đã cùng anh vào chuẩn bị chiến trường đón xe tăng vào B3 từ cuối năm 71, hiện giờ là trưởng phòng tăng của mặt trận. Phía trên, giọng đồng chí trưởng phòng tác chiến vẫn đều đều nhưng khúc chiết. Kiệm thấy vui vui vì nội dung của quyết tâm về cơ bản gần như ý kiến anh đã phát biểu trước cơ quan tham mưu của B3 hôm trước. Đó là tiến công Đức Lập trước rồi ngay sau đó tiến công Ban Mê Thuột. Khi trưởng phòng Tác chiến báo cáo xong thì trung tướng Tư lệnh chiến dịch đứng dạy:
- Thưa các đồng chí! Chúng ta vừa được nghe toàn bộ dự thảo quyết tâm chiến đấu tiến công thị xã Buôn Ma Thuột do cơ quan tham mưu chiến dịch chuẩn bị. Để các đồng chí có cơ sở phát biểu hoàn chỉnh quyết tâm, tôi xin nói rõ thêm một số vấn đề thế này- Ông lại gần tấm bản đồ quyết tâm và cầm lấy que chỉ- Trận Ban Mê Thuột được xem như trận then chốt quyết định để mở màn cho Xuân Hè năm nay. Thắng trận này chúng ta sẽ tạo ra một hiệu ứng dây chuyền vô cùng lớn, nó sẽ làm rung chuyển không chỉ Tây Nguyên mà cả miền Nam này. Để đảm bảo chắc thắng trận này, chúng ta đã có quá trình chuẩn bị tương đối chu đáo. Trước hết, để giữ bí mật cho trận đánh chúng ta đã tăng cường hoạt động tạo thế, nghi binh làm cho địch không biết đâu mà lần. Và kết quả, như chúng ta thấy cho đến giờ chúng vẫn đinh ninh ta sẽ đánh Pờ- Lây- Cu và đang tăng cường lực lượng phòng thủ ở Bắc Tây Nguyên. Thứ hai, để đảm bảo cơ động lực lượng, nhất là các đơn vị xe tăng, pháo binh và trang bị nặng, một mạng đường chiến lược đã và đang được mở sâu xuống phía nam. Với hệ thống đường này chúng ta sẽ tạo ra ưu thế áp đảo về mặt lực lượng so với địch ở Buôn Ma Thuột. Đó cũng là một cơ sở để bảo đảm cho chắc thắng. Thứ ba, trước và trong khi tiến hành đánh Ban Mê Thuột chúng ta sẽ tiến hành một số trận đánh trên đường 14, đường 19 và đường 21 nhằm cô lập hoàn toàn thị xã này với phần còn lại của Tây Nguyên và đồng bằng ven biển miền Trung, đảm bảo chúng không có khả năng ứng cứu Ban Mê Thuột bằng đường bộ. Với cách đánh này, đảm bảo Buôn Ma Thuột sẽ nằm trong tay chúng ta chỉ sau một trận- Ông đưa bàn tay to bè của mình chụp lấy chỗ thị xã Buôn Ma Thuột trên bản đồ rồi nắm lại- Nói như vậy để các đồng chí có một cái nhìn tổng thể và toàn cục cả về thế và lực của ta trong trận then chốt mở màn cho chiến dịch này. Vấn đề còn lại là thuộc về chúng ta. Cụ thể là phải khẩn trương cơ động lực lượng tới vị trí tập kết trong thời gian quy định. Bên cạnh đó cũng phải tuyệt đối giữ bí mật không để lộ bất cứ một hành động nào làm cho địch nghi ngờ. Còn bây giờ, xin mời các đồng chí đóng góp ý kiến để quyết tâm của chúng ta thật hoàn chỉnh và chặt chẽ. Xin mời các đồng chí!
Sau một phút im lặng là rất nhiều cánh tay đưa lên. Tư lệnh chiến dịch chỉ định lần lượt từng người phát biểu. Các ý kiến nhìn chung nhất trí với dự thảo quyết tâm, chỉ đề xuất thêm những nội dung không lớn lắm. Có vẻ như văn kiện này đã được chuẩn bị rất kỹ. Thấy đã hòm hòm rồi, Tư lệnh chiến dịch mới chỉ Kiệm:
- Đại diện xe tăng phát biểu xem nào?
Kiệm đứng dạy, anh hơi cúi người chào chung tất cả rồi rành giọt:
- Báo cáo Tư lệnh và toàn thể các đồng chí! Rất may cho chúng tôi là thời gian vừa qua đã có mặt tại B2. Chúng tôi đã gặp gỡ các cán bộ, chiến sĩ trực tiếp chiến đấu giải phóng thị xã Phước Long và đi tham quan thị xã. Qua đó cũng rút ra được một số bài học kinh nghiệm về tiến công thành phố, thị xã bằng hợp đồng binh chủng. Vì vậy, được phép của đồng chí Tư lệnh, tôi xin báo cáo lại một số bài học mà chúng tôi đã đúc kết được từ chiến dịch Đường 14- Phước Long mà chủ yếu là từ trận Phước Long như sau- Sau khi khái quát diễn biến trận đánh, những ưu khuyết điểm chính, Kiệm kết luận- Theo tôi, Phước Long là một thị xã nhỏ, nhỏ hơn Ban Mê Thuột rất nhiều mà trận đánh kéo dài đến sáu ngày đêm chủ yếu là do hai vấn đề. Một là do sử dụng lực lượng còn phân tán, không tập trung đúng mức vào hướng chủ yếu, mục tiêu chủ yếu. Hai là, hiệp đồng giữa xe tăng và bộ binh vẫn còn rất lỏng lẻo và thường xuyên bị tách rời nhau. Ngay trận đầu tiên đánh vào thị xã, một đại đội của chúng tôi đã vào đến trung tâm thị xã rồi nhưng nhìn quanh thì không thấy một đồng chí bộ binh nào. Sợ lại có một An Lộc nữa nên anh em phải cho xe tăng quay ra. Giá như hôm ấy, chỉ cần có một đại đội hay trung đội bộ binh thôi cũng được đi cùng, phân đội này xộc thẳng vào tòa thị chính thì trận đánh sẽ kết thúc sớm hơn rất nhiều. Hay khi đánh trại Lê Lợi, bộ binh cũng không theo kịp xe tăng nên bọn biệt kích ngụy còn trèo cả lên xe tăng định dùng thủ pháo tiêu diệt kíp xe. Nếu đồng chí trưởng xe không nhanh trí dùng chế độ quay pháo bằng điện gạt chúng xuống thì chúng đã thành công. Vì vậy, qua những bài học đó tôi xin đề nghị thế này. Trước hết, về sử dụng lực lượng xe tăng, tôi đề nghị sử dụng tập trung cả trung đoàn H73 cho trận này. Mỗi trung đoàn bộ binh sẽ được tăng cường một đại đội xe tăng. Ngoài ra, theo tôi ta nên tổ chức một lực lượng thọc sâu cỡ một tiểu đoàn tăng thiết giáp hỗn hợp có chở theo bộ binh. Lực lượng này sẽ không tham gia đánh địch vòng ngoài mà ngay khi trận đánh bắt đầu sẽ nhằm thẳng vào mục tiêu chủ yếu là sư bộ 23 mà tiến. Sau khi tiêu diệt được mục tiêu chủ yếu lực lượng này sẽ từ trong đánh ra phối hợp với các hướng, các mũi khác. Tổ chức được như vậy chắc chắn địch sẽ không kịp trở tay và trận đánh sẽ kết thúc rất nhanh. Hết ý kiến ạ!
Kiệm kết thúc một cách đột ngột. Phòng họp lặng đi dễ đến hai phút. Có vẻ như đề xuất của anh hơi quá mới mẻ thì phải. Ngẫm nghĩ một lát, Tư lệnh chiến dịch mới gật đầu:
- Ý kiến của đồng chí Kiệm rất táo bạo. Đúng là nếu làm được như thế ta sẽ có thể kết thúc trận đánh rất nhanh. Tôi đề nghị thế này, sau đây đồng chí Kiệm sẽ trao đổi thêm với các đồng chí bên tham mưu về cách thức tổ chức cụ thể lực lượng thọc sâu này. Cần phải đánh giá đầy đủ hơn trên tất cả các vấn đề để quyết định sử dụng lực lượng sao cho hợp lý nhất. Sau khi trao đổi xong các đồng chí báo cáo trực tiếp với tôi- Ông khoát tay một vòng- Còn đồng chí nào có ý kiến nữa không? Nếu không, ta tạm dừng cuộc họp tại đây.
Mọi người đứng dạy lục tục rời phòng họp. Kiệm vẫy Doãn đến gần, hai người bắt tay nhau thật chặt. Doãn gật gù:
- Phải công nhận đề xuất của phó Tư lệnh rất hay và táo bạo. Thực tình, lúc đầu chúng tôi cũng nghĩ đến điều đó nhưng chưa dám mạnh dạn đề xuất vì sợ thị xã thì quá to, lực lượng địch thì mạnh. Nếu ta không giải quyết nhanh được mà bị địch bao vây lại thì gay to.
Kiệm cười:
- Nhưng không vào hang cọp thì sao bắt được cọp con. Tất nhiên cũng còn nhiều vấn đề phải bàn. Lát nữa, cậu và tớ cùng làm việc với tham mưu chiến dịch. Sau đó tớ phải về B75, còn cậu Lê với cậu Ngô tớ để lại đây giúp các cậu và H73 chuẩn bị. Theo tớ, có lẽ phải huấn luyện bổ sung cho bộ binh về cách đánh hiệp đồng binh chủng mới được. Cái anh B16 này vừa mới ở Bắc vào, mà ở ngoài ấy “nó” chưa bao giờ được diễn tập hiệp đồng với xe tăng đâu. Cậu phải báo cáo chuyện này với tư lệnh và lên kế hoạch huấn luyện cho họ.
Doãn gật đầu:
- Anh cứ yên tâm! Cái này có kế hoạch rồi. Hiện nay “nó” còn đang cơ động. Khi nào vào đến vị trí tập kết chiến dịch chúng tôi sẽ thực hiện- Thấy trưởng phòng Tác chiến và mấy sĩ quan tham mưu đang có ý chờ, Doãn kéo tay Kiệm- Các anh ấy đang chờ mình kìa.
Hai anh em quay lại chỗ tấm bản đồ cùng nhóm sĩ quan tham mưu. Cuộc trao đổi của họ lúc to, lúc nhỏ, lúc căng thẳng như cãi nhau đến quá trưa mới kết thúc.
★ ★ ★
Những ngày áp Tết trôi qua thật nhanh. Quanh đi, quẩn lại nhoáng cái đã Ba mươi Tết. Sau bữa cơm tất niên chiều ba mươi, ông Đào xung phong nhận trông nồi bánh chưng. Năm nay, phấn khởi vì ông được về ăn Tết, con trai lại sắp đi bộ đội nên bà quyết định gói những hai chục cái bánh chưng. Cái nồi đồng “năm mươi” mượn của ông anh họ to như thế mà xếp hai chục cái bánh vào cứ đầy phè lên, bà phải bện thêm một cái nùn rơm lót lên miệng nồi. Bên trên bà đặt một cái chậu nhôm to đựng gần đầy nước. Nồi bánh đã được đặt lên cái bếp chất bằng mấy gộc tre to đùng để dành từ mấy tháng trước và nổi lửa từ lúc nấu cơm xong nên sau khi ăn xong đã bắt đầu sôi. Tiếng nước sôi lục bà, lục bục. Thỉnh thoảng hơi nước lại phụt ra qua kẽ hở giữa đáy chậu và cái nùn rơm nghe đến “phì” một cái. Thấy ông tỏ ý như vậy, Bà Hạnh sợ ông mệt nhưng ông cười bảo: “Đối với tôi, chuyện thức trắng đêm như cơm bữa rồi” nên bà cũng đành chấp thuận. Tuy nhiên, biết ông vụng những khoản này nên bà phải dặn rất kỹ: “Chậu nước trên này lúc nào cũng phải gần đầy. Khi nào ông thấy nước trong nồi bánh không còn phập phì nữa là nó đã cạn, phải lấy nước nóng ở chậu để chế vào. Chế nước xong lại phải đổ nước vào cho nó nóng. Để cạn quá hay chế bằng nước lạnh, bánh nó “hấy” là đen cả năm đấy”. Đã thấm bài học về quy trình gói bánh nên ông nghe rất chăm chú và còn yêu cầu bà làm mẫu cho một lần. Quả thật, đây là lần đầu tiên trong đời ông được thức trông nồi bánh chưng Tết.
Rải một chiếc chiếu ngay trên nền bếp ông Đào ngồi tư lự nhìn bếp lửa đang hồng rực. Những cảm giác lẫn lộn ùa về trong lòng ông. Ông vừa cảm thấy hạnh phúc khi được hưởng cái hạnh phúc đón Tết trong không khí ấm cúng gia đình lại vừa cảm thấy như mình có lỗi khi không ở lại sát cánh cùng những người đồng đội của mình trong thời khắc quan trọng của đất trời này. Tự cười mình lẩn thẩn, ông với tay lấy chiếc đài bán dẫn nhỏ dò sóng đài Tiếng nói Việt Nam. Sau một hồi sột soạt, tiếng hát bắt đầu vang lên. Đã là chương trình văn nghệ đón Xuân rồi. Ông vặn nhỏ đài rồi lại trầm ngâm suy nghĩ. Hôm qua, ông đã tranh thủ nói chuyện với Hưng. Có lẽ đó là cuộc nói chuyện dài nhất từ trước đến nay giữa hai bố con. Thực tình, từ khi biết tin đứa con nuôi của mình tình nguyện nhập ngũ thì một nỗi lo lắng mơ hồ đã dấy lên trong lòng ông. Tiếng là con ông nhưng nó đích thực là giọt máu còn sót lại của hai liệt sỹ đã bỏ mình vì nước. Lỡ ra, nó có mệnh hệ nào thì ông biết nói sao khi gặp lại họ ở thế giới bên kia. Vì vậy, trong thâm tâm ông muốn Hưng chọn một con đường an toàn hơn. Với vị trí của mình, ông hoàn toàn đủ khả năng can thiệp để nó được hoãn nhập ngũ hay ở lại một đơn vị nào đó ngoài này mà không phải vào trong kia. Tuy nhiên, sợ động đến lòng tự trọng của con nên ông cũng muốn nói chuyện với nó để tìm hiểu xem nó nghĩ thế nào. Quả thật là cuộc nói chuyện đã cho ông hiểu thêm rất nhiều về đứa con vừa gần mà lại vừa rất xa của mình. Khi ông hỏi: “Sao không ở nhà tiếp tục học lên đại học mà lại tình nguyện đi bộ đội?” thì nó trả lời tỉnh khô: “Con cũng nghĩ kỹ rồi. Chưa có hòa bình thống nhất thì học cũng chẳng để làm gì. Đến lúc hòa bình, thống nhất rồi thì đi học cũng chưa muộn”. Bảo nó: “Thì có người đi đánh giặc nhưng cũng phải có người đi học để sau này xây dựng đất nước chứ” thì nó nói: “Bố biết anh Lê Mã Lương chứ. Anh ấy có câu nói rất hay mà bọn con đứa nào cũng thích. Vì vậy, cả bọn chúng con cùng viết đơn tình nguyện đi đợt này”. Câu nói này thì ông biết, ông cũng phải công nhận người thanh niên đó đã phát biểu thay tất cả những thế hệ thanh niên Việt Nam trong suốt mấy chục năm nay. Tuy nhiên, đó mới chỉ là một mặt của tấm huy chương, phải ra chiến trường rồi mới hiểu được mặt kia của nó như thế nào. Nhưng chẳng lẽ lại đem đổ nước lạnh vào bầu nhiệt huyết của con (?). Cố vớt vát ông hỏi nó: “Có thích về đơn vị nào thì để bố xin về cho?” thì nó tỏ ra bình thản: “Bố cứ mặc con. Đợt này trường con đi gần trăm đứa. Con thích được đi cùng với bọn nó”. Đến thế là cùng rồi còn gì mà nói nữa. Thôi thì đành phải phó mặc cho số phận vậy. Tuy nhiên, ông cũng hơi yên tâm vì ông biết cuộc chiến này không thể kéo dài nữa. Thế và lực của địch đã yếu đi nhiều. Trong khi bộ đội ta đã có những trưởng thành vượt bậc.
Đây đó đã thấy tiếng pháo nổ đì đẹt. Ông Đào ngoái cổ nhìn ra ngoài. Bầu trời đêm ba mươi đen kịt. Theo như các cụ truyền lại thì đêm ba mươi mà tối đen thế này sang năm mới sẽ mưa thuận, gió hòa, mọi việc hanh thông. Nếu được như vậy thì may quá. Chủ trương của Bộ thống soái tối cao là quyết tâm giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà trong vòng hai năm tới liệu có thành hiện thực hay không? Đầu óc ông lại quay trở lại với câu hỏi của Tổng tham mưu trưởng hôm nào: “so sánh lực lượng giữa tăng thiết giáp của ta và địch hiện nay là quá chênh lệch, vậy thì phải làm thế nào để thắng chúng”. Hôm ấy, ông đã trả lời một cách rất tự tin để cấp trên yên tâm. Tuy nhiên, trong sâu thẳm trong lòng không phải ông không lo lắng. Về mặt số lượng, rõ ràng tỷ lệ 1 trên 6 là chênh lệch quá nhiều. Mà “mãnh hổ nan địch quần hồ”. Chúa sơn lâm dẫu có mạnh đến đâu mà bị một lũ cáo đông đảo tiến công cũng có khi không địch nổi. Trong tình thế ấy, không có gì hơn là phải biết dùng mưu kế. Phải đánh vào chỗ địch bất ngờ nhất, mỏng yếu nhất. Khi đã xác định được mục tiêu chủ yếu rồi phải biết tập trung lực lượng đủ mạnh để dứt điểm nhanh, không để chúng có cơ hội cơ động lực lượng ra phản kích. Bức điện của phó tư lệnh Kiệm gửi về báo cáo sơ lược những ưu khuyết điểm của trận Phước Long tuy rất ngắn gọn nhưng cũng để ông nhận thấy sử dụng lực lượng xe tăng trong trận này là có vấn đề. Sở dĩ trận đánh kéo dài là do ta sử dụng còn phân tán, chưa biết tập trung lực lượng vào mục tiêu chủ yếu và thời cơ quyết định. Vì vậy, ngay sau đó ông đã chỉ thị cho cơ quan chủ nhiệm tăng thiết giáp các mặt trận phải nhanh chóng phổ biến kinh nghiệm này tới các đơn vị. Riêng với B3 ông cũng đã điện trực tiếp cho Trần Doãn tham mưu cho Bộ tư lệnh mặt trận sử dụng toàn bộ trung đoàn H73 cho trận đánh mở màn chiến dịch. Đầu óc ông lại liên tưởng đến trận Đống Đa- Ngọc Hồi mùa Xuân Kỷ Dậu gần hai trăm năm trước của người anh hùng áo vải Quang Trung- Nguyễn Huệ. So sánh lực lượng hai bên lúc ấy cũng chênh lệch chẳng khác cái tỷ lệ đang làm đau đầu ông bây giờ bao nhiêu. Trong khi quân Thanh có đến hai mươi chín vạn thì Quang Trung chỉ có trong tay mười vạn binh vừa mới huy động từ Nghệ An. Ấy vậy mà chỉ trong 5 ngày trời, cái đạo quân đông nghịt của Thiên triều ấy đã vỡ ra từng mảng trước sức tấn công vũ bão và thần tốc của quân ta. Đúng là “quân cốt tinh, không cốt nhiều”. Và điều quan trọng nhất là tài dùng binh, khiển tướng. Hai năm vừa qua, cán bộ chiến sĩ xe tăng của ông cũng đã có thời gian để chuẩn bị, để tự nâng mình lên ngang tầm với nhiệm vụ. Vì vậy, không lẽ gì mà phải quá lo lắng. Cao hứng, ông lẩm nhẩm lại lời hịch hào hùng trước lễ xuất quân của Quang Trung năm nào: “Đánh cho để dài tóc, Đánh cho để đen răng, Đánh cho nó chích luân bất phản, Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn, Đánh cho sử tri Nam Quốc sơn hà chi hữu chủ”. Đang say sưa, ông chợt giật bắn mình vì tiếng của bà:
- Chết thôi! Ông nhận trông nồi bánh chưng mà để thế này à? “Hấy” hết bánh của tôi rồi.
Vừa nói bà vừa đôn đáo nhấc cái chậu nhôm lên chế nước vào miệng cái nồi năm mươi đang nghi ngút khói. Đổ hết chậu nước vẫn chưa đủ, bà vớ luôn phích nước sôi cạnh đấy dội vào. Vẻ hối lỗi, ông phân bua:
- Thì tôi vẫn thấy nó “phập phà, phập phì” đấy mà.
Bà cười dễ dãi:
- Vẫn còn may là tôi xuống kịp. Thôi, để đấy tôi trông cho. Ông lên sửa soạn quần áo rồi ra cũng giao thừa. Tôi đã sắp lễ xong rồi đấy.
Ông bước ra ngoài. Tiếng pháo nổ đã dày hơn. Thời khắc giao thừa thiêng liêng sắp đến. Ngước lên bầu trời đen kịt đêm ba mươi ông thầm khấn trời đất, tổ tiên phù hộ độ trì cho đất nước sớm yên bình, phù hộ cho mọi gia đình được bình an, mạnh khỏe và đủ ăn, đủ mặc.
★ ★ ★
Cách đó hơn một nghìn cây số, trong một cánh rừng săng lẻ bên bờ con sông Sê- Rê- Pốc hung dữ và bí hiểm Thắng cũng đang ngồi một mình ngước lên bầu trời đêm ba mươi đen thẫm. Tối nay, anh đã nhận ở lại trông cái xe dắt và cho tổ thợ của mình sang đón giao thừa cùng với anh em đại đội 9. Trong cái giờ phút thiêng liêng này, anh muốn để anh em bớt thấy cô đơn. Dù sao, so với mấy tay thợ thì anh cũng là người già dặn nhất và ít nhất cũng có đến sáu cái Tết ở chiến trường rồi. Cũng may, bây giờ đã có cái đài bán dẫn Na- ti- o- nan chính hiệu thay cho cái đài tự lắp Ô- ri- ông- chế làm bạn. Vừa lắng nghe tiếng hát của chương trình ca nhạc đón giao thừa Thắng vừa bồi hồi nhớ lại đêm giao thừa Tết Mậu Thân. Năm đó, cũng bên bờ một dòng sông anh cùng đồng đội đã đón giao thừa khi chỉ cách địch có vỏn vẹn 6 ki- lô- mét. Còn năm nay, các anh lại cũng đón giao thừa bên cạnh một dòng sông, cũng trong tình trạng phải tuyệt đối bí mật vì cách địch chẳng bao xa. Năm đó, các anh chuẩn bị đánh trận đầu tiên của lực lượng tăng thiết giáp Việt Nam, mở ra truyền thống vẻ vang “Đã ra quân là đánh thắng” của binh chủng. Còn năm nay, các anh cũng đang chuẩn bị đánh trận mở đầu cho trận đánh lớn giải phóng miền Nam, trận đánh mà hơn ba mươi triệu người dân Việt Nam hằng mơ ước bao năm. Hai cái giao thừa thật giống nhau mà cũng thật khác nhau. Năm 68, các anh ra quân với lực lượng vẻn vẹn hai đại đội. Còn năm nay, cả trung đoàn H73 của anh đã ém quân tại đây. Mà không chỉ có thế, cùng hành quân vào đây với các anh còn có rất nhiều đơn vị binh chủng kỹ thuật nữa.
Cách đây vừa tròn một tuần thì trung đoàn nhận lệnh cơ động lực lượng vào vị trí tập kết chiến dịch. Do đã có dự báo nhiệm vụ từ trước nên ngay lập tức ban chỉ huy trung đoàn tổ chức cho anh em ăn Tết trước vào ngày Ông Táo lên trời. Mọi thứ đã được cố định sẵn sàng nên ăn Tết xong chỉ còn chờ trời tối là lên đường. Để đảm bảo kỹ thuật cho hành quân, đại đội sửa chữa được chia thành từng tổ đi theo các đại đội. Riêng Thắng không đi theo xe ô tô của ban kỹ thuật mà xin đi theo chiếc xe dắt cùng tổ thợ đầu đàn đi cuối đội hình. Thành ra, từ hôm đó đến nay anh và tổ thợ gần như nằm trong đội hình của đại đội 9. Gần một tuần liền đêm đi, ngày nghỉ vượt hơn ba trăm ki- lô- mét đường mới mở, xuyên qua những cánh rừng khộp trơ trụi lá cho đến hôm qua toàn trung đoàn đã có mặt bên bờ con sông hoang vắng này. Mà cũng may có con sông nên còn có một dải rừng xanh tốt này để trú quân chứ mùa khô Tây Nguyên này tìm cho ra chỗ giấu cả một trung đoàn xe tăng đâu có dễ. Gần một tuần phải tiết kiệm từng hạt nước, lại bị tắm trong cả một biển bụi nên vừa đến nơi, giấu xe xong là lính tráng kéo cả ra sông tắm giặt. Con sông Sê- Rê- Pốc hung dữ nhưng đang là mùa khô nước cứ trong văn vắt. Lính ta thỏa sức vẫy vùng, tên nào tên ấy kỳ ra cả ki- lô ghét.
Thấy đã ba mươi Tết mà mấy con gà tăng gia mang theo xe đã vào nồi tất, Thắng bảo tổ thợ của mình với anh em “xê Chín” đang tắm dưới sông đi tát cá để kiếm tý chất tươi ăn Tết. Cả bọn xách cuốc, xẻng và mấy cái thùng 10 lít chặn một khúc con suối nhỏ gần chỗ nó đổ ra sông rồi hỳ hục tát. Mất gần nửa tiếng thì đoạn suối cạn nhưng chẳng thấy con cá nào. Cả bọn đang thất vọng định về thì thấy Độ còi nhảy cẫng lên và hét thất thanh. Thì ra, cái tảng đá mà cậu ta đứng trên đó đang nhúc nhích. Định thần lại cả bọn mới phát hiện ra đó là một con ba ba. Nó đang tìm đường chạy ra sông. Thế là cả đám xúm vào túm nó nhưng không được vì con ba ba quá to, mai nó lại trơn. Thắng vớ ngay cái cuốc chim và hét bảo mọi người lui ra. Anh nhằm chỗ đầu con vật bổ một nhát trời giáng. Con ba ba không chết nhưng rụt cổ vào. Lính ta lật ngửa nó lên rồi khiêng về. Không có cân nhưng ước lượng chắc không dưới hai mươi ki- lô. Con ba ba khổng lồ đã làm cho bữa cơm tất niên chiều ba mươi thêm phần rôm rả. Tiếc cái thiếu gia vị nên chỉ làm được hai món: ba ba nấu với củ chuối và ba ba rang muối.
Từ chiếc đài bán dẫn, tiếng pháo đã rộn lên. Thắng biết giờ phút giao thừa sắp tới. Lòng anh bỗng trào lên nỗi nhớ nhà da diết. Giờ này, chắc ông bà, bố mẹ và các em anh đang quây quần bên mâm cỗ cúng giao thừa và chờ người đến xông nhà. Ấy là do ông anh kỹ tính. Năm nào cụ cũng có nhời trước với một người bà con khỏe mạnh, tốt tính lại hợp tuổi đến xông nhà sau lúc giao thừa. Sau thủ tục ấy anh em anh mới đi đâu thì đi. Riêng Thắng thường được cử đi gánh gánh nước đầu năm ở cái giếng cổ để lấy may. Cái giếng làng anh có từ bao giờ chẳng biết nhưng không bao giờ cạn, nước vừa trong vừa ngọt. Cứ sau giao thừa thì bờ giếng như có hội vì cả làng cùng ra gánh nước.
Tiếng pháo đột ngột chấm dứt. Từ trong chiếc đài vẳng ra lời chúc Tết của Bác Hồ. Đã mấy năm nay, giao thừa năm nào Đài tiếng nói Việt Nam cũng phát lại lời chúc Tết của vị Cha Già dân tộc mặc dù Người đã đi xa. Thắng bỗng cảm thấy ấm lòng. Thưa Bác, ngày chiến thắng chắc chắn sẽ không còn xa nữa.
★ ★ ★
Cuối cùng, kế hoạch tiến công thị xã Buôn Mê Thuột cũng được đại diện Bộ Chính trị tại mặt trận thông qua. Sau khi thực hiện các trận đánh cài thế nhằm cô lập Buôn Mê Thuột quân ta sẽ tiến công thị xã theo năm hướng. Việc sử dụng trung đoàn xe tăng H73 về cơ bản như đại diện xe tăng đã đề nghị. Theo đó, ngoài tiểu đoàn 1 cơ động vào sau được sử dụng làm dự bị cho mặt trận thì trên các hướng Tây- Bắc, Đông- Bắc và Tây- Nam mỗi hướng sẽ có một đại đội xe tăng tăng cường cho một trung đoàn bộ binh. Trên hướng Tây Bắc, đại đội 8 của tiểu đoàn 3 phối thuộc cho trung đoàn M48 có nhiệm vụ đánh chiếm hậu cứ pháo binh, hậu cứ thiết đoàn 8, căn cứ tiểu đoàn 1 của trung đoàn 53, sau đó phát triển vào tiểu khu Đắc Lắc và sở chỉ huy sư đoàn 23. Trên hướng đông bắc là đại đội 4 của tiểu đoàn tăng 2 tăng cường cho trung đoàn bộ binh C5 có nhiệm vụ đánh chiếm sân bay thị xã, đầu mối giao thông Ngã Sáu và tham gia đánh chiếm tiểu khu Đắc Lắc. Đại đội 7 của tiểu đoàn 3 được tăng cường cho trung đoàn bộ binh M74 đánh chiếm điểm cao Chư Duê, sau đó phát triển vào sở chỉ huy sư đoàn 23. Riêng tiểu đoàn tăng 3 thiếu gồm 8 xe T54 của đại đội 9 và 8 xe thiết giáp K63 sẽ chở theo một tiểu đoàn của trung đoàn bộ binh H4 làm mũi thọc sâu có nhiệm vụ đánh chiếm khu kho Mai Hắc Đế và sau đó đánh vào Bộ tư lệnh sư đoàn 23 của ngụy từ hướng tây. Đây là mục tiêu chủ yếu của trận đánh này. Khác với các trận đánh trước đây thường tuần tự đánh từ ngoài vào trong. Trận này Bộ tư lệnh chiến dịch quyết định sẽ bỏ qua các mục tiêu bảo vệ vòng ngoài mà đánh thẳng vào nội đô, dùng sức mạnh áp đảo của binh chủng hợp thành mà nòng cốt là xe tăng với bộ binh để nhanh chóng tiêu diệt cơ quan đầu não của địch, sau đó mới đánh tỏa ra xung quanh. Có thể nói đó là một ý đồ rất sáng tạo và cực kỳ táo bạo vì thực hiện được như vậy sẽ nhanh chóng kết thúc trận đánh. Tuy nhiên, đối với lực lượng xe tăng thì quyết định này sẽ gây ra rất nhiều khó khăn. Khi bỏ qua không đánh các cứ điểm bảo vệ vòng ngoài, các đơn vị bộ binh thì có thể bí mật cơ động chiếm lĩnh trận địa ở khoảng cách gần được chứ xe tăng thì chịu. Đi đến đâu cũng cứ ầm ầm như động rừng làm sao giữ được bí mật cho đến phút chót theo yêu cầu của mặt trận. Vì vậy, Bộ tư lệnh chiến dịch đã quy định các đơn vị xe tăng phải chiếm lĩnh vị trí tập kết chiến đấu ở cách xa thị xã trên dưới ba mươi ki- lô- mét. Chỉ khi quân ta đã bắt đầu pháo hỏa chuẩn bị mới bắt đầu được cơ động tiếp cận mục tiêu. Quỹ thời gian dành cho việc cơ động từ vị trí tập kết lên vị trí điều chỉnh cuối cùng chỉ có tối đa là ba giờ, từ 2 giờ sáng cho đến 5 giờ sáng. Đó quả là một bài toán khó đặt ra trước mắt Lê Ngộ và cán bộ, chiến sĩ trung đoàn H73. Nếu mở đường trước thì khác chi “lạy ông tôi ở bụi này”. Còn nếu không mở đường thì trong vòng ba tiếng đồng hồ làm sao vượt nổi quãng đường dài qua đủ các loại địa hình như vậy. Lại còn có hướng phải vượt sông Sê- Rê- Pốc nữa chứ. Mỗi cái xe tăng hơn ba chục tấn thế này không biết công binh quân đoàn có loại cầu phao hay phà tải trọng lớn thế không?
Biết là khó khăn nhưng nhiệm vụ là nhiệm vụ, không còn con đường nào khác ngoài tìm mọi biện pháp để hoàn thành. Vò đầu bứt tai một lúc rồi Ngộ cho mời ngay cán bộ của trung đoàn công binh 7 tới bàn biện pháp khắc phục. Hai bên trao đi đổi lại gần tiếng đồng hồ rồi thì cũng đi đến kết luận: căn cứ vào nhiệm vụ của từng hướng, trước ngày N sẽ cơ động xe tăng đến vị trí tập kết chiến đấu có lợi nhất, ở khoảng cách gần nhất có thể nhưng vẫn phải đảm bảo bí mật tuyệt đối. Song song với việc đó sẽ kết hợp với công binh tổ chức trinh sát đường cơ động từ vị trí tập kết chiến đấu đến vị trí điều chỉnh cuối cùng. Chỗ nào quá khó khăn thì đánh dấu trên bản đồ, công binh sẽ tập kết vật liệu và nhân lực gần đó, khi bắt đầu nổ súng sẽ tiến hành khắc phục. Tại bến vượt sông Sê- Rê- Pốc cũng vậy. Công binh sẽ tập kết phao gần đó, lợi dụng đêm tối để triển khai các bến phà dã chiến. Toàn bộ đường cơ động sẽ được bộ phận trinh sát kết hợp giữa xe tăng và công binh đánh dấu bằng bẹ chuối hoặc các dải vải trắng. Khi đến giờ cơ động xe tăng cứ theo vệt đường đã đánh dấu, gặp vật cản thì tìm cách vòng tránh để vượt qua, còn cây cối thì húc đổ mà đi.
Đã được đi trinh sát một lần nên Thắng thấy có vấn đề không ổn. Từ vị trí tập kết vào đến thị xã là gần ba mươi ki- lô- mét thì hầu hết là rừng khộp và rừng săng lẻ, chỉ khi cách thị xã độ năm, sáu ki- lô- mét mới có rẫy cà phê hoặc cao su của dân. Mà rừng ở đây còn khá nhiều cây to, nhiều cây đường kính đến hai, ba người ôm, húc nó không hề đơn giản tý nào. Nhớ lại trận đánh cao điểm 543 hồi ở Đường Chín- Nam Lào cũng gặp tình trạng tương tự nên Thắng đột ngột giơ tay. Chỉ cần trung đoàn trưởng Lê Ngộ gật đầu một cái là anh đứng dậy phát luôn:
- Tôi xin có ý kiến. Qua lần đi trinh sát sơ bộ vừa rồi, tôi thấy nhiều đoạn đường vượt qua rừng có cây khá to, nhiều cây đường kính phải đến ba, bốn mươi phân. Xe tăng khi cơ động với tốc độ thấp, không có quán tính thì việc húc đổ những cây này sẽ rất khó khăn. Vì vậy, nếu cứ để nguyên cây như thế chúng ta không thể đảm bảo tốc độ hành quân được.
Trung đoàn trưởng Lê Ngộ nhăn mặt lắc đầu:
- Đã thống nhất là không được hạ cây rồi cơ mà. Bây giờ mà hạ cây xuống để mở đường thì chỉ có chết cả nút. Khó thì cũng phải húc mà đi thôi.
Trung đoàn trưởng công binh cũng phụ họa:
- Đồng chí nói thế nào ấy nhỉ? Xe tăng mà không húc đổ được cây ba, bốn mươi phân thì còn gì là xe tăng nữa.
Thắng hơi nóng mặt:
- Báo cáo anh, nếu cái cây đó đứng một mình, xe tăng dùng tốc độ cao lao vào húc nhẹ một cái là đổ. Tuy nhiên, nếu đang phải vượt dốc hoặc đang bò trong rừng chậm như rùa thì việc húc cây không đơn giản chút nào đâu. Thế rồi cây đổ chồng chất lên nhau, không khéo xe tăng lại bị đội bụng nữa ấy chứ.
Trung đoàn trưởng công binh vẫn kiên quyết:
- Khả năng của xe tăng thế nào tôi không biết. Còn Bộ tư lệnh đã quy định rồi, chúng tôi dứt khoát không được hạ cây. Chỉ có thế thôi.
Không khí cuộc họp bỗng trở nên căng thẳng. Những khuôn mặt đăm chiêu như đang đứng trước bài toán khó. Thắng vẫn cứng cỏi:
- Không! Tôi không nói vậy. Có một cách không phải hạ cây mà vẫn đảm bảo húc đổ một cách dễ dàng.
Cả cuộc họp cùng ồn lên, Lê Ngộ xuống giọng:
- Có cách nào hay thì cậu nói nhanh lên đi. Cứ úp úp, mở mở mãi.
Thắng cười từ tốn:
- Báo cáo các thủ trưởng! Tình huống này chúng tôi đã gặp hồi đánh điểm cao 543 trong chiến dịch Đường Chín- Nam Lào. Hồi đó, chúng tôi không hạ cây mà chỉ cưa đứt độ hai phần ba thân cây về trước hướng xe tiến. Như vậy, bình thường cây vẫn không đổ nhưng khi xe húc khẽ một cái là cây đổ ngay. Ngoài ra, nếu ta cưa ở gần sát mặt đất thì đảm bảo gốc cây sẽ không làm xe đội bụng.
Cuộc họp ồn lên. Những gương mặt giãn cả ra. Trung đoàn trưởng công binh thì hể hả:
- Phải đấy! Có thế mà chúng tôi không nghĩ ra.
Lê Ngộ đưa tay ra bắt chặt tay người đồng cấp:
- Cứ thế mà làm, anh nhé! Trăm sự chúng tôi trông vào các anh đấy.
★ ★ ★
Ai đó đã nói thời gian chờ đợi bao giờ cũng dài.
Đối với cánh lính tiểu đoàn 3 xe tăng thì cái đêm mồng Chín tháng Ba này dài thật. Mà có lẽ cũng chẳng phải chỉ có tiểu đoàn này như thế. Chắc rằng tất cả những người lính đang chờ đợi giờ xuất kích trong trận đánh mở màn này đều thấy như thế. Họ đã chờ ngày này từ lâu lắm rồi.
Vẫn biết ngày mai sẽ là một ngày căng thẳng, vất vả và chắc chắn là ác liệt nhưng dường như không ai muốn ngủ. Xe nào xe ấy ngồi túm tụm với nhau trên tháp pháo rì rầm trò chuyện. Thoang thoảng trong gió là cái mùi khét lẹt của thuốc “đồng bào”. Gọi là thuốc đồng bào bởi đây là loại thuốc lá của bà con người Thượng. Trông cây và lá thì chẳng khác nào cây thuốc lá ngoài nông trường Tam Đảo vẫn trồng. Thế nhưng mùi của nó thì khét lắm, khét đến nỗi bà con mà vừa đi vừa hút thuốc thì cách cả cây số mấy con chó của bộ đội nuôi đã phát hiện ra. Ngày mới vào đây, lính ta cũng sợ cái mùi này lắm. Nghiện thuốc lào nặng như Độ còi mà còn lắc đầu: “Em chịu!”. Có cậu còn bào: “Để dành lấy mấy lá, khi nào về phép đi tàu mà đông quá thì bỏ ra hút đảm bảo sẽ tha hồ rộng chỗ”. Ấy thế nhưng khi thuốc lá hết, thuốc lào cũng chẳng kiếm đâu ra thì lính ta bắt đầu “lân la” làm quen với loại thuốc này. Lúc đầu còn mang về rửa thật kỹ, lúc sao còn rắc ít đường để lấy mùi thơm. Sau này quen rồi thì cứ nguyên bản, lại còn khen là đậm đà nữa chứ.
Trên chiếc xe dắt đậu cuối đội hình tiểu đoàn, nhóm thợ của Thắng cũng đang rì rầm trò chuyện. Thắng không tham gia câu chuyện mà để tâm trí vào những tình huống có thể xảy ra đêm nay. Theo kế hoạch, vào lúc 2 giờ đêm nay quân ta bắt đầu nổ súng tiến công Buôn- Mê- Thuột bằng lực lượng đặc công và pháo phản lực. Trong lúc địch mải lo đối phó thì các anh bắt đầu cơ động vượt hơn 20 ki- lô- mét đường rừng để đến vị trí điều chỉnh cuối cùng ở phía tây thị xã lúc 5 giờ sáng. Đến lúc đó pháo binh sẽ tiến hành pháo hỏa chuẩn bị, xe tăng sẽ chuyển sang xung phong. Phương án cưa dở cây rừng mà Thắng đề xuất đã được đem thực hiện và tỏ ra có kết quả khi xe tăng thực hành cơ động từ vị trí tập kết chiến dịch về đây đêm qua. Tuy nhiên không phải đã hết khó khăn, nhất là đối với mấy cái xe thiết giáp K63 mỏng mảnh kia. Đêm hôm qua tổ thợ của anh đã phải giúp họ khắc phục mấy trường hợp trật xích và đứt xích. Chính vì vậy, đêm nay chiếc xe dắt của Thắng vẫn phải đi với hướng này. Chỉ khi toàn tiểu đoàn đã đến vị trí quy định các anh mới về thành lập đài quan sát kỹ thuật ở ấp Châu Sơn, ngay cạnh sở chỉ huy phía trước của trung đoàn.
Vẩn vơ thế nào Thắng lại nhớ về cái đêm nằm ở bãi cát Làng Troài chờ giờ nổ súng đánh Làng Vây. Anh bật cười nho nhỏ khi nhớ lại cái cảnh cứ chốc chốc lại mót đái. Ấy thế mà chui ra ngoài xe rặn mãi chỉ được vài giọt làm cho Hòa đen cứ bôi bác mãi. Mà cái thằng buồn cười thật, cứ tưởng sống chết phải giữ lấy lời nguyền không yêu ai cho đến hòa bình thì đùng một cái lại cưới vợ. Còn cậu chàng Cân lúc nào cũng văn thơ lai láng, khối em chết mê chết mệt lại bị người yêu đá mới cay mũi chứ. Vui nhất chắc là trưởng xe Nhã, mong mỏi mãi rồi nay sắp có con. Thắng biết được những tin tức này bởi vì gần đây kíp xe 567 các anh đã nối lại được liên lạc với nhau. Ngay trước ngày lên đường tham gia chiến dịch này Thắng đã nhận được thư của cả ba người.
Liếc nhìn những chấm dạ quang trên mặt đồng hồ thấy đã hơn một giờ sáng, Thắng lặng lẽ rời khỏi xe đi lên phía đầu đội hình. Ở đó, đại đội trưởng Hướng cũng đang phập phèo điếu thuốc “đồng bào” trầm ngâm nghe kíp xe mình tán gẫu trên tháp pháo. Đặt chân lên băng xích, dướn người một cái, Thắng đã ở trên xe, anh niềm nở:
- Mấy anh em ông không tranh thủ ngủ lấy một lúc cho lại sức à?
Hướng búng mẩu thuốc thành một vòng cung rồi cười nhẹ:
- Nhắc mãi mà chúng nó chả chịu ngủ. Mà mình cũng vậy, không thể nào nhắm mắt được. Bụng dạ nó cứ bồn chồn thế nào ấy.
Chuyện này thì Thắng hiểu vì anh cũng đã từng trải qua. Đại đội này mới được bổ sung vào hồi cuối năm 73 nên chưa tham chiến lần nào. Đại đội trưởng Hướng thì đã từng tham gia chiến đấu nhưng từ khi còn là chiến sĩ ở bộ binh. Chỉ sau khi tốt nghiệp sĩ quan lục quân anh mới chuyển về binh chủng Thiết giáp nên chuyện lo lắng, bồn chồn cũng là điều dễ hiểu. Biết vậy nên Thắng pha trò:
- Thế có cậu nào cứ lúc lúc lại đi đái không?
Đến lúc này thì một trận cười bỗng òa lên, pháo thủ Thể vừa cười vừa hổn hển:
- Ông anh tài thật! Sao anh lại biết chuyện ấy?
Thắng phì cười:
- Thì tớ cũng đã từng như thế rồi mà.
Hướng đột ngột lái câu chuyện sang hướng khác:
- Ông Thắng ạ, tôi vẫn lo lắm. Có ba tiếng đồng hồ làm sao vừa mở đường vừa đi mà vượt được những hơn hai mươi cây số.
Thực ra, đó cũng chính là mối lo của Thắng nhưng trong trường hợp này anh vẫn phải bấm bụng trấn an người đại đội trưởng trẻ tuổi:
- Anh đừng lo lắng quá. Cũng chỉ còn hơn chục cây phải vượt rừng thôi. Khi đến rẫy cà phê ven thị xã thì cơ động thuận lợi hơn nhiều- Anh quay về phía lái xe Khả- Còn cậu, cứ thực hiện đúng yếu lĩnh lái như hôm qua đã làm nhé.
Lái xe Khả gật đầu:
- Vâng ạ! Phải công nhận sáng kiến cưa dở cây này hay thật. Hôm qua, lúc đầu em cứ phải lấy đà rồi mới húc thành ra hơi chậm. Sau thấy cây dễ đổ nên cứ giữ nguyên chân dầu càn qua. Thế mà cây cứ thi nhau đổ ào ào. Thích thật!
Thắng cười:
- Các cậu thì thích thật nhưng mấy cái K63 theo được các cậu thì hết cả hơi. Đêm qua ba thằng đứt xích, một thằng trật xích. Bọn tớ phải giúp bọn chúng khắc phục đến gần sáng mới về được đây đấy- Chợt nhớ ra chuyện anh em mình xì xào lúc ban ngày, Thắng vỗ vai Hướng- Nghe anh em nói, đêm qua ông suýt chết hả?
Hướng cười ngượng nghịu:
- Cũng không đến nỗi nào. Thì mình cứ nghĩ xe húc cây sẽ đổ về phía trước nên tôi với cậu Thể cứ ngồi trên tháp pháo. Có ngờ đâu một cành cây khô lại rơi xuống giữa hai anh em. May không trúng đầu nhưng kiến đốt gần chết.
Thắng tỏ ra hối hận:
- Chết thật! Cái này thì tôi cũng có khuyết điểm. Lúc phổ biến kinh nghiệm thì chỉ chú ý đến cánh lái xe mà không nhắc gì các anh. Cây rừng nó có nhiều cành chết khô trên đó. Lúc xe mình ục vào, cây thì đổ về phía trước nhưng cành khô thì lại rơi ngay xuống xe. Cũng còn may các anh không sao- Liếc nhìn đồng hồ đã gần hai giờ sáng, Thắng đứng dậy. Anh đưa tay bắt tay Hướng - Sắp đến giờ xuất phát rồi. Anh em các ông chuẩn bị đi- Chúc mũi thọc sâu của anh em ông thật nhọn, thật bén, thọc thật trúng. Hẹn gặp lại giữa thị xã nhé!
Thắng vừa lần mò về đến chiếc xe dắt của mình thì tiếng động cơ đã gầm lên phía đầu đội hình. Như một phản ứng dây chuyền, mười sáu chiếc động cơ cùng gầm lên phá tan vẻ âm u, tịch mịch của khu rừng. Một lát sau, tiếng xích nghiến ken két, tiếng cây đổ ào ào vọng lại. Mười sáu khối thép rùng rùng chuyển động như một cơn bão. Phía thị xã Buôn- Mê- Thuột những quả pháo sáng bắn lên loạn xạ. Thắng nghĩ bụng: “Chắc đặc công mình đã bắt đầu nổ súng. Bọn này đang phải lo đối phó trong ấy thì còn bụng dạ nào mà theo dõi tình hình ngoài này”.
Chiếc xe K63 cuối cùng đã đi qua. Thắng giục nhỏ lái xe của mình:
- Nổ máy! Tiến!
Vào đúng lúc đó, những tiếng nổ lớn bỗng đột ngột vang lên trong trung tâm thị xã Buôn- Mê- Thuột và khu kho Mai Hắc Đế ở phía tây- nam thị xã. Ngay sau đó, những loạt pháo phản lực và súng cối cỡ lớn của bộ binh cũng đồng loạt dội vào khu vực sở chỉ huy sư đoàn 23 và tiểu khu Đắc Lắc và một số mục tiêu khác. Đèn điện trong thị xã tắt phụt. Có vẻ như quá bất ngờ nên phản ứng của bọn ngụy hơi chậm. Phải hàng phút sau mới thấy tiếng súng địch bắn trả. Ngay sau đó là hàng chục quả pháo sáng bắn lên soi sáng cả một vùng trời. Tiếp theo là tiếng đề- pa của các trận địa pháo binh nhưng chẳng hiểu chúng bắn đi đâu.
Tại sở chỉ huy trung đoàn xe tăng H73, trung đoàn trưởng Lê Ngộ đang khum hai bàn tay lên tai hướng về phía tây nghe ngóng. Anh cố lọc xem trong mớ âm thanh hỗn độn có thấy tiếng rú trầm ấm của động cơ xe tăng T54 hay không nhưng tuyệt nhiên chẳng thấy gì ngoài những tiếng nổ loạn xạ từ phía sau vẳng tới. Theo hiệp đồng, vào thời điểm này các phân đội xe tăng bắt đầu xuất kích rời khỏi vị trí tập kết trước chiến đấu cơ động lên vị trí điều chỉnh cuối cùng. Sau một lúc căng tai mà chẳng thấy gì, Ngộ bất lực chui vào hầm chỉ huy. Ở đó, tham mưu trưởng Từ và mấy trợ lý vẫn lúi húi bên tấm bản đồ mở rộng. Dọc theo một bên sườn hầm là một dãy máy vô tuyến điện đang sôi rào rào. Theo kế hoạch tác chiến thì các đại đội 4, 7 và 8 sẽ do các trung đoàn bộ binh chỉ huy thông qua đại diện xe tăng trên từng hướng, trung đoàn H73 chỉ trực tiếp chỉ huy mũi thọc sâu của tiểu đoàn 3. Tuy nhiên, Ngộ vẫn bố trí đủ các máy thông tin vô tuyến điện hòa vào mạng của các đại đội kia. Làm như vậy thì ở tại đây anh hoàn toàn có thể nắm được diễn biến trên tất cả các hướng. Khi cần thiết lại có thể giúp đỡ được anh em. Các chiến sĩ thông tin vẫn đang túc trực sẵn sàng, người nào người ấy cáp đeo sẵn trên đầu, tất cả các máy đều đã mở nhưng trong tai nghe chỉ là những tiếng khọt khẹt vô nghĩa. Cái đó thì anh biết chắc vì cấp trên đã quy định trong quá trình cơ động xe tăng không được sử dụng vô tuyến điện trừ trường hợp đặc biệt. Vì vậy, anh vẫn yêu cầu các chiến sĩ thông tin mở máy nhưng lại cũng hy vọng sẽ không nhận được bức điện nào từ giờ cho đến 5 giờ sáng là giờ bắt đầu hỏa lực chuẩn bị.
Sở chỉ huy trung đoàn xe tăng H73 được đặt ở sườn đông bắc điểm cao Chư- Ebua, cách thị xã Buôn- Mê- Thuột gần ba ki- lô- mét. Phía dưới là những rãy cà phê trải dài trùng điệp. Đứng ở đây có thể quan sát được tương đối tốt toàn cảnh thị xã. Sở dĩ Ngộ chọn vị trí này để đặt sở chỉ huy vì ở đây có thể trực tiếp theo dõi được mũi tiến công của đại đội 8 trên hướng tiến công chủ yếu và mũi thọc sâu của tiểu đoàn 3.
Đang giữa tiết Xuân, hoa cà phê nở trắng rừng. Ban ngày, đứng ở đây nhìn xuống cứ như thấy một cánh đồng bông trước mặt. Mùi hương hoa cà phê dìu dịu thoang thoảng trong gió thật dễ chịu. Chả thế mà chiều qua, khi từ sở chỉ huy cơ bản lên vừa đặt chân tới đây chính ủy Giáo đã hít hà: “Đúng là ra trận giữa mùa Xuân, ra trận giữa mùa hoa”. Trung đoàn trưởng Ngộ thì chẳng còn bụng dạ đâu mà thưởng thức cái khung cảnh thi vị ấy. Anh đang lo sốt vó về chuyện cơ động của các cánh quân của mình trong đêm nay. Sáng kiến cưa dở cây đã tỏ ra có tác dụng nhưng ai mà biết được trên dọc đường hành quân còn những chuyện gì sẽ xảy ra. Mặc dù đường sá đã được trinh sát kỹ càng mấy lần, hiệp đồng với công binh cũng rất cụ thể, những tình huống cơ bản cũng đã được dự kiến nhưng như thế vẫn chưa đủ để khẳng định mọi cái sẽ đúng như kế hoạch. Còn một khó khăn nữa là trên quy định trong quá trình cơ động không được sử dụng vô tuyến điện nên chủ yếu là phải trông chờ vào khả năng tự giải quyết của anh em trên từng mũi, từng hướng mà thôi. Chính vì vậy, hầu hết cán bộ cơ quan anh đã tung đi với các đại đội, tiểu đoàn để giúp đỡ anh em dưới đơn vị. Ở sở chỉ huy này chỉ có tham mưu trưởng và một số cán bộ đầu ngành mà thôi.
Nghe ngóng mãi chẳng thấy gì Ngộ mệt mỏi ngồi bệt ngay xuống bờ đoạn hào ngay sát cửa hầm chỉ huy ngẫm nghĩ. Hệ thống lại tất cả những chuyện mình biết từ khi chuẩn bị chiến dịch đến nay anh thật sự khâm phục tài điều binh, khiển tướng của cấp trên. Hồi cuối năm ngoái, các anh đã mất gần tháng đi chuẩn bị chiến trường quanh vùng Gia Nghĩa, Đức Lập. Thế rồi đùng một cái có lệnh đi trinh sát Buôn- Mê- Thuột. Lúc ấy, Ngộ chỉ nghĩ đây chắc là phương án dự phòng của trên mà thôi chứ Buôn- Mê- Thuột nó to như thế mình mà “húc” vào đấy có mà sứt đầu, mẻ trán. Ấy thế mà đánh thật. Có lẽ cao tay nhất trong vụ này phải nói là cái tài nghi binh lừa địch. Suốt mấy tháng nay, hết trinh sát rồi làm đường, cơ động lực lượng xuống Nam Tây Nguyên mấy sư đoàn bộ binh, một trung đoàn xe tăng, hai trung đoàn pháo binh, hai trung đoàn cao xạ và biết bao đơn vị trực thuộc khác mà thằng địch nào có biết gì đâu. Chúng vẫn cứ tập trung lực lượng nhăm nhăm phòng thủ Pley- cu vì tin rằng ta sẽ đánh vào đấy. Thực sự, ngay cả cho đến tận bây giờ, khi đặc công ta đã thâm nhập và đánh chúng có lẽ Bộ tư lệnh sư đoàn 23 và bộ chỉ huy tiểu khu Đắc Lắc vẫn chỉ nghĩ đó là những trận tập kích nhỏ lẻ chứ không thể ngờ tới một trận bão lửa và thép sắp dội xuống đầu chúng. Hay thì hay thật nhưng đúng là cái gì cũng có giá của nó. Để giữ bí mật cho trận đánh này, hơn một tháng nay anh và đồng đội đã phải chịu bao vất vả. Hết cơ động vào gần rồi lại phải lùi ra. Vừa dừng lại nằm chưa ấm chỗ, thấy địch có dấu hiệu lùng sục gần đó lập tức phải di chuyển. Đi đến đâu cũng chết mệt với ngụy trang, xóa vết xích. Lại còn hơn hai mươi ki- lô- mét cơ động đêm nay nữa chứ. Bình thường ra, với địa hình Việt Nam thì vị trí tập kết trước chiến đấu chỉ ở tầm bảy, tám ki- lô- mét là vừa phải. Thế mà trong trận này khoảng cách ấy phải tăng lên gấp ba đến bốn lần. Vất vả đấy nhưng nếu thực hiện đúng kế hoạch chắc chắn hiệu quả sẽ lớn gấp bội phần.
Lại còn cái mẹo “trói địch lại mà đánh” cũng ác thật. Thì đấy, từ đầu tháng Ba tới nay quân ta hết cắt đường 19 đến cắt đường 21, hết cắt đường 14 ở phía bắc rồi đêm qua đánh Đức Lập ở phía nam thì có phải cái Buôn- Mê- Thuột này bị cô lập tứ phía rồi không. Bây giờ muốn chi viện cho nó chỉ còn mỗi cách là bay trên trời mà thôi. Mà chuyện đó cũng đâu có dễ. Trận này mặt trận đưa vào sử dụng những hai trung đoàn cao xạ chứ ít ỏi gì. Thế thì có phải là trói địch lại mà đánh không?
Không chỉ thế, trận này các cụ nhà ta lại còn sử dụng một chiêu thức cực kỳ táo bạo và mới mẻ nữa là bỏ qua các mục tiêu vòng ngoài mà đánh thẳng vào trung tâm thị xã rồi phối hợp trong đánh ra, ngoài đánh vào để tiêu diệt gọn quân địch. Chứ cái thị xã to như thế này, phòng thủ tầng tầng, lớp lớp như thế này mà cứ gặm dần từ ngoài vào trong như thông thường thì có mà đến “Tết Tây đen” mới giải quyết xong. Chưa kể, nếu trận đánh kéo dài địch có cơ hội tập trung lực lượng chi viện, phản kích nữa thì có khi còn không hoàn thành nhiệm vụ ấy chứ. Chuyến này chắc chắn “cái” Buôn- Mê- Thuột này bị “ăn gỏi” rồi.
Những ý nghĩ miên man trong đầu Ngộ bỗng bị cắt ngang bởi một tiếng “Bụp” trên cao và bầu trời sáng rực lên. Anh ngẩng đầu nhìn lên trời, hai quả pháo sáng vừa được một tốp máy bay bắn ra đang treo lơ lửng ở phía nam của sở chỉ huy. Ngộ thoáng lo, hướng ấy là hướng cơ động của đại đội 7. Có lẽ địch đã phát hiện ra xe tăng cơ động và gọi máy bay lên ngăn chặn chăng? Mà đúng vậy! Đã nghe thấy tiếng những loạt bom ầm ì vọng lại. Mấy chiếc máy bay hết cắt bom lại sà xuống bắn trọng liên. Những đường đạn thẳng căng từ trên trời bắn xuống như một lưỡi kiếm lửa. Một vài loạt đạn từ dưới bắn lên nhưng có vẻ hơi rời rạc và lép vế. Có lẽ đó chỉ là súng 12 ly 7 của xe tăng chứ không phải của lực lượng cao xạ. Mà sao không thấy cao xạ bắn lên nhỉ, mũi nào cũng có cao xạ đi cùng cơ mà. Sốt ruột, Ngộ chui vội vào hầm, chiến sĩ thông tin ngồi bên máy số 3 theo dõi hướng này vẫn ngồi bất động như một pho tượng. Vẫn không có báo cáo gì.
Ngộ lại chui ra cửa hầm và ngước nhìn trời. Tham mưu trưởng Từ và mấy trợ lý cũng rời bàn làm việc chui ra ngoài ngửa cổ nhìn trời, ai nấy đều tỏ vẻ lo lắng. Bầu trời bây giờ sáng rực vì phía đông bắc thị xã cũng có thêm bốn quả pháo sáng nữa đang lơ lửng. Một tốp A37 đang quần lượn và bắn phá ở đó. Như thế là hướng của đại đội 4 cũng đã bị máy bay địch ngăn chặn. Có điều lạ là cũng không thấy cao xạ của ta bắn lên. Theo kế hoạch, hai trung đoàn cao xạ cũng được chia ra để bảo vệ đội hình cơ động và chiến đấu cho tất cả các hướng cơ mà.
Không dằn lòng được, Ngộ chui vào hầm, anh bảo chiến sĩ thông tin hữu tuyến nối máy với sở chỉ huy mặt trận. Vừa thấy đầu bên kia có người trả lời Ngộ nói ngay:
- Báo cáo, tôi trung đoàn trưởng H73 đây ạ. Báo cáo anh, không quân địch đang ngăn chặn xe tăng cơ động trên hai hướng tây nam và đông bắc. Đề nghị mặt trận lệnh cho cao xạ nổ súng để đảm bảo tốc độ cho xe tăng.
Đầu dây bên kia hỏi lại tình hình. Đến bây giờ Ngộ mới nhận ra đó là tiếng tham mưu trưởng mặt trận. Anh loáng thoáng nghe trong tổ hợp tiếng gọi chủ nhiệm phòng không, tiếng trao đổi gì đó một lát rồi mới thấy tiếng trả lời:
- Thế này Ngộ nhé! Hiện nay, các phân đội cao xạ đều không cơ động kịp xe tăng nên không thể bảo vệ được đội hình đâu. Anh động viên anh em dùng 12 ly 7 tự bảo vệ vậy.
Ngộ giật mình, anh cao giọng:
- Thế là thế nào ạ? Theo kế hoạch thì hướng nào cũng có cao xạ bảo vệ cơ mà?
Đầu dây bên kia nhỏ nhẹ:
- Kế hoạch thì thế đấy nhưng xe bánh lốp nó không bò kịp các ông được. Cố gắng lên vậy!
Thì ra là thế! Những con đường mà các anh càn đổ cây để đi thì đúng là xe bánh lốp chịu rồi, họ phải đợi công binh dọn cây, san đường rồi mới đi được. Thôi thì đành phải tự bảo vệ lấy mình vậy. Đây cũng là điều mà các anh đã lường đến nên đã thống nhất phương án xử lý là vừa cơ động vừa dùng 12 ly 7 đánh địch. Tuyệt đối không dừng tránh để đảm bảo có mặt tại vị trí đúng thời gian quy định.
Đêm đã chuyển dần về sáng. Hai tốp máy bay có vẻ như hoàn thành nhiệm vụ đã bay về căn cứ. Tuy nhiên, bầu trời thị xã vẫn được chiếu sáng bởi hàng chục quả pháo sáng từ dưới đất bắn lên. Những tiếng nổ loạn xạ vẫn vọng về nhưng chủ yếu là súng cỡ nhỏ. Ngộ vẫn đi ra, đi vào, chốc chốc lại ngiêng cổ tay xem đồng hồ. Những chiếc đài vô tuyến điện vẫn rào rào một cách vô tư lự. Những chiến sĩ thông tin vẫn ngồi im phăng phắc đúng vị trí của mình. Tịnh không có một tín hiệu nào cả.
Chợt không gian như bị xé rách ra bởi những tiếng rít chói tai. Ngay sau đó, những chớp lửa bùng lên phía thị xã. Ngộ nhìn đồng hồ, đã 5 giờ sáng, đã đến giờ pháo hỏa chuẩn bị. Tiếp đó, những tiếng nổ dồn dập vọng về liên hồi kỳ trận. Theo quy định, giờ này các phân đội xe tăng phải có mặt tại vị trí điều chỉnh cuối cùng để bắt liên lạc hiệp đồng với bộ binh và giao nhiệm vụ bổ sung. Thế mà chưa thấy mũi nào báo cáo về. Chờ thêm vài phút vẫn không thấy động tĩnh gì, Ngộ cao giọng:
- Thông tin yêu cầu các hướng báo cáo tình hình về ngay!
Như một cỗ máy được khởi động, bốn chiến sĩ thông tin theo dõi bốn hướng lập tức lên đài. Chỉ thấy họ nói vừa đủ nghe vào tổ hợp. Lát sau, máy số 4 báo cáo:
- Báo cáo! Đại đội 4 còn cách vị trí quy định khoảng hai ki- lô- mét, bị máy bay ngăn chặn nhưng không có thương vong. Hết!
Không đợi trung đoàn trưởng giục, tham mưu trưởng Từ đã đánh dấu ngay vào một vị trí trên bản đồ và ghi vào bên dưới hàng chữ “cT4- 05.10.10.3”. Ngộ vẫy tay:
- Được! Giục anh em tăng tốc độ, đến nơi khẩn trương bắt liên lạc hiệp đồng với bộ binh. Khi nào liên lạc được với bộ binh thì báo cáo về.
- Rõ!- Người chiến sĩ trả lời nhỏ nhưng đanh, gọn.
Máy số 2 ngẩng lên:
- Báo cáo thủ trưởng! Đại đội 9 còn cách Vườn Chuối khoảng ba ki- lô- mét, xe đi đầu đang bị lày. Toàn đại đội đang khắc phục.
Ngộ nhăn mặt, anh nhớ rõ ở hướng này cách Vườn Chuối ba ki- lô- mét đã là rẫy cà phê của dân rồi, làm sao mà còn lầy được, anh gỡ cáp nghe ra khỏi đầu người chiến sĩ chụp lên đầu mình rồi giằng lấy tổ hợp, dằn giọng:
- 73 gọi 09! 09 báo cáo cụ thể tình hình, 47!
Từ không trung cái giọng miền biển nằng nặng của đại đội trưởng Hướng vọng về:
- 09 báo cáo! Xe đi đầu bị lày trong hồ chứa nước tưới cà phê. Chúng tôi đang tập trung cứu kéo, 47!
Ngộ gắt:
- Cứu với kéo gì. Nếu khó thì bỏ nó lại đấy, tìm đường vòng tránh tiếp tục cơ động ngay, 47!
Phía bên kia Hướng cũng cộc lốc:
- Rõ!
Ngộ vừa tháo bộ cáp nghe ra khỏi đầu thì chiến sĩ ở máy số 3 ngẩng lên:
- Báo cáo, đại đội 7 bị máy bay đánh trúng đội hình, một xe bị hỏng, bốn người bị thương. Hiện đã đến Buôn Buor.
Ngộ quay sang tham mưu trưởng:
- Buôn Buor ở chỗ nào? Còn cách vị trí quy định mấy cây nữa?
Tham mưu trưởng Từ trả lời ngay tức khắc:
- Khoảng hơn năm ki- lô- mét!
Ngộ chặc lưỡi. Thế là “thằng” nào cũng chậm cả. Cũng chẳng trách anh em được. Người ta cũng đã cố gắng hết sức mình rồi. Quyết tâm, dù sao cũng chỉ là tính toán chủ quan của con người. Còn biết bao yếu tố khách quan ngẫu nhiên tác động vào quá trình thực hiện nữa chứ. Ai lại nghĩ cái hồ chứa nước tưới cà phê mà làm xe tăng sa lầy được? Thế mà điều đó vẫn xảy ra đó thôi. Chợt nhớ đến hướng tây bắc chưa thấy báo cáo gì Ngộ hướng về máy số 3:
- Thấy “xê 8” báo cáo về chưa?
Người chiến sĩ thông tin ngước khuôn mặt lấm tấm mồ hôi lên:
- Báo cáo, em đã gọi mãi mà vẫn không thấy gì ạ.
Ngộ chột dạ, một làn hơi lạnh chạy dọc sống lưng. Đây là đại đội tham gia tiến công trên hướng chủ yếu của trận đánh. Thế mà giờ này chưa thấy báo cáo về, không biết nó nằm ở đâu. “Thằng” khác đến muộn một tý còn được chứ “thằng” này mà đến muộn thì gay go to, có khi ảnh hưởng đến cả trận đánh ấy chứ. Nhưng biết làm sao bây giờ, Ngộ bất lực phẩy tay:
- Tiếp tục gọi. Khi nào bắt được liên lạc báo tôi ngay!
Ngộ chui ra khỏi hầm. Đằng đông, chân trời đã ửng hồng báo hiệu một ngày đẹp trời. Những loạt đạn pháo vẫn viu víu bay qua đầu và gây nên hàng dây tiếng nổ dưới thị xã. Ngộ biết, tham gia trận này có hẳn hai trung đoàn pháo của mặt trận, trong đó có khá nhiều pháo 105 ly và 155 ly ta thu được từ hồi 1972 tham gia. Đúng là gậy ông lại đập lưng ông đây. Mà có lẽ cái khoản đạn dược năm nay cũng dư giả hay sao ấy nên “các cụ” cho hỏa lực chuẩn bị những hai tiếng đồng hồ.
Từ trong hầm có tiếng vọng ra:
- Mời thủ trưởng vào nghe máy!
Ngộ chui nhanh vào hầm. Tham mưu trưởng Từ đưa cho anh cái tổ hợp hữu tuyến:
- Trên mặt trận yêu cầu ta báo cáo tình hình.
Ngộ vừa áp ống nghe vào tai đã nghe thấy tiếng trưởng phòng tăng mặt trận Trần Doãn:
- Tôi Doãn đây! Đề nghị các anh báo cáo tình hình cơ động của các hướng đến đâu rồi? Có kịp thời gian quy định không?
Ngộ chậm rãi:
- Báo cáo anh, các hướng đã báo cáo về đều hơi chậm so với kế hoạch. Hiện còn cách vị trí quy định từ ba đến năm ki- lô- mét. Riêng hướng đại đội 8 vẫn chưa thấy báo cáo về.
Tiếng Doãn giật giọng:
- Đại đội 8? Hướng chủ yếu à? Gay đấy! Các anh có biện pháp gì chưa?
Ngộ lắc đầu như đang nói với người trước mặt:
- Báo cáo anh, hiện tại chúng tôi chỉ biết chờ đợi thôi. Máy vô tuyến điện vẫn canh liên tục mà không thấy “nó” báo cáo về.
Tiếng Doãn giật cục:
- Thôi được! Khi các hướng đã vào vị trí anh báo ngay cho tôi. Còn “xê 8”, nếu cần các anh phải cử tổ bảo đảm kỹ thuật đi ngược lại xem sao.
Ngộ nhăn trán, cái xe dắt của tổ kỹ thuật được cử đi với hướng tiểu đoàn 3 giờ này cũng đã thấy về đến đây đâu. Tuy vậy, anh cũng trả lời một cách dứt khoát:
- Rõ ạ!
Đặt tổ hợp xuống Ngộ trầm ngâm suy nghĩ. Có lẽ thằng đại đội 8 này đi lạc hay sao chứ đường cơ động của các hướng đều cơ bản như nhau, khoảng cách cũng gần tương tự. Thế mà các hướng khác đều đã gần đến nơi, kể cả hướng khó khăn nhất là đại đội 7 vì nó còn phải vượt sông Sê- Rê- Pốc. Đúng là nó đi lạc mất rồi. Đầu Ngộ như muốn nổ tung, hướng tiến công chủ yếu mà không có xe tăng thì còn gì để nói nữa. Trong buổi giao nhiệm vụ tổ chức hiệp đồng trước trận đánh, đồng chí Tư lệnh chiến dịch đã nhấn mạnh rất nhiều đến tầm quan trọng của hướng này bởi vì chính nó sẽ là mũi tiến công vào hậu cứ thiết giáp, pháo binh để đè bẹp sức đề kháng của địch, sau đó sẽ phối hợp với mũi thọc sâu đánh sang sư bộ 23. Một ý nghĩ thoáng qua óc Ngộ, hay là rút một phần lực lượng của đại đội 9 sang đây. Hai hướng đó tương đối gần nhau. Tuy nhiên, nếu làm như thế lại ảnh hưởng đến sức đột phá của mũi thọc sâu. Vấn đề mấu chốt của trận đánh này là mũi thọc sâu đánh thẳng vào sư bộ 23 để tiêu diệt cơ quan đầu não của địch nhằm nhanh chóng kết thúc trận đánh. Để làm được điều đó nó phải đủ mạnh. Hay là đưa dự bị vào thay thế? Cũng không được vì đại đội 10 đang ở gần Đức Lập nên khoảng cách khá xa, không thể nào đến kịp.