Thắng hơi ngạc nhiên nhưng rồi anh cũng trèo lên xe đứng cạnh Độ còi quan sát. Đúng là có khoảng hơn chục người từ dưới bờ con suối đang lúi húi leo lên rãy cà phê đúng hướng các anh đỗ xe. Ở khoảng cách chưa đầy trăm mét Thắng xác định ngay mấy tên đi đầu đúng là lính ngụy. Tuy nhiên, mấy người đi sau lại loáng thoáng có cả bóng áo trắng. Phân vân giây lát Thắng khẳng định đây là tàn quân ngụy từ thị xã chạy ra. Thấy bên mình ít người hơn nên Thắng quyết định sẽ đánh phủ đầu, anh vẫy mấy chiến sĩ lại bên mình rồi hạ giọng:
- Bây giờ thế này nhé, Độ về xe dắt lắp đạn 12 ly 7 vào, xạ thủ xe này cũng lên chuẩn bị 12 ly 7, các anh em khác tản ra quanh xe. Cứ để chúng vào gần, khi nào tôi hô mới được bắn. Rõ chưa? Rõ rồi thì thực hiện đi!
Tốp địch vẫn cắm cúi đi sâu vào rãy cà phê, có vẻ như chúng khá mệt mỏi và chẳng để ý đến điều gì xung quanh nữa. Khi chúng còn cách chừng ba mươi mét thì Thắng hô to:
- Bắn!- Đồng thời, khẩu AK trong tay anh cũng giật lên từng loạt.
Hai khẩu 12 ly 7 và bốn họng AK cũng đồng loạt khạc lửa. Những viên đạn thẳng căng ở khoảng cách gần nhằm vào toán địch nên ngay loạt đạn đầu tiên mấy tên đi đầu đã lăn ra chết, còn mấy tên bị thương thì kêu la thảm thiết. Số còn lại nằm mọp đầu chịu trận và không tên nào dám bắn trả. Hỏa lực hai khẩu 12 ly 7 thật khủng khiếp, những tán cây cà phê xanh mướt bây giờ đã gãy gục tan nát để lộ ra một góc bắn rất rộng. Phán đoán đây là tốp tàn binh lẻ loi và không còn khả năng chiến đấu nên Thắng hô nhỏ:
- Dừng bắn!- Mấy khẩu súng cùng đồng loạt ngừng bặt, Thắng cao giọng- Anh em binh sĩ cộng hòa chú ý, các anh đã lọt vào ổ phục kích của quân giải phóng, đầu hàng thì sống, chống cự thì chết!
Chẳng phải chờ đợi lâu la gì, từ phía tốp địch mấy lá cờ trắng được làm bằng áo ngoài, áo lót buộc vào cành cây giơ lên thật cao. Nghĩ bụng: “Cũng chưa biết bọn này thế nào, cẩn thận vẫn hơn” nên Thắng bảo nhỏ:
- Xe K63 cứ đỗ đấy, súng ống sẵn sàng yểm hộ. Còn mấy đồng chí bộ binh lên xe kia với tôi. Độ vẫn sẵn sàng bắn nhé!
Đợi mấy chiến sĩ bộ binh vào xe rồi, Thắng nổ máy chiếc xe dắt tiến về phía toán địch. Chừng như sự hoảng sợ đã lên đến tột đỉnh, những tên địch đang nằm chúi mặt xuống đất nhưng hai tay vẫn vẫy cờ rối rít, có tên đã quỳ dạy chắp tay vái như tế sao. Đến cách tốp địch chừng chục mét Thắng dừng xe, cố định tay dầu rồi hô lớn:
- Tất cả đứng dậy, bỏ vũ khí, giơ hai tay lên đầu!- Hơn chục tên địch đứng dậy làm theo răm rắp. Thắng quay lại bảo nhỏ ba chiến sĩ bộ binh- Các cậu ra thu vũ khí rồi lột áo trói tất cả chúng lại. Độ sẵn sàng, thằng nào động đậy bắn ngay.
Chỉ một loáng, hơn chục tên địch đã bị lột trần và trói giật cánh khuỷu. Thắng cắp khẩu AK nhảy khỏi xe, anh đến trước một tên địch đã đứng tuổi, khá béo tốt, tuy có vẻ mệt mỏi nhưng vẫn toát lên vẻ kẻ cả hất hàm:
- Anh tên là gì? Cấp bậc, chức vụ?
Có vẻ như vẫn đang quá hoảng sợ, tên luống tuổi lập cập:
- Dạ, tôi là Nguyễn Trọng Luật, đại tá tỉnh trưởng Đắc Lắc.
Thắng giật mình. Thật không ngờ cái xe hỏng nằm đây mà lại làm nên chuyện lớn. Đúng là chiến tranh, có những chuyện phi lý ngoài sức tưởng tượng. Anh bình tĩnh gặng lại:
- Có thật không?
Tên tù binh nhẫn nhục:
- Thật ạ!
Thẳng chỉ vào đám tù binh còn lại cao giọng:
- Thế còn những tên kia, cấp bậc, chức vụ thế nào?
Luật nhìn sang một bên rồi nói nhỏ:
- Dạ, đó đều là thuộc cấp của tôi ở Bộ chỉ huy tiểu khu cả.
Chợt nhớ tối hôm trước có nghe các thủ trưởng nhắc tới tên sư phó Vũ Thế Quang, Thắng ghé khẩu AK vào sát mặt Luật và dằn giọng:
- Thế còn tên Võ Thế Quang đâu?
Thấy họng súng ghé sát vào mặt tên tù binh có vẻ sợ, hắn run rẩy tuôn liền một mạch:
- Dạ, khi bị phi cơ oanh kích nhầm vào trung tâm hành quân, không còn liên lạc được nữa tôi và đại tá Quang quyết định rời khỏi Bộ tư lệnh sư đoàn. Khi thoát ra được bên ngoài, chúng tôi chia làm hai ngả. Tôi đi về phía tây, còn đại tá Quang đi về phía nam. Chúng tôi đã chia tay nhau được khoảng hai tiếng đồng hồ rồi ạ.
Biết là tên này khai thật, Thắng lên đài báo cáo với chỉ huy trung đoàn. Một lúc sau anh nhận được lệnh đưa tên Luật về sở chỉ huy mặt trận để khai thác, số còn lại đưa về thị xã. Ngẫm nghĩ một lúc Thắng quyết định sẽ dùng chiếc K63 để chở tên Luật, số còn lại sẽ giao cho tổ bộ binh áp giải, chiếc xe dắt sẽ do Độ còi chỉ huy tiếp tục đi cứu kéo xe hỏng.
Đưa Luật lên buồng bộ binh chiếc xe thiết giáp K63 để chở về sở chỉ huy, Thắng không hề biết tên tù binh trong tay mình vốn là một đại tá thiết kỵ của quân lực Việt Nam cộng hòa. Thắng cũng không biết rằng những thông tin anh báo cáo về đã giúp cho quân ta tóm được tên đại tá Vũ Thế Quang, tư lệnh mặt trận Ban- Mê- Thuột khi hắn đang lò dò từng bước trong một cánh rừng cao su phía nam thị xã.
★ ★ ★
Tin thắng trận ở Buôn- Mê- Thuột làm không khí ở sở chỉ huy B75 vui như hội. Không vui sao được khi mà một thị xã lớn đến như vậy mà chịu thất thủ trước sức tiến công của quân ta chỉ sau hơn ba mươi giờ chiến đấu. Những cán bộ mà kinh nghiệm trận mạc đầy mình mà cũng xuýt xoa “Thật không thể tưởng tượng nổi!”, “Đúng là chuyện thần kỳ, từ xưa đến nay chưa có bao giờ. Như cái Phước Long đấy, chỉ bằng một phần tư cái này mà cũng mất đến sáu, bảy ngày mới giải quyết xong”.... Tổng Tham mưu trưởng nghe các cán bộ cấp dưới bàn tán chỉ cười lặng lẽ, mãi sau ông mới bình thản:
- Cứ bình tĩnh! Còn nhiều chuyện thần kỳ hơn thế nữa sắp xảy ra đấy. Bây giờ tôi cần các cậu độc lập suy nghĩ xem bọn chỉ huy ở quân khu Hai này sẽ hành động như thế nào? Những tình huống nào sẽ xảy ra trong những ngày tới, tuần tới, tháng tới? Và nhất là ta cần làm gì, làm như thế nào để phát huy thắng lợi của trận đánh này? Các cậu cứ suy nghĩ cho thấu đáo, tối nay ta sẽ ngồi lại và từng người sẽ báo cáo lại kết quả chuẩn bị của mình.
Vốn mạnh mồm, vả lại đã khá quen thân nên Kiệm nhát gừng:
- Mọi tình huống chắc là các thủ trưởng đã tính hết rồi. Bọn tôi chỉ việc thực hiện mà thôi chứ còn phải tính toán gì nữa.
Tổng Tham mưu trưởng lắc đầu:
- Tất nhiên là bọn tớ cũng đã dự kiến trước tình hình. Tuy nhiên, những lúc này rất cần suy nghĩ độc lập của các cậu- Ông cười hóm hỉnh- Các cậu không nhớ cổ nhân đã tổng kết “ba ông thợ da thế nào cũng có một thày Gia Cát” cơ mà.
Nói thì nói vậy nhưng Kiệm cũng đã có những suy nghĩ riêng của mình. Với những hiểu biết và kinh nghiệm của mình, Kiệm cho rằng với những lực lượng còn lại của quân khu Hai, chắc chắn tướng Phú và cả Sài Gòn nữa sẽ cố gắng hết sức phản kích để chiếm lại Buôn- Mê- Thuột. Tuy nhiên, điều này không hề dễ dàng một chút nào. Thứ nhất, lực lượng tổng trù bị chiến lược của Sài Gòn hiện cũng đang bị sa lầy ở quân khu Một và Thượng Đức nên khả năng tăng cường cho quân khu Hai gần như bằng không. Trong khi đó, bản thân bọn địch ở quân khu Hai cũng đang bị căng kéo ra đối phó ở khắp địa bàn. Ngay cả Pley- cu và Kon Tum cũng đang bị uy hiếp nên khả năng tập trung lực lượng lớn để ứng cứu chi viện cho Buôn- Mê- Thuột sẽ hết sức hạn chế. Thứ hai, trước khi tiến công Buôn- Mê- Thuột ta đã tiến hành các chiến dịch cài thế, cô lập hoàn toàn thị xã này về đường bộ. Trong khi đó sân bay Phụng Dực đang bị đánh tới tấp, sân bay Cù Hanh cũng đang bị uy hiếp. Vì vậy, để chi viện ứng cứu cho nó địch chỉ còn duy nhất một con đường là đổ bộ đường không bằng trực thăng. Mà như vậy thì lực lượng không thể lớn được. Về phía ta, bộ đội đang phấn chấn, lực lượng phương tiện gần như vẫn còn nguyên đang tiếp tục tiêu diệt địch ở ngoại vi thị xã và sẵn sàng chờ chúng đến ứng cứu để tiêu diệt. Do đó, có thể chắc chắn một điều là chiến dịch phản kích chiếm lại Buôn- Mê- Thuột của chúng sẽ thất bại hoàn toàn. Hiệu ứng tiếp theo của chuyện này sẽ là thế nào? Địch sẽ co về cố thủ Pley- cu và Kon Tum chăng? Theo lô- gic thông thường là như vậy. Nhưng liệu chúng có thể trụ được bao lâu khi mà so sánh về thế và lực đều thua sút nhiều lần. Một tia chớp bỗng lóe lên trong đầu Kiệm: liệu có thể chúng sẽ rút bỏ cao nguyên để giữ phần còn lại hay không? Suy nghĩ thêm một lúc anh kết luận đó cũng là một khả năng phải tính tới. Đang hối hả ghi chép những điều mình vừa nghĩ vào cuốn sổ tay thì một chiến sĩ xuất hiện trước cửa lán:
- Mời thủ trưởng lên gặp thủ trưởng Tuấn!
Kiệm giật mình. Anh đút vội cuốn sổ vào túi và rảo bước đi theo người chiến sĩ mà đầu óc suy nghĩ mông lung, không hiểu Tổng Tham mưu trưởng gọi mình lên có việc gì đây. Mối lo lắng của Kiệm chợt tan biến khi thấy gương mặt tươi cười của người chỉ huy cao nhất ở đây. Ngay sau đó, một sĩ quan ở Cục Quân báo cũng có mặt. Tổng Tham mưu trưởng vẫy hai người vào lán và chỉ họ ngồi xuống băng ghế đối diện, ông hồ hởi:
- Thông báo cho các cậu biết một tin mừng, anh em ta vừa bắt được tên sư phó Vũ Thế Quang và tên tỉnh trưởng Nguyễn Trọng Luật. Hiện nay đã đưa về sở chỉ huy chiến dịch để khai thác. Tớ muốn hai cậu xuống đó gặp trực tiếp chúng để khai thác những vấn đề cần thiết phục vụ cho nhiệm vụ của ta- Ông chỉ người sĩ quan của Cục Quân báo- Cậu sẽ gặp Vũ Thế Quang, cố khai thác tình hình chung của quân khu Hai và toàn miền Nam, xem đánh giá của hắn về khả năng hành động của cấp trên hắn sẽ như thế nào. Còn cậu Kiệm sẽ gặp tên Luật, tên này vốn là sĩ quan thiết kỵ. Tôi muốn cậu tìm hiểu về tình hình thực lực tăng thiết giáp của chúng ra sao, bố trí lực lượng và khả năng chiến đấu thế nào? Các cậu đi ngay được không?
Cả hai anh em cực kỳ phấn khích đứng phắt dậy:
- Chúng tôi sẽ đi ngay ạ!
Tổng Tham mưu trưởng cười độ lượng:
- Cứ bình tĩnh, ăn cơm xong rồi hãy đi. Trời cũng sắp tối rồi.
Cuộc hỏi cung đại tá Nguyễn Trọng Luật được tiến hành tại một căn lán dã chiến ngay bên cạnh sở chỉ huy chiến dịch. Căn lán nửa nổi nửa chìm được che sơ sài bằng mấy tấm tranh. Giữa lán là bộ bàn ghế ghép tạm bằng tre. Lúc Kiệm đến, Luật đã ngồi bó gối ở đó, ngoài cửa là một chiến sĩ bộ binh cắp khẩu AK đứng gác.
Thấy Kiệm vào, Luật đứng dậy lễ phép cúi đầu chào. Ngồi xuống ghế, Kiệm ra hiệu cho tên tù binh ngồi xuống. Lấy cuốn sổ tay từ trong xắc cốt ra, anh im lặng ngắm nghía tên cựu tỉnh trưởng Đắc Lắc. Mặc dù đã trải qua những thời khắc chắc là gian nan nhất đời binh nghiệp nhưng Luật vẫn giữ được một thân thể khá béo tốt. Một chút sắc hồng đã trở lại trên gương mặt. Tuy nhiên, hai túi thịt dưới mắt đã chảy sệ xuống đầy vẻ mệt mỏi, bi quan. Đôi mắt thì lúc nào cũng nhìn xuống. Một phút yên lặng trôi qua, Kiệm ôn tồn:
- Anh cho biết họ tên, cấp bậc, chức vụ?
Tên tù binh vẫn cúi mặt:
- Dạ, thưa ông! Tôi là Nguyễn Trọng Luật, đại tá, tỉnh trưởng Đắc Lắc.
Kiệm vẫn nhẹ nhàng:
- Anh cho biết, sau khi bị bắt anh được đối xử thế nào? Có bị ai đánh đập không? Có được ăn uống đầy đủ không?
Tên tù binh vẫn cúi mặt:
- Dạ, thưa ông! Từ lúc bị bắt tôi được anh em cán binh đối xử rất tốt. Tôi không bị ai đánh đập. Buổi tối hôm qua và sáng nay đã được ăn cơm. Tôi rất biết ơn quân giải phóng đã đối xử tốt với mình.
Để tên tù binh thật yên tâm và thoải mái hơn, Kiệm hạ giọng chân thành:
- Anh cứ yên tâm. Bộ đội chúng tôi vào đây chiến đấu để đánh đuổi bọn xâm lược Mỹ và tay sai ngụy quyền, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Những ai đã đầu hàng sẽ được bảo toàn mạng sống và sẽ được đối xử nhân đạo. Tuy nhiên, chúng tôi cũng yêu cầu các anh phải hợp tác với chúng tôi. Anh nghe rõ chưa?
Đến đây thì tên tù binh đã ngẩng đầu lên, hắn khẩn khoản:
- Tôi nghe rõ rồi. Tôi xin đội ơn các ông đã tha mạng. Về phần tôi sẽ cố gắng hết sức.
Kiệm tươi cười:
- Thế là tốt. Bây giờ anh cho biết sơ lược về tiểu sử của mình.
Luật im lặng một lát rồi nhỏ nhẻ:
- Thưa, tôi vốn là sĩ quan thiết kỵ. Suốt từ khi gia nhập quân đội cộng hòa tôi đã phục vụ ở binh chủng này. Năm 1965 tôi là trung tá thiết đoàn trưởng. Năm 1971 tôi được phong đại tá, lữ đoàn trưởng lữ đoàn 1 thiết kỵ. Từ năm ngoái tôi được điều về làm tỉnh trưởng Đắc Lắc cho đến nay.
Làm như vô tình, Kiệm hỏi:
- Là sĩ quan thiết kỵ lâu năm thế chắc anh hiểu rất rõ về binh chủng này.
Luật như người chết đuối vớ được cọc, hắn hồn nhiên:
- Thưa, đúng thế ạ! Tôi đã tưởng sống chết với nghề sĩ quan thiết kỵ. Ngờ đâu cuối đời trên lại điều về làm tỉnh trưởng tỉnh này. Tuy về địa phương nhưng lúc nào tôi cũng tự nhận mình là một người lính mũ đen.
Thấy câu chuyện đã có đà, Kiệm nhỏ nhẹ:
- Anh có thể cho tôi biết về tổ chức lực lượng của binh chủng thiết giáp các anh hiện nay một cách cụ thể được không?
Luật hăng hái:
- Thưa, được ạ! Hiện tại binh chủng thiết giáp của quân lực Việt Nam cộng hòa được tổ chức thành bốn lữ đoàn trực thuộc bốn quân đoàn. Mỗi lữ đoàn có từ năm đến sáu thiết đoàn nên tổng số có hai mươi mốt thiết đoàn. Trong đó có ba thiết đoàn chiến xa và mười tám thiết đoàn kỵ binh, mang phiên hiệu từ thiết đoàn 1 đến thiết đoàn 22.
Kiệm đột ngột cắt ngang:
- Sao hai mươi mốt thiết đoàn mà phiên hiệu lại có đến 22?
Luật hơi mỉm cười:
- Dạ, vì các cấp trên của chúng tôi kiêng con số 13 nên không có thiết đoàn 13 ạ.
Kiệm cũng bật cười:
- Ra là thế! Mà sao lại phân biệt thiết đoàn chiến xa và thiết đoàn kỵ binh, chúng khác nhau ở chỗ nào?
Luật ngước mắt lên hăng hái:
- Dạ, khác nhau chứ! Thiết đoàn nào được trang bị chiến xa M48 thì mới được gọi là thiết đoàn chiến xa. Mỗi thiết đoàn này có 54 chiến xa M48, chia làm ba chi đoàn, mỗi chi đoàn lại chia làm ba chi đội. Trong quân lực Việt Nam cộng hòa chỉ có ba thiết đoàn chiến xa phối trí ở các quân khu Một, Hai, Ba. Còn quân khu Bốn do địa hình sình lầy nhiều nên không trang bị chiến xa. Còn 18 thiết đoàn kia chỉ trang bị M41 với M113 và được gọi là thiết đoàn kỵ binh.
Kiệm gật đầu ra vẻ đã hiểu, anh chuyển sang đề tài khác:
- Anh cho biết cụ thể lực lượng thiết giáp ở các quân khu hiện nay thế nào?
Luật suy nghĩ giây lát rồi bấm từng đốt ngón tay rành rẽ:
- Thưa ông, ở quân khu Một có lữ đoàn kỵ binh 1, gồm năm thiết đoàn. Trong đó có bốn thiết đoàn kỵ binh 4, 7, 11, 17 và một thiết đoàn chiến xa 20. Quân khu Hai có lữ đoàn kỵ binh 2 cũng gồm 5 thiết đoàn, bao gồm các thiết đoàn kỵ binh 3, 8, 14, 19 và thiết đoàn chiến xa 21. Riêng lữ kỵ binh 3 của quân khu Ba có sáu thiết đoàn, gồm các thiết đoàn kỵ binh 1, 5, 10, 15, 18 và thiết đoàn chiến xa 22. Ở quân khu Bốn, lữ kỵ binh 4 có năm thiết đoàn đều là kỵ binh. Đó là các thiết đoàn 2, 6, 9, 12 và 16.
Cây bút trong tay Kiệm lia nhanh những hàng chữ viết tháu trên trang giấy đã gần kín. Đọc lại một lượt những gì mình vừa viết, Kiệm ngẩng lên:
- Một lữ đoàn có năm đến sáu thiết đoàn thì các anh bố trí lực lượng như thế nào?
Tên tù binh trả lời ngay:
- Thưa, thường lữ đoàn chỉ giữ lại chiến đoàn chiến xa và một, hai thiết đoàn kỵ binh trực thuộc làm trừ bị cho quân đoàn, số còn lại thì tăng phái cho các sư đoàn bộ binh mỗi sư đoàn một thiết đoàn ạ.
Kiệm thầm thừa nhận tên này có hiểu biết khá sâu sắc về lực lượng thiết giáp và có trí nhớ khá tốt, anh gặng lại:
- Như vậy, toàn binh chủng các anh chỉ có ba thiết đoàn trang bị M48.
Luật gật đầu khẳng định:
- Thưa, đúng vậy ạ!
Kiệm nhẩm tính, như vậy nếu xét về xe tăng chủ lực M48 thì toàn bộ lực lượng của chúng cũng chỉ độ trăm rưởi cái. Tuy nhiên, cũng không thể coi thường thằng M41. Vì vậy, anh nhẹ nhàng:
- Thế còn M41 thì trang bị cho những cấp nào?
Tên tù binh hơi tỏ vẻ ngạc nhiên nhưng rồi hắn lại rành rẽ:
- Dạ, mỗi thiết đoàn kỵ binh có ba chi đoàn thì trong đó có một chi đoàn M41, hai chi đoàn M113. Riêng quân khu Bốn thì chỉ trang bị M113 thôi ạ.
Kiệm lại nhẩm tính. Như vậy chúng cũng chỉ có tổng cộng mười ba chi đoàn M41, vị chi là khoảng hơn sáu trăm xe nếu như đủ theo biên chế. Tuy nhiên, điều này chắc là không thể. Kiệm nhìn xoáy vào đôi mắt tên tù binh:
- Anh có nắm được tỷ lệ trang bị thực tế so với biên chế của các đơn vị thiết kỵ hay không?
Luật ngầm nghĩ một lát mới trả lời:
- Thưa, tôi rời binh chủng cũng khá lâu rồi nên ít có điều kiện cập nhật thông tin. Tuy nhiên, theo những gì tôi được biết thì tỷ lệ trang bị thực tế chỉ đạt chừng bảy mươi đến tám mươi phần trăm mà thôi.
Kiệm vẫn nhìn thẳng vào mắt hắn:
- Tại sao anh lại cho rằng như vậy?
Luật tỏ vẻ hiểu biết:
- Thưa, có mấy nguyên nhân. Thứ nhất, mấy năm nay Hoa Kỳ không viện trợ trang bị mới cho chúng tôi nên số hao hụt trong các cuộc giao tranh những năm qua không được bổ sung kịp thời. Thứ hai, do công tác bảo trì và sửa chữa của Lục quân công xưởng còn kém nên nhiều hư hỏng không giải quyết được, xe pháo nằm chỗ nhiều. Tôi có nghe anh em chiến hữu mũ đen phàn nàn như thế nhiều, nhất là ở quân khu Một.
Kiệm lại nhẩm tính, nếu tên này nói đúng thì chúng chỉ còn chừng hơn trăm cái M48 và khoảng bốn trăm M41. Như vậy, về số lượng là không đáng lo lắm. Tiếp tục nhìn thẳng vào mắt tên tù binh anh hất hàm:
- Hình như anh cũng đã đụng độ với xe tăng Quân giải phóng khá nhiều lần rồi phải không? Anh có nhận xét gì về tác chiến của xe tăng Quân giải phóng?
Luật im lặng suy nghĩ một lát rồi ngắc ngứ:
- Thưa, đúng là tôi đã có đụng độ với xe tăng Quân giải phóng ở Hạ Lào và ở quân khu Một nhưng không đụng độ trực tiếp nên không dám đưa ra nhận xét ạ.
Kiệm nghĩ thầm, có thể là hắn ngại, cũng có thể là sỹ diện, anh cười mỉm:
- Nhưng vừa rồi thì anh đã trực tiếp chứng kiến xe tăng tiến công Buôn- Mê- Thuột phải không? Các anh đã tổ chức phòng thủ thế nào mà để một thị xã lớn như vậy lại thất thủ nhanh chóng như thế?
Luật cúi đầu trầm ngâm, một lát sau mới ngượng ngập:
- Thưa, thật sự là chúng tôi đã hoàn toàn bị bất ngờ. Bất ngờ cả về hướng tấn công. Bất ngờ cả về sử dụng lực lượng. Ngay hôm mồng Chín, tướng Phạm Văn Phú còn về đây thị sát tình hình và họp với chúng tôi vẫn khẳng định mục tiêu chủ yếu của các ông mùa khô này là Pley- cu và Kon Tum. Khi tôi nêu những nghi vấn xung quanh khu vực ổng cũng chỉ cho thành lập mặt trận Buôn- Mê- Thuột và giao cho tại tá Quang tư lệnh phó sư đoàn 23 chỉ huy mà không tăng cường thêm bất cứ lực lượng nào- Hắn tần ngần một lát rồi ngẩng lên- Có một điều rất lạ mà tôi không sao hiểu được là các ông làm thế nào để đưa chiến xa hạng nặng vào đến thị xã mà phi cơ L19 và các lực lượng thám sát của chúng tôi vẫn không phát hiện ra.
Kiệm cười:
- Chuyện đó rồi anh sẽ còn thời gian để tìm hiểu- Anh nghiêng đầu hỏi tiếp- Theo anh, Sài Gòn và Bộ Tư lệnh quân đoàn Hai sẽ làm gì bây giờ.
Lại im lặng gần một phút Luật mới nói nhỏ:
- Buôn- Mê- Thuột là thủ phủ nam cao nguyên, nó có vị trí chiến lược rất quan trọng nên chắc chắn chẳng ai muốn mất nó. Căn cứ vào cuộc điện đàm cuối cùng mà tôi nhận được của tướng Phú thì chắc chắn ông sẽ cho quân ứng cứu giải tỏa Buôn- Mê- Thuột. Còn Sài Gòn chắc cũng muốn như vậy.
Kiệm gõ gõ cây bút trên cuốn sổ, nhát gừng:
- Vậy theo anh, lực lượng mà quân đoàn đem đến giải tỏa là bao nhiêu? Khả năng thành công như thế nào?
Lần này Luật trả lời ngay:
- Thưa, căn cứ tình hình hiện tại, khi mà cả Pley- cu và Kon Tum cũng đang bị uy hiếp thì tướng Phú chỉ có thể đưa tới giải tỏa Buôn- Mê- Thuột tối đa là hai trung đoàn của sư đoàn 23 bộ binh mà thôi. Còn khả năng thì- Hắn nhún vai- Với những gì tôi nhìn thấy từ hôm qua tới nay, tôi cho rằng mọi giải pháp đều vô vọng. Không những không giải tỏa được Buôn- Mê- Thuột mà có khi còn mất luôn cả Pley- cu và Kon Tum nữa ấy chứ.
Kiệm tiếp tục dồn:
- Vậy tiếp theo sẽ là gì?
Luật lắc đầu:
- Thưa, thật sự tôi cũng không hiểu. Nhưng tôi biết, dẫu có cố gắng bao nhiêu đi nữa quân đoàn Hai này cũng không đứng vững nổi.
Liếc qua trang giấy thấy cũng đã đạt yêu cầu của mình, Kiệm gập sổ lại, anh ngẩng lên nghiêm giọng:
- Câu hỏi cuối cùng, anh có đánh giá thế nào về sức mạnh của xe tăng Quân giải phóng trong trận tiến công Buôn- Mê- Thuột?
Cho đến lúc này chắc Luật đã đoán ra người đang hỏi cung mình là ai, hắn cúi đầu ngượng ngập:
- Thưa, tôi thực sự không biết nói thế nào… Binh sĩ của các ông rất dũng cảm, mặc dù hỏa lực chống tăng dày đăc, phi cơ oanh kích dữ dội họ vẫn xông lên. Xe này cháy, xe khác lại xông vào. Hình như họ không biết sợ thì phải. Còn pháo trên xe T54 của các ông bắn trực xạ uy lực thật khủng khiếp, M48 của chúng tôi cũng thua xa.
Chẳng hiểu có phải hắn nịnh mình không nhưng Kiệm biết những điều hắn nói ra là thật, anh tươi cười:
- Xin cảm ơn anh về sự hợp tác hôm nay. Giờ cho anh về nghỉ!
Tên tù binh đứng dậy lễ phép cũi đầu chào rồi nặng nề lê bước ra cửa lán. Kiệm ngồi lại một mình nhăn trán suy nghĩ, một lát sau anh lại cắm cúi ghi chép. Ngay chiều hôm đó, bản báo cáo của đại diện xe tăng đã có trên bàn làm việc của Tổng Tham mưu trưởng.
★ ★ ★
Đòn điểm huyệt Buôn- Mê- Thuột đã làm không chỉ Bộ Tư lệnh quân đoàn Hai mà cả Sài Gòn choáng váng. Tướng Phạm Văn Phú loay hoay tìm cách giải cứu nhưng đụng vào đâu cũng thấy vướng. Tất cả các con đường bộ nối đến Buôn- Mê- Thuột đều đã bị cắt. Sân bay Phụng Dực cũng đã bị khống chế. Chỉ còn một con đường duy nhất là dùng trực thăng đổ quân xuống. Trong khi đó, với chiến thuật nhanh chóng đánh vào mục tiêu chủ yếu ở trung tâm thị xã, sau đó kết hợp trong đánh ra, ngoài đánh vào tiêu diệt các cứ điểm ngoại vi và quân ứng cứu mà quân ta áp dụng đã cho thấy hiệu quả ngoài sức tưởng tượng.
Chiều 11 tháng Ba, ta diệt một đoàn xe ở Chư Cúc ngăn không cho địch giải tỏa đường 21.
Ngày 12 tháng Ba ta tiêu diệt các cứ điểm Thọ Thạnh, Buôn Hồ, Chư Bao, Đạt Lý. Đồng thời một trung đoàn bộ binh được tăng cường xe tăng tiến công căn cứ 45 để đón lõng tiêu diệt trung đoàn 45 địch nếu chúng đổ quân xuống đây.
Trong các ngày 12 và 13 tháng Ba, một cuộc trực thăng vận lớn nhất từ sau Hiệp định Pa- ri với sự tham gia của hàng trăm máy bay lên thẳng, hàng chục lần chiếc A37 hiểm hộ đã được Bộ Tư lệnh quân đoàn Hai tiến hành để đổ quân xuống giải tỏa Buôn- Mê- Thuột nhưng quân đổ xuống đâu bị đánh đến đấy.
Ngày 16 tháng 3 ta tiêu diệt trung đoàn 45 ngụy, làm chủ Nông Trại, Phước An. Cũng trong đêm đó, căn cứ 53 sau ba ngày chống cự quyết liệt bị quân ta tiêu diệt. Sư đoàn 23 ngụy coi như bị xóa sổ.
Trong khi đó, các đơn vị ở phía Bắc cũng đẩy mạnh hoạt động áp sát Pley- cu, Kon Tum, tiếp tục cắt đường 19.
Bất lực trước tình hình, tổng thống Nguyễn Văn Thiệu quyết định rút quân chính quy khỏi Cao Nguyên, hy vọng bảo toàn lực lượng để giữ vùng ven biển.
Ngày 15 tháng Ba, tướng Phú rút sở chỉ huy quân đoàn về Nha Trang. Toàn bộ cuộc rút lui theo đường số 7 giao cho chuẩn tướng Phạm Duy Tất chỉ huy.
Ngày 16 tháng Ba, địch rút khỏi Kon Tum.
Ngày 17 tháng Ba, lực lượng ở Pley- cu bắt đầu rút.
Tuy nhiên, ý định bảo toàn lực lượng khi rút lui khỏi Cao Nguyên đã hoàn toàn phá sản. Trong tâm thế cực kỳ hoang mang, cuộc rút lui chiến lược “có tổ chức, có chỉ huy và tuyệt đối bí mật” như chỉ thị của đích thân tổng thống Thiệu đã trở thành một cuộc tháo chạy hỗn loạn của một đoàn quân thất trận và ô hợp. Chúng bị đánh đằng trước, đánh đằng sau, đánh từ hai bên để rồi cuối cùng co cụm lại tại thị xã Cheo Reo và hứng chịu đòn quyết định. Sư đoàn B20 cùng với một trung đoàn pháo binh, một trung đoàn cao xạ và một tiểu đoàn xe tăng đã chờ chúng tại đó. Sau hơn một ngày tiến công mãnh liệt, hơn mười ba ngìn tên địch lớp bị diệt, lớp bị bắt, lớp ra hàng. Hàng chục nghìn phương tiện chiến tranh, trong đó gần như toàn bộ số xe tăng, thiết giáp của lữ đoàn thiết kỵ số 2 bị tiêu diệt và thu giữ. Con đường số 7 đã trở thành con đường chết của quân đoàn Hai Sài Gòn.
Phối hợp nhịp nhàng với Tây Nguyên, quân ta tiến công địch rộng khắp chiến trường miền Nam.
Tại quân khu Năm, ngày 10 tháng Ba ta đánh chiếm quận lỵ Tiên Phước, Phước Lâm, uy hiếp địch ở Tam Kỳ. Tiếp đó đánh bại các cuộc phản kích của sư đoàn 2 ngụy.
Tại Thừa Thiên, ngày 10 tháng Ba ta đã tiến công căn cứ 303 và nhiều căn cứ khác trên đường 14 phía tây Động Truồi. Trước sức ép của ta, cộng với tin dữ từ Tây Nguyên bay về, ngày 19 tháng 3 quân địch ở Quảng Trị hốt hoảng rút về Nam Mỹ Chánh. Một cửa mở mới được mở ra trên địa bàn quân Một.
Ở Nam Bộ, ta đánh mạnh ở Bình Long, Tây Ninh, tiêu diệt chi khu Dầu Tiếng, cách Sài Gòn chỉ vài chục ki- lô- mét.
Như một phản ứng dây chuyền, toàn miền Nam rung động. Bộ Thống soái tối cao họp quyết định chớp lấy thời cơ, giải phóng miền Nam ngay trong năm 1975. Quyết tâm chiến lược này nhanh chóng được phổ biến xuống cấp dưới. Một khí thế cực kỳ sôi động dấy lên trên toàn quốc.
Vừa từ trên Bộ về, tư lệnh Đào không về nhà mà vào ngay phòng chính ủy Sính trao đổi mấy câu rồi triệu tập ngay cuộc họp các cơ quan Bộ Tư lệnh để triển khai nhiệm vụ. Nhìn vẻ mặt nghiêm trọng của người đồng cấp, chính ủy Sính hiểu rằng có rất nhiều cái mới đang chờ đợi nên đồng ý ngay tắp lự. Các thành phần vừa có mặt đủ, tư lệnh Đào vào việc ngay. Sau khi tóm tắt những diễn biến chính của chiến trường miền Nam, ông nhấn mạnh:
- Trước tình hình đó, Bộ Chính trị đã họp và ra nghị quyết quyết tâm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước ngay trong năm 1975. Quân ủy trung ương và Bộ Quốc phòng chỉ thị cho toàn quân tập trung binh khí kỹ thuật và vật chất, giải phóng Sài Gòn trước mùa mưa. Trước mắt, phải nhanh chóng chớp thời cơ địch đang rút lui chiến lược, làm tan rã quân đoàn Một và quân đoàn Hai ngụy, không cho chúng co cụm về xung quanh Sài Gòn. Bộ cũng đã quyết định mở chiến dịch Huế- Đà Nẵng trên địa bàn quân khu Một của địch. Thời gian bây giờ chính là lực lượng. Trách nhiệm của chúng ta là dồn toàn lực phục vụ cho mục tiêu này. Qua trao đổi với đồng chí chính ủy, chúng tôi xác định trong thời điểm này binh chủng ta cần khẩn trương làm ngay một số việc sau- Ông liếc nhìn những gương mặt chăm chú và mừng rỡ của những người trong phòng họp rồi dằn giọng- Trước hết, phải nhanh chóng đưa ba tiểu đoàn của H15 và H06 bổ sung cho B2. Việc này ta đã có kế hoạch từ trước nên ngay sau cuộc họp này bên tham mưu điện ngay cho anh Võ cho bộ đội xuất phát, hành quân với tốc độ cao nhất, đảm bảo trung tuần tháng Tư phải có mặt tại B2. Thứ hai, chỉ đạo các đơn vị còn lại của H15 và H01 tăng cường huấn luyện bổ sung, sẵn sàng lên đường khi có lệnh. Thứ ba, tiếp tục xây dựng thêm một số tiểu đoàn mới để sẵn sàng bổ sung cho chiến trường khi cần thiết. Thứ tư là phải tăng cường cán bộ cho các mặt trận để nâng cao hiệu quả công tác tham mưu về sử dụng tăng thiết giáp trong các chiến dịch sắp tới. Thứ năm, tăng cường bổ sung cơ sở vật chất cho các đơn vị, đặc biệt là đạn pháo. Đồng thời, tổ chức tốt việc thu giữ, bảo quản trang bị tăng thiết giáp của địch bỏ lại, cái nào đưa được vào chiến đấu ngay thì đưa, còn lại phải thu hồi và bảo quản cho tốt. Đó là những nhiệm vụ chính mà chúng ta cần thực hiện ngay. Đề nghị các đồng chí bổ sung thêm.
Chính ủy Sính thì điềm đạm:
- Báo cáo các đồng chí! Đây là thời cơ ngàn năm có một của dân tộc ta, đất nước ta. Chúng ta mà không chớp lấy là có tội với lịch sử. Những nhiệm vụ chính như đồng chí tư lệnh đã phổ biến theo tôi là đầy đủ rồi. Bây giờ đề nghị chúng ta thảo luận các biện pháp để thực hiện cho tốt mà thôi. Xin mời các đồng chí!
Một cánh tay giơ lên, đó là trưởng ban quân lực:
- Báo cáo các thủ trưởng, việc đưa ba tiểu đoàn của H15 và H06 đi B2 thì không có vấn đề gì vì lực lượng, trang bị đã đày đủ. Bây giờ ta chỉ việc điện vào là anh em lên đường. Tuy nhiên, việc thành lập thêm một số tiểu đoàn mới thì tôi thấy rất khó thực hiện bởi vì, thời gian thì quá gấp, số chiến sĩ mới tuyển đầu năm nay vẫn đang huấn luyện tân binh, nếu có chuyển sang đào tạo thành viên kíp xe ngay cũng không kịp ạ. Mà xe pháo cũng cạn cả rồi…
Tư lệnh Đào gườm gườm con mắt lành sau cặp kính:
- Thế thì tôi mới cần đến tham mưu của các anh chứ.
Tham mưu phó Đỗ đột ngột đứng dạy:
- Báo cáo các đồng chí! Theo tôi, nếu để đáp ứng yêu cầu về thời gian mà vẫn có lực lượng sẵn sàng bổ sung cho chiến trường ta có thể làm thế này- Thấy mọi cặp mắt hướng về mình, anh hạ giọng- Trong tay ta hiện có hai đơn vị làm nhiệm vụ đào tạo là Trường sĩ quan Thiết giáp và trung đoàn 207. Cán bộ, giáo viên và trợ giáo của hai đơn vị này đều là những đồng chí có chuyên môn tốt. Vì vậy, theo tôi có thể rút từ đây ra đủ một số tiểu đoàn. Thành viên kíp xe ta lấy từ trợ giáo, cán bộ ta lấy từ cán bộ khung và giáo viên. Ít nhất mỗi đơn vị cũng được một tiểu đoàn. Còn xe thì ngay lập tức củng cố, nâng cấp một số xe huấn luyện để đưa đi chiến đấu cũng được.
Những tiếng ồn ào hưởng ứng nổi lên. Tư lệnh Đào gật gù, có vẻ như ông hài lòng với phương án này. Phó chính ủy Thu có ý kiến:
- Tôi đồng ý với giải pháp của đồng chí Đỗ. Riêng về việc tăng cường cán bộ cho các mặt trận thì theo tôi có lẽ chỉ cần tăng cường cho binh đoàn Quyết Chiến và binh đoàn Sông Hương vì ta đã có đồng chí Kiệm ở hướng Tây Nguyên, đồng chí Võ vào B2. Ngoài ra, trên hai hướng đó còn có đoàn công tác của ta vẫn đang ở trong ấy. Hết ý kiến!
Đại diện cơ quan kỹ thuật có ý kiến:
- Báo cáo các đồng chí! Việc bổ sung vật chất cho các đơn vị chúng tôi đã có kế hoạch, đề nghị tư lệnh phê duyệt chúng tôi sẽ triển khai ngay. Riêng việc tổ chức thu giữ phương tiện của địch tôi đề nghị ta nên bổ sung vào chương trình huấn luyện cấp tốc về xe Mỹ cho các nhà trường. Ngay các tiểu đoàn thành lập từ các nhà trường cũng cần huấn luyện các nội dung này. Khi cần thiết ta chỉ cần đưa người không vào để lấy xe địch đánh địch.
Thêm một vài ý kiến nữa thì tư lệnh Đào đứng dậy:
- Như vậy mọi việc đã rõ hơn rồi. Sau đây tôi xin kết luận. Một, cơ quan tham mưu điện ngay cho anh Võ cho đoàn 275 xuất phát, chú ý bảo đảm tốc độ hành quân để đến B2 đúng thời gian quy định. Đồng thời các đồng chí soạn thảo chỉ thị sẵn sàng chiến đấu gửi H01 và H15. Hai, tổ chức thành lập hai tiểu đoàn mới từ hai nhà trường, chú trọng huấn luyện bổ sung về sử dụng xe địch. Ba, cơ quan kỹ thuật đưa ngay kế hoạch bổ sung vật chất lên cho tôi xem và chuẩn bị triển khai. Riêng về vấn đề cán bộ tôi quyết định sẽ thành lập một sở chỉ huy tiền phương của Bộ Tư lệnh bên cạnh sở chỉ huy của Bộ trên hướng chính diện, trước mắt là chiến dịch Huế- Đà Nẵng. Thành phần của tiền phương Bộ Tư lệnh gồm tôi, đồng chí phó chính ủy, đồng chí trưởng ban tác chiến, đại diện các cơ quan chính trị, hậu cần, kỹ thuật và các bộ phận bảo đảm, phục vụ. Cơ quan tham mưu soạn thảo ngay kế hoạch tổ chức Bộ tư lệnh tiền phương thông qua tôi để báo cáo Bộ. Mọi việc ở nhà do đồng chí chính ủy và đồng chí tham mưu phó phụ trách. Các đồng chí còn hỏi gì nữa không?- Ông nhìn quanh một lượt chỉ thấy những gương mặt sáng bừng, hăm hở nên gập sổ lại- Không ai có ý kiến gì! Vậy mời các đồng chí nghỉ. Riêng đồng chí Đỗ và đồng chí Phùng ở lại gặp tôi.
Mọi người tất bật rời phòng họp. Ai cũng thấy trước mắt mình rất nhiều việc phải làm.
★ ★ ★
Cũng ngày hôm đó, phó tư lệnh Kiệm đang có mặt ở Cheo Reo. Thị xã miền sơn cước vốn đã nghèo nàn nay lại vừa trải qua một cơn binh lửa nên trông càng tàn tạ. Chỉ có người là đông. Mà cũng không phải dân sở tại ở đây. Họ là gia đình của hơn một vạn sĩ quan, binh sĩ Sài Gòn theo chồng, theo con di tản khỏi cao nguyên và giờ đang kẹt lại ở đây. Nhếch nhác, mệt mỏi và tuyệt vọng là tâm trạng chung của họ. Người thân của họ kẻ bị chết, người chạy vào rừng và số đông đang ở nơi tập trung tù, hàng binh của quân giải phóng. Họ đang gắng trụ lại đây để nghe ngóng tin tức người thân và tìm đường trở lại quê hương, bản quán. Nhìn những gương mặt bơ phờ, thiểu não của những cụ già tóc đã bạc phơ, hay những thiếu phụ bụng mang dạ chửa mà Kiệm thấy chạnh lòng. Cuộc chiến này đã gây ra quá nhiều đau khổ. Với những người lính, chết chóc, gian khổ đã đành. Nhưng còn những người dân lành, họ cũng bị cuốn vào cái guồng bất hạnh ấy mà không thể nào cưỡng lại được. Anh bồi hồi nhớ lại những ngày đưa vợ con đi sơ tán cấp tốc tránh máy bay năm nào. Có khác gì họ bây giờ đâu. Không muốn sa đà vào những ý nghĩ ấy, Kiệm bảo lái xe xuôi theo đường số 7 về phía đông.
Thực ra, con đường này không xa lạ gì với Kiệm. Từ hồi kháng chiến chống Pháp anh đã hoạt động ở vùng này. Hồi đó, đây chỉ là một tỉnh lộ, tuy đã được trải nhựa nhưng mặt đường khá hẹp. Khi tướng Lơ Clec đưa quân từ Nam Bộ đánh ra Đắc Lắc anh và đồng đội đã theo đường này rút về Củng Sơn rồi xuống Tuy Hòa. Vì vậy, hôm thảo luận ở Bộ Tư lệnh B75 về khả năng địch rút quân theo đường nào, Kiệm đã cùng số ít cán bộ đưa ra ý kiến địch rút lui theo đường số 7. Mặc dù trinh sát quân khu Năm báo cáo về là đường 7 đã bị bỏ từ lâu, không thể cơ động được nhưng anh vẫn bảo lưu ý kiến. Cái lý của Kiệm là đường 14, đường 19 và đường 21 đều đã bị ta cắt. Nếu địch muốn rút theo những con đường ấy thì sẽ phải dùng một lực lượng lớn để giải tỏa và chắc chắn là sẽ không đảm bảo được ý định rút quân nhanh và bảo toàn lực lượng. Nghe Kiệm phân tích, Tổng Tham mưu trưởng thấy có lý và đã kịp thời chỉ đạo B3 điều quân chờ sẵn. Cuối cùng, đúng như anh dự đoán, tướng Phú đã chọn đường số 7 và con đường này đã trở thành con đường chết của quân đoàn Hai ngụy.
Không như trinh sát của quân khu Năm báo cáo, đường số 7 đã được mở rộng nhiều so với trí nhớ của Kiệm, nhiều chỗ rộng đến hàng chục mét. Tuy nhiên, một số cầu cống còn yếu và đó chính là khó khăn khi phải cơ động các phương tiện có tải trọng lớn trên con đường này. Và cái chính là đội quân ô hợp này khi bị ta chặn đánh đã trở nên hoảng loạn đến tột cùng. Mạnh tên nào tên ấy chạy. Giày xéo lên nhau để chạy. Xe tải đè xe con. Đến lượt xe tăng đè xe tải. Sự hỗn loạn ấy còn hiển hiện với hàng trăm xe tăng, thiết giáp, xe ô tô, xe kéo pháo ngổn ngang suốt mấy cây số liền. Cái bị cháy, cái đổ nghiêng, cái bẹp dúm… chen chúc với nhau. Tuy nhiên, trong số đó còn khá nhiều cái nguyên vẹn. Gần đến cầu Sông Ba, quang cảnh càng hỗn loạn hơn, hàng chục chiếc tăng cả M48, M41 dúi dụi vào nhau. Kiệm bảo lái xe dừng lại, anh trèo lên một chiếc M48 rồi ngẩn ra nhìn. Xe còn mới, đạn pháo, đạn đại liên còn đầy ắp. Không nói không rằng, Kiệm bảo lái xe quay ngay về sở chỉ huy của trung đoàn H73 đang đóng ở Đức Đạt. Vừa may, trưởng phòng tăng mặt trận B3 Trần Doãn cùng đang ở đó. Vừa đến nơi anh đã kéo ngay Doãn, Ngộ vào phòng họp. Chẳng đợi nước nôi, Kiệm nói ngay:
- Này, các cậu! Tớ vừa đi Cheo Reo về. Quân nó bỏ lại nhiều xe tăng, thiết giáp lắm. Cái nào cái nấy đạn dược vẫn còn nguyên. Theo tớ, ta phải tổ chức thu hồi ngay, cái nào còn dùng được thì có thể đưa vào sử dụng. Cái nào không dùng được thì cũng phải bảo quản chứ để đó xót ruột lắm.
Cả Doãn và Ngộ đều vui mừng, Ngộ nhanh nhảu:
- Báo cáo thủ trưởng, chúng tôi cũng đã nghe anh em báo cáo về chuyện đó. Tôi với anh Doãn cũng đã bàn về phương án thu giữ xe địch, đang định xin ý kiến thủ trưởng.
Kiệm gật đầu:
- Thế hả? Phương án của các cậu thế nào, nói tôi nghe!
Đến lượt Doãn:
- Báo cáo phó tư lệnh, ý định của chúng tôi là trước hết tập trung thu giữ các loại tăng thiết giáp về một địa điểm. Sau đó chọn lấy khoảng một đại đội đưa vào tham gia chiến đấu, số còn lại thì tổ chức bảo quản, sửa chữa để sau nếu cần dùng được ngay.
Kiệm trợn mắt:
- Sao lại chỉ một đại đội?
Ngộ trả lời ngay:
- Báo cáo, trong chiến dịch vừa rồi, thiệt hại của trung đoàn là không lớn, chỉ có 2 xe tăng là phải hủy, số hỏng hóc đã được anh em kéo về và khắc phục. Vì vậy, căn cứ vào số thành viên dôi ra, chúng tôi thấy chỉ thành lập thêm một đại đội là vừa.
Kiệm gật gù ra vẻ đồng ý, Doãn bổ sung:
- Cũng xin báo cáo thủ trưởng luôn, về chủng loại xe chúng tôi chỉ định lấy một đại đội M41 thôi…
Kiệm đột ngột ngắt lời:
- Tại sao lại là M41? Tại sao không phải M48?
Doãn vẫn nhẹ nhàng:
- Báo cáo, thực ra thì M48 có hỏa lực mạnh hơn nhưng trọng lượng nặng quá. Nếu ta sử dụng nó thì phát triển theo hướng nào cũng gặp khó khăn.
Kiệm gật đầu:
- Các cậu đúng! Thế thì triển khai đi- Nhưng rồi anh lại gióng một- Nhưng mà lính của các cậu thế nào? Có sử dụng được không?
Ngộ gãi gãi tai:
- Báo cáo, chúng tôi có cậu Thắng trợ lý kỹ thuật nắm rất vững kỹ thuật xe địch. Cậu ấy đã từng tham gia đưa xe địch từ đường Chín ra Bắc triển lãm năm bảy mốt mà. Chỉ cần cậu ấy hướng dẫn một buổi là anh em lái được ngay. Riêng về phần pháo súng thì hơi bí. Tuy nhiên, cho anh em nghiên cứu vài buổi chắc sẽ sử dụng được vì nguyên lý của chúng cũng giống nhau.
Kiệm đột ngột bật lên:
- Tù binh- Anh bật cười vì vẻ mặt ngơ ngác của hai cán bộ cấp dưới- Ý tớ nói là trưng dụng tù binh bọn chúng hướng dẫn cho anh em mình ấy. Lúc nãy tớ đi qua chỗ tạm giữ tù binh ở Cheo Reo, thấy ở đó có đến mấy nghìn tên. Thảo nào trong đó chả có lính thiết kỵ. Mình trưng dụng họ rồi ghi công cho họ chả tốt à?
Doãn và Ngộ nhìn nhau, mãi sau Doãn mới ngần ngừ:
- Làm thế có được không ạ?
Kiệm dứt khoát:
- Được chứ! Các cậu đừng ngại. Từ hồi chống Pháp ta đã có nhiều lần sử dụng tù binh địch mà có việc gì đâu, chỉ cần giám sát cho chặt chẽ vào là được. Tớ sẽ báo cáo mặt trận cho.
Cả Doãn và Ngộ cùng trút một hơi thở dài. Thế là họ đã có giải pháp cho vấn đề mà cả hai đang bí.
★ ★ ★
Khu vực cơ quan Bộ tư lệnh Thiết giáp hôm nay có vẻ nhộn nhịp khác thường. Trên con đường trục phía trước nhà chỉ huy hai chiếc xe con, một chiếc xe tải và một chiếc xe công trình thông tin đang được bộ đội cắm lá ngụy trang. Một số cán bộ các cơ quan xúng sính trong bộ quân phục mới, vai đeo ba lô đang dồn về phía đó. Những cán bộ còn lại nhìn theo đầy thèm muốn. Đó là cơ quan Bộ tư lệnh tiền phương sắp sửa lên đường.
Đã gần trưa. Trong phòng riêng của mình, tư lệnh Đào hết đứng lên lại ngồi xuống có vẻ rất nóng ruột. Phó chính ủy Thu vẫn ngồi trên ghế một cách ung dung, thư thái như bản tính vốn có của ông. Thấy vẻ bồn chồn của người chỉ huy, ông Thu cười:
- Thì anh cứ ngồi xuống đây cái đã nào. Thế nào rồi cậu ấy chẳng về.
Ông Đào bực bội:
- Anh bảo tôi không sốt ruột sao được? Nửa đêm hôm qua tôi đã bắt cậu ấy đi Hà Nội để sáng sớm nay vào gặp thủ trưởng Bộ ngay đầu giờ. Thế mà đến giờ vẫn chưa về đây là nghĩa làm sao?
Chả là đêm hôm qua, sau khi trưởng phòng tác chiến Phùng chuẩn bị xong bản kế hoạch tổ chức cơ quan Bộ tư lệnh tiền phương lên báo cáo ông. Ông đã ký ngay rồi chỉ thị cho Phùng về Hà Nội ngay trong đêm báo cáo Bộ. Tình hình phát triển quá nhanh, có ai đó nói thời điểm này “một ngày bằng hai mươi năm” kể cũng không ngoa. Chỉ sau hơn mười ngày phát động chiến dịch, Tây Nguyên đã sạch bóng quân thù. Ở Trị Thiên, quân địch cũng đã bỏ Quảng Trị lui về nam sông Mỹ Chánh. Ở Nam Bộ, sau khi mất Dầu Tiếng địch cũng rút bỏ An Lộc, cái thị xã mà năm bảy hai ta đánh đi đánh lại mãi vẫn không giải quyết xong. Về phía lực lượng xe tăng, ngoài H73 đã tham gia từ đầu chiến dịch thì các đơn vị còn lại cũng đã rục rịch lên đường tham gia chiến đấu. Trên hướng binh đoàn Sông Hương, mặc dù Bộ chưa cho sử dụng xe tăng song tướng Ân vẫn quyết định cho tiểu đoàn 4 xuất quân áp sát Huế từ phía Tây Nam, đồng thời đưa toàn bộ lữ đoàn H03 vào A Lưới để sẵn sàng tiến công Đà Nẵng theo đường 14. Ở khu Năm, trung đoàn N74 cũng đã cơ động đến gần Quảng Ngãi, Tam Kỳ. Trong B2, một tiểu đoàn dã được tăng cường cho binh đoàn Mê Kông chuẩn bị quét sạch đường 20. Một tiểu đoàn chuẩn bị đánh Chơn Thành, một tiểu đoàn chuyển hướng xuống Long An, Hậu Nghĩa. Ba tiểu đoàn tăng cường cho B2 cũng đã đến vùng ba biên giới, chỉ chừng dăm ngày nữa sẽ đến nơi. Ngay cả binh đoàn dự bị chiến lược Bộ cũng đã quyết định tung vào ván bài này. Mặc dù cả binh đoàn chưa lên đường nhưng tiểu đoàn 66 của H02 đã lên tàu vào Vinh, từ đây nó sẽ đi tàu thủy vào Đông Hà và sẽ tham gia tiến công Đà Nẵng từ hướng Bắc. Tình hình như thế bảo ông không sốt ruột sao được.
Nắng càng ngày càng gay gắt. Chính ủy Thu nhấp nhổm:
- Kiểu này chắc cậu ấy có về kịp thì cũng đã muộn rồi. Có lẽ tôi cứ cho bộ đội triển khai ăn cơm đã, anh Đào nhé!
Ông Đào phảy tay:
- Thôi được! Anh cho anh em cơm nước đi. Cậu Phùng về là ta đi ngay đấy.
Quá trưa một lúc Phùng mới về thật. Vừa xuống xe là anh chạy ngay lên nhà tư lệnh. Chưa để tư lệnh hỏi, Phùng đã hớt hải:
- Báo cáo Tư lệnh! Bộ hoàn toàn đồng ý với kế hoạch của ta. Trước mắt, tiền phương của ta sẽ ở bên cạnh Bộ tư lệnh chiến dịch Quảng Đà. Tiếp theo sẽ làm tham mưu cho sở chỉ huy cánh quân tiến công hướng chính diện từ bắc vào nam.
Tư lệnh Đào gật đầu:
- Biết rồi! Vấn đề là sở chỉ huy chiến dịch Quảng Đà đang ở đâu?
Phùng trả lời ngay:
- Báo cáo, hiện họ đang ở Nam Đông, trên đường 14, phía tây bắc Đà Nẵng. Tôi đã đánh dấu vị trí trên bản đồ rồi. Trường hợp họ di chuyển thì Bộ sẽ thông báo cho ta qua đài 15 oát.
Ông Đào khoát tay:
- Được rồi. Anh tính toán lại đường đi, cung chặng làm sao có mặt tại đó trong ngày 25 là được. Còn bây giờ anh về ăn cơm đi. Mười ba giờ ta xuất phát.
Phùng đi rồi, ông giở cái ba lô ra kiểm tra lại một lần nữa. Cũng chẳng có gì nhiều nhặn. Hai bộ quần áo dài, hai bộ quần áo lót, cái tăng, cái võng, cái màn tuyn, mấy thứ đồ dùng lặt vặt cá nhân. Giá như ông về qua nhà trước khi đi thế nào cũng có chút thức ăn khô hay vài thứ quả bà Hạnh gói cho. Nhưng lần này trước khi đi ông không về qua nhà vì tháng trước đã về tiễn con nhập ngũ. Thằng Hưng nhà ông đợt này vào quân khu Bốn. Nó mới viết cho ông được một lá thư, mà cũng chỉ ngắn ngủn mấy dòng báo tin đang huấn luyện tân binh. Thực tình, khi biết ông không xin cho con mình về binh chủng và ở lại ngoài Bắc, bà Hạnh cũng buồn nhưng chỉ im lặng không nói gì. Bà đã quá hiểu tính ông. Tuy nhiên, mấy ông anh trong họ thì nói thẳng: “Chú làm to như thế mà không xin cho con nó đi học cái gì ở ngoài này thì làm to làm quái gì!”. Ông không thanh mình nhưng bụng nghĩ: “Nếu ai cũng như vậy thì ai sẽ ra chiến trường?”. Bụng bảo dạ như vậy, nhưng không phải không có lúc ông nghĩ ngợi. Nhỡ nó phải vào đó mà có vận hạn gì thì ông biết ăn nói làm sao với hai người đồng đội lúc gặp họ ở thế giới bên kia. Chỉ mong chuyến đi này là chuyến đi cuối cùng của ông và cuộc chiến này sẽ kết thúc mà chưa đến lượt bọn nó phải ra chiến trường.
Đang tần ngần suy nghĩ thì trưởng phòng Phùng xuất hiện:
- Báo cáo tư lệnh, anh em đã sẵn sàng.
Ông vụt trở lại thành con người cứng rắn, lạnh lùng. Khoác chiếc ba lô nhẹ tênh vào một bên vai, ông gật đầu dứt khoát:
- Được! Nào ta đi!
★ ★ ★
Vào lúc đó, Hòa đen đang ngồi trên nóc ca- bin một con “tàu há mồm” hùng dũng đè sóng tiến vào sông Cửa Việt. Đã ba ngày nay, tiểu đoàn 66 của anh rời hậu cứ lên đường chiến đấu. Sau hành trình bằng tàu hỏa từ ga Văn Trai vào Vinh, các anh được đội “tàu há mồm” đón sẵn tại Bến Thủy để đưa vào Đông Hà. Theo ý định của trên, từ Đông Hà các anh sẽ theo đường 1 tiến công Đà Nẵng từ hướng bắc cùng với một số lực lượng đi trước của binh đoàn. Lần đầu đi biển, đa số anh em trong đơn vị Hòa say nghiêng ngả, nằm vạ vật khắp nơi. Riêng Hòa, vốn dân miền biển nên sóng gió dường như lại làm anh khỏe hơn. Ngoài thời gian giúp đỡ đồng đội vượt qua “khổ nạn” thì Hòa thường leo lên ca- bin chuyện gẫu với cánh thủy thủ. Mặc dù khác quân chủng nhưng cùng tuổi, cùng cánh lính kỹ thuật nên Hòa với tay thuyền trưởng hợp chuyện lắm. Anh thuyền trưởng thì nghe không biết chán những trận chiến đấu ác liệt mà Hòa đã trải qua, thèm thuồng được đối mặt trực tiếp với kẻ thù như những người lính xe tăng. Còn Hòa thì thật sự thán phục những người anh em hải quân. Giữa trời nước mênh mang không biết đâu là bờ bến, giữa sóng gió muôn trùng với biết bao hiểm nguy rình rập mà họ vẫn ung dung, thư thái lạ thường. Vừa mới gặp nhau mà cả hai đã lấy địa chỉ của nhau, hẹn ngày chiến thắng sẽ tìm về quê nhau để cùng gặp lại.
Tàu đã vào gần đến cửa sông. Xa xa đã thấy xanh rì những rặng phi lao. Rồi những bãi cát vàng sáng lóa dưới ánh mặt trời. Hòa bồi hồi ngồi lặng lẽ. Những kỷ niệm bỗng trào lên như sóng dậy trong lòng. Con sông này, bãi biển này đã thân thuộc với anh biết bao. Nơi đây đã ghi dấu bao trận đánh ác liệt và hào hùng mà chính anh đã trải qua. Nơi đây, bao đồng đội của anh đã nằm xuống mãi mãi không về. Bãi cát vàng bình yên dưới nắng kia, có nhớ hôm nào năm chiếc xe thiết giáp cháy trước giờ hiệp định có hiệu lực chỉ vài phút. Cháy đấy, nhưng những ngọn cờ vẫn bay cao và vùng giải phóng được giữ vững. Mỗi tấc đất giữ được ngày hôm ấy đã làm bàn đạp để có được ngày hôm nay.
Tàu đã vào trong sông. Sóng đã giảm hẳn. Cánh lính tăng bắt đầu nhúc nhắc được. Thu và Dịp đã trèo lên nóc ca- bin. Cả hai không liến láu như thường ngày mà lặng lẽ ngồi bên đại đội trưởng. Hòa nhè nhẹ đặt hai bàn tay mình lên tay hai đồng đội. Cùng với anh, Thu và Dịp cũng đã trải qua những ngày tháng thật khó quên ở vùng đất này. Phía bờ nam, đã nhìn thấy thôn Phó Hội, rồi thôn Hà Tây. Mới đó mà đã hai năm các anh rời nơi đây. Cây cối đã xanh hơn ngày nào. Lác đác những chiếc thuyền đánh cá nằm bình yên bên cảng, lưới phơi trắng xóa. Và kia nữa, bờ tre thôn Mai Xá Thị thấp thoáng sau cồn cát bên bờ bắc. Nơi đó, anh đã cùng đồng đội nếm trải thử thách nghiệt ngã đầu tiên của chiến tranh. Không biết năm anh em nằm lại trên bãi cát ngày mồng Hai tháng Tư năm đó có được yên ổn hay không. Từ đó đến nay, biết bao bom đạn đã rải xuống mảnh đất này.
Nửa buổi chiều, tàu cập bến Đông Hà. Tổ chức đưa hết xe lên thì trời cũng gần tối. Trên binh đoàn thông báo xuống tiếp tục nằm tại đây đợi lệnh. Biết Nhã đang ở gần đây, Hòa định bụng sẽ lên thăm anh một chuyến. Kể từ hôm gặp nhau sau trận đánh chống lấn chiếm ở Cửa Việt đến nay cũng đã hơn hai năm rồi còn gì.
Tuy nhiên, dự định đó của Hòa đen không thành. Trước đó một ngày, tiểu đoàn của Nhã đã xuất phát lên đường vào A Lưới để sẵn sàng tiến công Đà Nẵng từ hướng tây. Vào cái lúc Hòa cập bến Đông Hà thì đoàn xe của Nhã bắt đầu rời đường 9, vượt ngầm Đak- Rông bắt vào đường 14. Đây là đường Trường Sơn Đông mới thông được chừng vài năm, gần đây ta đã tranh thủ mở rộng nhưng còn rất khó đi. Nhìn những dãy núi chập trùng trước mặt Nhã thầm nghĩ cuộc hành quân này sẽ vô cùng gian khổ. Nhưng anh cũng thấy, ngày chiến thắng đã rất gần rồi.
★ ★ ★
Cũng vào lúc đó, tại một hẻm núi phía nam thị xã Cheo Reo, đại đội 9 đang thực hiện kíp bắn cuối cùng của buổi bắn đạn thật. Ngồi trên một mô đất cao, Thắng cùng số anh em lẫn lộn cả quân ta lẫn tù binh chăm chú theo dõi ba chiếc xe M41 đang từ từ tiến vào chân núi. Như có một hiệu lệnh thống nhất, ba chiếc xe cùng dừng lại. Giây lát sau, ba họng pháo khạc lửa. Gần như tức thời sau đó, ba tấm bia hình chiếc xe tăng được ghép bằng lau lách tít trong chân núi tung lên. Những tiếng vỗ tay rào rào nổi lên. Hai Bình, tay tù binh lớn tuổi nhất chép miệng:
- Chu cha! Mình mà đấu pháo với mấy cha nội này chắc tiêu đời rồi.
Út Nhỏ, tên tù binh trẻ nhất thì xuýt xoa:
- Chà… chà…! Hôm ni mới được coi bắn pháo, đã ghê!
Pháo thủ Thể vỗ vai Nhỏ:
- Làm lính thiết kỵ mà hôm nay mới được coi bắn pháo là làm sao?
Hai Bình tỏ vẻ hiểu biết giải thích:
- Tụi nó vô quân trường được mấy tháng thì toàn học lý thuyết chứ thực hành được mấy nả. Có dầu đâu mà chạy? Có đạn đâu mà bắn?
Ba chiếc xe vẫn đang hành tiến, những loạt đạn đại liên quất rào rào vào mục tiêu giả định tốp bộ binh trong hào chiến đấu. Hai Bình lại thốt lên đầy vẻ khâm phục:
- Mấy cha giỏi thiệt. Vừa mới học được mấy ngày mà bắn cứ như thiện xạ.
Ba chiếc xe đã kết thúc đợt bắn và đang quay lại tuyến xuất phát. Thể tò mò hỏi Hai Bình:
- Hết chiến tranh rồi anh định làm gì?
Hai Bình buồn rầu:
- Thì cũng phải làm gì đó để kiếm cơm nuôi sắp nhỏ chớ. Cái nghề lái xe tăng này không biết lúc đó có đất dụng võ không?
Thể cũng trầm xuống:
- Anh thì còn nghề lái xe, may ra còn lái được máy cày, máy kéo chứ bọn em pháo thủ thì biết làm gì.
Thắng lặng im nghe họ nói chuyện với nhau mà lòng thấy vui vui. Mới mấy hôm trước mỗi người một chiến tuyến, bắn nhau chí tử. Thế mà hôm nay họ ngồi bên nhau, anh anh em em ngọt xớt như chưa từng có chuyện gì xảy ra. Những lo toan, suy nghĩ về thời hậu chiến cũng giống nhau. Anh chặc lưỡi: “Thì cùng máu đỏ da vàng cả mà. Chỉ vì cái thằng Mỹ và bọn tay sai đầu sỏ mà thành ra đối địch với nhau”. Ơn Trời là họ chưa kịp giết nhau và giờ đây lại được ngồi bên nhau mà trò chuyện thế này.