Lucile Merrifield, cô họ năm hai đài các của Betty, và Polly Eastman, bạn cùng phòng kiêm tri kỷ của Lucile, đang ngồi trên giường của Madeline Ayres và thảnh thơi nhấm nháp những viên kẹo sô-cô-la ngọt ngào của cô chủ nhà.
Polly thở dài: “Ước gì mình có họ hàng ở Paris gửi cho mấy món quà vặt ngon thế này.”
“Chẳng phải là quá ngon hay sao!” Lucile đồng tình. “Này, Madeline, tớ nằm trong ban tiếp đón sinh viên năm hai mà số lượng sinh viên năm hai chẳng lấy đâu ra cho đủ để phân công với đám tân sinh viên. Cậu có chịu nhận kèm một người không?”
“Tớ á? Còn lâu nhé.” Madeline nhún vai đầy vẻ khinh miệt. “Bộ cậu không biết rằng tớ rất ghét các buổi khiêu vũ của con gái—hoặc bất kỳ vũ hội nào khác sao. Cứ bảo tớ làm việc gì đó thú vị ấy.”
Polly trách móc: “Cậu phải muốn làm việc gì có ích chứ. Hãy nghĩ đến tội nghiệp mấy đứa tân sinh viên bơ vơ không tấc sắt trong tay ấy!”
Madeline vừa thong thả bẻ thêm kẹo sô-cô-la vừa hỏi: “Năm nay khóa mới thế nào? Có gì vui không?”
Lucile đáp: “Điều chính yếu mà tớ nhận thấy ở họ là số lượng đông đảo đến phát hoảng.”
Madeline hỏi: “Non choẹt à?”
“Ừ, phải chứ,” Polly khẳng định chắc nịch, “non đến mức tội nghiệp. Nhưng chẳng hiểu sao—cậu biết đấy, tớ ở ban biên tập giai thoại—mà họ chẳng làm được điều gì buồn cười cả. Họ cứ làm hết đống này đến đống khác những chuyện ngớ ngẩn, tầm thường, chẳng hạn như nhầm lẫn các giảng viên trẻ với tân sinh viên rồi trông đợi cô Raymond giúp họ tra cứu tài liệu tiếng Anh. Tớ chỉ ước họ nghĩ ra được điều gì đó nguyên bản thôi,” Polly kết luận với giọng điệu buồn rầu.
Madeline hỏi: “Sao cậu không tự bịa ra vài chuyện?”
Polly trợn tròn mắt. “Ồ, tớ nghĩ thế thì không ổn chút nào đâu. Những câu chuyện vui nhảm ấy phải là thật chứ, đúng không? Họ thế nào cũng phát hiện ra rồi sau đó sẽ mãi mãi ghét chúng mình cho mà xem.” Polly nở nụ cười rạng rỡ. Cô giải thích thêm: “Tớ có khá nhiều bạn là tân sinh viên đấy.”
Madeline nghiêm giọng nói: “Điều đó có nghĩa là những buổi say mê tặng hoa violet chứ gì. Cậu không nên cổ súy cho kiểu quan hệ đó đâu, Polly ạ. Cậu còn quá trẻ.”
Polly liền thanh minh: “Tớ có trẻ hơn Lucile chút nào đâu, thế mà ai nấy đều sùng bái cậu ấy đấy thôi.” Polly khúc khích cười. “Chỉ có điều thay vì hoa violet, họ lại gửi cho cậu ấy tranh của Gibson, kèm theo những lời nhắn cảm động rằng trông cậu ấy chẳng khác nào một cô gái trong tranh.”
Lucile bình tĩnh bảo: “Thôi nào. Thế là đủ lắm rồi. Hãy để Madeline chỉ cho chúng ta cách kiếm vài câu chuyện trêu ghẹo hay ho đi.”
Madeline nhíu mày suy nghĩ. Cuối cùng, cô nói: “Ừm, nếu các cậu không chịu bịa ra, thì cách duy nhất là giăng bẫy bọn họ. Hoặc không—tớ bảo cái này nhé—hay là chúng ta tổ chức một bữa tiệc nhập môn đi.”
Những vị khách đồng thanh thốt lên: “Tiệc gì cơ?”
“Ồ, các cậu biết đấy—tục lệ ma cũ bắt nạt ma mới ấy mà, đám con trai hay gọi thế; chỉ có điều chúng ta sẽ có những trò vui nho nhỏ, thú vị chẳng thể làm con ruồi hoảng sợ. Tối nay có chương trình gì không?”
Lucile hỏi: “Ý cậu là trong ký túc xá á? Chẳng có gì sất. Nhưng nếu cậu muốn dùng phòng của bọn tớ……”
Madeline nhanh nhảu chen vào: “Dĩ nhiên là tụi tớ muốn rồi. Đó là căn phòng duy nhất có kích thước tử tế trong cái nhà này. Đi dọn dẹp lại đi, và hãy coi đây là bài học để sau này giữ gìn ngăn nắp nhé. Polly, cậu đi mời mấy đứa tân sinh viên đến lúc chín giờ đi. Tớ sẽ gọi thêm vài bạn năm hai, năm tư và chuẩn bị một ít trang phục. Nửa tiếng nữa quay lại đây để thay đồ.”
Lucile đài các thốt lên, vừa lách mình ra khỏi đống gối: “Trời ạ. Cậu lúc nào cũng bắt mọi thứ phải diễn ra nhanh chóng thế đấy, Madeline.”
Madeline cười hoài niệm. Cô thừa nhận: “Chắc là thế rồi. Kể từ khi còn nhớ được, tớ vẫn luôn coi cuộc đời như một màn ứng biến ngẫu hứng hoành tráng. Có lần tớ chuẩn bị cho một năm du học chỉ trong nửa tiếng, và từng tổ chức một bữa tiệc mà đại sứ Mỹ tại Ý nói là tuyệt nhất đời ông ấy dự chỉ với ba tiếng thông báo trước, vào cái đêm mẹ ốm còn bố thì đi vẽ phác thảo rồi quên bén mất không về đến tận lúc phải diện đồ đi tiệc. Ồ, đó chỉ là do luyện tập thôi,” Madeline điềm nhiên nói,—“luyện tập và có bản tính luôn lạc quan. Giờ thì chạy đi thôi.”
Khi đám sinh viên năm hai đã đi khuất hẳn, không còn nghe thấy tiếng, Madeline thổ lộ với “thần hộ mệnh” của căn phòng: “Tớ nghĩ tốt nhất là không nên nói với họ rằng tớ chẳng có mảy may ý tưởng nào về việc phải làm gì với đám tân sinh viên sau khi lôi được họ đến đó cả. Vì có kinh nghiệm, tớ biết thế nào chuyện cũng xuôi chèo mát mái; nhưng ngặt nỗi họ chỉ là sinh viên năm hai nên có thể sẽ lo lắng. Này, không biết quỷ sứ nào...” —Madeline kéo từng ngăn tủ trong chiếc tủ đựng quần áo của mình ra— “…đã giấu mấy cái mặt nạ đi đâu mất rồi nhỉ?”
Sau khi đám “Những trái tim vui vẻ” ở nhà Belden sục sạo khắp nơi trong đống đồ đạc với vẻ mặt hoảng loạn, cuối cùng những chiếc mặt nạ cũng lộ diện bên nhà Westcott, nằm trong chiếc chảo lẩu của Babbie Hildreth—nơi cô đã xếp chúng gọn gàng để bảo quản từ hồi tháng Sáu năm trước.
Helen Adams, người được giao nhiệm vụ đi gọi nhóm chữ B và Katherine, giải thích: “Madeline bảo mỗi người các cậu mang theo một chiếc ga trải giường. Chắc là để mặc hóa trang ấy mà. Cậu ấy bảo chúng mình không thể cho các cậu mượn thêm ga giường của tụi mình được, vì chúng có thể bị bẩn khi lê lết trên sàn nhà, và chúng ta phải giữ lại ít nhất mỗi người một chiếc cho giường của mình.”
Nhóm chữ B hào hứng tham gia vào công tác chuẩn bị cho bữa tiệc bí ẩn của Madeline. Không thể tìm thấy Katherine, trong khi Rachel và Eleanor đều đã có hẹn vào buổi tối hôm đó; nhưng Madeline bảo điều đó chẳng sao cả. Lẽ ra đây chủ yếu nên là một sự kiện của nhà Belden, nhưng sự góp mặt của một vài người ngoài sẽ giúp tăng thêm phần bí hiểm đối với đám tân sinh viên.
Đúng tám giờ rưỡi, Polly, Lucile cùng phần còn lại của phái đoàn nhà Belden có mặt, mỗi người mang theo ga trải giường của mình, và chẳng mấy chốc phòng của Madeline đã chật cứng những bóng ma trùm áo trùm đầu.
Lucile thì thầm với một người đang đứng gần mình: “Có phải cậu đấy không, Polly?”
Cái bóng thốt lên với giọng ê a từ sau chiếc mặt nạ đen nhỏ xíu: “Không, không phải đâu.”
Một người khác khúc khích cười khi đoàn người xếp hàng để chuẩn bị lao nhanh qua các hành lang: “Chà, thế này thì sau khi lẫn lộn một chút, chúng ta thậm chí còn chẳng nhận ra nhau nữa là.”
Madeline cảnh báo: “Này, đừng quên là tất cả các cậu đều phải giúp nghĩ ra mấy trò cho bọn chúng làm đấy nhé, đặc biệt là mấy đứa năm hai các cậu.”
Polly Eastman nói rõ thêm: “Và đừng quên ghi nhớ những chuyện để viết giai thoại đấy. Bữa tiệc này là vì mục đích đó mà.”
Babe chế nhạo: “Nếu lũ tân sinh viên mà phát hiện ra các cậu phải nhờ vả bọn tớ giúp sức, thì các cậu sẽ bị trêu chọc suốt đời không dứt cho xem.”
Babbie phản đối: “Này Babe, chúng ta là đồng minh tự nhiên của chúng cơ mà. Dĩ nhiên là chúng ta phải luôn giúp đỡ chúng rồi.”
Một thám thọc đầu vào phòng rồi hô lên: “Suỵt! Đường thông thoáng rồi. Xông lên thôi.”
Chiếc bóng cuối cùng vừa lọt vào phòng an toàn thì có hai tân sinh viên, hãy còn rụt rè nhưng vô cùng hãnh diện trước lời mời chân tình của Polly, cất tiếng gõ cửa.
Polly cất giọng tự nhiên gọi: “Vào đi,” và ngay khi họ bước vào mà không chút hoài nghi, đám đông bóng ma liền ùa tới vây lấy, hộ tống họ đến những chỗ ngồi xa cửa ra vào nhất. May mắn thay, những vị khách khác đã đến cùng một lúc do Georgia Ames dẫn đầu; cô vốn chỉ mới dọn vào ký túc xá ngày hôm qua nhưng đã trở thành một nhân vật quan trọng trong mắt các bạn cùng khóa. Nữ sinh nào lại không thế chứ, khi mà cô gọi thẳng tên đệm của Betty Wales và chẳng hề sợ hãi chút nào khi “bật lại” cô nàng thông minh Madeline Ayres?
Do đó, thái độ bao dung mang tính giải trí của Georgia đã tạo nên tông giọng cho cách ứng xử của các tân sinh viên. Cô đòi hỏi: “Các cậu không thấy đây chỉ là trò đùa của sinh viên năm hai hay sao? Cứ để cho những sinh vật tội nghiệp ấy thu vén chút niềm vui từ chúng ta hết mức có thể đi, rồi biết đâu chốc nữa họ sẽ cho chúng ta cái gì đó ngon lành để ăn.”
Một bóng ma é lên: “Tụi tớ cho các cậu ăn ngay lập tức đây. Georgia Ames và cô Ashton, bước lên phía trước. Giờ thì quỳ xuống, nhắm mắt lại và há miệng ra.”
Một tân sinh viên tính tình cáu kỉnh tên là Butts khuyên nhủ: “Đừng có làm thế. Toàn là mấy thứ hỗn độn cay xè gớm ghiếc nào đó thôi.”
Nhưng Georgia và bạn đồng hành vẫn dũng cảm bước lên phía trước, để rồi được đền đáp bằng hai miếng sô-cô-la Pháp ngon tuyệt của Madeline. Sau sự ngạc nhiên dễ chịu này, các tân sinh viên, ngoại trừ cô Butts cùng một hai người nữa, đều trở nên phấn chấn hơn và bắt đầu hòa mình vào bầu không khí của buổi tiệc.
Một bóng ma cao kều thông báo: “Josephine Boyd, cậu được bầu làm động tác đập trứng như quả trứng khuấy.”
Màn trình diễn của Josephine chân thực đến mức gợi lên những tràng cười giòn giã từ cả đám bóng ma lẫn tân sinh viên.
Bóng ma cao kều—có vẻ là người quản trò—nói: “Tụi tớ sẽ đề cử cậu tham gia vào đoàn xi thú tiếp theo của ký túc xá hoặc của trường đại học. Giờ thì ra lệnh cho cặp song sinh nhà Dutton dùng mũi đẩy diêm trượt qua sàn nhà. Các cậu sẽ tìm thấy hộp diêm trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Ai đó hãy trói quặt tay họ ra sau lưng xem nào. Giờ thì bắt đầu từ cửa và đi thẳng qua chiếc ghế của Georgia Ames. Đứa nào thắng cuộc đua sẽ phải gửi hoa cho Polly,” bóng ma cao kều nói thêm với giọng đầy ác ý khi cặp sinh viên đôi—đỏ bừng mặt vì sự ám chỉ trơ trẽn về cuộc cạnh tranh giành lấy tình cảm của Polly—nhặt những cây diêm lên, rồi theo hiệu lệnh “Một, hai, ba, bắt đầu!” của Georgia liền bắt đầu cuộc đua.
Dùng mũi đẩy một que diêm trượt trên sàn nhà trơn trượt trông có vẻ dễ dàng nhưng thực tế lại khó khăn đến mức cả bóng ma lẫn tân sinh viên, khi cùng nhau hò reo cổ vũ cho những người chơi đầy nhiệt huyết, đều ao ước được tham gia vào môn thể thao hấp dẫn đó. Cô em trong cặp song sinh tóc bông giữ khoảng cách khá xa so với người chị tóc thẳng, cho đến khi que diêm của cô chỉ còn cách chiếc ghế của Georgia chừng một bàn chân thì vướng vào một khe nứt và gãy đôi làm hai đoạn.
Cô em tóc bông thẫn thờ thở dài: “Ôi trời!” cố gắng tìm kiếm hình bóng vị thần của lòng mình giữa đám bóng ma trùm ga giường.
Sự tuyệt vọng của cô quá sức chịu đựng đối với một đứa mềm lòng như Polly. Cô tốt bụng bảo: “Đừng bận tâm. Cuộc đua này xin được hủy bỏ.”
Cô chị tóc thẳng vừa đứng dậy, mặt đỏ bừng và thở hổn hển vì gắng sức, vừa đòi hỏi: “Và tụi em đều có thể gửi hoa cho chị, phải không nào?”
Mọi người háo hức chờ đợi xem trò tiếp theo sẽ là gì.
Sau một hồi thì thầm bàn tán với các bạn đồng hành, bóng ma cao kều tuyên bố: “Trò này dành cho cậu, cô Butts ạ, và vì tối nay trông cậu có vẻ không vui cho lắm nên tụi tớ đã làm cho nó dễ thở hơn đấy. Hãy khai ra tên của người mà cậu sùng bái nhất đi. Giờ thì đừng có giả vờ là cậu không có ai nhé.”
Cô Butts lầm bầm: “Tôi sẽ không nói đâu.”
“Thế thì cậu sẽ phải dọn giường cho Lucile Merrifield trong hai tuần để làm hình phạt vì tội cãi lời mệnh lệnh của chúng ta. Giờ thì tất cả những người còn lại có thể nói tên người mình sùng bái rồi đấy. Tớ xin giải thích, vì có một số cậu trông có vẻ hơi bối rối về chuyện này, rằng người các cậu sùng bái chính là người mà các cậu tôn sùng nhất mực.”
Một số tân sinh viên ngoan ngoãn chấp nhận hình phạt còn hơn là để lộ tình cảm thầm kín của mình, một người tuyên bố cô không tôn sùng ai cả, một người khác nhớ lại truyền thuyết về Georgia Ames bèn bịa ra tên của một sinh viên năm hai, và sau khi đã “qua ải” an toàn, cô hân hoan vui sướng trước sự ngây thơ của các nạn nhân. Một vài người, bao gồm cả Georgia, bình tĩnh thú nhận tên những vị thần của họ và đắc ý nhìn hiệu ứng mà những lời tuyên bố đó tạo ra trên gương mặt của vài bóng ma.
Khi trò tiêu khiển này đã kết thúc, đám bóng ma lại hội ý với nhau. Viên thủ lĩnh cuối cùng phán quyết: “Carline Dodge, hãy chui xuống dưới gầm giường và phát triển như một cuộn phim đi.”
Một bóng ma cao lớn, có vẻ ngoài uy nghi kêu lên thống thiết: “Ồ, đừng chui xuống gầm giường của tớ nhé. Mẫu vật thực vật học và động vật học của tớ ở dưới đó đấy. Cậu ấy thế nào cũng làm đổ mấy cái lọ cho mà xem.”
Georgia Ames đắc ý nói: “Thấy chưa! Thế là tụi tớ biết được sáu đứa các cậu rồi đấy. Polly Eastman và giờ là Lucile đã tự lộ tẩy rồi kìa. Babbie Hildreth tái mặt đi khi Carline Dodge gọi tên người cô ấy sùng bái. Nếu cô ấy có ở đây, thì hai người còn lại trong nhóm được gọi là chữ B cũng có mặt, và Madeline Ayres đang là kẻ đứng sau giật dây đấy. Thật quá dễ dàng để đoán xem phần còn lại các cậu là ai, vậy sao không cởi bỏ mấy thứ nóng nực đó ra rồi cùng trò chuyện cho thân thiện nhỉ?”
Bóng ma cao kều điềm nhiên ra lệnh: “Đi đi, Carline Dodge.”
Tân sinh viên mang khuôn mặt nghiêm túc phản đối: “Nhưng tớ không hiểu ý nghĩa của hành động đó,” và tỏ ra kinh ngạc khi thấy mọi người lại cười ồ lên dữ dội đến thế.
Khi tiếng cười đã dịu xuống, Madeline nói: “Chuyện đó buồn cười đến mức tụi tớ tha cho cậu đấy. Tớ đoán trước là cậu vừa phát minh ra một cụm từ vô cùng hữu ích rồi đấy.”
Và quả nhiên câu trả lời của Carline đã nhanh chóng được đưa vào vốn từ vựng đặc biệt của Harding, khiến tác giả của nó bỗng chốc nổi tiếng một cách vô tình.
Madeline vui vẻ nói: “Bây giờ, tất cả các cậu có thể rượt đuổi những nụ cười quanh phòng một lúc, và khi tớ nói ‘lau’, các cậu phải lau sạch chúng đi vào một khe nứt trên sàn nhà. Sau đó, chúng ta sẽ nghe một bài phát biểu từ một người trong số các cậu và các cậu sẽ được giải tán.”
Hầu hết các tân sinh viên đều hào hứng bước vào “hành động” rượt đuổi nụ cười, và bắt được rất nhiều trên khuôn mặt của chính họ cũng như của nhau. Trò chơi kết thúc, Madeline yêu cầu một cô bé trầm tính vốn hầu như chưa từng hé miệng kể từ khi đặt chân đến Harding hãy lên phát biểu. Trước sự ngạc nhiên của tất cả mọi người, cô bé điềm đạm đứng dậy, không một lời phản đối hay chút biểu hiện ngượng ngùng nào, rồi dõng dạc đọc một bài độc thoại tự sáng tác được cho là do một tân sinh viên vừa mới đến trường nói ra nhằm bộc lộ ấn tượng của mình về trường đại học. Bài phát biểu đả động đến tất cả mọi người với sự hài hòa đầy absurdi, và dường như không ai tận hưởng nó nhiều hơn chính cô tân sinh viên trầm tính ấy.
Khi cô dứt lời, đám tân sinh viên liền hò reo: “Hát lại đi! Hát lại đi! Cho tụi tớ nghe bài nữa đi!”; nhưng cô bạn cùng khóa trầm tính chỉ lắc đầu, rồi một lần nữa mang cái giọng điệu điệu đà, tâm sự mà cô đã dùng trong bài độc thoại, nhận xét rằng: “Các cậu có biết không, trong lớp chúng ta có một số đứa chẳng mấy chốc mà quên mất cả đầu của mình cho xem. Ừ thì, khi bị bắt nạt, tụi nó quên bén mất chuyện đó và cứ ngỡ mình đang ở trong một bữa tiệc thực sự cơ đấy.”
Mọi người lại một lần nữa phá lên cười, và bóng ma cao kều khiến cô tân sinh viên nhỏ tuổi đỏ bừng mặt khi nói rằng: “Cậu sẽ kiếm được một vai trong vở kịch của ký túc xá đấy, đứa bé ạ, và nếu cậu có thể viết lại bài độc thoại đó ra giấy, tớ sẽ cử một biên tập viên của tờ ‘Argus’ đến lấy nó đấy.”
Cô tân sinh viên nhỏ tuổi tên là Ruth Howard khẽ cấu nhẹ vào người khi không ai chú ý để chắc chắn rằng mình không đang nằm mơ. Giống như Mẹ Hubbard, cô cảm thấy hơi hoài nghi về thân phận của mình khi chú ý đến những ánh mắt đầy ngưỡng mộ đổ dồn về phía cô từ cả những tân sinh viên kiêu kỳ nhất. Cô đã cảm thấy khá cô đơn trong những tuần đầu tiên này, và giờ đây thật dễ chịu khi nhận ra những việc mình có thể làm sẽ tạo cho cô một chỗ đứng trong thế giới đại học rộng lớn và bận rộn này.
Georgia Ames trầm ngâm nói: “Một bữa tiệc bắt nạt ma mới cũng không phải là ý kiến tồi chút nào nhỉ? Nó giúp tất cả chúng ta làm quen với nhau nhanh hơn nhiều so với bất kỳ cách nào khác, tớ đoán thế—dù cho chẳng có chút đồ ăn nào đi chăng nữa.”
Một trong những bóng ma lên tiếng: “Cứ cho là chúng ta đã làm mọi thứ khác đi đi, lũ trẻ các cậu có lẽ sẽ thấy đồ ăn……” nhưng một tiếng chuông ở hành lang đã cắt ngang lời cô.
Một bóng ma khác lo lắng hỏi: “Đấy là chuông thiếu hai mươi phút hay chuông mười giờ thế?”
Một tân sinh viên đáp: “Mười giờ. Tiếng chuông kia reo lúc chúng ta đang rượt đuổi nụ cười cơ.”
Một bóng ma nhỏ thốt lên đầy bi kịch: “Thế thì chúng ta bị khóa cửa nhốt ở ngoài rồi,” và ba dáng người trùm ga giường lao vấp váp dọc hành lang, vấp phải tà áo thướt tha và vật lộn với chiếc mặt nạ khi chạy.
Cô bé Ruth Howard thẹn thùng hỏi Georgia Ames: “Đèn phòng tớ vẫn đang bật. Liệu họ có ghi tên báo cáo không?”
Một bóng ma ủ rũ tuyên bố: “Phòng tớ chắc chắn sẽ bị ghi tên báo cáo trước khi tớ kịp làm gì với nó. Tớ phải ôn bài để kiểm tra môn vật lý. Lẽ ra tớ không nên bén mảng đến cái buổi tiệc tùng vui vẻ này mới phải.”
“Tớ cũng vậy.”
“Đi thôi, Carline. Cậu không biết hành động đi về diễn ra thế nào à?”
“Mà vui ghê cơ, phải không nào?”
Bữa tiệc nhập môn giải tán trong tiếng động ồn ào dọc theo những hành lang mờ tối.
Hôm sau, toàn trường xôn xao với lời đồn rằng hủ tục bắt nạt ma mới hiện đang được thực hành tại Harding. Những câu chuyện kỳ lạ về bữa tiệc ở nhà Belden được truyền tai nhau giữa các nhóm tân sinh viên đang vô cùng phấn khích—những người tuyên bố rằng họ “sợ chết khiếp” sinh viên năm hai và đời nào dám ra ngoài một mình sau khi trời tối—cùng các đàn chị lớn tuổi vốn là người độ lượng, biết châm chước cho những lời phóng đại và coi toàn bộ sự việc như một trò đùa hay. Thế nhưng, một tân sinh viên nhà Burton cực kỳ dễ bị ảnh hưởng, ngồi cùng bàn với cô Stuart và luôn khao khát tạo được ấn tượng tốt đẹp với vị phu nhân uy nghi đó, đã kể lại câu chuyện cho cô nghe vào bữa trưa. Cô Stuart im lặng lắng nghe, tự hỏi sự thật của câu chuyện là gì, và hỏi thăm một vài người bạn của mình về chuyện đó vào chiều hôm đó trong một buổi họp khoa. Dĩ nhiên là một số kẻ không đúng sự thật đã nghe được chuyện này và mang nó ra bàn thảo chính thức như một vấn đề có nguy cơ phá hủy tinh thần của nhà trường. Kết quả là cô Ferris và tiến sĩ Hinsdale được cung cấp tên của một số học viên vi phạm và được yêu cầu triệu tập họ để trao đổi về những hành vi sai trái của họ.
Madeline, người chẳng bao giờ thèm ngó ngàng đến các bảng thông báo, đã không nhận được giấy triệu tập của mình, còn Betty—người vốn coi tấm thiệp của mình như một lời mời thân mật đến uống trà cùng bạn—đã một mình sang nhà Hilton với tâm trạng vô cùng phấn khởi. Thế nhưng cô Ferris không hề dọn trà, và tiến sĩ Hinsdale cũng chẳng có vẻ gì là muốn để họ yên ổn tận hưởng những cuộc trò chuyện dài dòng và thú vị mà Betty hằng mong đợi. Thậm chí chính ông, với vẻ mặt lạnh lùng nhất và giọng điệu khô khan nhất, đã khơi mào chủ đề về bữa tiệc nhập môn và yêu cầu được biết lý do tại sao Madeline Ayres lại phớt lờ lệnh triệu tập của cô Ferris. Betty chẳng gặp mấy khó khăn trong việc giải thích điều đó sao cho vừa lòng tất cả mọi người, nhưng cô lại vô cùng khao khát sự hậu thuẫn từ Madeline khi lắng nghe lời quở trách nghiêm khắc của tiến sĩ Hinsdale dành cho buổi tụ tập vô hại nhỏ bé ấy.
Ông khẳng định: “Hành động đó không ra dáng thiếu nữ chút nào. Đó là bắt chước bọn con trai. Dù sao đi nữa thì bắt nạt ma mới cũng là một tập tục mất uy tín. Tất cả các trường đại học đàng hoàng đều đang dẹp bỏ nó. Chúng ta chắc chắn không muốn nó xuất hiện ở đây, nơi mục tiêu của ban giảng huấn luôn là khuyến khích mối quan hệ thân thiện nhất giữa các khóa. Các thành viên của khóa mới luôn thấy cuộc sống đại học thật khó khăn trong thời gian đầu. Thật hoàn toàn không cần thiết khi phải chất chồng thêm rắc rối cho họ.”
Betty lắng nghe với sự kinh hoàng tăng dần. Cô đã vô tình dính líu đến một thứ quái quỷ khủng khiếp nào thế này? Thế nhưng suy cho cùng, nó có thực sự khủng khiếp đến thế không? Nếu tiến sĩ Hinsdale có mặt ở đó, liệu ông có cảm thấy như thế này về nó không? Một nụ cười thoáng hiện trên môi Betty trước ý nghĩ đó. Cô nhìn cô Ferris, và người phụ nữ cũng mỉm cười đáp lại cô.
Cô Ferris khích lệ: “Nói ra đi, Betty,” và Betty bắt đầu kể lại cơ duyên nào khiến Madeline nghĩ ra trò bắt nạt, thuật lại những điều ngớ ngẩn mà cô cùng những người khác đã nghĩ ra, nhấn mạnh vào màn hóa thân tài tình của Ruth Howard và trò đập trứng đầy ấn tượng của Josephine Boyd. Dần dần, biểu cảm của tiến sĩ Hinsdale dịu lại, và khi cô nhắc lại câu trả lời ngớ ngẩn của Carline Dodge, ông đã cười vang như một đứa trẻ.
Betty lo lắng hỏi: “Chẳng lẽ thầy cô nghĩ rằng nó khủng khiếp lắm sao?”, khiến hai vị giám khảo của cô phải nhìn nhau và lại bật cười.
Một lúc sau, Betty rụt rè bắt đầu: “Còn một chuyện nữa ạ. Em không biết là bản thân mình có bao giờ nghĩ đến điều đó hay không, nhưng quả thực nó đã phát huy tác dụng theo chiều hướng ấy.” Và Betty giải thích về ý tưởng của Georgia Ames khi coi bữa tiệc bắt nạt như một chất xúc tác thúc đẩy tình bằng hữu. Cô tiếp tục: “Cậu thấy đấy, làm quen với tân sinh viên cực kỳ khó. Chúng ta đều có những người bạn riêng và ai nấy đều bận rộn với công việc của mình. Nhưng kể từ đêm đó, chúng ta đã trở nên vô cùng thân thiện. Buổi tối hôm ấy đã thay thế cho biết bao nhiêu là chuyến viếng thăm và các bữa tiệc xã giao trang trọng. Giờ đây chúng ta biết rõ mỗi người có khả năng làm những gì.” Dĩ nhiên, Betty thành thật thừa nhận: “Nó chẳng giúp ích gì cho cô Butts cả, trừ khi nó cho cô ấy thấy rằng ở Harding, cậu buộc phải làm tròn phần việc của mình nếu muốn có một khoảng thời gian vui vẻ. Chắc chắn là dạo này cô ấy đã dễ chịu hơn một chút rồi. Còn Ruth Howard bây giờ—chà, có lẽ phải mất cả thời đại—ý em là mất cả tháng trời,” Betty đỏ mặt đính chính, “chúng em mới có thể biết về tài năng của cô ấy, nếu Madeline không yêu cầu bài phát biểu đó.”
Các vị giám khảo lại trao nhau những cái nhìn đầy thích thú, và tiến sĩ Hinsdale hắng giọng. Ông nói: “Được rồi, cô Wales, tôi nghĩ cô đã nêu được chính kiến của mình. Cô đã tìm ra mục đích chính đáng cho một hình thức bắt nạt ma mới hợp pháp và mang đậm bản sắc nữ tính. Và bây giờ, nếu cô Ferris cho phép, tôi có cuộc hẹn ở phòng của mình đây.”
Cuối cùng thì Betty cũng có được buổi trò chuyện và tách trà của mình, rồi ra về với tình yêu mến dành cho cô Ferris ngày càng sâu đậm. Bởi vì cô Ferris, thông qua thứ tiến trình bí ẩn mang mọi tin tức đại học đến tai mình, đã nghe về Eleanor Watson và khẩu súng hỏa mai vụng về, và cô đang quan tâm đến Eleanor—người mà cô chắc chắn, từ một số chi tiết nhỏ mà cô đã để ý và ghép nối lại với nhau, giờ đây hoàn toàn có đủ khả năng để tự lo cho bản thân. Sự khẳng định này đối với lý thuyết của chính cô đã cổ vũ Betty rất nhiều, và cô có thể cảm thấy trắc ẩn hơn một chút đối với kẻ vụng về kia—như cô Ferris đã chỉ ra—thực chất lại là người đáng thương nhất.