Candide - Chàng Ngây Thơ

Lượt đọc: 296 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương Xxii Biến Cố Xảy Đến Cho Hai Người Ở Nước Pháp

❊ ❊ ❊

Chàng Ngây Thơ chỉ ghé Bordeaux để bán vài viên “đá sỏi” mà chàng lấy được ở Eldorado và mua một cái ghế tốt có hai chỗ ngồi[1], vì chàng không còn xa rời được nhà hiền triết Martin của chàng nữa. Chàng chỉ tức giận phải xa con trừu của chàng mà chàng nhượng lại cho Viện Hàn lâm Khoa học Bordeaux, viện này đề nghị lấy con trừu làm đề tài để phát giải thưởng năm ấy cho ai giải thích được tại sao lông con trừu lại đỏ. Giải thưởng rốt cuộc được phát cho một nhà thông thái miền Bắc đã chứng minh bởi A hơn B, kém C, bị phân chia bởi Z nên con cừu phải đỏ và chết vì bệnh đậu cừu[2].

Tuy chàng không muốn lên Paris song lúc ấy, chàng thấy tấp nập nhiều người, trong các quán trọ trên đường. Họ nói rằng:

- Chúng tôi đi Paris.

Sự tấp nập ấy làm cho chàng cũng muốn đi thăm thủ đô.

Chàng vào xóm Saint-Marceau[3] và cảm thấy đây như là một ngôi làng ti tiện nhất Westphalie.

Chàng vừa vào trọ một quán thì bị bệnh nhẹ do mệt nhọc gây ra. Vì chàng đeo một hột kim cương lớn ở ngón tay và trong số hành lí của chàng có một cái thùng nhỏ hết sức nặng, chàng liền thấy hai y sĩ mà chàng không mời cũng đến săn sóc cho chàng; còn vài người nữa đến kết bạn tâm giao không muốn rời chàng; hai bà mộ đạo đến nấu cháo cho chàng. Martin nói với chàng Ngây Thơ:

- Tôi còn nhớ lần thứ nhất tôi đến Paris, cũng bị đau, song khi ấy tôi nghèo, không ai đến săn sóc cho tôi cả, không có y sĩ, không có bạn thân, không có bà mộ đạo. Vậy mà tôi cũng hết bệnh.

Chàng Ngây Thơ bị người ta cho uống thuốc và chích máu nhiều quá đến nỗi bệnh nặng lên. Một thầy tu của giáo xứ đến, dịu dàng yêu cầu chàng mua một phiếu khoán gánh để sang thế giới bên kia. Candide không muốn làm thế. Các bà mộ đạo thì đảm bảo rằng đó là một mốt mới. Candide trả lời rằng chàng không phải là người theo mốt. Martin muốn ném lão thầy tu qua cửa sổ. Lão thầy tu thì nhận xét rằng người ta sẽ không mai táng chàng Ngây Thơ. Martin nói rằng ông sẽ mai táng lão thầy tu nêu lão cứ tiếp tục rầy rà. Cuộc cãi cọ càng ngày càng hăng. Martin hích vai và đuổi cổ lão thầy tu một cách thô bạo, đó là nguyên nhân của một vụ bê bối lớn mà người ta phải lập biên bản.

Chàng Ngây Thơ khỏi bệnh. Trong khi dưỡng bệnh để lại sức, có nhiều người danh giá đến dùng bữa chiều với chàng. Người ta tổ chức những canh bạc lớn. Chàng rất ngạc nhiên là khi chia bài không bao giờ con “ách” đến với chàng. Martin thì không lấy gì làm lạ.

Trong những người tiếp đón long trọng chàng ở thủ đô, có một vị tu viện trưởng người nhỏ bé người xứ Périgord, thuộc hạng người nhậm lẹ, hấp tấp, sẵn lòng tốt, hỏi han mơn trớn; hạng người ấy rình rập những người ngoại quốc ghé qua đây và kể cho họ nghe câu chuyện tai tiếng trong thành phố, đề nghị với họ những cuộc vui đắt giá. Ông ta trước hết đưa chàng Ngây Thơ và Martin đi xem diễn kịch. Tại rạp hát, người ta diễn một vở bi kịch mới. Chàng Ngây Thơ được sắp xếp ngồi bên cạnh mấy nhà trí thức có tiếng kênh kiệu. Tuy vậy chàng cũng phải khóc khi xem vài màn diễn xuất hay. Trong lúc nghỉ, một người ngồi bên nói với chàng: “Ông đã lầm khi ông khóc; nữ diễn viên ấy là một cô đào rất dở, còn nam diễn viên đóng trò với cô ấy lại còn dở hơn. Vở kịch thì dở hơn nữa. Tác giả không biết một tiếng Ả Rập vậy mà tích tuồng lại là chuyện xảy ra ở nước Arabie. Hơn nữa anh ta là người không tin ở những ý tưởng tiên nhiên. Ngày mai tôi sẽ đem cho ông coi hai chục quyển sách chống lại ông ta. Chàng Ngây Thơ hỏi ông tu viện trưởng:

- Thưa ngài, tại Pháp có bao nhiêu vở kịch?

- Năm ngàn hay sáu ngàn vở.

- Thế thì quá nhiều đó. Có bao nhiêu vở hay?

- Mười lăm hay mười sáu vở.

Martin nói xen vào:

- Cũng nhiều quá đấy.

Chàng Ngây Thơ rất bằng lòng cô đào đóng vai nữ hoàng Élisabeth trong một vở bi kịch nhạt nhẽo mà người ta thường đưa ra diễn một vài lần. Chàng nói với Martin:

- Cô đào ấy, tôi rất ưa, cô ta hao hao giống Cunégonde. Tôi mong được đến chào cô ta.

Vị tu viện trưởng đề nghị đưa chàng đến giới thiệu với cô. Vốn sinh trưởng ở Đức, chàng hỏi cô thuộc về hạng người nào, và ở Pháp người ta đối xử ra sao với những cô đào đóng vai nữ hoàng Anh?

Vị tu viện trưởng đáp:

- Phải phân biệt từng trường hợp: ở các tỉnh, người ta mời họ đi ăn uống; ở Paris người ta tôn trọng họ khi họ còn đẹp; và liệng họ ra đường, khi họ đã chết.

- Nữ hoàng mà bị liệng xác ra đường sao? Chàng Ngây Thơ la lên.

- Phải, đúng vậy, ngài tu viện trưởng nói đúng đấy. Martin xen lời vào. Tôi đã ở Paris khi cô Monime “đi sang cõi khác” như người ta nói. Người ta từ chối, không cho hạng đào hát hưởng những vinh dự của cuộc mai táng, nghĩa là được mục nát với những kẻ nghèo khó ở khu phố, trong một nghĩa địa tồi tàn; cô Monime bị chôn cất một mình trong một góc đường Bourgogne; chắc tâm hồn cô phải đau buồn lắm vì cô là một người có tư tưởng quý phái[4].

Chàng Ngây Thơ nói:

- Thật là vô phép.

Martin đáp:

- Biết làm sao bây giờ? Hạng người đó phải chịu số phận như thế. Ông hãy tưởng tượng tất cả những mâu thuẫn, tất cả những sự không thích hợp có thể xảy ra trên đời; ông sẽ thấy chúng ở trong chính phủ, trong tòa án, trong giáo hội, trong các nơi du hí, của cái quốc gia lố bịch này.

Chàng Ngây Thơ lại hỏi:

- Phải chăng người ta hay cười cợt ở Paris?

Vị tu viện trưởng đáp:

- Phải, nhưng người ta vừa cười vừa muốn điên lên được: Người ta phàn nàn đủ mọi thứ, với những trận cười nổ vang, kể cả trận cười khi làm những việc bỉ ổi nhất.

Chàng Ngây Thơ hỏi tiếp:

- Con người khả ố hồi nãy[5] là ai vậy? Anh ta nói biết bao điều xấu về vở kịch đã làm cho tôi khóc và các diễn viên mà tôi rất ưa thích.

Vị tu viện trưởng đáp:

- Đó là một kẻ xấu miệng, hắn sống bằng nghề nói xấu tất cả các vở kịch, tất cả các diễn viên. Hắn oán ghét ai thành công, như kẻ hoạn quan ghét kẻ còn biết thụ hưởng; hắn là con rắn độc trong văn chương, sống trong nọc độc và bùn lầy. Hắn là kẻ “bán văn”[6] vô loại.

- Thế nào là kẻ “bán văn” vô loại?

- Nó là một kẻ viết cho đầy giấy, một con rắn độc, kiểu như tên Fréron.[7]

Chàng Ngây Thơ và Martin cùng vị tu viện trưởng đàm luận như vậy khi xuống thang ra về, nhìn theo đám khán giả. Chàng Ngây Thơ nói:

- Dầu tôi nóng lòng gặp cô Cunégonde, tôi cũng muốn mời cô đào Clairon[8] dùng bữa tối với tôi, vì tôi thấy cô thật khả ái.

Tu viện trưởng không phải là người quen biết với cô Clairon. Cô chỉ giao du với hạng người lịch sự. Ông đáp:

- Tối nay cô mắc bận việc khác. Nhưng tôi sẽ được hân hạnh dẫn ông đến một bà quý phái có tiếng, và ông đàm thoại với bà mà biết được thành phố Paris như là ông đã sống ở đây bốn năm.

Chàng Ngây Thơ vốn tính tò mò, nhận lời ngay và được mời đến nhà một bà ở cuối xóm Saint-Honoré. Tại đây người ta đang đánh bài. Mười hai tay con[9] thiểu não, tay cầm những cây bài như cầm cuốn sổ nhỏ ghi những chén ăn thua, những vụ thăng trầm đỏ đen. Một sự yên lặng nặng nề ngự chế căn phòng. Các tay con nét mặt xanh xao; người làm cái có vẻ lo âu; ngồi gần bên anh cái là nữ gia chủ, nhìn bằng con mắt sắc sảo vào sòng bài, xem có kẻ nào đánh dấu bài không. Bà yêu cầu họ uốn lại các cây bài cho thẳng thắn, với một sự chú ý nghiêm khắc nhưng lễ phép; bà không hề tỏ ra oán giận vì lo mất khách. Bà tự nhận là De Parolignac hầu tước phu nhân. Con gái bà mới mười lăm tuổi, cũng ngồi trong các đám tay con; nàng nháy mắt ra hiệu, khi có tay con nào thua bạc dở ngón gian lận để bù lại những tàn ác của may rủi. Vị tu viện trưởng và chàng Ngây Thơ cùng ông Martin bước vào. Không ai đứng dậy chào họ, không ai nhìn họ nữa vì ai cũng chăm chú đến lá bài.

Chàng Ngây Thơ phê bình:

- Bà Nam tước Thunder-ten-tronckh còn lịch sự hơn nhiều.

Song ông tu viện trưởng lại gần gia chủ nói nhỏ vào tai bà hầu tước. Bà khom người đứng dậy lưng chừng, nở nụ cười duyên dáng chào chàng Ngây Thơ; bà chào ông Martin bằng một cái nghiêng đầu rất quý phái. Bà gọi người đem một bộ bài, một cái ghế cho chàng Ngây Thơ ngồi. Chàng đánh thua năm mươi ngàn quan trong hai ván. Sau người ta mời dùng bữa ăn tối. Chàng Ngây Thơ không có vẻ gì xúc động vì thua bài. Bọn bồi hầu nói nhỏ với nhau bằng ngôn ngữ của họ:

- Chắc lão này phải là một tay quý tộc Anh giàu lớn.

Bữa ăn diễn tiến thông thường như các bữa ăn khác ở Paris. Trước hết người ta yên lặng; kế đến là những tiếng xì xào, nghe không rõ; rồi đến những câu vui đùa phần nhiều vô vị, những tin thất thiệt, những lời lí luận sai lầm, một chút chính trị và nhiều lời nói xấu, phỉ báng; người ta cũng nói đến cả những sách mới xuất bản. Ông tu viện trưởng hỏi:

- Các ông có thấy cuốn tiểu thuyết của cái ông Gauchat[10], tiến sĩ triết học chưa?

- Dạ đã, một thực khách đáp, nhưng tôi không thể đọc hết được. Có cả trăm cuốn sách viết cẩu thả mà không cuốn nào lại cẩu thả bằng sách của Gauchat, tiến sĩ triết học. Tôi đã chán ngấy những sách đáng ghét ấy, xuất bản tràn ngập; chán đến nỗi tôi đi đánh bạc còn hơn.

Ông tu viện trưởng hỏi:

- Còn cuốn Mélanges của Truble[11] thì quý vị nghĩ sao?

Bà Hầu tước De Parolignac đáp:

- Chà! Đọc buồn chết đi được! Ông ta đã viết ra tất cả những điều mà ai cũng biết; ông ta trịnh trọng thảo luận những sự việc chỉ đáng suy nghĩ hời hợt. Ông ta đã chiếm hữu tư tưởng của người khác mà ông chẳng có gì. Ông ta lại làm hư hết tư tưởng mà ông ta đánh cắp. Thật tôi chán ngấy ông ta; nhưng tôi không còn phải chán ngấy nữa vì tôi chỉ đọc có vài trang thôi.

Tại bàn ăn có một người ra vẻ thông thái và ý thức; ông ta nói vài tiếng ủng hộ luận điệu của bà hầu tước. Rồi người ta bàn đến các vở kịch. Bà hầu tước hỏi tại sao có những vở được đem diễn vài lần, song người ta không sao đọc nổi. Ông thông thái giải thích cho bà hiểu có những vở kịch diễn thì hay mà lại không có giá trị gì; ông vắn tắt chứng minh rằng người ta lấy một vài tình huống trong tiểu thuyết ra mà trình bày trong vở kịch thì không đủ. Vở kịch phải có cái gì mới mà không kì dị; phải tỏ ra thâm trầm và luôn luôn tự nhiên; phải biết lòng người mà phát biểu tiếng nói của lòng; kịch tác gia phải có hồn thơ cao cả mà không để cho một vai nào trong vở kịch có vẻ là thi sĩ; phải thâm hiểu ngôn ngữ của vai diễn, đặt cho vai ấy những ngôn từ thuần túy của họ; duy trì một sự hòa điệu liên tục.

Ông nói thêm:

- Ai mà không tôn trọng các nguyên tắc ấy có thể sáng tác một hai vở kịch được hoan nghênh trên sân khấu nhưng không bao giờ được liệt vào hạng các văn nhân danh tiếng. Có rất ít vở bi kịch hay: Có những vở hay về đối thoại; những vở khác lại chỉ có những lý luận chính trị, làm cho khán giả buồn ngủ; những vở kịch khác nữa tả những ảo mộng, viết bằng lối văn thô lỗ, với những lời nói dài dòng, những tiếng kêu gọi thần linh, những lời khuyên răn sai lầm, những ý tưởng tầm thường, những sáo ngữ.

Chàng Ngây Thơ chăm chú nghe những câu giải thích và muốn có một ý niệm về người phát ngôn ấy. Vì chàng được bà hầu tước xếp chỗ ngồi cạnh bà, chàng xích lại hỏi nhỏ vào tai bà xem người đó là ai?

Bà đáp:

- Đó là một nhà thông thái không đánh bạc bao giờ. Thỉnh thoảng ông tu viện trưởng mời ông ta tới dùng bữa với tôi. Ông ta rất am hiểu về các kịch tác và sách vở và ông có một vở bi kịch đem diễn thì bị khán giả huýt gió chê bai, ông còn có một tác phẩm in xong chỉ có một cuốn ra khỏi tiệm sách; đó là cuốn ông gửi tặng tôi.

Chàng Ngây Thơ bèn nói:

- Nếu vậy ông ta là một danh nhân, một Pangloss nữa.

Chàng quay lại phía ông ta, lễ phép hỏi:

- Thưa ông, ông có tin rằng mọi việc trên đời sẽ hoàn hảo hơn và không thể ra ngoài định luật ấy, trên thế giới vật chất cũng như thế giới tinh thần?

- Thưa ông, tôi không suy tưởng như vậy. Với tôi thì mọi việc trên đời đều mâu thuẫn hết: không ai biết được mình thuộc cấp bậc nào, nhiệm vụ của mình là gì, mình làm gì và phải làm gì? Ngoại trừ bữa ăn này khá vui vẻ và đoàn kết còn thì chỉ thấy những xung đột khả ố: giáo phái này chống giáo phái kia, quốc hội chống giáo hội, văn nhân chống văn nhân, nịnh thần chống nịnh thần, tài phiệt chống dân chúng, vợ chống chồng, bà con chống bà con: thật là một trận giặc vô tận.

Chàng Ngây Thơ cãi lại:

- Tôi đã thấy những việc xấu xa hơn nữa. Nhưng một hiền triết đã có lần bị xử giảo, có dạy tôi rằng tất cả những việc ấy sẽ hoàn thiện hơn, đó chỉ là cái bóng mờ của một bức tranh đẹp.

- Nhà hiền triết của ông coi thường thiên hạ quá! Martin xen lời vào. Những cái bóng mờ của ông ta là những vết đen ghê tởm.

- Những vết đen ấy là do con người gây ra. Chàng Ngây Thơ nói. Và con người không thể tránh khỏi chúng.

- Vậy không phải lỗi của con người, Martin nói thêm vào.

Phần đông những con bạc ngồi ăn chẳng hiểu gì về những câu tham luận ấy, nên họ cứ uống rượu. Martin thì lý luận với nhà thông thái, chàng Ngây Thơ thì thuật lại một phần các cuộc phiêu lưu của mình cho nữ gia chủ nghe.

Sau bữa ăn, bà hầu tước dẫn chàng Ngây Thơ vào văn phòng của bà, mời chàng ngồi trên một cái ghế dài và hỏi:

- Vậy là ông vẫn còn yêu tha thiết cô Cunégonde, dòng dõi nam tước Thunder-ten-tronckh?

- Thưa bà vâng.

Bà hầu tước nở nụ cười dịu dàng:

- Nghe ông nói biết ngay ông là một người Đức trẻ tuổi sống ở Westphalie; một người Pháp thì trả lời như sau: “Thật tình, tôi đã yêu cô Cunégonde; nhưng nhìn thấy bà, thì thưa bà, tôi lo sẽ không yêu cô ấy nữa”.

- Vậy thưa bà, tôi sẽ đáp lời như ý bà muốn.

- Ái tình của ông đối với cô ta bắt đầu từ lúc ông lượm cái mùi soa cho cô ta, phải vậy không? Tôi muốn bây giờ ông lượm cho tôi cái dây nịt của tôi.

- Xin hết lòng thưa bà.

Rồi chàng lượm dây nịt lên.

- Tôi muốn ông nịt lại cho tôi!

Chàng lại nịt lại cho bà.

- Ông thấy không? Ông là người ngoại quốc. Bà hầu tước nói. Thường tôi vẫn để cho các người yêu tôi ở Paris phải chờ tôi mười lăm ngày tôi mới tiếp. Vậy mà với ông tôi phải quy hàng ngay từ đêm đầu, vì phải dành vinh dự cho một trang thanh niên ở vùng Westphalie.

Người đẹp vừa thấy hai hột kim cương lớn lóng lánh trên hai bàn tay của vị khách quý; bà ngỏ lời khen ngợi, nồng nàn khéo léo, đến nỗi hai chiếc nhẫn kim cương từ tay chàng lọt ngay sang tay bà.

Khi ra về với ông tu viện trưởng, chàng cảm thấy một chút hối hận vì đã bất trung tín với cô Cunégonde. Ông tu viện trưởng thông cảm với nỗi lòng u buồn của chàng.

Ông chỉ được chia một phần nhỏ trong số năm mươi ngàn quan mà chủ sòng bạc đã ăn được của chàng Ngây Thơ và giá tiền hai hột kim cương, nửa là tặng, nửa là cưỡng đoạt. Ý định của ông là hưởng thụ càng lâu càng tốt, những lợi lộc mà sự quen biết với chàng Ngây Thơ còn có thể đem lại cho ông. Ông tỏ ý kiến về cô Cunégonde rất nhiều, trong khi nói chuyện với chàng; và chàng cho ông hay chàng sẽ xin lỗi cô về vụ bất trung tín, khi nào chàng gặp lại cô ở Venise.

Ông tu viện trưởng càng gia tăng sự nhã nhặn và sự quan tâm đối với chàng: Ông nghe tất cả những lời chàng nói, với thái độ chú ý mềm dịu, cả đôi với việc chàng làm và việc chàng muốn làm. Ông hỏi:

- Thưa ông, vậy ra ông có hẹn với cô ấy ở Venise sao?

- Vâng, thưa tu viện trưởng. Nhất quyết, tôi phải đến Venise gặp cô.

Chàng Ngây Thơ thấy khoái chí vì có được người nói về điều mà mình ưa thích; theo thói thường của chàng, chàng thuật lại cho ông nghe một phần cuộc phiêu lưu của chàng với cô gái danh tiếng ở xứ Westphalie ấy.

Tu viện trưởng hỏi:

- Tôi chắc là cô gái thông minh ấy có viết cho ông những bức thư diễm tình lắm?

- Tôi không nhận được bức thư nào của cô. Ông thử nghĩ coi: sau khi vì cô mà tôi bị đuổi ra khỏi tòa lâu đài, tôi không thể thư từ gì với cô; kế đến tôi hay tin cô chết; rồi tôi gặp lại cô, rồi tôi lại mất cô; sau chót tôi gửi cho cô ấy một bức thư hỏa tốc, trong khi chúng tôi cách nhau hai ngàn năm trăm dặm, tôi còn chờ cô hồi âm.

Ông tu viện trưởng chăm chú nghe, tỏ vẻ mơ màng một chút. Trước khi ông cáo biệt hai khách ngoại quốc, ông hôn họ đằm thắm.

Sáng hôm sau khi thức giấc, chàng Ngây Thơ nhận được một bức thư như sau:

“Người yêu mến của em, đã tám ngày rồi em bị bệnh ở thành phố này. Em nghe tin anh cũng đến đây. Em sẽ bay vào vòng tay của anh; nếu em cử động được. Em biết anh có ghé Bordeaux, nên em để Cacambo trung tín và bà già ở lại đó, họ sẽ theo em đến đây sau. Viên tổng trấn ở Buénos-Aires đã đoạt tất cả của cải, nhưng em còn lại trái tim anh. Anh hãy đến thăm em ngay. Sự hiện diện của anh sẽ làm cho em hết bệnh hoặc chết vì vui mừng”.

Bức thư thắm thiết ấy, bức thư bất ngờ ấy, làm cho chàng Ngây Thơ vui sướng không tả được. Bệnh trạng của cô Cunégonde cũng làm cho chàng đau đớn vô cùng. Giữa hai nỗi lòng ấy, chàng thu xếp hết số vàng và kim cương của chàng, rồi cùng Martin đến khách sạn mà cô Cunégonde đang ở trọ. Chàng run rẩy xúc cảm, bước vào phòng cô. Tim đập mạnh, lòng thổn thức, chàng muốn vén bức rèm trên giường lên; chàng muốn ánh sáng lọt vào. Người gái hầu hạ vội ngăn cản:

- Coi chừng! Ánh sáng sẽ giết chết cô ấy!

Rồi nữ tì khép rèm lại.

Chàng Ngây Thơ vừa khóc vừa hỏi:

- Bệnh tình ra sao? Em Cunégonde? Nếu em không ra khỏi mùng được thì hãy nói với anh!

Người tớ gái đáp liền:

- Cô không nói được!

Lúc này, người nằm trong mùng đưa ra một bàn tay tròn trịa mà chàng Ngây Thơ tưới xuống những giọt nước mắt; sau chàng để kim cương vào đầy bàn tay nàng. Chàng đem theo một cái túi đầy vàng mà chàng để trên một cái ghế bành.

Trong khi chàng Ngây Thơ đang cảm xúc mạnh thì bỗng nhiên có một sĩ quan cảnh vị bước vào, theo sau là vị tu viện trưởng bạn chàng và một tiểu đội cảnh sát. Viên sĩ quan nói:

- Hai tên khả nghi đây rồi!

Rồi ông ra lệnh các dũng sĩ của ông bắt hai người để bỏ vào đề lao.

Chàng Ngây Thơ thốt ra câu:

- Tại Eldorado, người ta không đối xử với du khách ngoại quốc như thế này.

Ông Martin tiếp lời:

- Tôi lại càng tin thêm thuyết thiện ác cộng đồng của tôi.

Chàng Ngây Thơ hỏi viên sĩ quan:

- Ngài đem chúng tôi đi đâu đây?

- Đi tới một hầm tối của đề lao.

Martin khi bình tâm trở lại, suy đoán ra rằng cái bà tự nhận là cô Cunégonđe ấy là một tên nữ tướng lường gạt; cái ông tự xưng là tu viện trưởng ấy cũng là một tay lường gạt; còn tên sĩ quan cũng là một tên lường gạt nữa.

Chàng Ngây Thơ không muốn theo đuổi những thủ tục pháp luật phức tạp, chàng lại nóng lòng gặp được cô Cunégonde thật, nên chàng nghe theo lời khuyên của ông Martin, đề nghị biếu viên sĩ quan ba viên kim cương nhỏ, đáng giá mỗi viên ba ngàn bạc. Viên sĩ quan cầm gậy ngà nói:

- Thưa ông, dầu ông có phạm những tội tày đình, ông vẫn là người lương thiện nhất trên thế gian. Ba viên kim cương! Mỗi viên ba ngàn bạc! Thưa ông, dầu tôi có phải chết, tôi cũng không nỡ bỏ ông vào ngục tối. Tại đây người ta bắt tất cả những người ngoại quốc. Nhưng xin ông cứ để mặc tôi gỡ cho. Tôi có một người em ở Dieppe, vùng Normandie; tôi sẽ đưa ông tới đó và nếu ông có một viên kim cương tặng hắn thì hắn sẽ săn sóc cho ông tử tế cũng như tôi.

Chàng Ngây Thơ hỏi:

- Nhưng tại sao người ta bắt tất cả những người ngoại quốc?

Vị tu viện trưởng cất tiếng đáp:

- Đó bởi vì một tên khố rách áo ôm xứ Artois đã nghe nói những điều xằng bậy: việc đó khiến hắn phạm tội giết vua, không chỉ vụ xảy ra hồi tháng Năm năm 1694, mà còn cả vụ tháng Mười hai năm 1594, và còn nhiều tên vô lại khác nghe những lời xằng bậy mà phạm tội ấy vào những năm khác tháng khác[12].

Thế là viên cảnh vệ giải thích rõ thêm.

Chàng Ngây Thơ la lên:

- Chao ôi! Những kẻ ghê gớm! Không ngờ những vụ kinh tởm như thế này lại xảy ra ở một đất nước mà dân chúng nhảy múa, ca hát. Liệu tôi có thể ra khỏi xứ này cấp tốc, một xứ mà khi dám chọc giận hùm beo! Tôi chỉ thấy loài gấu ở xứ tôi! Tôi chỉ thấy loài người ở xứ Eldorado mà thôi. Thưa sĩ quan, tôi cầu ơn chúa mà nhờ ông đưa tôi đến Venise, nơi tôi chờ gặp lại cô Cunégonde.

Viên sĩ quan nối lời giải thích thêm.

- Tôi chỉ có thể đưa ông đến miền nam Normandie.

Liền đó, viên sĩ quan cởi cùm xích cho mọi người, nói rằng mình đã bắt lầm. Ông cho người đưa chàng Ngây Thơ và ông Martin đến Dieppe, giao vào tay người em của ông.

Lúc này có một chiếc tàu Hà Lan nhỏ ở ngoài khơi. Nhờ ba viên kim cương nữa làm quà, mà người em của viên sĩ quan đã trở thành người tận tâm nhất trên đời; hắn đưa chàng Ngây Thơ và những người đi theo chàng xuống tàu.

Chiếc tàu sắp đi hải cảng Portsmouth nước Anh. Đó không phải là đường đi Venise, nhưng chàng Ngây Thơ cũng vui lòng vì thoát được cái hỏa ngục, chàng sẽ tính chuyện đi Venise sau, khi có cơ hội. 

❀ ❀ ❀

[1] Một chiếc xe du lịch.

[2] Bệnh đậu cừu (clavelée) là một căn bệnh dễ lây giữa những con vật lấy len. Voltaire là thành viên của Viện Hàn lâm Bordeaux. Nhưng chắc hắn ở đày ông chế giễu Viện Hàn lâm Berlin và giám đốc của nó là Maupertuis, người mà Voltaire đã chê trách giữa những người khác vì đã quả quyết rằng “không có bằng cớ nào khác ngoài sự tồn tại của Thượng đế trong Z ngang bằng với BC bị phân chia bởi A hơn B” (Voltaire, Diatribe du docteur Akakia).

[3] Lối vào phía Nam Paris.

[4] Adrienne Lecouvreur (1692-1730): khởi nghiệp vào năm 1717 trong vai Monime, trong vở Mithridate của Racine, bị Giáo hội khai trừ như tất cả những diễn viên khác, cô chết trước khi có thể ăn năn và được mai táng như Voltaire đã miêu tả.

[5] Nguyên văn là “ce gros cochon”: gã heo mập ấy.

[6] Tiếng Pháp: “folliculaire” (nhà báo lông vịt, kẻ xáo trá), là một từ mới chắc hẳn do Voltaire sáng tạo và để chỉ một nhà báo tồi, người viết văn đả kích chẳng tài cán gì. Voltaire đã tạo nên từ này từ từ “feuille” (lá, tờ báo) và từ “follicule” được dùng trong thực vật học (quả khô dạng lá) và trong giải phẩu học (túi nang nhỏ).

[7] Fréron: cây bút độc địa, chống đối kịch liệt với Voltaire [ND].

[8] Cô đào Clairon (1723-1803): nghệ sĩ nổi tiếng, đã tham gia đóng nhiều vở bi kịch của Voltaire, chẳng hạn vở Tancrède. Tên cô chỉ xuất hiện trong tiểu thuyết năm 1761.

[9] Chỉ các con bạc: “nhà con” đối lập với “nhà cái”.

[10] Gabriel Gauchat (1709-1774), đối thủ của các nhà triết học và Voltaire.

[11] Trablet (1677-1770), một đối thủ khác của Voltaire.

[12] Trên thực tế đã có nhiều vụ bắt giữ sau cuộc mưu sát của Damien đối với vua Louis XV ngày 5 tháng Một năm 1757. Damien sinh ra ở Arras năm 1715. Tháng Năm năm 1610 xảy ra vụ ám sát của Ravaillac. Năm 1594, Jean Châtel ám sát Henri IV.

Dịch từ bản tiếng Pháp: Candide ou l’optimisme Dịch giả: Tế Xuyên
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 13 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Voltaire

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.