Chàng Ngây Thơ cùng ông Martin đi thuyền “gông đôn” trên sông Brenta đến cung điện của nhà quý tộc Pococurenté[1]. Những khu vườn của ông được trang trí bằng những pho tượng rất mỹ thuật; cung điện xây cất theo một lối kiến trúc mới. Chủ nhân chừng sáu mươi tuổi, giàu có lớn, tiếp đón hai du khách tò mò một cách lễ phép song không được niềm nở cho lắm; chàng Ngây Thơ bất mãn còn ông Martin thì không.
Trước hết hai thiếu nữ đẹp, quần áo sạch sẽ, đem kem sôcôla ra mời khách, thứ kem làm rất khéo. Chàng Ngây Thơ tấm tắc khen nhan sắc hai cô, sự duyên dáng và khéo léo của hai cô.
- Đó là hai thiếu nữ dễ thương, nghị sĩ Pococurenté nói, đôi khi tôi cho hai cô ấy nằm chung giường tôi vì tôi đã chán ngán các bà quý phái; chán lối làm dáng của các bà, lòng ghen tuông, sự ganh ghét, sự quạu quọ, tính nhỏ nhen, kênh kiệu, dại dột của các bà; lại còn phải làm thơ hoặc mượn người làm thơ tặng các bà. Nhưng hai thiếu nữ này đã bắt đầu làm tôi buồn chán.
Sau bữa ăn trưa, chàng Ngây Thơ đi tản bộ trong hành lang trưng bày những bức họa; chàng phải ngạc nhiên ngắm nghía, hỏi hai bức đầu là của danh sư hội họa nào?
- Đó là của Raphaël[2], ông nghị đáp. Tôi đã mua cách đây vài năm, với một giá khá cao, chỉ vì tính háo danh; người ta nói rằng đó là những tác phẩm có giá trị nhất ở Ý. Nhưng hai bức họa ấy không làm tôi hài lòng mấy; màu hơi buồn, xám; mặt người trong bức họa không đủ tròn trịa và không nổi bật; quần áo thì chả giống vải. Tóm lại, dầu người ta nói sao đi nữa, tôi không thấy bức họa tả đúng cảnh thiên nhiên; tôi chỉ ưa một tác phẩm khi nó làm tôi thấy như là đứng trước một cảnh thiên nhiên thật sự; nay không có tác phẩm nào loại ấy. Tôi có nhiều bức họa, nhưng tôi không buồn nhìn đến nữa.
Trong khi chờ bữa ăn tối, ông Pococurenté cho cử một bản nhạc hòa tấu. Chàng Ngây Thơ thấy điệu nhạc êm dịu. Ông nghị lên tiếng phê bình:
- Tiếng huyên náo này chỉ có thể mua vui trong nửa giờ; nếu kéo dài hơn nữa, nó làm mọi người mệt nhọc, dầu không ai dám nói ra. Ngày nay âm nhạc chỉ là một nghệ thuật trình bày những cái khó khăn, mà cái gì có tính cách khó khăn thì không làm cho người ta vui thích lâu dài được. Có lẽ tôi ưa nhạc kịch hơn, nếu người ta không làm cho vở nhạc kịch thành quái gở khiến tôi bất bình. Ai ưa thích thì cứ đi xem: có những vở nhạc kịch chỉ để xen vào hai hay ba bài nhạc lố lăng, không thích hợp, đế phô trương cuống họng cô ca sĩ. Ai thích cảm động thì cứ đi xem một kép hát cất tiếng lên ca trong vai César và Caton[3] những thứ nghệ thuật nghèo nàn ấy mà nước Ý tự hào, và các vua chúa trả giá rất đắt.
Chàng Ngây Thơ tham luận một chút song với một cách kín đáo. Martin thì đồng ý với nghị sĩ Pococurenté[4].
Chủ và khách ngồi vào bàn ăn. Sau bữa ăn, họ đưa nhau vào phòng đọc sách, chàng Ngây Thơ thấy một cuốn sách của Homère[5], đóng rất đẹp, ngỏ lời khen ngợi theo sở thích của chàng:
- Thật là cuốn sách gây thích thú cho Pangloss, triết gia danh tiếng nhất nước Đức.
- Nhưng nó không làm cho tôi thích thú chút nào - ông Pococurenté lạnh lùng nói. Khi xưa người ta làm cho tôi tưởng lầm là đọc sách ấy rất khoái; nhưng trong sách tả những trận chiến cứ lặp đi lặp lại hoài, mà lại giống nhau: những vị thần luôn hiện ra mà chẳng làm gì quyết định; vai Hélène trong kịch là đối tượng của cuộc chiến mà chỉ là một vai trò lu mờ, thành Troie bị vây hãm mà lại không bị chiếm đoạt[6]. Tất cả bao nhiêu sự kiện ấy làm cho tôi buồn đến chết được. Tôi có hỏi các nhà thông thái xem họ có buồn như tôi không, họ trả lời tôi rằng cuốn sách ấy cầm trên tay là lại phải bỏ xuống liền, song vẫn phải để nó trong tủ sách vì nó là một pho tượng cổ; nó giống như những huy chương sét rỉ, không thể bán được.
Chàng Ngây Thơ hỏi:
- Chắc ngài không nghĩ như thế về Virgile?
- Tôi cho rằng cuốn thứ nhì, thứ tư và thứ sâu trong bộ L’Enéide[7] của ông ấy thì rất hay, nhưng các nhân vật của ông thì không còn gì lạnh lùng và khả ố cho bằng: Enée hiếu thảo; cloanthe khỏe mạnh; Achates bạn tốt; Ascanius còn ít tuổi, trẻ con; vua Latinus khờ dại; hoàng hậu Amata thì phú hào, Lavinia thì vô vị. Tôi ưa các tác phẩm của Tasse và những chuyện ngắn của Arioste[8] hơn.
- Thưa ngài, tôi mạn phép hỏi ngài có thích đọc Horace[9] không?
- Trong ấy có những châm ngôn mà con người lịch sự trên đời dễ sử dụng. Cô đọng trong những câu thơ, chúng in sâu vào trong trí nhớ. Nhưng tôi ít chú ý đến cuộc du hành của tác giả tới Brindes và những lời mô tả của ông về một bữa ăn không ngon lành, cùng cuộc cãi vã giữa gã Pupilus nào đó bằng lời lẽ tục tằn, với một người lời chua như dấm. Tôi rất ghê tởm phải đọc những câu thơ thô tục của ông chống lại các bà già và các mụ phù thuỷ; và tôi cũng chẳng hiểu thơ ông ta giá trị ở chỗ nào khi ông ta nói với ông bạn Maecenas của mình rằng nếu ông ta được xếp vào hàng các thi sĩ trữ tình thì vầng trán cao cả của ông ta sẽ va vào các vì tinh tú. Kẻ khờ dại luôn luôn mến chuộng một tác giả đã được ưa thích, còn tôi thì tôi đọc sách là để cho tôi; tôi đọc cái gì tôi áp dụng được.
Chàng Ngây Thơ vốn đã được giáo dục bằng phương pháp cứng rắn, không để cho chàng có được tinh thần xét đoán, nên chàng rất lấy làm lạ khi nghe ông nghị Pococurenté nói những điều ấy. Martin thì cho lối suy tư của ông là hợp lý.
- À! Đây là một tác phẩm của Cicéron[10], chàng Ngây Thơ la lên. Chắc hẳn với một đại danh nhân như thế, ngài không phải buồn tẻ.
- Tôi không đọc ông ta bao giờ - ông nghị đáp. - Dầu tác giả ấy có bào chữa cho Rabirius hay Cluentius cũng chẳng quan hệ gì. Tôi đã biết khá nhiều vụ án, cũng như một thẩm phán, nên không cần đọc thêm vụ nào nữa. Tôi ưa thích những tác phẩm triết lý của Cicéron hơn. Nhưng khi tôi nhận xét rằng ông ta nghi ngờ tất cả mọi sự, thì tôi thấy ông cũng như tôi thôi, tôi kết luận rằng tôi cũng hiểu biết như ông. Tôi không cần đến ai cả.
- À! Đây là tám mươi cuốn sưu tập các thiên khảo cứu của một viện hàn lâm khoa học, Martin tiếp lời. Có thể có gì bổ ích trong pho sách này.
- Nếu như một trong những tác giả pho sách ấy chỉ cho người ta biết nghề chế tạo kim gút, thì cùng gọi là bổ ích, - ông Pococurenté đáp. Song tôi chỉ đọc thấy trong sách ấy những hệ thống khô khan, không có gì ích lợi cả.
- Ồ kìa! Bao nhiêu là vở kịch tôi thấy đủ cả, bằng tiếng Ý, tiếng Pháp, tiếng Y Pha Nho, chàng Ngây Thơ la lên.
- Phải, vị nghị sĩ đáp, có đến ba ngàn vở mà tôi không thấy được ba tá kịch có giá trị. Còn những cuốn thuyết giáo kia, tất cả không đáng giá bằng một chương của Sénèque[11]; những cuốn sách thần học đồ sộ kia, tôi không bao giờ mở ra một cuốn, và cũng không có ai đọc.
Martin nhìn thấy những ngăn chứa đầy sách viết bằng tiếng Anh, liền nói:
- Tôi tin rằng một người theo phái cộng hòa sẽ ưa đọc những sách ấy. Chúng được viết một cách rất tự do.
Ông Pococurenté đáp:
- Phải, được tự do viết điều gì mình suy nghĩ thì tốt đẹp làm sao! Đó là một đặc quyền của con người. Trong khắp nước Ý chúng tôi, người ta chỉ viết ra những gì người ta không được suy nghĩ; những người ở cái tổ quốc của những César, của những Antonin, không bao giờ được phát biểu ý kiến gì nếu một thầy tu dòng Thánh Dominique[12] không cho phép. Tôi rất bằng lòng về sự tự do mà các nhà hiền triết Anh phát biểu, nếu tinh thần bè đảng đừng làm hư lại cái tinh hoa đáng trọng của tự do cao quý ấy.
Chàng Ngây Thơ thấy một tác phẩm của Milton[13], hỏi chủ nhân có cho tác giả ấy là một danh nhân chăng? Ông Pococurenté đáp:
- Ông ấy à? Con người man rợ ấy đã phê bình rất dài chương đầu của Kinh Cựu Ước[14] bằng mười cuốn thơ, lời cứng rắn? Cái tên bắt chước vụng về người Hy Lạp ấy đã làm lệch lạc ý niệm về sự khai thiên lập địa. Trong khi Moïse hình dung đấng Bất diệt tạo ra thế gian bằng lời nói, thì tác giả thô lỗ ấy lại cho rằng Đấng Cứu thế lấy cái compa trong một cái tủ của trời mà tạo ra Trái đất. Tôi đâu phải người ưa thích tác giả; ông ta làm hư hỏng cả ý niệm về địa ngục và ma quỷ của Tasse, mô tả quỷ Lucifer khi là loài cóc, khi là giống người lùn; ông lặp lại cả trăm lần những lời giống nhau, thảo luận về thần học; trong khi tỏ ý bắt chước Arioste khi ông này mô tả ra sự sáng tạo ra hỏa khí để khôi hài, ông ta lại tả một cách trịnh trọng cảnh ma quỷ bắn súng thần công lên trời. Tôi cũng như mọi người khác ở Ý, không ai tin được những chuyện kỳ dị buồn thảm ấy. Hôn phối giữa Tội lỗi và Tử thần với những con rắn mà Tội lỗi sinh sản, làm cho người nào có ý thức đều phải nôn mửa; việc mô tả rất dài về một nhà thương chỉ hay đối với những kẻ đào huyệt. Tập thơ mờ ám, kỳ dị và đáng tởm ấy, ngay từ lúc xuất bản đã bị khinh bỉ. Ngày nay tôi coi nó cũng như những người đương thời trong tổ quốc nó đã đối xử với nó. Rốt cuộc, tôi nói những điều gì tôi suy nghĩ, chứ tôi không cần muốn người khác cũng phải suy nghĩ như tôi.
Chàng Ngây Thơ buồn rầu vì những lời nói ấy; chàng tôn trọng Homère, chàng ưa thích Milton. Chàng nói nhỏ với Martin:
- Than ôi! Tôi rất lo sợ rằng ông này sẽ khinh bỉ thậm tệ những thi sĩ của nước Đức chúng ta.
- Có thế cũng chẳng hại gì lớn. Martin đáp.
Chàng Ngây Thơ lẩm bẩm: “Ồ! Cái ông này tự cao tự đại biết bao; ông ta cho mình là một danh nhân cao cả, không có tác giả nào làm cho ông hài lòng.”
Sau khi xem các cuốn sách trong phòng đọc sách, ba người đi ra vườn. Chàng Ngây Thơ ngỏ lời khen ngợi khu vườn tốt đẹp. Chủ nhân liền nói:
- Tôi không thấy khu vườn nào vô vị bằng khu vườn này; ở đây chúng tôi chỉ có những cây cối tầm thường; mai kia tôi sẽ trồng lại cây cối theo một dự án cao nhã hơn.
Khi hai người khách tò mò cáo biệt chủ nhân, chàng Ngây Thơ nói với Martin:
- Chắc ông phải chịu rằng ông nghị sĩ đây là người sung sướng nhất vì ông cao cả hơn tất cả những gì mà ông có.
Martin cãi lại:
- Ông không thấy sao? Ông ấy chán ngán tất cả những gì mà ông ta có! Đã lâu lắm Platon nói rằng “những bao tử tốt hơn hết không phải là những bao tử hắt hủi tất cả những món ăn”[15].
Chàng Ngây Thơ nói tiếp:
- Nhưng người ta cũng thấy vui thích khi có thể chê bai tất cả và nhận thấy những lỗi lầm ở những cái mà kẻ khác cho là tốt đẹp, ông có đồng ý không?
- Ông nói vậy có nghĩa là người ta thấy vui thú trong lòng chỉ vì chê bai và nói mình không thấy gì vui thú?
- Vậy thì chỉ có tôi là sung sướng khi tôi gặp lại được cô Cunégonde.
- Ông nên hy vọng là phải lắm. Martin kết luận.
Thế rồi ngày tháng trôi qua; Cacambo vẫn không thấy trở lại. Chàng Ngây Thơ đau buồn quá, đến nỗi chàng không còn quan tâm đến việc cô Paquette và tu sĩ Giroflée không trở lại để cảm ơn chàng.
❀ ❀ ❀
[1] Poco curante: tiếng Ý nghĩa là “vô tư lự”.
[2] Raphaël (1483 - 1520): danh họa người Ý.
[3] Canton: kẻ ám sát César.
[4] Ám chỉ những cuộc bút chiến thời bấy giờ về nhạc kịch, âm nhạc Ý, Pháp.
[5] Homère: thi sĩ Hy Lạp, được xem là tác giả của anh hùng ca nổi tiếng Illiad và Odyssée.
[6] Trong Illiad, cuộc vây hãm thành Troie kéo dài 10 năm.
[7] L’Énéide: sử thi gồm mười hai ca khúc của Virgile (70-19 trước Công nguyên).
[8] Arioste (1474-1533): thi sĩ người Ý.
[9] Horace (65-8 trước Công nguyên): thi sĩ người La Mã.
[10] Cicéron (106-43 trước Công nguyên): luật sư chính khách, triết gia người La Mã.
[11] Sénèque (khoảng thế kỷ IV trước Công nguyên đến năm 65 sau Công nguyên): triết gia La Mã.
[12] Những thầy tu dòng thánh Dominique giữ một vai trò quan trọng trong Pháp đình.
[13] Milton(16o8-1674): nhà thơ Anh, tác giả của một sử thi thánh kinh, Thiên đường đã mất.
[14] Chỉ phần Sáng thế ký trong Kinh Thánh.
[15] Trong Cộng hoà (République) của Platon.