Hội Hóa trang Trung Hoa là biến cố rực rỡ bậc nhất vào tiết đầu xuân ở Curtain Wells. Ấy là tinh hoa ngưng đọng của thói điệu bộ tao nhã, là ngọn suối lớn khởi nguồn cho muôn vàn lạc thú phân lưu. Hơn thế, tự thân đêm hội còn mang một ý nghĩa quốc gia đại sự. Người ta tụ họp chẳng phải chỉ để khắc sâu tầm quan trọng của việc giải khuây một cách nghiêm cẩn; cũng chẳng phải một trong bao trò tiêu khiển dâng lên thần Epicurus; nó không cốt để tưởng niệm kiếp nhân sinh phù du bọt bèo, lại càng chẳng phải lễ Táng với nghi thức rải cánh hoa hồng cùng rượu nồng đổ vãi. Đêm hội Hóa trang Trung Hoa tại Curtain Wells còn cao quý đường bệ hơn tất thảy những lẽ đó, bởi đây là một đại lễ tôn vinh thứ mỹ tửu trà của non sông. Thuở xưa, Bacchus được nghinh đón nơi Samothrace, hội rượu thuở ấy phóng túng khôn cùng đúng như phong vị nghìn xưa: Tiên nữ cuồng si, Nhân mã nhảy múa, những con báo hoa đeo tràng hoa lảo đảo theo nguồn hứng khởi dại dại cuồng cuồng. Cơn điên đảo cất bước; đoàn này tiếp đoàn kia dạt dào tan biến trong những lằn chớp của da thịt trắng ngần khi Dionysus mang nụ cười ma mãnh và đôi má ửng hồng bỏ bùa mê thuốc lú lên hàng ngàn con người. Kỷ hà, toàn bộ biến cố ấy chẳng qua là một sự nhượng bộ khôn xiết trước Mẹ Tự Nhiên. Còn tại Curtain Wells, người ta thấy rõ dấu ấn nhào nặn của biết bao thế kỷ. Nơi đây, các Nữ thần Bacchante bị nịt chặt trong áo chẽn và khung váy phồng đoan trang; những gã Nhân mã cậy gót giày đỏ cao nghều thế cho móng guốc, vận quần chẽn lụa thay cho lớp lông dê. Thế chỗ những chú báo mượt như nhung từng ung dung sải bước qua bụi xạ hương ngát hương mang ả lăng loàn trên lưng thon, giờ là đám phu kiệu nhếch nhác chao đảo hộ tống các mệnh phụ và tiểu thư. Ngay cả Dionysus cũng đã đổi dời. Chàng vẫn giữ nụ cười ma mãnh cùng đôi gò má ửng hồng, nhưng vòng hoa tầm xuân xưa đã hóa thành nếp diềm đăng ten và dải nơ cổ, thân thể chàng lấp lánh chẳng phải bằng thanh xuân, sức sống hay sự bất tử, mà bằng những móc cài, trâm cài cùng ngọc bội giả bằng thủy tinh. Tiếng chũm chọe rền vang của Thrace chỉ còn là âm vọng mong manh nơi tiếng lanh canh thanh nhã của muỗng trà cùng thanh âm giòn mỏng của đồ sứ. Thật vậy, trọn vẹn sự khác biệt giữa việc thờ phụng Rượu và tôn sùng Trà chung quy nằm ở chỗ: để vinh danh Rượu, người đời trút bỏ xiêm y; còn muốn tán tụng Trà, cả thiên hạ lại đua nhau điểm trang tùng tiệm xúng xính.
Bên ngoài bộ âu phục màu hổ phách, ngài Ripple khoác thêm một chiếc áo tựa như áo choàng ngủ bằng lụa vàng. Ngài sắm vai Vị Quan Vàng, mình dát đầy rồng phượng, tháp chùa cao vút, hoa cỏ cùng pháo hoa. Còn Vị Quan Xanh, người mặc chiếc áo trùm che khuất bộ đồ xám ngọc trai của chàng Charles Lovely, mỗi bước đi qua phòng lại tựa hồ một hoa viên xanh biếc, muôn vàn cảnh sắc non nước thêu trên gấm thanh lam rung rinh theo từng nếp áo. Chỉ duy nhất hai bậc quan chấp sự của Ngày hội mới được đặc ân không phải đeo mặt nạ. Những người còn lại đều mang mặt nạ vàng với đôi mày son vếch lên cao vút góc thần tiên bên trên khóe mắt xẻ hình quả hạnh. Toàn cảnh trông như đồ gốm Minh triều sống dậy, đang cười đùa, đối đáp, chuyện trò và khiêu vũ cùng chính những chiếc tủ sơn mài từng giam giữ chúng.
Gian khiêu vũ bố trí các ngọn tháp nơi góc phòng, nơi con cái của Giới Tinh Hoa phục sức phỏng theo người Tây Vực xa xôi một cách chuẩn xác hơn[1]; lũ trẻ gật gù, ngó nghiêng rồi thỏ thẻ những cách ngôn khắc kỷ của Khổng Phu Tử mà chẳng hiểu lấy nửa lời, đứa nào đứa nấy đều đinh ninh rằng được dự tiệc của người lớn thật là thú vị tuyệt trần, và uống trà thật trong tách thật nơi cung điện nguy nga của riêng mình thì hơn đứt trò nhặt hạt sồi dầm nước mương trong nhà mát Doric mốc meo đầu đại lộ Công viên.
[1] Chúng để đuôi sam, thứ mà bậc Tiêu dao lớn tuổi chê là khó coi. Vả chăng, kiểu tóc người lớn quá đỗi cầu kỳ, chẳng thể vì một đêm vui mà phá hỏng.
Đèn lồng Trung Hoa đung đưa trên những sợi dây vàng chăng ngang tường đối tường, nơi những tấm gương mạ vàng cùng nến sáp phương Tây đều đã bị tháo bỏ. Ánh sáng phương Đông ấy làm dịu đi sắc xanh và vàng quyện hòa, biến không gian thành một buổi hoàng hôn rực rỡ lay động nhuốm ánh tà dương. Dọc hai bên sảnh khiêu vũ, ghế ngồi là những hình thù dị kỳ uốn lượn, rồng có cánh, đồ đồng phục phịch, ngỗng Trung Hoa, khỉ và vẹt mang những gam màu lục và đỏ son thô ráp; cách từng quãng thích hợp lại đặt những căn chòi nhỏ vừa vặn cho đôi lứa. Những chòi này cốt để khuyến khích sự nhã nhặn thân tình trong đối thoại chốn phong lưu.
Bên ngoài, nơi hành lang Rococo, những đóa hoa lạ hé nở và quả dị chín mọng dưới ánh đèn lồng; dẫu hoa làm bằng vải lanh ướp hương, chúng vẫn thừa sức làm vật trao tay tặng người đẹp đeo mặt nạ, còn quả thì chứa đầy mứt ngọt. Sau cùng, đây đó những ngọn đuốc gỗ đàn hương nghi ngút tỏa làn hương u hoài vào hoạt cảnh, uốn lượn từng làn khói thơm quanh những bóng hình muôn màu của đám hội. Thực tình mà nói, lớp sơn bóng phương Đông này mỏng mảnh hơn lệ thường, dẫu xét theo tiêu chuẩn tráng men. Nỗ lực tìm kiếm sự chân thực rốt cuộc chỉ làm hằn sâu thêm ranh giới giữa Đông và Tây: dẫu vậy phương Tây vẫn khoái trá đóng kịch chừng nào nó còn hợp với thói lịch thiệp chân chính, và âu cũng dễ hiểu khi Quốc gia Anh quốc trong thế kỷ mười tám vinh quang của nền văn minh Kitô giáo quyết không dung thứ bất kỳ điều gì thô bỉ.
Đây là dạ vũ hóa trang đầu tiên diễn ra kể từ khi Phyllida đem lòng say đắm chàng Francis Vernon, nàng tin chắc chàng sẽ chẳng bỏ lỡ dịp này để đến bên nàng. Ngay khi Giới Tinh Hoa tụ hội đông đủ (đúng bảy giờ rưỡi, bởi chậm trễ bị coi là thói phàm phu tục tử), nghi thức uống trà long trọng bắt đầu; đây không đơn thuần là việc bưng trà chuyền chén, mà là một nghi thức trang nghiêm hơn bội phần, được bày vẽ ra để nâng tầm biến cố cho xứng với sự trọng thể.
Vị Quan Vàng ngự trên một chiếc đôn ngà voi, chân đôn tạc hình móng vuốt chạm trổ hoa lá li ti, đình chùa và chim muông bay lượn. Đôn đặt trên bục nhỏ phủ gấm thêu, dưới chân bục là chiếc đệm nhung xanh biếc, nơi Vị Quan Xanh đang ngồi xếp bằng.
Ngài Ripple vỗ tay hai tiếng truyền rước Đoàn Trà vào. Dẫn đầu là hai nhạc công thong thả gõ vào những chiếc cồng hình đĩa bằng những chiếc muỗng lớn. Tiếp sau là sáu đứa trẻ mang những tượng Quan sứ lắc lư, đầu lưỡi thụt thò ngơ ngác nơi khóe miệng. Kế đến là người bưng Hộp Trà—một kiệt tác sơn mài lộng lẫy tuyệt trần. Hai bên Hộp Trà có hai bình Nam Kinh chứa đầy sữa tươi hộ tống. Sau rốt, một chiếc bàn sơn mài có bánh xe, bên trên phủ trướng rủ tua rua che chở một chiếc âu khổng lồ bằng sứ Minh quý hiếm nghi ngút hương hoa ngạt ngào, được đẩy vào trong vẻ tôn nghiêm, chậm rãi.
Quan khách rẽ lối cho đoàn rước tiến đến trước ngai ngà của Vị Quan Vàng. Chàng Công tử lập tức bước xuống, nhúng chiếc tách bé xíu vào âu, nhấp ba ngụm rồi thở dài khoan khoái. Sáu pho tượng Quan sứ lại lắc lư dữ dội hơn, cồng chiêng gióng giả từ ô cửa sổ cao nhất trên các tháp chùa, đoàn rước đổi đội hình rồi tiến sang phòng trên, nơi quan khách lũ lượt kéo theo để lần lượt uống từ những chén trà múc ra từ nguồn suối thiêng.
Giữa dòng người chen chúc, Phyllida—trong bộ váy xanh nhạt tựa nền trời tháng Ba—chợt thấy tà áo mình bị một bóng người cao gầy đeo mặt nạ, vận y phục màu vàng sẫm khẽ giật. Nhận ra những ngón tay trắng thon dài, nàng thì thầm: “Amor.”
Người đeo mặt nạ lắc đầu ra hiệu giữ im lặng, nhưng lát sau Phyllida đã lách được chén trà ra khỏi rìa đám đông, vội vã qua hành lang dẫn tới cửa ngách mở ra dãy hiên, nơi nàng đứng đợi người tình. Chỉ một phút sau, chàng đã ngồi xuống cạnh nàng.
Nàng quay sang chàng, hớn hở:
“Amor yêu dấu! Đây sẽ là vũ hội đầu tiên thiếp thực lòng cảm thấy vui sướng.”
Lời giãi bày ấy xem ra có phần bất công với biết bao giờ khắc êm đềm nàng từng đắm chìm trong tiếng vĩ cầm, kèn săn và kèn ô-boa.
“Sao hôm qua người đẹp của ta lại vắng bóng? Mê cung quả thực buồn tẻ khôn xiết khi thiếu vắng nàng Tiên nữ vốn yêu thích dạo bước nơi lối mòn rợp bóng cây.”
“Ôi! Amor, chúng ta bị lộ rồi.”
“Thật thế ư?” Vernon thản nhiên buông lời, chẳng chút bận tâm.
“Ngài Ripple mách với mẹ thiếp rằng thiếp đã trò chuyện với một quý ông suốt một tiếng rưỡi đồng hồ điểm.”
“Lão thầy dạy nhảy lắm chuyện!”
“Và hôm qua thiếp bị sai đi tìm dải ruy-băng cùng màu, một việc bất khả; thiếp dám chắc người ta cố tình giữ chân thiếp, đến khi nghe chuông điểm mười một giờ, thiếp không chịu nổi nữa bèn chạy vội về phía Vườn Curtain, trên đường đi chàng Công tử vẫy thiếp vào, xin chàng đừng giận nhé, Amor yêu dấu, ngài ấy tốt bụng quá chừng nên thiếp đã trót nói tên chàng rồi.”
“Khéo vẽ chuyện thật,” Vernon lẩm bẩm.
“Ngài ấy bảo thiếp tối nay hãy giới thiệu chàng với ngài, và quả quyết đôi ta sẽ thành đôi vào tháng Sáu.”
“Quỷ tha ma bắt! Ta hy vọng nàng đã bảo lão cút xéo đi chứ?”
“Cũng không hẳn,” Phyllida đáp, “thực tình ngài ấy tử tế quá nên thiếp đã hứa—ít nhất là nửa phần hứa hẹn sẽ làm vậy.”
“Họa vô đơn chí,” Vernon rủa, “đúng là ngữ quý ông do thợ may nặn ra, lắm lời tọc mạch. Nghe này! Ta không đời nào chịu để lão Horace Ripple đem mình ra làm đề tài bàn tán đâu. Ta dám cuộc lão đã vỗ về tay nàng, hử? Gọi nàng là bé cưng, buông lời tán tỉnh kiểu mấy lão già khọm chứ gì? Quân vô liêm sỉ!”
Phyllida co mình trước cơn lôi đình của người tình.
“Thực sự không có đâu chàng, thiếp đoan chắc ngài ấy chẳng hề làm vậy. Ngài cư xử vô cùng đứng đắn, một mực đoan trang mà thiếp chỉ ước sao Amor của thiếp cũng có được đôi phần.” Phyllida sực nhớ một thiếu nữ từng thốt ra những lời tương tự trong tập một cuốn Nàng Thơ Tráo Trở. Vernon không nén nổi nụ cười. “Thiếp e rằng mình chẳng muốn nghe chàng nói thêm câu nào nữa.”
Vernon bật cười thầm.
“Và để thiếp nói cho chàng hay, thưa ngài, thái độ của ngài chẳng xứng với ngài chút nào, vả lại thiếp đã trót xưng tên chàng rồi, sữa đã đổ thì khóc lóc phỏng có ích gì, thiên hạ ai chẳng rõ điều ấy.”
Một giọt lệ ngập ngừng nơi khóe mắt Phyllida, khiến mắt nàng càng thêm trong xanh thuần khiết, tựa hồ những hạt pha lê bao quanh viên bích ngọc càng tôn thêm vẻ diễm lệ.
“Nàng thơ bồng bột ngọt ngào,” Vernon cất lời; vốn đã khôn khéo giấu nhẹm tên thật của mình, chàng chẳng tiếc gì mà không tỏ ra rộng lượng.
Đáp lại chỉ là một tiếng nấc nghẹn ngào.
“Thôi mà, xin nàng đấy, em yêu,” chàng tiếp tục, nắm lấy bàn tay đang run rẩy, “đừng để buổi dạ hội đầu tiên của đôi ta biến thành cãi vã; ta đâu có bụng dạ trách nàng.”
“Nếu thấy xấu hổ vì chàng, thiếp đã chẳng đời nào hé răng,” nàng ngắt lời.
“Đúng thế, hỡi sinh linh kiều diễm, nhưng bởi đôi ta đã ước hẹn giữ kín mối tình này, và bởi đôi ta đều đồng lòng rằng những cuộc hẹn lén lút, tựa như trái cấm trộm hái, bao giờ cũng ngọt ngào nhất, nên ta mới ngạc nhiên khi nghe tin nàng đem kể cho thiên hạ.”
“Thiếp đâu có kể cho ai.”
“Nhưng thiên thần của ta ơi, nàng đã nói rồi đấy thôi.”
“Chẳng qua vì thiếp bị dồn ép. Chàng thì sướng rồi. Chàng là trang nam nhi lịch lãm, tự do tự tại, còn thiếp chỉ là phận gái non nớt.”
“Chân lý không thể chối cãi!”
“Giờ chàng lại giở giọng châm chọc, và thiếp thề là thiếp ghét cay ghét đắng thói mỉa mai ấy. Thực lòng, thiếp thấy tất cả chuyện này chỉ là sai lầm, ngày mai thiếp sẽ về lại Hampshire, còn chàng thì cứ việc quay về Haymarket của chàng đi.”
“Được thôi, thưa tiểu thư, một khi nàng đã khước từ tình cảm của ta, ta sẽ quay về Haymarket. Có lẽ tiểu thư thấy hả hê lắm khi làm tan nát trái tim một người đàn ông. Tiểu thư yên ổn nơi đồng xanh cỏ mượt của hạt Hampshire, dạo bước thanh thản giữa những cánh đồng hoa thủy tiên vàng rực rỡ dưới nắng hè.”
“Mùa hè làm gì có hoa thủy tiên.”
“Hỡi ôi! Thưa tiểu thư, ta vốn mù tịt về những thú vui đồng quê ấy.”
Điều này hoàn toàn xác thực, bởi thân mẫu ngài Vernon là một mệnh phụ từng cho rằng một chậu hoa kiểng ở phố Air còn đáng giá hơn cả cơ ngơi lộng lẫy nhất vương quốc này.
“Ta,” chàng tiếp tục, “suốt đời chôn chân nơi phố thị, dẫu lòng hằng mong tiếng chim cúc cu đánh thức lúc bình minh, nhưng rõ ràng từ nay ta đành vĩnh biệt những giấc mộng viển vông nhường ấy.”
Đến đây, ngài Vernon, kẻ thừa hưởng khiếu diễn xuất tài ba từ đàng ngoại, đã khéo léo để giọng nói vốn êm ru của mình nghẹn lại đầy bi cảm.
“Nhưng thiếp đâu muốn đôi ta hờn giận nhau mãi,” Phyllida phân bua.
Ngài Vernon ngoảnh mặt đi, có lẽ để giấu một giọt lệ.
“Về phần thiếp,” nàng tiếp tục, “thiếp sẵn lòng sống mãi như đôi ta đang sống lúc này.”
“Thiên thần của ta!”
“Nhưng miệng đời cay nghiệt, cứ chĩa vào chuyện riêng của một đứa con gái chẳng ra gì như thiếp, nên thiếp nghĩ—thiếp nghĩ——”
“Nàng nghĩ một đám cưới sẽ dập tắt miệng lưỡi thế gian. Nàng ngây thơ về sự đời quá đỗi! Kìa tiểu thư, một đám cưới vội vã chỉ càng làm thiên hạ khua môi múa mép rộn ràng hơn. Thôi nào, thôi nào, đừng bận tâm đến lão già Ripple. Lão biết tên ta rồi đấy. Nếu thích, lão cứ việc tìm đến. Ta cam đoan sẽ chẳng có thêm chuyện gì đâu.”
“Nhưng người ta sẽ rình rập đôi mình.”
“Thế thì ta đổi chỗ hẹn hò. Dù sao đi nữa, xin nàng, đêm nay hãy cứ vui trọn đã.” Nói đoạn, ngài Vernon đeo mặt nạ vào, cởi áo choàng ra rồi lộn trái mặc lại. “Nàng thấy chưa, người đẹp dấu yêu, ta vừa là sứ lại vừa là sơn mài, chẳng ai có thể bảo nàng thiên vị bên nào hơn. Lắng tai nghe xem! Tiếng vĩ cầm đã trỗi lên rồi—ta cùng vào khiêu vũ điệu gavotte đầu tiên đi.”
Phyllida khoác tay chàng cùng trở lại phòng khiêu vũ. Những chiếc mặt nạ biến gương mặt mọi người thành những hình nhân bất động vô hồn, khiến tiểu thư Courteen không kìm được mà liếc mắt nhìn ngài Charles Lovely; chàng đang ngồi xếp bằng trên chiếc đệm xanh biếc, và trái ngược với đám người hóa trang, trông chàng đích thị là một con người bằng xương bằng thịt. Có thoáng chốc nàng ngờ rằng ánh mắt chàng đã chạm phải mình, và khi chàng bước tới thỉnh cầu nàng ban vinh dự cùng sánh bước trong điệu gavotte thứ ba, nàng biết mình đã không lầm. Ngài Vernon lẳng lặng nhường bạn nhảy.
“Vị đối vũ ban nãy của nàng là ai vậy?” Charles ướm hỏi. “Thứ lỗi cho tôi,” chàng vội thêm vào khi thấy Phyllida ngập ngừng, “cách cư xử của tôi dạo này cũng man dại chẳng kém gì bộ y phục này.”
Chàng đã ghen tuông nhận ra những ngón tay của tiểu thư Courteen lưu lại trên cẳng tay bọc lụa sa-tanh của người kia lâu hơn mức cần thiết một thoáng.
“Làm sao ngài nhận ra thiếp?” Nàng tò mò hỏi, vẻ thẳng thắn.
“Chẳng khó khăn gì.”
“Nhưng thiếp đang đeo mặt nạ cơ mà?”
“Tôi chẳng để tâm đến chiếc mặt nạ—tôi nhìn thấy đôi mắt nàng.”
Phyllida cảm thấy gò má ửng hồng và mạch đập khẽ rộn ràng khắp châu thân. Quả thật, một lời tán tụng như thế thật êm tai xiết bao. Hơn nữa lại hết sức chân thành, bởi chàng quả đã nhận ra nàng xuyên qua chiếc mặt nạ vàng méo mó che khuất nét hồng nhan.
Điệu vũ mau chóng bắt đầu, dẫu Phyllida đắm chìm trong từng khoảnh khắc, nàng vẫn không thể không chú ý đến Amor đang đứng khuất nửa người sau lùm cây nơi hốc tường, dường như chàng đang cấm đoán nàng không được tận hưởng niềm vui quá đỗi.
Charles thấy thật khó gợi chuyện với bạn nhảy ngoài những lời xã giao tầm phào chốn vũ trường, và khi nàng ngày một lơ đãng theo từng nhịp bước, chàng đành để nàng rời đi khi khúc nhạc dứt mà chẳng tha thiết giữ nàng lại cho điệu tiếp theo. Chẳng mấy chốc chàng đã thấy nàng sánh bước cùng một bóng người đeo mặt nạ xanh rồi lẫn vào đám đông chập chờn. Lần trước chàng nhớ rõ kẻ đối vũ với nàng mặc đồ nâu viền vàng, vậy mà hai bóng hình lại giống nhau từ dáng điệu đến cử chỉ, và chàng có thể thề rằng đôi bàn tay ấy đích thị là một. Chắc chắn là cùng một người. Charles cắn móng tay vì bực bội, lòng dạ bồn chồn khôn xiết.
“Charles thân mến, chàng trai của ta, xin đừng gặm ngón tay như thế. Narcissus quả có tự say mê mình, nhưng đâu đến mức cuồng si tới độ tự ăn thịt chính mình như vậy.”
Charles quay lại theo tiếng nói quen thuộc của ngài Ripple.
“Xin thứ lỗi ngàn lần, ngài Công tử kính mến, tôi chỉ bực mình vì một chuyện cỏn con. Đêm hóa trang diễn ra khá là mỹ mãn đấy chứ.”
“Ta cũng nghĩ vậy,” ngài Công tử đáp, so lại kính một tròng rồi nhìn đám thần dân của mình bằng ánh mắt săm soi. “Hẳn là thế rồi, nhưng lòng ta chẳng bao giờ thanh thản được cho tới khi điệu Minuet Trọng thể khép lại đêm vui, dẫu vậy, ta tin cậu sẽ chẳng bao giờ thấy ta tự gặm nhấm tứ chi của mình đâu.”
Charles bật cười.
“Họ hưởng lạc nhẹ nhàng quá, thưa ngài.” Ngài Công tử lại ngắm nghía những con rối của mình.
“Gánh nặng vui chơi xem ra đè lên vai họ nhẹ tựa lông hồng, thế nhưng, Charles à, đôi khi ta cứ ngỡ mình thoáng thấy chút gượng gạo quá đỗi trong từng cử động của họ. Ta mong một vẻ duyên dáng bớt âu lo hơn, một sự buông thả bớt phần khuôn phép. Chiếc kính một tròng này thu nhỏ tầm vóc của họ, và cũng làm teo tóp luôn tầm quan trọng của họ; thú thật, nếu nhìn vào toàn cảnh, những động tác khiêu vũ ấy đối với ta chẳng khác nào trò xuẩn ngốc. Tuy nhiên, đừng để thái độ giễu đời của ta lây sang cậu—ta đã chứng kiến quá nhiều vũ hội rồi.”
“Vậy mà ngài vẫn muốn tôi kế vị ngài,” Charles nói. “Thề có Chúa, ngài Ripple, tôi sinh ra đâu phải để làm khán giả đứng nhìn.”
“Năng lượng của ta vẫn đủ để giữ vững ngai vị cho tới khi cậu chín chắn hơn. Thôi nào, Charles, hãy thừa nhận đi, tiền đồ ta trao cho cậu ắt sẽ khiến bao chàng trai xứng đáng hơn phải thèm thuồng.”
“Nhưng tôi còn có đam mê, cảm xúc, dục vọng, hoài bão.”
“Tất cả đều rất hợp thời,” ngài Công tử bình phẩm, “cho đến khi cậu chán ngấy việc phổ thơ vào đời thực. Chúng ta làm thơ, Charles ạ, cốt để trau chuốt cho áng văn xuôi của đời mình.”
“Có những người làm thơ cho đến hơi thở cuối cùng.”
“Thường là một kết cục cay đắng; nhưng thật tình, ta đâu muốn thúc ép cậu nhận lời. Cứ việc diễn những vở kịch của cậu, cứ tiêu sạch tiền của cậu, cứ phơi bày trái tim cho thần Cupid bắn phá, cứ phạm hàng ngàn hàng vạn điều dại dột để tuổi trung niên có cái mà tu tâm dưỡng tính.”
“Đó là gì vậy thưa ngài?”
“Một sự ăn năn thong dong.”
“Thưa ngài, tôi e rằng ngài đang biến những bản năng tự nhiên thành tơ lụa chẳng khác nào loài tằm.”
“Ồ, Charles, chẳng lẽ tơ lụa lại không phải thứ bài tiết bền bỉ hơn hầu hết những thứ khác sao? Cậu vẫn còn đang mải mê gặm những búp dâu non; còn ta đã nằm yên trong kén và sẽ đi vào hậu thế như một cánh bướm đêm đáng kính, được bảo chứng bằng tấm bia tưởng niệm trong Nhà thờ Thánh Simon ở Curtain Wells.”
“Thưa ngài, tôi ngờ rằng người đời sẽ chẳng bao giờ hô vang 'Đức Vua vạn tuế!' đối với tôi.”
“Rồi xem, rồi xem. Nhân tiện, cậu có biết tiểu thư Phyllida Courteen không? Mẹ nàng, một góa phụ có nhan sắc đẫy đà hệt như của hồi môn, đang trọ ở dãy Crescent đấy.”
Charles thoáng sững sờ.
“Hình như tôi có gặp cô ấy đôi ba lần nơi các dạ hội.”
“Dù sao thì cậu cũng biết mặt nàng.”
“Ồ vâng!” Chàng nhân vật chính của chúng ta đáp.
“Vậy thì ta tự hỏi liệu cậu có thể nhận ra nàng giữa muôn trùng mặt nạ này chăng.”
Charles lập tức hiểu ngay ý tứ câu hỏi.
“Nàng đang đứng đằng kia, cạnh cây cột thứ hai, trò chuyện với một kẻ đeo mặt nạ sứ—không, sơn mài chứ. Lạ thật.”
“Có gì lạ cơ?” Ngài Ripple ôn tồn hỏi.
“Dạ không có gì—chỉ là ảo giác do ánh đèn lồng thôi,” Charles giải thích.
Chắc chắn chàng không thể nhầm những ngón tay búp măng ấy được. Hơn nữa, chúng trông quen thuộc vô cùng. Chàng đã thấy chúng ở đâu rồi nhỉ?
“Hóa ra đó là tiểu thư Courteen,” ngài Công tử chăm chú nhìn về phía nàng. “Ừ, cậu chỉ điểm thì ta mới nhận ra nàng. Kẻ đối vũ với nàng là ai thế?”
“Cái đó thì tôi chịu,” Charles đáp giọng rầu rĩ.
“Thế thì, làm ơn tốt bụng dò la xem là ai hộ ta, cậu sẽ giúp ta một ân huệ lớn đấy. Hay là thôi—có lẽ đích thân ta đi hỏi thì hơn.”
Ngài Ripple nhận thấy nét ủ dột trên mặt ngài Lovely bèn vỗ vai chàng.
“Đừng có làm bộ mặt bất bình như thế, Charles. Thói tò mò đối với kẻ phàm tục là sự thô lỗ, nhưng với bậc đế vương, đó lại là ân huệ hạ cố. Trời đất ơi! Thời gian trôi mau quá!” Ngài Công tử vừa nói vừa thoăn thoắt lướt từ một câu danh ngôn sang một lẽ hiển nhiên. “Ta để cậu lại điều hành các Điệu nhảy Đồng quê nhé. Xin hãy làm cho chúng đậm chất Á Đông nhất có thể đấy.”
Với lời căn dặn ấy, Người đàn ông Nhỏ bé Vĩ đại lách mình bước qua Giới Tinh Hoa.
Charles nguyền rủa thậm tệ mấy điệu nhảy đồng quê. Chàng chẳng hề thấy buổi tối vui vẻ chút nào, chỉ ước sao được ngồi bên ánh lửa ấm cúng nơi quán Blue Boar, lắng nghe tiếng rì rào êm ả của những quân bài tây đang được xáo và chia. Chàng biết kiếm đâu ra hai trăm bảng để trả nợ cho Vernon bây giờ? Vernon—thề có Chúa...! giờ thì chàng đã nhận ra những ngón tay búp măng ấy rồi. Vernon! Đích thị là của Vernon, chàng có thể thề thốt điều đó. Đã bao lần chàng phải trơ mắt nhìn đôi tay thanh mảnh ấy gom sạch những đồng guinea của mình. Lòng chàng lại càng thêm bồn chồn rạo rực. Bất giác, chàng nhận thấy mọi ánh mắt đều đang đổ dồn về phía mình, và sực tỉnh nhận ra thời gian quả thực đang trôi mau, giờ dành cho các Điệu nhảy Đồng quê đã điểm.
Trong lúc đó, ngài Ripple vẫn hoài công tìm kiếm Phyllida cùng một kẻ đối vũ trong bộ đồ màu nâu viền vàng.