Nhưng trước tiên, tôi phải chuẩn bị thêm đất canh tác, vì giờ đây tôi đã có đủ hạt giống để gieo trên một mẫu đất. Trước khi làm việc đó, tôi đã mất ít nhất một tuần chỉ để chế tạo một cái cuốc. Khi hoàn thành, nó quả thực rất tệ, lại vô cùng nặng nề, khiến tôi phải tốn gấp đôi sức lực khi dùng đến. Dù vậy, tôi cũng vượt qua được công đoạn ấy, đem gieo hạt giống vào hai thửa đất phẳng phiu, rộng rãi gần ngôi nhà của mình nhất có thể, đúng theo ý muốn của tôi. Tôi dựng hàng rào thật chắc chắn xung quanh chúng, với những chiếc cọc đều được chặt từ loài cây mà trước đó tôi từng cắm xuống đất và biết rõ chúng có thể đâm chồi nảy lộc; nhờ thế, chỉ trong vòng một năm, tôi chắc chắn mình sẽ có một hàng rào sống xanh tốt, gần như chẳng cần tốn công sửa sang mấy. Công việc này ngốn của tôi không dưới ba tháng, bởi phần lớn thời gian đó rơi vào mùa mưa, khiến tôi không thể ra ngoài trời. Ở trong nhà, nghĩa là những lúc trời mưa gió không thể bước chân ra khỏi cửa, tôi tìm thấy niềm khuây khỏa qua những việc sau đây — luôn ghi nhớ rằng, suốt quãng thời gian làm việc, tôi thường tự dạo chơi bằng cách trò chuyện với con vẹt và dạy nó nói. Chẳng mấy chốc tôi đã dạy nó biết tên của chính mình, và cuối cùng nó có thể thốt lên khá rõ ràng từ “Poll”, từ ngữ đầu tiên mà tôi nghe thấy có người thốt lên trên hòn đảo này ngoài giọng nói của chính tôi. Do đó, đây không hẳn là công việc, mà là một sự trợ giúp cho công việc của tôi; bởi lúc này, như tôi đã nói, tôi đang gánh vác một trọng trách lớn như sau: Từ lâu, tôi đã nung nấu ý định tìm cách tự làm cho mình vài món đồ bằng đất nung, thứ mà thú thật tôi đang cực kỳ khao khát nhưng lại chẳng biết tìm mua ở đâu. Tuy nhiên, ngẫm lại cái nóng của khí hậu nơi đây, tôi tin chắc rằng nếu tìm được đất sét, tôi có thể nặn ra những chiếc vại đem phơi nắng cho thật khô, đủ cứng cáp và vững chãi để cầm nắm, cũng như đựng bất cứ thứ gì khô ráo và cần được bảo quản ở trạng thái đó. Vì điều này rất cần thiết cho việc chế biến ngô, bột, v.v., vốn là việc tôi đang làm, tôi quyết định nặn vài chiếc bình thật lớn, kích thước chỉ thích hợp để đứng vững như những cái chum, nhằm chứa đựng những gì cần cất vào đó.
Hẳn người đọc sẽ phải thương hại cho tôi, hoặc đúng hơn là bật cười khi nghe kể về những cách thức vụng về tôi từng dùng để nhồi nhào khối bột đất ấy; những món đồ kỳ quặc, méo mó và xấu xí mà tôi đã tạo ra; bao nhiêu cái bị sụp xuống, bao nhiêu cái bị bẹp dúm vì đất sét không đủ độ cứng để gánh nổi trọng lượng của chính nó; bao nhiêu cái đã nứt toác vì sức nóng quá gắt của mặt trời khi bị đem phơi quá vội vàng; và bao nhiêu cái vỡ thành từng mảnh chỉ vì một lần nhấc lên, lúc chưa khô lẫn khi đã khô hoàn chỉnh. Nói tóm lại, sau bao nhiêu vất vả nhọc nhằn để tìm đất sét — từ việc đào bới, nhào trộn, khuân vác về nhà cho đến khi tạo hình — mà sau chừng hai tháng lao động, tôi chẳng thể nặn nổi lấy hai món đồ bằng đất nung to tướng và xấu xí cho ra hồn (tôi chẳng dám gọi chúng là chum vại).
Tuy nhiên, vì ánh nắng mặt trời đã sấy khô và nung cứng ngắc hai cái vại ấy, tôi vô cùng cẩn trọng nhấc chúng lên rồi đặt vào trong hai chiếc giỏ mây lớn mà tôi đã đan sẵn riêng cho chúng, cốt để chúng không bị vỡ. Khoảng trống thừa ra giữa vại và giỏ, tôi nhét thật đầy rơm lúa mì và lúa đại mạch. Tôi nghĩ rằng hai chiếc vại này, nếu luôn được giữ khô ráo, sẽ rất thích hợp để đựng ngô hạt khô của tôi, và có lẽ cả bột mì nữa khi ngô đã được giã nhỏ.
Dù tôi đã thất bại thảm hại trong dự định làm những chiếc vại lớn, nhưng bù lại, tôi đã thành công hơn khi chế tạo vài món đồ nhỏ hơn; chẳng hạn như những chiếc nồi tròn nhỏ, đĩa dẹt, bình đựng nước, nồi đất nấu canh, cùng bất cứ thứ gì đôi tay tôi xoay sở được; và sức nóng của mặt trời đã nung chúng khô cứng hoàn toàn.
Nhưng tất cả những thứ ấy vẫn chưa đáp ứng được mục đích của tôi, đó là kiếm cho bằng được một cái nồi đất có thể chứa chất lỏng và chịu được lửa, điều mà không cái nào trong số những món trên làm được. Chuyện là một hôm, khi tôi nhóm một ngọn lửa khá lớn để nấu thức ăn, lúc dập lửa xong xuôi, tôi tình cờ nhìn thấy một mảnh vỡ từ một trong những vật dụng bằng đất nung của mình nằm trong đống tro tàn, đã bị nung cứng như đá và đỏ hỏn như một viên gạch ngói. Tôi vô cùng ngạc nhiên đến mức thích thú, tự nhủ rằng chắc chắn người ta có thể nung chín nguyên vẹn cả cái nồi, nếu như những mảnh vỡ của chúng đã có thể chịu được lửa như thế.
Điều này thúc đẩy tôi nghiên cứu cách điều chỉnh ngọn lửa sao cho có thể nung chín được vài cái nồi. Tôi chẳng hề có khái niệm gì về lò nung gốm như những người thợ gốm vẫn dùng, cũng chẳng biết cách tráng men bằng chì dù tôi có sẵn một ít chì trong tay. Thay vào đó, tôi xếp ba chiếc nồi đất nhỏ và hai hoặc ba cái vại chồng chất lên nhau thành một đống, rồi chất củi vây quanh tứ phía, bên dưới là một đống than hồng rực. Tôi liên tục tiếp thêm củi tươi vào vòng ngoài lẫn trên đỉnh đống lửa, cho đến khi thấy những cái nồi bên trong đỏ rực lên từ trong ra ngoài mà quan sát kỹ thì chúng hoàn toàn không bị nứt nẻ gì cả. Khi thấy chúng đã đỏ lựng một màu trong suốt, tôi cứ để mặc chúng trong cái nóng ấy chừng năm đến sáu tiếng đồng hồ, cho đến khi nhận ra một trong số những cái nồi, tuy không nứt, nhưng đã bắt đầu chảy mềm ra; bởi lớp cát trộn lẫn trong đất sét đã tan chảy vì sức nóng dữ dội ấy, và nếu tôi cứ tiếp tục thì nó sẽ biến thành thủy tinh. Thế là tôi bèn giảm lửa từ từ cho đến khi những cái nồi bắt đầu bớt sắc đỏ; và thức canh suốt cả đêm để lửa không tàn quá nhanh, sáng hôm sau tôi thu được ba chiếc nồi đất rất tốt (tôi không dám khen là đẹp mắt) cùng hai cái vại bằng đất nung khác, đã được nung cứng như mong đợi, trong đó có một chiếc được tráng bóng hoàn toàn bởi lớp cát chảy ra.
Sau thí nghiệm này, tôi khỏi phải nói cũng biết là mình không hề thiếu thốn bất kỳ loại đồ gốm nào phục vụ cho sinh hoạt nữa. Nhưng tôi buộc phải thừa nhận rằng hình thù của chúng thì vô cùng kỳ quặc, như bất cứ ai cũng có thể đoán được, khi mà tôi chẳng có cách nào tạo hình chúng ngoài việc bắt chước lũ trẻ nặn bánh bùn, hoặc như một người phụ nữ chưa từng học qua cách nhào bột lại bày đặt làm bánh.
Chưa từng có niềm vui nào trước một vật mọn màng lại sánh được với niềm vui của tôi khi phát hiện ra mình đã tự tay nặn được một chiếc nồi đất chịu được lửa. Tôi hầu như không đủ kiên nhẫn chờ cho chúng nguội hẳn trước khi đặt ngay một cái lên bếp, đổ ít nước vào để luộc chín một ít thịt, và chiếc nồi đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ ấy. Với một mẩu thịt dê, tôi nấu được một nồi súp vô cùng ngon lành, dẫu rằng tôi vẫn còn thiếu bột yến mạch cùng vài nguyên liệu cần thiết khác để món ăn đạt được hương vị hoàn hảo như lòng mong đợi.
Mối bận tâm tiếp theo của tôi là sắm cho bằng được một chiếc cối đá để giã hoặc nghiền ngô; bởi vì nếu trông chờ vào cối xay gió thì với một đôi tay này, tôi chẳng bao giờ với tới được cái đỉnh cao nghệ thuật ấy. Để khỏa lấp sự thiếu thốn này, tôi gặp vô vàn khó khăn; vì trong tất cả các nghề trên đời, tôi vốn dĩ hoàn toàn không có khiếu làm thợ đá cũng như chẳng thành thạo bất kỳ nghề nào khác, trong tay lại chẳng có lấy một cỗ dụng cụ nào để thực hiện. Tôi đã tốn không biết bao nhiêu ngày trời để tìm cho ra một tảng đá lớn vừa đủ để đục khoét lòng trũng và làm thành một chiếc cối, nhưng hoàn toàn công cốc, chẳng tìm thấy gì ngoài những khối đá nguyên khối vắt ngang vách núi mà tôi chẳng có cách nào đào hay đục tách chúng ra được. Hơn nữa, những phiến đá trên đảo này vốn chẳng đủ độ cứng, tất cả đều là loại đá cát dễ bở tơi, không thể chịu nổi sức nặng của một chiếc chày giã, lại càng không thể dùng để giã ngô mà không làm ngô lẫn đầy cát đất. Thế nên, sau rất nhiều thời gian hoài phí vào việc tìm kiếm đá, tôi đành bỏ cuộc và quyết định đi tìm một khúc gỗ cứng thật lớn. Quả nhiên, việc này dễ dàng hơn nhiều. Tôi chọn một khúc to hết sức có thể mang vác, dùng búa rìu đẽo gọt phần vỏ bên ngoài cho tròn trịa, rồi với sự trợ giúp của lửa cùng vô vàn công sức lao động, tôi khoét được một cái lõm ở giữa, y như cách những người da đỏ ở vùng Brazil làm thuyền độc mộc vậy. Tiếp theo, tôi chế tạo một chiếc chày giã thật lớn và nặng làm bằng thứ gỗ có tên là gỗ thiết mộc; tôi chuẩn bị sẵn sàng mọi thứ để chờ đến mùa thu hoạch ngô kế tiếp, với dự tính sẽ xay, hay đúng hơn là giã chúng thành bột để làm bánh mì.
Khó khăn kế tiếp của tôi là làm ra một cái rây hoặc sàng để lọc bột, tách bột mịn ra khỏi cám và trấu; nếu không có thứ này, tôi thấy chẳng có cách nào làm nổi bánh mì. Đây là một việc cực kỳ hóc búa ngay cả khi mới chỉ suy nghĩ đến, bởi lẽ hiển nhiên là tôi chẳng có lấy chút vật liệu cần thiết nào để làm nó — ý tôi là loại vải bố mỏng mịn hoặc chất liệu chuyên dùng để sàng bột. Và tại đây, tôi đã khựng lại hoàn toàn trong nhiều tháng trời, thực sự chẳng biết phải tính sao. Vải lanh thì tôi chẳng còn sót lại gì ngoài những mảnh giẻ rách; lông dê thì tôi chịu chết chẳng biết cách dệt hay kéo sợi; mà dẫu có biết đi chăng nữa, ở đây cũng chẳng có nổi một cỗ công cụ nào để làm việc đó. Biện pháp duy nhất mà tôi tìm ra là cuối cùng tôi chợt nhớ ra trong số quần áo của các thủy thủ vớt được từ con tàu đắm, có vài chiếc khăn quàng cổ bằng vải calico hoặc vải mù-xinh (muslin); từ những mảnh vải đó, tôi đã chắp vá làm được ba chiếc rây nhỏ vừa vặn cho công việc sàng lọc. Nhờ thế tôi đã tạm xoay sở được trong vài năm; còn sau đó ra sao, tôi sẽ kể lại ở đúng phần của nó.
Công đoạn nướng bánh là điều tiếp theo cần phải tính đến, và tôi phải tự hỏi bản thân xem mình sẽ làm bánh mì thế nào khi thu hoạch được ngô; bởi trước hết, tôi hoàn toàn không có men nở. Về khoản đó thì chẳng có cách nào khỏa lấp được, nên tôi cũng chẳng bận tâm nhiều làm gì. Nhưng về phần cái lò nướng thì quả thực tôi vô cùng đau đầu. Cuối cùng, tôi cũng nghĩ ra được một cách thử nghiệm cho vấn đề này, đó là: tôi nặn ra vài chiếc vại đất rất rộng miệng nhưng nông lòng, tức là đường kính khoảng hai feet mà độ sâu chưa tới chín inch. Tôi đem chúng đi nung trong lửa y như những món đồ trước rồi cất đi. Mỗi khi muốn nướng bánh, tôi đốt một đống lửa thật lớn trên ô lò mà tôi đã lát bằng những viên gạch vuông do chính tay mình nhào nặn và nung đúc; nhưng thú thật là gọi chúng là gạch vuông thì hơi quá lời.
Khi củi đã cháy hầu như thành than hồng hoặc than sống, tôi cào chúng tản đều ra khắp mặt lò sao cho phủ kín mọi ngóc ngách, rồi cứ để vậy cho đến khi lò thật nóng. Kế đến, tôi quét sạch toàn bộ than hồng đi, đặt ổ bánh mì của mình vào trong, úp ngược chiếc vại đất lên trên, rồi kéo số than hồng xung quanh tấp sát vào thành ngoài của vại để giữ nhiệt và tiếp thêm hơi ấm. Cứ thế, chẳng khác nào được nướng trong chiếc lò tuyệt vời nhất trên đời, tôi nướng những ổ bánh mì lúa mạch của mình, và chẳng mấy chốc mà kiêm luôn cả chân thợ làm bánh ngọt cừ khôi; vì tôi còn tự làm cho mình vài chiếc bánh ngọt và bánh pudding bằng gạo nữa. Tuy nhiên tôi không làm bánh nướng nhân thịt, bởi tôi chẳng có gì để nhét vào nhân cho cam, giả sử có đi chăng nữa thì ngoài thịt chim hay thịt dê, tôi cũng chẳng còn nguyên liệu nào khác.
Chẳng có gì lạ khi tất cả những công việc này đã ngốn của tôi phần lớn thời gian của năm thứ ba đặt chân lên hòn đảo này; bởi cần phải nhớ rằng xen kẽ giữa những công việc đó, tôi vẫn phải lo quản lý mùa màng và việc đồng áng mới của mình. Tôi thu hoạch ngô đúng vụ, vận chuyển về nhà gọn gàng nhất có thể, rồi cất trữ nguyên cả bông trong những chiếc giỏ lớn cho đến khi có thời gian tuốt hạt, vì tôi chẳng có nổi một khoảng sân nào để đập lúa, hay bất kỳ dụng cụ nào chuyên dùng cho việc đó.
Và quả thực, khi số lượng ngô dự trữ ngày một tăng lên, tôi thực sự thấy cần phải cất những cái vạ lớn hơn; tôi cần một nơi để cất giữ chúng, bởi sản lượng ngô thu về nay đã dồi dào đến mức tôi thu được khoảng hai mươi giạ lúa mạch, và lúa gạo cũng chừng đó hoặc thậm chí còn hơn thế. Cực chẳng đã, tôi quyết định bắt đầu sử dụng chúng thật thoải mái, vì nguồn dự trữ bánh mì của tôi đã cạn sạch từ lâu rồi; đồng thời, tôi cũng tự nhủ sẽ xem xét lượng ngô bao nhiêu là đủ dùng cho cả một năm, và từ nay sẽ chỉ gieo trồng một vụ mỗi năm thôi.
Tổng kết lại, tôi nhận ra bốn mươi giạ lúa mạch và lúa gạo nhiều hơn rất nhiều so với mức tôi có thể tiêu thụ trong suốt một năm; thế là tôi quyết định năm nào cũng sẽ gieo trồng đúng chừng ấy lượng hạt giống y như năm ngoái, với hy vọng ngần ấy sản lượng sẽ cung cấp cho tôi đầy đủ bánh mì và các thứ khác.
Suốt quãng thời gian làm những công việc này, bạn có thể đoán chắc rằng tâm trí tôi không ít lần hướng về khung cảnh vùng đất mà tôi từng nhìn thấy từ phía bên kia hòn đảo. Trong lòng tôi nhen nhóm những ước ao thầm kín giá mà mình được đặt chân lên bờ bên đó, tưởng tượng rằng khi đã thấy đất liền và một xứ sở có người ở, biết đâu tôi sẽ tìm ra cách nào đó để đi xa hơn, và cuối cùng có lẽ sẽ tìm thấy cơ hội trốn thoát.
Nhưng ngặt một nỗi, suốt thời gian ấy tôi lại chẳng hề tính toán đến những hiểm nguy của một canh bạc liều lĩnh như vậy, rằng bản thân có thể rơi vào tay đám dã nhân, và biết đâu chăng nữa, lại là thứ dã nhân mà tôi có lý do để e sợ hơn cả sư tử và hổ ở châu Phi. Rằng nếu một khi đã lọt vào tay chúng, cơ hội bị giết hại của tôi sẽ là một chọi hơn một nghìn, và rất có thể sẽ bị chúng ăn thịt; vì tôi từng nghe nói rằng cư dân vùng bờ biển Caribbean đều là những kẻ ăn thịt người đồng loại, và dựa vào tọa độ vĩ tuyến, tôi thừa biết mình chẳng cách bờ biển đó là bao. Rồi giả sử bọn chúng không ăn thịt người đi chăng nữa, chúng vẫn có thể giết chết tôi, y như số phận của biết bao người châu Âu từng sa chân vào tay chúng, ngay cả khi những người đó đi theo nhóm mười hay hai mươi người — huống chi là tôi, đơn thương độc mã và chẳng có nổi một chút khả năng tự vệ. Tất cả những điều đó, những thứ lẽ ra tôi phải suy tính thật thấu đáo và quả thực sau này tôi cũng đã nghĩ đến, nhưng lúc đầu lại chẳng hề mang đến cho tôi chút e sợ nào, khiến đầu óc tôi cứ cuồng nhiệt hướng về ý định vượt biển sang bờ bên kia.
Lúc này, tôi lại ao ước có được cậu bé Xury và chiếc xuồng lớn gắn cánh buồm hình tai cợt từng cùng tôi giương buồm vượt qua hơn một ngàn dặm dọc bờ biển châu Phi; nhưng điều đó chỉ là vô ích. Thế là tôi nghĩ đến việc đi xem lại chiếc thuyền cứu sinh của con tàu, thứ mà như tôi đã thuật lại, từng bị sóng gió đánh dạt lên bờ từ đận chúng tôi gặp nạn đắm tàu. Nó vẫn nằm gần như chỗ cũ, nhưng lệch đi đôi chút, bị sức mạnh của sóng gió lật úp gần như ngửa bụng lên trời, tựa vào một doi cát cao và gập ghềnh, xung quanh chẳng có lấy một giọt nước. Nếu tôi có đủ tay chân để sửa chữa và hạ thủy nó, thì chiếc thuyền ấy hoàn toàn có thể dùng được và tôi đã có thể xuôi theo nó trở về Brazil một cách dễ dàng. Thế nhưng, lẽ ra tôi phải lường trước được rằng việc lật ngửa nó lại cho đáy hướng xuống dưới cũng bất khả thi chẳng khác nào dời cả hòn đảo này vậy. Dù vậy, tôi vẫn lội vào rừng, chặt những khúc cây làm đòn bẩy và con lăn, mang ra chỗ chiếc thuyền với quyết tâm thử xem mình làm được đến đâu. Tôi tự nhủ rằng nếu chỉ cần lật được nó xuống, tôi có thể khắc phục những hư hỏng, và thế là ta đã có một con thuyền tuyệt hảo để thản nhiên ra khơi.
Quả thực, tôi chẳng tiếc công sức cho công cuộc dã tràng xe cát này, và ngốn mất khoảng ba hay bốn tuần cho nó. Cuối cùng, nhận thấy việc nhấc bổng nó lên bằng chút sức lực ít ỏi của mình là điều không tưởng, tôi bèn quay sang cuốc bỏ lớp cát bên dưới để khoét rỗng chân, khiến nó phải tự đổ sập xuống, đồng thời dựng những khúc gỗ để chèn và định hướng cho nó rơi đúng chiều.
Nhưng khi đã làm xong việc đó rồi, tôi vẫn hoàn toàn bất lực chẳng thể lay chuyển nổi nó, hay luồn tay xuống dưới, chứ đừng nói chi đến chuyện dịch chuyển nó tiến về phía hướng nước. Thế là tôi đành ngậm ngùi bỏ cuộc. Thế nhưng, dù đã từ bỏ hy vọng vào chiếc thuyền cứu sinh, khao khát được mạo hiểm vượt biển sang đất liền của tôi chẳng những không giảm đi mà ngược lại còn tăng lên, khi mà con đường dẫn đến điều đó dường như là bất khả thi.
Điều này cuối cùng đã khiến tôi vắt óc suy tính xem liệu mình có thể tự đục đẽo một chiếc thuyền độc mộc (canoe hoặc periagua) giống như cách mà thổ dân ở những vùng khí hậu đó vẫn làm hay không — làm ngay cả khi không có dụng cụ, hay nói đúng hơn là chẳng có nổi đôi tay trợ giúp, từ thân của một cỗ cây khổng lồ. Tôi không chỉ nghĩ điều đó khả thi mà còn vô cùng dễ dàng, và cực kỳ đắc ý với ý tưởng tự tay chế tạo nó, lại thêm phần thuận lợi hơn hẳn so với bất kỳ người da đen hay thổ dân da đỏ nào. Ấy vậy mà tôi lại hoàn toàn quên bẵng đi cái bất lợi đặc thù mà mình phải gánh chịu so với họ — đó là sự thiếu vắng chân tay để di chuyển nó xuống nước sau khi đã hoàn thành. Một thử thách còn khó vượt qua hơn gấp vạn lần so với mọi hậu quả do thiếu dụng cụ mà họ có thể gặp phải. Bởi vì thử hỏi có ích gì khi tôi chọn được một cây cổ thụ to lớn trong rừng, tốn bao công sức hạ gục nó, rồi giả sử với những dụng cụ trong tay, tôi có thể đẽo gọt phần vỏ ngoài ra hình thù chuẩn xác của một chiếc thuyền, đốt lửa hoặc đục khoét phần bên trong để làm cho nó rỗng ruột, biến nó thành một chiếc thuyền hoàn chỉnh — nếu như sau tất cả những việc đó, tôi lại buộc phải bỏ mặc nó y nguyên tại nơi tôi tìm thấy, và hoàn toàn bất lực không thể hạ thủy nó xuống mặt nước?
Lẽ ra người ta phải nghĩ rằng trong suốt quá trình đóng chiếc thuyền này, trong tâm trí tôi không thể nào không mảy may suy nghĩ đến việc làm thế nào để đưa nó ra biển. Thế nhưng, tâm trí tôi lại quá đỗi đắm chìm vào chuyến hải trình vượt biển trên con thuyền ấy, đến mức chưa từng có lấy một lần tôi cân nhắc xem mình sẽ đưa nó rời khỏi mặt đất bằng cách nào. Và thực chất, việc chèo lái nó vượt qua bốn mươi lăm dặm đường biển còn dễ dàng hơn gấp bội so với việc kéo nó dịch chuyển dù chỉ khoảng bốn mươi lăm sải đất từ nơi nó nằm ra đến mặt nước để thả nổi.
Tôi bắt tay vào làm chiếc thuyền này y như một kẻ đần độn nhất trong lịch sử loài người lúc bấy giờ còn chút tỉnh táo. Tôi tự mãn với bản án thiết kế của mình mà chẳng thèm xác định xem bản thân có đủ sức hoàn thành nó hay không. Không phải là những khó khăn khi hạ thủy con thuyền không hề thoáng qua đầu tôi, nhưng tôi lại tự dập tắt những thắc mắc ấy bằng câu trả lời ngớ ngẩn thế này: “Cứ làm xong xuôi cái đã rồi tính; ta đảm bảo thế nào cũng tìm ra cách lôi nó đi khi hoàn thành cho mà xem.”
Đó là một phương pháp vô cùng quái gở và ngược đời; nhưng sự nôn nóng của trí tưởng tượng đã chiến thắng, và thế là tôi lao vào làm. Tôi đốn ngã một cây tuyết tùng, và tôi hoài nghi không biết vua Solomon ngày xưa có kiếm được cây nào như thế để xây dựng Ngôi đền Jerusalem hay không. Phần gốc sát mặt đất của nó có đường kính lên tới năm feet mười inch, còn ở đầu bên kia, sau khoảng cách hai mươi hai feet, đường kính vẫn đạt bốn feet mười inch; qua đoạn ấy, thân cây mới nhỏ dần lại một lúc trước khi tẻ thành các nhánh lớn. Tôi đã phải tốn vô vàn công sức mới đốn hạ được cây cổ thụ này; tôi mất tròn hai mươi ngày chỉ để hì hục chặt đẽo phần gốc; tốn thêm mười bốn ngày nữa để cắt bỏ các cành nhánh cùng phần chỏm cây tỏa rộng khổng lồ, thứ mà tôi đã phải bổ rìu qua bằng một thứ lao động nhọc nhằn không sao diễn tả nổi. Sau đó, tôi mất thêm trọn một tháng trời để gọt giũa và đẽo gọt cho nó ra dáng cân đối, hình hài gần giống với phần đáy của một chiếc thuyền để nó có thể nổi thẳng thắn như phải thế. Tôi lại tiếp tục tốn gần ba tháng ròng rã để khoét rỗng bên trong và đục đẽo cho ra hình thù một chiếc thuyền chính hiệu. Quả thực, tôi đã làm việc này mà không dùng đến lửa, hoàn toàn bằng vồ và đục, cùng với sức lao động cật lực cho đến khi biến nó thành một chiếc thuyền độc mộc vô cùng đẹp mắt, đủ sức chuyên chở tới sáu mươi sáu người, và nhờ thế tất nhiên là dư sức chở cả tôi lẫn toàn bộ hàng hóa của mình.
Khi hoàn tất công việc này, tôi vô cùng sung sướng và tự hào. Con thuyền thực sự lớn hơn bất kỳ chiếc thuyền độc mộc nào làm từ một thân cây duy nhất mà tôi từng thấy trong đời. Bạn có thể chắc chắn rằng nó đã ngốn của tôi không biết bao nhiêu nhát búa nhọc nhằn; và giả sử tôi đưa được nó xuống nước, tôi không mảy may nghi ngờ rằng mình sẽ bắt đầu chuyến hải trình điên rồ nhất và bất khả thi nhất từng được thực hiện trong lịch sử.
Thế nhưng, mọi mưu tính của tôi nhằm đưa nó xuống nước đều phá sản hoàn toàn, dẫu rằng chúng cũng ngốn của tôi không biết bao nhiêu là công sức lao động. Nó nằm cách mặt nước chừng một trăm thước, chẳng hơn là bao; nhưng trở ngại đầu tiên là địa thế lại dốc ngược lên phía con lạch. Chà, để xóa bỏ nỗi nản lòng này, tôi quyết định cuốc xới bề mặt đất để tạo ra một con dốc thoải. Tôi bắt đầu làm việc đó, và nó ngốn của tôi một lượng công sức khổng lồ (nhưng nào ai tiếc công sức khi trước mắt là sự tự do giải thoát chứ?); thế nhưng khi đã đào thủng được con dốc và giải quyết xong trở ngại đó, tình hình vẫn y nguyên như cũ, bởi tôi hoàn toàn bất lực không thể lay chuyển nổi chiếc thuyền độc mộc ấy chẳng khác nào chiếc thuyền cứu sinh trước kia. Kế đến, tôi đo đạc khoảng cách đất đai và quyết định đào một cái vũng tàu hoặc con kênh dẫn nước tiến sát đến chỗ con thuyền, vì tôi không thể đưa con thuyền đến với mặt nước. Thế rồi, tôi bắt đầu công việc này; và khi dấn thân vào nó, tính toán xem sẽ phải đào sâu bao nhiêu, rộng chừng nào, đất cát dồn ứ sẽ phải hất đi đâu, tôi nhận ra rằng với số lượng nhân công ít ỏi chẳng có ai ngoài chính mình, tôi sẽ phải mất tới mười hoặc mười hai năm mới mong hoàn thành nổi. Bởi vì bờ biển nằm quá cao, khiến cho ở điểm thượng nguồn, rãnh đào sẽ phải sâu ít nhất là hai mươi feet. Cuối cùng, dù vô cùng nuối tiếc, tôi đành phải từ bỏ cả nỗ lực này.
Điều này khiến tôi đau lòng khôn xiết; và giờ đây, dẫu đã quá muộn màng, tôi mới ngấm thía sự ngu ngốc của việc bắt tay vào làm một công việc trước khi tính toán kỹ lưỡng chi phí, và trước khi tự lượng sức mình xem có đủ khả năng đi đến cùng hay không.
Ngay giữa lúc đang thực hiện công trình này, tôi đã hoàn thành năm thứ tư sống tại chốn này, và cử hành ngày kỷ niệm của mình với lòng thành kính cùng sự an ủi trọn vẹn hơn bao giờ hết. Bởi vì qua việc không ngừng học hỏi và chuyên chú áp dụng Lời Chúa, cùng với sự trợ giúp từ ân điển của Ngài, tôi đã thu nhận được một thứ nhận thức hoàn toàn khác biệt so với trước kia. Tôi mang trong mình những quan niệm mới mẻ về vạn vật. Giờ đây, tôi nhìn thế giới như một chốn xa xôi nào đó chẳng mảy may dính líu gì đến mình, không còn bất kỳ kỳ vọng nào vào nó, và quả thực cũng chẳng còn chút ham muốn nào với nó nữa. Nói tóm lại, tôi chẳng còn chút vướng bận nào với thế gian, và cũng chẳng đời nào có cơ hội vướng bận trở lại. Vì thế, tôi nghĩ mình có thể nhìn nó — hay có lẽ sau này chúng ta cũng sẽ nhìn nó theo cách đó — như một nơi chốn ta từng sống qua, nhưng nay đã bước ra ngoài. Và tôi hoàn toàn có thể lặp lại lời của tổ phụ Abraham thưa với Dives rằng: “Giữa ta và ngươi đã có một vực sâu thăm thẳm được thiết lập sẵn.”
Trước hết, tôi đã được tách biệt hoàn toàn khỏi mọi thói hư tật xấu của thế gian ở chốn này; tôi không còn vướng bận dục vọng của thể xác, ham muốn của con mắt, hay sự kiêu ngạo của cuộc đời. Tôi chẳng có gì để thèm thuồng khao khát, vì tôi đang sở hữu mọi thứ mà khả năng của mình có thể thụ hưởng lúc bấy giờ. Tôi là chúa tể của toàn bộ điền trang này; hoặc nếu thích, tôi có thể tự xưng là vua hay hoàng đế cai trị cả vùng đất mà tôi đang chiếm giữ trong tay. Chẳng hề có đối thủ; tôi không có kẻ tranh giành, chẳng ai tranh chấp vương quyền hay quyền thống trị với tôi. Tôi có thể trồng trọt những vựa ngô chất đầy tàu, nhưng tôi chẳng có nhu cầu sử dụng đến chúng, thế nên tôi chỉ để cho lượng ngô mọc lên vừa đủ với nhu cầu sử dụng của mình. Tôi có dư dả rùa cạn lẫn rùa biển, nhưng thỉnh thoảng chỉ cần bắt một con là đã vượt quá khả năng tiêu thụ của tôi rồi. Tôi có đủ gỗ để đóng cả một hạm đội tàu; và tôi có đủ nho để làm rượu, hoặc phơi khô thành nho khô chất đầy chiếc hạm đội ấy ngay khi nó được đóng xong.
Thế nhưng, tất cả những gì tôi có thể sử dụng mới chính là những thứ có giá trị thực sự. Tôi có đủ cái để ăn và trang trải cho các nhu cầu của mình, vậy thì tất cả những thứ dư thừa kia có ý nghĩa gì với tôi cơ chứ? Nếu tôi giết nhiều thịt hơn mức mình có thể ăn, thì chó hoặc loài gặm nhấm sẽ ăn nó; nếu tôi gieo trồng nhiều ngô hơn mức mình tiêu thụ, thì nó sẽ bị mục nát; những thân cây tôi đốn hạ cứ nằm phơi sương phơi nắng rồi mục rữa trên mặt đất; tôi chẳng thể dùng chúng vào việc gì khác ngoài làm củi đốt, mà nhu cầu đốt củi của tôi thì chẳng có gì ngoài việc nấu nướng thức ăn.
Tóm lại, bản chất và trải nghiệm thực tế về vạn vật đã mách bảo tôi, sau những ngẫm ngợi thấu đáo, rằng mọi thứ tốt đẹp trên thế gian này chỉ thực sự hữu ích đối với chúng ta chừng nào chúng phục vụ cho nhu cầu sử dụng của chính ta; và bất kể ta có vơ vét tích trữ bao nhiêu để cho kẻ khác đi chăng nữa, thì thứ ta thực sự thụ hưởng cũng chỉ vỏn vẹn trong giới hạn những gì ta có thể dùng mà thôi, chẳng hơn một tí nào. Kẻ hà tiện bủn xỉn nhất trần đời chắc chắn cũng sẽ được chữa khỏi cái thói tham lam nếu hắn rơi vào hoàn cảnh của tôi; bởi vì những gì tôi đang sở hữu nhiều hơn mức tôi biết phải làm gì với chúng đến vô cùng tận. Tôi chẳng còn chỗ nào cho những ham muốn, ngoại trừ những thứ tôi chưa có, dẫu chúng chỉ là những vật mọn nhưng thực ra lại vô cùng hữu ích đối với tôi. Như tôi từng úp mở trước đó, tôi có một bọc tiền, gồm cả vàng lẫn bạc, trị giá khoảng ba mươi sáu bảng Anh. Hỡi ôi! Thứ tài sản khốn khổ và vô tích sự ấy cứ nằm ì ra đó; tôi chẳng đời nào còn cần đến nó nữa; và tôi thường tự nhủ rằng mình sẵn sàng đổi một nắm tiền ấy lấy một tá tẩu hút thuốc, hay một chiếc cối xay tay để nghiền ngô; thậm chí, tôi sẵn sàng dâng tất cả số tiền đó chỉ để đổi lấy chỗ hạt giống củ cải đỏ và cà rốt trị giá sáu xu gửi từ nước Anh sang, hoặc lấy một nhúm đậu Hà Lan và đậu trắng, kèm theo một lọ mực. Ở vào hoàn cảnh lúc bấy giờ, tôi chẳng thu được mảy may lợi lộc hay chút ích lợi nào từ chúng cả. Chúng cứ nằm lì trong ngăn kéo, mốc meo theo hơi ẩm của hang động vào những mùa mưa gió; và giả sử cái ngăn kéo ấy có chứa đầy kim cương đi chăng nữa thì kết cục cũng chẳng khác là bao — chúng hoàn toàn vô giá trị đối với tôi, đơn giản vì chúng chẳng có chút công dụng nào.
Lúc này, tôi đã tự điều chỉnh để nhịp sống của mình trở nên dễ chịu hơn rất nhiều so với thuở ban đầu, đồng thời mang lại sự thư thái lớn lao cho cả tâm hồn lẫn thể xác. Tôi thường xuyên ngồi vào bàn ăn với lòng biết ơn khôn tả, và trầm trồ thán phục bàn tay quan phòng của Thượng Đế, Đấng đã dọn sẵn cho tôi một bữa tiệc giữa chốn hoang mạc vu khoát này. Tôi học được cách nhìn nhiều hơn về mặt tươi sáng trong hoàn cảnh của mình, và nhìn ít đi về mặt tối tăm, tập trung cân nhắc những gì mình đang được tận hưởng thay vì những thứ còn thiếu thốn. Điều đó đôi khi mang lại cho tôi những niềm an ủi thầm kín đến mức không thể diễn tả bằng lời; và tôi xin ghi lại điều đó ở đây, như một lời nhắc nhở dành cho những kẻ hay kêu ca bất mãn ngoài kia, những kẻ chẳng thể tận hưởng một cách thoải mái những gì Thượng Đế ban tặng chỉ vì họ cứ mãi dòm ngó và thèm thuồng thứ mà Ngài chưa ban cho họ. Mọi sự bất mãn của chúng ta về những thứ còn thiếu thốn dường như đều bắt nguồn từ sự thiếu vắng lòng biết ơn đối với những gì ta đang có trong tay.
Một sự chiêm nghiệm khác cũng mang lại cho tôi vô vàn ích lợi, và chắc chắn sẽ hữu ích cho bất kỳ ai rơi vào hoàn cảnh khốn cùng như tôi; đó là việc so sánh hoàn cảnh hiện tại của mình với những gì tôi từng phỏng đoán ban đầu, hay nói đúng hơn là những gì chắc chắn đã xảy ra nếu sự quan phòng nhân ái của Thượng Đế không kỳ diệu sắp đặt để con tàu dạt vào gần bờ hơn, nơi tôi không chỉ có thể tiếp cận nó mà còn vớt được những thứ từ đó mang lên bờ để làm phương tiện cứu trợ và an ủi cho bản thân. Nếu không có những thứ ấy, tôi đã lâm vào cảnh thiếu thốn dụng cụ lao động, vũ khí tự vệ, cũng như thuốc súng và đạn dược để săn bắn kiếm ăn.
Tôi đã dành trọn hàng giờ đồng hồ, hay có thể nói là trọn cả những ngày dài, để tái hiện lại trong tâm trí bằng những màu sắc sống động nhất về việc tôi sẽ phải hành xử ra sao nếu không vớt được bất cứ thứ gì từ con tàu. Rằng tôi sẽ chẳng thể kiếm nổi dù chỉ một mẩu thức ăn ngoài cá và rùa; và vì phải mất rất lâu sau tôi mới tìm thấy chúng, nên chắc chắn tôi đã chết đói từ lâu rồi. Rằng nếu không bỏ mạng thì tôi cũng sẽ sống chẳng khác nào một kẻ dã nhân thuần túy; rằng nếu có tình cờ săn được một con dê hay chú chim bằng bất kỳ mưu mẹo nào đi chăng nữa, tôi cũng chẳng có cách nào lột da hay mổ bụng nó, chẳng thể tách phần thịt ra khỏi lớp da và nội tạng, hay cắt nhỏ nó ra, mà buộc phải dùng răng cắn xé và dùng móng tay cấu cào giống như loài thú hoang.
Những sự chiêm nghiệm ấy đã khiến tôi thấm thía sâu sắc lòng nhân trắc của Sự Quan Phòng dành cho mình, đồng thời dâng trào lòng biết ơn sâu sắc đối với hoàn cảnh hiện tại, dẫu cho nó chứa đựng biết bao gian khổ và bất hạnh. Và tôi cũng không thể không khích lệ những ai hay than van trong nỗi thống khổ của họ hãy suy ngẫm về phần này: “Liệu có nỗi bất hạnh nào sánh được với nỗi bất hạnh của ta chăng?” Hãy để họ ngẫm xem hoàn cảnh của một số người khác tồi tệ đến nhường nào, và hoàn cảnh của chính họ cũng đã có thể tồi tệ ra sao nếu Sự Quan Phòng thấy điều đó là phù hợp.
Tôi còn có một sự chiêm nghiệm khác, cũng góp phần xoa dịu tâm hồn tôi bằng những niềm hy vọng; đó là việc so sánh tình cảnh hiện tại của tôi với những gì tôi thực sự đáng phải chịu đựng, và do đó có lý do để chờ đợi từ bàn tay của Sự Quan Phòng. Tôi từng sống một cuộc đời tồi tệ khủng khiếp, hoàn toàn hoang vắng khỏi sự hiểu biết và lòng kính sợ Thượng Đế. Tôi từng được cha mẹ dạy dỗ rất chu đáo; họ chưa từng lơ lả trong những nỗ lực từ thuở niên thiếu nhằm truyền thụ vào tâm trí tôi sự kính sợ tôn nghiêm dành cho Thượng Đế, ý thức về bổn phận của bản thân, cùng những gì mà bản chất và mục đích sự tồn tại của tôi đòi hỏi. Thế nhưng, hỡi ôi! Vì sớm dấn thân vào đời thủy thủ, một lối sống trong tất cả các nghề nghiệp là kẻ thiếu vắng lòng kính sợ Thượng Đế nhất — mặc dù những sự khủng khiếp của Ngài luôn hiện diện trước mắt họ — ý thức tôn giáo dù ít ỏi mà tôi từng vun đắp đã bị đám bạn đồng hành cười cợt châm chọc cho bay biến mất. Chúng trui rèn cho tôi sự chai lì bất chấp hiểm nguy, và cái nhìn dửng dưng trước cái chết, điều dần trở thành thói quen qua quãng thời gian dài tôi biệt lập khỏi mọi cơ hội tiếp xúc với bất cứ thứ gì tương đồng với mình, hay được lắng nghe bất kỳ điều gì lương thiện hoặc hướng thiện.
Tôi từng trống rỗng đến mức chẳng còn chút gì lương thiện, hay dẫu chỉ là một chút ý thức mỏng manh về con người hiện tại lẫn tương lai của mình. Trong những lần thoát nạn vĩ đại nhất đời tôi — chẳng hạn như cuộc trốn chạy khỏi Sallee; việc được người thuyền trưởng Bồ Đào Nha vớt lên; việc được định cư vô cùng tốt đẹp ở Brazil; việc nhận được kiện hàng từ nước Anh gửi sang, và vô số lần tương tự — chưa từng có lấy một lần cụm từ “Tạ ơn Chúa!” xuất hiện trong tâm trí hay thốt lên trên cửa miệng tôi. Thậm chí trong những hoạn nạn cùng cực nhất, tôi cũng chưa từng lóe lên một suy nghĩ cầu nguyện ngài, hay thốt lên nổi một câu: “Lạy Chúa, xin thương xót con!” Không, tôi chẳng hề nhắc đến danh xưng của Thượng Đế, ngoại trừ mục đích dùng để thề thốt và lộng ngôn lăng mạ Ngài.
Tôi từng bị ám ảnh bởi những dằn vặt khủng khiếp trong tâm trí suốt nhiều tháng trời, như tôi đã từng chia sẻ, bởi lối sống tội lỗi và chai lì trong quá khứ. Thế nhưng khi nhìn xung quanh, ngẫm lại những sự quan phòng đặc biệt đã theo sát tôi kể từ khi đặt chân đến chốn này, và cách Thượng Đế đối xử vô cùng hào phóng với tôi — không những trừng phạt tôi nhẹ nhàng hơn những tội ác tôi đáng phải chịu, mà còn chu cấp cho tôi một cách vô cùng sung túc — điều đó đã thắp lên trong tôi niềm hy vọng lớn lao rằng sự ăn năn sám hối của tôi đã được chấp nhận, và Thượng Đế vẫn còn dành sẵn lòng thương xót cho tôi.
Bằng những sự chiêm nghiệm ấy, tôi đã vực dậy tâm trí mình, không chỉ hướng tới sự phó thác tuyệt đối vào thánh ý Thượng Đế trong hoàn cảnh hiện tại, mà còn sinh ra lòng biết ơn chân thành đối với số phận của chính mình. Rằng tôi, một con người vẫn đang hít thở sự sống, không có quyền được kêu ca phàn nàn, khi mà tôi chưa phải gánh chịu hình phạt thích đáng cho tội lỗi của bản thân; rằng tôi đang tận hưởng biết bao ơn huệ mà tôi chẳng có lý do gì để kỳ vọng sẽ nhận được ở chốn này; rằng tôi không bao giờ được phép dằn vặt oán thán về hoàn cảnh của mình nữa, mà phải hoan hỉ, dâng lời tạ ơn mỗi ngày cho thứ bánh ăn hằng ngày ấy, thứ mà nếu không có cả một chuỗi những phép mầu thì chẳng gì mang tới được. Tôi phải ý thức rằng mình đã được nuôi sống thậm chí bằng một phép mầu, vĩ đại chẳng kém gì cách tiên tri Elijah được nuôi sống bởi loài quạ, không, thậm chí bằng cả một chuỗi dài các phép mầu liên tiếp. Rằng tôi khó lòng kể tên được một xó xỉnh nào thuộc vùng đất hoang vu trên thế giới này mà nếu bị đánh dạt tới đó, tôi lại có thể gặp nhiều thuận lợi đến thế. Một chốn mà tuy không có xã hội loài người, điều từng là nỗi đau khổ của tôi một mặt, nhưng bù lại tôi không hề phải đối mặt với bất kỳ loài dã thú hung ác nào, không có sói hay hổ dữ đe dọa tính mạng, không có loài sinh vật có nọc độc hay chất độc hiểm nghèo nào có thể ăn phải để rồi rước họa vào thân, và chẳng có lấy một tên dã nhân nào để tàn sát nuốt chửng tôi. Tóm lại, cuộc đời tôi dẫu là một chuỗi ngày đau khổ ở phương diện này, thì lại là một cõi ân sủng ở phương diện khác; và tôi chẳng thiếu thứ gì để biến nó thành một cuộc đời an nhàn thoải mái, ngoại trừ việc có thể biến ý thức về lòng nhân từ cùng sự quan tâm chăm sóc của Thượng Đế dành cho tôi trong hoàn cảnh này thành niềm an ủi mỗi ngày. Và sau khi tôi đã thấu triệt được những điều đó một cách đúng đắn, tôi bước đi và chẳng còn buồn bã thêm lần nào nữa.
Lúc này, tôi đã sống ở đây lâu đến mức nhiều thứ mang theo lên bờ nhằm trợ giúp cho tôi hoặc đã biến mất hoàn toàn, hoặc đã hao hụt đi rất nhiều và gần như cạn kiệt.
Mực của tôi, như tôi từng lưu ý, đã cạn từ lâu, chỉ trừ một chút xíu đáy lọ mà tôi pha loãng dần từng chút một bằng nước, cho đến khi nó nhợt nhạt đến mức hầu như chẳng để lại chút dấu vết đen nào trên giấy nữa. Chừng nào nó còn kéo dài được ngày nào, tôi tận dụng ngày đó để ghi chép lại những ngày trong tháng mà bất kỳ sự kiện đáng chú ý nào xảy ra với tôi. Ban đầu, khi điểm lại những mốc thời gian đã qua, tôi chợt nhận ra có một sự trùng hợp kỳ lạ về các ngày tháng trong những phen quan phòng khác nhau giáng xuống đời tôi. Nếu là một kẻ mang tâm lý mê tín dị đoan thích săm soi các ngày tháng theo hướng cát hung định mệnh, thì tôi hẳn đã có lý do để nhìn nhận chúng bằng một sự tò mò vô tận.
Trước tiên, tôi nhận thấy rằng đúng vào cái ngày tôi dứt áo ra đi khỏi người cha và gia đình, trốn chạy đến Hull để bề bề ra khơi, thì chính vào ngày đó của những năm sau, tôi bị chiến thuyền của xứ Sallee bắt giữ và biến thành nô lệ. Đúng vào ngày trong năm mà tôi thoát chết khỏi con tàu đắm ở vùng biển Yarmouth Roads, thì đúng vào ngày đó của năm sau, tôi trốn thoát khỏi Sallee trên một chiếc thuyền nhỏ. Đúng vào ngày sinh nhật của tôi — tức ngày 30 tháng 9 — thì đúng vào ngày đó hai mươi sáu năm sau, mạng sống của tôi lại được cứu một cách kỳ diệu khi bị đánh dạt lên hòn đảo này. Như vậy, cuộc đời tội lỗi và cuộc đời cô độc của tôi lại bắt đầu cùng vào một ngày.
Điều tiếp theo cạn kiệt sau lọ mực chính là nguồn bánh mì của tôi — ý tôi là số bánh quy mang theo từ con tàu đắm. Tôi đã dành dụm thứ đó đến mức cùng cực, tự kỷ luật bản thân chỉ được ăn một chiếc bánh mì mỗi ngày trong suốt hơn một năm trời; và thế mà tôi vẫn hoàn toàn cạn sạch bánh mì trong gần một năm trước khi thu hoạch được vụ ngô của chính mình. Quả thực tôi có thừa lý do để tạ ơn vì mình vẫn còn có cái để ăn, bởi việc có được nó, như đã từng nhấn mạnh, chẳng khác nào một phép mầu.
Quần áo của tôi cũng bắt đầu mục nát. Về phần vải lanh, tôi đã chẳng còn lấy một mảnh nào từ lâu, ngoại trừ vài chiếc áo sơ mi sọc ca-rô tìm thấy trong các hòm rương của những thủy thủ khác, và tôi đã cẩn thận cất giữ chúng. Bởi vì có những lúc tôi chẳng thể mặc nổi loại trang phục nào khác ngoài áo sơ mi; và việc sở hữu gần ba chục chiếc áo sơ mi trong số quần áo của các thủy thủ trên tàu thực sự là một sự trợ giúp to lớn đối với tôi. Ngoài ra, quả thực vẫn còn sót lại vài chiếc áo khoác dày chống gió của thủy thủ, nhưng chúng quá nóng để mặc. Dù thời tiết oi bức đến mức chẳng cần mặc quần áo cũng chẳng sao, nhưng tôi không thể cứ thế điệu bộ trần truồng hoàn toàn — không, dù có muốn đi chăng nữa thì tôi cũng chẳng mảy may có ý định đó, và cũng không thể chịu đựng nổi ý nghĩ ấy dẫu bản thân đang thui thủi một mình. Lý do khiến tôi không thể ở trần là vì làn da tôi không chịu nổi cái nóng của mặt trời khi khỏa thân hoàn toàn, chẳng những thế mà sức nóng gay gắt ấy còn thường xuyên làm phồng rộp cả da thịt tôi. Ngược lại, khi mặc áo sơ mi, luồng không khí tự chuyển động, lùa lộng bên dưới lớp áo, tạo cảm giác mát mẻ gấp đôi so với khi chẳng mặc gì. Tương tự, tôi chẳng bao giờ ép mình bước ra ngoài cái nắng gay gắt mà không đội mũ nón. Sức nóng của mặt trời dội xuống với cường độ dữ dội ở cái xứ sở đó sẽ lập tức giáng cho tôi những cơn đau đầu nhức nhối khi chiếu thẳng trực diện lên đỉnh đầu không che đậy, khiến tôi không sao chịu nổi; trong khi đó, nếu tôi đội mũ lên, cơn đau sẽ biến mất ngay lập tức.
Dựa trên những thực tế đó, tôi bắt đầu cân nhắc việc thu xếp mớ giẻ rách ít ỏi mà tôi gọi là quần áo cho vào ngăn nắp. Tôi đã mặc rách rưới toàn bộ số áo gi lê mình có, và công việc lúc bấy giờ của tôi là thử xem có cách nào may được áo khoác từ những chiếc áo chống gió to sụ đang có trong tay cùng với các nguyên liệu khác hay không. Thế là tôi bắt tay vào việc làm thợ may, hay đúng hơn là chắp vá vụng về, vì những sản phẩm tôi làm ra trông thật thảm hại hết chỗ nói. Dù vậy, tôi cũng xoay sở may được hai ba chiếc áo gi lê mới, thứ mà tôi hy vọng sẽ phục vụ mình trong một thời gian dài. Còn về quần dài hay quần lót thì tôi chịu chết, chẳng thể xoay sở nổi cho ra hồn cho đến tận sau này.
Tôi từng đề cập đến việc mình đã giữ lại da của tất cả các loài động vật săn được, ý tôi là loài bốn chân, và tôi đem phơi chúng dưới nắng bằng cách căng rộng ra bằng những thanh gỗ. Nhờ phương pháp đó, một số tấm da trở nên khô khốc và cứng đắc đến mức chẳng dùng được việc gì mấy, nhưng số khác lại vô cùng hữu dụng. Thứ đầu tiên tôi làm từ những tấm da này là một chiếc mũ đội đầu thật lớn với phần lông quay ra ngoài để hất nước mưa; và tôi thực hiện việc này khéo đến mức sau đó tôi đã tự may cho mình cả một bộ quần áo hoàn toàn bằng da động vật — cụ thể là một chiếc áo gi lê và quần đùi ống suông rộng mở ngang đầu gối, cả hai đều rộng thùng thình, bởi chúng cốt để giữ cho tôi được mát mẻ chứ không phải để giữ ấm. Tôi không được quên thừa nhận rằng chúng được may một cách vô cùng thảm họa; bởi nếu tôi là một gã thợ mộc tồi, thì với tư cách thợ may tôi còn tồi tệ hơn gấp bội. Dù vậy, chúng vẫn là thứ trang phục giúp tôi xoay sở rất tốt; và khi ra ngoài, nếu lỡ trời đổ mưa thì với lớp lông của áo gi lê và mũ hướng ra phía ngoài, người tôi hoàn toàn được giữ khô ráo.
Sau đó, tôi đã tốn rất nhiều thời gian và công sức để làm một chiếc ô che mưa nắng. Quả thực tôi đang cực kỳ khao khát có được nó và rất muốn tự tay làm một chiếc. Tôi từng thấy chúng được làm ở Brazil, nơi chúng vô cùng hữu ích dưới cái nắng gắt ở đó, và tôi cảm nhận được sức nóng ở đây chẳng kém cạnh chút nào, thậm chí còn dữ dội hơn vì nằm gần đường xích đạo hơn. Thêm vào đó, vì tôi buộc phải hoạt động ngoài trời rất nhiều, đây là một vật dụng cực kỳ hữu ích cho cả việc chống mưa lẫn tránh nắng. Tôi đã tốn vô số tâm huyết cho nó, và mất một khoảng thời gian dài mới làm ra được món đồ trông có vẻ bền chắc. Thậm chí ngay cả khi tưởng chừng đã nắm được bí quyết, tôi vẫn làm hỏng hai ba chiếc mới nặn ra được một chiếc vừa ý. Nhưng cuối cùng, tôi cũng làm được một chiếc dùng tạm ổn. Trở ngại lớn nhất tôi gặp phải là làm sao để có thể cụp nó xuống được. Tôi có thể làm cho nó bung xòe ra, nhưng nếu không thể khép lại và thu gọn vào thì tôi chẳng cách nào mang theo nó bên mình ngoài việc cứ giương mãi trên đầu, mà như thế thì không ổn chút nào. Dù vậy, cuối cùng như tôi đã nói, tôi cũng làm ra được một chiếc hoàn thiện, bọc nó bằng da thú với lớp lông quay lên phía trên, nhờ thế nó hất nước mưa đi như mái hiên nhà và che chắn ánh nắng hiệu quả đến mức tôi có thể đi dạo dưới cái nắng gay gắt nhất của thời tiết với sự thoải mái lớn hơn nhiều so với trước kia vào những lúc trời mát mẻ nhất; và khi không cần dùng đến, tôi có thể khép nó lại kẹp vào nách mang đi.
Cứ thế, tôi sống một cuộc đời vô cùng dễ chịu, tâm hồn hoàn toàn tĩnh lặng nhờ phó mặc bản thân vào thánh ý Thượng Đế và giao phó trọn vẹn đời mình cho sự quan phòng sắp đặt của Ngài. Điều này khiến cho cuộc sống của tôi còn tuyệt vời hơn cả việc sống giữa xã hội loài người; bởi vì mỗi khi bắt đầu cảm thấy tiếc nuối sự thiếu vắng những cuộc trò chuyện, tôi lại tự hỏi bản thân rằng việc đối thoại tương thông với chính những suy nghĩ của mình và (như tôi hy vọng có thể nói là) với chính Thượng Đế qua những lời cầu nguyện thầm kín, há chẳng phải là điều tuyệt vời hơn gấp vạn lần so với việc tận hưởng tối đa cái gọi là xã hội loài người ngoài kia hay sao?