Cuộc Đời Và Những Chuyến Phiêu Lưu Của Robinson Crusoe

Lượt đọc: 155 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 1
Bước Vào Đời

❊ ❊ ❊

Tôi sinh năm 1632 tại thành phố York, trong một gia đình danh giá dù không phải gốc gác xứ này. Cha tôi là một người ngoại quốc đến từ Bremen, thoạt tiên tới định cư ở Hull. Nhờ buôn bán phát đạt, ông tích lũy được cơ ngơi khá giả rồi giải nghệ chuyển về sống tại York. Tại đây, ông kết hôn với mẹ tôi, người thuộc dòng họ Robinson - một gia tộc danh tiếng trong vùng. Cũng vì thế mà tôi được đặt tên là Robinson Kreutznaer; nhưng do thói quen biến âm thường thấy ở nước Anh, giờ đây chúng tôi được gọi - hay đúng hơn là tự gọi và viết tên mình - là Crusoe; và chúng bạn tôi từ trước tới nay cũng toàn gọi tôi như thế.

Tôi có hai người anh trai. Người anh cả từng là trung tá trong một trung đoàn bộ binh Anh ở Flanders, trung đoàn này trước kia do viên Đại tá Lockhart lừng danh chỉ huy; anh đã tử trận trong cuộc giao tranh với quân Tây Ban Nha gần Dunkirk. Còn số phận người anh thứ hai trôi giạt về đâu thì tôi chẳng bao giờ hay biết, cũng hệt như cha mẹ chẳng thể nào biết được tung tích của tôi sau này.

Là con trai thứ ba trong nhà và không được hướng nghiệp buôn bán hay học nghề gì, đầu óc tôi từ sớm đã bắt đầu đầy ắp những mộng tưởng viển vông, thích phiêu bạt. Cha tôi lúc ấy tuổi đã rất cao, đã cho tôi một nền học vấn tươm tất trong chừng mực việc giáo dục tại gia cùng một trường làng miễn phí có thể đem lại, và định hướng cho tôi theo ngành luật. Nhưng tôi chẳng màng đến bất cứ điều gì ngoài việc đi biển; lòng say mê ấy mãnh liệt đến mức nó lôi kéo tôi chống lại ý muốn, thậm chí cả mệnh lệnh nghiêm khắc của cha, cũng như bất chấp mọi lời nài nỉ, khuyên can của mẹ và bè bạn. Dường như có một điều gì đó thuộc về định mệnh nghiệt ngã trong thiên hướng bẩm sinh ấy, dắt díu tôi thẳng tới cuộc đời khốn cùng sắp sửa ập xuống đầu tôi.

Cha tôi, một người thông thái và mực thước, đã đưa ra những lời khuyên can nghiêm túc và xác đáng để ngăn chặn dự định mà ông đã sớm nhìn thấu ở tôi. Một buổi sáng nọ, ông gọi tôi vào phòng riêng, nơi ông đang phải nằm một chỗ vì cơn đau khớp, rồi giãi bày với tôi hết sức tha thiết về chuyện này. Ông hỏi tôi có lý do gì, ngoài thói lông bông thích lang bạt thuần túy, mà lại muốn dứt áo rời bỏ mái ấm của cha và quê hương xứ sở—nơi tôi hoàn toàn có cơ hội được tiến cử tốt đẹp, có triển vọng gây dựng cơ đồ bằng sự chăm chỉ, cần mẫn, và được hưởng một cuộc đời an nhàn, sung sướng. Ông bảo tôi rằng chỉ những kẻ cùng đường mạt vận ở một thái cực, hoặc những kẻ ôm tham vọng tột cùng ở thái cực kia, mới phải tha hương cầu thực, lao vào những cuộc phiêu lưu hòng đổi đời nhờ mạo hiểm và mong nổi danh qua những việc phi thường khác lối thông thường; những điều ấy hoặc quá xa vời quá tầm với của tôi, hoặc lại quá đỗi thấp hèn dưới mức của tôi. Vị thế của tôi vốn thuộc tầng lớp trung lưu, hay có thể gọi là nấc thang cao nhất của lớp người bình dân. Bằng vốn sống từng trải dằng dặc của mình, ông nhận thấy đây chính là tầng lớp tốt đẹp nhất trên đời, thích hợp hơn cả với hạnh phúc của kiếp nhân sinh: chẳng phải nếm trải nỗi cơ cực, lầm than, cùng những nhọc nhằn, cay đắng của tầng lớp lao động chân tay, mà cũng không bị vướng bận bởi thói kiêu căng, xa hoa, tham vọng và lòng đố kỵ của giới quyền quý thượng lưu. Cha bảo tôi có thể nhận định hạnh phúc của tầng lớp này qua một điểm duy nhất: đây chính là cảnh ngộ mà mọi tầng lớp khác đều thầm ghen tị; các bậc vua chúa thường phải than thở cho hậu quả thảm hại của việc sinh ra để gánh vác việc lớn lao, rồi ước chi mình được đặt vào khoảng giữa của hai thái cực, lưng chừng giữa hèn mọn và quyền quý tột cùng; và người khôn ngoan xưa kia từng chứng minh cho chân lý ấy như một thước đo của phúc lạc, khi cầu xin cho mình “đừng nghèo khổ, cũng đừng giàu sang”.

Ông bảo tôi hãy quan sát, rồi tôi sẽ luôn thấy rằng tai ương ở đời chỉ chia đều cho hai tầng lớp trên đỉnh và dưới đáy của nhân loại; còn tầng lớp trung lưu thì gánh chịu ít thảm họa nhất, chẳng phải phơi mình trước bao biến cố thăng trầm như kẻ ở quá cao hay người ở quá thấp. Thậm chí, họ còn không phải chịu đựng nhiều chứng bệnh tật và nỗi bất an, cả về thể xác lẫn tinh thần, như những kẻ sống đời trụy lạc, xa hoa, phóng túng ở một bên, hoặc những người phải lao động khổ sai, thiếu thốn miếng ăn thức mặc, ăn uống kham khổ qua ngày ở bên kia—những kẻ tự rước bệnh tật vào thân như một hệ quả tất yếu từ lối sống của chính mình. Cha khẳng định tầng lớp trung lưu trong xã hội được tạo ra để dung dưỡng mọi đức hạnh và mọi điều hoan lạc; sự bình an và no ấm luôn là bạn đồng hành của cảnh ngộ trung lưu; lòng chừng mực, đức điều độ, sự thanh thản, sức khỏe, sự chan hòa bè bạn, cùng mọi trò tiêu khiển tao nhã và mọi thú vui đáng ước mong đều là những ân phước đi liền với nấc thang xã hội này. Sống như thế, con người ta sẽ lướt qua cõi đời một cách êm ả, bình lặng, rồi nhắm mắt xuôi tay trong thanh thản; không bị đè nặng bởi gánh nặng nhọc nhằn của chân tay hay trí óc; không phải bán mình làm kiếp nô lệ vì miếng cơm manh áo hằng ngày; chẳng bị bủa vây bởi những hoàn cảnh éo le cướp đi sự bình yên trong tâm hồn và giấc nghỉ ngơi của thể xác; cũng chẳng phát cuồng vì thói ghen ăn tức ở hay ngọn lửa thầm kín thiêu đốt của tham vọng ngông cuồng. Thay vào đó, trong một cảnh ngộ êm đềm, họ nhẹ nhàng trôi qua cuộc đời, nếm trải trọn vẹn vị ngọt ngào của cuộc sống mà không phải nếm mùi cay đắng; họ cảm nhận được mình đang hạnh phúc, và qua trải nghiệm từng ngày, họ lại càng thấu suốt điều đó rõ ràng hơn.

Nói đoạn, cha tha thiết khuyên răn tôi bằng giọng điệu hết mực yêu thương, mong tôi chớ có bồng bột làm trò trẻ con, chớ dại dột tự lao đầu vào những nỗi khốn cùng mà tạo hóa và vị thế xuất thân dường như đã che chở cho tôi tránh khỏi. Ông bảo tôi chẳng việc gì phải bươn chải kiếm miếng ăn; ông sẽ lo liệu chu toàn cho tôi và cố gắng đưa tôi đàng hoàng bước vào nấc thang xã hội mà ông vừa mới ca ngợi. Nếu sau này tôi không có được cuộc sống an nhàn, hạnh phúc trên đời thì đó hẳn chỉ là do số mệnh nghiệt ngã hoặc do lỗi lầm của chính tôi ngăn trở mà thôi; còn ông sẽ chẳng phải cắn rứt điều gì, bởi đã làm tròn bổn phận cảnh báo tôi trước những bước đi mà ông biết chắc sẽ chỉ mang lại tai họa. Tóm lại, nếu tôi chịu ở lại và an cư tại nhà theo sự sắp đặt của ông thì ông sẽ đối đãi với tôi hết sức nhân hậu; còn nếu tôi muốn ra đi thì ông dứt khoát không tiếp tay cho những nỗi bất hạnh của tôi bằng cách khích lệ tôi dù chỉ nửa lời. Để khép lại câu chuyện, ông lấy người anh cả của tôi ra làm gương răn dạy: ngày trước ông cũng từng dùng những lời khuyên can tha thiết y như thế để ngăn anh ấy tham gia chiến tranh ở Vùng Đất Thấp, nhưng rốt cuộc không lay chuyển nổi; tính bồng bột tuổi trẻ đã thúc giục anh lao vào quân ngũ, để rồi phải bỏ mạng nơi chiến trường. Cha nói dù ông sẽ không ngừng cầu nguyện cho tôi, nhưng ông vẫn phải cảnh cáo rằng nếu tôi dấn bước vào con đường dại dột ấy, Chúa sẽ không ban phúc lành cho tôi, và về sau tôi sẽ có thừa thời gian để ngậm đắng nuốt cay nhớ lại chuyện mình đã phớt lờ lời cha dạy, khi mà quanh mình chẳng còn lấy một ai cứu giúp.

Ở đoạn cuối của bài thuyết giáo—những lời mà sau này ngẫm lại quả thực mang tính tiên tri chuẩn xác, dù tôi tin bản thân cha lúc ấy cũng chẳng ngờ tới—tôi thấy những giọt lệ tuôn rơi lã chã trên gương mặt ông, đặc biệt là khi ông nhắc tới người anh đã tử trận của tôi. Và khi nói đến chuyện tôi sẽ có thừa thời gian để ăn năn mà không một ai chìa tay cứu vớt, ông xúc động đến mức phải nghẹn ngào ngắt lời, rồi bảo rằng lòng ông trĩu nặng tới mức chẳng thể nói thêm được câu nào nữa.

Tôi thực sự xúc động trước những lời tâm huyết ấy, và quả thực, ở vào địa vị tôi thì ai mà chẳng mủi lòng? Tôi quyết định gạt phăng ý nghĩ đi xa, an phận ở nhà theo đúng sở nguyện của cha. Nhưng than ôi, chỉ vài ngày sau, cảm xúc ấy đã phôi phai sạch bách; nói ngắn gọn, cốt để tránh bị cha tiếp tục nài ép thêm, vài tuần sau đó tôi đã nung nấu ý định bỏ nhà trốn đi cho khuất mắt. Dẫu vậy, tôi không hành động quá vội vàng theo cơn bốc đồng đầu tiên; tôi lựa một lúc thấy mẹ vui vẻ hơn thường lệ để thăm dò. Tôi thưa với mẹ rằng tâm trí tôi đã hoàn toàn hướng về chuyện ngao du ngắm nhìn thế giới, đến mức tôi sẽ chẳng bao giờ có đủ quyết tâm để theo đuổi trọn vẹn bất cứ việc gì ở nhà, và chi bằng cha bằng lòng cho tôi đi, còn hơn là ép tôi phải bỏ trốn khi không có sự ưng thuận; tôi đã mười tám tuổi rồi, quá muộn để đi học việc buôn bán hay làm chân phụ việc cho một luật sư; tôi đoan chắc nếu có đi học nghề thì tôi cũng chẳng thể nào kiên nhẫn làm hết thời hạn, mà nhất định sẽ trốn khỏi tay chủ trước kỳ hạn để ra biển. Tôi nài nỉ mẹ đánh tiếng với cha xin cho tôi đi một chuyến hải trình ra nước ngoài, nếu sau chuyến ấy trở về mà tôi không thấy thích thì tôi sẽ không đi nữa, và tôi xin hứa sẽ đem hết công sức ra làm việc gấp đôi để bù lại quãng thời gian đã mất.

Nghe vậy, mẹ tôi nổi giận đùng đùng. Bà bảo bà thừa biết có nói chuyện ấy với cha thì cũng vô ích; cha hiểu quá rõ điều gì là tốt cho tôi nên đời nào chịu ưng thuận một việc có hại cho tôi đến nhường ấy. Bà ngạc nhiên không hiểu sao tôi lại có thể nghĩ tới chuyện đó sau buổi nói chuyện với cha, sau những lời lẽ ân cần và tha thiết đến thế mà bà biết cha đã dành cho tôi. Bà bảo tóm lại, nếu tôi nhất quyết muốn tự hủy hoại đời mình thì chẳng ai cứu nổi; nhưng tôi cứ liệu hồn, đừng hòng bao giờ nhận được sự đồng thuận của song thân. Về phần mình, bà quyết không nhúng tay vào việc đẩy tôi vào chỗ chết, và tôi sẽ không bao giờ có cơ hội rêu rao rằng mẹ thì xuôi lòng trong khi cha còn cấm cản.

Dù mẹ từ chối đem chuyện ra bàn với cha, nhưng sau này tôi nghe phong phanh rằng bà đã thuật lại toàn bộ câu chuyện cho ông. Cha tôi sau khi lộ rõ vẻ âu lo khôn xiết, đã thở dài bảo với mẹ rằng: "Thằng bé đó có thể sẽ được hưởng hạnh phúc nếu chịu ở lại nhà; nhưng nếu nó mà dấn thân ra nước ngoài, nó sẽ trở thành kẻ khốn nạn, cùng quẫn nhất từng được sinh ra trên đời này. Tôi dứt khoát không bao giờ ưng thuận."

Phải gần một năm sau biến cố ấy tôi mới thực sự dứt áo ra đi. Trong suốt quãng thời gian đó, tôi vẫn một mực giả điếc làm ngơ trước mọi lời đề nghị bắt tay vào làm ăn buôn bán, và thường xuyên cãi cự với cha mẹ vì thấy họ khăng khăng ngăn cấm điều mà họ biết rõ là niềm khao khát cháy bỏng của tôi. Thế rồi vào một ngày nọ, tôi tình cờ có mặt ở Hull mà chẳng hề ôm ấp dự định trốn nhà đi ngay lúc đó. Trớ trêu thay, đang ở đấy thì tôi gặp một người bạn sắp sửa dong buồm tới London trên con tàu của cha anh ta. Anh ta dụ dỗ tôi đi cùng bằng miếng mồi quen thuộc của cánh thủy thủ: tôi sẽ chẳng mất một xu tiền vé. Thế là tôi chẳng thèm bàn bạc với cha hay mẹ thêm một lời, thậm chí không buồn gửi cho họ lấy một phong thư báo tin; tôi mặc kệ họ nghe ngóng được tin tức bằng cách nào thì tùy, không cần xin ân phước của Chúa lẫn lời chúc phúc của cha, chẳng màng cân nhắc đến hoàn cảnh hay hậu quả. Đúng vào một ngày định mệnh nghiệt ngã—chỉ có Trời biết—ngày mùng một tháng Chín năm 1651, tôi bước chân lên con tàu hướng về London. Tôi tin rằng chưa từng có một kẻ phiêu lưu trẻ tuổi nào mà tai ương lại giáng xuống đầu sớm đến thế, hay dai dẳng đến vậy như trường hợp của tôi. Tàu vừa rời khỏi cửa sông Humber thì gió bắt đầu thổi mạnh và sóng biển cuộn dâng một cách vô cùng hãi hùng. Vì chưa từng đi biển bao giờ, tôi bị say sóng đến rũ rượi cả thân xác và kinh hoàng tột độ trong tâm trí. Giờ đây, tôi mới bắt đầu nghiêm túc suy ngẫm về những gì mình đã làm, và thấy Trời trừng phạt tôi đích đáng biết bao vì tội lỗi bỏ trốn khỏi mái ấm của cha cùng thói vô trách nhiệm, chối bỏ bổn phận làm con. Mọi lời khuyên can chí tình của song thân, những giọt nước mắt của cha và lời van nài của mẹ bấy giờ lại hiện về mồn một trong tâm trí tôi; và lương tâm tôi, lúc này chưa chai sạn đến mức như những năm tháng sau này, đã không ngừng cắn rứt, trách cứ tôi vì tội coi thường lời răn dạy cùng hành vi bất hiếu, bất kính với Chúa và cha tôi.

Suốt thời gian ấy bão mỗi lúc một dữ dội, sóng biển dâng cao ngất trời, dù rằng cảnh tượng ấy chưa thấm tháp gì so với những gì tôi đã chứng kiến vô số lần sau này, thậm chí chẳng bằng những gì tôi thấy chỉ vài ngày kế tiếp; nhưng bấy nhiêu cũng đủ làm kinh hồn bạt vía một gã thủy thủ mới vào nghề và chưa từng biết mùi sóng gió như tôi. Tôi ngỡ như mỗi con sóng ập tới đều chực nuốt chửng cả con tàu, và mỗi bận tàu chúi mũi xuống đáy sâu hun hút của lòng biển, tôi lại đinh ninh rằng chúng tôi sẽ chẳng bao giờ ngóc đầu lên nổi nữa. Trong nỗi thống khổ cùng cực của tâm can, tôi đã thầm thề thốt và quyết tâm biết bao lần rằng nếu chuyến này Chúa rủ lòng thương tha mạng cho tôi, nếu tôi còn được một lần đặt chân lên đất liền, tôi sẽ lập tức quay thẳng về nhà với cha và trọn đời này không bao giờ thèm bước chân lên tàu thuyền một lần nào nữa; tôi sẽ nghe theo lời cha dặn, quyết chẳng bao giờ tự chuốc lấy những nỗi khốn cùng như thế này nữa. Giờ đây tôi mới nhìn thấu sự đúng đắn trong những chiêm nghiệm của cha về tầng lớp trung lưu, thấy ông đã sống cả đời an nhàn, thoải mái xiết bao khi chẳng hề phải đối mặt với giông bão trên biển cả hay những điều nhiễu nhương nơi đất liền; và tôi hạ quyết tâm rằng mình sẽ như đứa con hoang đàng biết ăn năn thật lòng, quay về tạ tội với cha già.

Những suy nghĩ khôn ngoan và tỉnh táo ấy kéo dài suốt thời gian cơn bão hoành hành, và quả thực còn duy trì được thêm một chốc sau đó. Nhưng sang ngày hôm sau, gió đã lặng bớt, biển êm ả hơn, và tôi cũng bắt đầu quen dần với nhịp lắc lư. Dù vậy, suốt cả ngày hôm đó trông tôi vẫn hết sức ủ dột, một phần vì vẫn còn váng vất cơn say sóng. Nhưng đến chiều tối, trời quang mây tạnh, gió ngừng hẳn, nhường chỗ cho một buổi hoàng hôn tuyệt đẹp say đắm lòng người. Mặt trời lặn trong trẻo vô ngần rồi sáng hôm sau lại mọc lên rạng rỡ y như thế; gió thổi hiu hiu trên mặt biển phẳng lặng như gương, ánh dương dát vàng trên mặt nước tạo nên một cảnh tượng mà tôi ngỡ là diễm lệ nhất trần đời từng được thấy.

Đêm đó tôi ngủ một giấc ngon lành, sáng ra không còn thấy say sóng nữa mà tinh thần vô cùng phơi phới. Tôi kinh ngạc ngắm nhìn đại dương mới hôm qua thôi còn dữ dội và khủng khiếp dường kia, vậy mà chỉ sau một chốc ngắn ngủi đã có thể trở nên êm đềm và đáng yêu đến thế. Và rồi, như để dập tắt những quyết tâm tốt đẹp vừa nhen nhóm trong tôi, gã bạn từng rủ rê tôi trốn nhà bèn tiến lại gần. “Sao hả Bob,” hắn vừa nói vừa vỗ mạnh vào vai tôi, “sau trận vừa rồi thấy thế nào? Tao cá là tối qua mày chết khiếp chứ gì, khi mà trời mới chỉ thổi một ngọn gió thoảng bay mũ?” “Gió thoảng bay mũ mà anh bảo thế à?” tôi đáp, “đấy là một cơn bão kinh hoàng thì có.” “Bão cái thằng ngốc này,” hắn bĩu môi đáp lại, “mày gọi cái thứ đó là bão hả? Xời, có đáng gì đâu; chỉ cần cho bọn tao một con tàu vững chãi với mặt biển đủ rộng thì loại gió giật ấy chẳng bõ bèn gì; chẳng qua mày chỉ là thằng lính thủy nước ngọt thôi, Bob ạ. Thôi nào, làm một bát rượu punch rồi ta sẽ quên sạch bách mọi chuyện; mày không thấy thời tiết bây giờ đẹp tuyệt vời thế nào à?” Nói vắn tắt cái phần đáng buồn này trong câu chuyện đời tôi, chúng tôi lại đi theo vết xe đổ của muôn vàn thủy thủ khác: rượu punch được pha ra và tôi bị chuốc cho say túy lúy. Chỉ trong một đêm trụy lạc ấy, tôi đã dìm chết mọi nỗi ăn năn, mọi sự ngẫm nghĩ về hành vi sai trái trong quá khứ, cùng toàn bộ những quyết tâm cho tương lai. Tóm lại, cũng giống như mặt biển đã lấy lại vẻ phẳng lặng và sự êm ả vốn có sau khi cơn bão tan đi, những dòng suy nghĩ hỗn loạn trong tôi cũng tan biến sạch. Nỗi sợ hãi bị biển sâu nuốt chửng trôi vào quên lãng, dòng chảy dục vọng thuở trước lại cuồn cuộn trỗi dậy, và tôi quên bẵng đi những lời thề nguyền, hứa hẹn đã thốt ra trong cơn hoạn nạn. Thảng hoặc tôi cũng có những lúc giật mình suy ngẫm, và những ý nghĩ nghiêm túc đôi khi dường như cũng chực quay trở lại; nhưng tôi gạt phắt chúng đi, rũ bỏ chúng như rũ bỏ một cơn ốm vặt, rồi lại lao vào rượu chè và đàn đúm để nhanh chóng dập tắt sự trỗi dậy của những “cơn co giật lương tâm”—tôi gọi chúng như thế. Chỉ trong năm sáu ngày, tôi đã giành được một thắng lợi hoàn toàn trước lương tâm mình, đúng như mong muốn của bất kỳ một gã trai trẻ nào quyết tâm không để lương tâm quấy rầy. Thế nhưng tôi vẫn còn phải trải qua một thử thách nữa; và Số Phận, như ngài vẫn thường làm trong những trường hợp tương tự, đã quyết tâm khiến tôi không còn lấy một lời nào để bào chữa; bởi nếu tôi không chịu coi thử thách đầu tiên là một sự giải thoát, thì thử thách tiếp theo sẽ khốc liệt đến mức ngay cả kẻ đê tiện và chai lì nhất trong đám chúng tôi cũng phải thừa nhận cả nỗi hiểm nguy lẫn lòng khoan dung của bề trên.

Đến ngày thứ sáu lênh đênh trên biển, chúng tôi tiến vào vũng neo tàu Yarmouth Roads. Do gió ngược và trời lặng sóng nên kể từ sau cơn bão, chúng tôi chẳng đi được bao xa. Tại đây chúng tôi buộc phải buông neo, và tàu phải nằm lại đó suốt bảy hoặc tám ngày ròng vì gió ngược—hướng tây nam—vẫn tiếp tục thổi. Trong thời gian này, rất nhiều con tàu từ Newcastle cũng đổ về cùng một vũng neo, nơi vốn là chỗ trú chân chung cho các tàu thuyền chờ đợi ngọn gió thuận để tiến vào cửa sông.

Tuy nhiên, chúng tôi cũng chẳng phải nằm chờ ở đây lâu đến thế mà đáng lẽ đã có thể nương theo con nước triều để ngược dòng vào sông, nếu như gió không thổi mỗi lúc một mạnh, và sau khi chúng tôi nằm lại bốn hoặc năm ngày thì trời bắt đầu nổi gió rất dữ. Dẫu vậy, vì vũng Yarmouth Roads được coi là an toàn chẳng kém gì bến cảng, đáy biển bám neo tốt, còn dây neo và thiết bị giằng giữ của chúng tôi lại rất chắc chắn, nên thủy thủ đoàn chẳng chút bận tâm và không hề mảy may e sợ hiểm nguy; họ dành trọn thời gian để nghỉ ngơi và vui chơi đùa cợt theo thói thường của dân đi biển. Nhưng sang buổi sáng ngày thứ tám, gió thổi càng thêm dữ dội, khiến toàn bộ thuyền viên phải bắt tay vào hạ các cột buồm trên cùng xuống, chằng buộc mọi thứ thật gọn gàng và kín kẽ để con tàu có thể nương sóng một cách êm thuận nhất có thể. Đến trưa, sóng biển đã dâng lên ngút trời, mũi tàu chúng tôi dập dềnh chúi hẳn vào các con sóng, nước biển tràn vào boong liên tục, và đã có một đôi lần chúng tôi ngỡ như mỏ neo đã bị rê đáy; trước tình thế đó, thuyền trưởng lập tức hạ lệnh thả mỏ neo dự phòng lớn nhất xuống, thế là chúng tôi phải nương tựa vào hai chiếc mỏ neo đằng mũi, với dây cáp neo được xả ra đến tận mắt xích cuối cùng.

Lúc này, một cơn giông bão thực sự kinh hoàng đã giáng xuống; và bấy giờ tôi bắt đầu nhìn thấy nỗi kinh hoàng cùng sự sững sờ hiện rõ ngay trên gương mặt của chính những người thủy thủ dạn dày kinh nghiệm. Viên thuyền trưởng dù vẫn luôn cảnh giác cao độ trong việc bảo vệ con tàu, nhưng mỗi lần ra vào buồng lái đi ngang qua chỗ tôi, tôi đều nghe thấy ông ta lẩm bẩm mấy lần trong miệng: "Lạy Chúa xin thương xót chúng con! Chúng ta chết mất thôi! Chúng ta tiêu đời cả lũ rồi!" cùng những lời tương tự. Trong cơn hoảng loạn ban đầu ấy, tôi đờ đẫn nằm bất động trong cabin của mình ở khoang lái phụ và chẳng thể nào tả xiết tâm trạng của mình lúc bấy giờ: tôi khó lòng tìm lại được cảm giác ăn năn như lần trước, thứ cảm xúc mà tôi đã dẫm đạp lên một cách trơ tráo và tự làm chai sạn lòng mình. Tôi từng nghĩ nỗi cay đắng của cái chết đã qua đi rồi, và lần này sẽ chẳng thể nào giống như lần đầu; nhưng khi chính mắt thấy thuyền trưởng đi ngang qua và thốt lên rằng tất cả chúng tôi sẽ bỏ mạng, tôi sợ chết khiếp. Tôi nhỏm dậy rời khỏi cabin và ngó ra ngoài; quả thực đời tôi chưa từng thấy một cảnh tượng nào thê thảm đến thế: biển cuộn sóng cao như núi, cứ ba bốn phút lại ầm ầm đổ ụp xuống boong tàu; khi tôi định thần nhìn quanh thì chỉ thấy toàn nỗi thê lương bủa vây: hai con tàu neo gần chúng tôi, do chở quá nặng, đã phải chặt bỏ cột buồm sát sàn boong; rồi người của chúng tôi la ó lên rằng một con tàu neo cách chúng tôi chừng một dặm phía trước đã bị chìm nghỉm. Hai con tàu khác bị đứt neo, đang phó mặc cho số phận trôi dạt ra ngoài khơi xa mà không còn lấy một cột buồm nào đứng vững. Những con tàu không chở hàng là đỡ nhất vì không phải vật lộn quá nhiều với sóng gió; nhưng cũng có hai ba chiếc trong số đó bị trôi dạt, lướt sát sạt qua mạn tàu chúng tôi, chỉ giương độc một cánh buồm mũi nhỏ nhoi để chạy xuôi theo chiều gió.

Về chiều, thuyền phó và thuyền trưởng lái tha thiết van xin thuyền trưởng cho phép chặt bỏ cột buồm mũi, điều mà ông vô cùng miễn cưỡng không muốn làm; nhưng viên thuyền phó quả quyết rằng nếu không chặt buồm thì tàu sẽ đắm, nên ông đành ưng thuận. Và khi họ chặt xong cột buồm mũi, thì cột buồm chính lại lung lay dữ dội, làm rung lắc con tàu ghê gớm đến mức họ buộc phải chặt nốt cả cột buồm ấy đi để dọn phong quang mặt boong.

Bất kỳ ai cũng có thể hình dung tôi rơi vào tình cảnh khốn đốn nhường nào lúc bấy giờ, khi tôi chỉ là một gã thủy thủ mới toanh và trước đó từng sợ chết khiếp chỉ vì một cơn gió thoảng. Nhưng nếu giờ đây, từ một khoảng cách thời gian xa xôi, tôi có thể diễn đạt lại những suy nghĩ trong đầu mình lúc ấy, thì nỗi kinh hoàng trong tâm trí tôi vì nhớ lại những lời sám hối xưa kia cùng việc bản thân đã bội ước để quay lại với những dự định tội lỗi thuở ban đầu, còn khủng khiếp gấp mười lần nỗi sợ hãi cái chết; và những điều ấy, cộng hưởng với sự tàn khốc của cơn bão, đã đẩy tôi vào một trạng thái mà không ngòi bút nào tả xiết. Nhưng điều tồi tệ nhất vẫn còn chưa tới; cơn bão tiếp tục gầm rú dữ dội đến mức chính những người thủy thủ dạn dày cũng phải thừa nhận họ chưa từng thấy trận bão nào kinh khiếp hơn thế. Tàu của chúng tôi là một con tàu tốt, nhưng vì chở quá nặng nên cứ oằn mình ngụp lặn trong sóng nước, khiến cánh thủy thủ thỉnh thoảng lại hét toáng lên rằng tàu sắp đắm đến nơi rồi. Tôi có một cái may mắn là chẳng hiểu từ "đắm tàu" nghĩa là gì cho tới khi đi hỏi người ta. Dẫu vậy, cơn bão bạo liệt đến mức tôi đã phải chứng kiến một cảnh tượng hiếm thấy: thuyền trưởng, viên hoa tiêu cùng vài người khác tỉnh táo hơn cả thảy đang sụp xuống cầu nguyện, từng giây từng phút chờ đợi con tàu chìm xuống đáy đại dương. Giữa đêm đen mù mịt, đè nặng lên muôn vàn nỗi thống khổ của chúng tôi, một người lính thủy xuống hầm kiểm tra bỗng hét tướng lên rằng tàu đã bị thủng một lỗ rò; một người khác báo nước đã ngập bốn bộ trong hầm hàng. Ngay lập tức, tất cả mọi người được lệnh tập trung về máy bơm. Nghe thấy mệnh lệnh ấy, tim tôi như chết lặng trong lồng ngực; tôi ngã ngửa ra sau mép giường nơi mình đang ngồi, ngã lăn vào trong buồng. Tuy nhiên, mọi người đã xốc tôi dậy và bảo rằng một kẻ trước giờ chẳng tích sự gì như tôi thì lúc này cũng phải bơm nước khỏe như bất kỳ ai khác; nghe vậy, tôi bừng tỉnh, bước lại máy bơm và dốc sức làm việc hết sức nhiệt tình. Trong lúc chúng tôi đang hì hục bơm, thuyền trưởng nhìn thấy vài chiếc tàu chở than nhẹ tải—vốn không thể trụ nổi qua cơn bão nên buộc phải chặt neo tháo chạy ra biển—đang trôi dạt lại gần mạn tàu chúng tôi, bèn ra lệnh bắn một phát súng đại bác làm tín hiệu cầu cứu. Tôi, một kẻ chẳng hiểu ất giáp gì về ý nghĩa của phát súng ấy, lại cứ ngỡ tàu đã bị vỡ toác hay có điều gì khủng khiếp tột cùng vừa xảy ra. Tóm lại, tôi kinh hoảng đến mức ngã lăn ra bất tỉnh nhân sự. Vì đó là lúc ai nấy đều phải lo giữ lấy mạng sống của chính mình, nên chẳng ai thèm để ý đến tôi hay đoái hoài xem số phận tôi ra sao; một người khác bước lên thay chỗ máy bơm, gạt tôi sang một bên bằng chân rồi mặc kệ tôi nằm đó vì ngỡ tôi đã chết; và phải rất lâu sau tôi mới hồi tỉnh lại.

Chúng tôi tiếp tục dốc sức bơm, nhưng nước trong hầm hàng mỗi lúc một dâng cao, rõ ràng là con tàu khó thoát khỏi cảnh chìm nghỉm; và dẫu cho cơn bão đã bắt đầu dịu bớt đôi chút, nhưng tàu cũng không thể nào nổi được cho tới khi chúng tôi cập vào một bến cảng nào đó. Vì vậy thuyền trưởng liên tục cho bắn đại bác cầu cứu; và một con tàu nhẹ tải đã kiên cường trụ lại ngay phía trước mũi chúng tôi bèn liều lĩnh thả một chiếc thuyền cứu sinh sang giúp. Chiếc thuyền con ấy đã phải đối mặt với muôn vàn hiểm nguy mới tiếp cận được chúng tôi; nhưng chúng tôi không tài nào nhảy sang được, mà chiếc thuyền nhỏ cũng chẳng thể áp sát vào mạn tàu lớn, cho tới khi những người chèo thuyền ra sức chèo cật lực, liều cả mạng sống của họ để cứu lấy chúng tôi; người của chúng tôi bèn quăng cho họ một sợi dây thừng buộc phao cứu sinh qua đuôi tàu rồi thả dài ra một khoảng xa. Sau bao nỗi nhọc nhằn và nguy hiểm, họ cũng chộp được sợi dây, và chúng tôi kéo chiếc thuyền áp sát ngay dưới đuôi tàu rồi tất cả cùng leo xuống thuyền của họ. Khi đã ở trên thuyền rồi, cả họ lẫn chúng tôi đều thấy việc cố chèo về lại con tàu của họ là vô ích; vì thế mọi người đồng lòng để mặc cho thuyền trôi dạt và chỉ ra sức chèo hướng về phía bờ biển chừng nào hay chừng ấy; thuyền trưởng của chúng tôi hứa với họ rằng nếu chiếc thuyền bị va vỡ tan tành trên bờ thì ông sẽ bồi thường đầy đủ cho chủ tàu của họ. Thế là vừa chèo vừa nương theo dòng trôi dạt, chiếc thuyền của chúng tôi dạt về hướng bắc, chếch dần về phía bờ biển gần tới tận mũi Winterton Ness.

Chúng tôi rời tàu chưa đầy mười lăm phút thì đã thấy nó chìm nghỉm dưới làn nước, và mãi tới lúc đó tôi mới thực sự hiểu thế nào là một con tàu bị đắm giữa biển khơi. Phải thú thực rằng tôi chẳng còn mắt mũi nào dám nhìn lên khi các thủy thủ bảo tôi rằng tàu đang chìm; bởi ngay từ khoảnh khắc họ xốc nách tống tôi xuống thuyền hơn là việc tôi tự bước vào, trái tim tôi dường như đã chết lặng bên trong, một phần vì kinh hãi, một phần vì nỗi kinh hoàng tột độ trong tâm trí cùng những ý nghĩ về tương lai mịt mờ đang đợi mình phía trước.

Trong lúc chúng tôi lâm vào tình cảnh ấy—những người đàn ông vẫn đang còng lưng ghì lấy mái chèo để đưa thuyền áp sát bờ—chúng tôi có thể thấy (mỗi khi thuyền cưỡi lên ngọn sóng cho phép chúng tôi phóng tầm mắt vào đất liền) rất nhiều người đang chạy dọc theo bờ cát để sẵn sàng ứng cứu khi chúng tôi dạt vào gần; nhưng thuyền chúng tôi tiến về phía bờ rất chậm chạp. Chúng tôi cũng chẳng thể cập bờ cho tới khi trôi qua ngọn hải đăng ở Winterton, nơi đường bờ biển lượn vòng về hướng tây hướng về phía Cromer, nhờ đó mà dải đất liền đã chắn bớt phần nào sự hung hãn của gió bão. Tại đây chúng tôi đã tiếp cận được bờ, và dù phải trải qua muôn vàn gian nan, tất cả đều đã lên bờ bình an vô sự. Sau đó chúng tôi đi bộ về Yarmouth, nơi chúng tôi—với tư cách là những kẻ gặp nạn khốn khổ—được đối đãi hết sức nhân từ, bởi cả các quan chức thị trấn (những người đã bố trí cho chúng tôi chỗ trọ tươm tất) lẫn các thương nhân và chủ tàu hảo tâm; họ đã quyên góp cho chúng tôi một món tiền đủ để đi tiếp tới London hoặc quay trở về Hull tùy ý muốn.

Giá như lúc bấy giờ tôi có đủ khôn ngoan để quay trở lại Hull rồi về nhà, hẳn tôi đã được hạnh phúc, và cha tôi, như trong câu chuyện ngụ ngôn của Đấng Cứu Thế nhân từ, thậm chí sẽ mổ cả con bê béo để ăn mừng đón tôi; bởi khi nghe tin con tàu tôi bước lên đã bị đắm ở Yarmouth Roads, phải rất lâu sau ông mới dám tin chắc rằng tôi chưa bị chết đuối.

Thế nhưng số phận nghiệt ngã lại thúc đẩy tôi bước tiếp bằng một sự ngoan cố không gì lay chuyển nổi; và dẫu cho lý trí cùng sự phán đoán tỉnh táo hơn đã nhiều lần cất tiếng gọi tôi quay về nhà, tôi vẫn chẳng có đủ nghị lực để làm theo. Tôi chẳng biết phải gọi điều này là gì, và cũng không dám khẳng định rằng có một sự an bài tối cao bí ẩn nào đó luôn xô đẩy chúng ta trở thành công cụ cho chính sự tự hủy diệt của bản thân, ngay cả khi tai họa đã rành rành trước mắt và chúng ta cứ thế đâm đầu vào trong khi mắt vẫn mở trừng trừng. Chắc chắn rằng, chẳng có gì ngoài một nỗi khốn cùng tiền định không thể tránh khỏi—thứ mà tôi không tài nào trốn thoát—mới có thể xô đẩy tôi lao về phía trước, bất chấp những lý lẽ điềm tĩnh và những lời khuyên giải từ những suy nghĩ sâu kín nhất trong lòng, cũng như bất chấp hai bài học nhãn tiền rõ rệt mà tôi vừa nếm trải ngay trong lần thử sức đầu tiên.

Gã bạn đồng hành từng góp phần làm chai đá lòng tôi trước kia, vốn là con trai của viên thuyền trưởng, giờ đây lại tỏ ra kém hăng hái hơn tôi nhiều. Lần đầu tiên anh ta bắt chuyện với tôi sau khi chúng tôi tới Yarmouth—phải hai ba ngày sau mới gặp, vì chúng tôi bị chia về các khu trọ khác nhau trong thị trấn—tôi nhận thấy giọng điệu của anh ta đã hoàn toàn thay đổi. Trông hết sức rầu rĩ và vừa lắc đầu, anh ta vừa hỏi thăm xem tôi thế nào, rồi thưa với cha anh ta tôi là ai, và rằng tôi tham gia chuyến đi này chỉ để thử sức nhằm chuẩn bị đi xa hơn ra nước ngoài. Cha anh ta bèn quay sang tôi, với một giọng điệu vô cùng nghiêm nghị và đầy vẻ lo ngại: "Cậu trai trẻ à," ông nói, "cậu không bao giờ nên đi biển thêm một lần nào nữa; cậu phải coi chuyện này là một dấu hiệu rành rành và rõ rệt cho thấy cậu sinh ra không phải để làm nghề đi biển." "Tại sao thế thưa bác," tôi hỏi, "bác sẽ không đi biển nữa sao?" "Đó lại là chuyện khác," ông đáp; "đó là cái nghiệp của ta, và do đó là bổn phận của ta; nhưng vì cậu chỉ đi chuyến này để thử sức, nên cậu thấy đấy, Trời đã cho cậu nếm mùi những gì cậu sẽ phải chuốc lấy nếu cậu cứ khăng khăng cố chấp. Biết đâu chừng mọi tai ương giáng xuống chúng ta lần này đều là do cậu mà ra, chẳng khác nào câu chuyện Jonah trên chiếc tàu đi Tarshish ngày xưa. Làm ơn cho ta biết," ông nói tiếp, "cậu là ai, và vì cớ gì mà cậu lại đi biển?" Nghe vậy, tôi bèn thuật lại cho ông nghe đôi nét về câu chuyện đời mình; nghe xong, ông bỗng nổi trận lôi đình một cách kỳ lạ: "Ta đã làm nên tội tình gì," ông thốt lên, "để đến nỗi một kẻ bất hạnh, mang lại điềm gở nhường này lại bước chân lên tàu của ta chứ? Cho ta một nghìn bảng ta cũng chẳng thèm đặt chân lên cùng một con tàu với cậu thêm một lần nào nữa đâu." Lời lẽ ấy quả thực, như tôi đã nói, chỉ là sự bột phát nhất thời của tâm trí ông, vốn vẫn còn đang bàng hoàng vì nỗi đau mất mát tài sản, và đã đi quá giới hạn quyền hạn của mình. Tuy nhiên, sau đó ông lại nói chuyện với tôi hết sức nghiêm túc, tha thiết khuyên tôi nên quay về với cha mình, chớ có thách thức Ý Trời để rồi chuốc lấy diệt vong, và bảo rằng tôi có thể nhìn thấy bàn tay rõ rệt của Bề Trên đang chống lại tôi. "Và cậu trai trẻ ạ," ông nói, "cứ tin ta đi, nếu cậu không chịu quay về, thì dù cậu có đi tới đâu, cậu cũng sẽ chỉ gặp toàn tai ương cùng những nỗi thất vọng não nề, cho tới khi những lời tiên đoán của cha cậu ứng nghiệm hoàn toàn lên số phận cậu mà thôi."

Chúng tôi chia tay nhau ngay sau đó; bởi tôi chẳng đáp lại ông ta được mấy câu, và tôi không bao giờ còn gặp lại ông ta nữa; ông ta đi đường nào tôi cũng chẳng hề hay biết. Về phần mình, nhờ có sẵn một món tiền trong túi, tôi đi đường bộ lên London; và ở đó, cũng như suốt dọc đường đi, tôi đã phải giằng xé nội tâm biết bao lần về con đường đời mình nên chọn, và liệu tôi nên quay về nhà hay lại tiếp tục dấn thân ra biển.

Nói về chuyện trở về nhà, nỗi xấu hổ lập tức chặn đứng những ý nghĩ tốt đẹp nhất vừa nhen nhóm trong đầu tôi; tôi liền nghĩ ngay đến việc mình sẽ bị đám hàng xóm láng giềng chê cười nhạo báng ra sao, và tôi sẽ thấy xấu hổ dường nào khi phải đối mặt không chỉ với cha mẹ, mà còn với bất kỳ một ai khác. Từ câu chuyện này, sau này tôi thường ngẫm thấy bản tính thông thường của con người, đặc biệt là giới trẻ, mới mâu thuẫn và phi lý biết bao so với thứ lý trí lẽ ra phải dẫn dắt họ trong những hoàn cảnh như thế: họ chẳng hề biết hổ thẹn khi phạm tội, nhưng lại xấu hổ khi phải ăn năn; họ chẳng biết ngượng ngùng vì hành động mà vì đó họ đáng bị coi là những kẻ ngu xuẩn, nhưng lại thấy xấu hổ khi quay đầu hoàn lương—điều duy nhất có thể khiến họ được người đời nể trọng là những bậc khôn ngoan.

Dẫu vậy, tôi vẫn tiếp tục sống trong tình trạng lơ lửng ấy một thời gian, không biết phải chọn cách giải quyết nào và nên dấn thân vào lối sống ra sao. Một nỗi e ngại không thể cưỡng lại cứ ngăn cản tôi quay về nhà; và khi tôi nấn ná ở lại nơi đất khách một thời gian, ký ức về cơn hoạn nạn mà tôi từng nếm trải cứ thế phai nhạt dần. Và khi nỗi ám ảnh ấy lắng xuống, thì chút khát khao le lói muốn quay về trong tôi cũng tàn lụi theo, cho tới khi cuối cùng tôi hoàn toàn gạt bỏ ý nghĩ ấy sang một bên, rồi bắt đầu dỏng tai tìm kiếm một chuyến hải trình mới.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 19 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Daniel Defoe

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.