Bấy giờ tôi đã bước sang năm thứ hai mươi ba sống trên hòn đảo này. Tôi đã quen thuộc với nơi đây và lối sinh hoạt đến mức, giá như tôi có thể đoan chắc rằng sẽ không có bọn dã nhân nào tới quấy phá, tôi sẵn sàng ký cam kết ở lại đây suốt phần đời còn lại, cho đến tận phút cuối cùng, cho đến lúc ngã xuống và vĩnh biệt cõi đời như con dê già trong hang. Cuộc sống của tôi lúc này cũng vớt vát được vài niềm vui và trò tiêu khiển nhỏ, nhờ đó thời gian trôi qua dễ chịu hơn trước rất nhiều. Trước hết, như tôi từng kể, tôi đã dạy con vẹt Poll biết nói; nó bắt chước rất tự nhiên, phát âm rõ ràng, rành mạch đến mức khiến tôi vô cùng thích thú, và nó đã sống với tôi tròn hai mươi sáu năm. Sau đó nó còn sống được bao lâu nữa thì tôi không rõ, dẫu tôi biết người ta ở xứ Brazil đồn rằng loài vật này sống tới trăm tuổi. Con chó của tôi cũng là một người bạn thân thiết, gắn bó với tôi ròng rã suốt mười sáu năm trời rồi mới chết vì tuổi già sức yếu. Còn lũ mèo, như tôi từng quan sát, chúng sinh sôi nảy nở nhiều đến mức ban đầu tôi buộc phải bắn chết bớt vài con để ngăn chúng ăn thịt cả tôi lẫn mọi thứ tôi có. Nhưng rồi, khi hai con mèo già tôi mang theo từ đầu đã chết, và sau một thời gian liên tục xua đuổi, không cho chúng ăn uống gì nữa, chúng đều bỏ vào rừng sống hoang dã, ngoại trừ hai hoặc ba con tôi giữ lại làm vật nuôi trong nhà, và hễ chúng đẻ con là tôi đem dìm chết; đám mèo đó cũng là một phần "gia đình" của tôi. Ngoài chúng ra, tôi lúc nào cũng nuôi quanh mình hai hoặc ba chú dê con thuần tính, dạy chúng ăn trên tay mình; tôi còn có thêm hai con vẹt nữa nói khá sõi, con nào cũng gọi "Robin Crusoe", nhưng chẳng con nào bằng con vẹt đầu tiên; và quả thật, tôi cũng chẳng tốn nhiều công sức dạy dỗ chúng như con vẹt trước. Tôi còn nuôi mấy con chim biển bắt được ngoài bờ biển mà chẳng biết tên, rồi cắt cánh chúng đi. Bấy giờ, những cọc rào nhỏ tôi cắm trước tường lâu đài đã mọc thành một lùm cây rậm rạp, đám chim chóc đều sống giữa những tán cây thấp ấy và sinh sôi ở đó, khiến tôi rất đỗi bằng lòng. Thế nên, như tôi đã nói ở trên, tôi bắt đầu cảm thấy khá thỏa mãn với cuộc sống của mình, giá như tôi được an toàn trước nỗi sợ hãi bọn dã nhân.
Nhưng sự đời lại được an bài khác đi; và thiết nghĩ, mọi người khi đọc câu chuyện của tôi rút ra được một bài học xác đáng này thì cũng chẳng thừa: Trong đường đời, thường thì tai họa mà tự thâm tâm ta vẫn một mực muốn tránh né nhất, và khi rơi vào rồi lại là điều ta khiếp sợ nhất, đôi khi hóa ra lại chính là phương thế hoặc cánh cửa cứu rỗi duy nhất, giúp ta vực dậy từ chốn lầm than. Tôi có thể đưa ra rất nhiều ví dụ về điều này trong cuộc đời kỳ lạ của mình; nhưng không có gì rõ rệt và đặc biệt hơn hoàn cảnh những năm tháng cuối cùng tôi sống cô độc trên hòn đảo này.
Như tôi đã nói ở trên, lúc đó là tháng Mười hai, năm thứ hai mươi ba của tôi; và vì đây là thời điểm chí tuyến nam (tôi không thể gọi là mùa đông), nên đó là mùa gặt hái của tôi, buộc tôi phải ra đồng thường xuyên. Sáng hôm ấy, khi tôi ra ngoài từ rất sớm, khi trời còn chưa rõ mặt người, tôi bỗng giật mình khi thấy ánh lửa bập bùng ở đằng xa trên bờ biển, cách tôi chừng hai dặm, hướng về phần hòn đảo mà tôi từng thấy bọn dã nhân lui tới trước kia chứ không phải ở bờ bên kia; nhưng điều khiến tôi đau khổ khôn nguôi là nó lại nằm ngay bên phía đảo của tôi.
Quả thật, cảnh tượng ấy khiến tôi kinh hoàng tột độ. Tôi khựng lại ngay trong lùm cây, không dám bước ra vì sợ bị phát hiện; thế nhưng trong lòng tôi cũng chẳng yên ổn chút nào khi nghĩ rằng nếu những kẻ dã nhân này trong lúc lang thang khắp đảo mà phát hiện ra nương ngô của tôi, dù đã gặt hay chưa, hoặc bất kỳ công trình hay cải tạo nào của tôi, chúng sẽ lập tức suy luận ra rằng nơi đây có con người sinh sống, và khi ấy chúng sẽ không đời nào buông tha cho đến khi lùng ra được tôi. Trong tình thế ngặt nghèo đó, tôi quay ngoắt trở về lâu đài, kéo thang lên theo, và ngụy trang mọi thứ bên ngoài sao cho thật hoang vu và tự nhiên nhất có thể.
Rồi tôi chuẩn bị sẵn sàng bên trong, đưa mình vào tư thế phòng thủ. Tôi nạp đạn toàn bộ cỗ " đại bác" của mình — nghĩa là những khẩu súng hỏa mai được lắp trên công sự mới — cùng tất cả các khẩu súng lục, tự nhủ sẽ chiến đấu đến hơi thở cuối cùng — không quên thành tâm phó thác bản thân cho sự che chở của Chúa, và khẩn cầu Ngài cứu giúp tôi khỏi bàn tay của lũ dã man. Tôi duy trì tư thế ấy chừng hai tiếng đồng hồ, rồi bắt đầuâm ỉ sốt ruột muốn biết tình hình bên ngoài, vì tôi chẳng có điệp viên nào để phái đi cả. Ngồi thừ thêm một lúc lâu và ngẫm nghĩ xem mình phải làm gì trong hoàn cảnh này, tôi không tài nào chịu đựng thêm được sự mù mịt nữa; thế là tôi dựng thang vào sườn đồi, nơi có một khoảng đất phẳng như tôi từng nhận xét, rồi kéo thang theo, dựng lên một lần nữa để trèo lên đỉnh đồi. Tôi rút ống nhòm mang theo sẵn từ trước, nằm rạp bụng xuống đất và đảo mắt tìm kiếm khu vực đó. Ngay lập tức, tôi phát hiện ra có không dưới chín tên dã nhân trần truồng đang ngồi quây quần quanh một đống lửa nhỏ chúng nhóm lên, không phải để sưởi ấm vì thời tiết cực kỳ oi bức chẳng cần đến điều đó, mà theo tôi đoán là để nấu nướng món ăn man rợ của chúng — thịt người mà chúng mang theo, không biết là sống hay đã chết.
Chúng mang theo hai chiếc xuồng, đã kéo lên bờ; và vì lúc đó là lúc nước triều rút, chúng có vẻ đang chờ nước lên để rời đi. Thật khó mà tưởng tượng nổi cảnh tượng ấy đã đẩy tôi vào sự hoang mang tột độ thế nào, nhất là khi thấy chúng đến ngay phía đảo của tôi và lại ở quá gần tôi như vậy. Nhưng rồi, khi nghĩ rằng việc chúng đến bao giờ cũng phải thuận theo dòng nước triều rút, tôi bắt đầu bình tâm trở lại, tự nhủ rằng mình có thể ra ngoài an toàn trong suốt thời gian nước triều lên, miễn là chúng chưa có mặt ở trên bờ từ trước; và sau khi rút ra quan sát ấy, tôi yên tâm hơn hẳn để ra đồng làm nốt công việc thu hoạch.
Mọi chuyện diễn ra đúng như tôi dự đoán; bởi ngay khi nước triều đổi hướng chảy về phía tây, tôi thấy tất cả chúng đều xuống thuyền và chèo (hoặc quạt mái chèo như cách chúng ta vẫn gọi) đi mất. Lẽ ra tôi phải chú ý rằng, trong suốt một tiếng đồng hồ hoặc hơn trước khi rời đi, chúng đã nhảy múa, và tôi có thể dễ dàng nhận ra các tư thế, điệu bộ của chúng qua ống nhòm. Quan sát kỹ đến đâu, tôi cũng chỉ thấy chúng hoàn toàn trần truồng, không mảy may che đậy thứ gì trên người; nhưng chúng là nam hay nữ thì tôi không thể phân biệt nổi.
Ngay khi thấy chúng xuống thuyền khuất dạng, tôi vác hai khẩu súng lên vai, dắt hai khẩu súng lục vào lưng quần, giắt thanh kiếm lớn không vỏ bên hông, rồi rảo bước nhanh hết sức có thể đến ngọn đồi nơi tôi từng phát hiện ra dấu vết đầu tiên của chúng. Khi tôi đến nơi, lúc ấy đã mất ít nhất hai tiếng đồng hồ (vì mang theo đống vũ khí nặng nề nên tôi không thể đi nhanh được), tôi nhận ra ở đó có thêm ba chiếc xuồng nữa của bọn dã nhân; và phóng tầm mắt nhìn ra xa, tôi thấy tất cả bọn chúng đều đã ở ngoài khơi, đang chèo hướng về đất liền. Đó là một cảnh tượng vô cùng hãi hùng với tôi, nhất là khi đi xuống bờ biển, tôi nhìn thấy những dấu vết kinh hoàng mà tác phẩm ghê tởm của chúng để lại — ấy là máu, xương và một phần thịt người đã bị lũ khốn nạn ấy ăn uống, đùa cợt ngấu nghiến. Cơn giận dữ dâng trào trong tôi dữ dội đến mức tôi bắt đầu nung nấu ý định tiêu diệt tên dã nhân đầu tiên mà tôi nhìn thấy ở đó, bất kể chúng là ai hay có bao nhiêu người. Hiển nhiên là những chuyến viếng thăm hòn đảo này của chúng không diễn ra thường xuyên cho lắm, bởi phải mất hơn mười lăm tháng sau mới có thêm một tốp dã nhân nào đặt chân lên bờ biển nơi đây — nghĩa là trong suốt khoảng thời gian dài đằng đẵng ấy, tôi không hề nhìn thấy chúng, cũng chẳng thấy dấu chân hay tín hiệu nào; bởi vào mùa mưa, chắc chắn chúng không dám ra khơi, chí ít là không đi xa đến thế. Thế nhưng suốt khoảng thời gian đó, tôi sống trong nỗi bất an khốn khổ vì luôn phập phồng lo sợ bị chúng đột kích bất ngờ: từ đó tôi nghiệm ra rằng, sự mong chờ nỗi bất hạnh còn cay đắng hơn cả việc phải gánh chịu nó, nhất là khi ta chẳng có cách nào rũ bỏ được sự mong chờ hay nỗi sợ hãi ấy.
Suốt quãng thời gian đó, tâm trí tôi ngập tràn sự thù hằn và thèm khát giết chóc. Tôi dành phần lớn thời gian — lẽ ra nên dùng vào những việc ích lợi hơn — để mưu tính cách đánh lừa và tập kích chúng ngay vào lần tới khi nhìn thấy, nhất là nếu chúng lại chia thành hai nhóm như lần trước. Tôi hoàn toàn không mảy may nghĩ rằng nếu mình tiêu diệt một nhóm — giả sử là mười hoặc mười mấy tên — thì ngày mai, tuần tới hoặc tháng sau tôi lại phải tiêu diệt nhóm khác, cứ thế kéo dài vô tận, cho đến cuối cùng tôi cũng chẳng khác nào một kẻ sát nhân giống như bọn chúng — thậm chí còn tồi tệ hơn nhiều. Những ngày tháng đó trôi qua trong nỗi dằn vặt và lo âu tột cùng, tôi nơm nớp lo sợ có ngày mình sẽ rơi vào tay đám ác nhân nhẫn tâm này; và nếu có dám liều lĩnh ra ngoài, tôi cũng phải đảo mắt cảnh giác với tất cả sự cẩn trọng lớn nhất có thể. Giờ đây, tôi vô cùng thấm thía và mừng rỡ vì đã kịp gây dựng được một đàn dê nhà; bởi vì trong bất kỳ hoàn cảnh nào, tôi cũng không dám nổ súng, nhất là ở gần bờ bên phía đảo mà chúng thường lui tới, sợ làm động tĩnh báo động cho bọn dã nhân; và nếu bây giờ chúng bỏ chạy, chắc chắn chỉ ít ngày sau chúng sẽ quay lại với hai hoặc ba trăm chiếc xuồng, khi ấy thì tôi thừa biết mình sẽ phải đối mặt với cái gì. Thế nhưng, tôi vẫn ráng sống qua thêm một năm ba tháng nữa mà không hề nhìn thấy bóng dáng tên dã nhân nào, cho đến khi tôi lại chạm trán chúng, như tôi sẽ kể ngay sau đây. Đương nhiên là có thể chúng đã ghé qua một hai lần rồi, nhưng hoặc là chúng không ở lại, hoặc ít nhất là tôi không trông thấy; thế nhưng vào khoảng tháng Năm, theo như tôi tính toán áng chừng, và là năm thứ hai mươi tư của tôi, tôi đã có một cuộc chạm trán vô cùng kỳ lạ với chúng; câu chuyện đó sẽ được kể ở đúng chỗ của nó.
Sự dao động trong tâm trí tôi suốt mười lăm hay mười sáu tháng gián đoạn ấy là vô cùng lớn; giấc ngủ của tôi chẳng bao giờ yên giấc, lúc nào cũng mộng mị hãi hùng và thường xuyên giật mình tỉnh giấc giữa đêm khuay. Ban ngày, muôn vàn phiền muộn đè nặng tâm can; ban đêm, tôi liên tục mơ thấy cảnh tàn sát bọn dã nhân và tự biện minh cho những lý do để mình có thể đường hoàng làm điều đó.
Nhưng thôi, tạm gác chuyện đó lại một bên. Đó là vào giữa tháng Năm, hình như là ngày mười sáu, theo như cuốn lịch gỗ tồi tàn của tôi tính toán, bởi tôi vẫn khắc mọi thứ lên thân cột nhà; tôi nhắc lại, chính vào ngày mười sáu tháng Năm ấy, trời nổi một trận cuồng phong dữ dội suốt cả ngày, kèm theo sấm chớp đùng đùng, và đêm hôm đó thời tiết cực kỳ tồi tệ. Tôi không rõ nguyên nhân cụ thể do đâu, nhưng trong lúc đang đọc Kinh Thánh và chìm đắm trong những suy nghĩ rất đỗi nghiêm túc về hoàn cảnh hiện tại của mình, tôi bỗng giật mình trước tiếng nổ vang lên như tiếng súng bắn ngoài khơi xa. Chắc chắn đây là một sự kinh ngạc hoàn toàn khác biệt với bất cứ điều gì tôi từng trải qua trước đó; bởi những ý nghĩ mà nó gợi lên trong đầu tôi thuộc một chủng loại hoàn toàn khác. Tôi vùng dậy với tất cả sự khẩn trương tưởng chừng như không thể nhanh hơn; trong chớp mắt, tôi dựng chiếc thang vào khoảng giữa vách đá, kéo nó theo sau, rồi trèo lên lần thứ hai để vươn tới đỉnh đồi đúng khoảnh khắc một tia chớp lóe lên như giục giã tôi hãy lắng nghe phát súng thứ hai. Quả nhiên, chừng nửa phút sau tôi nghe thấy tiếng súng đó; và qua âm thanh vang lại, tôi nhận ra nó phát ra từ vùng biển nơi tôi từng bị dòng nước cuốn trôi đi bằng chiếc xuồng của mình. Tôi lập tức phán đoán rằng đây chắc chắn là một con tàu đang gặp nạn, và chúng đang có tàu bạn hoặc tàu đi cùng tháp tùng, bắn những phát súng này làm tín hiệu cầu cứu. Ngay phút giây ấy, tôi vẫn giữ được sự minh mẫn để nghĩ rằng dẫu tôi không thể cứu giúp họ, biết đâu họ lại có thể cứu giúp tôi; thế là tôi gom góp tất cả củi khô kiếm được xung quanh, xếp thành một đống thật đàng hoàng rồi châm lửa đốt trên đỉnh đồi. Củi khô bốc cháy rừng rực, ngọn lửa bùng lên phừng phừng; và mặc dù gió thổi rất mạnh, nó vẫn cháy rực rỡ, khiến tôi chắc chắn rằng nếu thực sự có tàu bè ngoài kia, thể nào họ cũng nhìn thấy. Và chắc chắn là họ đã thấy; bởi ngay khi ngọn lửa của tôi bùng lên, tôi lại nghe thấy một tiếng súng nữa, rồi tiếp đó là vài tiếng súng khác, tất cả đều phát ra từ cùng một hướng. Tôi liên tục tiếp củi giữ lửa suốt cả đêm cho tới tận rạng đông; và khi trời đã sáng rõ, không khí quang đãng trở lại, tôi nhìn thấy một vật gì đó ở ngoài khơi xa tít tắp, nằm thẳng về phía đông của hòn đảo — tôi không tài nào phân biệt nổi đó là cánh buồm hay thân tàu, ngay cả khi dùng ống nhòm, bởi khoảng cách quá xa và thời tiết lúc bấy giờ vẫn còn hơi sương mù; ít nhất là ngoài khơi xa thì là thế.
Tôi đăm đăm nhìn nó suốt cả ngày hôm đó, và nhanh chóng nhận ra nó hoàn toàn không di chuyển; thế là tôi lập tức suy luận rằng đó là một con tàu đang thả neo. Vốn đang vô cùng nóng lòng muốn sáng tỏ mọi chuyện, bạn có thể đoán chắc điều đó, tôi liền vác súng trên tay, chạy thục mạng về phía bờ nam hòn đảo, tới chỗ những mỏm đá mà trước đây tôi từng bị dòng nước cuốn qua; trèo lên đó khi thời tiết lúc này đã quang mây tạnh gió, tôi bàng hoàng nhận rõ — ôi, niềm đau xót lớn lao làm sao — xác của một con tàu đắm, bị sóng đánh tơi tả trong đêm vào chính những bãi đá ngầm mà tôi từng phát hiện ra trong chuyến đi xuồng ngày trước. Chính những mỏm đá ấy, vì cản trở sức nước xiết và tạo ra một dạng dòng chảy ngược hoặc dòng xoáy, đã cứu tôi thoát khỏi hoàn cảnh tuyệt vọng, khốn cùng nhất trong suốt cuộc đời mình. Thế mới hay, sự an toàn của người này đôi khi lại là sự hủy diệt của kẻ khác; có vẻ như những người này, bất kể họ là ai, vì không rành địa hình và đám đá ngầm lại chìm hoàn toàn dưới mặt nước, nên đã bị gió lùa mạnh thổi dạt vào đây trong đêm tối khi gió quật dữ dội theo hướng Đông Đông Bắc. Giá mà họ nhìn thấy hòn đảo, điều mà tôi chắc mẩm là họ không thấy, thì theo suy nghĩ của tôi, hẳn họ đã tìm cách tự cứu mình vào bờ bằng chiếc xuồng cứu sinh; thế nhưng việc họ liên tục nung nấu bắn súng cầu cứu, nhất là khi họ nhìn thấy ánh lửa của tôi — theo tôi tưởng tượng — đã khiến tôi miên man suy tính đủ điều.
Đầu tiên, tôi tưởng tượng rằng khi nhìn thấy ánh sáng của mình, họ đã nhảy xuống xuồng và tìm cách cập bờ; nhưng vì sóng biển dâng quá cao, có lẽ họ đã bị lật thuyền và nhấn chìm. Những lúc khác, tôi lại nghĩ rằng rất có thể họ đã mất chiếc xuồng cứu sinh từ trước, tình huống này có thể xảy ra theo nhiều cách; đặc biệt là do sóng đánh ập vào mạn tàu khiến người ta đôi khi buộc phải đập nát, tháo rời chiếc xuồng, hoặc thậm chí tự tay ném nó xuống biển. Lại có lúc tôi đoán rằng họ còn có con tàu hoặc những con tàu khác đi cùng, và khi nhận được tín hiệu cầu sinh do họ phát ra, những con tàu đó đã đón họ lên và đưa đi nơi khác. Cũng có lúc tôi tưởng tượng rằng tất cả bọn họ đã xuống xuồng trốn chạy ra khơi, rồi bị cuốn vào dòng hải lưu mà tôi từng mắc kẹt ngày trước, để rồi bị trôiạt ra đại dương mênh mông, nơi chẳng có gì ngoài sự khốn cùng và cái chết cận kề; và biết đâu đến giờ này, họ đang phải đối mặt với nạn đói và lâm vào cảnh tơi tả đến mức phải ăn thịt lẫn nhau.
Vì tất cả những điều đó suy cho cùng cũng chỉ là phỏng đoán, nên trong hoàn cảnh của mình, tôi chẳng thể làm gì khác ngoài việc đứng nhìn nỗi bất hạnh của những con người tội nghiệp ấy và dâng trào lòng thương xót. Dù vậy, điều này vẫn đem lại một tác động tích cực cho bản thân tôi: nó khiến tôi càng có thêm lý do để tạ ơn Chúa, Đấng đã vô cùng nhân từ và chu đáo an trí cho tôi trong chốn hoang vu này, để giữa hai thủy thủ đoàn của hai con tàu đều gặp nạn tại góc thế giới này, chẳng một ai được dung tha ngoại trừ một mình tôi. Qua đây, một lần nữa tôi lại ngộ ra rằng: thật hiếm khi sự quan phòng của Chúa lại đẩy chúng ta vào một hoàn cảnh khốn cùng hay tai ương tột độ nào mà ta không thể tìm thấy một điều gì đó để tạ ơn, hoặc không thấy những người khác còn rơi vào hoàn cảnh bi đát hơn chính mình. Rõ ràng đó chính là số phận của những con người xấu số ấy, khi mà tôi thậm chí chẳng tài nào tìm được dù chỉ một tia hy vọng để giả thiết rằng có ai đó sống sót; không một lý do nào có thể biện minh cho việc hy vọng hay mong đợi rằng tất cả bọn họ không bỏ mạng tại đó, ngoại trừ một khả năng mong manh duy nhất là họ được một con tàu đi cùng vớt đi; mà thực ra đó cũng chỉ là khả năng thuần túy trên lý thuyết, bởi tôi chẳng hề nhìn thấy lấy một dấu hiệu hay biểu hiện nào như thế. Tôi không tài nào dùng bất cứ ngôn từ hoa mỹ nào để diễn tả cho thấu đáo nỗi khát khao kỳ lạ dâng trào trong tâm can mình khi chứng kiến cảnh tượng ấy, nỗi lòng đôi khi bật thốt lên thành lời: "Ước gì có lấy một hoặc hai người, hay thậm chí chỉ một linh hồn duy nhất thoát nạn từ con tàu này, trôi dạt được đến bên tôi, để tôi có được một người bạn đồng hành, một sinh linh bằng xương bằng thịt để cất lời trò chuyện và bầu bạn cùng!" Trong suốt quãng đời cô độc của mình, chưa bao giờ tôi cảm thấy khao khát bầu bạn với đồng loại một cách mãnh liệt và cháy bỏng đến thế, cũng chưa bao giờ tôi cảm thấy nuối tiếc sự thiếu vắng ấy sâu sắc nhường này.
Trong cõi lòng con người luôn tồn tại những nhịp xuân thầm kín; khi chúng bị kích động bởi một mục tiêu đang hiện diện trước mắt, hoặc dẫu không trực tiếp nhìn thấy nhưng lại được khắc họa rõ mồn một trong tâm trí bởi sức mạnh của trí tưởng tượng, nguồn xung động ấy sẽ cuốn phăng tâm hồn đi với một sức mạnh cuồng nhiệt, ôm chầm lấy mục tiêu đến mức sự vắng bóng của nó trở thành điều không tài nào chịu đựng nổi. Những nỗi niềm khẩn cầu thiết tha mong có được dẫu chỉ một người sống sót cũng đúng là tâm trạng ấy. Tôi tin mình đã lặp đi lặp lại câu nói "Ước gì chỉ là một người!" đến hàng ngàn lần; và khao khát trong tôi bấn loạn đến độ khi thốt lên những lời đó, hai bàn tay tôi sẽ bấu chặt vào nhau, các ngón tay bấm mạnh vào lòng bàn tay đến mức nếu lúc ấy có vật gì mềm mại trong tay, tôi đã vô tình bóp nát nó rồi; hàm răng tôi cũng nghiến chặt vào nhau, siết lấy nhau mạnh đến nỗi suốt một lúc lâu tôi không tài nào tách chúng ra được. Cứ để cho các nhà tự nhiên học giải thích những hiện tượng này, cùng nguyên nhân và cơ chế của chúng đi. Tất cả những gì tôi có thể làm là miêu tả lại thực tế — một thực tế khiến chính tôi cũng phải kinh ngạc khi nhận ra, dẫu tôi chẳng biết nó xuất phát từ đâu; đó chắc chắn là hệ quả của những ước ao cháy bỏng và những ý niệm mãnh liệt hình thành trong tâm trí, hiện thực hóa niềm an ủi mà sự trò chuyện của một người đồng đạo Cơ Đốc có thể mang lại cho tôi. Nhưng sự thật không phải vậy; hoặc định mệnh của họ, hoặc định mệnh của tôi, hay cả hai đã ngăn cấm điều đó; bởi cho đến tận năm cuối cùng ở trên hòn đảo này, tôi chưa bao giờ biết được có ai sống sót từ con tàu đó hay không; và vài ngày sau, tôi chỉ có nỗi đau đớn khi nhìn thấy xác của một cậu thiếu niên chết đuối trôi dạt vào bờ biển ở mũi đảo gần chỗ tàu đắm nhất. Cậu không mặc quần áo gì ngoài chiếc áo ghi-lê của thủy thủ, một chiếc quần đùi bằng vải lanh mở rộng ở đầu gối, và một chiếc áo sơ mi lanh màu xanh; nhưng hoàn toàn không có bất kỳ vật dụng nào có thể giúp tôi dù chỉ là đoán xem cậu thuộc quốc gia nào. Trong túi cậu chẳng có gì ngoài hai đồng xu tám real và một chiếc tẩu thuốc — món đồ thứ hai đối với tôi còn có giá trị gấp mười lần món đồ thứ nhất.
Lúc này thời tiết đã lặng gió, và tôi rất muốn mạo hiểm chèo xuồng ra chỗ xác tàu đắm kia, bởi tôi đinh ninh rằng thế nào mình cũng tìm thấy trên tàu vài thứ hữu ích. Thế nhưng, điều đó vẫn chưa thôi thúc tôi bằng khả năng — dù chỉ là mong manh — rằng có thể vẫn còn sinh linh nào đó sống sót trên tàu, người mà tôi không chỉ cứu mạng được, mà qua việc cứu mạng đó, tôi cũng có thể xoa dịu phần nào cõi lòng cô độc của chính mình đến tận cùng cực. Ý nghĩ ấy bám riết lấy tâm can tôi đến mức ngày đêm tôi chẳng thể yên lòng, bắt buộc phải mạo hiểm chèo xuồng ra chiếc tàu đắm ấy; và phó thác phần còn lại cho sự quan phòng của Chúa, tôi thấy ấn tượng trong tâm trí mình mạnh mẽ đến mức không thể kháng cự — rằng nó phải đến từ một sự chỉ dẫn vô hình nào đó, và tôi sẽ có lỗi với chính mình nếu không đi.
Dưới sự chi phối của thôi thúc ấy, tôi hối hả quay về lâu đài, chuẩn bị mọi thứ cho chuyến hải trình: một ít bánh mì, một vò nước ngọt lớn, một chiếc la bàn để định hướng, một chai rượu rum (vì tôi vẫn còn thừa khá nhiều), và một giỏ nho khô. Chất đống những thứ cần thiết lên người như vậy, tôi đi xuống chỗ để xuồng, tát cạn nước trong thuyền, hạ thủy, chất toàn bộ hành lý lên rồi lại lợt đợt quay về nhà lấy thêm. Chuyến hàng thứ hai của tôi gồm một bao gạo lớn, chiếc ô để che râm trên đầu, thêm một vò nước lớn nữa, chừng hai chục ổ bánh mì nhỏ hoặc bánh lúa mạch nhiều hơn lần trước, kèm theo một chai sữa dê và một miếng phô mai. Tất cả những thứ đó được tôi mang ra xuồng trong mồ hôi nhễ nhại và sự nhọc nhằn cùng cực; và sau khi cầu nguyện Chúa soi đường chỉ lối cho chuyến hải trình, tôi đẩy thuyền ra khơi, chèo dọc theo bờ biển và cuối cùng cũng tới được mũi tận cùng của hòn đảo ở phía đông bắc. Và giờ đây, tôi sắp sửa phải lao mình ra đại dương mênh mông, đứng trước lựa chọn tiến hay lùi. Tôi nhìn những dòng hải lưu xiết chảy liên tục ở cả hai phía bờ đảo từ đằng xa, chúng trông thật đáng sợ gợi lại cho tôi hiểm nguy từng trải qua trước kia, và trái tim tôi bắt đầu chùng xuống. Tôi thấy trước rằng nếu bị cuốn vào một trong hai dòng hải lưu đó, tôi sẽ bị đẩy ra rất xa ngoài khơi, và biết đâu sẽ bị cuốn ra khỏi tầm với hoặc tầm mắt nhìn thấy hòn đảo; và khi ấy, vì thuyền của tôi quá nhỏ, nếu một cơn gió nhỏ thổi lên, tôi chắc chắn sẽ bỏ mạng.
Những suy nghĩ ấy đè nặng tâm trí khiến tôi chùng bước, từ bỏ ý định; và sau khi kéo chiếc xuồng vào một lạch nhỏ trên bờ, tôi bước lên, ngồi phịch xuống một mô đất cao, đầy vẻ đăm chiêu, lo âu, giằng xé giữa nỗi sợ hãi và khát vọng về chuyến đi của mình. Đúng lúc đang ngẩn ngơ suy ngẫm, tôi nhận ra nước triều đã đổi hướng và đang dâng lên; điều đó có nghĩa là việc ra khơi của tôi sẽ là bất khả thi trong suốt ngấy ấy tiếng đồng hồ. Ngay lập tức, một ý nghĩ lóe lên trong đầu tôi: tôi nên leo lên mảnh đất cao nhất có thể tìm thấy, quan sát hướng chảy của dòng triều hoặc hải lưu khi nước lên, để từ đó phán đoán xem nếu tôi bị cuốn dạt ra ngoài theo một hướng, liệu tôi có thể hy vọng được dòng nước mạnh tương tự đẩy trở về theo một hướng khác hay không. Ý nghĩ vừa chớm nở, tôi liền đảo mắt nhìn về phía một ngọn đồi nhỏ có tầm nhìn bao quát biển cả ở cả hai phía, từ đây tôi có thể phóng tầm mắt quan sát rõ ràng các dòng hải lưu hay sự biến đổi của triều cường, cũng như hướng tôi cần điều khiển thuyền khi quay về. Tại đây, tôi nhận ra rằng trong khi dòng triều rút chảy sát qua mũi phía nam của hòn đảo, thì dòng triều lên lại chảy sát ngay bờ phía bắc; và tôi chẳng cần phải làm gì ngoài việc bám sát bờ phía bắc của hòn đảo khi quay về là sẽ ổn thỏa.
Được khích lệ bởi quan sát đó, tôi quyết định sáng hôm sau sẽ lên đường ngay khi nước triều vừa chớm; và sau khi nằm nghỉ qua đêm ngay trong chiếc xuồng dưới tấm áo khoác lính thủy mà tôi từng nhắc đến, tôi chính thức nhổ neo. Đầu tiên, tôi chèo hướng ra biển một chút về phía chính bắc, cho đến khi cảm nhận được lực đẩy của dòng hải lưu chảy về phía đông, đưa tôi đi với tốc độ rất nhanh; thế nhưng nó không hề cuốn tôi đi thô bạo như dòng hải lưu ở phía nam từng làm trước đó, đến mức tước đi quyền kiểm soát con thuyền. Ngược lại, nhờ khả năng điều lái vững vàng bằng mái chèo, tôi lao thẳng tới chỗ con tàu đắm với tốc độ chóng mặt, và chưa đầy hai tiếng đồng hồ sau, tôi đã áp sát nó.
Đó thực sự là một cảnh tượng ảm đạm và thê lương; qua kiểu dáng kiến trúc, chiếc tàu mang đặc trưng Tây Ban Nha, đang mắc kẹt chặt cứng giữa hai mỏm đá. Toàn bộ phần đuôi và mạn sau của con tàu đã bị sóng đánh vỡ vụn; và vì phần mũi tàu — vốn đâm sầm vào các mỏm đá với lực cực mạnh — đã lao tới trước, nên cột buồm chính và cột buồm trước đều bị gãy gục ngang thân — nghĩa là bị bẻ gãy gập xuống; tuy nhiên, cột cơ (bowsprit) của tàu vẫn còn nguyên vẹn, phần đầu tàu và mũi tàu trông vẫn khá vững chãi. Khi tôi chèo lại sát sàn tàu, một con chó xuất hiện; vừa nhìn thấy tôi đến, nó liền rên rỉ, cất tiếng kêu ẳng ẳng, và ngay khi tôi gọi, nó liền nhảy ùm xuống biển bơi về phía tôi. Tôi vớt nó lên xuồng, nhưng thấy nó gần như đã kiệt sức vì đói khát. Tôi bẻ cho nó một mẩu bánh mì, và nó ngấu nghiến nuốt lấy nuốt để như một con sói hoang đã nhịn đói suốt nửa tháng trời trong giá tuyết. Tôi liền cho sinh vật tội nghiệp ấy uống chút nước ngọt, thứ mà nếu để mặc nó uống, chắc nó đã tự làm vỡ bụng mình rồi. Sau đó, tôi bước lên boong tàu; cảnh tượng đầu tiên đập vào mắt tôi là xác hai người đàn ông bị chết đuối nằm trong gian bếp hoặc khoang mũi tàu, hai tay họ ôm chặt lấy nhau. Tôi suy đoán, và điều đó quả thực rất dễ xảy ra, rằng khi con tàu đâm sầm vào đá giữa lúc bão tố dữ dội, những đợt sóng lớn ập liên hồi và mạnh mẽ đến mức các thủy thủ không thể chịu nổi, họ đã bị ngộp thở bởi dòng nước ập vào liên tục chẳng khác nào đang chìm sâu dưới đáy biển. Ngoài con chó ra, trên tàu chẳng còn lại sinh linh nào sống sót, cũng chẳng còn món hàng hóa nào nguyên vẹn ngoài những thứ đã bị nước biển tàn phá. Có một vài thùng rượu, không rõ là rượu vang hay rượu mạnh, nằm sâu dưới hầm tàu, và khi nước triều rút bớt, tôi có thể nhìn thấy chúng; nhưng kích thước quá lớn khiến tôi đành chịu thua. Tôi nhìn thấy vài chiếc rương, có lẽ là của các thủy thủ; và tôi đã khuân được hai chiếc lên xuồng mà chẳng cần bận tâm kiểm tra xem bên trong đựng những gì. Giá như phần đuôi tàu được cố định nguyên vẹn còn phần mũi tàu mới bị vỡ nát, tôi tin chắc mình đã có một chuyến hời lớn; bởi qua những gì tìm thấy trong hai chiếc rương đó, tôi có cơ sở để phán đoán rằng con tàu đang chuyên chở một lượng lớn tài sản quý giá; và nếu tôi đoán qua hải trình của nó, hẳn nó đang trên đường khởi hành từ Buenos Aires hoặc cửa sông Rio de la Plata ở Nam Mỹ, vượt qua vùng Brazil để tiến tới Havana thuộc vịnh Mexico, và từ đó có lẽ sẽ về tới Tây Ban Nha. Chắc chắn con tàu đang mang theo một kho báu khổng lồ, nhưng vào lúc đó thì chẳng có chút giá trị sử dụng nào đối với bất kỳ ai; còn số phận của thủy thủ đoàn ra sao thì lúc đó tôi hoàn toàn không hay biết.
Ngoài những chiếc rương ấy ra, tôi còn tìm thấy một chum rượu nhỏ chứa chừng hai mươi galon, tôi đã chật vật lắm mới đưa được nó lên xuồng. Trong cabin có vài khẩu súng hỏa mai và một chiếc sừng đựng thuốc súng lớn chứa khoảng bốn cân thuốc súng; còn những khẩu súng hỏa mai thì tôi chẳng có nhu cầu dùng đến nên đã để lại, nhưng tôi mang theo chiếc sừng đựng thuốc súng. Tôi lấy thêm một cái xẻng xúc than và một cặp kẹp gắp — những thứ tôi đang cực kỳ cần, cùng với hai chiếc ấm đồng nhỏ, một cái bình đồng để pha sô-cô-la, và một vỉ nướng. Với chiến lợi phẩm đó cùng con chó, tôi quay về khi nước triều bắt đầu chuyển hướng chảy vào bờ — và vào chập tối cùng ngày, chừng một tiếng sau khi trời tối hẳn, tôi đã về tới hòn đảo, mệt mỏi và kiệt sức đến tận cùng. Đêm đó tôi nghỉ lại luôn trên xuồng, và sáng hôm sau quyết định cất giấu số đồ đạc vừa thu lượm được vào hang mới của mình thay vì mang về lâu đài. Sau khi lấy lại sức, tôi chuyển toàn bộ hàng hóa lên bờ và bắt đầu kiểm tra từng món cụ thể. Chum rượu hóa ra là một loại rượu rum, nhưng không giống loại chúng tôi vẫn có ở Brazil; tóm lại là dở tệ. Thế nhưng khi mở những chiếc rương ra, tôi tìm thấy rất nhiều vật dụng vô cùng hữu ích cho mình — ví dụ, trong một chiếc rương, tôi tìm thấy một bộ chai lọ tuyệt đẹp thuộc loại đặc biệt, bên trong đựng nước thuốc bổ hảo hạng và rất thơm ngon; mỗi chai chứa chừng ba pint, có nắp bọc bạc. Tôi tìm thấy hai hũ mứt trái cây cô đặc rất ngon, miệng hũ được bịt kín đến mức nước biển không thể thấm vào được; và thêm hai hũ khác cùng loại nhưng đã bị nước làm hỏng. Tôi tìm thấy vài chiếc áo sơ mi cực kỳ vừa ý, cùng khoảng một tá rưỡi khăn tay bằng vải lanh trắng và khăn quàng cổ đủ màu; những chiếc khăn tay thực sự là món quà tuyệt vời, giúp tôi lau mồ hôi cực kỳ sảng khoái vào những ngày trời oi bức. Bên cạnh đó, khi mở ngăn kéo nhỏ phía trên của chiếc rương, tôi phát hiện ba túi lớn đựng đầy những đồng xu tám real, tổng cộng lên tới khoảng một nghìn một trăm đồng; và trong một túi, được bọc cẩn thận trong giấy, có sáu đồng tiền vàng doubloon cùng vài thanh vàng nhỏ hoặc thỏi vàng nén; tôi đoán tất cả chúng nặng ngót nghét một cân. Chiếc rương còn lại đựng một ít quần áo nhưng giá trị chẳng đáng là bao; tuy nhiên, xét qua các đặc điểm, có lẽ nó thuộc về viên sĩ quan phụ tá pháo thủ; dù chẳng có chút thuốc súng nào trong đó, ngoại trừ hai cân thuốc súng hảo hạng đã được đánh bóng, đựng trong ba chiếc lọ, có lẽ để dùng nạp đạn cho súng săn khi cần thiết. Nhìn chung, chuyến đi này chẳng đem lại cho tôi mấy thứ hữu ích; bởi nói về tiền bạc thì tôi hoàn toàn chẳng có nhu cầu gì đến chúng; đối với tôi, chúng chẳng khác nào cát bụi dưới chân, và tôi sẵn sàng đổi tất cả đống ấy lấy ba bốn đôi giày tất của Anh — những thứ tôi đang vô cùng thèm khát nhưng đã nhiều năm nay chẳng có lấy một chiếc nào xỏ vào chân. Thực ra, tôi vừa vớt được hai đôi giày từ chân của hai người chết đuối trong xác tàu, và tìm thấy thêm hai đôi nữa trong một chiếc rương, đó quả là những món quà vô cùng đáng mừng; thế nhưng chúng lại không giống giày Anh ở chỗ mang lại sự thoải mái hay bền bỉ, mà giống loại giày búp bê (pumps) hơn là giày đi bộ bình thường. Trong chiếc rương của người thủy thủ này, tôi tìm thấy khoảng năm mươi đồng xu tám real đổi ra tiền rial, nhưng không có vàng; tôi đoán chiếc rương này thuộc về một người có gia cảnh kém hơn chiếc rương kia — vốn có vẻ thuộc về một viên sĩ quan nào đó. Thôi thì dẫu sao, tôi cũng đã khuân đống tiền bạc này về hang và cất giấu nó đi, hệt như cách tôi từng làm với số tiền mang theo từ con tàu của chính chúng tôi trước kia; nhưng quả thực rất đáng tiếc, như tôi đã nói, khi phần còn lại của con tàu này không thuộc về phần tôi; bởi tôi tin chắc mình có thể chất đầy xuồng hết chuyến này đến chuyến khác bằng tiền; và tôi thầm nghĩ, nếu có ngày tôi trốn thoát về được nước Anh, số tiền này cứ nằm yên ở đây an toàn biết mấy cho đến khi tôi quay lại lấy nó.