Làm xong xuôi mọi việc, ngày hôm sau tôi từ biệt họ và xuống tàu. Chúng tôi chuẩn bị nhổ neo ngay, nhưng đêm hôm đó vẫn chưa rời bến. Sáng sớm hôm sau, hai trong số năm kẻ phản loạn bơi ra mạn tàu, cất lời kêu than thảm thiết về ba tên còn lại, van xin ơn trên cứu lấy mạng chúng vì chắc chắn chúng sẽ bị sát hại. Chúng nài nỉ viên thuyền trưởng nhận lên tàu dẫu có đem treo cổ chúng ngay lập tức cũng đành chịu. Trước tình hình đó, viên thuyền trưởng tỏ ra không có quyền quyết định nếu không có sự đồng ý của tôi; nhưng sau đôi chút khó khăn, cùng những lời thề thốt hứa hẹn sẽ cải tà cựu chính, cuối cùng chúng cũng được đưa lên tàu. Chẳng bao lâu sau, cả hai nếm đòn roi nên thân cùng một trận ngâm nước muối sát trùng; bù lại, từ đó về sau chúng tỏ ra là những kẻ vô cùng lương thiện và ngoan ngoãn.
Một thời gian sau, khi thủy triều lên, chiếc thuyền nhỏ được lệnh chở số vật dụng đã hứa vào bờ cho nhóm người ở lại. Theo lời khẩn khoản của tôi, viên thuyền trưởng còn cho phép mang theo cả hòm xiểng và quần áo của họ. Họ đón nhận những thứ ấy với lòng biết ơn sâu sắc. Tôi cũng không quên động viên họ, rằng nếu có dịp phái tàu quay lại đón, tôi nhất định sẽ không bỏ rơi họ.
Khi rời khỏi hòn đảo này, tôi mang theo làm kỷ vật chiếc mũ da dê lớn mà tự tay mình từng làm, cây ô, và một chú vẹt. Tôi cũng không quên mang theo số tiền từng nhắc đến trước kia — thứ đã nằm phơi bên tôi lâu ngày đến mức ra ten, xỉn màu, suýt chẳng còn tiêu được nếu không được chà xát và cầm nắm đôi chút — cùng với khoản tiền tôi tìm thấy trong xác chiếc tàu Tây Ban Nha bị đắm. Cứ như thế, tôi rời đảo vào ngày 19 tháng Mười hai năm 1686, tính theo sổ sách của tàu, sau đúng hai mươi tám năm, hai tháng và mười chín ngày sinh sống tại đây. Tôi được giải thoát khỏi cảnh giam cầm thứ hai này đúng vào ngày tháng mà thuở trước tôi từng trốn chạy trên chiếc xuồng dài khỏi bọn Mô-rơ ở Xalê. Sau hải trình dài trên con tàu này, tôi đặt chân đến nước Anh vào ngày 11 tháng Sáu năm 1687, sau đúng ba mươi lăm năm xa xứ.
Khi về đến Anh, tôi trở nên xa lạ với tất cả mọi người cứ như thể chưa từng đặt chân đến chốn này. Ân nhân kiêm người quản gia trung thành mà tôi từng tin tưởng gửi gắm số tiền xưa vẫn còn sống, nhưng cuộc đời bà gặp nhiều bất hạnh; bà đã thủ tiết người chồng thứ hai và gia cảnh vô cùng túng quẫn. Tôi trấn an bà về khoản tiền bà nợ tôi, quả quyết rằng sẽ không làm phiền hay đòi hỏi gì; trái lại, để tạ ơn sự chu đáo và lòng trung thành trước kia, tôi đã giúp đỡ bà trong khả năng eo hẹp lúc bấy giờ. Quả thực, hoàn cảnh khi đó không cho phép tôi làm được bao nhiêu, nhưng tôi hứa sẽ không bao giờ quên ơn nghĩa cũ. Và quả thật, khi có đủ khả năng, tôi đã không quên bà, như sẽ được thuật lại ở phần thích hợp. Sau đó, tôi xuôi về Yorkshire; nhưng cha tôi đã qua đời, mẹ tôi cùng toàn bộ họ hàng nội ngoại đều không còn nữa, ngoại trừ hai người chị gái và hai đứa con của một người anh trai. Do thiên hạ đã sớm đinh ninh tôi chết từ lâu, chẳng có phần tài sản nào được để dành cho tôi cả. Nói tóm lại, tôi chẳng tìm thấy ai để nương nhờ hay nhờ vả, và số tiền ít ỏi trong tay chẳng giúp ích được mấy cho việc tái lập cơ nghiệp.
Bù lại, tôi nhận được một nghĩa cử bất ngờ: viên thuyền trưởng con tàu mà tôi từng cứu thoát — nhờ đó cũng bảo toàn được cả tàu lẫn hàng hóa — đã viết một bản tường trình rất tốt đẹp gửi lên các chủ tàu về cách tôi cứu mạng thủy thủ đoàn và chiếc tàu. Họ liền mời tôi đến gặp cùng một số thương gia có liên quan, và tất cả đã dành cho tôi những lời tán dương hết mực lịch thiệp cùng món quà trị giá gần hai trăm bảng Anh.
Tuy nhiên, sau khi ngẫm nghĩ về hoàn cảnh bản thân và nhận ra số tiền ít ỏi ấy chẳng thấm vào đâu để giúp tôi gầy dựng lại cơ đồ, tôi quyết định lên đường đi Lisbon. Mục đích của tôi là dò la tin tức về đồn điền của mình ở Brasil và tìm xem chuyện gì đã xảy ra với người cộng sự mà tôi có lý do để tin rằng đã từ bỏ hy vọng và cho là tôi đã chết từ lâu. Với dự định đó, tôi lên tàu đi Lisbon và cập cảng vào tháng Tư năm sau. Chàng trai Friday trung thành đồng hành cùng tôi trong mọi nẻo đường phiêu lưu và tỏ ra là một người đầy tận tụy trong mọi hoàn cảnh. Vừa đến Lisbon, qua đôi đường dò la, tôi vô cùng mãn nguyện khi tìm lại được người quen cũ — chính là viên thuyền trưởng từng vớt tôi lên khỏi mặt nước ngoài khơi bờ biển châu Phi ngày trước. Ông nay đã già, từ giã nghiệp biển, và giao lại con tàu chuyên chạy tuyến Brasil cho cậu con trai nay cũng đã luống tuổi. Cụ già không nhận ra tôi, và quả thực tôi cũng khó lòng nhận ra ông. Nhưng khi tôi tiết lộ thân phận, ông liền nhớ ra tôi, và bản thân tôi cũng lập tức nhận ra người xưa.
Sau những lời thăm hỏi dạt dào tình cảm của đôi bên, điều đương nhiên là tôi gặng hỏi ngay về đồn điền và người cộng sự cũ. Cụ già cho biết ông đã không đặt chân đến Brasil khoảng chín năm nay; nhưng ông đoan chắc rằng khi ông rời đi, người cộng sự của tôi vẫn còn sống. Dù vậy, cả hai vị ủy viên mà tôi cùng đứng tên giao phó việc quản lý phần tài sản của mình đều đã qua đời. Tuy nhiên, ông tin rằng tôi sẽ nhận được những bản báo cáo rất tốt đẹp về sự phát triển của đồn điền; bởi vì đinh ninh rằng tôi đã tử nạn ngoài khơi, các ủy viên đã nộp bản kê khai hoa lợi phần đồn điền của tôi cho quan chưởng lý tài chính. Viên quan này đã sung công quỹ — phòng khi chẳng ai đến nhận — với phân nửa thuộc về nhà vua và hai phần ba dành cho tu viện Thánh Augustine, dùng vào việc phúc lợi cho người nghèo và cải đạo cho người bản địa theo đức tin Công giáo. Dù vậy, nếu tôi hoặc bất kỳ ai đại diện đến nhận thừa kế, tài sản sẽ được hoàn trả; chỉ có điều phần hoa lợi gia tăng hằng năm đã được phân phối cho các mục đích từ thiện nên không thể hoàn lại. Dẫu thế, ông quả quyết rằng viên quản lý hoàng địa và quan quản sự của tu viện vẫn luôn sát sao giám sát để người đương nhiệm — tức người cộng sự của tôi — hằng năm đều đẻ ra những bản báo cáo trung thực về sản lượng, và họ đã nhận đủ phần của tôi một cách sòng phẳng.
Tôi hỏi ông rằng đồn điền đã phát triển đến mức độ nào, liệu có đáng công quay lại quản lý hay không, và liệu khi đến đó tôi có gặp trắc trở gì trong việc đòi lại quyền sở hữu hợp pháp đối với phần của mình hay không. Ông đáp rằng ông không nắm chính xác đồn điền đã phồn thịnh đến đâu, nhưng ông biết chắc người cộng sự của tôi đã trở nên vô cùng giàu có nhờ hưởng thụ phần tài sản ấy. Theo trí nhớ của ông, phần ba hoa lợi thuộc về nhà vua — vốn đã được ban cấp cho một tu viện hoặc nhà tu hành khác — tính ra lên đến hơn hai trăm đồng moidore mỗi năm. Còn về việc khôi phục quyền sở hữu yên ổn, đó là điều hiển nhiên không phải bàn cãi, bởi người cộng sự vẫn còn sống để làm chứng cho danh nghĩa của tôi, và tên tuổi tôi cũng đã được ghi chép trong sổ bộ quốc gia. Hơn nữa, ông cho biết những người sống sót trong hai vị ủy viên cũ đều là những người rất đàng hoàng, lương thiện và giàu có. Ông tin rằng họ không chỉ giúp đỡ tôi trong việc lấy lại tài sản, mà còn đang giữ một khoản tiền mặt kết xù đứng tên tôi — đó là hoa lợi thu được từ điền trang trong suốt những năm cha họ còn làm người quản thác trước khi bàn giao như đã nói — tính ra khoảng mười hai năm.
Nghe đến đây, tôi không khỏi lo lắng và bứt rứt, liền gặng hỏi viên thuyền trưởng già vì sao các ủy viên lại có thể tự ý định đoạt tài sản của tôi trong khi ông thừa biết tôi đã lập di chúc và chỉ định chính ông — viên thuyền trưởng người Bồ Đào Nha — làm người thừa kế vạn năng của mình.
Ông đáp rằng điều đó quả có thật, nhưng vì không có bằng chứng xác thực về cái chết của tôi nên ông không thể đứng ra hành động với tư cách người thi hành di chúc cho đến khi có tin tức chắc chắn; vả lại, ông cũng chẳng mặn mà gì với việc nhúng tay vào một cơ ngơi quá xa xôi. Dù vậy, quả thực ông đã đăng ký di chúc của tôi và nộp đơn đòi quyền lợi; nếu có bất kỳ tin tức sống chết nào của tôi, ông đã có thể hành động theo giấy ủy quyền, chiếm lấy quyền quản lý ingenio (tên gọi xưởng đường của họ) và ra lệnh cho cậu con trai đang ở Brasil thay mặt thực hiện. “Nhưng,” cụ già nói tiếp, “tôi còn một tin muốn báo cho anh, có lẽ nghe xong anh sẽ chẳng vui vẻ gì cho cam; ấy là vì đinh ninh rằng anh đã thiệt mạng, và cả thế giới đều nghĩ như vậy, người cộng sự và các ủy viên của anh đã đề nghị thanh toán sáu hoặc tám năm lợi nhuận đầu tiên với tôi, và tôi đã nhận khoản tiền ấy. Thời điểm đó, do phải chi phí quá lớn cho việc mở rộng xưởng sản xuất, xây dựng ingenio và tậu nô lệ, số tiền thu về chẳng thấm vào đâu so với những năm sau này. Dù sao đi nữa,” cụ già tiếp lời, “tôi sẽ trao lại cho anh một bản kê khai trung thực về toàn bộ số tiền tôi đã nhận và cách tôi đã phân định chúng.”
Sau vài ngày tiếp tục bànạc với người bạn già này, ông mang đến cho tôi bản kê khai thu nhập sáu năm đầu tiên của đồn điền, có chữ ký của người cộng sự và các thương gia ủy viên. Hoa lợi lúc bấy giờ toàn trả bằng hiện vật, gồm thuốc lá cuộn, đường hòm, cùng rượu rum, mật mía... những sản phẩm đặc trưng của nghề làm đường. Qua bảng kê, tôi thấy thu nhập tăng trưởng đáng kể theo từng năm; nhưng như đã nói, do chi phí ban đầu quá lớn nên số tiền thu về không đáng là bao. Dù vậy, cụ già cũng cho tôi thấy ông đang nợ tôi bốn trăm bảy mươi đồng moidore vàng, cùng sáu mươi hòm đường và mười lăm cuộn thuốc lá đôi — những thứ đã bị chìm theo con tàu của ông trong chuyến hải trình về lại Lisbon khoảng mười một năm sau khi tôi rời khỏi vùng đất ấy. Cụ ông bắt đầu than thở về những bất hạnh của bản thân, về việc ông buộc phải dùng đến tiền của tôi để vực dậy sau tai ương và tậu cổ phần trong một con tàu mới. “Dù thế đi nữa, người bạn già ạ,” ông nói, “anh sẽ không phải thiếu thốn phương tiện sinh nhai đâu; ngay khi con trai tôi trở về, mọi khoản nợ sẽ được thanh toán sòng phẳng.” Nói đoạn, ông rút ra một chiếc túi cũ, trao tận tay tôi một trăm sáu mươi đồng moidore vàng Bồ Đào Nha, kèm theo giấy tờ sở hữu con tàu mà đứa con trai đang dùng để đi Brasil — trong đó ông nắm một phần tư cổ phần và con trai ông nắm một phần tư khác — ông trao hết vào tay tôi để làm vật thế chấp cho số còn lại.
Tôi quá đỗi xúc động trước tấm lòng lương thiện và nhân hậu của người đàn ông khốn khổ ấy, đến mức chẳng thể kìm nén nổi lòng mình. Nhớ lại những gì ông từng làm cho tôi — từ việc vớt tôi lên giữa biển khơi, đối xử rộng lượng trong mọi hoàn cảnh, cho đến nghĩa cử chân tình hiện tại — tôi suýt bật khóc trước những lời ông vừa thổ lộ. Do đó, tôi liền hỏi liệu hoàn cảnh của ông có cho phép rút ra một khoản tiền lớn đến vậy mà không gặp túng thiếu hay không. Ông đáp rằng không dám chắc là không ảnh hưởng chút ít, nhưng dẫu sao đó cũng là tiền của tôi, và có lẽ tôi đang cần nó hơn ông.
Từng lời người tốt bụng ấy thốt ra đều đong đầy tình cảm, khiến cổ nghẹn đắng và mắt tôi rưng rưng chực khóc. Cuối cùng, tôi chỉ nhận một trăm đồng moidore, bảo người mang giấy mực đến để viết giấy biên nhận; phần còn lại tôi trả hết cho ông, đồng thời nhắn nhủ rằng nếu mai này có thu hồi được đồn điền, tôi nhất định sẽ hoàn trả số tiền ấy (và quả thực sau này tôi đã làm đúng như vậy). Riêng về tờ giấy chuyển nhượng phần cổ phần trong con tàu của người con trai, tôi kiên quyết không nhận; tôi bảo rằng nếu cần tiền, tôi thừa hiểu ông là người đủ lương thiện để trả, còn nếu không cần và thu được những khoản mà ông đã vẽ ra, tôi sẽ không đời nào cầm thêm một xu nào từ ông nữa.
Mọi chuyện xong xuôi, cụ già hỏi tôi có muốn ông chỉ cách lập thủ tục đòi lại đồn điền hay không. Tôi đáp rằng mình dự định sẽ tự thân qua đó. Ông bảo tôi cứ tùy nghi định đoạt, nhưng nếu không muốn đi, vẫn có thừa cách để bảo vệ quyền lợi và trực tiếp thu về hoa lợi cho riêng mình. Thế là, nhân lúc có mấy chiếc tàu ở sông Lisbon chuẩn bị nhổ neo sang Brasil, ông bắt tôi ghi tên vào sổ bộ công khai, kèm theo bản tuyên thệ của chính ông xác nhận dưới sự chứng kiến của thần linh rằng tôi vẫn còn sống, và tôi chính là con người thuở trước từng khai phá mảnh đất để lập nên đồn điền ấy. Sau khi thủ tục được công chứng viên hợp pháp hóa hoàn chỉnh kèm theo giấy ủy quyền, ông hướng dẫn tôi gửi kèm một bức thư do chính tay ông viết cho một thương quen tại vùng đất đó, rồi đề nghị tôi ở lại cùng ông cho đến khi có tin tức hồi âm.
Chưa từng có quy trình nào diễn ra minh bạch và danh dự hơn thế; chưa đầy bảy tháng sau, tôi nhận được một bưu kiện lớn từ những người sống sót trong nhóm thương gia ủy viên — những người mà vì lợi ích của họ tôi từng vươn khơi bám biển — bên trong đựng những thư từ và tài liệu cụ thể như sau:
Thứ nhất là bản đối chiếu tài chính về hoa lợi nông trại hay đồn điền của tôi tính từ năm cha của họ thanh toán sòng phẳng với cụ già người Bồ Đào Nha, kéo dài trong vòng sáu năm; khoản kết dư lên đến một nghìn một trăm bảy mươi tư đồng moidore nghiêng về phía tôi.
Thứ hai là bản kê khai bốn năm tiếp theo — khoảng thời gian họ tiếp tục nắm giữ tài sản trước khi chính quyền can thiệp tịch thu với lý do đây là tài sản của một người biệt tích, gọi là án tử hình dân sự. Khoảng thời gian này, nhờ giá trị đồn điền không ngừng tăng trưởng, khoản kết dư đạt mười chín nghìn bốn trăm bốn mươi sáu đồng cruzado, tương đương khoảng ba nghìn hai trăm bốn mươi đồng moidore.
Thứ ba là bản kê khai của Bề trên tu viện Thánh Augustine — vị đã thu hoa lợi trong hơn mười bốn năm qua. Vì không thể giải trình tường tận những khoản đã chi cho bệnh xá, vị này rất lương thiện khi khai nhận còn giữ lại tám trăm bảy mươi hai đồng moidore chưa phân phát và xin chuyển vào tài khoản của tôi. Riêng phần của nhà vua thì hoàn toàn không hoàn lại đồng nào.
Lại có một bức thư từ người cộng sự gửi sang, bày tỏ niềm vui khôn tả khi hay tin tôi còn sống, thông báo tình hình phồn thịnh của điền trang cũng như sản lượng thu hoạch hằng năm, kèm theo chi tiết số lượng khoảnh đất hoặc mẫu Anh, cách thức canh tác và số lượng nô lệ hiện có. Anh ta đánh dấu hai mươi mươi hai chữ thập thay cho lời cầu chúc phước lành, thưa rằng đã đọc ngần ấy kinh kính mừng để tạ ơn Đức Mẹ Đồng Trinh vì tôi vẫn còn tại thế. Anh tha thiết mời tôi qua đó tiếp nhận phần cơ ngơi của mình, hoặc trong lúc chưa thể thân chinh ghé qua, hãy ra chỉ thị xem nên bàn giao tài sản cho ai. Bức thư khép lại bằng lời bày tỏ tình thâm ý trọng từ anh và gia đình, kèm theo món quà là bảy bộ da báo tuyệt đẹp — nghe đâu do một con tàu khác của anh phái đi châu Phi mang về, và chuyến hải trình ấy xem chừng còn thuận buồm xuôi gió hơn cả tôi. Anh còn gửi tặng năm hòm mứt kẹo hảo hạng cùng một trăm miếng vàng chưa đúc thành tiền, kích thước nhỏ hơn moidore đôi chút. Cùng chuyến hạm đội đó, hai thương gia ủy viên cũng gửi cho tôi một nghìn hai trăm hòm đường, tám trăm cuộn thuốc lá, và phần còn lại của toàn bộ tài khoản quy đổi ra vàng.
Lúc này, tôi hoàn toàn có thể thốt lên rằng đoạn cuối đời của Gióp còn thịnh vượng hơn cả thuở ban đầu. Thật không tài nào diễn tả nổi tâm trạng bồi hồi, thổn thức trong lồng ngực khi trông thấy toàn bộ khối tài sản bao quanh mình. Bởi lẽ các tàu bè từ Brasil đều cập cảng theo hạm đội, nên chính những con tàu mang thư từ cũng đồng thời chở theo hàng hóa của tôi, và của cải đã nằm yên vị dưới bến sông trước khi thư tay kịp đến tay tôi. Nói ngắn gọn, mặt mày tôi cắt không còn giọt máu, ngả bệnh tại chỗ; nếu cụ già không nhanh chân chạy đi lấy thuốc hồi tim, có lẽ sự kinh ngạc quá đỗi đột ngột ấy đã quật ngã sinh mạng và tôi đã bỏ mạng ngay tại chỗ. Thậm chí sau đó, cơ thể tôi vẫn tiếp tục suy nhược và mệt mỏi suốt mấy tiếng đồng hồ cho đến khi người ta mời thầy thuốc đến. Sau khi nắm được nguyên nhân thực sự dẫn đến cơn bạo bệnh, ông liền ra lệnh trích huyết cho tôi; nhờ thế tôi thấy dễ chịu hơn và hồi phục sức khỏe. Tôi đinh ninh rằng nếu không có cách giải tỏa dòng khí huyết đang cuộn trào theo cách đó, chắc chắn tôi đã không thể qua khỏi.
Chỉ trong chớp mắt, tôi bỗng chốc trở thành chủ nhân của khối tiền mặt trị giá hơn năm nghìn bảng Anh, sở hữu một cơ ngơi — gọi thế hoàn toàn không ngoa — tại Brasil trị giá hơn một nghìn bảng Anh mỗi năm, chắc chắn như một điền sản đất đai tại Anh quốc. Nói tóm lại, tôi rơi vào một hoàn cảnh mà bản thân khó lòng hình dung nổi, cũng chẳng biết cách nào để tĩnh tâm tận hưởng nó. Việc đầu tiên tôi làm là đền đáp ân nhân thuở ban đầu — cụ già thuyền trưởng tốt bụng, người từng rủ lòng thương khi tôi khốn cùng, đối xử tử tế lúc tôi mới khởi sự, và giữ trọn chữ tín cho đến tận phút cuối cùng. Tôi bày tỏ cho ông thấy tất cả những gì người ta vừa gửi đến; tôi nói rằng ngoại trừ sự quan phòng của Thiên Chúa — đấng an sắp vạn vật — ơn phước này hoàn toàn nhờ vào ông, và giờ đây đến lượt tôi phải đền ơn đáp nghĩa gấp trăm lần. Thế là, trước tiên tôi hoàn trả một trăm đồng moidore từng nhận của ông; sau đó cho gọi công chứng viên đến để lập giấy miễn trừ và thanh lý toàn bộ khoản nợ bốn trăm bảy mươi đồng moidore mà ông từng thừa nhận nợ tôi, với hình thức chặt chẽ và vững chắc nhất có thể.
Tiếp theo đó, tôi cho lập giấy ủy quyền trao cho ông quyền thu nhận hoa lợi hằng năm từ đồn điền của tôi, đồng thời chỉ định người cộng sự phải thanh toán sòng phẳng với ông và chuyển giao lợi nhuận qua các chuyến hạm đội thường niên dưới danh nghĩa của tôi. Cuối cùng, tôi bổ sung một điều khoản trợ cấp một trăm đồng moidore mỗi năm cho ông suốt quãng đời còn lại trích từ nguồn hoa lợi, và năm mươi đồng moidore mỗi năm cho người con trai sau khi ông qua đời. Cứ như thế, tôi đã báo đền người bạn già của mình.
Bây giờ, tôi phải cân nhắc xem nên bước tiếp con đường nào, và phải làm gì với khối cơ ngơi mà ơn trên vừa phó thác vào tay mình. Thú thật, tâm trí tôi lúc này còn bận rộn lo toan nhiều hơn cả quãng thời gian sinh sống trên hoang đảo — nơi tôi chẳng thiếu gì ngoài những thứ mình không có, và chẳng có gì ngoài những thứ mình cần. Ngược lại, giờ đây tôi gánh trên vai một trọng trách lớn lao, và mối bận tâm duy nhất là làm thế nào để bảo toàn nó. Tôi chẳng còn cái hang nào để cất giấu tiền bạc, hay một xó xỉnh nào vứt bừa bãi không cần ổ khóa chìa cho đến khi mốc meo xỉn màu mà chẳng ai thèm ngó ngàng tới; trái lại, tôi chẳng biết phải đặt của cải ở đâu hay tin tưởng giao phó cho ai. Người bảo hộ cũ — vị thuyền trưởng — quả thực rất lương thiện, và đó là chỗ nương thân duy nhất tôi có được. Hướng đi tiếp theo là phần lợi ích tại Brasil dường như đang gọi mời tôi trở lại; nhưng ngặt nỗi lúc này tôi không thể nghĩ đến chuyện lên đường chừng nào chưa giải quyết xong xuôi mọi chuyện và gửi gắm của cải vào những bàn tay đáng tin cậy. Thoạt đầu, tôi nghĩ đến người bạn cũ — góa phụ nọ — người mà tôi biết rõ là lương thiện và sẽ đối xử công bằng với tôi; nhưng bà nay đã có tuổi, cảnh ngộ túng quẫn, và biết đâu còn đang ngập đầu trong nợ nần. Tóm lại, không còn cách nào khác, tôi buộc phải tự mình quay về nước Anh và mang theo toàn bộ tài sản.
Dù vậy, phải mất vài tháng tôi mới đi đến quyết định cuối cùng. Trong lúc chờ đợi, sau khi đã đền đáp xứng đáng và làm thỏa lòng người thuyền trưởng già — ân nhân thuở trước của tôi — tôi bắt đầu nghĩ đến người góa phụ khốn khổ, người có người chồng từng là ân nhân đầu tiên, và bản thân bà, trong lúc còn có thể, chính là người quản gia kiêm người hướng dẫn tận tụy của tôi. Thế là, việc đầu tiên tôi làm là nhờ một thương gia ở Lisbon viết thư cho đối tác của ông ở Luân Đôn, không chỉ để thanh toán một hối phiếu mà còn trực tiếp tìm kiếm bà, trao tận tay một trăm bảng Anh từ tôi, đồng thời thăm hỏi và an ủi bà trong cảnh nghèo khó bằng lời hứa rằng nếu tôi còn sống, bà sẽ tiếp tục nhận được sự hỗ trợ. Cùng lúc đó, tôi gửi tặng hai người chị ở quê mỗi người một trăm bảng Anh, bởi dẫu không đến nỗi túng quẫn, hoàn cảnh của họ cũng chẳng mấy khá giả — một người đã lấy chồng rồi góa bụa, người kia có người chồng không được tử tế cho lắm. Thế nhưng, giữa bao nhiêu họ hàng thân thích hay bạn bè quen biết, tôi vẫn chẳng tài nào chọn được một ai để dám gửi gắm phần lớn gia sản nhằm yên tâm rời đi Brasil; điều này khiến tôi vô cùng đau đầu bứt rứt.
Đã có lúc tôi nảy ý định quay lại Brasil định cư hẳn, bởi tôi đã quen thuộc với mảnh đất ấy như thể quê hương thứ hai; thế nhưng, trong tâm trí tôi vẫn còn chút vướng bận về tôn giáo, thứ cứ vô hình kéo chùn chân tôi lại. Dẫu sao đi nữa, không phải tôn giáo ngăn cản tôi lên đường ngay lúc này; và vì tôi từng chẳng ngần ngại công khai bày tỏ tôn giáo bản địa suốt thời gian sống chung với họ, thì giờ đây tôi cũng chẳng câu nệ gì. Chỉ là dạo gần đây, khi nghĩ ngợi nhiều hơn về chuyện sinh tử tại chốn ấy, tôi bắt đầu cảm thấy hối hận vì từng tuyên bố mình theo đạo Thiên Chúa giáo La Mã, và tự hỏi liệu đó có phải là tôn giáo tốt nhất để nương nhờ khi nhắm mắt xuôi tay hay không.
Nhưng như tôi đã nói, đó không phải là nguyên nhân chính giữ chân tôi lại, mà thực chất vì tôi chẳng biết nên gửi gắm tài sản cho ai ở lại phía sau. Cuối cùng, tôi quyết định trở về Anh quốc, với niềm tin rằng khi đặt chân đến đó, tôi sẽ có dịp kết giao hoặc tìm thấy những họ hàng thân thích đủ lòng trung thành để gởi gắm niềm tin. Thế là, tôi rốt cuộc chuẩn bị xuôi về nước Anh cùng toàn bộ khối tài sản sù sụ của mình.
Để chuẩn bị cho hành trình về quê nhà, nhân lúc hạm đội Brasil sắp sửa nhổ neo, việc đầu tiên tôi làm là viết thư hồi đáp thấu tình đạt lý trước những thông tin trung thực nhận được từ bên ấy. Trước hết, gửi Bề trên tu viện Thánh Augustine, tôi viết một bức thư chan chứa lòng biết ơn vì cách cư xử minh bạch của ngài, cũng như nhã ý nhường lại tám trăm bảy mươi hai đồng moidore chưa phân phát. Tôi xin kính cẩn dâng năm trăm đồng cho tu viện và ba trăm bảy mươi hai đồng còn lại cho người nghèo tùy theo sự phân định của ngài, đồng thời khẩn khoản xin vị cha chung cầu nguyện cho mình. Tiếp đến, tôi gửi thư cảm ơn hai vị ủy viên với tất cả sự trân trọng mà một thái độ công minh, lương thiện đáng được nhận. Riêng việc gửi quà cáp, họ vốn ở vị thế quá cao nên chẳng có nhu cầu nhận mấy thứ đó. Cuối cùng, tôi viết thư cho người cộng sự, ngợi khen tinh thần cần cù trong việc phát triển đồn điền cũng như sự chính trực trong việc nhân rộng khối lượng tài sản của xưởng sản xuất. Tôi gửi kèm những chỉ thị về cách thức quản lý phần của tôi trong tương lai dựa theo quyền hạn đã trao cho người bảo hộ cũ — người mà tôi dặn anh cứ gửi mọi khoản hoa lợi phát sinh cho đến khi nhận được tin tức cụ thể hơn từ tôi. Tôi đoan chắc rằng ý định của tôi không chỉ là ghé thăm mà còn định cư luôn tại đó đến hết quãng đời còn lại. Kèm theo thư là món quà rất lịch thiệp gồm một số lụa Ý dành cho vợ và hai cô con gái của anh — theo lời cậu con trai thuyền trưởng kể, anh ta đã có hai con gái — cùng hai súc vải dạ dày dặn loại hảo hạng nhất mua được ở Lisbon, năm súc vải thô màu đen và một ít ren Flanders có giá trị cao.
Giải quyết xong xuôi mọi bề sự nghiệp, bán tháo hàng hóa và quy đổi toàn bộ tài sản ra các hối phiếu giá trị cao, khó khăn tiếp theo của tôi là chọn con đường nào để trở về Anh. Dẫu đã quá quen mặt với biển khơi, tôi lại có một sự ác cảm kỳ lạ đối với việc lênh đênh trên sóng nước vào thời điểm ấy. Dù chẳng thể đưa ra bất kỳ lý do nào giải thích cho cảm giác đó, sự bất an cứ lớn dần trong lòng. Thậm chí có lúc tôi đã mang hành lý lên tàu để chuẩn bị khởi hành, thế nhưng rồi tôi lại đổi ý, chẳng phải một mà đến hai ba lần.
Quả thực, tôi từng chịu quá nhiều tai ương trên biển, và đó có lẽ là một phần lý do; thế nhưng không ai nên phớt lờ những dự cảm mạnh mẽ phát xuất từ tâm trí mình trong những thời điểm trọng đại nhường ấy. Hai trong số những con tàu mà tôi từng nhắm đến để đi — ý tôi là nhắm kỹ càng hơn bất kỳ chiếc nào khác, khi tôi đã đem hành lý gửi lên một chiếc và đã ngã giá xong xuôi với thuyền trưởng chiếc kia — cả hai con tàu ấy đều gặp nạn. Một chiếc bị hải tặc Algiers bắt giữ, chiếc kia đắm tại mạn Start, gần Torbay, và toàn bộ thủy thủ đoàn đều thiệt mạng ngoại trừ ba người. Tính ra, nếu bước lên bất kỳ con tàu nào trong số đó, tôi chắc chắn đã chuốc lấy kết cục bi thảm.
Trải qua quãng thời gian tâm trí bất an tột độ, người hoa tiêu già — người mà tôi dốc bầu tâm sự mọi chuyện — hết lời nài nỉ tôi đừng đi đường biển. Ông khuyên hoặc nên đi đường bộ đến La Coruña rồi băng qua vịnh Biscay để đến La Rochelle, từ đó xuôi đường bộ an toàn và dễ dàng đến Paris rồi qua Calais và Dover; hoặc tiến lên Madrid để rồi xuyên qua toàn bộ nước Pháp bằng đường bộ. Tóm lại, tôi đã mang sẵn tâm lý bài xích việc đi biển — ngoại trừ đoạn ngắn từ Calais sang Dover — nên rốt cuộc quyết định hành trình hoàn toàn bằng đường bộ. Vì không vội vã lại chẳng tiếc tiền của, đây quả là phương án thưởng ngoạn phong cảnh thú vị hơn hẳn. Để chuyến đi thêm phần sinh động, cụ già đưa đến một quý ông người Anh — con trai một thương gia ở Lisbon — ngỏ ý muốn đồng hành cùng tôi. Sau đó, chúng tôi kết nạp thêm hai thương gia người Anh nữa cùng hai thanh niên quý tộc người Bồ Đào Nha, trong đó hai vị người Bồ chỉ đi đến Paris là dừng chân. Tổng cộng nhóm chúng tôi có sáu người và năm người hầu — hai thương gia và hai vị người Bồ chia nhau dùng chung một người hầu để tiết kiệm chi phí; riêng tôi rước theo một thủy thủ người Anh làm gia đính, bên cạnh cậu hầu Friday vốn còn quá bỡ ngỡ nên chẳng thể sai vác việc gì dọc đường.
Cứ thế, chúng tôi khởi hành từ Lisbon. Đoàn người trang bị vũ khí và cưỡi ngựa rất bảnh bao, hợp thành một tiểu đội nho nhỏ mà mọi người tỏ lòng quý mến suy tôn tôi làm đội trưởng, một phần vì tôi lớn tuổi nhất, phần vì tôi có đến hai người hầu và chính là nguyên nhân khởi xướng cả chuyến hành trình này.
Cũng như tôi chưa từng làm phiền quý vị bằng bất kỳ nhật ký hàng hải nào trước đây, giờ đây tôi cũng xin miễn phiền toái bằng các nhật ký đường bộ; dẫu vậy, có một vài biến cố xảy ra trong chuyến hành trình gian nan và dài đằng đẵng này là những thứ tôi không thể bỏ qua.
Khi đến Madrid, vì tất cả chúng tôi đều là những kẻ tha hương xứ người chưa rành đất Tây Ban Nha, cả bọn quyết định dừng chân ít ngày để diện kiến triều đình Tây Ban Nha và ngắm nghía những cảnh quan đáng chú ý. Nhưng vì đã là cuối hạ, chúng tôi nhanh chóng thu xếp lên đường vào khoảng giữa tháng Mười. Tới cửa ngõ xứ Navarre, đi đến đâu trên đường chúng tôi cũng nghe tin báo động rằng tuyết đang đổ xuống dày đặc ở sườn núi phía Pháp, khiến nhiều du khách sau khi tìm đủ mọi cách liều lĩnh vượt qua đành phải quay đầu về Pampeluna.
Lúc đặt chân đến chính đất Pampeluna, chúng tôi thấy mọi chuyện quả đúng như vậy. Đối với tôi — kẻ từ thuở bé đã quen thuộc với vùng khí hậu oi bức, nơi quanh năm chẳng thể chịu nổi dù chỉ một lớp áo — cái giá rét nơi đây thật không sao tài nào chịu thấu. Sự buốt giá ấy chẳng những hành hạ thể xác mà còn khiến tôi bàng hoàng tột độ, bởi chỉ mới mười ngày trước, chúng tôi còn ở vùng Old Castile — nơi thời tiết chẳng những ấm áp mà còn vô cùng oi nồng — để rồi ngay lập tức phải hứng chịu những cơn gió thổi thốc từ rặng núi Pyrénées sắc như dao cạo, lạnh buốt đến mức tê tái, có thể làm tê liệt và hoại tử cả ngón tay lẫn ngón chân.
Tội nghiệp Friday thực sự hoảng sợ khi nhìn thấy núi non phủ kín một màu trắng xóa và cảm nhận cái rét cắt da cắt thịt — thứ mà suốt cuộc đời chưa bao giờ cậu ta tận mắt thấy hay thấu cảm. Tệ hơn thế, khi chúng tôi đến Pampeluna, tuyết vẫn tiếp tục rơi ào ạt không ngớt suốt nhiều ngày, khiến người ta bảo rằng mùa đông năm nay đến sớm hơn lệ thường. Những con đường vốn đã khó đi nay lại càng trở nên hoàn toàn tắc nghẽn; nói tóm lại, có những chỗ tuyết ngập quá sâu không tài nào bước chân nổi, và vì tuyết không đóng băng cứng ngắc như ở các xứ ôn đới miền bắc, việc cất bước đồng nghĩa với việc đối mặt hiểm họa bị chôn vùi sống bất cứ lúc nào. Chúng tôi bị kẹt lại Pampeluna trọn vẹn hai mươi ngày; khi nhận thấy mùa đông đang tràn về mà chẳng có chút triển vọng thời tiết khả quan hơn — bởi đây là mùa đông khắc nghiệt nhất trải khắp châu Âu mà người đời chưa từng ghi nhớ — tôi bèn đề xuất cả nhóm chuyển hướng sang Fontarabia rồi từ đó lên tàu đi Bordeaux, một hải trình vô cùng ngắn ngủi.
Thế nhưng, trong lúc tôi còn đang cân nhắc, bốn quý ông người Pháp xuất hiện. Từng bị kẹt lại ở sườn núi phía Pháp giống như chúng tôi bên phía Tây Ban Nha, họ đã tìm được một người dẫn đường chuyên vượt vùng địa hình gần thượng nguồn Languedoc để đưa họ băng qua núi theo những lối đi ít bị tuyết phủ cản trở. Họ kể rằng ở những nơi tuyết tụ đống, bề mặt đã đóng băng đủ cứng để nâng đỡ cả người lẫn ngựa. Chúng tôi liền cho gọi người dẫn đường ấy đến, và anh ta cam kết sẽ dẫn chúng tôi đi theo tuyến đường tương tự mà không gặp nguy hiểm gì vì tuyết, với điều kiện đoàn phải trang bị đủ vũ khí để tự vệ trước thú dữ. Anh ta giải thích rằng trong những trận cuồng phong tuyết lớn thế này, lũ sói đói khát thường mò xuống chân núi do mặt đất bị tuyết lấp kín khiến chúng trở nên hung hãn. Chúng tôi đáp rằng nhóm mình hoàn toàn đủ sức đối phó với loại sinh vật ấy, miễn là anh ta bảo đảm an toàn trước "loại sói hai chân" mà người ta cảnh báo là hiểm họa lớn nhất, đặc biệt ở sườn núi phía Pháp. Nghe anh ta cam kết trên cung đường đó không có hiểm họa kiểu ấy, chúng tôi liền hân hoan đồng ý đi theo. Mười hai vị quý ông khác cùng đoàn tùy tùng của họ — gồm cả người Pháp lẫn người Tây Ban Nha — những kẻ từng tìm cách vượt ngọn núi nhưng ngậm ngùi quay về như tôi đã nhắc, cũng nhanh chóng nhập đoàn.
Thế là, chúng tôi khởi hành rời Pampeluna cùng người dẫn đường vào ngày 15 tháng Mười một. Thú thực, tôi vô cùng kinh ngạc khi thay vì tiến về phía trước, anh ta lại dẫn chúng tôi quay ngoắt ngược lại quãng đường cũ từng đi từ Madrid khoảng hai mươi dặm. Sau khi vượt qua hai con sông và tiến vào vùng đồng bằng, chúng tôi bỗng thấy mình quay trở lại với bầu khí hậu ấm áp, cảnh sắc tươi vui và chẳng thấy bóng dáng bông tuyết nào. Thế nhưng, đột ngột rẽ sang trái, anh ta tiếp cận dãy núi theo một ngả khác. Quả thật, những vách đồi và vực thẳm trông vô cùng kinh hãi, nhưng nhờ đánh võng liên tục, lượn lờ qua những khúc quanh co và dẫn dắt bằng lối đi ngoằn ngoèo, chúng tôi vô tình vượt qua đỉnh núi cao chót vót mà chẳng bị tuyết ngập cản trở là bao. Và rồi, đột ngột trước mắt hiện ra những tỉnh thành trù phú, tươi tốt của Languedoc và Gascony một màu xanh mướt ngút ngàn, dẫu hãy còn ở khoảng cách xa và chúng tôi vẫn phải vượt qua vài đoạn địa hình gập ghềnh trước mắt.
Tuy nhiên, chúng tôi không khỏi chút bồn chồn khi chứng kiến tuyết rơi suốt một ngày một đêm dày đặc khiến đoàn đành phải dừng bước. Nhưng người dẫn đường trấn an rằng chúng tôi sẽ sớm vượt qua tất cả; quả nhiên, những ngày sau đó chúng tôi bắt đầu xuống dốc và tiến dần về phương bắc nhiều hơn trước. Cứ thế, phó mặc trọn vẹn vào người dẫn đường, chúng tôi tiếp tục tiến bước.
Khoảng hai tiếng trước khi trời tối, khi người dẫn đường đi trước một đoạn và khuất tầm nhìn, bất ngờ ba con sói khổng lồ lao vút ra, bám sát sau lưng là một con gấu phóng ra từ khe hẻm cạnh khu rừng rậm. Hai con sói nhào vào tấn công người dẫn đường; giả sử anh ta đi xa hơn phía trước, có lẽ đã bị chúng xé xác ăn tươi nuốt sống trước khi chúng tôi kịp ứng cứu. Một con chồm lên cắn phập vào ngựa, con còn lại lao vào người đàn ông với lực hung túng đến mức anh ta chẳng còn thời gian hay sự tỉnh táo để rút súng lục, chỉ biết gào thét cất tiếng kêu cứu khản cổ. Chàng trai Friday đi sát bên tôi liền được lệnh phi ngựa lên xem sự thể thế nào. Vừa ló dạng nhìn thấy người gặp nạn, Friday cũng cất tiếng hô hoán to chẳng kém: “Ôi chủ nhân! Ôi chủ nhân!” nhưng với khí phách của một trang hảo hán, cậu ta phi thẳng ngựa đến sát người khốn khổ, rút súng lục chém thẳng vào đầu con sói đang tấn công nạn nhân.
Thật may mắn cho người đàn ông tội nghiệp ấy khi người ra tay lại là Friday của tôi; bởi vốn đã quen thuộc với những loài sinh vật này nơi quê nhà, cậu ta chẳng hề nao núng mà tiến sát tận nơi để khai hỏa. Ngược lại, nếu là bất kỳ ai trong số chúng tôi nổ súng từ khoảng cách xa, rất có thể sẽ bắn trượt sói hoặc nguy hiểm đến tính mạng người bị nạn.
Tuy nhiên, chừng đó cũng đủ khiến một kẻ gan dạ hơn tôi phải khiếp vía. Quả thực, toàn bộ đoàn người bỗng chốc hoảng loạn khi tiếng súng của Friday vừa dứt, âm thanh tru tréo rợn người của bầy sói vang lên từ cả hai phía. Tiếng tru dội lại qua tiếng vang của núi non nghe như thể có một số lượng khổng lồ thú dữ đang vây quanh — và biết đâu chừng, số lượng thực tế cũng chẳng ít ỏi gì để chúng tôi có thể thảnh thơi bớt lo lắng. Dù vậy, khi Friday bắn hạ con sói đó, con còn lại đang ngoạm lấy con ngựa liền buông ra ngay lập tức rồi tháo thân tẩu thoát mà chưa kịp gây thêm tổn hại nào, do hàm răng nó vô tình vướng chặt vào mấy chiếc khuy đồng trên dây cương. Dù thế, người đàn ông là kẻ gánh chịu thương tích nặng nề nhất, bởi con sinh vật cuồng nộ đã cắn anh ta hai nhát — một ở cánh tay và nhát còn lại ở phía trên đầu gối. Dù đã tìm cách chống trả, anh ta đang chòng chành sắp ngã nhào khỏi yên ngựa do hoảng loạn thì Friday kịp phi tới bắn hạ con sói.
Dễ dàng suy đoán rằng trước tiếng súng của Friday, tất cả chúng tôi đều thúc giục ngựa chạy nhanh nhất có thể — dẫu địa hình vô cùng hiểm trở — để tận mắt chứng kiến sự tình. Khi vừa thoát khỏi vòm lá cây rậm rạp che khuất tầm nhìn ban nãy, chúng tôi thấy rõ mồn một chuyện gì đã xảy ra và cách Friday giải cứu người dẫn đường tội nghiệp, dẫu lúc ấy chưa thể nhận diện ngay đó là loài sinh vật gì mà cậu ta vừa hạ sát.