Cuộc Đời Và Những Chuyến Phiêu Lưu Của Robinson Crusoe

Lượt đọc: 308 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 10
Thuần Hóa Dê

❊ ❊ ❊

Tôi không thể nói rằng trong suốt năm năm sau đó, có điều gì phi thường xảy ra với tôi, mà tôi cứ sống theo lối cũ, trong hoàn cảnh và nơi chốn như trước; những việc chính tôi vẫn làm, ngoài công việc hằng năm là gieo trồng lúa mạch cùng lúa gạo, rồi phơi khô nho - mà cả hai thứ tôi luôn dự trữ vừa đủ cho nhu cầu ăn uống trong một năm; nghĩa là, ngoài công việc hằng năm ấy và việc hằng ngày xách súng đi săn, tôi còn một việc lớn là đóng một chiếc xuồng, và cuối cùng tôi cũng làm xong: thế là, bằng cách đào một con rạch rộng sáu thước, sâu bốn thước để nối tới đó, tôi đã đưa được chiếc xuồng vào lạch, cách đó gần nửa dặm. Về chiếc xuồng đầu tiên, thứ vốn to lớn vô cùng, vì tôi đã làm nó mà không tính trước xem mình sẽ hạ thủy nó thế nên làm sao như lẽ ra tôi phải làm, nên rốt cuộc chẳng bao giờ đưa nó xuống nước được, cũng chẳng dắt nước lên tới chỗ nó để mà hạ thủy, tôi đành phải để mặc nó nằm đó như một lời nhắc nhở để đời sau tôi khôn ngoan hơn: quả nhiên, lần kế tiếp, dẫu tôi không tìm được cây nào thực sự thích hợp và lại ở một nơi không thể dẫn nước tới gần hơn khoảng cách gần nửa dặm như tôi đã nói, nhưng vì thấy việc đó cuối cùng vẫn có thể làm được, tôi quyết không bỏ cuộc; và dù tôi mất gần hai năm trời cho nó, tôi chưa từng tiếc công tiếc sức, với niềm hy vọng sẽ có được một con thuyền để cuối cùng ra được biển khơi.

Tuy nhiên, dẫu chiếc xuồng nhỏ của tôi đã hoàn thành, kích cỡ của nó lại chẳng hề tương xứng với dự tính ban đầu khi tôi đóng chiếc xuồng thứ nhất; ý tôi là dự tính chèo vượt biển sang phần đất liền, nơi dải đất rộng hơn bốn mươi dặm; thế nên, sự nhỏ bé của con thuyền đã góp phần dập tắt dự định ấy, và từ đó tôi không mgĩ tới nó nữa. Vì đã có thuyền, dự định tiếp theo của tôi là thực hiện một chuyến hải trình vòng quanh đảo; bởi vì tôi từng đặt chân đến bờ bên kia tại một điểm khi băng qua đất liền như đã thuật lại, những phát hiện trong chuyến đi ngắn ngủi ấy đã khiến tôi cực kỳ khao khát được ngắm nhìn các vùng khác của bờ biển; và giờ khi đã có thuyền, trong đầu tôi không còn nghĩ gì khác ngoài việc giương buồm đi vòng quanh hòn đảo.

Nhận thức được điều này, để mọi việc đều được tiến hành một cách cẩn trọng và tính toán thấu đáo, tôi dựng một cột buồm nhỏ cho thuyền và làm cả một chiếc buồm bằng mấy mảnh vải buồm của con tàu vẫn còn cất trong kho, thứ mà tôi đang tích trữ rất nhiều. Sau khi đã lắp xong cột buồm lẫn buồm và thử thuyền, tôi nhận thấy nó lướt rất êm; rồi tôi làm những chiếc hộp hoặc hòm nhỏ ở mỗi đầu thuyền để đựng thức ăn, vật dụng thiết yếu, đạn dược, v.v., nhằm giữ cho chúng khô ráo, tránh được mưa hoặc nước biển tạt vào; tôi cũng khoét một rãnh nhỏ, dài ở bên trong thuyền để đặt cây súng, đồng thời làm một tấm đậy thả xuống phía trên để giữ súng luôn khô ráo.

Tôi cũng cắm chiếc ô của mình vào cái lỗ ở đuôi thuyền hệt như một cột buồm, để nó che ngay trên đầu và cản bớt sức nóng của mặt trời giống như một tấm bạt che; cứ thế, thỉnh thoảng tôi lại thực hiện những chuyến hải trình ngắn trên biển, nhưng chưa bao giờ đi quá xa, cũng chẳng rời xa con lạch nhỏ là bao. Cuối cùng, vì quá nôn nóng muốn ngắm nhìn trọn vẹn chu vi của vương quốc nhỏ bé của mình, tôi quyết định lên đường thực hiện chuyến hải trình; và thế là tôi chuẩn bị lương thực đầy đủ cho chuyến đi trên tàu, gồm hai chục ổ bánh mì lúa mạch (lẽ ra tôi nên gọi là bánh nướng), một vò đất nung đầy gạo rang (một món tôi rất hay ăn), một chai rượu rum nhỏ, nửa con dê cùng bột súng và đạn để bắn thêm, và hai chiếc áo khoác lớn của thủy thủ mà như tôi đã nhắc đến trước kia, tôi đã giữ lại được từ những chiếc rương của họ; tôi mang theo hai chiếc này, một để lót nằm và chiếc kia để đắp vào ban đêm.

Đó là ngày mùng 6 tháng Mười một, năm thứ sáu của triều đại tôi — hay quãng đời tù đày của tôi, tùy bạn gọi sao cũng được — khi tôi khởi hành cho chuyến hải trình này, và tôi thấy nó kéo dài hơn nhiều so với dự kiến; bởi vì dẫu bản thân hòn đảo không lớn lắm, nhưng khi đi đến bờ phía đông, tôi phát hiện ra một dải đá ngầm kéo dài ra biển chừng hai hải lý, có đoạn nhô lên khỏi mặt nước, có đoạn chìm bên dưới; và xa hơn nữa là một bãi cạn trải dài khô ráo thêm nửa hải lý, khiến tôi buộc phải đi vòng ra ngoài khơi rất xa để bẻ lái qua khỏi mũi đá đó.

Khi mới nhìn thấy chúng, tôi đã định từ bỏ dự định và quay về, vì không biết mình sẽ phải ra khơi xa đến mức nào; và hơn hết, tôi lo lắng không biết làm sao để quay trở lại: thế nên tôi liền thả neo; bởi vì tôi đã tự chế được một cái neo bằng một mảnh móc sắt bị gãy mà tôi kiếm được từ con tàu.

Sau khi đã neo đậu thuyền cẩn thận, tôi cầm súng lên bờ, trèo lên một ngọn đồi dường như nhìn bao quát được cái mũi đất nơi tôi thấy rõ toàn bộ độ dài của nó, và tự nhủ sẽ liều một phen.

Khi phóng tầm mắt quan sát biển từ ngọn đồi đang đứng, tôi nhận ra một dòng hải lưu rất mạnh, phải nói là cuồn cuộn vô cùng, chảy về hướng đông và thậm chí còn sát ngay vào mũi đá; tôi càng chú ý hơn khi thấy nguy cơ là một khi lao vào đó, tôi có thể bị sức mạnh của dòng nước cuốn thẳng ra biển khơi và chẳng tài nào quay lại đảo được nữa; và quả thực, nếu lúc ấy tôi không trèo lên ngọn đồi này trước, có lẽ sự tình đã đúng là như vậy; bởi vì ở bờ bên kia của hòn đảo cũng có dòng hải lưu tương tự, chỉ có điều nó chảy ở khoảng cách xa hơn, và tôi thấy có một dòng nước xoáy mạnh ngay dưới chân bờ biển; vì thế, tôi chẳng cần làm gì khác ngoài việc thoát ra khỏi dòng hải lưu thứ nhất, và tôi sẽ lập tức lọt vào vùng nước xoáy đó.

Tuy nhiên, tôi vẫn nằm lại đây hai ngày, bởi vì gió thổi khá mạnh theo hướng Đông - Đông Nam, và vì hướng gió ấy hoàn toàn ngược với dòng hải lưu, nên đã tạo ra những con sóng lớn vỗ ầm ầm vào mũi đá: thế nên việc giữ thuyền quá gần bờ vì sợ sóng lớn là không an toàn, mà đi ra xa quá cũng không được vì vướng dòng nước xiết.

Đến sáng ngày thứ ba, khi gió đã ngớt từ đêm hôm trước, mặt biển trở nên phẳng lặng và tôi quyết định liều mình xuất phát: nhưng tôi chính là lời cảnh báo cho tất cả những kẻ điều khiển thuyền vừa liều lĩnh lại vừa ngu ngốc; bởi vì tôi vừa tiến đến mũi đá, khi thuyền còn cách bờ chưa nổi một chiều dài thân, thì tôi bỗng thấy mình lọt vào một vùng nước sâu thẳm với dòng hải lưu xiết mạnh như cửa xả của cối xay nước; nó cuốn phăng con thuyền đi với một sức mạnh khủng khiếp đến mức mọi cố gắng của tôi cũng không tài nào giữ nổi thuyền dù chỉ ở rìa mép của dòng nước ấy; ngược lại, tôi nhận ra nó đang kéo tôi ngày một xa hơn khỏi vùng nước xoáy nằm ở phía tay trái. Không có một làn gió nào thổi để giúp tôi, và tất cả những gì tôi có thể làm với mái chèo đều trở nên vô nghĩa; lúc ấy tôi bắt đầu buông xuôi và tự coi như đã cầm chắc cái chết; bởi vì dòng hải lưu xuất hiện ở cả hai phía của hòn đảo, tôi biết rằng chỉ cách nhau vài hải lý là chúng sẽ nhập lại làm một, và khi đó tôi sẽ mất tích vĩnh viễn không thể cứu vãn; tôi chẳng thấy mảy may hy vọng nào có thể tránh khỏi điều đó; trước mắt tôi không còn con đường nào khác ngoài cái chết, không phải chết dưới biển, vì biển lúc ấy khá phẳng lặng, mà là chết đói. Quả thực, tôi đã bắt được một con rùa trên bờ, to gần bằng sức tôi nhấc nổi, và đã quăng nó lên thuyền; tôi cũng có một vò nước ngọt lớn, chính là một trong những cái vò đất nung của tôi; thế nhưng tất cả những thứ ấy thì có nghĩa lý gì khi bị cuốn ra giữa đại dương bao la, nơi chắc chắn không có một bóng bờ biển, không có đất liền hay hòn đảo nào trong vòng ít nhất là một ngàn hải lý?

Và giờ đây tôi mới thấy sự quan phòng của Thượng đế có thể dễ dàng đẩy hoàn cảnh khốn cùng nhất của con người trở nên tồi tệ hơn đến nhường nào. Lúc này, tôi nhìn lại hòn đảo hoang vắng, cô độc của mình tựa như chốn thiên đường dễ chịu nhất trên đời, và tất cả hạnh phúc lòng tôi mong mỏi chỉ là được trở lại nơi ấy. Tôi giơ hai tay hướng về phía hòn đảo với niềm khao khát tột cùng — "Ôi chốn hoang vu hạnh phúc!" tôi thốt lên, "Ta sẽ chẳng bao giờ được nhìn thấy ngươi nữa. Ôi sinh vật khốn khổ! Ta đang đi về đâu thế?" Rồi tôi tự trách bản thân vì tâm trạng vô ơn, vì đã từng oán thán cuộc sống cô độc của mình; và giờ đây, tôi sẵn sàng đánh đổi mọi thứ để được đặt chân lên bờ biển ấy! Cứ như thế, con người ta chẳng bao giờ nhận thức được đúng đắn tình trạng thực sự của mình cho đến khi nó được soi rọi qua nghịch cảnh, cũng chẳng biết trân trọng những gì mình đang có cho đến khi đánh mất nó. Thật khó lòng tưởng tượng nổi sự hoảng loạn của tôi lúc bấy giờ, khi bị cuốn khỏi hòn đảo yêu dấu (vì giờ đây nó hiện lên trong tâm trí tôi là như vậy) ra giữa đại dương bao la gần hai hải lý, với sự tuyệt vọng tột cùng rằng chẳng bao giờ có thể tìm lại được nó nữa. Dẫu vậy, tôi vẫn miệt mài chèo chống cho đến khi sức lực cạn kiệt, cố gắng lái thuyền hướng về phía bắc nhiều nhất có thể — tức là về phía có dòng nước xoáy nằm sát dòng hải lưu; rồi vào khoảng giữa trưa, khi mặt trời vừa đứng bóng, tôi tưởng như mình cảm nhận được một luồng gió nhẹ thổi vào mặt từ hướng Nam - Đông Nam. Điều này sưởi ấm trái tim tôi đôi chút, nhất là khi chỉ khoảng nửa tiếng sau, gió đã thổi thành một cơn khá êm ả. Lúc này tôi đã bị đẩy ra một khoảng cách xa đến kinh hoàng, và giả sử lúc ấy xuất hiện dù chỉ một chút thời tiết mây mù hay sương giá, thì tôi coi như tiêu đời theo một ngã khác; bởi vì trên thuyền chẳng có la bàn, và nếu đánh mất tầm nhìn khỏi hòn đảo dẫu chỉ một lần, tôi sẽ chẳng đời nào biết đường lái thuyền quay về; nhưng may thay thời tiết vẫn tiếp tục quang tảng, tôi dốc sức dựng lại cột buồm, giương buồm lên và hướng thẳng về phía bắc hết sức có thể để thoát khỏi dòng hải lưu.

Ngay vừa lúc tôi vừa dựng xong cột buồm cùng buồm, thuyền bắt đầu lướt đi, thì nhờ vào làn nước trong vắt, tôi nhận thấy dòng hải lưu ở gần đây đã có sự thay đổi; bởi vì ở những nơi dòng chảy xiết, nước thường đục ngầu; nhưng khi thấy nước trong trở lại, tôi biết dòng hải lưu đang yếu dần; và ngay lập tức, cách đó chừng nửa dặm về phía đông, tôi trông thấy những con sóng vỗ ầm ầm vào các mỏm đá: tôi nhận ra chính những khối đá này đã khiến dòng hải lưu tách làm hai, và trong khi luồng chảy chính hướng mạnh hơn về phía nam, để lại các mỏm đá ở phía đông bắc, thì luồng nước thứ hai bị đá chặn lại đã quay ngược trở lại, tạo ra một dòng nước xoáy mạnh mẽ chảy ngược về hướng tây bắc với tốc độ rất nhanh.

Những ai từng nếm trải cảm giác được ân xá ngay trên đoạn đầu đài, hay được cứu thoát khỏi bọn cướp vừa lúc chúng sắp sửa ra tay sát hại, hoặc từng rơi vào những bước đường cùng như thế, hẳn có thể đoán được niềm vui sướng kinh ngạc của tôi lúc ấy lớn đến nhường nào, và tôi đã vui mừng biết bao khi lái thuyền lọt vào dòng nước xoáy này; lại thêm gió thổi ngày càng lộng hơn, tôi hân hoan giương buồm đón gió, phơi phới lướt đi cùng dòng thủy triều hoặc dòng xoáy mạnh mẽ nâng đỡ bên dưới.

Dòng nước xoáy này đưa tôi trở lại quãng chừng một hải lý theo hướng thẳng về phía hòn đảo, nhưng lệch về phía bắc hơn hai hải lý so với dòng hải lưu đã cuốn tôi đi lúc đầu; thế nên khi tiến lại gần hòn đảo, tôi thấy mình đang đối diện với bờ biển phía bắc của nó, nói cách khác là đầu bên kia của hòn đảo, ngược lại với phía mà tôi đã xuất phát.

Khi đã đi được hơn một hải lý nhờ sự trợ giúp của dòng hải lưu hay dòng xoáy này, tôi nhận ra nó đã cạn sức và chẳng thể giúp gì thêm nữa. Tuy nhiên, tôi thấy rằng khi nằm giữa hai dòng hải lưu lớn — nghĩa là luồng ở phía nam từng cuốn tôi đi, và luồng ở phía bắc nằm cách đó khoảng một hải lý — ý tôi là ở giữa hai luồng này, ngay trong vệt bóng của hòn đảo, nước chí ít cũng tĩnh lặng và không chảy đi đâu cả; và vì vẫn còn ngọn gió thuận chiều thổi tới, tôi tiếp tục lái thuyền thẳng tiến về phía hòn đảo, dẫu tốc độ không còn nhanh như trước.

Khoảng bốn giờ chiều, khi ấy thuyền đã cách hòn đảo chừng một hải lý, tôi nhận thấy mỏm đá gây ra tai họa này — vốn trải dài về phía nam như đã miêu tả trước đó — khi hất dòng hải lưu lệch hẳn về phía nam, dĩ nhiên đã tạo ra một vùng nước xoáy khác ở phía bắc; và tôi thấy dòng xoáy này rất mạnh, dù nó không đưa tôi đi đúng hướng tây mà tôi muốn, mà lại chếch gần như hoàn toàn về hướng bắc. Tuy nhiên, nhờ có cơn gió mạnh thổi lộng, tôi đã chèo cắt ngang qua vùng nước xoáy này theo hướng chếch Tây - Bắc; và chỉ khoảng một tiếng sau, tôi đã áp sát bờ biển khoảng một dặm, nơi có làn nước phẳng lặng và tôi nhanh chóng cập được vào bờ.

Khi đã đặt chân lên bờ, tôi quỳ sụp xuống dâng lời tạ ơn Thiên Chúa vì ơn cứu độ, đồng thời tự nhủ sẽ gạt bỏ mọi ý nghĩ trông chờ vào việc thoát hiểm bằng con thuyền này; và sau khi tự bồi bổ bằng những thứ mang theo, tôi kéo thuyền sát vào bờ trong một vạch vịnh nhỏ mà tôi đã phát hiện ra dưới tán cây, rồi ngã lưng xuống ngủ vùi vì đã hoàn toàn kiệt sức sau những lao nhọc và mệt mỏi của chuyến hải trình.

Lúc này tôi đang cực kỳ bối rối không biết làm sao để đưa con thuyền về nhà! Tôi đã trải qua quá nhiều hiểm nguy và hiểu rõ sự tình đến mức không dám nghĩ đến chuyện đi lại theo lối cũ lúc xuất phát; còn ở phía bên kia (ý tôi là bờ phía tây) thì tôi chẳng biết ra sao, cũng chẳng mạo hiểm thử thêm lần nào nữa; thế nên tôi quyết định vào sáng hôm sau sẽ đi bộ dọc theo bờ biển về hướng tây, để xem có con lạch nào có thể cất giấu "chiến thuyền" của mình an toàn để khi cần vẫn có thể dùng lại được không. Đi dọc bờ biển chừng ba dặm hoặc hơn, tôi bắt gặp một cửa biển hoặc vịnh rất đẹp, rộng khoảng một dặm, thu hẹp dần thành một con lạch nhỏ hoặc suối nhỏ, nơi tôi tìm thấy một bến đỗ vô cùng thuận lợi cho con thuyền, nằm im lìm như thể được tạo ra riêng cho nó vậy. Tôi tạt vào đây, cất giữ thuyền thật an toàn rồi bước lên bờ để quan sát xem mình đang ở đâu.

Tôi nhanh chóng nhận ra mình chỉ vừa đi quá một chút so với nơi từng đặt chân tới khi đi bộ dọc bờ biển trước kia; thế nên ngoài cây súng và chiếc ô vì trời quá ư oi bức, tôi chẳng mang theo gì khác và bắt đầu hành trình. Con đường đi khá dễ chịu sau một chuyến hải trình dài đằng đẵng như vậy, và tôi về đến căn chòi cũ của mình vào lúc chiều tối, nơi tôi thấy mọi thứ vẫn y nguyên như lúc rời đi; bởi vì tôi luôn giữ gìn nó ngăn nắp, như đã nói từ trước, đây chính là ngôi nhà đồng quê của tôi.

Tôi leo qua hàng rào, ngả mình xuống bóng râm để thả lỏng đôi chân đã rã rời vì mệt mỏi, rồi chìm vào giấc ngủ; thế nhưng hỡi những ai đọc câu chuyện của tôi, liệu các bạn có thể tưởng tượng được sự kinh ngạc tột độ của tôi ra sao khi bị đánh thức giấc ngủ bởi một giọng nói gọi tên mình tới mấy lần: “Robin, Robin, Robin Crusoe: tội nghiệp Robin Crusoe! Ngươi ở đâu hỡi Robin Crusoe? Ngươi ở đâu? Ngươi đã đi đâu vậy?”

Lúc đầu, vì quá kiệt sức do chèo thuyền suốt buổi sáng và đi bộ suốt buổi chiều, tôi ngủ say như chết nên không tỉnh hẳn; cứ mơ màng tưởng có ai đó đang nói chuyện với mình; nhưng khi giọng nói ấy vẫn tiếp tục lặp lại: “Robin Crusoe, Robin Crusoe,” cuối cùng tôi cũng bắt đầu tỉnh hẳn, thoạt đầu vô cùng hoảng hốt và bật dậy với nỗi sợ hãi tột cùng; thế nhưng ngay khi vừa mở mắt, tôi liền nhìn thấy con két Poll của mình đang đậu trên đỉnh hàng rào; và nhận ra ngay chính nó là kẻ đã gọi mình; bởi vì tôi vẫn thường dùng những lời lẽ thương xót ấy để trò chuyện và dạy dỗ nó; và nó đã học thạo đến mức có thể đậu trên ngón tay tôi, áp cái mỏ sát vào mặt tôi và kêu lên: “Tội nghiệp Robin Crusoe! Ngươi ở đâu? Ngươi đã đi đâu thế? Sao ngươi lại đến đây?” cùng những câu mà tôi đã dạy nó.

Tuy nhiên, dẫu biết chắc đó là con vẹt, và thực ra chẳng thể là ai khác, tôi cũng phải mất một lúc lâu mới trấn tĩnh lại được. Đầu tiên, tôi kinh ngạc không hiểu sinh vật ấy đã đến được đây bằng cách nào; và tiếp theo là làm sao nó cứ quẩn quanh ở đúng khu vực này mà không đi đâu khác; nhưng khi đã chắc chắn đó chỉ là chú Poll hiền lành, tôi cũng nguôi ngoai; đưa tay ra và gọi tên nó: “Poll,” sinh vật gần gũi ấy liền bay đến, đậu lên ngón cái của tôi như thường lệ, và tiếp tục trò chuyện: “Tội nghiệp Robin Crusoe! Ngươi đến đây bằng cách nào? Và ngươi đã đi đâu thế?” hệt như thể nó mừng rỡ khôn tả khi gặp lại tôi; thế là tôi cõng nó theo cùng về nhà.

Giờ thì tôi đã chán ngấy những chuyến lang thang ra biển trong một thời gian dài, và có vô số việc phải làm trong nhiều ngày để ngồi yên một chỗ ngẫm nghĩ về hiểm nguy vừa trải qua. Tôi rất muốn đưa con thuyền về lại phía bờ đảo của mình; nhưng ngặt nỗi chẳng biết làm sao để làm được điều đó. Còn về bờ phía đông của hòn đảo, nơi tôi đã đi vòng qua, tôi thừa hiểu là không thể mạo hiểm đi đường đó; chỉ nghĩ đến thôi là trái tim tôi đã thắt lại, máu trong người như đông giá; và về bờ bên kia của hòn đảo, tôi chẳng rõ tình hình ra sao; nhưng giả sử dòng hải lưu ở phía đông mạnh thế nào thì ở phía bên kia cũng cuồn cuộn thế ấy, rất có thể tôi sẽ lại lâm vào nguy cơ bị cuốn trôi theo dòng nước và trôi dạt khỏi hòn đảo giống như lần trước; thế nên với những suy nghĩ đó, tôi đành bằng lòng sống không có thuyền, dẫu nó là thành quả của bao nhiêu tháng trời nhọc công chế tạo và bao nhiêu ngày vất vả đưa xuống biển.

Sống với tâm trạng bình thản đó gần một năm trời; và như bạn có thể dễ dàng đoán được, tôi tận hưởng một cuộc sống rất điềm đạm, ẩn dật; tâm trí tôi vô cùng tĩnh tại trước hoàn cảnh của mình, hoàn toàn được an ủi khi phó thác bản thân theo sự sắp đặt của Quan phòng, tôi nghĩ mình thực sự sống rất hạnh phúc về mọi mặt, ngoại trừ việc thiếu vắng sự giao thiệp với con người.

Trong khoảng thời gian này, tôi tự trau dồi bản thân trong tất cả các kỹ năng thủ công mà nhu cầu sinh hoạt bắt buộc tôi phải xoay xở; và tôi tin rằng nếu có dịp, mình sẽ trở thành một thợ mộc cừ khôi, nhất là khi xét đến việc tôi có rất ít dụng cụ trong tay.

Bên cạnh đó, tôi đã đạt đến độ tinh xảo bất ngờ trong việc làm đồ gốm, và xoay xở thành công để chế tạo chúng bằng bàn xoay, thứ mà tôi thấy dễ dàng và tuyệt vời hơn vô cùng; nhờ đó tôi làm được những vật dụng tròn trịa và có hình dáng đàng hoàng, khác hẳn những thứ thô kệch, nhìn ngứa mắt trước kia. Nhưng tôi nghĩ chưa bao giờ mình lại tự đắc với thành quả của bản thân hay sung sướng vì phát minh nào đến thế, ngoại trừ việc chế tạo thành công một chiếc tẩu hút thuốc; và dẫu đó là một vật thô kệch, xấu xí khi hoàn thành, chỉ nung đỏ lên như đồ gốm thông thường, nhưng vì nó cứng cáp, chắc chắn và có thể rít ra khói, tôi cảm thấy vô cùng mãn nguyện, bởi tôi vốn có thói quen hút thuốc; trên tàu từng có tẩu, nhưng lúc đầu tôi đã quên mất vì không nghĩ trên đảo có thuốc lá; và mãi về sau, khi lục lọi lại con tàu, tôi chẳng tài nào tìm được chiếc tẩu nào nữa.

Về nghề đan lát, tôi cũng tiến bộ đáng kể, tự tay đan rất nhiều loại giỏ cần thiết theo sự sáng tạo của mình; tuy không đẹp mắt lắm nhưng chúng cực kỳ tiện dụng và hữu ích để cất trữ đồ đạc hoặc xách đồ về nhà. Chẳng hạn, nếu tôi bắn được một con dê ngoài rừng, tôi có thể treo nó lên cây, lột da, làm sạch, cắt thành từng miếng rồi cho vào giỏ mang về; tương tự với con rùa cũng vậy; tôi có thể mổ xẻ nó, lấy trứng và một hai miếng thịt vừa đủ dùng rồi bỏ vào giỏ mang về, phần còn lại để lại hiện trường. Ngoài ra, những chiếc giỏ lớn và sâu chính là kho chứa lúa mạch của tôi, tôi luôn tuốt hạt ngay sau khi chúng được phơi khô và bảo quản trong những chiếc giỏ lớn ấy.

Lúc này tôi bắt đầu nhận thấy số lượng thuốc súng của mình đã vơi đi đáng kể; đây là một sự thiếu hụt mà tôi hoàn toàn không có cách nào bù đắp được, và tôi bắt đầu nghiêm túc suy nghĩ xem mình phải làm gì khi hết sạch thuốc súng; nghĩa là, làm thế nào để săn được dê. Như đã ghi nhận vào năm thứ ba sinh sống ở đây, tôi từng giữ lại một con dê con và nuôi thuần hóa nó, đồng thời ôm hy vọng kiếm được một con dê đực; nhưng tôi tuyệt đối không tài nào làm được điều đó, cho đến khi con dê con ấy già đi; và vì không nỡ nhẫn tâm giết thịt nó, cuối cùng nó đã chết vì tuổi già sức yếu.

Thế nhưng, khi đang ở năm thứ mười một định居, và như tôi đã nói, đạn dược ngày càng cạn kiệt, tôi tự mày mò học cách bẫy và lừa bắt dê, xem có thể tóm được con nào còn sống hay không; đặc biệt tôi rất muốn có một con dê cái đang mang thai. Vì mục đích này, tôi làm các loại bẫy thòng lọng để giữ chân chúng; và tôi tin chắc chúng đã sập bẫy hơn một lần; ngặt nỗi dụng cụ của tôi không tốt vì chẳng có dây thép, và lần nào kiểm tra tôi cũng thấy bẫy bị đứt còn mồi thì bị ăn sạch. Cuối cùng, tôi quyết định thử dùng hố bẫy; thế nên tôi đào vài cái hố lớn dưới đất ở những nơi tôi quan sát thấy lũ dê thường đến kiếm ăn, phía trên những chiếc hố ấy tôi đặt các khung cành cây do tự tay mình đan kết, bên trên chất nặng những tảng đá lớn; và tôi vài lần rải tai lúa mạch cùng lúa khô lên mà không giập lẫy; tôi có thể dễ dàng nhận ra lũ dê đã mò vào ăn sạch số lúa đó vì thấy rõ những dấu chân của chúng. Cuối cùng, tôi giăng ba chiếc bẫy trong một đêm, và sáng hôm sau đi kiểm tra thì thấy tất cả vẫn y nguyên, thế mà mồi thì đã bị ăn sạch sành sanh, điều này khiến tôi vô cùng nản lòng. Dù vậy, tôi vẫn sửa lại các bẫy; và để không làm phiền bạn với những chi tiết rườm rà, một buổi sáng nọ khi đi kiểm tra bẫy, tôi bắt gặp một con dê đực già to lớn nằm trong một cái hố; và ở một hố khác là ba con dê con, gồm một con đực và hai con cái.

Về con dê đực già, tôi chẳng biết phải xử lý ra sao; nó dữ dằn đến mức tôi không dám bước xuống hố để tóm nó; nghĩa là đưa nó về sống trong tình trạng còn sống, vốn là mục tiêu của tôi. Tôi thừa sức giết chết nó, nhưng đó không phải là mục đích của tôi, cũng chẳng giúp ích gì cho dự tính của mình; thế nên tôi đành mở cửa thả nó ra, và nó cắm cổ chạy tút đi hệt như phát điên lên được. Nhưng lúc bấy giờ tôi chưa biết điều mà mãi về sau mới ngộ ra, rằng cơn đói có thể thuần hóa cả sư tử. Giá như tôi cứ để nó ở đó ba bốn ngày không cho ăn chút gì, rồi mang nước cho uống và sau đó bố trí một ít lúa, nó sẽ trở nên hiền lành hệt như những chú dê con kia thôi; bởi vì chúng là những sinh vật cực kỳ khôn ngoan và dễ bảo nếu được đối xử tử tế.

Tuy nhiên, vì lúc đó chưa biết tính toán gì hơn, tôi đành thả nó đi; rồi tôi tiến lại chỗ ba con dê con, bắt từng con một, dùng dây trói chúng lại với nhau và với chút ít vất vả, tôi đã mang được tất cả về nhà.

Phải mất một thời gian khá lâu chúng mới chịu ăn uống; nhưng khi tôi quăng cho ít hạt lúa ngọt, mùi thơm đã dụ dỗ chúng và chúng bắt đầu trở nên thuần tính. Giờ thì tôi nhận ra rằng nếu muốn duy trì nguồn thịt dê khi đã cạn sạch đạn dược, việc nuôi thuần hóa một số con chính là con đường duy nhất, biết đâu nhờ thế tôi có thể quây chúng quanh nhà mình hệt như một bầy cừu. Nhưng rồi tôi sực nhớ ra rằng mình phải tách biệt đám dê thuần hóa với lũ dê hoang, nếu không chúng sẽ lại nhiễm thói hoang dã khi lớn lên; và cách duy nhất để làm điều này là rào lại một mảnh đất thật kiên cố bằng hàng rào cây hoặc cọc gỗ, sao cho lũ bên trong không thể phá rào trổ ra ngoài, còn bọn bên ngoài cũng chẳng tài nào đột nhập vào trong.

Đây là một công trình vô cùng lớn lao đối với chỉ một đôi tay; thế nhưng, nhận thức rõ sự cấp bách không thể chối cãi của nó, công việc đầu tiên của tôi là tìm kiếm một mảnh đất thích hợp, nơi có đầy đủ cỏ non cho chúng ăn, nước uống và cả bóng râm tránh nắng.

Những ai am hiểu về việc quây rào đất đai hẳn sẽ nghĩ tôi có quá ít óc tính toán khi chọn một khoảnh đất vô cùng thích hợp cho mọi tiêu chí ấy (đó là một vùng thảo nguyên bằng phẳng, rộng mở, mà người của chúng ta ở các thuộc địa miền tây thường gọi là savannah), nơi có hai hoặc ba dòng nước ngọt nhỏ chảy qua, và một đầu mọc rất nhiều cây cối — ý tôi là, họ sẽ phải mỉm cười trước sự tính toán xa vời của tôi khi nghe tôi tuyên bố rằng mình bắt đầu rào khoảnh đất ấy với chu vi của hàng rào hoặc cọc gỗ dài ít nhất phải tới hai dặm. Sự điên rồ ấy không nằm ở độ lớn của chu vi, bởi vì giả sử nó rộng tới mười dặm đi nữa, tôi cũng có dư dả thời gian để làm; nhưng tôi đã không lường trước được rằng bầy dê của mình sẽ vẫn hoang dã hệt như khi chúng chạy nhảy trên khắp hòn đảo với một không gian rộng lớn như vậy, và tôi sẽ có cả một khoảng trời mênh mông để rượt đuổi chúng mà chẳng bao giờ tóm nổi.

Tôi đã bắt đầu dựng hàng rào và làm được chừng năm mươi thước thì ý nghĩ đó sực hiện trong đầu; thế là tôi lập tức dừng tay lại, và để khởi đầu, tôi quyết định rào một khoảnh đất có chiều dài chừng một trăm năm mươi thước và chiều rộng một trăm thước, với diện tích này, nó vừa đủ sức nuôi sống số lượng dê tôi có trong một thời gian hợp lý, đồng thời khi đàn gia súc sinh sôi, tôi có thể mở rộng thêm diện tích quây rào sau.

Đó mới là cách hành xử khôn ngoan, và tôi hăng hái bắt tay vào việc với đầy nhiệt huyết. Tôi mất khoảng ba tháng trời để rào xong khoảnh đất đầu tiên; và cho đến khi hoàn thành, tôi buộc ba chú dê con vào phần đất tốt nhất trong đó, tập cho chúng ăn uống thật gần mình để chúng quen hơi bén tiếng; tôi cũng thường xuyên mang tai lúa mạch hoặc một nắm gạo đến tận tay đút cho chúng ăn; nhờ thế, sau khi hàng rào hoàn thành và tôi tháo dây thả lỏng chúng ra, chúng cứ lẽo đẽo đi theo tôi khắp nơi, kêu bê bê đòi một nắm hạt.

Việc này đã đạt được mục đích của tôi, và chỉ sau khoảng một năm rưỡi, tôi đã có trong tay một đàn dê khoảng mười hai con, tính cả dê con lẫn dê lớn; và hai năm sau đó, con số đã lên tới bốn mươi ba con, chưa kể số lượng tôi đã bắt và giết thịt. Sau đó, tôi quây thêm năm mảnh đất riêng biệt để làm bãi chăn thả cho chúng, kèm theo những cái chuồng nhỏ để lùa chúng vào bắt khi cần thiết, cùng các cánh cổng thông từ khoảnh đất này sang khoảnh đất khác.

Nhưng thế vẫn chưa hết; bởi vì giờ đây tôi không chỉ có thịt dê để ăn bất cứ lúc nào mình muốn, mà còn có cả sữa — một thứ mà quả thật lúc ban đầu tôi chưa từng nghĩ tới, và khi nó hiện lên trong đầu, đó thực sự là một bất ngờ thú vị, vì giờ đây tôi đã lập nên xưởng làm bơ sữa của mình, và thỉnh thoảng thu được một hai galông sữa mỗi ngày. Và cũng như Tự nhiên, đấng luôn ban phát nguồn thực phẩm cho mọi sinh vật, tự bản năng đã mách bảo cách thức tận dụng chúng thế nào, thì tôi, một kẻ chưa từng vắt sữa bò, huống chi là dê, hay từng tận mắt chứng kiến người ta làm bơ làm phô mai từ thời thơ ấu, sau bao lần thử nghiệm và thất bại, cuối cùng cũng tự tay làm ra cả bơ lẫn phô mai, bên cạnh đó còn làm được cả muối (dù tôi thấy nó phần lớn đã có sẵn nhờ sức nóng của mặt trời phơi trên các mỏm đá ven biển), và từ đó chẳng bao giờ thiếu thốn nữa. Ơn Chúa nhân từ biết bao khi đối xử với các tạo vật của Ngài, ngay cả trong những hoàn cảnh tưởng chừng như họ đã bị nhấn chìm trong diệt vong! Ngài có thể làm ngọt ngào những nghịch cảnh cay đắng nhất, và ban cho chúng ta lý do để ca ngợi Ngài ngay giữa chốn ngục tù giam cầm! Thật là một bữa tiệc thị soạn được bày biện ra trước mắt tôi giữa chốn hoang vu này, nơi thuở ban đầu tôi chỉ thấy trước mặt con đường chết đói!

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 19 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Daniel Defoe

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.