Sau khi tôi đã trở về lâu đài của mình được hai hoặc ba ngày, tôi nghĩ rằng, để bỏ cho Friday cái thói ăn uống gớm ghiếc và thứ khẩu vị của một kẻ ăn thịt người, tôi nên cho cậu ta nếm thử các loại thịt khác; thế là một buổi sáng, tôi dẫn cậu ta vào rừng. Thực ra, tôi đi với dụng ý bắn một con dê con trong đàn của mình, rồi mang về nhà chế biến; nhưng khi đang trên đường đi, tôi thấy một con dê mẹ đang nằm trong bóng râm, và hai con dê con đang ngồi bên cạnh. Tôi liền chộp lấy Friday. "Khoan đã," tôi bảo, "đứng yên đấy," và ra hiệu cho cậu ta không được động đậy: ngay lập tức tôi giương súng, bóp cò và bắn hạ một con dê con. Tội nghiệp sinh vật ấy, dẫu từ đằng xa đã từng thấy tôi bắn chết gã man rợ, kẻ thù của hắn, nhưng vốn chẳng tài nào hiểu nổi hay tưởng tượng được việc đó được thực hiện ra sao, liền vô cùng kinh ngạc, run lẩy bẩy, và trông bàng hoàng đến mức tôi tưởng cậu ta sắp quỵ xuống. Cậu ta không nhìn thấy con dê tôi nhắm bắn, hay nhận ra là tôi đã giết nó, mà lại vạch áo ra để sờ xem mình có bị thương không; và như tôi nhận ra ngay sau đó, cậu ta tưởng rằng tôi đã quyết định giết mình: bởi cậu ta tiến lại, quỳ xuống trước mặt tôi, ôm lấy đầu gối tôi và nói rất nhiều điều tôi chẳng hiểu; nhưng tôi có thể dễ dàng nhận ra ý nghĩa là van xin tôi đừng giết hắn.
Tôi sớm tìm được cách thuyết phục cậu ta rằng tôi sẽ không làm hại gì mình; rồi đỡ cậu ta đứng dậy, cười với cậu ta, và chỉ vào con dê tôi vừa bắn, ra hiệu cho cậu ta chạy đi lấy về, và cậu ta đã làm theo; trong lúc cậu ta đang ngạc nhiên, ngắm nghía xem sinh vật kia bị giết thế nào, tôi lại nạp đạn vào súng. Chẳng mấy chốc, tôi thấy một con chim lớn, trông giống như diều hâu, đang đậu trên một nhành cây nằm trong tầm bắn; thế là để cho Friday hiểu đôi chút về những gì tôi sắp làm, tôi gọi cậu ta lại gần mình, chỉ vào con chim — thực ra là một con vẹt, dẫu lúc đó tôi cứ ngầm tưởng nó là diều hâu; ý tôi là, vừa chỉ vào con vẹt, vừa chỉ vào khẩu súng của mình, rồi chỉ xuống đám đất ngay dưới chân con vẹt, cốt để cậu ta thấy tôi sẽ làm cho nó rơi xuống, tôi ra hiệu cho cậu ta hiểu rằng tôi sẽ bắn và hạ gục con chim đó; quả nhiên, tôi nạp đạn khai hỏa và bảo cậu ta nhìn theo, lập tức cậu ta thấy con vẹt rơi xuống. Cậu ta lại đứng chết trân như một kẻ vừa bị dọa cho hồn xiêu phách lạc, dẫu cho tôi đã giải thích đủ điều; và tôi nhận ra cậu ta càng thêm phần kinh hãi, bởi cậu ta không hề thấy tôi nhét thứ gì vào nòng súng, mà đinh ninh rằng trong thứ đồ vật ấy phải ẩn chứa một sức mạnh hủy diệt và chết chóc kỳ diệu nào đó, có thể tước đoạt mạng sống của con người, thú vật, chim chóc, hay bất cứ sinh vật nào dù ở gần hay ở xa; và sự kinh ngạc mà điều này khoét sâu trong tâm trí cậu ta lớn đến mức không sao phai nhạt đi trong suốt một thời gian dài; và tôi tin rằng, nếu tôi cho phép, cậu ta hẳn đã tôn sùng tôi cùng khẩu súng ấy như thần thánh. Về phần khẩu súng, suốt mấy ngày sau đó cậu ta thậm chí chẳng dám chạm vào; nhưng cậu ta lại hay thầm thì trò chuyện với nó, cứ như thể nó có thể đáp lời mình khi cậu ta ở một mình; mà như tận sau này tôi mới dò hỏi được từ cậu ta, mục đích là để van nài nó đừng tước đoạt mạng sống của mình. Chà, sau khi cơn hoảng hốt của cậu ta đã dịu đi đôi chút trước sự việc này, tôi ra hiệu cho cậu ta chạy đi nhặt con chim tôi vừa bắn rơi, cậu ta liền đi, nhưng phải mất một lúc lâu mới tìm thấy; bởi con vẹt chưa chết hẳn nên đã vỗ cánh bay đi một quãng khá xa khỏi nơi nó rơi xuống: dẫu sao thì cậu ta cũng tìm thấy nó, nhặt lên và mang lại cho tôi; và vì từ trước đã nhận ra sự thiếu hiểu biết của cậu ta về khẩu súng, tôi chớp lấy cơ hội này để nạp đạn lại mà không để cậu ta nhìn thấy, nhằm sẵn sàng cho bất kỳ mục tiêu nào khác có thể xuất hiện; nhưng lúc đó không còn mục tiêu nào nữa: thế là tôi mang con dê về nhà, và ngay chiều hôm đó tôi lóc da, lóc thịt nó gọn gàng nhất có thể; rồi sẵn có chiếc nồi dùng riêng cho việc ấy, tôi đem luộc hoặc hầm một phần thịt và nấu được một nồi nước dùng rất ngon. Sau khi bắt đầu ăn, tôi chia cho người hầu của mình một ít, cậu ta có vẻ rất vui mừng và vô cùng thích thú; nhưng điều khiến cậu ta lạ lùng nhất là thấy tôi ăn kèm thịt với muối. Cậu ta ra hiệu cho tôi rằng muối ăn không ngon chút nào; và khi bỏ thử một nhúm vào miệng, cậu ta có vẻ ghê cổ, nhổ ra phì phì, rồi dùng nước ngọt súc sạch miệng; ngược lại, tôi bỏ một miếng thịt vào miệng mà không có muối, rồi giả vờ nhổ ra phì phì vì thèm muối, y như cách cậu ta vừa làm với muối; nhưng cách đó chẳng ăn thua gì; cậu ta đời nào chịu ăn muối với thịt hay trong nước dùng; ít nhất là trong một thời gian dài, cậu ta kiên quyết không đụng đến, hoặc nếu có thì chỉ dùng một chút xíu mà thôi.
Sau khi đã cho cậu ta ăn thịt luộc và nước dùng như thế, tôi quyết định đãi cậu ta một bữa hoành tráng vào ngày hôm sau bằng cách quay một miếng thịt dê: tôi làm việc này bằng cách treo nó trước đống lửa bằng một sợi dây, y như cách tôi từng thấy nhiều người làm ở Anh, bằng cách dựng hai chiếc cọc ở hai bên đống lửa, bắc ngang một thanh ở phía trên, rồi buộc sợi dây vào thanh ngang ấy để miếng thịt quay tròn liên tục. Friday vô cùng thán phục điều này; nhưng khi nếm thử miếng thịt, cậu ta bày tỏ sự hài lòng bằng đủ mọi cách khiến tôi không thể không hiểu; và cuối cùng, cậu ta bộc bạch với tôi bằng vốn từ ít ỏi của mình rằng cậu ta sẽ không bao giờ ăn thịt người nữa, điều này khiến tôi vô cùng vui sướng.
Ngày hôm sau, tôi bắt tay vào việc quất cho bắp ngô rời hạt rồi sàng sẩy theo cách tôi vẫn thường làm như đã thuật lại trước đó; và cậu ta nhanh chóng học được cách làm thạo chẳng kém gì tôi, nhất là sau khi đã hiểu rõ mục đích của công việc ấy là để làm bánh mì; vì sau đó tôi đã để cậu ta chứng kiến tận mắt cảnh tôi nhào bột và nướng bánh mì; và chẳng mất bao lâu, Friday đã có thể gánh vác thay tôi mọi công việc trôi chảy như chính tay tôi làm vậy.
Giờ đây tôi bắt đầu cân nhắc rằng, vì có tới hai cái miệng phải nuôi thay vì một, tôi buộc phải mở rộng diện tích đất đai cho vụ mùa của mình và gieo trồng nhiều ngô hơn trước; thế là tôi khoanh một mảnh đất rộng hơn, rồi dựng hàng rào y như cũ. Trong việc này, Friday không chỉ làm việc rất tự nguyện và chăm chỉ, mà còn vô cùng hào hứng; và tôi đã giải thích cho cậu ta rõ mục đích của nó; rằng đó là để trồng ngô làm thêm bánh mì, bởi giờ đây cậu ta đang ở cùng tôi, và để tôi có đủ lương thực cho cả cậu ta lẫn bản thân mình. Cậu ta tỏ ra rất thấu hiểu điều đó, và cho tôi biết cậu ta nghĩ rằng tôi phải gánh vác quá nhiều nhọc nhằn vì sự có mặt của cậu ta; đồng thời hứa sẽ làm việc chăm chỉ hơn nữa nếu tôi bảo phải làm gì.
Đây là năm tháng vui vẻ nhất trong tất cả quãng đời tôi trải qua nơi chốn này. Friday bắt đầu nói năng khá trôi chảy, hiểu được tên gọi của hầu hết mọi thứ tôi cần gọi tên, cũng như mọi địa điểm tôi sai cậu ta đến, và trò chuyện với tôi rất nhiều; tóm lại, giờ đây tôi bắt đầu có dịp dùng lại cái lưỡi của mình, thứ mà quả thực trước đó tôi rất ít khi có cơ hội dùng tới. Bên cạnh niềm vui được trò chuyện cùng cậu ta, tôi còn tìm thấy một sự mãn nguyện đặc biệt nơi bản thân con người ấy: lòng trung thực mộc mạc, không mảy may giả dối của cậu ta lộ diện rõ hơn qua từng ngày, và tôi thực sự bắt đầu quý mến sinh vật ấy; còn về phần cậu ta, tôi tin là cậu ta yêu mến tôi hơn bất cứ thứ gì cậu ta từng có thể yêu thương trong đời.
Có bận tôi nảy sinh ý định dò xem cậu ta còn vương vấn gì quê hương xứ sở của mình hay không; và sau khi đã dạy tiếng Anh cho cậu ta thành thạo đến mức có thể trả lời hầu như mọi câu hỏi của tôi, tôi liền gặng hỏi xem liệu bộ tộc của cậu ta có bao giờ chiến thắng trong các trận giao tranh không. Nghe vậy, cậu ta mỉm cười và đáp: "Có chứ, có chứ, bọn tôi luôn đánh giỏi hơn mà;" ý cậu ta muốn nói là luôn giành phần thắng trong giao tranh; và thế là chúng tôi bắt đầu cuộc trò chuyện như sau:
Chủ nhân.—Các cậu luôn đánh giỏi hơn cơ à, thế sao Friday lại bị bắt làm tù binh?
Friday.—Bộ tộc tôi đánh mạnh lắm chứ bộ.
Chủ nhân.—Đánh mạnh thế nào? Nếu bộ tộc của cậu đánh thắng họ, sao cậu lại bị bắt?
Friday.—Họ đông người hơn bộ tộc tôi ở cái chỗ tôi ở; họ bắt một, hai, ba người, rồi bắt cả tôi; bộ tộc tôi đập tan bọn chúng ở cái nơi đằng kia kìa, cái nơi tôi không có mặt; ở đấy bộ tộc tôi bắt được một, hai, cả ngàn người.
Chủ nhân.—Nhưng sao phe của cậu lại không cứu cậu ra khỏi tay kẻ thù lúc đó?
Friday.—Bọn chúng chạy trốn, bắt một, hai, ba người và cả tôi nữa, rồi bắt xuống xuồng; lúc đó bộ tộc tôi làm gì có xuồng.
Chủ nhân.—Này Friday, thế bộ tộc của cậu xử lý những kẻ bị bắt thế nào? Có đem họ đi rồi ăn thịt giống như bọn chúng đã làm không?
Friday.—Có chứ, bộ tộc tôi cũng ăn thịt người; ăn sạch sành sanh.
Chủ nhân.—Họ mang bọn chúng đi đâu?
Friday.—Đi đến chỗ khác, nơi họ nghĩ tới.
Chủ nhân.—Bọn họ có đến đây không?
Friday.—Có, có chứ, bọn họ đến đây; đến cả những nơi khác nữa.
Chủ nhân.—Cậu đã từng đến đây với họ chưa?
Friday.—Có, tôi đã từng đến đây (vừa nói cậu ta vừa chỉ về phía tây bắc của hòn đảo, hóa ra đó chính là vùng đất của họ).
Từ điều này, tôi hiểu ra rằng người hầu Friday của tôi trước kia từng thuộc về đám dã nhân vẫn thường tụ tập lên bờ ở múc phía bên kia hòn đảo, đúng vào những dịp ăn thịt người mà giờ đây hắn lại bị mang đến đây làm nạn nhân; và một thời gian sau, khi tôi lấy hết can đảm dẫn cậu ta đến vùng đó — cũng chính là nơi tôi từng đề cập trước kia — cậu ta liền nhận ra ngay địa điểm ấy, và kể cho tôi nghe rằng cậu ta đã từng đến đây một lần, khi họ ngấu nghiến hai mươi người đàn ông, hai phụ nữ và một đứa trẻ; cậu ta không thể đếm đến hai mươi bằng tiếng Anh, nhưng đã minh họa bằng cách xếp từng ấy hòn đá thành một hàng, rồi ra hiệu cho tôi đếm lại.
Tôi kể lại tình tiết này vì nó dẫn dắt cho phần tiếp theo: rằng sau cuộc trò chuyện ấy với cậu ta, tôi đã gặng hỏi từ hòn đảo của chúng tôi ra đến bờ đại lục cách bao xa, và liệu những chiếc xuồng có hay bị lạc hay không. Cậu ta bảo chẳng có nguy hiểm gì cả, chưa từng có chiếc xuồng nào bị lạc cả: chỉ là hễ đi ra khơi một đoạn ngắn, sẽ có một dòng hải lưu và hướng gió luôn thổi một chiều vào buổi sáng và chiều ngược lại vào buổi chiều. Tôi hiểu điều này chẳng qua chỉ là sự lên xuống của thủy triều, lúc rút ra hay lúc dâng vào; nhưng sau này tôi mới hiểu ra rằng hiện tượng ấy là do dòng nước cuồn cuộn chảy ra rồi rút về của con sông lớn Orinoco, mà ở ngay vùng cửa sông hoặc vịnh của nó, như sau này tôi phát hiện ra, hòn đảo của chúng tôi tọa lạc; và rằng mảnh đất mà tôi nhận định nằm về hướng tây và tây bắc chính là hòn đảo lớn Trinidad, nằm ở mũi phía bắc của cửa sông. Tôi hỏi Friday hàng ngàn câu hỏi về xứ sở ấy, cư dân, biển cả, bờ biển, và những bộ tộc nào ở gần đó; cậu ta kể lại mọi điều mình biết với sự cởi mở không thể tưởng tượng nổi. Tôi hỏi tên các bộ tộc khác nhau thuộc chủng người của cậu ta, nhưng chẳng thu được cái tên nào khác ngoài Caribs; từ đó tôi dễ dàng hiểu rằng đây chính là người Caribbees, những kẻ mà bản đồ của chúng ta đặt ở vùng châu Mỹ kéo dài từ cửa sông Orinoco đến Guiana, và xa hơn nữa đến tận St. Martha. Cậu ta kể rằng ở tít phía trên mặt trăng, nghĩa là bên kia đường lặn của mặt trăng — hẳn phải nằm về phía tây so với quê hương họ — có những người da trắng để râu, giống như tôi, và cậu ta chỉ vào bộ ria mép rậm rạp của tôi mà tôi từng nhắc đến trước kia; và rằng họ đã giết rất nhiều người — đó là nguyên văn lời cậu ta; qua tất cả những điều đó, tôi hiểu rằng cậu ta đang ám chỉ người Tây Ban Nha, những kẻ mà sự tàn ác tại châu Mỹ đã lan truyền đi khắp nơi trên xứ sở này và được lưu truyền qua mọi thế hệ từ cha truyền con nối.
Tôi gặng hỏi xem cậu ta có biết cách nào để tôi có thể rời khỏi hòn đảo này và tìm đến chỗ những người da trắng kia không. Cậu ta đáp: "Có, có chứ, ông có thể đi bằng hai chiếc xuồng." Tôi chẳng tài nào hiểu nổi ý cậu ta là gì, cũng không sao bắt cậu ta mô tả nổi thế nào là "hai chiếc xuồng", cho đến tận khi, sau bao khó khăn, tôi mới phát hiện ra ý cậu ta là phải đi bằng một chiếc thuyền lớn, to bằng hai chiếc xuồng ghép lại. Phần này trong lời kể của Friday khiến tôi vô cùng hứng thú; và kể từ lúc đó, tôi nhen nhóm hy vọng rằng thế nào cũng có lúc mình tìm được cơ hội trốn chạy khỏi chốn này, và người dã nhân tội nghiệp này có thể là công cụ đắc lực giúp đỡ tôi.
Trong suốt khoảng thời gian dài Friday ở bên tôi từ khi cậu ta bắt đầu biết nói và hiểu tôi, tôi chưa bao giờ lơ là việc đặt nền móng kiến thức tôn giáo vào tâm trí cậu ta; cụ thể là có lần tôi hỏi ai là người đã tạo ra cậu ta. Sinh vật ấy chẳng hiểu gì sất, cứ đinh ninh rằng tôi đang hỏi ai là cha cậu ta — nhưng tôi liền lái sang hướng khác và hỏi ai đã tạo ra biển cả, mặt đất chúng ta đang đi trên đó, cùng những ngọn đồi và khu rừng. Cậu ta đáp: "Đó là một đấng gọi là Benamuckee, ngài sống ở tít tận chốn xa xôi ngoài kia;" cậu ta chẳng thể miêu tả gì thêm về nhân vật vĩ đại này, chỉ bảo rằng ngài rất già, "già hơn nhiều," theo lời cậu ta, "so với biển cả hay mặt đất, so với mặt trăng hay các vì sao." Tôi bèn hỏi tiếp nếu vị cao niên ấy đã tạo ra vạn vật, tại sao vạn vật lại không thờ phụng ngài? Cậu ta liền đăm chiêu, với một vẻ mặt hoàn toàn ngây thơ, đáp rằng: "Vạn vật đều thưa 'Ô' với ngài." Tôi hỏi tiếp xem những người chết đi ở xứ sở của cậu ta có đi đến đâu không. Cậu ta đáp: "Có chứ; tất cả đều về với Benamuckee." Tôi lại gặng hỏi liệu những kẻ bị họ ăn thịt có cùng đến đó không. Cậu ta đáp: "Có chứ."
Từ những tiền đề ấy, tôi bắt đầu truyền đạt cho cậu ta sự hiểu biết về Thiên Chúa chân thật; tôi bảo rằng Đấng Tạo Hóa vĩ đại của muôn loài ngự ở tít trên cao kia — vừa nói tôi vừa chỉ tay lên bầu trời; rằng Ngài cai quản thế giới bằng chính quyền năng và sự quan phòng đã dùng để tạo dựng nên nó; rằng Ngài toàn năng và có thể làm mọi sự cho chúng ta, ban phát mọi thứ cho chúng ta, tước đoạt mọi thứ từ chúng ta; và cứ thế, từng bước một, tôi khai sáng cho cậu ta. Cậu ta lắng nghe với sự chú ý tột độ, và tiếp nhận đầy hứng khởi khái niệm về Chúa Jesus Christ được sai đến để cứu chuộc chúng ta; cùng cách thức dâng lời cầu nguyện lên Thiên Chúa, và việc Ngài có thể lắng nghe chúng ta ngay cả từ thiên đàng. Có hôm cậu ta bảo rằng nếu Chúa của chúng ta có thể lắng nghe chúng ta từ tít trên cao phía trên mặt trời, thì Ngài ắt phải là một vị thần vĩ đại hơn nhiều so với vị Benamuckee của họ — kẻ chỉ ngự ở một nơi cách đó chẳng bao xa mà vẫn chẳng thể nghe thấy gì cho đến khi họ phải cất công leo lên những ngọn núi cao nơi ngài ngự để thưa chuyện. Tôi hỏi liệu cậu ta có từng lên đó để thưa chuyện với ngài bao giờ chưa. Cậu ta đáp: "Không; những người trẻ tuổi không bao giờ lên đó; chẳng có ai lên đó ngoài các bậc trưởng lão," những kẻ mà cậu ta gọi là Oowokakee; nghĩa là, theo như tôi gặng hỏi để bắt cậu ta giải thích, chính là các tu sĩ hoặc giáo sĩ của họ; và họ lên đó để thưa "Ô" (cách cậu ta gọi việc cầu nguyện), rồi trở về thuật lại cho họ nghe những gì Benamuckee phán truyền. Qua đó, tôi nhận ra rằng sự bịp bợm của giới tu sĩ tồn tại ngay cả giữa những kẻ ngoại đạo u muội và dốt nát nhất trên đời; và thủ đoạn biến tôn giáo thành điều bí ẩn nhằm giữ gìn sự tôn kính của quần chúng đối với tầng lớp tu sĩ không chỉ xuất hiện trong Giáo hội La Mã, mà có lẽ còn hiện diện ở mọi tôn giáo trên thế giới, thậm chí ngay giữa những bộ tộc dã nhân thô bỉ và man rợ nhất.
Tôi ráng sức vạch trần trò lừa bịp này cho người hầu Friday của mình; và giảng giải rằng cái cớ các bậc trưởng lão của họ leo lên núi để thưa "Ô" với vị thần Benamuckee chỉ là một cú lừa; và việc họ mang từ trên đó về những lời phán truyền càng là sự lừa bịp trơ trẽn hơn nữa; rằng nếu họ có chạm trán câu trả lời hay trò chuyện với bất kỳ ai trên ấy, thì đó ắt hẳn là ma quỷ; rồi tôi đi sâu vào một bài giảng dài với cậu ta về quỷ dữ, nguồn gốc của nó, cuộc nổi loạn của nó chống lại Thiên Chúa, sự thù hằn của nó đối với loài người, nguyên nhân của mối thù ấy, việc nó tự dựng mình lên ở những vùng u tối trên thế giới để được thờ phụng thay cho Thiên Chúa và như một vị thần, cùng vô số thủ đoạn nó dùng để phỉnh phờ loài người đến mức diệt vong; cách nó len lỏi đầy ám muội vào các dục vọng và tình cảm của chúng ta, nhào nặn những cạm bẫy sao cho phù hợp với khuynh hướng của bản thân, khiến chúng ta thậm chí tự biến mình thành những kẻ cám dỗ chính mình và lao đầu vào sự hủy diệt do chính lựa chọn của mình.
Tôi nhận ra việc khắc ghi những khái niệm đúng đắn vào tâm trí cậu ta về ma quỷ không hề dễ dàng như việc giảng về sự hiện hữu của Thiên Chúa. Tự nhiên đã tiếp sức cho mọi luận điểm của tôi nhằm chứng minh cho cậu ta thấy tính tất yếu của một Nguyên Nhân Đầu Tiên vĩ đại, một Quyền Năng tối cao ngự trị và điều khiển, một sự Quan Phòng dẫn dắt âm thầm, cùng sự công bình và chính trực của việc bày tỏ lòng tôn kính đối với Đấng đã tạo ra chúng ta, v.v.; thế nhưng, chẳng có dấu hiệu nào của những điều tương tự xuất hiện trong khái niệm về một linh hồn ác độc, nguồn gốc, bản thể, bản tính của nó, và trên hết là khuynh hướng làm điều ác cùng việc lôi kéo chúng ta hùa theo điều ác của nó; và sinh vật tội nghiệp ấy đã có lần làm khó tôi theo cách thức ngây thơ và thuần túy tự nhiên đến mức tôi suýt chẳng biết phải đáp lời thế nào. Tôi vừa giảng giải rất nhiều cho cậu ta về quyền năng của Thiên Chúa, sự toàn năng của Ngài, sự ghê tởm của Ngài đối với tội lỗi, việc Ngài là ngọn lửa tiêu diệt những kẻ làm điều gian ác; cách Ngài đã tạo dựng tất cả chúng ta và có thể tiêu diệt chúng ta cùng toàn bộ thế giới chỉ trong chớp mắt; và suốt thời gian đó, cậu ta lắng nghe tôi với vẻ vô cùng nghiêm túc. Sau đó, tôi lại kể cho cậu ta nghe về việc ma quỷ là kẻ thù của Thiên Chúa ngự trị trong lòng nhân thế, đã dùng mọi sự gian ác và xảo quyệt để phá hoại những ý định tốt đẹp của ơn quan phòng, đồng thời hủy diệt vương quốc của Chúa Kitô trên trần gian, v.v. "Chà," Friday liền nói, "nhưng ông bảo Chúa hùng mạnh và vĩ đại đến thế; chẳng lẽ Ngài không mạnh mẽ hơn và quyền uy hơn nhiều so với ma quỷ sao?" "Đúng thế, đúng thế chứ," tôi đáp, "Friday à; Chúa mạnh hơn ma quỷ — Chúa ở trên ma quỷ, và đó là lý do chúng ta cầu xin Chúa đạp nó xuống dưới chân chúng ta, ban sức cho chúng ta chống lại những cám dỗ của nó và dập tắt những mũi tên lửa của nó." "Nhưng," cậu ta lại hỏi tiếp, "nếu Chúa mạnh hơn nhiều và quyền uy hơn nhiều so với tên quỷ dữ, sao Chúa không giết quỷ đi, để nó không thể làm điều ác nữa?" Tôi vô cùng kinh ngạc trước câu hỏi này; suy cho cùng, dẫu lúc đó tôi đã là một lão già, nhưng tôi chỉ là một tay lang băm non trẻ, hoàn toàn kém cỏi trong việc biện lý hay giải quyết những vấn đề hóc búa; và thoạt đầu tôi chẳng biết phải trả lời ra sao; thế nên tôi đành giả vờ như không nghe thấy, hỏi lại xem cậu ta vừa nói gì; nhưng cậu ta quá khát khao một câu trả lời nên không đời nào quên mất câu hỏi của mình, thế là cậu ta lặp lại nó y hệt từng từ ngắt quãng như trên. Tới lúc đó thì tôi đã trấn tĩnh lại đôi chút và đáp rằng: "Cuối cùng thì Chúa sẽ trừng phạt nó thật nặng nề; nó bị giam giữ cho ngày phán xét và sẽ bị quăng xuống vực sâu thẳm, để đời đời sống trong lửa thiêng." Câu trả lời này vẫn chưa làm Friday thỏa mãn; cậu ta vặn lại tôi, lặp lại nguyên văn lời tôi: "'Cuối cùng mới giữ lại!' tôi không hiểu — nhưng sao không giết quỷ đi ngay bây giờ; sao không giết từ thuở xửa thuở xưa?" "Cũng giống như việc cậu hỏi tôi," tôi đáp, "tại sao Chúa không giết cậu hay tôi khi chúng ta phạm những điều sai quấy ở đây làm Ngài mủi lòng — chúng ta được bảo toàn mạng sống để ăn năn và được tha thứ." Cậu ta trầm ngâm suy nghĩ một lúc lâu. "Chà, chà," cậu ta nói với vẻ đầy âu yếm, "thế thì tốt — vậy là tôi, ông, cả con quỷ, tất cả đều làm điều ác, đều được bảo toàn, biết ăn năn, được Chúa tha thứ hết." Đến lúc này thì tôi lại bị cậu ta dồn cho đuối lý hoàn toàn; và đó là một minh chứng rõ rệt cho tôi thấy rằng, những nhận thức thuần túy của tự nhiên, dẫu có thể dẫn dắt những tạo vật có lý trí đến sự hiểu biết về một vị Thiên Chúa, cùng sự tôn thờ hay lòng tôn kính đáng lẽ phải dâng lên Đấng Tối Cao như một hệ quả tất yếu của bản tính chúng ta, thế nhưng không gì khác ngoài mạc khải thần linh mới có thể định hình nên sự hiểu biết về Chúa Jesus Christ và ơn cứu chuộc đã được sắm sẵn cho chúng ta; về một Đấng Trung Hôn của giao ước mới, và một Đấng Chuyển Cầu ngay dưới bệ ngai của Thiên Chúa; ý tôi là, chẳng có gì ngoài mạc khải từ Thiên Thượng mới có thể khắc sâu những điều ấy vào tâm hồn; và do đó, Tin Mừng của Chúa cùng Cứu Chúa Jesus Christ của chúng ta — ý tôi là Lời của Thiên Chúa, và Thánh Thần của Thiên Chúa được hứa ban để làm đấng dẫn dắt và thánh hóa dân Ngài — chính là những người thầy tuyệt đối thiết yếu cho linh hồn nhân loại trong sự hiểu biết cứu rỗi về Thiên Chúa và phương thế để được cứu rỗi. Tôi bèn chuyển hướng cuộc trò chuyện hiện tại giữa tôi và người hầu của mình, vội vàng đứng bật dậy làm như có việc gấp phải ra ngoài; rồi sai cậu ta đi lấy thứ gì đó ở tít đằng xa, trong lòng thành tâm cầu nguyện xin Chúa ban sức cho tôi để có thể hướng dẫn phần rỗi cho tên dã nhân tội nghiệp này; xin Ngài dùng Thánh Thần trợ giúp cõi lòng của sinh vật u muội tội nghiệp ấy để tiếp nhận ánh sáng hiểu biết về Thiên Chúa trong Chúa Kitô, đưa cậu ta trở về giao hòa với chính Ngài, đồng thời dẫn dắt tôi biết cách giảng dạy cậu ta xuất phát từ Lời Chúa, sao cho lương tâm cậu ta được thuyết phục, đôi mắt được khai sáng, và linh hồn được cứu rỗi. Khi cậu ta quay trở lại bên tôi, tôi liền bắt đầu một bài giảng dài về đề tài ơn cứu chuộc nhân loại qua Đấng Cứu Thế của trần gian, và về giáo lý của Tin Mừng được loan báo từ Thiên Thượng, tức là sự ăn năn sám hối hướng về Thiên Chúa và đức tin nơi Chúa Jesus hằng chúc phúc của chúng ta. Tôi tiếp tục giải thích cho cậu ta hết sức có thể lý do vì sao Đấng Cứu Chuộc đáng chúc phúc của chúng ta không mang lấy bản tính các thiên thần mà lại mang lấy dòng dõi Abraham; và vì lý do đó, các thiên thần sa ngã không có phần trong ơn cứu chuộc; rằng Ngài chỉ đến với những con chiên lạc mất của nhà Israel, v.v. Xin Chúa thấu suốt, tôi đã đặt để nhiều sự chân thành hơn là sự hiểu biết trong mọi phương pháp mình áp dụng để hướng dẫn sinh vật tội nghiệp này; và tôi phải thừa nhận — điều mà tôi tin là tất cả những ai hành động theo cùng một nguyên tắc đều sẽ nhận ra — rằng khi bày tỏ mọi sự cho cậu ta, bản thân tôi thực ra đã tự khai sáng và trau dồi cho mình rất nhiều điều mà trước đó tôi hoặc chưa hề biết tới, hoặc chưa suy xét một cách thấu đáo, nhưng chúng lại bỗng nhiên xuất hiện trong tâm trí tôi khi tôi tra cứu để giảng giải cho tên dã nhân tội nghiệp này; và trong dịp này, tôi đã dồn dặt nhiều tình cảm hơn bao giờ hết khi tìm hiểu mọi sự: thế nên, dẫu cho sinh vật hoang dã tội nghiệp này có thu được lợi lộc gì từ tôi hay không, tôi vẫn có muôn vàn lý do để tạ ơn vì cậu ta đã bước vào cuộc đời tôi; nỗi buồn của tôi vơi bớt đi phần nào; chỗ dung thân của tôi trở nên thoải mái hơn vượt mọi giới hạn; và khi ngẫm nghĩ lại rằng trong cuộc đời cô độc mà tôi bị giam cầm này, tôi không chỉ được thúc đẩy để ngước mắt nhìn lên thiên thượng và tìm kiếm Bàn Tay đã đưa đẩy tôi đến chốn đây, mà giờ đây còn được chọn làm một công cụ dưới sự quan phòng để cứu lấy mạng sống, và biết đâu đấy, cả linh hồn của một tên dã nhân tội nghiệp, đưa cậu ta đến với sự hiểu biết chân chính về tôn giáo và giáo lý Cơ Đốc để cậu ta có thể nhận biết Chúa Jesus — Đấng ban sự sống đời đời; ý tôi là, khi ngẫm nghĩ về tất cả những điều ấy, một niềm vui thầm kín tuôn trào qua từng ngóc ngách tâm hồn tôi, và tôi thường xuyên cảm tạ vì mình đã từng bị đưa đẩy đến nơi chốn này — nơi mà tôi từng biết bao lần ngỡ đó là tai ương khủng khiếp nhất có thể giáng xuống đời tôi. Tôi duy trì tâm tình tạ ơn ấy trong suốt quãng thời gian còn lại; và những cuộc trò chuyện diễn ra giữa Friday và tôi trong từng ấy giờ khắc đã khiến ba năm chúng tôi sống chung với nhau trở nên hoàn mỹ và trọn vẹn hạnh phúc, nếu như thứ hạnh phúc trọn vẹn có thể hình thành được trong cõi thế trần này. Tên dã nhân ấy giờ đây đã là một tín hữu Cơ Đốc chân chính, thậm chí còn đạo đức hơn cả tôi; dẫu tôi có lý do để hy vọng, và dâng lời tạ ơn Chúa vì điều đó, rằng cả hai chúng tôi đều là những kẻ ăn năn thống hối có cùng mức độ, được an ủi và được phục hồi. Ở đây chúng tôi có Lời Chúa để đọc, và sự hướng dẫn từ Thánh Thần Ngài chẳng hề cách xa hơn so với khi chúng tôi ở nước Anh. Khi đọc Kinh Thánh, tôi luôn cố gắng hết sức để truyền tải cho cậu ta hiểu ý nghĩa của những gì mình đọc; và ngược lại, qua những câu hỏi và thắc mắc đầy nghiêm túc của mình, cậu ta đã khiến tôi — như tôi đã nói — trở thành một học giả uyên bác hơn rất nhiều về kiến thức Kinh Thánh so với những gì tôi có thể đạt được nếu chỉ tự mình đọc lấy trong cô độc. Một điều nữa mà tôi không khỏi thốt lên kinh ngạc khi rút ra từ trải nghiệm ở chốn ẩn dật này của đời mình, đó là: thật là một hồng ân vô biên và không tài nào diễn tả xiết khi sự hiểu biết về Thiên Chúa cùng giáo lý cứu chuộc qua Chúa Jesus được diễn giải quá đỗi rành mạch trong Lời Chúa, quá đỗi dễ dàng để tiếp nhận và lĩnh hội, đến mức chỉ bằng việc thuần túy đọc Kinh Thánh cũng đủ khiến tôi có khả năng hiểu biết đầy đủ về bổn phận của mình để tiến thẳng đến công cuộc vĩ đại là ăn năn thành tâm vì những tội lỗi của bản thân, bám lấy Đấng Cứu Thế để được ban sự sống và ơn cứu chuộc, hướng đến một sự canh tân thường trực trong hành động và vâng giữ mọi điều răn của Thiên Chúa, mà hoàn toàn không cần đến bất kỳ người thầy hay người hướng dẫn nào mang lốt con người; ý tôi là, sự hướng dẫn rõ ràng tương tự ấy cũng đủ sức khai sáng cho sinh vật dã nhân này, đưa cậu ta trở thành một tín hữu Cơ Đốc mà hiếm hoi lắm trong đời tôi mới gặp được người sánh kịp. Còn về tất cả những cuộc tranh cãi, đôi co, hằn thù và phân tranh từng xảy ra trên thế giới liên quan đến tôn giáo — dù là những chi tiết vụn vặt trong giáo lý hay các hệ thống quản trị giáo hội — chúng đều hoàn toàn vô dụng đối với chúng tôi, và theo những gì tôi còn có thể thấy cho đến nay, chúng cũng vô dụng đối với phần còn lại của thế giới. Chúng tôi có trong tay chiếc la bàn chắc chắn dẫn về thiên đàng, tức là Lời Chúa; và tạ ơn Chúa, chúng tôi có được những góc nhìn đầy an ủi về Thánh Thần của Ngài — Đấng dùng Lời của Ngài để dạy dỗ và chỉ bảo, dẫn dắt chúng tôi vào mọi lẽ thật, đồng thời khiến chúng tôi vừa sẵn lòng vừa vâng phục những lời giáo huấn từ Ngài. Và tôi chẳng thể thấy dù chỉ mảy may ích lợi nào mà sự am tường sâu sắc nhất đối với những điểm tranh cãi trong tôn giáo — thứ đã gây ra bao hỗn loạn trên thế giới này — có thể mang lại cho chúng tôi, giả sử như chúng tôi có đạt được chúng đi chăng nữa. Nhưng tôi phải tiếp tục phần tường thuật lịch sử và trình bày mọi sự theo đúng trình tự của nó. Sau khi Friday và tôi trở nên thân thiết hơn, cậu ta có thể hiểu hầu hết những gì tôi nói và trò chuyện với tôi khá trôi chảy dù bằng vốn tiếng Anh bập bẹ, tôi liền kể cho cậu ta nghe về cuộc đời mình, hoặc ít nhất là phần liên quan đến việc tôi đặt chân đến chốn này: cách tôi đã sống ở đây ra sao và trong bao lâu; tôi bật mí cho cậu ta điều kỳ diệu — đối với cậu ta lúc bấy giờ — về thuốc súng và đạn chì, đồng thời dạy cậu ta cách bắn súng. Tôi tặng cậu ta một con dao, khiến cậu ta vui sướng khôn tả; tôi còn làm cho cậu ta một chiếc thắt lưng có đính một cái đai trễ, giống như thứ chúng tôi dùng để giắt dao găm ở nước Anh; và thay vì dao găm, tôi giắt vào đó một chiếc rìu nhỏ, món vũ khí không chỉ hữu dụng chẳng kém trong một số trường hợp, mà còn tỏ ra đắc lực hơn rất nhiều vào những dịp khác. Tôi miêu tả cho cậu ta nghe về các quốc gia ở châu Âu, đặc biệt là nước Anh, nơi tôi đã rời bỏ ra đi; cách chúng tôi sinh sống, cách chúng tôi thờ phượng Thiên Chúa, cách chúng tôi đối xử với nhau, và cách chúng tôi dùng tàu thuyền buôn bán khắp năm châu bốn bể. Tôi kể cho cậu ta nghe về vụ đắm tàu mà tôi từng ở trên đó, và chỉ cho cậu ta thấy rõ nhất có thể nơi xác tàu nằm; nhưng nó đã bị sóng đánh tan tành từ lâu và biến mất hoàn toàn. Tôi chỉ cho cậu ta đống đổ nát của chiếc xuồng cứu sinh — thứ chúng tôi dùng để trốn chạy ngày trước, thời điểm mà dẫu dùng hết sức lực của toàn thân tôi cũng chẳng tài nào nhúc nhở nổi nó, nhưng giờ đây đã mục nát hầu như hoàn toàn. Vừa trông thấy chiếc xuồng ấy, Friday liền đứng đăm chiêu một hồi lâu mà không nói lời nào. Tôi hỏi cậu ta đang trầm ngâm điều gì. Cuối cùng, cậu ta cất lời: "Tôi thấy một chiếc thuyền giống thế này đến bến đỗ ở bộ tộc tôi." Phải một lúc lâu tôi mới hiểu ý cậu ta; nhưng cuối cùng, sau khi gặng hỏi sâu hơn, tôi hiểu ra rằng một chiếc thuyền y hệt như thế đã trôi dạt vào bờ biển nơi cậu ta sinh sống: cụ thể là, theo lời giải thích của cậu ta, bị dạt vào đó do bão tố giật cấp. Tôi lập tức mường tượng rằng hẳn có một con tàu châu Âu nào đó đã gặp nạn ngoài khơi bờ biển của họ, và chiếc xuồng cứu sinh đã bị đứt dây trôi dạt vào bờ; nhưng tôi vốn ngốc nghếch nên chưa từng mảy may nghĩ đến việc con người có thể trốn thoát khỏi một vụ đắm tàu rồi dạt đến đó, chứ đừng nói đến chuyện họ từ đâu tới: thế nên tôi chỉ gặng hỏi thêm về mô tả của chiếc thuyền. Friday miêu tả chiếc thuyền khá rành mạch; nhưng cậu ta còn khiến tôi hiểu rõ hơn nữa khi vừa nói với một chút hào hứng vừa tiếp lời: "Chúng tôi đã cứu những người da trắng chết đuối." Ngay lập tức tôi gặng hỏi xem có người da trắng nào — theo cách cậu ta gọi — ở trên chiếc thuyền đó không. "Có chứ," cậu ta đáp; "cả chiếc thuyền toàn người da trắng." Tôi hỏi có bao nhiêu người. Cậu ta đếm trên đầu ngón tay là mười bảy người. Tôi lại hỏi chuyện gì đã xảy ra với họ. Cậu ta đáp: "Họ vẫn sống, họ đang ở bộ tộc tôi." Điều này làm nảy sinh trong đầu tôi những suy nghĩ hoàn toàn mới; bởi tôi lập tức phỏng đoán rằng đây chính là những thành viên thuộc thủy thủ đoàn trên con tàu bị đắm ngay trước tầm mắt hòn đảo của tôi — theo cách tôi bắt đầu gọi nó lúc bấy giờ; những kẻ sau khi con tàu đâm phải đá ngầm và nhận ra nó chắc chắn sẽ chìm sâu, đã tự cứu lấy mình bằng chiếc xuồng cứu sinh và dạt vào bờ biển hoang vu đó giữa vòng vây của bọn dã nhân. Nhận định vậy, tôi càng gặng hỏi ngọn nguồn xem số phận họ ra sao. Cậu ta quả quyết rằng họ vẫn đang sống ở đó; rằng họ đã ở đó khoảng bốn năm nay; rằng bọn dã nhân đã để mặc họ yên thân và cung cấp lương thực cho họ sinh sống. Tôi hỏi tại sao chúng lại không giết và ăn thịt họ. Cậu ta đáp: "Không, họ kết nghĩa anh em với những người đó;" nghĩa là, theo tôi hiểu, họ đã đình chiến; rồi cậu ta nói thêm: "Bọn họ chỉ ăn thịt người khi ra trận đánh nhau mà thôi;" nói cách khác, họ chẳng bao giờ ăn thịt ai trừ những kẻ đến giao tranh với họ và bị bắt làm tù binh. Khá lâu sau thời điểm đó, có bận khi đang đứng trên đỉnh ngọn đồi ở phía đông hòn đảo — nơi từ đó, như tôi đã đề cập, vào một ngày trời quang mây tạnh, tôi từng phóng tầm mắt phát hiện ra phần đất liền hay đại lục châu Mỹ — khi thời tiết vô cùng quang đảng, Friday đăm đăm nhìn về phía đại lục, rồi với vẻ ngỡ ngàng bất chợt, cậu ta nhảy cẫng lên nhún nhảy và gọi lớn tôi, lúc ấy đang đứng cách đó một quãng. Tôi hỏi cậu ta có chuyện gì. "Ôi vui quá!" cậu ta kêu lên; "Ôi sướng quá! kìa thấy quê hương tôi rồi, kìa bộ tộc của tôi!" Tôi nhận thấy một niềm vui sướng tột độ lộ rõ trên gương mặt cậu ta, đôi mắt ngời sáng, và nét mặt biểu lộ một sự háo hức kỳ lạ, cứ như thể cậu ta đang khao khát được trở về xứ sở của mình ngay lập tức. Quan sát này của tôi đã khơi nguồn cho vô vàn suy nghĩ, khiến ban đầu tôi cảm thấy không còn được thoải mái với người hầu mới Friday như trước; và tôi không mảy may nghi ngờ rằng, nếu Friday có thể quay về với bộ tộc của mình, cậu ta sẽ chẳng những quên sạch tôn giáo lẫn ơn nghĩa đối với tôi, mà còn sẵn sàng kể tuốt tuồn tuột về tôi cho đồng bào nghe, rồi quay lại — biết đâu đấy — cùng một trăm hay hai trăm người bọn họ để tổ chức một bữa tiệc với món chính là tôi, nơi cậu ta sẽ vui vẻ hết mình hệt như cách cậu ta từng hoan hỉ với đám kẻ thù bị bắt trong chiến trận ngày trước. Nhưng tôi đã trách oan sinh vật mộc mạc chân chất ấy rất nhiều, để rồi sau đó tôi vô cùng ân hận. Dẫu vậy, vì sự nghi kỵ trong tôi ngày càng lớn và kéo dài suốt mấy tuần lễ, tôi trở nên dè dặt hơn một chút, không còn gần gũi và ân cần với cậu ta như trước: và chắc chắn là tôi đã sai lầm trong chuyện đó; bởi sinh vật chân chất, biết ơn ấy chẳng hề nuôi bất kỳ ý niệm nào khác ngoài những nguyên tắc cao đẹp nhất, vừa của một tín hữu Cơ Đốc ngoan đạo vừa của một người bạn biết ơn, điều mà sau đó đã lộ rõ khiến tôi hoàn toàn mãn nguyện. Trong suốt thời gian nỗi hoài nghi về cậu ta còn âm ỉ, bạn có thể đoán chắc là ngày nào tôi cũng dò la gặng hỏi để xem cậu ta có bộc lộ bất kỳ tư tưởng mới mẻ nào mà tôi đang nghi ngờ hay không; nhưng tôi nhận thấy mọi lời cậu ta thốt ra đều vô cùng chân thật và ngây thơ, đến mức chẳng tài nào tìm ra chút manh mối nào để nuôi dưỡng sự nghi kỵ của mình; và bất chấp mọi bứt rứt trong lòng, cuối cùng cậu ta vẫn khiến tôi hoàn toàn thuộc về mình như trước; bản thân cậu ta cũng chẳng hề mảy may nhận ra sự bứt rứt của tôi, nhờ thế tôi không thể nghi ngờ cậu ta giả dối. Có ngày, khi đang đi dạo lên cùng ngọn đồi ấy, nhưng thời tiết ngoài khơi lại mù mịt khiến chúng tôi chẳng thể nhìn thấy đại lục, tôi gọi cậu ta lại và cất lời: "Friday, cậu không thấy nhớ quê hương, nhớ bộ tộc của mình sao?" "Có chứ," cậu ta đáp, "tôi rất rất vui sướng nếu được về với bộ tộc của mình." "Cậu sẽ làm gì ở trượt?" tôi hỏi. "Cậu lại muốn quay về làm dã nhân, ăn thịt người, và trở thành kẻ hoang dã như trước kia chắc?" Cậu ta lộ vẻ vô cùng lo lắng, lắc đầu nguầy nguậy và đáp: "Không, không đâu, Friday sẽ bảo bọn họ sống lương thiện; bảo họ cầu nguyện Thiên Chúa; bảo họ ăn bánh ngô, thịt gia súc, uống sữa; không ăn thịt người nữa đâu." "Thế thì," tôi vặn lại cậu ta, "bọn chúng sẽ giết cậu đấy." Nghe vậy, cậu ta liền đăm chiêu, rồi đáp: "Không, không đâu, bọn chúng không giết tôi đâu, bọn chúng sẵn lòng học hỏi lắm." Ý cậu ta muốn nói là họ sẽ sẵn lòng học hỏi những điều hay. Cậu ta nói thêm rằng họ đã học hỏi được rất nhiều từ những người đàn ông có râu từng trôi dạt vào bờ bằng chiếc thuyền kia. Ngay lập tức tôi hỏi xem cậu ta có muốn quay lại với họ không. Nghe thế, cậu ta mỉm cười và bảo rằng mình không thể bơi xa đến thế. Tôi đáp tôi sẽ đóng cho cậu ta một chiếc xuồng. Cậu ta bảo sẽ đi nếu tôi chịu đi cùng. "Tôi đi á!" tôi thốt lên; "sao chứ, bọn chúng sẽ ăn thịt tôi nếu tôi đặt chân đến đó mất." "Không, không đâu," cậu ta quả quyết, "tôi sẽ bắt bọn chúng không được ăn thịt ông; tôi sẽ khiến bọn chúng yêu mến ông rất nhiều." Ý cậu ta là, cậu ta sẽ kể cho họ nghe về việc tôi đã tiêu diệt kẻ thù và cứu mạng cậu ta ra sao, nhờ thế họ sẽ yêu quý tôi. Rồi cậu ta kể lại cho tôi nghe rõ hết mức có thể về việc họ đã đối xử tử tế thế nào với mười bảy người đàn ông da trắng, hay những người đàn ông có râu mà cậu ta gọi, những kẻ đã trôi dạt vào bờ trong cảnh khốn cùng. Kể từ lúc đó, tôi thú thực là mình đã nhen nhóm ý định liều lĩnh vượt biển sang đó xem có thể hội ngộ với những người đàn ông có râu ấy hay không — những kẻ mà tôi đinh ninh chính là người Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha; tôi thầm tin rằng nếu làm được thế, chúng tôi sẽ tìm ra phương kế trốn chạy khỏi chốn này, bởi khi đã ở trên đại lục lại có một nhóm đông người đồng hành, cơ hội sẽ khả quan hơn nhiều so với việc ở một mình trên hòn đảo cách bờ biển tận bốn mươi dặm mà chẳng có lấy một bàn tay giúp đỡ. Thế nên, sau vài ngày, tôi lại rủ Friday vào việc bằng cách trò chuyện gợi ý và bảo sẽ cho cậu ta một chiếc thuyền để quay về với bộ tộc của mình; và quả nhiên, tôi dẫn cậu ta ra chiếc chiến thuyền của mình nằm ở phía bên kia hòn đảo, tát sạch nước đi (bởi tôi vẫn luôn dìm nó ngầm dưới nước để cất giấu), lôi nó lên, chỉ cho cậu ta thấy, rồi cả hai cùng bước xuống thuyền. Tôi nhận ra cậu ta là một tay chèo cực kỳ tháo vát và lanh lẹ, có thể điều khiển chiếc thuyền lướt đi nhanh gấp đôi so với tôi. Thế là khi cậu ta đã ngồi vào trong, tôi liền cất lời: "Nào Friday, giờ chúng ta đi đến xứ sở của bộ tộc cậu nhé?" Cậu ta tỏ ra vô cùng ủ rũ trước câu nói ấy của tôi; hóa ra là vì cậu ta nghĩ chiếc thuyền này quá nhỏ để đi một quãng đường xa đến thế. Tôi liền bảo mình vẫn còn một chiếc thuyền to hơn; thế là hôm sau, tôi dẫn cậu ta đến nơi để chiếc xuồng đầu tiên mà tôi từng làm ngày trước, nhưng khổ nỗi tôi chẳng thể đưa nó xuống nước nổi. Cậu ta bảo chiếc đó đủ lớn rồi; nhưng ngặt vì tôi chẳng màng bảo quản, để nó phơi sương phơi nắng suốt hai mươi hai, hai mươi ba năm trời, nên ánh nắng mặt trời đã làm nó nứt toác và khô khốc đến mức mục rỗng cả rồi. Friday bảo rằng một chiếc thuyền như thế là quá ổn, và sẽ chở được "rất nhiều lương thực, đồ uống, và bánh mì;" đó là cách nói năng quen thuộc của cậu ta.