Cuộc Đời Và Những Chuyến Phiêu Lưu Của Robinson Crusoe

Lượt đọc: 245 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 5
Dựng Nhà — Nhật Ký

❊ ❊ ❊

Ngày 30 tháng 9 năm 1659.—Tôi, Robinson Crusoe nghèo khổ và khốn cùng, sau khi đắm tàu trong một cơn bão kinh hoàng ngoài khơi, đã dạt vào hòn đảo hoang vắng, bất hạnh này mà tôi gọi là “Đảo Tuyệt Vọng”; toàn bộ thủy thủ đoàn đều đã chết đuối, còn bản thân tôi thì gần như chết lặng.

Toàn bộ thời gian còn lại trong ngày, tôi chìm đắm trong nỗi dằn vặt về hoàn cảnh bi đát mà mình đang gánh chịu — cụ thể là tôi không có thức ăn, nhà cửa, quần áo, vũ khí, cũng chẳng có nơi nào để trốn chạy; tuyệt vọng trước mọi sự cứu trợ, trước mắt tôi chẳng thấy gì ngoài cái chết — hoặc sẽ bị thú dữ ăn thịt, bị thổ dân sát hại, hay chết đói vì thiếu thốn lương thực. Khi màn đêm buông xuống, vì sợ hãi muông thú, tôi lên cây ngủ; nhưng tôi đã ngủ một giấc say nồng, mặc cho trời đổ mưa suốt cả đêm.

Ngày 1 tháng 10.—Buổi sáng, tôi vô cùng kinh ngạc khi thấy con tàu đã nổi lên nhờ thủy triều dâng cao và dạt vào bờ gần hòn đảo hơn rất nhiều; điều này, một mặt mang lại cho tôi chút an ủi — vì khi thấy nó nằm thẳng chứ không bị vỡ nát, tôi hy vọng rằng nếu gió lặng, mình có thể lên boong để kiếm ít thức ăn và các vật dụng thiết yếu từ con tàu nhằm cứu đói — nhưng mặt khác, nó lại khơi ủi nỗi đau mất đi những người đồng đội. Tôi thầm nghĩ rằng nếu tất cả chúng tôi ở lại trên tàu, có lẽ chúng tôi đã cứu được con tàu, hoặc ít nhất họ đã không chết đuối thương tâm như vậy; và nếu các thủy thủ thoát nạn, biết đâu chúng tôi có thể đóng một chiếc xuồng từ những mảnh vỡ của con tàu để chèo đến một vùng đất khác trên thế giới. Tôi dành phần lớn thời gian trong ngày để suy nghĩ quẩn quanh về những chuyện này; nhưng cuối cùng, thấy con tàu đã gần như cạn nước, tôi tiến ra bãi cát gần nhất có thể rồi bơi ra tàu. Hôm nay trời vẫn tiếp tục mưa, dù không có một gợn gió nào.

Từ ngày 1 tháng 10 đến ngày 24.—Tất cả những ngày này tôi đều dành trọn cho vô số chuyến hải trình để vớt mọi thứ có thể từ con tàu, và tôi đã đưa chúng vào bờ trên những chiếc bè vào mỗi kỳ nước triều lên. Trời cũng mưa rất nhiều trong suốt những ngày đó, dù thỉnh thoảng vẫn có vài khoảng thời gian tạnh ráo; nhưng có lẽ đây chính là mùa mưa.

Ngày 20 tháng 10.—Tôi lật úp chiếc bè của mình cùng toàn bộ hàng hóa chất trên đó; nhưng vì ở vùng nước nông và đồ đạc chủ yếu là vật nặng, tôi đã vớt lại được phần lớn khi nước triều rút.

Ngày 25 tháng 10.—Trời mưa suốt cả ngày lẫn đêm kèm theo những cơn gió giật; trong lúc đó, con tàu vỡ vụn ra từng mảnh do gió thổi mạnh hơn trước một chút, và từ đó chẳng còn thấy nó đâu nữa, ngoại trừ đống xác tàu chỉ lộ ra khi nước triều rút thấp. Tôi dành cả ngày để che đậy và bảo quản số hàng hóa đã cứu được để mưa không làm hỏng chúng.

Ngày 26 tháng 10.—Tôi đi dạo quanh bờ biển gần như suốt cả ngày để tìm một nơi lập chỗ trú ẩn, vô cùng bận tâm đến việc làm sao để bảo vệ bản thân khỏi những cuộc tấn công ban đêm, dù là từ thú dữ hay con người. Gần tối, tôi chấm trúng một địa điểm thích hợp dưới một mỏm đá, vạch ra một nửa vòng tròn làm khu ân cư; tôi quyết tâm củng cố nơi này bằng một công trình, bức tường, hay công sự được làm bằng hai lớp cọc gỗ, bên trong lót cáp tàu và bên ngoài đắp cỏ.

Từ ngày 26 đến ngày 30, tôi làm việc rất vất vả để chuyển toàn bộ hàng hóa đến nơi ở mới, dù có những lúc trời mưa vô cùng nặng hạt.

Sáng ngày 31, tôi cầm súng đi vào trong đảo để tìm ít thức ăn và thám hiểm vùng đất; lúc đó tôi hạ được một con dê cái, và một con dê con đã lẽo đẽo theo tôi về nhà, sau đó tôi cũng giết luôn nó vì nó không chịu ăn uống gì.

Ngày 1 tháng 11.—Tôi dựng lều dưới một mỏm đá và nghỉ lại đêm đầu tiên ở đó; tôi cố làm chiếc lều rộng nhất có thể, giăng các cọc gỗ cắm xuống đất để treo võng.

Ngày 2 tháng 11.—Tôi dựng tất cả các hòm, ván gỗ và những thanh xà từng làm bè của mình lên, dùng chúng tạo thành một hàng rào bao quanh, nằm thụt vào bên trong ranh giới mà tôi đã vạch ra cho công sự của mình.

Ngày 3 tháng 11.—Tôi xách súng đi săn và bắn được hai con chim trông giống vịt, thịt rất ngon. Buổi chiều, tôi bắt tay vào đóng một chiếc bàn.

Ngày 4 tháng 11.—Sáng nay tôi bắt đầu sắp xếp thời gian làm việc, thời gian đi săn bằng súng, thời gian ngủ và thời gian giải trí — cụ thể là mỗi buổi sáng tôi đi dạo cùng khẩu súng trong hai hoặc ba tiếng đồng hồ nếu trời không mưa; sau đó tôi làm việc cho đến khoảng mười một giờ; rồi ăn chút ít để duy trì sự sống; từ mười hai giờ đến hai giờ chiều tôi nằm ngủ vì thời tiết quá ư bức bối; và đến chiều tối, tôi lại tiếp tục làm việc. Thời gian làm việc của ngày hôm nay và ngày hôm sau hoàn toàn dành cho việc đóng chiếc bàn, bởi vì lúc bấy giờ tôi vẫn chỉ là một thợ mộc rất vụng về, dù rằng chẳng bao lâu sau, thời gian và sự bức bách đã tôi luyện tôi thành một thợ thủ công tự học thực thụ, và tôi tin ai ở vào hoàn cảnh ấy cũng vậy thôi.

Ngày 5 tháng 11.—Hôm nay tôi đi ra ngoài cùng khẩu súng và con chó, bắn được một con mèo rừng; bộ da khá mềm nhưng thịt chẳng dùng được việc gì; tôi lột da mọi con vật mình săn được và đem bảo vệ chúng cẩn thận. Khi đi dọc bờ biển quay về, tôi nhìn thấy rất nhiều loại chim biển mà tôi không tài nào biết tên; nhưng tôi đã vô cùng kinh ngạc, suýt hoảng hốt trước hai hoặc ba con hải cẩu. Trong lúc tôi đang ngẩn ngơ ngắm nhìn vì chưa rõ chúng là sinh vật gì, chúng đã trốn xuống biển và tẩu thoát mất.

Ngày 6 tháng 11.—Sau buổi đi dạo buổi sáng, tôi quay lại làm chiếc bàn và hoàn thiện nó, dù trông không vừa ý cho lắm; nhưng chẳng mấy chốc tôi đã học được cách sửa sang lại cho đẹp hơn.

Ngày 7 tháng 11.—Bấy giờ thời tiết bắt đầu ổn định và tạnh ráo. Các ngày mùng 7, mùng 8, mùng 9, mùng 10 và một phần ngày 12 (vì ngày 11 là Chủ Nhật) tôi hoàn toàn dành thời gian để đóng một chiếc ghế. Sau bao vất vả, cuối cùng tôi cũng tạo cho nó được một hình dáng tạm ổn, nhưng chưa bao giờ làm tôi ưng ý; thậm chí ngay trong quá trình làm, tôi đã phải tháo tung nó ra mấy lần liền.

Ghi chú.—Tôi sớm lơ đễnh việc giữ gìn ngày Chủ Nhật; bởi vì quên mất việc khắc vạch đánh dấu lên cột, tôi chẳng tài nào nhớ nổi ngày nào với ngày nào.

Ngày 13 tháng 11.—Hôm nay trời đổ mưa, mang lại cho tôi cảm giác sảng khoái vô cùng và làm dịu đi cái oi nồng của mặt đất; nhưng đi kèm với đó là những tiếng sấm sét đùng đoàng đáng sợ, khiến tôi hoảng hốt khôn nguôi vì sợ số thuốc súng của mình gặp nạn. Ngay khi cơn bão vừa dứt, tôi quyết định chia nhỏ kho thuốc súng của mình thành càng nhiều gói càng tốt để chúng không rơi vào cảnh hiểm nghèo.

Ngày 14, 15, 16.—Ba ngày này tôi dành để đóng những chiếc hộp nhỏ hình vuông, chứa được chừng một hoặc tối đa là hai pa-ao thuốc súng; cứ thế, tôi cất thuốc súng vào các hộp rồi đem cất giấu ở những nơi an toàn và cách xa nhau nhất có thể. Trong một trong ba ngày đó, tôi bắn được một con chim lớn thịt rất ngon, nhưng tôi chẳng biết gọi nó là gì.

Ngày 17.—Hôm nay tôi bắt đầu đào sâu vào vách đá phía sau lều để nới rộng không gian, phục vụ cho những tiện nghi sau này.

Ghi chú.—Tôi đang thiếu thốn trầm trọng ba thứ cho công việc này — cụ thể là một chiếc cuốc chim, một cái xẻng, và một chiếc xe cút kít hoặc cái giỏ; thế là tôi gác lại công việc, bắt đầu suy nghĩ cách khắc phục sự thiếu hụt ấy để tự chế ra một số dụng cụ. Về phần cuốc chim, tôi tận dụng những thanh xà beng bằng sắt; tuy hơi nặng nhưng dùng cũng khá vừa vặn; thế nhưng món tiếp theo phải là cái xẻng hoặc cái thuổng; đây là vật dụng cực kỳ thiết yếu, thực sự tôi chẳng thể làm được gì nên hồn nếu thiếu nó; khổ nỗi tôi chẳng biết phải làm kiểu gì cho phải.

Ngày 18.—Hôm sau, trong lúc lùng sục trong rừng, tôi tìm thấy một loại cây có thứ gỗ hoặc tương tự như thứ gỗ mà ở Bra-xin người ta gọi là cây thiết mộc, nổi tiếng vì độ cứng khủng khiếp của nó. Sau bao công sức nhọc nhằn, suýt làm hỏng cả rìu, tôi cũng chặt được một đoạn và chật vật mang được về nhà, bởi nó nặng quá mức chịu đựng. Độ cứng đến mức phi lý của thớ gỗ, cộng với việc tôi chẳng còn cách nào khác, khiến tôi phải tốn rất nhiều thời gian để chế tác vật dụng này; từng chút một, tôi đẽo gọt nó thành hình thù một chiếc xẻng hoặc cái thuổng. Cán xẻng được gọt giũa y hệt như những chiếc ở nước Anh, chỉ có điều phần bản xẻng phía dưới không được bọc sắt nên sẽ không bền bằng; dẫu vậy, nó vẫn đáp ứng tốt các nhu cầu sử dụng của tôi; và có lẽ, chưa từng có chiếc xẻng nào được chế tạo theo kiểu kỳ quặc ấy, hay tốn nhiều thời gian chế tác đến thế.

Tôi vẫn còn thiếu một cái giỏ hoặc xe cút kít. Giỏ thì tôi chịu chết, không tài nào làm nổi vì chẳng có loại cành uốn dẻo nào để đan lát — ít ra là tôi chưa tìm thấy loại nào; còn xe cút kít, tôi nghĩ mình có thể làm được mọi bộ phận trừ cái bánh xe, nhưng ngặt nỗi tôi mù tịt về nó, cũng chẳng biết phải bắt đầu từ đâu. Thêm vào đó, tôi hoàn toàn không có cách nào làm được các chốt sắt cho trục quay của bánh xe; thế nên tôi đành từ bỏ ý định đó. Thay vào đó, để vận chuyển đất đá đào lên từ hang, tôi tự chế ra một vật giống như cáingảng mà thợ hồ dùng để đựng vữa khi phụ việc cho thợ xây. Việc này không quá khó khăn như đóng cái xẻng; thế nhưng cái xẻng, vật dụng này, cùng nỗ lực đóng xe cút kít thất bại trước đó đã ngốn của tôi không dưới bốn ngày — ý tôi là luôn trừ ra khoảng thời gian đi dạo buổi sáng cùng khẩu súng, việc mà tôi hiếm khi bỏ sót, và cũng rất hiếm khi trở về tay không mà luôn mang theo thứ gì đó ăn được.

Ngày 23.—Công việc khác của tôi từ nãy đến giờ vẫn dậm chân tại chỗ vì tôi bận chế tạo mấy thứ dụng cụ này; khi chúng đã hoàn thành, tôi tiếp tục công việc, làm lụng mỗi ngày tùy theo sức lực và thời gian cho phép. Tôi đã dành trọn mười tám ngày để mở rộng và đào sâu hang động của mình sao cho có thể chứa đồ đạc một cách thoải mái nhất.

Ghi chú.—Suốt khoảng thời gian này, tôi đã cố gắng làm sao để căn phòng hay hang động ấy đủ rộng rãi, biến nó thành một nhà kho hay kho chứa, một nhà bếp, phòng ăn và cả hầm rượu. Về phần chỗ ngủ, tôi vẫn giữ nguyên trong lều; chỉ có điều thỉnh thoảng vào mùa mưa, trời mưa to đến mức tôi không thể giữ cho mình khô ráo, điều đó khiến tôi sau đó phải dùng những cây sào dài dựng theo hình mái nhà, tựa vào vách đá để che phủ toàn bộ khu vực bên trong hàng rào cọc, rồi chất lên trên những lớp lá cây lớn và lá cọ tựa như một mái tranh.

Ngày 10 tháng 12.—Tôi bắt đầu nghĩ rằng hang động hay hầm trú của mình đã hoàn tất thì thình lình (có vẻ như tôi khoét nó quá rộng), một khối lượng lớn đất đá từ trần ở một bên đổ sụp xuống; lượng đất nhiều đến mức, tóm lại là khiến tôi hoảng hồn, và không phải không có lý, bởi giả như tôi đứng dưới đó lúc ấy thì chẳng cần phải nhờ ai đào mồ chôn nữa. Giờ đây tôi lại phải làm lại từ đầu khối lượng công việc khổng lồ, vì tôi phải dọn sạch số đất sạt lở ấy ra ngoài; và quan trọng hơn hết, tôi phải chống đỡ phần trần nhà để chắc chắn không còn mảng nào sập xuống nữa.

Ngày 11 tháng 12.—Hôm nay tôi bắt tay vào việc đó và dựng thẳng đứng hai cột chống lên tận trần, với hai thanh ván gác ngang qua mỗi đầu cột; tôi hoàn thành việc này vào ngày hôm sau; và cứ tiếp tục dựng thêm nhiều cột kèm theo ván, chỉ độ một tuần sau là phần mái đã được gia cố chắc chắn, còn những hàng cột đứng thành dãy lúc này đóng vai trò như những vách ngăn chia ngôi nhà thành các gian.

Ngày 17 tháng 12.—Từ hôm nay cho đến ngày 20, tôi lắp các kệ gỗ, đóng đinh lên các cột để treo mọi thứ có thể treo được; và giờ đây, quang cảnh bên trong nhà bắt đầu đâu ra đấy.

Ngày 20 tháng 12.—Bây giờ tôi chuyển mọi thứ vào hang, bắt đầu bài trí nhà cửa và dựng vài tấm ván làm bàn bếp để sắp xếp thức ăn; nhưng ngặt nỗi ván gỗ bắt đầu trở nên khan hiếm đối với tôi; tôi cũng tự đóng thêm một chiếc bàn nữa.

Ngày 24 tháng 12.—Trời mưa suốt ngày lẫn đêm. Chẳng thể bước chân ra ngoài.

Ngày 25 tháng 12.—Trời mưa cả ngày.

Ngày 26 tháng 12.—Trời tạnh ráo, mặt đất mát mẻ và dễ chịu hơn trước rất nhiều.

Ngày 27 tháng 12.—Tôi bắt được một con dê con sau khi làm nó bị thương ở chân nên dễ dàng tóm lấy rồi luồn dây dắt về nhà; khi mang về đến nơi, tôi dùng nẹp băng bó chiếc chân bị gãy cho nó.

Tái bút.—Tôi chăm sóc nó cẩn thận đến mức nó đã sống sót, chiếc chân lành lặn và khỏe mạnh như xưa; nhưng vì được tôi cưng nựng quá lâu, nóâm ra thuần tính, quanh quẩn ăn cỏ non ngay trước cửa nhà và nhất quyết không chịu đi đâu cả. Đây là lần đầu tiên tôi nảy sinh ý định nuôi thuần dưỡng vài loài động vật để có sẵn nguồn thực phẩm khi toàn bộ thuốc súng và đạn dược cạn sạch.

Ngày 28, 29, 30.—Trời oi bức dữ dội và không một ngọn gió, khiến người ta chẳng thể bước chân ra ngoài trừ lúc chiều tối để đi kiếm ăn; khoảng thời gian này tôi dành trọn cho việc dọn dẹp nhà cửa gọn gàng ngăn nắp.

Ngày 1 tháng 1.—Trời vẫn vô cùng oi bức: nhưng tôi đi săn từ sớm tinh mơ và chiều tối, nằm nghỉ ngơi vào giữa trưa. Chiều nay, khi tiến sâu hơn vào những thung lũng nằm về phía trung tâm hòn đảo, tôi phát hiện ra có rất nhiều dê, tuy nhiên chúng cực kỳ nhút nhát và khó tiếp cận; dẫu vậy, tôi quyết định thử xem có huấn luyện được con chó của mình dồn ép chúng không.

Ngày 2 tháng 1.—Theo dự tính, hôm sau tôi dẫn chó ra ngoài và xúi nó tấn công bầy dê, nhưng tôi đã nhầm to, bởi tất cả bọn chúng đều quay đầu lại đối đầu với con chó, và bản thân nó thừa hiểu mối nguy hiểm rình rập nên chẳng dám bén mảng lại gần chúng.

Ngày 3 tháng 1.—Tôi khởi công xây dựng hàng rào hay bức tường của mình; vì vẫn nơm nớp lo sợ bị kẻ nào đó tập kích, tôi quyết định làm nó thật dày và kiên cố.

Tái bút.—Vì bức tường này đã được miêu tả ở phần trước, tôi chủ động lược bỏ những gì được ghi trong nhật ký; chỉ cần lưu ý rằng tôi đã mất khoảng thời gian từ ngày 2 tháng 1 đến tận ngày 14 tháng 4 để thi công, hoàn thiện và trau chuốt bức tường này, dù chiều dài của nó chỉ vỏn vẹn khoảng hai mươi bốn thước, tạo thành một nửa vòng tròn từ một điểm này ở vách đá nối sang điểm kia cách đó khoảng tám thước, với cánh cửa hang nằm ở chính giữa phía sau.

Suốt quãng thời gian đó, tôi làm việc cực kỳ vất vả, những cơn mưa cản trở tôi hết ngày này sang ngày khác, thậm chí kéo dài cả mấy tuần liền; nhưng tôi đinh ninh rằng mình sẽ chẳng bao giờ được an tâm tuyệt đối cho đến khi bức tường này hoàn thành; và thật khó mà tin nổi mọi công đoạn lại đòi hỏi một lượng lao động lớn đến nhường nào, đặc biệt là việc khiêng những thân cọc từ trong rừng về rồi đóng chúng xuống đất, bởi tôi đã làm chúng to hơn mức cần thiết rất nhiều.

Khi bức tường này đã hoàn thành, bên ngoài lại được gia cố thêm một lớp hàng rào đôi với một bức đắp cỏ áp sát vào đó, tự tôi nhận thấy rằng nếu có kẻ nào đó đặt chân lên hòn đảo này, chúng sẽ chẳng thể nhận ra bất kỳ dấu hiệu nào của một chốn ăn ở; và thật may mắn vì tôi đã làm như vậy, như sẽ thấy rõ sau đây trong một dịp vô cùng đặc biệt.

Trong khoảng thời gian này, hễ trời tạnh ráo là tôi lại đi tuần tra quanh các khu rừng để săn thú nhốt, và trong những chuyến đi đó, tôi thường xuyên phát hiện ra nhiều thứ có lợi cho mình; đặc biệt, tôi tìm thấy một loài bồ câu hoang, chúng không làm tổ trên cây như bồ câu rừng mà làm tổ trong các hốc đá giống như bồ câu nhà; bắt được vài con non, tôi đem về nuôi thuần hóa và đã thành công; nhưng khi lớn lên chúng lại bay đi mất, có lẽ ban đầu là do thiếu ăn vì tôi chẳng có gì cho chúng ăn cả; dẫu vậy, tôi vẫn thường xuyên tìm thấy tổ và bắt được những con non của chúng, thịt rất ngon. Và giờ đây, khi quản lý công việc gia đình, tôi thấy mình thiếu thốn đủ thứ mà thoạt đầu tôi tưởng chừng không bao giờ tự làm nổi; quả thực, có những thứ đúng là như vậy: chẳng hạn, tôi chưa bao giờ đóng nổi một chiếc thùng có nẹp mây. Tôi có một hoặc hai chiếc thùng nước nhỏ như đã nói trước đây; nhưng tôi chẳng tài nào học được cách làm ra chúng dù đã tốn nhiều tuần mày mò; tôi không thể lắp nổi mặt đáy hay ghép các thanh ván khít vào nhau để chứa nổi nước; thế là tôi đành bỏ dở việc đó. Kế đến, tôi lâm vào cảnh túng quẫn trầm trọng vì không có nến; thế nên cứ hễ trời tối — thường là vào lúc bảy giờ — là tôi buộc phải lên giường đi ngủ. Tôi nhớ đến khối sáp ong mà mình từng dùng để làm nến trong cuộc phiêu lưu ở châu Phi; nhưng giờ thì tôi chẳng còn chút nào; cách duy nhất tôi có thể xoay sở là khi hạ được con dê nào, tôi giữ lại phần mỡ, rồi dùng một cái đĩa đất nung nhỏ đem phơi nắng cho khô, thêm vào đó một sợi bấc làm bằng túm sợi giẻ tết lại, thế là tôi làm được một ngọn đèn; nó cung cấp cho tôi ánh sáng, dẫu đó không phải là thứ ánh sáng trong trẻo, ổn định như ngọn nến.

Giữa bề bộn những công việc không tên ấy, tình cờ trong một lần lục lọi đồ đạc, tôi tìm thấy một chiếc túi nhỏ mà như tôi đã hé lộ từ trước, từng được dùng để đựng hạt giống nuôi gia cầm — không phải cho chuyến hải trình này, mà có lẽ từ trước đó, khi con tàu đến từ Li-xbon. Số hạt ngô ít ỏi còn sót lại trong túi đã bị lũ chuột ăn sạch, chẳng còn gì ngoài trấu và bụi bẩn; và vì muốn tận dụng chiếc túi cho việc khác (hình như để đựng thuốc súng khi tôi chia nhỏ chúng ra vì sợ sấm sét, hoặc một mục đích tương tự), tôi liền dốc sạch đống trấu ngô ra một góc bên ngoài công sự, ngay dưới vách đá.

Đó là khoảng thời gian ngay trước những trận mưa lớn mà tôi vừa nhắc tới ở trên. Tôi vứt đống phế liệu đó đi mà chẳng mảy để tâm, thậm chí không thèm nhớ rằng mình đã vứt thứ gì ở đó. Thế rồi chừng một tháng sau, tôi bỗng nhìn thấy vài chồi non màu xanh nhú lên khỏi mặt đất. Thoạt đầu tôi cứ đinh ninh đó là một loài thực vật kỳ lạ nào đó mà mình chưa từng thấy; nhưng tôi đã vô cùng kinh ngạc, thậm chí ngẩn ngơ đến tột độ khi chỉ ít lâu sau, tôi thấy mọc lên khoảng mười đến mười hai bông lúa trổ đòng đòng — đích thị là lúa mạch xanh tươi, cùng một chủng loại với lúa mạch ở châu Âu — không, phải là lúa mạch Anh quốc chính gốc mới đúng.

Thật không sao diễn tả nổi sự kinh ngạc và rối bời trong tâm trí tôi lúc bấy giờ. Cho đến tận lúc đó, tôi hành động mà chẳng hề có chút đức tin tôn giáo nào làm nền tảng; quả thực, trong đầu tôi có rất ít khái niệm về tôn giáo, cũng chẳng hề cảm nhận bất kỳ điều gì xảy ra với mình ngoài hai chữ ngẫu nhiên, hay theo cách nói cửa miệng của chúng ta là ý Chúa muốn thế, mà chẳng mảy may thắc mắc về mục đích của sự Quan Phòng trong những việc này, hay trật tự của Ngài trong việc điều phối các sự kiện trên thế giới. Thế nhưng sau khi tận mắt chứng kiến lúa mạch mọc lên ở một vùng khí hậu mà tôi thừa biết là chẳng thích hợp cho cây lương thực, nhất là khi tôi chẳng hiểu vì sao chúng lại có mặt ở đó, tôi bỗng cảm thấy rợn ngáy kỳ lạ. Tôi bắt đầu mường tượng rằng chính Chúa đã làm phép lạ để hạt giống của Ngài đâm chồi nảy lộc mà chẳng cần gieo trồng, và sự sắp đặt ấy hoàn toàn nhằm mục đích cứu đói cho tôi ở chốn hoang vu, khốn khổ này.

Điều này chạm đến sâu thẳm trái tim tôi, khiến những giọt nước mắt chực trào, và tôi bắt đầu thầm tạ ơn vì một kỳ quan của tự nhiên lại xảy ra với chính mình. Cảm giác ấy càng thêm phần kỳ lạ khi tôi nhìn ngay bên cạnh, dọc theo chân vách đá, vẫn còn vài thân cây mọc lác đác khác. Khi nhìn kỹ, chúng hóa ra là những khóm lúa nước, thứ mà tôi nhận ra ngay vì từng thấy chúng sinh trưởng ở châu Phi trong những ngày cập cảng nơi đó.

Tôi không chỉ đinh ninh rằng đây là những sản phẩm thuần túy của sự Quan Phòng nhằm cứu giúp tôi, mà còn chắc mẩm rằng vẫn còn nhiều hạt giống khác ẩn giấu đâu đây. Thế là tôi lùng sục khắp khu vực đó của hòn đảo — nơi tôi từng đặt chân đến — soi mói từng góc khuất, dưới từng mỏm đá để tìm kiếm thêm, nhưng chẳng thấy gì ngoài vô vọng. Cuối cùng, ký ức chợt lóe lên trong đầu: tôi từng dốc một túi thức ăn gà ra ngay đúng góc này. Và thế là sự kỳ diệu bắt đầu phai nhạt; tôi phải thú nhận rằng lòng thành kính tôn giáo của tôi đối với sự Quan Phòng cũng bắt đầu nguội lạnh đi khi phát hiện ra tất cả chuyện này chẳng có gì ngoài những lẽ thường tình. Dẫu vậy, lẽ ra tôi phải biết ơn trước một sự sắp đặt kỳ lạ và bất ngờ đến thế cứ như thể đó là một phép màu; bởi thực ra, việc mười hay mười hai hạt ngô vẫn vẹn nguyên không bị lũ chuột phá hoại được sắp xếp nảy mầm đối với tôi chính là công lao của sự Quan Phòng, tựa như chúng từ trên trời rơi xuống vậy. Cùng với đó, việc tôi lại vứt chúng vào đúng cái góc khuất ấy — nơi nhờ bóng râm của vách đá cao mà chúng lập tức đâm chồi nảy lộc — chứ không phải ở bất kỳ nơi nào khác vào thời điểm đó, nếu không chúng đã bị ánh nắng thiêu rụi và hủy hoại hoàn toàn.

Bạn có thể chắc chắn rằng tôi đã cẩn thận thu hoạch những bông lúa này khi đến mùa, tức là vào khoảng cuối tháng Sáu; và cất giữ từng hạt một, tôi quyết tâm gieo lại tất cả với hy vọng theo thời gian sẽ thu hoạch được lượng lúa đủ để cung cấp bánh mỳ cho mình. Nhưng phải đến năm thứ tư tôi mới dám cho phép bản thân thưởng thức dù chỉ một hạt nhỏ từ số lúa này, và ngay cả lúc đó cũng phải vô cùng dè sẻn, như tôi sẽ thuật lại theo đúng trình tự sau đây. Số là tôi đã đánh mất toàn bộ vụ gieo trồng đầu tiên chỉ vì không ngắm nghía chọn đúng thời điểm; tôi đã gieo chúng ngay trước mùa khô nên hạt chẳng thể nảy mầm, hoặc ít ra là không phát triển được như nhẽ ra phải thế, chuyện này tôi sẽ nói rõ hơn ở phần sau.

Bên cạnh lúa mạch, như đã kể trên, còn có chừng hai mươi hoặc ba mươi khóm lúa nước. Tôi nâng niu chúng với sự cẩn trọng y hệt và vì cùng một mục đích — để làm bánh mỳ, hoặc đúng hơn là để làm thức ăn; bởi tôi đã tìm ra cách chế biến chúng mà không cần lò nướng, dù sau một thời gian tôi cũng làm được cả lò nướng.

Nhưng xin quay trở lại với cuốn Nhật ký của tôi.

Tôi đã làm việc vô cùng vất vả trong suốt ba hoặc bốn tháng trời để hoàn thành bức tường; và vào ngày 14 tháng 4, tôi đã khép kín nó lại, nghĩ ra cách vào nhà không phải bằng cửa ra vào mà trèo qua tường bằng một chiếc thang, sao cho bên ngoài không hề lộ ra bất kỳ dấu hiệu nào của chốn cư ngụ.

Ngày 16 tháng 4.—Tôi làm xong chiếc thang; thế là tôi leo lên đỉnh tường, kéo chiếc thang theo sau rồi thả nó xuống phía bên trong. Đây quả là một sự bao bọc hoàn hảo đối với tôi; bởi không gian bên trong vừa rộng rãi, lại chẳng có thứ gì từ bên ngoài có thể tiếp cận tôi trừ khi chúng trèo qua được bức tường.

Ngay ngày hôm sau khi bức tường được hoàn thành, suýt chút nữa toàn bộ công sức của tôi đổ sông đổ biển trong chớp mắt và bản thân thì bỏ mạng. Sự thể là thế này: Trong lúc tôi đang bận rộn bên trong, ngay phía sau túp lều và sát cửa ra vào hang động, tôi hoảng hồn trước một hiện tượng vô cùng kinh hoàng và bất ngờ; đột nhiên, tôi nghe thấy đất đá từ trần hang và từ rìu đồi trên đầu sụt xuống ào ào, hai chiếc cột tôi dựng trong hang nứt toác lên những tiếng kêu inh tai nhức óc. Tôi sợ đến mất vía; nhưng chẳng mảy may nghĩ đến nguyên nhân thực sự, chỉ đinh ninh rằng trần hang lại sập xuống như đã từng xảy ra trước đó. Vì sợ bị chôn vùi trong ấy, tôi cắm cổ chạy về phía chiếc thang; và rồi cảm thấy ở đó vẫn chưa đủ an toàn, tôi trèo qua tường vì sợ những mảng đồi lở có thể lăn đè bẹp mình. Vừa đặt chân xuống mảnh đất cứng bên ngoài, tôi sững sờ nhận ra đó là một trận động đất kinh hoàng. Mặt đất tôi đang đứng rung chuyển dữ dội ba lần, cách nhau khoảng tám phút mỗi lần, với những chấn động mạnh đến mức có thể quật đổ cả những công trình kiên cố nhất trên mặt đất này. Một mảng lớn từ đỉnh vách đá cách chỗ tôi khoảng nửa dặm hướng về phía biển đổ ầm xuống với một tiếng gầm thét kinh hãi chưa từng thấy trong đời. Tôi cũng nhận ra biển cả bị khuấy động dữ dội bởi trận động đất, và tôi tin rằng các chấn động dưới lòng đại dương còn khủng khiếp hơn nhiều so với trên đảo.

Tôi bàng hoàng tột độ trước thảm họa ấy, chưa từng trải qua thứ gì tương tự, cũng chưa từng trò chuyện với ai từng nếm mùi nó, nên đâm ra đờ đẫn như người chết trôi; chuyển động lắc lư của mặt đất khiến dạ dày tôi cuộn lên buồn nôn, hệt như cảm giác say sóng tròng trành; nhưng tiếng động ầm ầm khi tảng đá đổ sụp đã đánh thức tôi, giật phăng tôi khỏi cơn mê sảng đờ đẫn và bao trùm lấy tôi bằng nỗi kinh hoàng tột độ. Lúc đó, trong đầu tôi chẳng nghĩ đến gì khác ngoài viễn cảnh quả đồi sập xuống đè bẹp túp lều cùng toàn bộ tài sản, chôn vùi tất cả chỉ trong một nốt nhạc; và điều đó một lần nữa bóp nghẹt tâm hồn tôi.

Sau khi chấn động thứ ba qua đi và tôi không còn cảm thấy rung lắc nào nữa trong một khoảng thời gian, tôi bắt đầu lấy lại can đảm; dẫu vậy, tôi vẫn chưa đủ dũng khí để trèo qua tường vào trong vì sợ cảnh bị chôn sống, đành ngồi bệt xuống đất trong nỗi buồn tủi và chán nản khôn cùng, chẳng biết phải làm sao. Suốt quãng thời gian đó, trong đầu tôi chẳng vương vấn chút suy nghĩ tôn giáo nghiêm túc nào; chẳng có gì ngoài câu cửa miệng quen thuộc “Lạy Chúa xin rủ lòng thương xót!”, và khi cơn hoảng loạn qua đi thì câu nói ấy cũng biến mất.

Trong lúc tôi đang ngồi ngẩn ngơ như thế, bầu trời bỗng bỗng sầm lại, chuyển màu âm u như sắp đổ mưa. Chẳng mấy chốc, gió bắt đầu thổi từng cơn rồi mạnh dần lên, chưa đầy nửa tiếng sau đã biến thành một trận cuồng phong kinh hoàng nhất. Biển cả phút chốc trắng xóa một màu bọt sóng; bờ biển ngập chìm trong những đợt sóng bạc đầu cuồn cuộn gầm thét, cây cối bị bật gốc tung tóe — quả là một cơn bão kinh thiên động địa. Trận bão kéo dài khoảng ba tiếng đồng hồ rồi bắt đầu dịu dần; và chỉ hai tiếng sau, trời quang mây tạnh hoàn toàn, những hạt mưa bắt đầu nặng hột trút xuống. Suốt từ nãy đến giờ, tôi vẫn ngồi bệt dưới đất trong nỗi sợ hãi và chán nản tột cùng; bỗng nhiên, một ý nghĩ lóe lên trong đầu tôi: những trận gió và mưa này chính là hậu quả của trận động đất, nghĩa là trận động đất đã chấm dứt hoàn toàn và tôi có thể mạo hiểm quay lại hang động được rồi.

Ý nghĩ đó thổi bùng ngọn lửa hy vọng trong tôi; cộng thêm việc trời mưa tầm tã càng thôi thúc tôi bước vào trong và ngồi thụp xuống túp lều của mình. Nhưng trận mưa quá đỗi dữ dội đến mức túp lều chực sập; tôi buộc phải di chuyển vào trong hang động, dẫu trong lòng vô cùng nơm nớp và bất an sợ nó đổ sụp xuống đầu. Trận mưa xối xả này buộc tôi phải làm một công việc hoàn toàn mới — đó là khoét một cái rãnh thoát nước xuyên qua bức công sự mới xây để tháo nước ra ngoài, nếu không hang động của tôi sẽ biến thành một biển nước. Sau khi ẩn nấp trong hang một lúc lâu và nhận thấy không còn dư chấn động đất nào tiếp tục xảy ra, tâm lý tôi mới dần bình tĩnh lại. Giờ đây, để vực dậy tinh thần vốn đang kiệt quệ, tôi tiến đến kho chứa nhỏ của mình, nhấm nháp một ngụm rum nhỏ; tuy nhiên, tôi luôn uống rất dè sẻn, bởi tôi thừa hiểu sẽ chẳng thể tìm đâu ra thêm khi chai cạn sạch. Trời tiếp tục mưa suốt đêm hôm đó và phần lớn thời gian ngày hôm sau, khiến tôi chẳng thể bước chân ra ngoài; nhưng với tâm trạng đã ổn định hơn, tôi bắt đầu suy tính xem mình nên làm gì tiếp theo. Tôi đi đến kết luận rằng nếu hòn đảo này thường xuyên hứng chịu những trận động đất như vậy, tôi sẽ chẳng thể nào sống nổi trong một cái hang, mà phải tính chuyện cất một túp lều nhỏ ở khoảng đất trống, xung quanh đắp tường bảo vệ y như đã làm ở đây, nhờ đó mới có thể tránh được thú dữ hay con người; bởi tôi tự nhủ nếu cứ bám trụ nơi này, sớm muộn gì mình cũng bị chôn sống mà thôi.

Với những suy tính đó, tôi quyết định dời túp lều đi chỗ khác — vốn đang nằm ngay dưới vách đá cheo leo, nơi nếu tiếp tục rung lắc chắc chắn sẽ sập đè lên lều tôi; và tôi dành trọn hai ngày tiếp theo, tức ngày 19 và 20 tháng 4, để trăn trở xem nên dời nơi ở đến đâu và bằng cách nào. Nỗi sợ bị chôn vùi khi còn sống khiến tôi chẳng có lấy một giấc ngủ yên; thế nhưng sự áy náy khi phải ngủ ngoài trời chẳng có hàng rào che chắn cũng chẳng kém cạnh là bao. Dẫu vậy, khi nhìn quanh và thấy mọi thứ đã được sắp xếp ngăn nắp ra sao, chỗ ẩn náu kín đáo và an toàn khỏi mọi hiểm nguy thế nào, tôi lại đâm ra tiếc rẻ chẳng muốn dời đi. Trong lúc ấy, một thực tế phũ phàng hiện ra trong đầu rằng công việc này sẽ ngốn một khoảng thời gian khổng lồ, và tôi buộc phải kiên nhẫn chịu đựng tá túc ở chốn cũ cho đến khi dựng xong một trại mới và gia cố an toàn thì mới có thể chuyển đi. Với quyết định đó, tôi tạm thời trấn an bản thân, tự nhủ sẽ nhanh chóng xắn tay áo vào việc xây một bức tường tròn bằng cọc và cáp như trước, dựng lều bên trong khi hoàn thành; nhưng trước mắt vẫn cứ tạm bám trụ nơi này cho đến khi công trình mới sẵn sàng để dọn đi. Hôm đó là ngày 21.

Ngày 22 tháng 4.—Sáng hôm sau, tôi bắt đầu tính toán các phương án để hiện thực hóa quyết định này; nhưng ngặt nỗi tôi đang thiếu thốn dụng cụ trầm trọng. Tôi có ba chiếc rìu lớn và vô số rìu nhỏ (vì chúng tôi từng mang theo rìu nhỏ để trao đổi buôn bán với thổ dân); nhưng sau bao phen băm chặt những thân gỗ cứng đầu, lưỡi rìu nào mẻ cũng sứt và cùn lụt cả. Dù có một hòn đá mài, tôi lại không tài nào vừa quay vừa tự mài dụng cụ được. Vấn đề này ngốn của tôi nhiều chất xám ngang ngửa một chính khách đang trăn trở về đại sự quốc gia, hay một vị quan tòa định đoạt sinh tử của một con người. Cuối cùng, tôi nghĩ ra cách chế tạo một bánh xe nối với sợi dây thừng để có thể dùng chân đạp quay, nhờ đó giải phóng cả hai tay. Ghi chú.—Tôi chưa từng thấy thứ tương tự nào ở nước Anh, hoặc ít ra là không để ý cách người ta làm nó, dù sau này tôi nhận ra món đó ở bấy nhiêu nơi rất phổ biến; ngoài ra, hòn đá mài của tôi lại quá to và nặng. Chiếc máy tự chế này ngốn trọn của tôi một tuần làm việc cật lực mới hoàn thiện.

Ngày 28 và 29 tháng 4.—Tôi dành trọn hai ngày này để mài các dụng cụ của mình, và cỗ máy quay đá mài hoạt động vô cùng hiệu quả.

Ngày 30 tháng 4.—Nhận thấy lương thực của mình đã cạn kiệt từ lâu, tôi quyết định kiểm kê lại và tự khắc khổ bớt, chỉ cho phép bản thân ăn đúng một chiếc bánh quy mỗi ngày, khiến lòng tôi nặng trĩu những nỗi buồn.

Ngày 1 tháng 1.—Buổi sáng, khi hướng mắt ra phía bờ biển lúc nước triều rút, tôi thấy một vật gì đó nằm trên bờ lớn hơn bình thường, trông hệt như một chiếc thùng. Khi tiến lại gần, tôi phát hiện đó là một thùng phuy nhỏ cùng hai hoặc ba mảnh vỡ của con tàu bị cuốn dạt vào bờ trong trận cuồng phong vừa qua; phóng tầm mắt nhìn ra hướng xác tàu, tôi có cảm giác nó dường như nằm nhô cao hơn mặt nước so với trước đây. Tôi kiểm tra chiếc thùng phuy dạt vào bờ và nhanh chóng nhận ra đó là một thùng thuốc súng; tuy nhiên nó đã bị ngấm nước và thuốc súng bên trong đã vón cục cứng như đá. Dẫu vậy, trước mắt tôi cứ lăn nó lên phía trên bãi cát cho khô ráo, rồi tiến ra sát mép nước gần xác tàu nhất có thể để tìm kiếm thêm.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 19 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Daniel Defoe

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.