Tưởng Phòng

Đường Tống Truyền Kỳ (Châu Hải Đường dịch)

Lượt đọc: 253 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
HOẮC TIỂU NGỌC TRUYỆN

❊ ❊ ❊

(TRUYỆN HOẮC TIỂU NGỌC)

Đời Đại Lịch, có Lý sinh người Lũng Tây tên Ích[1], tuổi vừa hai mươi, đã thi đậu tiến sĩ. Đến năm sau, lên kinh đợi dự tuyển quan ở bộ Lại. Mùa hạ tháng Sáu, sinh tới Trường An, vào trọ trong làng Tần Xương. Sinh vốn xuất thân danh giá, từ nhỏ lại sẵn tài năng, thi từ hoa lệ, đương thời không ai sánh bằng. Các bậc đạt nhân tiền bối, cũng đều nể phục. Do vậy sinh vẫn kiêu ngạo vì phong tư tình điệu, muốn tìm cho được một người giai ngẫu, từ lâu kiếm khắp danh kỹ, mà chưa ưng một ai.

Trong thành Trường An có bà mối tên gọi Bào thập nhất nương, trước vốn là nô tỳ trong nhà Tiết phò mã, được chuộc thân làm dân thường đã hơn mười năm rồi. Bà ta vốn giỏi ăn nói, khéo làm thân, những hào môn quý thích, không nhà nào chưa từng tới, những người trong nghề mai mối, đều tôn làm trùm. Bào thập nhất nương từng nhận hậu lễ ủy thác của sinh, nên vẫn có ý hàm ơn. Qua mấy tháng trời, sinh vừa đang ngồi rỗi ở Nam đình nơi nhà trọ, thì khoảng giờ Mùi, giờ Thân chợt nghe tiếng gõ cửa gấp lắm, nói là Bào thập nhất nương đến. Sinh vén áo theo ra, đón hói: “Bà Bào, cớ sao hôm nay bỗng lại đến đây?” Bà mối Bào cười nói: “Tiểu lang quân, có chiêm bao được giấc mộng đẹp nào chưa? Nay có một nàng tiên nữ giáng trần, chẳng cần tiền của, chỉ mến phong lưu. Con người như vậy, sánh với Thập lang cậu thật xứng đôi.” Sinh nghe xong ngạc nhiên mừng rỡ tưởng nhảy cẫng lên, người như được bay lên chín tầng mây, cầm tay bà Bào, bái tạ rằng: “Tôi dù một đời làm nô bộc cho người ấy, chết cũng không sợ.” Nhân hỏi đến tên tuổi và chỗ ở. Bà Bào nói: “Đó là con gái nhỏ của Hoắc vương[2], tự là Tiểu Ngọc, vương vốn rất yêu quý. Mẹ nàng là Tịnh Trì, vốn là sủng tì của vương. Sau khi vương chết, các anh em cho là nàng xuất thân hèn kém, không muốn nhận, nhân đó mới chia cho tiền của, rồi cho ra ngoài ở, đổi thành họ Trịnh, người ngoài không ai biết là con gái của Hoắc vương. Tiểu Ngọc tư chất diễm lệ, một đời già này chưa thấy ai như thế bao giờ, lại thêm cao tình dật điệu, việc việc hơn người, âm nhạc thi thư, chẳng gì không biết. Hôm trước cô ấy có nhờ già này tìm giúp một hảo lang quân, sao cho tình điệu tương xứng. Già này bèn nói đến Thập lang, thì cô ấy cũng có từng nghe danh Lý thập lang, nên vô cùng vui mừng. Hiện Tiểu Ngọc đang ở trong ngõ nhỏ bên ngôi chùa cổ tại phường Thắng Nghiệp, chính là ngôi nhà ngay sau cổng ngó. Già này đã hẹn, giờ Ngọ ngày mai, cậu cứ đến đầu ngõ hỏi tìm Quế Tử là được.”

Bà Bào đi rồi, sinh bèn chuẩn bị mọi sự để ngày mai xuất hành. Sai đứa gia đồng là Thu Hồng đến chỗ người anh họ là Kinh Triệu Tham quân Thượng Công để mượn con ngựa xám yên vàng. Tối ấy, sinh tắm rửa giặt giũ, sửa sang dung nghi, vui sướng râm ran, suốt đêm không ngủ. Đến sáng, sửa soạn khăn áo, mang gương ra soi mãi, chỉ sợ không được xứng ý vậy. Đang còn băn khoăn, thì đã tới giữa trưa, bèn sai đóng ngựa phi nhanh, thẳng đến Thắng Nghiệp. Đến nơi hẹn, quả nhiên thấy có đứa ở đang đứng đợi, đón hỏi ngay: “Có phải là Lý thập lang đó không?” Sinh bèn xuống ngựa, sai đưa vào nhà, rồi vội khóa cửa lại. Quả đã thấy bà Bào từ trong nhà đi ra, từ xa cười nói: “Không biết chàng nào mà lại tới đây thế này?” Sinh còn cười đùa dở, thì đã vào đến cửa giữa. Trong sân có bốn cây anh đào, góc tây bắc treo một cái lồng chim anh vũ, trông thấy sinh vào, liền nói rằng: “Có người đến, mau hạ rèm!” Sinh vốn tính nhã đạm, trong lòng còn đang nghi ngại, bỗng thấy tiếng chim nói, ngạc nhiên không dám tiến bước. Một lát, bà Bào đã dẫn Tịnh Trì xuống thềm đón mời sinh vào trong nhà ngồi. Tịnh Trì tuổi đã hơn bốn mươi, đằm thắm duyên dáng, cười nói rất duyên. Nhân bảo sinh rằng: “Vẫn được nghe thập lang là người tài điệu phong lưu, nay lại được thấy dung nghi đẹp đẽ, quả là danh bất hư truyền. Tôi có một đứa con gái, tuy dạy dỗ chưa đến nơi, nhưng nhan sắc cũng không đến nỗi xấu xí, được sánh cùng người quân tử, thì thật xứng vừa. Nhiều lần thấy Bào thập nhất nương nói cho biết ý tứ, nay xin được cho hầu hạ quét tước.” Sinh cảm tạ nói: “Tôi tầm thường vụng dại, không ngờ được nhìn đến, nếu lại được ưng chọn, thì sống chết cũng lấy làm vinh.” Bèn sai bày tiệc, rồi gọi Tiểu Ngọc từ buồng nhỏ bên đông ra. Sinh lập tức bước tới chào đón, chỉ thấy khắp trong nhà như cây quỳnh cành dao, rực rỡ chói lòa, ánh mắt nhìn sáng ngời như soi thấu tâm can.

Tiểu Ngọc bèn ngồi xuống bên cạnh mẹ. Người mẹ nói: “Con vẫn thường hay ngâm câu: ‘Vén rèm, cành trúc gió đưa; Ngỡ đâu tưởng cố nhân vừa tới đây’[3], ấy tức là thơ của Thập lang đây vậy. Con cả ngày ngâm nga tơ tưởng, sao bằng được một lần gặp mặt.” Ngọc bèn cúi đầu mỉm cười, nhẹ bảo: “Gặp mặt đâu bằng nghe danh. Tài tử lẽ nào xấu xí.” Ích liền đứng dậy bái tạ nói: “Tiểu nương tử mến vì tài, tiểu sinh lại trọng vì sắc. Hai bề sánh đôi, thì tài sắc song toàn vậy.” Hai mẹ con cùng nhìn nhau mà cười, rồi nâng chén uống mấy tuần. Sinh đứng lên, mời Ngọc ca một khúc, mới đầu nàng còn không chịu, sau mẹ giục mãi, bèn cất giọng hát. Tiếng hát trong trẻo du dương, khúc độ tinh diệu kỳ lạ.

Tiệc tan, thì trời đã tối, bà Bào bèn đưa sinh sang viện bên tây ngơi nghỉ. Đình viện u tĩnh, rèm màn hoa lệ. Bà Bào sai Quế Tử, Cán Sa cởi đai tháo giầy cho sinh. Chốc lát, Ngọc đến, trò chuyện ôn tồn, giọng nói mềm mại. Đến lúc cởi bỏ áo lụa, điệu bộ càng xinh, tựa gối buông màn, cực kỳ hoan ái. Sinh tự nghĩ rằng, chuyện ở Vu Sơn, Lạc Phố[4] cũng chẳng thể hơn được. Đến chừng nửa đêm, Ngọc bỗng rơi nước mắt nhìn sinh nói: “Thiếp vốn con nhà hát xướng, tự biết không xứng với chàng. Nay nhờ lòng mến sắc, phó thác người hiền nhân, chỉ e khi nhan sắc tàn phai, ân tình đời đổi, khiến cát đằng không nơi nương bóng, chiếc quạt thu phải bỏ một nơi. Bởi vậy nên sau lúc cực hoan, bất giác vô cùng buồn tủi.” Sinh nghe thấy vậy, không khỏi cảm thán, bèn lấy tay thay gối, ôn tồn nói với Ngọc rằng: “Chí nguyện bình sinh, bây giờ đã phỉ, thịt nát xương tan, nguyện chẳng lìa nhau. Cớ chỉ phu nhân phải nói những câu như thế! Xin cho một mảnh lụa trắng, để ta viết lời minh ước!” Ngọc bèn gạt lệ, sai con hầu Anh Đào vén rèm, thắp nến, mang bút nghiên tới. Ngọc ngoài những khi đàn sáo ra, lại có nhã hứng thi thư, những bút nghiên để trong rương, đều là vật cũ trong nhà của Hoắc vương. Bèn đem một cái túi gấm ra, lấy ba thước lụa trắng Việt Cơ đưa cho sinh. Sinh vốn sẵn tài tứ, cầm bút nên chương, hẹn biển thề non, chỉ trời vạch đất, lời lời khẩn thiết, nghe động lòng người. Viết xong, bèn bảo bỏ vào hộp báu cất giữ. Từ đó hai người yêu thương tương đắc, như phỉ thúy ở đường mây vậy.

Như thế ba tháng, đêm ngày gắn bó. Mùa xuân năm sau, sinh có giấy báo đỗ khoa tuyển quan, cho làm chức Chủ bạ huyện Trịnh[5]. Đến tháng Tư, sinh chuẩn bị đi nhậm chức, bèn đặt tiệc mừng ở Đông Lạc. Thân thích ở Trường An đều đến tiễn đưa. Bấy giờ sắc xuân vẫn còn, cảnh hè vừa đẹp, tiệc tàn khách vãn, nỗi niềm li biệt vấn vương trong dạ. Ngọc nói với sinh rằng: “Với tiếng tăm tài năng của chàng, người ta ai chẳng mến mộ, những kẻ muốn kết nhân duyên, ắt hẳn nhiều lắm. Huống chi trong nhà còn phụ mẫu, buồng khuê chửa chủ nhân, lần này chàng đi, tất kết duyên lành. Minh ước khi xưa, cũng thành suông hão. Nhưng thiếp có một niềm mong muốn nhỏ, muốn được tỏ bày, mà mãi mãi nhờ ở lòng chàng, chàng có thể vì thiếp mà nghe không?” Sinh kinh ngạc nói: “Ta có tội lỗi gì, mà bỗng nhiên nàng nói những câu như thế? Xin hãy nói rõ, ta kính cẩn nghe theo.” Tiểu Ngọc nói: “Thiếp tuổi vừa mười tám, mà chàng thì mới hăm hai, cho đến khi chàng tráng niên, còn tám năm nữa. Một đời hoan ái, xin cùng chàng trong mấy năm này, rồi sau đó chàng có tuyển lựa một ai trong chốn danh môn, mà đẹp duyên Tấn Tần, kể cũng chưa muộn. Khi ấy thiếp xin bỏ hết sự đời, cắt tóc quy y, nguyện ước bình sinh, thôi thế cũng là đủ vậy.” Sinh vừa hổ thẹn vừa cảm động, bất giác rơi lệ. Nhân bảo với Tiểu Ngọc: “Ta xin lấy điều sinh tử mà thề với bạch nhật, cùng nàng bách niên giai lão, còn e là chưa thỏa lòng, dám đâu có lòng kia ý khác. Xin chớ ngờ nghi, hãy cứ ở nhà chờ đợi. Đến tháng Tám, ta tất sẽ đến Hoa Châu, rồi sai người về đón nàng, chẳng bao lâu sẽ lại gặp nhau thôi.”

Lại qua mấy hôm nữa, sinh từ biệt mà đi về phía đông. Đến nơi nhậm chức chừng mươi ngày, bèn xin nghỉ để về Đông đô thăm cha mẹ. Còn chưa về tới nhà, thái phu nhân đã bàn bạc đính ước hôn sự cho sinh cùng người em họ là Lư thị. Thái phu nhân vốn tính nghiêm khắc, sinh chần chừ không dám từ chối, bèn đem lễ cảm tạ, định kỳ hôn nhật không xa. Lư thị cũng là nhà vọng tộc, nay gả chồng cho con gái, đòi sính lễ tất phải trăm vạn, không đủ số ấy, ắt không thể được. Nhà sinh vốn nghèo, nên phải vay mượn, bèn lấy cớ xin tạm nghỉ việc quan, đi khắp thân hữu, lặn lội lên tận Giang Hoài, suốt từ thu sang hạ. Sinh tự cho là trái lời minh ước với Tiểu Ngọc, đã lỡ kỳ hẹn, bèn lẳng lặng không để cho nàng hay biết tin tức gì, muốn để dứt hẳn trông ngóng. Lại nhờ bạn bè thân cố, không nói lộ chuyện của mình ra.

Ngọc từ khi thấy sinh quá kỳ hẹn không về, mấy lần hỏi thăm âm tín, nhưng mỗi người nói một kiểu, hư dối khác nhau. Nay cầu vu sư, mai xem bốc phệ, lòng ôm oán hận, ròng rã hơn năm, giường trống phòng không, thành ra bệnh nặng. Tuy thư từ của sinh đã dứt, nhưng vọng tưởng của Ngọc chẳng đời, nàng mới đem tiền biếu kẻ thân tri, nhờ hỏi thăm tin tức. Tìm cầu rất mực tha thiết, cuối cùng tiền của sạch không, thường phải sai thị tỳ bán vụng những đồ quý báu vẫn giữ trong rương hòm, cho tiệm buôn nhà Hầu Cảnh Tiên ở chợ Tây.

Một bận, Tiểu Ngọc sai thị tỳ Cán Sa mật đem cành tử ngọc thoa, đến nhà Cảnh Tiên bán. Trên đường đi Cán Sa gặp một người thợ ngọc trong cung, trông thấy cành thoa Cán Sa cầm, ông ta bèn đến trước mặt nói: “Cây thoa này, chính tay ta làm ra đây. Năm xưa, con gái nhỏ của Hoắc vương sắp đến tuổi cài trâm, sai ta chế tác, trả cho vạn tiền, nên vẫn chưa quên. Cô là ai, làm sao mà có nó?” Cán Sa nói: “Cô chủ tôi chính là con gái nhỏ của Hoắc vương đây. Vì gia cảnh túng bấn, thất thân với người, chàng rể trước đi Đông đô, đến nay vẫn không tin tóc gì, khiến cho cô chủ tôi đau buồn thành bệnh, đã gần hai năm rồi. Vì thế sai tôi đem bán cành thoa, để lấy tiền nhờ người ta thăm hỏi tin tức.” Người thợ ngọc buồn thương rơi lệ, nói: “Quý nhân nam nữ, lỡ cơ thất tiết, ra đến nông nỗi này! Ta nay tuổi đã già, thấy cảnh thịnh suy, thật không khỏi thương cảm.” Nói xong bèn dẫn Cán Sa đến nhà Diên Quang công chúa[6], nói hết chuyện trước đây. Công chúa nghe xong cũng lấy làm than thở hồi lâu, cấp cho mười hai vạn tiền.

Bấy giờ, sinh đã hứa hôn với Lư thị ở Trường An, lo đủ tiền của đâu đấy rồi, bèn quay về huyện Trịnh. Tháng Chạp năm ấy, sinh lại xin nghỉ, vào thành thăm thân, lẳng lặng tìm nơi u tĩnh để ở, không cho ai biết. Có ông Minh kinh tên là Thôi Cửu Minh, là em họ của sinh, bản tính rất trung hậu, năm xưa từng cùng sinh đến chơi nhà họ Trịnh, chuyện trò yến ẩm, không hề xa cách gì. Mỗi khi được thư từ của sinh, đều đem cho Ngọc biết. Ngọc cũng thường đem củi gạo y phục, tư cấp cho Thôi, nên Thôi vẫn luôn cảm kích. Sinh đến nơi rồi, Thôi bèn đem tin nói cho Ngọc hay. Ngọc oán hận than bảo: “Thiên hạ há lại có chuyện ấy ư!” Rồi bèn mời khắp thân bằng, mọi nơi cùng đến. Sinh tự thấy mình đã lỗi hẹn phụ ước, lại biết Tiểu Ngọc đang bệnh nặng, không khỏi hổ thẹn, nên rốt cuộc không tới. Đi sớm về muộn, định để tránh mặt. Ngọc ngày đêm khóc ròng, quên ăn quên ngủ, muốn gặp một lần, mà rốt cuộc không có cơ hội, oán phẫn chất chứa trong lòng, bệnh nặng không thể dậy nổi. Từ đó, ở thành Trường An, mọi người đều ít nhiều biết chuyện. Những kẻ phong lưu, ai cũng thương Ngọc đa tình, những khách hào hiệp, ai cũng giận sinh bạc hạnh.

Bấy giờ đang là tháng Ba, nhiều người du xuân, sinh cùng đồng bạn năm, sáu người đến chùa Sùng Kính ngắm hoa mẫu đơn, dạo đến hành lang phía tây, ngâm nga thi cú. Có Vi Hạ Khanh người Kinh Triệu, là bạn thân của sinh, khi ấy cũng cùng đi, bảo với sinh rằng: “Tiết trời đẹp đẽ, hoa cỏ đua tươi, thương thay Trịnh khanh, buồng không ngậm tủi! Túc hạ rốt lại vứt bỏ người ta như thế, thật là nhẫn tâm. Tấm lòng trượng phu, chẳng nên như vậy. Túc hạ khá nên suy nghĩ cho!”

Trong khi than thở, chợt có một kẻ hào sĩ, mặc áo màu vàng nhạt, tay cầm cung đạn, dung mạo tuấn tú, y phục hoa lệ, chỉ có một đứa nhỏ người Hồ tóc ngắn, theo hầu sau lưng, đi gần bên chợt nghe thấy câu chuyện. Bèn tiến lên trước mặt vái chào sinh, nói: “Ngài chẳng phải là Lý thập lang đó ư? Tôi vốn người Sơn Đông, là dòng ngoại thích của Hoàng đế. Tuy kém văn chương, nhưng vẫn có lòng mến mộ hiền sĩ, ngưỡng mộ danh tiếng của ngài, vẫn mong được gặp mặt. Hôm nay hạnh ngộ, được thấy quý nhân. Tệ xá tôi cách đây không xa, cũng có thanh nhạc, đủ để làm vui. Mỹ nữ tám, chín người, tuấn mã hơn chục thớt, xin tùy ý ngài muốn. Chỉ mong ghé chơi một bận.” Những người cùng đi với sinh, nghe nói thế, đều tấm tắc khen ngợi. Liền theo hào sĩ lên ngựa đi, phóng nhanh qua mấy phường, liền đến Thắng Nghiệp. Sinh thấy gần nhà họ Trịnh, có ý không muốn đi nữa, liền giả thác sự tình, muốn quày trở lại. Hào sĩ nói: “Tệ xá ngay đây, ngài nỡ nào từ chối?” Bèn tóm lấy cương ngựa, dắt đi theo. Loanh quanh hồi lâu, đã đến ngõ nhà họ Trịnh. Sinh thần trí hốt hoảng, quất ngựa định trở lui, nhưng hào sĩ đã sai mấy đứa nô bộc, vây quanh ép tiến, đi nhanh vào cổng lớn rồi sai khóa chặt lại, truyền báo: “Lý thập lang đã đến!” Cả nhà cùng ngạc nhiên vui mừng, tiếng ồn ào truyền ra tận bên ngoài.

Tối hôm trước đó, Ngọc nằm mộng có một kẻ trượng phu mặc áo sắc vàng, đưa sinh đến, tới bên chiếu, bảo Ngọc tháo hài ra. Ngọc giật mình tỉnh dậy, kể cho mẹ nghe. Nhân tự giải đoán rằng: “Hài tức hài hòa, phu thê tái hợp. Tháo tức cởi bỏ. Hợp rồi lại bỏ, ắt là vĩnh quyết. Theo đó mà suy, tất sẽ gặp nhau, mà gặp gỡ nhau rồi, tất sẽ chết vậy.” Sáng sớm hôm sau, Ngọc nhờ mẹ trang điểm. Người mẹ cho là Ngọc bị ốm đã lâu, tâm ý lẩn thẩn, nên chẳng tin lắm, nhưng cũng miễn cưỡng trang điểm cho. Điểm trang vừa xong, thì quả nhiên sinh đến. Ngọc nằm bệnh lâu ngày, lúc nào cũng phải có người nâng lên đỡ xuống. Chợt nghe sinh đến, bỗng tự có thể dậy được, thay áo đi ra, như có thần giúp. Ngọc trông thấy sinh, nén giận nhìn chăm chăm, không nói một lời. Thể chất mảnh mai yếu đuối, tựa như không thể gượng nổi, thỉnh thoảng lại che tay áo, quay ra nhìn sinh. Tình cảnh xót xa, khách khứa chẳng ai không than thở. Lát sau, có mấy chục mâm tiệc rượu từ ngoài đưa vào. Mọi người ngạc nhiên, hỏi xem nguyên cớ, thì đều là của người hào sĩ kia đưa đến. Nhân bày biện rồi cùng nhau vào tiệc. Ngọc bèn quay người ngồi lại, nghiêng đầu nhìn sinh hồi lâu, rồi cầm chén rượu, rót xuống đất, nói: “Thiếp là đàn bà, bạc mệnh thế này. Chàng là trượng phu, phụ lòng dường ấy. Xuân xanh đương độ, rốt phải ngậm hờn. Từ mẫu vẫn còn, chẳng thể phụng dưỡng, Lụa là đàn sáo, từ đây xin dừng. Đau đớn suối vàng, đều chàng đưa đến. Lý quân, Lý quân, hôm nay vĩnh quyết! Thiếp giờ thác đi, tất thành ác quỷ, khiến thê thiếp chàng, trọn đời chẳng yên!” Bèn đưa tay trái nắm lấy tay sinh, nếm chén xuống đất, khóc than bi thương mấy câu rồi dứt hơi.

Người mẹ bèn bế xác Ngọc, đặt vào lòng sinh, bảo gọi tên, nhưng Ngọc cũng không sống lại được nữa. Sinh bèn mặc đồ tang, ngày đêm kêu khóc vô cùng bi ai. Đêm trước hôm an táng, sinh bỗng thấy Ngọc đứng ở trong màn, dung mạo xinh đẹp, hệt như khi còn sống: mặc một chiếc váy màu thạch lựu, khoác áo bào tía, choàng khăn hồng lục. Ngọc đứng nghiêng tựa rèm, vân vê dây lưng, nhìn sinh nói: “ơn chàng đưa tiễn, vẫn còn chút tình. Thiếp ở chốn u minh, há đâu không cảm thán.” Nói xong, thì không thấy đâu nữa. Hôm sau, chôn cất Tiểu Ngọc ở Ngự Túc Nguyên[7] trong thành Trường An. Sinh đến trước mộ, tận tình thương xót rồi mới trở về.

Hơn tháng sau, sinh mới đưa lễ đến nhà họ Lư, nhưng thương cảm vẫn chất chứa trong lòng, thành ra buồn bã không vui. Mùa hạ tháng Năm, sinh cùng Lư thị quay về huyện Trịnh. Đến huyện mươi ngày, sinh mới lên giường cùng Lư thị, bỗng nghe ngoài màn, có tiếng sột soạt. Sinh kinh ngạc nhìn ra, thì thấy một nam tò, tuổi độ hơn hai mươi, dung mạo ôn nhu, nấp mình trong màn, vẫy Lư thị mãi. Sinh hốt hoảng vùng dậy, vòng quanh màn tìm mấy lượt, nhưng không thấy đâu cả, từ đó trong lòng ngờ ghét, nghi hoặc muôn phần, giữa vợ chồng với nhau, thành ra chán ngán. Có người thân thích, lựa lời khuyên nhủ, sinh mới tạm nguôi lòng.

Độ mười hôm nữa, sinh từ ngoài đi về đến nhà, Lư thị vừa gảy đàn cầm (Tên giường, bỗng thấy ngoài cửa có một chiếc hộp nhỏ bằng sừng lê khám hoa, mối bề rộng độ một tấc ném vào trong lòng. Trong hộp có một dải đồng tâm kết bằng lụa mềm. Sinh cởi ra xem, thì thấy có hai hạt tương tư, một con khấu đầu trùng, một viên phát sát ti, cùng một ít lư câu mị[8]. Sinh lập tức nổi giận đùng đùng, gầm thét như beo hổ, cầm ngay lấy đàn mà đánh vợ, cật vấn bắt phải nói rõ. Lư thị rốt cuộc cũng không biết thế nào mà nói cả. Từ đó về sau, sinh thường roi vọt đánh đập vợ, đủ điều bạo ngược, sau cùng cáo lên quan mà đuổi đi.

Lư thị bị đuổi rồi, cũng có khi sinh tạm cùng chăn gối với những thị tì, hầu thiếp, nhưng lòng càng thêm đố kỵ. Đôi khi còn có kẻ vì thế mà bị giết. Sinh từng đi chơi ở Quảng Lăng, tìm được một người đẹp nổi tiếng, tên là Doanh thập nhất nương, dung mạo xinh đẹp, sinh rất lấy làm yêu. Mỗi khi ngồi với nhau, Ích thường nói với Doanh thị rằng: “Ta từng được người con gái nọ, ở nơi nọ, vì phạm vào chuyện nọ, nên đã bị ta dùng cách nọ giết rồi.” Ngày nào cũng kể, muốn nàng sợ hãi, mà nghiêm cẩn khuê dung. Mỗi khi sinh ra ngoài lại lấy cái thùng tắm úp Doanh thị trên giường, chung quanh niêm phong kín, khi về tất xem xét kỹ lưỡng, rồi mới mở ra. Sinh lại giữ một thanh đoản kiếm rất sắc, bảo với các thị tỳ rằng: “Đây là thanh kiếm bằng sắt Cát Khê ở Tín Châu[9], để cắt đầu kẻ có tội.” Đại khái tất cả những người đàn bà mà sinh gặp, ai cũng đều bị nghi ngờ, lấy đến ba người vợ, đều như vậy cả.

[1] Lý Ích (748-827), tự Quân Ngu, người Cô Tang, Lũng Tây, là nhà thơ nổi tiếng đời Đường. Lý Ích thi đậu tiễn sĩ đời Đại Lịch, sau làm quan đến Lễ bộ Thượng thư.Lý sinh: người học trò họ Lý.

[2] Hoắc vương: tức Hoắc vương Lý Nguyên Quỹ, con của Đường Cao tổ Lý Uyên.

[3] Nguyên văn: 開簾風動竹,疑是故人來。(Khai liêm phong động trúc, nghi thị cố nhân lai), là hai câu trong bài Trúc song văn phong tảo phát ký Tư Không Thự của Lý Ích.

[4] Vu Sơn: chỉ chuyện Sở Hoài vương mộng gặp thần nữ núi Vu Sơn rồi cùng vui vầy trong thần thoại xưa.Lạc Phố: thời Tam quốc, Tào Tháo đánh bại Viên Thiệu, bắt con dâu Thiệu là Chân thị cho làm vợ con trai mình là Tào Phi. Vì Chân thị rất xinh đẹp, nên em Tào Phi là Tào Thực cũng rất yêu quý. Một lần, Tào Thực đi qua sông Lạc, mộng thấy Chân thị đến cùng tình tự với mình, nên bèn làm bài Lạc thần phú mượn hình ảnh nữ thần sông Lạc để nhớ đến Chân thị.

[5] Huyện Trịnh: nay là thành phố Trịnh Châu, tỉnh Hà Nam.

[6] Diên Quang công chúa: cũng gọi là Thiệu Quốc công chúa, là con gái Đường Túc tông.

[7] Ngự Túc Nguyên: là nơi an táng người chết, ở phía nam thành Trường An.

[8] Hạt tương tư: tức hạt hồng đậu, người xưa thường dùng để gửi gắm ý tình tương tư nam nữ, nên gọi là hạt tương tư.Khấu đầu trùng: cũng gọi “khấu giáp”, nếu dùng tay ấn lên nó, nó sẽ cúi gặp đầu xuống phía ngực, tựa như người khấu đầu, nên gọi như vậy, ở đây ngụ ý cầu khẩn.Phát sát ti: là một loại xuân được.Lư câu mị: theo sách Vật loại tưởng cảm chí, lừa, ngựa mới sinh ra, chưa rơi xuống đất, trong miệng có một vật, như một cục thịt nhỏ, gọi là mị, phụ nữ đeo nó sẽ giúp trở nên xinh đẹp.

[9] Tín Châu: tên quận đời Đường, địa bàn tương đương khu vực phía đông Quý Khê, tỉnh Giang Tây, phía nam núi Hoài Ngọc, trị sở ở thành phố Thượng Nhiêu, Giang Tây ngày nay.

Châu Hải Đường dịch
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.