Khuyết danh

Đường Tống Truyền Kỳ (Châu Hải Đường dịch)

Lượt đọc: 253 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
LINH ỨNG TRUYỆN

❊ ❊ ❊

(TRUYỆN LINH ỨNG)

Phía đông Kinh Châu[1] hai mươi dặm, có tòa thành cũ của Tiết Cử[2]. Góc thành có đầm Thiện Nữ, dài rộng mấy dặm, lau lách um tùm, cổ thụ hoang sơ. Nước đầm sâu thẳm xanh biếc, chưa có ai thử đo được nông sâu thế nào. Thủy tộc, linh quái, vẫn thường luôn thấy. Người dân nơi ấy dựng một ngôi đền bên cạnh đầm, thờ vị thần gọi là Cửu nương tử. Mỗi năm gặp lũ lụt hay hạn hán đến đó cầu khấn, đều được như nguyện vậy. Lại cách phía tây châu ấy hơn hai trăm dặm, phía bắc trấn Triều Na[3] cũng có thần đầm, nhân đất mà lấy tên, gọi là thần Triều Na, sự linh ứng rất nhiều, còn hơn cả đầm Thiện Nữ vậy.

Năm Càn Phù[4] thứ năm, Tiết độ sứ Châu Bảo đóng ở trấn, từ đầu tháng trọng hạ[5], bắt đầu thấy nhiều khí mây, hình trạng hoặc như đỉnh núi, hoặc như mỹ nữ, hoặc như hình con chuột, con hổ, từ hai đầm ấy nổi lên, rồi gió cuốn nhà cửa, sấm vang chớp giật, bạt mái nhổ cây, mấy khắc mới dừng, khiến người bị thương lúa bị hại, không biết bao nhiêu mà kể. Bảo tự trách bản thân, cho là chính sự chưa đến nơi, khiến thần linh quở phạt. Đến ngày mồng năm tháng Sáu, việc trong phủ được khi rảnh rỗi, Bảo thấy lơ mơ buồn ngủ, bèn cởi khăn gối đầu nằm. Còn ngủ chưa say, chợt thấy một võ sĩ, đội đâu mâu mặc áo giáp, tay cầm búa đứng dưới thềm, nói: “Có người khách nữ ngoài cửa, muốn xin vào gặp, nên đến hỏi trước.” Bảo nói: “Nhà ngươi là ai?” Đáp: “Tôi chính là người canh cửa nhà ngài, làm việc đã mấy năm nay rồi.” Bảo đang định hỏi duyên do, thì đã thấy hai thị nữ, bước dưới thềm lên, quỳ xuống trước mặt nói: “Cửu nương tử từ ngoài cõi đặc ý tới thăm, nên sai chúng tôi đem chuyện thỉnh mệnh minh công trước.” Bảo nói: “Cửu nương tử không phải họ hàng thân thích của ta, sao lại đến gặp nhau chỉ?” Còn chưa dứt lời, đã thấy mây lành mưa bụi, hương lạ thấm người, phút chốc có một người con gái, tuổi chừng mười bảy, mười tám, áo xiêm thanh đạm, dáng vẻ yểu điệu, từ trên không hạ xuống, đứng trước sân. Dung nghi xinh đẹp, có thể nói là trang tuyệt thế. Lại có hơn chục người theo hầu, ai nấy đều phục sức tinh mỹ, như nghi biểu phi tần. Bước chân nhẹ lướt, dần đến trước nơi buồng ngủ. Bảo định tránh né đi, để đợi xem ý tứ thế nào, thì người theo hầu đà vào tới nơi nói: “Quý chủ thấy minh công là người cao nghĩa, có thể thành tín mà ủy thác được, nên mới đem điều oan ức thưa với minh công. Minh công nỡ lòng nào không cứu giúp cơn cấp nạn?”‘ Bảo bèn mệnh cho lên nhà gặp mặt, theo lễ chủ khách, vô cùng cung kính. Người con gái ngồi lên sập, khói lành bốn bên, khí đỏ đầy sân, cúi dầu khép nép, như có vẻ lo buồn. Bảo sai rót rượu bày tiệc, hậu lễ khoản dãi. Khoảnh khắc, nàng khép áo rời chỗ, do dự nói: “Thiếp ngụ ở ngoài thành, trải nhiều năm được hưởng tế tự, say vì rượu no vì đức, thật là đội ơn sâu. Tuy rằng gối đơn giường lạnh, cũng cam tâm đến hết đời; cô quạnh được nhờ, càng chịu ân tình nhiều lắm. Chí vì sáng, tối khác nẻo, nên làm, nghỉ trái nhau. Nay bị tình thế bức bách, chẳng dám giấu che, nếu như minh công xét cho u tình, thì thiếp mới dám thổ lộ.” Bảo nói: “Xin được nói cho nghe, để biết rõ đầu đuôi. Nếu như có thể làm được gì, thì ta đâu dám lấy điều u hiển mà tít chối. Quân tử sát thân để thành nhân, chết vì nghĩa liệt, vào nước sôi lửa bỏng, mà rửa sạch nỗi bất bình, chính là chí của Bảo này vậy.” Người con gái nói: “Nhà thiếp nhiều đời ở huyện Mậu[6], Cối Kê, chọn dựng nhà bên đầm Đông Hải. Quê hương phần mộ ở đó đã hơn trăm đời. Sau không may, cả gia tộc mắc họa, hơn năm trăm người, bị họ Dữu[7] thiêu chết, cơ hồ tuyệt tự. Những người sống sót thề không đội trời chung, ẩn trốn vào non sâu, oan khiên khôn rửa được. Đến niên hiệu Thiên Giám[8] nhà Lương, Vũ đế chuộng sự lạ, cho người qua long cung, vào đảo Khô Tang, đem món chim yến nướng giao kết với chủ nhân coi kho báu là con gái thứ bảy của Động Đình quân, để hòng có được những thứ dị bảo. Không bao lâu lại nghe tin kẻ thù của gia tộc là Dữu Tì La treo ấn từ chức Bạch thủy lang huyện Mậu, muốn ứng mệnh xin đi, nhưng ngầm mang dã tâm trong lòng, định nhân cơ hội đi sứ đến long cung mượn điều tìm báu vật, mà diệt tuyệt gia tộc thiếp. May có Kiệt công[9] minh xét, biết hắn vì lòng riêng mà xin đi, định sẽ thả sức hại người vô tội, lo rằng hắn sẽ tự chuốc phiền, làm nhục mệnh vua, nên nói rõ với Vũ đế. Vì thế, Vũ đế mới lệnh cho thôi, mà sai La Tử Xuân người Âu Việt huyện Lạc Lê quận Hợp Phố đi thay. Tiên tổ thiếp thẹn phải đội trời chung với kẻ thù, lo lắng hậu họa, bèn dẫn cả họ, đi tuyệt tích, thay tên đổi họ, tránh đến thôn An, huyện Chân Ninh, Tân Bình, dựng cọc đào hầm, cất nhà ở đó. Xa cách đất tổ, chằng khác Hồ, Việt. Đến nay đã ba đời ở đây, ít lâu thì được phong ứng Thánh hầu. Sau nhân âm linh cứu độ, có công với dân, lại được phong làm Phổ Tế vương. Uy đức ban ra, được người đời kính trọng. Thiếp là con gái thứ chín của vương vậy. Đến tuổi cài trâm, được gả cho con trai nhỏ của Thạch Long ở Tượng Quận. Chồng thiếp sẵn tính hung bạo nối đời, khí huyết đương thịnh, nên chẳng nề phép tắc, phụ thân cũng không ngăn cấm được, làm việc tàn ngược, chẳng theo lễ giáo. Chưa đầy một năm, quả nhiên bị trời phạt, diệt tộc tuyệt tự, mất dấu xóa tên, chỉ còn một mình thiếp là được miễn tội. Cha mẹ ép phải đi bước nữa, nhưng thiếp vẫn trái mệnh không nghe. Vương hầu đưa sính lễ đến hỏi, xe ngựa nối nhau, nhưng thiếp vẫn vững chí nguyện, bèn định tự cắt mũi đi. Cha mẹ giận vì thiếp ương bướng, bèn đuổi ra ở biệt ấp nơi này, không được biết tin tức gì, tới nay đã ba kỷ rồi. Tuy không được thấy từ nhan, chẳng tròn việc phụng dưỡng, phải xa cách ở đây, nhưng lại giữ được chí mình vậy. Gần đây, vì tiểu long Triều Na, có em trai út chưa lấy vợ, nên ngầm đưa sính lễ, của nhiều lời ngọt, ngăn trở mãi mà vẫn cứ đến. Thiếp dẫu diệt tính hủy hình, cũng quyết chẳng chịu. Triều Na liền đến giao hảo với cha thiếp, muốn thành được việc này. Bèn sai người em út tạm dời đến ở phía tây kinh thành, đem của cải dâng lên vua cha, đế kết thân tình. Vua cha biết không thể đoạt được chí thiếp, mới sai Triều Na đem quân đến bức bách. Thiếp cũng dẫn gia đồng hơn năm chục người, sắm sửa binh khí, chống lại chúng ở ngoài cõi, nhưng quân ít không địch nổi nhiều, ba lần đánh đều thua cả ba, quân sĩ mệt mỏi, viện binh không có. Thiếp định thu thập tàn binh, quyết một trận sống mái, nhưng lại lo Tấn Dương nước siết[10], Đài Thành lửa nung[11], một khi bị hạ, thì phải chịu nhục với thằng nhãi ranh. Sau có chết xuống suối vàng, còn mặt mũi nào gặp họ Thạch nữa. Cho nên, như Kinh Thi có câu: “Chiếc thuyền gỗ bách lênh đênh, Giữa dòng sông nọ mặc tình nổi trôi. Trái đào để tóc rủ đôi, Thật thì người ấy với tôi là chồng. Đã thề đến chết một lòng. Mẹ tôi ơn nặng sánh cùng trời cao. Há không tin được lòng sao?”[12] Đó là lời tự thề của vợ góa thế tử nước Vệ vây. Lọi có câu: “Ai rằng con chuột không răng? Tường em nó đã xơi ngang bằng gì? Ai rằng anh chẳng lễ nghi? Đem em trực tố lấy gì hỡi anh? Kiện thưa em được đã dành, rốt cùng vềvới anh chẳng thèm.”[13] Đó là nói Thiệu Bá[14] xử kiện, dù thời suy loạn nổi lên, lẽ trinh tín suy vi, nhưng cái dũng của kè cường bạo cũng không thể chà đạp được người liệt nữ vậy. Nay sự giáo hóa của ngài, có thể cảm được trời đất quỷ thần, để lại quy phạm cho cổ kim, dạo trinh tín chẳng kém gì Cơ Thích. Mong ngài hãy giúp chút dư lực, cho mượn binh uy, để trừ lũ hung cuồng kia, bảo toàn cho kẻ cô quả, giúp tiện thiếp giữ trọn lời thề, mà tỏ rõ lòng cứu nạn của minh công. Thiếp đã nói hết thành ý, mong ngài hãy thuận lòng.”

Bảo tuy đã thầm bằng lòng, nhưng ngạc nhiên vì tài biện bác, nên muốn lấy chuyện khác ra mà từ chối để xem thế nào, bèn bảo: “Biên thùy nhiều việc, khói bụi ngóng trông. Triều đình vì nỗi biên cương phía tây rơi vào tay giặc, hơn ba mươi châu phải tan hoang, đang bàn đến chuyện khởi binh, khôi phục lại cương thổ. Ta sớm chiều đợi mệnh, không dám tự an, chẳng tối thời mai, tiền quân xuất phát. Nghe chuyện nàng trong lòng cũng sẵn phẫn nộ, nhưng chưa được rảnh rang để nhận lời.” Người con gái nói: “Xưa, Sở Chiêu vương lấy Phương Thành[15] làm thành, Hán thủy làm hào, mà thu được hết đất Kinh man vào tay. Nhờ của cải của cha anh, bên ngoài liên kết nước mạnh, bên trong có Tam lương[16] trợ giúp, vậy mà quân Ngô chỉ một phen dấy binh, đã khiến chim bay mây tản, không kịp giữ thành, chạy nhanh hơn thỏ. Ngọc báu đi đời, tông miếu tàn hủy, oai linh của nước muôn cỗ xe mà không thể bảo vệ được nắm xương tàn tiên đế[17]. Đến khi Thân Bao Tư[18] mượn quân của họ Doanh[19], huyết lệ vấy khắp sân Tần, suốt bảy hôm liền, ngày đêm không thôi. Tần bá mới thương đến họa bại của nước Sở mà ra quân, khôi phục lại nước Sở, đánh lui quân Ngô, bảo tồn cho khỏi mất cơ nghiệp. Huống họ Mi[20] là một nước mạnh thời Xuân Thu, Thân Bao Tư là đại phu của nước Sở, chỉ vì tên cạn binh cùng, phải uốn mình chịu khuất, gan óc lầy đất, khiến cảm động cường Tần. Còn như thiếp chỉ là một người đàn bà, bị cha mẹ trách mắng vì nỗi trung trinh, kẻ nhãi cuồng khinh về sự đơn nhược, gặp khi binh biến nguy cấp như vậy, mà không thể khiến bậc nhân từ động lòng ư?”

Bảo nói: “Cửu nương tử là dòng dõi linh dị, thở gió nuốt mây, đám dân đen ngu tối vốn ở trong tay của nương tử. Làm sao lại phải nhờ vả ở một kẻ tục nhân, mà tự khốn như vậy?” Người con gái đáp: “Tộc vọng nhà thiếp, trong nước đều biết. Ví như Bành Lãi[21], Động Đình, đều là của ông ngoại. Làng Thủy, La Thủy đều là của họ hàng. Anh em nội ngoại, có hơn trăm người, tản mát ở khắp khoảng Ngô, Việt, chia nhau coi giữ đất đai, tám con sông ở Hàm Dương, một nửa là chỗ thân tộc. Chỉ cần sai một kẻ bộ hạ, đem mảnh thư đi, báo Bành Lãi, Động Đình, gọi Lăng Thủy, La Thủy, đem quân tinh nhuệ ở Duy Dương[22], vời binh hăng hái ở tám sông, rồi truyền hịch Phùng DP, thuyết phục Cự Linh, dấy ba đào của Tử Tư[23], họp quỷ quái của Dương Hầu, rong ruổi Liệt khuyết[24], chỉ huy Phong long, quạt gió mạnh, khởi sóng dữ, trăm đạo cùng tiến, sáu quân đồng hành, thì chỉ một trận là thành công, Triều Na cũng lập tức tan thấy không còn cái vẩy. Thành Kinh Châu ngàn dặm, chỉ chốc lát biến thành biển nước, chưa nói xong câu đã thấy ngay lập tức, chẳng dám đơn sai. Khi trước, Kinh Dương quân với ông ngoại thiếp ở Động Đình nối đời là thân gia, về sau vì cớ duyên cầm sắt bất hòa, Kinh Dương vứt bỏ người vợ trẻ, nên bị Tiền Đường quân nổi một trận lôi đình, khiến thương tổn sinh dân, tàn hại mùa màng, dìm ngập đồi núi Kinh Dương quân khoảnh khắc phải chết, không mảnh vẩy nào thoát được hàm răng của ngoại tổ thiếp. Nay vùng Kinh thượng dấu chân ngựa vết bánh xe hãy còn, sử huyện vẫn ghi chép[25], chẳng phải là dối bịa vậy. Thiếp chỉ vì họ nhà chồng đắc tội với trời, chưa được ơn thượng đế chiêu tuyết, cho nên mới ẩn bóng lặng tiếng, mà tự khốn như thế. Nếu như ngài lại không xét cho thành ý, mà rốt cuộc lấy cớ nhiều việc chối từ, thì những điều đã nói nãy giờ, không dám tránh né sự trách phạt của thượng đế.” Bảo bèn hứa bằng lòng. Ăn uống xong xuôi, người con gái bái tạ hai lạy rồi đi.

Đến chiều Bảo mới tính, những điều mắt thấy tai nghe trong mộng, phảng phất như vẫn còn đó. Hôm sau, Bảo bèn sai một ngàn năm trăm quân đến đóng giữ ở bên cạnh miếu đầm Thiện Nữ.

Ngày mồng bảy tháng ấy, khi gà vừa gáy sáng, Bảo trở dậy sớm, thấy ngoài cửa sổ trời còn tối. Bỗng nhiên thấy trong trướng có một người, đi đi lại lại bên màn, tựa như kẻ hầu dâng khăn lược. Bảo gọi, sai châm đèn, nhưng không thấy đáp lời, bèn lớn tiếng quát to. Kẻ ấy liền nói: “U minh khác nhau, xin ngài chớ lấy đèn đuốc xua đuổi.” Bảo thầm lấy làm lạ, bèn nín thở ngưng lời, rồi chậm rãi nói: “Có phải Cửu nương tử không?” Đáp: “Tôi là người chấp sự của Cửu nương tử đây. Hôm trước đội ơn ngài đem quân cho mượn, cứu giúp nguy nan. Nhưng âm dương u hiển khác nhau, không thể dùng được. Nếu ngài vẫn giữ lời ước cũ, xin hãy nghĩ cách khác giúp cho.” Giây lát ngoài cửa sổ trời dần sáng, Bảo chăm chú nhìn, nhưng không thấy có gì cả. Suy nghĩ hồi lâu, Bảo mới hiểu ra, bèn gọi lại thuộc, lệnh cho lại thuộc căn cứ theo binh tịch, lập một danh sách những quân lính đã chết, được năm trăm quân kỵ, một ngần rưỡi bộ tốt, kiểm trong đó, lại chọn được viên Áp nha tên gọi Mạnh Viễn, sung làm Hành doanh Đô ngu hầu, rồi biên điệp văn đưa tới cho thần đầm Thiện Nữ.

Ngày mười một tháng ấy, Bảo cho rút quân canh giữ ở miếu về, ra trước sảnh đường tiếp đón, đang khi điều động quân sĩ, chợt có một tên lính ngã lãn xuống đất, mắt chớp miệng máy, nhưng hỏi thì không đáp được, trông cũng không giống người bị bạo bệnh có thể chết, bèn khiêng hắn vào để trong nhà ngang, đến sáng sau thì tỉnh. Sai người tới hỏi thăm, tên lính nói: “Bấy giờ tôi thấy một người mặc áo bào xanh, từ phía đông đi đến, chào hỏi rất lễ nghi, rồi bảo tôi rằng: ‘Chủ nhân ta đội ơn lớn của tướng công ngươi cứu giúp trong cơn nước lửa, nhưng vẫn chưa được trọn thành tâm. Nhờ ngươi là người minh mẫn, lại thưa tỏ hộ sự tình, xin gắng giúp cho, chớ từ chối.” Tôi vội viện cớ từ chối. Người ấy bèn nắm lấy tay áo tôi kéo đi, khiến tôi chợt bất tỉnh, ngã xuống đất. Chỉ thấy cùng đi theo sau kẻ áo xanh ấy, chốc lát thì tới ngôi miếu, giục tôi bước nhanh đi tới trước màn. Chủ nhân nói với tôi rằng: ‘Hôm qua, nhờ tướng công ngươi thương tình ta cô đơn nguy cấp, cho quân các ngươi đến giúp tệ ấp, qua lại đường xá, có lao khổ lắm không? Ta đội ơn tướng công, lại cho mượn thêm binh, thấy binh cường mã tráng, y giáp tinh lợi, thật vui mừng khôn xiết. Nhưng Đô ngu hầu Mạnh Viễn tài mỏng chức thấp, không giỏi mưu lược. Ngày mồng chín vừa rồi, có hơn ba ngàn quân du binh đến cướp bóc gần ngoài cõi, ta có sai Mạnh Viễn đem quân mới tới, ra ngoài đồng đánh chúng, phục binh bị lộ, lại bị quân giặc đánh bại. Ta rất muốn có được một viên tướng quyền mưu, nhờ ngươi mau chóng quay về, truyền đạt cho tướng công biết ý ta.’ Nghe xong, tôi bái từ đi ra, thấy hôn mê như say vậy. Ngoài ra không biết gì hơn nửa.”

Bào xét lời hắn, phù hợp với giấc mộng của mình. Ý muốn kiểm tra việc trước, bèn sai quan coi ải Chế Thắng là Trịnh Thừa Phù đi thay Mạnh Viễn. Tối ngày mười ba tháng ấy, Bảo ra sân cầu phía sau, rót rượu đốt hương, đốt sớ điệp thinh thỉnh thần Cửu nương tử thu nhận. Đến ngày mười sáu, thì nhận được tin ải Chế Thắng báo rằng: “Độ canh ba, tối ngày mười ba tháng này, quan coi ải bị bạo bệnh chết.” Bảo kinh ngạc than thở, sai người phi ngựa đến xem sao. Khi tới nơi, quả nhiên Thừa Phù đã chết, duy thấy trước ngực sau lưng vẫn chưa lạnh, giữa tháng nóng nực để xác dó mà không bị hoại, người nhà rất lấy làm lạ.

Bỗng một đêm, gió lạnh mịt mùng, sỏi bay bụi cuốn, đổ nhà bật cây, lúa má ngã rạp, tới sáng mới ngưng. Mây mù khắp bốn phía, đến chiều không tan. Tới tối, có một tiếng sấm vang, chớp xé bầu không, Thừa Phù bỗng rên nhẹ mấy tiếng, người nhà bật quan tài ra xem, một lúc lâu thì sống lại. Đêm ấy, họ hàng làng xóm cùng tụ họp, mừng mừng tủi tủi, đến hôm sau thì trở lại như thường. Người nhà hỏi duyên do, Thừa Phù nói: “Mới đầu ta thấy một người, mặc áo tía, cưỡi ngựa ô, cùng tùy tòng hơn chục người, đến cửa nhà thì xuống ngựa, đòi ta ra gặp. Chào hỏi nhau xong, người kia tay cầm điệp văn đưa cho ta, nói: “Chủ nhân ta mộng thấy bụi cuốn[26], biết ngài là người có tài ở đời, muốn theo chuyện cũ Nam Dương[27], nghĩ báo đền thù nước. Sai bề tôi đặc biệt mang lễ vật, để tỏ ý tôn kính người quân tử, mà mong cứu vãn vận nước. Xin chớ để phải ba lần vất vả tới lều tranh.” Ta chẳng biết nói gì, chỉ nói không dám. Trong khi trò chuyện, đã thấy lễ vật để dầy dưới thềm rồi, những thứ yên ngựa, giáp bào, y phục, cung tên, bày thành hàng trước sân. Ta từ chối không được, bèn lạy tạ mà nhận, liền lập tức được giục lên xe. Con ngựa kéo xe vô cùng to lớn, trang sức đẹp đẽ tinh tươm, kẻ theo hầu đánh xe rất nghiêm cẩn. Chớp mắt đã đi được hơn trăm dặm, thấy ba trăm quân kỵ đã đến nghênh đón mở đường, có đủ hành lý của Đại tướng quân, ta cũng lấy làm đắc chí. Trong lúc kẻ chỉ người nhìn, đã thấy một tòa thành lớn, tường cao chót vót, hào sâu thăm thẳm. Ta hoang mang không biết là đâu. Khoảnh khắc, ngoài cõi thấy sắp sửa trướng nhạc, bày tiệc khoản đãi. Tan tiệc vào thành, những người đứng xem đông chật như nêm. Tiểu lại truyền hô đứng lẫn trong đó, những cửa đi qua, không biết bao nhiêu lớp. Kịp đến một nơi, như chốn công đường, tả hữu bảo ta xuống ngựa, thay áo, vào gặp chủ nhân. Chủ nhân sai người truyền mệnh, xin lấy lễ chủ khách mà gặp. Ta tự bảo, đã nhận công văn cùng những đồ khí giới binh nhung, tức là bề tôi rồi, bèn cố từ chối, mà mặc nhung phục vào gặp. Chủ nhân lại sai người nói lại, xin cởi bỏ cung tên, giữa chủ khách với nhau, không nên mang đồ hung khí. Ta bèn vỏ vũ khí mà vào, thấy chủ nhân ngồi ở trên sảnh, bèn bái yết theo lễ vua tôi. Lạy xong, liền nghe hô gọi lên thềm. Ta bèn lạy lần nữa, rồi theo thềm mé tây mà lên. Thấy mấy chục người áo hồng mày biếc, tóc cuộn rồng tết phượng mà đứng hầu, lại mấy chục người gảy đàn thổi sáo, y phục khác lạ mà phục dịch. Kẻ đai vàng áo tía, trâm giắt khăn chùng, đứng ở các nơi, chẳng phải chỉ một người, mà kẻ áo nhẹ đai to, ngọc trắng giắt eo, đứng la liệt dưới thềm thì càng nhiều lắm. Tiếp lại sai năm, sáu người con gái, mỗi người dẫn mười mấy kẻ theo hầu, cùng chen vai nối bước lũ lượt đi vào. Ta chỉ cúi đầu vái dài, không dám bái lạy từng người. Ngồi yên vị, thì có mấy người tướng lĩnh được lệnh cùng ngồi tiếp, rồi tấu nhạc rót rượu. Rượu dâng lên, chủ nhân vén tay áo nâng chén, cất lời tỏ ý hằng muốn trưng vời bấy lâu. Bỗng chốc nghe tiếng binh hỏa bốn bề nổi lên, có tiếng hò hét tuyên hô: “Giặc Triều Na bộ kỵ mấy vạn người, sáng sớm hôm nay công phá quan ải, đã vào địa giới, mấy đạo cùng tiến, khói lửa không ngớt. Xin phát binh ứng cứu!” Bọn thị tòng cùng nhìn nhau thất sắc. Đám nữ nhân không kịp từ biệt, rối rít tản đi. Kịp đến khi các tướng xuống thềm bái tạ, đứng nghiêm đợi nghe mệnh, chủ nhân bèn ra trước hiên bảo ta rằng: “Ta nhận ơn huệ không nhỏ của tướng công, thương xót đến nỗi đơn côi, mấy lần cho phát binh đến cứu giúp hoạn nạn. Nhưng vì quân giáp không lợi, nên phải cầu quyền mưu. Đến nay không chối bỏ kẻ quê mùa, mới sai tướng quân đến đây chính là vì sự nguy cấp này vậy. Mong tướng quân chớ vì u tịch mà chối từ không giúp.” Bèn tặng cho hai con chiến mã, một bộ giáp vàng, cùng các thứ cờ quạt mao việt, khí dụng châu báu, để đầy trước sân, không thể đếm hết. Hai người thể nữ, đưa binh phù cho, ban tặng rất nhiều, ta bèn bái nhận đi ra, truyền hô chư tướng, chỉ huy đội ngũ, trong ngoài hưởng ứng. Tối ấy, ra khỏi thành, quân thám báo nối nhau truyền về: “Thế giặc ngày càng mạnh.” Ta vốn hiểu rõ địa lý núi sông, hình thế thực hư, bèn dẫn quân đang đêm tiến ra, cách thành hơn trăm dặm, chia nhau đóng giữ những nơi hiểm yếu. Nêu rõ thưởng phạt, hiệu lệnh ba quân, đặt ba nơi phục binh đợi giặc. Đến gần sáng thì bố trí xong xuôi cả, Giặc ỷ vào thành công bữa trước, nên rất khinh tiến, vẫn nghĩ rằng Mạnh Viễn chỉ huy quân sĩ vậy. Ta bèn tự dẫn quân khinh kỵ, lên gò cao xem, thấy khói bụi bốn bề, hàng ngũ chỉnh tề. Trước tiên ta sai khinh binh khiêu chiến, giả yếu thế để dụ chúng. Tiếp theo cho đoản binh[28] vừa đánh vừa chạy. Tiếng binh khí va nhau, tưởng trời long đất lở. Ta dẫn quân giả bại, chúng bèn dốc hết tinh nhuệ đuổi theo. Bỗng một tiếng trống nổi lên, phục binh ùa ra, mười dặm xoay lại đánh, bốn mặt cùng giáp công. Quân chúng bại trận, người chết như rạ. Đánh thêm trận nữa, lại thua chạy trận nữa, Triều Na là đứa giảo quyệt, thoát khỏi mũi dao mà chạy, quân bỏ chạy theo, chỉ được hơn chục người, ta chọn ba mươi kỵ binh ngựa tốt truy đuổi, quả nhiên bắt sống được hắn. Thế là huyết nhục nhuốm cỏ cây, máu mỡ nhuần đồng nội, tanh tưởi ngút trời, giáo gươm chất núi. Tướng giặc bị nhốt vào xe đưa về, chủ nhân lên lầu Bình Sóc mà nhận. Dân chúng cả nước đều tụ tập đến, bèn đem hắn ra trước lầu, theo lễ mà trách hỏi. Triều Na chỉ biết kêu “Tội đáng chết!”, chứ chẳng nói được câu nào khác. Bèn sai giải ra trước chợ chém ngang lưng. Lúc sắp sửa hành hình, chợt có sứ giả đi xe từ chỗ vua tới, mang theo chiếu lệnh gấp, giục xá tội, rằng: “Tội của Triều Na, cũng là tội của ta vậy. Con khá xá cho, để nhẹ lỗi cho ta.” Chủ nhân thấy cha mẹ lại có thư từ hỏi han, vô cùng mừng rỡ, nói với các tướng rằng: “Triều Na làm bừa như vậy, cũng là vì mệnh của cha ta. Nay sai ta tha cho hắn, cũng là mệnh của cha vậy. Trước ta trái mệnh, là vì trinh tiết. Nay nếu lại trái, thì lại chẳng phải vậy.” Bèn lệnh cởi trói, sai một quân kỵ đưa về. Chưa về đến nơi, thì Triều Na hổ thẹn mà chết trên đường.

Ta vì có công phá giặc, được ban thưởng lớn. Theo lễ phong làm Bình nạn Đại tướng quân, thực ấp một vạn ba ngàn hộ ở phương bắc. Lại tặng riêng cho phủ đệ, xe ngựa, đồ bảo khí, y phục, nô tì, vườn tược, nhà cửa, cờ quạt, giáp trụ. Rồi đến các tướng, đều được ban thưởng nhiều ít khác nhau. Hôm sau mở đại yến, chỉ có năm, sáu người tham dự, cùng với sáu, bảy người con gái ngồi hầu, phong tư diễm lệ, dễ động lòng người. Hết đêm say sưa, vô cùng vui vẻ. Rượu đưa tới, chủ nhân nâng chén nói: “Thiếp bất hạnh, còn trẻ đã phải chịu phòng không. Nhưng bẩm tính trung trinh đơn độc, không nghe theo lệnh nghiêm phụ, đóng kín cửa ở nơi này đã ba kỷ, rối tóc lạnh lòng, duy còn chưa được chết mà thôi. Tên nhãi hàng xóm hiếp bức mấy phen nguy hiểm, nếu chẳng được ơn lớn của tướng công, cùng tài hùng võ của tướng quân, thì thiếp đã như phu nhân nước Tức câm nín không nói[29], mà thành tù nhân của Triều Na rồi. Ơn này ghi mãi, trọn kiếp không quên.” Bèn lấy chung thất bảo rót rượu, sai người dâng lên Trịnh tướng quân. Ta bèn đứng dậy khỏi chiếu lạy hai lạy mà uống cạn. Bấy giờ ta có ý muốn về nhà, lời lẽ rất khẩn thiết, bèn được bằng lòng cho nghỉ một tháng. Tan tiệc, ta đi ra. Ngày hôm sau từ tạ xong, đem theo bộ hạ hơn ba mươi người, theo lối cũ quay về. Những nơi đi qua, chỉ nghe tiếng gà kêu chó sủa, cảm thấy chua cay vô cùng. Khoảnh khắc đến nhà, thấy người nhà tụ tập khóc than, linh sàng rèm che trướng phủ. Một tên bộ hạ, bảo ta lách vào kẽ quan tài. Ta định đi lên trước, thì đã bị tả hữu đẩy vào rồi. Bỗng nhiên nghe một tiếng sấm nồ vang, chợt giật mình tỉnh dậy.”

Thừa Phù từ hôm ấy không quan tâm đến gia sản nữa, chỉ đem hậu sự dặn dò vợ con. Quả nhiên hết một tháng, không bệnh mà chết. Trước khi chết, nói với thân thích rằng: “Ta vốn nhờ tài cầm quân mà được nhậm dụng, dốc sức theo việc binh nhung. Tuy chưa lập được kỳ công, nhưng cũng làm nên chút đỉnh. Chẳng may bị hãm hại, phải đày đến nơi này. Chí khí bình sinh, buồn bực chưa thi triển được. Bậc trượng phu rốt cùng nên quạt gió to, vỗ sóng lớn, nâng Thái Sơn mà đè trứng gà, dốc Đông Hải mà dập lửa đóm. Phấn phát chí ưng khuyển, giúp người đẹp bất bình. Ta chỉ sớm chiều tất được nhận mệnh, ngày chia bào từ biệt với các ngươi, chẳng lâu nữa vậy.”

Ngày mười ba tháng ấy, có người sáng sớm dậy ra khỏi thành Tiết Cử độ hơn mười dặm, trời mới hơi tờ mờ, bỗng thấy phía trước có xe ngựa ồn ào, tinh kỳ phấp phới, quân mã mấy trăm người. Xúm quanh một người ở giữa, khí khái dương dương, tiến lại gần nhìn xem, thì hóa ra Trịnh Thừa Phù vậy. Người ấy kinh ngạc hồi lâu, nhân đứng ngây ra bên trái đường, chỉ thấy đoàn người như mây như gió, tiến nhanh về phía đầm Thiện Nữ, khoảnh khắc thì mất dạng không thấy đâu nữa.

[1] Kinh Châu: trị sở trấn Trạch Nguyên đời Đường, nay ở phía bắc huyện Kinh Xuyên, Cam Túc.

[2] Tiết Cử người Phần Âm, Hà Đông đời Tùy, sau làm Hiệu úy phủ Kim Thành. Năm Đại Nghiệp thứ mười ba (617) khởi binh, tự xưng là Tây Tần bá vương, không lâu lại xưng đế, nhưng đến năm sau thì chết. Con của Tiết cử binh bại, quy hàng nhà Đường.

[3] Trấn Triều Na: địa danh ở phía bắc Kinh Xuyên, Cam Túc ngày nay.

[4] Càn Phù: niên hiệu Đường Hi tông từ năm 874 đến năm 879.

[5] Trọng hạ: tức tháng Năm (âm lịch).

[6] Huyện Mậu: tên huyện đời Đường, nay là phía nam Ninh Ba, Triết Giang.

[7] Họ Dữu: Lương tử công ký có chép chuyện Dữu Tì La vâng mệnh Lương Vũ đế đi tìm kho báu mà giết hại 500 con rồng.

[8] Thiên Giám: niên hiệu Lương Vũ đế từ năm 502 đến năm 519.

[9] Kiệt công: tức Vạn Kiệt - một trong tứ công thời nhà Lương.

[10] Thời Xuân Thu, Trí Bá nước Tấn đánh họ Triệu ở thành Tấn Dương (tức Thái Nguyên ngày nay), từng dùng kế lấy nước sông Tấn đổ vào nhấn chìm thành.

[11] Đời Lương - Lục triều, Hầu cảnh mưu phản, từng dùng lửa hỏa thiêu Đài Thành (vị trí ở bắc Nam Kinh, Giang Tô ngày nay).

[12] Đây là khổ thứ nhất bài “Bách chu” trong thơ “Dung Phong”, Kinh Thi. Bản dịch của Tạ Quang Phát.

[13] Đây là khổ thứ ba bài “Hành lộ” trong thơ “Thiệu Nam”, Kinh Thi. Bản dịch của Tạ Quang Phát.

[14] Thiệu Bá: tức Cơ Thích, con thứ của Chu Văn vương, vì có thực ấp ở đất Thiệu, nên gọi là Thiệu Bá. ông nổi tiếng có đức chính, được dân chúng yêu mến.

[15] Phương Thành: là đoạn trường thành do nước Sở thời Xuân Thu xây dựng, phía bắc khởi từ huyện Phương Thành, phía nam đến đông bắc huyện Bật Dương - Hà Nam ngày nay, nước Sở lấy đó để giữ gìn biên cương phía bắc của mình.

[16] Tam lương: chỉ ba quan Đại phu của Sở Chiêu vương: Bá Khước Uyển, Dương Lệnh Chung, Tấn Trần.

[17] Chỉ việc Ngũ Viên đào mả Sở Bình vương, lấy xương cốt ra quất 300 roi để rửa thù nhà.

[18] Thân Bao Tư: quý tộc nước Sở thời Xuân Thu, năm Sở Chiêu vương thứ mười (506 TCN), nước Ngô đánh nước sở, Thân Bao Tư đã sang Tần, khóc ròng rã bảy ngày trước sân Tần để nhờ Tần đem quân cứu nước mình, cuối cùng vua Tần mới bằng lòng.

[19] Họ Doanh tức họ vua Tần.

[20] Họ Mi: tức họ của tố tiên vua Sở, sau đổi thành họ Hùng.

[21] Bành Lãi: tức hồ Phồn Dương, thuộc Giang Tây ngày nay.

[22] Duy Dương: nay thuộc Dương Châu, Giang Tô. ở đây phiếm chỉ đất Ngô, Việt nhắc tới ở câu trên.

[23] Tử Tư: tức Ngũ Tử Tư, tương truyền sau khi chết, mộ ông chôn bên sườn núi cạnh bờ biển, sau liền lở xuống biển, hóa thành thần sóng, thường dâng sóng lớn bên bờ biển ở nước Ngô.

[24] Liệt khuyết: tức thần chớp. Phong long: tức thần sấm.

[25] Chỉ Truyện Liễu Nghị.

[26] Chỉ điển tích vua Hoàng Đế nằm mộng thấy gió to cuốn bụi, sau gặp được Phong Hậu, bái làm tướng.

[27] Chỉ điển tích Tam cố thảo lư, Lưu Huyền Đức ba lần tới lều tranh cầu Gia Cát Lượng ở Nam Dương.

[28] Đoản binh: chỉ quân lính dung binh khí ngắn.

[29] Nước Tức: tên một nước chư hầu được phân phong đời Tây Chu, nay là phía tây nam huyện Tức, tỉnh Hà Nam. Sở Văn vương diệt nước Tức, bắt phu nhân của vua Tức về làm vợ, sính ra Đồ Ngao và Thành vương sau này, nhưng suốt từ sau khi về làm vợ Sở Văn vương, Tức phu nhân vi thương nhớ chồng cũ, nước cũ, không mở miệng nói một câu nào.

Châu Hải Đường dịch
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.