Khuyết danh

Đường Tống Truyền Kỳ (Châu Hải Đường dịch)

Lượt đọc: 253 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
ĐÔNG DƯƠNG DẠ QUÁI LỤC

❊ ❊ ❊

(CHUYỆN YÊU QUÁI ĐÊM Ở ĐÔNG DƯƠNG)

Tiến sĩ tiền triều Vương Thù, tự Học Nguyên, tổ tiên là người Lang Nha, đậu tiến sĩ mùa xuân năm Nguyên Hòa thứ mười ba. Từng đến những nơi danh sơn ở đất Trâu, đất Lỗ để học tập. Thù tự kể rằng, bốn năm trước, nhân theo danh sách về kinh dự thi, buổi tối đến một quán trọ ở Huỳnh Dương. Vừa lúc có người khách từ Bành Thành là tú tài Thành Tự Hư tự Trí Bản, vì có việc nhà nên không đến trường thi được, phải quay về quê. Gặp nhau trò chuyện, Tự Hư kể hết nỗi phải đi đi lại lại vất vả, sau lại cùng nhau nói đến những chuyện kỳ dị mắt thấy trên đời.

Năm ấy, ngày mồng tám tháng Mười một, Tự Hư quay về miền đông (tức năm Nguyên Hòa thứ tám). Hai hôm sau, tới huyện Vị Nam, bấy giờ giời đất âm u, không biết là sớm hay muộn. Huyện tể Lê Vị giữ lại uống mấy tuần rượu, Tự Hư cậy có ngựa khỏe, bèn sai đầy tớ, xe cộ đi trước, đến Xích Thủy Điếm[1] thì dừng lại chờ, cùng ngủ lại, còn mình cứ nhẩn nha trò chuyện. Khi ra khỏi vòng thành ngoài phía đông huyện, thì thấy gió lạnh nổi lên, tuyết bay đầy trời, đi chưa được mấy dặm, đã tối đen như mực. Đầy tớ của Tự Hư đã cho đi trước cả rồi, lại không gặp một người nào qua lại, nên chẳng thể hỏi đường được, đến đấy thì không biết đi tiếp về hướng nào nữa. Đành đi qua phía nam trạm dịch Đông Dương, tìm đường tới hẻm Xích Thủy. Qua trạm dịch chưa đầy ba, bốn dặm, có một nơi đất trũng, nhờ ánh trăng mờ tỏ xuyên qua lá rừng, loáng thoáng nhận ra một ngôi chùa, Tự Hư bèn mở cửa, lách mình bước vào. Tuyết rơi ngày càng nặng, Tự Hư thầm nghĩ nhà chùa tất có sư trụ trì, hây tới xin ngủ nhờ, bèn giục ngựa đi vào. Vào rồi mới nhận ra, ngang phía bắc là mấy gian nhà trống trơn, tịch không đèn đuốc. Lắng tai nghe hồi lâu, dường như có tiếng thở dài, Tự Hư bèn buộc ngựa vào cột phía tây, liên mồm hỏi: “Viện chủ hòa thượng! Xin từ bi cứu giúp một đêm nay!” Lâu sau mới nghe tiếng người đáp lại: “Lão bệnh tăng là Trí Cao ở đây! Hôm nay đúng ngày đồng bộc được sai vào trong thôn khuyến giáo, nên không có ai thắp đèn nến. Tuyết rơi thế này, lại đang đêm khuya, không biết ông khách có việc gì? Từ đâu đến? Đây bốn bề không có làng xóm thân quen, lấy ai mà giúp? Tối nay, nếu không ngại ta bệnh tật bẩn thỉu, thì xin cứ ở lại, khỏi phải ngủ ngoài sương tuyết. Ta sẽ chia một phần ổ rơm cho mà nằm nghỉ.” Tự Hư không còn cách nào khác, nghe thấy vậy lấy làm mừng trong dạ, bèn hỏi: “Thầy Cao sinh quán đâu ta? Cớ sao lại ở chốn này? Vả tục danh là gì? Tôi được nhờ ơn, cũng nên hỏi mấy câu xuất xứ.” Sư nói: “Bần đạo tục mang họ An[2], sinh quán ở phía Tây sa mạc. Vốn phát nguyện dốc sức vì đạo, nên tùy duyên mà đến Trung quốc. Tới đây cũng chưa bao lâu, nên phòng ốc hoang vu, tú tài tới đây, không có gì mà khoản đãi, xin chớ lấy làm trách thì may lắm.” Tự Hư cùng sư kẻ hỏi người đáp, quên cả mệt nhọc khi nãy. Bèn bảo sư Cao rằng: “Thế mới biết câu ‘thám bảo hóa thành’, đức Như Lai chẳng phải bỗng dưng mà tỉ dụ bừa như vậy, nay thầy Cao là đạo sư của tôi vậy. Thầy Cao là bản tông, nên mới có được lời dạy khiến người phải tâm phục như thế.”

Một lát, thấy rục rịch tiếng bước chân mấy người đi tới, bèn nghe có tiếng nói: “Tuyết lớn quá, phương trượng có đó không?” Sư Cao còn chưa đáp lời, lại nghe một người nói: “Mời Tào trưởng[3] đi trước.” Người khác nói: “Chu bát trượng nên đi trước.” Lại nghe một người nói: “Đường rộng lắm, Tào trưởng không cần nhường thế, cùng đi cả được mà.” Tự Hư trộm nghĩ có nhiều người như thế, càng thêm vững tâm. Giây lát, dường như tất cả bọn họ đều đã vào chỗ ngồi cả rồi. Trong bọn có một người nói: “Phương trượng, có khách nào ở đây không?” Sư Cao đáp: “Vừa nãy có một ông khách đến nghỉ nhờ.” Tự Hư vì trời tối đen, chẳng nhận ra mặt mũi bộ dạng họ thế nào, chỉ có một người gần nhất, nhờ ánh tuyết dưới hiên, lờ mờ trông thấy mặc áo cừu đen, sau lưng và bên sườn có miếng vá màu trắng. Người ấy lên tiếng hỏi Tự Hư trước rằng: “Ông khách làm sao mà đêm hôm một mình lội tuyết đến đây thế?” Tự Hư bèn nói rõ tình thực cho biết. Kẻ ấy lại hỏi họ tên, bèn đáp: “Tiến sĩ Thành Tự Hư.” Tự Hư cũng theo đó nói: “Tối tăm không thể chào hỏi hết chư vị, ngày sau biết lấy gì nói để con cháu biết là chỗ người quen. Xin chư vị cho biết quan tước cùng danh tính.” Bèn nghe thấy một người nói: “Ta trước đây là Hà Âm[4] Chuyển vận tuần quan, quyền Tả kiêu vệ trụ tào Tham quân Lô Ỷ Mã[5].” Người tiếp theo nói: “Ta là ‘Đào Lâm khách’, Phó khinh xa tướng quân Chu Trung Chính[6].” Người tiếp theo nói: “Khứ Văn, họ Kính[7].” Người nữa nói: “Nhuệ Kim, họ Hề[8].” Bấy giờ dường như tất cả đã ngồi vây quanh rồi. Nhân nghe nói Thành Tự Hư đi thi, nên Ỷ Mã bàn đến chuyện văn chương, nói: “Khi tôi còn nhỏ, có nghe người ngâm bài thơ Tụ tuyết vi sơn (Gom tuyết thành núi) của phương trượng, đến nay vẫn còn nhớ. Cảnh tượng đêm nay thấy y hệt như vậy. Xin hỏi phương trượng, có chuyện ấy không?” Sư Cao nói: “Lời thơ thế nào? Ông thử đọc xem.” Ỷ Mã nói: “Tôi nhớ bài thơ thế này:

Nhà ai quét tuyết trước sân đầy,

Muôn núi ngàn khe một nắm tay.

Thấm áo giá băng, lòng chẳng cảm,

Bao năm từng đãnơi này!

Tự Hư hoang mang như mất thứ gì, há mồm tròn mắt, không thể ngờ được ý thơ như vậy. Sư Cao nói: “Tuyết Sơn là núi quê ta. Năm xưa ngẫu nhiên trông thấy lũ trẻ nhỏ gom tuyết thành đống, chất ngất như dãy núi, ngóng về cố quốc phía tây, buồn rầu mà làm bài thơ ấy. Tào trưởng thật thông tuệ, lại nhớ rõ được. Câu thơ xoàng ngày xưa của bần đạo, nếu chẳng được Tào trường đọc lại, thì thực cũng quên mất.”

Ỷ Mã nói: “Phương trượng dạo gót khắp nẻo hoang vu, thoát khỏi trần cơ giàm buộc[9], đạo đức cao vợi, có thể nói là hơn hẳn lũ tôi. Như bọn trẻ con, trông dấu bụi chạy theo, sao[10] dám so cao viễn chứ? Mùa xuân năm nay, Ỷ Mã nhân việc công đến thành, bẩm tính vốn ngu si cứng đầu, nơi đô thành củi quế gạo châu, không có cái mà nấu ăn, sớm tối bôn ba đất khách, tuy ngày đêm vất vả, cũng chỉ được chút lương ăn, gánh vác lại nặng nề, thường phải lo sợ đòn roi trách phạt. Gần đây nhờ ơn bản viện chuyển cho nhận một chức hàm suông[11], cũng có ý cầu xin được miễn nhiệm. Tối qua ngủ lại dưới thành Trường Lạc, tự thấy buồn lòng về nỗi lao dịch trong chốn bụi trần, mà cảm khái có ý muốn được làm bạn cùng đám hươu rừng hoẵng núi. Nhân viết đôi bài thơ xoàng gửi cho bè bạn. Cũng muốn được khoe cùng với chư vị làm thơ ở đây, nhưng còn băn khoăn chưa dám.” Tự Hư nói: “Đêm nay là đêm gì, mà được nghe nhiều giai cú đến vậy.” Ỷ Mã lại khiêm bảo: “Chỉ là mấy câu thô thiển thôi. Huống chi phương trượng là bậc văn chương ở đây, tôi đâu dám khoe vụng xấu?” Tự Hư khẩn khoản nói: “Mong được nghe! Mong được nghe!” Ỷ Mã bèn ngâm to bài thơ rằng:

Phía đông Trường An, đường Lạc Dương,

Bánh xe không nghỉ, bụi mờ giăng.

Tranh lợi tiến nhanh, roi vút vút,

Gặp nhau trong bụi, thảy đầu sương.

Chiều tối sông dài, biết lối đâu,

Rời đàn lẻ bước, dễ kêu sao?

Bên sông xanh mướt may còn cỏ,

An ủi xuân sang đỡ dạ nào![12]

Tất cả mọi người có mặt đều nói: “Thật là đại giai tác!” Ỷ Mã khiên tốn nói: “Vụng tệ, vụng tệ!” Trung Chính nói với sư Cao rằng: “vẫn nghe kẻ sĩ ở sa mạc phía bắc, ngâm vịnh những câu giai cú của phương trượng nhiều lắm. Nay ở đất Dĩnh Xuyên, mà vẫn được nghe Lô Tào trưởng đọc một bài, khác nào khai mê rửa tối, cho thần sáng ý tươi vậy. Phương trượng còn nhiều thơ mới, mọi người ở đây đều khát khao ngâm vịnh, sao ngài không cho xem thêm đôi, ba bài nữa, để mọi người được rửa tai lắng nghe.” Sư Cao xin hẹn dịp khác. Trung Chính lại nói: “Các bậc cao nhân thân thuộc đều đủ mặt cả, phương trượng sao còn tiếc cuộc tụ họp ở Thố viên[13]? Nhã luận cao đàm, cũng có thể coi là thịnh sự một thời vậy. Nay chợ búa xa xôi, đêm khuya hứng sẵn, rượu chè cố nhiên không thể kiếm được, mà đồ nhắm cũng chả lấy đâu ra, lễ chủ khách, thẹn chẳng đến nơi. Chúng ta ai cũng đều lo nghĩ đến sự “hàm nhai”[14], mà các vị ở đây cả đêm không có gì cho vào bụng, thật lấy làm hổ thẹn không giúp được gì vậy.” Sư Cao nói: “Ta nghe, lời hay có thể giúp quên đói khát. Ví như (Chu) Bát lang, ra sức giúp người, hành động theo đúng quy củ, đánh thành khao quân, vốn là sở trường của mình. Nhưng mười hai nhân duyên[15], đều từ “xúc”[16] mà dấy lên. Bể khổ mênh mông, phiền não tùy sinh. Biết chỗ nào có thể thấy Bồ đề[17], cửa nào có thể thoát khỏi hỏa trạch[18]?” Trung Chính đáp: “Cứ như ngu ý của tôi mà nói: Xe đồ theo nhau, luân hồi ác đạo, trước sau báo ứng, việc rất rõ ràng. Dẫn dụ người tu hành, nghĩa quy về điểm ấy.” Sư Cao cười lớn, bèn nói: “Họ Thích chuộng điều thanh tịnh, đạo thành thì chính giác[19]. Giác thì thành Phật. Như Bát lang đàm luận nãy giờ, là rất có sở đắc vậy.” Ỷ Mã cười lớn, Tự Hư lại nói: “Khi nãy, Chu tướng quân mấy phen xin hòa thượng cho nghe thơ mới. Tiểu sinh trong lòng cũng rất muốn được nghe lời châu ngọc. Hòa thượng há lại cho Tự Hư là khách xa, chẳng phải kẻ trong pháp môn của mình, mà coi rẻ ư? Vả chăng hòa thượng khí chất, hiểu biết phi thường, núi cao hang thẳm, tất sẽ thấm vào âm điệu tài tứ, quán tuyệt một thời, tinh diệu thanh tân, bỏ xa thói tục. Há có nhẽ sau cùng vẫn giữ kín chút ý thừa đờm dãi, chẳng ngâm một đôi bài cho mọi người được thông tai mở mắt ư?” Sư Cao nói: “Để cho tú tài phải khẩn khoản, thật ta cũng khó mà trái ý. Nhưng lão tăng già cả ốm yếu, chuyện đọc viết bỏ phế từ lâu, đạo văn chương vốn chẳng tài giỏi. Chỉ là Chu bát không dưng khêu ra cái kém của ta mà thôi. Tuy vậy, trong khi nằm bệnh, ngẫu nhiên có được hai bài tự thuật, không biết thợ ngọc có sẵn lòng nghe chăng?” Đáp: “Xin được nghe.” Thơ rằng:

Ẩn danh, phiêu lãng, áo nâu sồng,

Ngàn dặm Lưu Sa độ sức cùng.

Tầm pháp Nam tông truyền thụ hết,

Thân này già trọn với Song Phong[20]!

***

Vì cõi Diêm Phù[21] trọng trách mang;

Nước tây từ biệt, vượt Hàm Dương.

Từ khi cạn sức, thôi hành đạo;

Làm một đầu đà[22] chẳng buộc ràng!

Lại nghe khắp cử tọa khen hay, hồi lâu vân chưa lắng xuống. Trong đám, Khứ Văn bỗng nhiên lên tiếng: “Xưa, Vương Tử Do đến thăm Đới An Đạo ở Sơn Âm, đêm tuyết bời bời, đến cửa rồi lại quay vè. Bèn truyền ra câu nói: ‘Cần gì phải gặp Đới!’[23]. Khi xưa người ta đều trọng dật hứng, nay Thành quân có thể nói là lấy văn chương để tụ hội bạn bè, Viên An, Tưởng Hủ[24] còn coi ở dưới vậy. Khi ta còn thiếu niên, chí rất hung hăng, tính ham săn bắn. Khi ấy từng cưỡi ngựa rong ruổi khắp nơi rừng cũ của mình là Tốn Duy ở Trường An, Đông Tú[25] ở Ngự Túc Xuyên. Có làm một bài thơ vịnh tuyết trình lên Tào Châu phòng[26], nay bất giác thói thơ cuồng nổi lên, dám xin làm bẩn tai các bậc cao nhã.” Rồi ngâm thơ rằng:

Yêu bấy, phiêu diêu ông sáu cánh[27],

Dường tơ, ngọc nhẹ múa lừng không.

Tướng Tần thuở trước từng xua chạy[28],

Gió bắc mừng vui lượn khắp đồng!

Lại nói: “Thơ trình lên rồi, Tào Châu phòng rất khen ngợi bài thơ ấy của ta, mới than bảo: ‘Gọi tuyết bằng ông, có khiên cưỡng không?’ Ta mới trình rằng, cổ nhân còn có người gọi trúc bằng ngài, khiến hậu hiền sau này lấy làm danh luận, để làm minh chứng. Tào Châu phòng cứng lưỡi không đáp lại được thế nào. Nhưng Tào Châu phòng vốn không phải người hiểu thơ. Lão đen[29] từng nói với ta rằng: ‘Lẽ nào lại cũng nặng mùi như ông ta?’ Câu này thật không phải nói bậy. Nay ông ta đi làm quan ở nơi xa, giữ chức Tham Đông Châu quân sự, cách nhau mấy ngàn dặm. Miêu Thập[30] lúc nào cũng ầm ĩ, cậy dựa thân thích, bắt người làm hộ. Đất Lỗ không có quân tử, ông ta há lại là quân tử ư![31]” Nhuệ Kim nói: “Làm sao dám. Không thấy Miêu sinh bao lâu rồi?” Đáp: “Độ hơn mười ngày rồi.” “Vậy thì Miêu đi đâu?” Khứ Văn nói: “Chắc cũng không xa. Biết chúng ta tụ họp ở đây, thế nào ông ta cũng đến.” Cùng ngồi không lâu, thì Miêu sinh quả đến. Khứ Văn vờ ra ý vui mừng, vỗ lưng Miêu nói: “Đúng như tôi đang mong!” Khứ Văn bèn dẫn Miêu sinh đến chào Tự Hư. Tự Hư xưng tên trước, Miêu sinh nói: “Tôi tên Giới Lập, họ Miêu.” Chủ khách cùng hỏi thăm nhau vô cùng thân mật. Nhuệ Kim ngồi bên cạnh nói: “Bây giờ thì tha hồ ngâm thơ đi. Các ngài lại vì lão Hề này mà phát thi bệnh, có được chăng được chăng?” Tự Hư nói: “Nãy giờ được Hề sinh chiếu cố không ít, làm sao lại còn tiếc của báu mà không cho mọi người được thỏa lòng.” Nhuệ Kim lui lại do dự nói: “Đâu dám không để cho mọi người cười một bận?” Rồi bèn đọc ba bài thơ mới viết gần đây rằng:

Trước gương, tranh vẻ phượng,

Ngoài trận, đấu quyền ưng.

Mong mỏi ngày tiên hội,

Trước lầu vươn cổ trông.

***

Dưỡng đấu, hình như gỗ,

Mừng xuân, chất tựa bùn.

Gió mưa không quản ngại,

Nào sợ đứng nơi hèn!

***

Điền Văn, giúp thoát nạn[32],

Kỷ Quyên, hằng nhớ ơn[33].

Muốn hay nơi đồng nội,

Sương sớm hát đầu thôn.

Nhuệ Kim ngâm xong, trong bóng tối lại nghe tiếng khen ngợi ồn ào. Sư Cao nói: “Chư vị hiền nhân chớ coi Chu tướng quân chỉ là một kẻ võ sĩ. Ông ấy rất tình thông danh lý[34], lại hay văn chương. Thế mà đến giờ còn chưa nói câu nào, chỉ khen chê thầm chúng ta trong bụng, như thế không được. Huống chi, Thành quân là khách xa đến, một đêm tụ hội ở chốn cửa thiền, có thể nói là có duyên mấy kiếp mới được chim đậu cùng cây vậy. Sao chẳng nhân lúc này để lại chút gì để ngày sau có cái mà đàm luận chứ?” Trung Chính đứng dậy nói: “Câu này của phương trượng, đúng là đẩy Trung Chính vào bụi cỏ gai rồi. Nếu như ý mọi người đã muốn như vậy, thì tôi dám đâu không vâng mệnh. Nhưng chỉ e nhúng tay vào việc rồi, thì lại khiến mình phải thẹn lòng, biết làm sao đây?” Sư Cao nói: “Xin mời chư vị hiền nhân cùng lắng nghe.” Thơ của Trung Chính thế này:

Loạn Lỗ phụ hư danh[35],

Sang Tần, cảm họ Ninh[36].

Thở mà Thừa tướng sợ[37],

Kêu để Cát Lô rành[38].

***

Xe ngựa không hào hứng,

Nông tang vẫn nặng tình.

Bấy nay tinh lực cạn,

Gửi chí luống cày xanh!

Sư Cao than bảo: “Chu bát văn chương tài hoa như vậy, mà vẫn chịu giữ một chức quan nhàn. Không biết có ai tiến dẫn cho chăng! Thật thiệt thòi lắm! Thiệt thòi lắm!”

Ỷ Mã lại nói: “Nhị huynh của tôi ở Phù Phong[39], ngẫu nhiên có công việc ràng buộc không tới được[40]. Còn tôi thì nhà ở Quy Tư[41], áo đen cũ kỹ, nhưng bản tính thích ồn ào ghét yên tĩnh, ham sự tung tẩy, hứng thú với việc chằng buộc, dũng cảm xông pha đi đầu. Lần này nhị huynh không đến được, hẳn là hận lắm.” Khứ Văn nói với Giới Lập rằng: “Huynh đệ nhà họ Vị[42], ở cách đây không xa, mà không qua không lại, sao giữ được chí thú? Kinh Thi có câu: ‘Bằng hữu du nhiếp’ (bạn bè ít gặp gỡ), ắt khiến cho lòng trở nên xa cách. Nên viết thư cho mời đến, để thành việc tốt này.” Giới Lập nói: “Tôi vốn cũng muốn đến thăm Vị Đại, khi nãy mải nói chuyện văn chương, chẳng ngờ chậm trễ mất. Kính huynh cứ giao việc này cho tôi, Bây giờ xin mọi người hãy ngồi chơi, tôi chạy sang nhà họ Vị sẽ lập tức về ngay. Nếu không, sẽ kéo luôn huynh đệ họ Vị đến đây, có được không?” Mọi người cùng nói: “Được.” Giới Lập bèn đi luôn.

Vừa đi khỏi, thì Khứ Văn đã nói xấu sau lưng Giới Lập với mọi người rằng: “Lão ấy đúng là ngu xuẩn, có nanh vuốt gì đâu, nhưng nghe nói nổi tiếng liêm khiết, giỏi giữ kho tàng. Còn như cái tiếng xấu ‘lạp cô’[43] của lão, khó mà che giấu gì được điều tiếng đàm luận?” Không ngờ, Giới Lập cùng họ Vị đã dắt nhau tới cửa, chợt nghe thấy câu ấy, Giới Lập vén tay áo giận dữ nói: “Trời sinh ra Miêu Giới Lập ta, là dòng dõi của Đấu Bá Tỉ[44], được mang theo họ của viễn tổ Phần Hoàng[45] nước Sở, chia ra mười hai tộc, lễ nghi cúng tế phối hưởng, chép hẳn vào “Lễ kinh”[46]. Làm sao một tên Kính Khứ Văn ngươi, là con cháu của Bàn Hồ[47], không biết phân biệt lớn nhỏ, chẳng được nhân luân coi trọng, chí có thể thuần hóa cho chơi với trẻ con, hung hãng giữ tửu kỳ, siểm nịnh như hồ li, lụy đầu rau trộm mỡ, chứ sao dám chê bai sở đoản của người khác. Nếu ta không trình chút tài mọn, thì họ Kính ngươi lại nói ta giữ chức mà vô tài, khiến mọi người ngày khác dị nghị ta. Nay xin đọc cùng phương trượng một bài thơ xoàng, để thử xem thế nào.” Thơ rằng:

Thẹn kẻ ăn thịt[48], chịu ơn dày,

Chăn gấm nằm khoanh ngủ trọn ngày.

Hãy học chí nhân, đen trắng rõ,

Chớ đem tước[49] lớn động tâm này!

Tự Hư càng lấy làm khen ngợi lắm. Khứ Văn nói: “Ngươi không rõ đầu đuôi, lại đặt điều vu khống, là thực là hậu duệ của Hướng Tuất[50] thời Xuân Thu. Ngươi lại bảo ta là con cháu Bàn Hồ, có khác nào vừng thái dương so với ánh sao Phòng, thật sai cho ta nhiều lắm.” Trung Chính lo sợ hai người lời qua tiếng lại không thôi, bèn nói: “Ta xin làm Nghi Liêu[51] để hòa giải mối hờn cho hai người, có được không? Xưa cụ tổ Phùng Sửu Phủ[52] nhà ta, cùng với họ Hướng và Phần Hoàng thời Xuân Thu từng nhiều lần cùng mình hội với nhau. Nay ở đây còn có khách quý, hai người làm sao lại hủy báng tổ tông của nhau, lời qua tiếng lại để tiết lộ ra, khiến Thành công phải cười chê. Thôi hãy cứ ngâm vịnh, đừng tranh cãi huyên náo nữa.” Giới Lập mới dẫn anh em họ Vị đến gặp Tự Hư. Đầu tiên, Tự Hư thấy như có sắc trắng lay động trước mắt, rồi hai người tới, anh tên Vị Tàng Hồ, còn em tên Vị Tàng Lập[53]. Tự Hư cũng xưng tên họ. Tàng Hồ đi vòng quanh chào hỏi mọi người. Giới Lập bèn khen ngợi anh em họ Vị với mọi người: “Ẩn thân nơi thảo dã, mà đức hạnh truyền khắp các nơi danh tộc; Tên dự vào tinh tú[54], với nội đình thân mật tựa tìm gan. Vả tám sông đất Tần, thực từ trời chảy xuống, cố hương hai mươi họ, đa phần ở Hàm Dương[55]. Nghe nói, đệ mới có bài thơ Đề cựu nghiệp (Đề nơi cơ nghiệp cũ), được đời khen hay lắm. Không biết có thể đọc cho mọi người cùng nghe không?” Tàng Hồ đáp: “Tiểu tử mạo muội tham dự vào cùng chư vị tân khách, giữa các tay bút mực đông như mây thế này, thực là thơ còn chưa đọc ra ngoài miệng, thì hổ thẹn đã sẵn có trong lòng. Nay bất đắc dĩ, xin làm vấy bẩn tai mắt chư vị hiền nhân vậy.” Thơ rằng:

Điểu Thử[56] một dòng quen,

Chu vương trước được hiền[57].

Từ khi xa Tý, Mão[58],

Dâu bể biết bao phen!

Giới Lập khen hay: “Đệ ngày sau nhất định nổi danh, nếu như công dạo vẫn còn, thì văn này ắt là bất hủ.” Tàng Hồ khép nép tạ rằng: “Tàng Hồ chỉ nên ẩn mình giấu kín, nay may mắn được đi theo chư vị anh tài. Huynh đã quá khen rồi. Tiểu tử chịu xằng lời trọng, chẳng khác nào cõng gai đâm trên lưng vậy.[59]” Tất cả khách có mặt đều cười. Khi ấy, Tự Hư mải nghe thơ hay của mọi người, không có thì giờ tự nghĩ thơ văn của mình, chỉ nói: “Chư vị đều tài năng hoa lệ, chẳng khác gì Bào đinh mổ trâu[60] vậy.” Trung Chính cho là câu ấy chế nhạo mình, buồn bực lén bỏ đi. Sư Cao tìm hỏi không thấy, nói: “Chu bát không nói gì mà đi, không rõ cớ sao?” Ỷ Mã đáp: “Chu bát truyền đời có thù với kẻ đầu bếp, nên ghét nghe đến chuyện mài dao mà đi đấy.” Tự Hư tạ lỗi không tinh ý. Khi ấy, Khứ Văn một mình tranh luận với Tự Hư, nói rằng: “Phàm đời người, hành tàng co duỗi, bậc quân tử đều coi trọng khí tiết, vẫy đuôi xin ăn, con mãnh hổ cũng thấy có khi. Hoặc vì kẻ tri kỷ mà kêu cắn, chẳng thể nào lấy cớ chủ mình không có đức[61], mà bỏ nghĩa ấy được. Khứ Văn bất tài, cũng có hai bài ngôn chí phụng hình chư vị.” Thơ rằng:

Thờ vua chung nạn, lại cùng an,

Tấm cám nề chi, chí chẳng sờn.

Chẳng phải ôm cây suông đợi thỏ,

Rốt nên đuổi hoẵng tuốt non ngàn!

***

Ưng dữ, đầu xanh muốn được dùng,

Yêu vì như hạc, chửa từng mong.

Cỏ thu dọn sạch, thèm ra cửa,

Đuổi lũ chim muông máu nhuộm đồng.

Tự Hư tấm tắc khen ngợi vô cùng, quên hết cả một đêm gian khổ. Đang định tự khoe một bài cũ, thì bỗng nghe thấy chùa xa có tiếng chuông gióng, những người ngồi bên đột nhiên im bặt. Tự Hư chăm chú nhìn, thì tựa hồ không thấy có gì cả. Chỉ thấy gió tuyết thổi qua cửa sổ, mùi tanh hôi xộc vào mũi. Nghe lạt xạt như có tiếng động, nhưng lớn tiếng gọi thì tuyệt không thấy ai đáp lời. Tự Hư tâm thần hoảng hốt, chưa dám tiến lên phía trước lần mò. Lui lại tìm con ngựa buộc tối qua, thì vẫn thấy được buộc ở góc sân phía tây, trên yên tuyết phủ dày, ngựa vẫn đang đứng gặm cột. Đang khi nghi hoặc, thì sắc trời đã hơi rõ mặt người. Bèn thấy dưới vách nhà phía bắc có con lạc đà bướu, quỳ chân nằm phục, tai dỏng miệng nhai. Tự Hư thấy chuyện tối qua thật kỳ lạ, phải tìm khắp một lượt xem sao. Đến dưới hiên phía bắc bên ngoài nhà, chợt lại thấy một con lừa đen gầy gò, trên lưng có ba chỗ da bị cọ rách, lông trắng mọc đầy. Đưa mắt nhìn lên chái nhà phía bắc, thấy dường có vật gì động cựa, thì ra là một con gà già đang đậu. Đi về phía trước, đến phía bắc gian đặt bàn thờ tượng Phật, thấy khoảnh đất trống, từ đông sang tây rộng mấy chục bước. Dưới cửa sổ đều có những bức bích họa màu, người dân thôn từng đem chất rơm ở đấy, Tự Hư thấy có một con mèo mướp lớn nằm ngủ. Cách đó gang tấc lại có một cái bầu múc nước vỡ, bên cạnh có cái nón rách của đứa mục đồng nào vứt lại. Tự Hư đưa chân đá, quả nhiên thấy có hai con nhím đang bò dưới đó. Tự Hư đi tìm kiếm khắp xung quanh, chỉ thấy vắng lặng không một bóng người, lại mới qua một đêm vừa đói vừa rét chịu không nổi, bèn phủi tuyết cầm cương nhảy lên lưng ngựa mà đi. Vòng ra đường phía bắc thôn, qua một mảnh vườn với hàng rào tre bên trái, trông thấy có một con trâu đang lội tuyết gặm cỏ. Qua đó chừng hơn trăm bước, đến chỗ người cả thôn vẫn ủ phân. Tự Hư đi qua, thì có một đàn chó cắn rộ, trong đó có một con lông dài chấm gót, hình trạng rất kỳ dị, đưa mắt lừ lừ nhìn Tự Hư.

Tự Hư ruổi ngựa hồi lâu, thì gặp một ông cụ, mở cửa tre, đang cào tuyết trên lối đi. Tự Hư dừng ngựa hỏi thăm, ông lão đáp: “Đây là điền trang của người bạn cũ là Hữu quân Bành Đặc Tiến. Ngài tối qua nghỉ lại chỗ nào? Trông hành lý bộ dạng tựa hồ như bị lạc đường thì phải.” Tự Hư kể lại câu chuyện tối qua, ông lão chống chổi kinh ngạc nói: “Chết nỗi, chết nổi! Tối qua gió lớn tuyết dày, trang chủ nguyên có một con lạc đà ốm, sợ nó bị chết, nên mới đưa đến nằm bên tường phía bắc chùa, dưới hiên Phật đường. Mấy hôm trước có người chuyển hàng của huyện Hà Âm đi qua, có một con lừa ốm yếu, không đi được nữa. Ta lấy làm thương hại nó còn chưa dứt hơi, nên mới đem một hộc lúa ra đổi lấy, rồi để nó ở đó, cũng không giàm buộc gì. Con trâu gầy sau hàng rào ấy cũng là của trang chủ nuôi. Vừa nãy nghe ông kể vậy, thật không hiểu vì sao chúng lại tác quái như thế.”

Tự Hư nói: “Tối qua tôi bị mất một ít đồ để trên yên ngựa, bây giờ vừa đói vừa rét quá. Chuyện này có những điều không thể nói được, đại khái là như vậy, khó có thể kể hết.” Nói xong, liền ruổi ngựa chạy đi. Đến Xích Thủy Điếm, thì bọn đồng bộc đang kinh hãi vì không thấy Tự Hư đâu, chuẩn bị đi tìm. Tự Hư cảm thán mãi không thôi, suốt mấy hôm liền lúc nào cũng như người mất hồn vậy.

[1] Xích Thủy Điếm: địa danh ở phía đông nam huyện Vị Nam.

[2] Nguyên chú: Vì cớ trên người có yên thị. Họ An (安) ngầm chỉ chữ an (鞍) cái yên. Đây là một tác phẩm rất thú vị với vô vàn cách chơi chữ thế hiện bản tướng của từng yêu quái, một số có chú thích sẵn trong nguyên tác, một số do dịch giả chú thích thêm đề bạn đọc có thể thường thức trọn vẹn câu chuyện này. Các chú thích có trong nguyên tác sẽ được ghi là “nguyên chú”, đế phân biệt với các chú thích khác của dịch giả.

[3] Tào trưởng: cách xưng hô giữa các quan viên đồng cấp đời Đường. Ở đây dùng chữ tào (曹) ngầm chỉ chữ tào (槽) máng ăn (gia súc).

[4] Hà Âm: tên huyện xưa, trị sở ở khu vực đông bắc Huỳnh Dương, Hà Nam ngày nay.

[5] Lô Ỷ Mã: chữ Lô (盧) bên cạnh chữ Mã (馬), tức chữ Lư (驢) - con lừa. Quan chức của Lô cũng ngầm chỉ việc vận tải.

[6] Chu Trung Chính: chính giữa chữ Chu (朱) tức là chữ Ngưu (牛), nghĩa là trâu. Chu bày vai thứ tám (八), chữ Chu bỏ chữ bát cũng thành chữ ngưu. Quan chức của Chu cũng nói lên chức nghiệp là kéo xe.Đào Lâm: tên địa danh xưa, tương truyền Chu Võ vương sau khi diệt nhà Thương thả trâu ở đó.

[7] Kính Khứ Văn: chữ Kính (敬) bổ chữ Văn ( 文) thành chữ cẩu (苟), đồng âm với chữ cẩu (狗) - chó.

[8] Hề Nhuệ Kim: chữ Hề (奚) là nửa chữ Kê (雞). Cựa gà được khen là sắc bén (nhuệ) giỏi đá, nên còn gọi là “kim cự’ (cựa vàng).

[9] Nguyên chú; Cơ (Ky -机) ngầm chỉ chữ ky (羈) nghĩa là giàm ngựa, cương ngựa.

[10] Nguyên chú: Hạt (曷) - sao/ vì sao, ngầm chỉ hạt (褐), màu nâu, chế giễu sắc lông lừa, ngựa.

[11] Nguyên chú: chữ hàm (衔) vừa có nghĩa là hàm quan chức, vừa có nghĩa là cái hàm thiếc cho lừa ngựa.

[12] Câu này nguyên văn chữ Hán: 春来猶得慰羈情 (Xuân lai do đắc úy ki tình): Xuân sang còn được an ủi cho tâm tình lữ khách tha hương. Nguyên chú: Úy (慰) - an ủi) tức úy (喂) - cho ăn, ki (羈) tức ki (飢) - đói). Ngầm chỉ việc may còn có cỏ bên sông khi xuân sang cho đỡ đói.

[13] Thố viên: tên khu vườn do Hán Lương Hiếu vương dựng nên, còn gọi là Lương uyển hay Lương uyên.

[14] Nguyên chú: ý nói cùng có tinh nhai lại giống như phương trượng.

[15] Mười hai nhân duyên: từ nhà Phật, cũng gọi “Mười hai duyên khởi’’, là lý luận cơ bản nhất về tam thế luân hồi trong Phật giáo.

[16] Xúc (觸) là một trong mười hai nhân duyên, cũng có nghĩa là húc (trâu, bò).

[17] Nguyên chú: chữ đê 提) ngầm chỉ chữ đề (蹄) tức là móng (lừa, ngựa).

[18] Hỏa trạch: nhà lửa - từ nhà Phật, chỉ tục giới phiền não. Đây ngầm ý châm biếm trâu bị thui khi giết thịt.

[19] Nguyên chú: chữ Giác (覺) trong chính giác, ngầm chỉ chữ giác (角) nghĩa là sừng).

[20] Song Phong: tên núi, ở huyện Hoàng Ma i, Hồ Bắc. Tương truyền thiền tông tứ tổ Đạo Tín, ngũ tổ Hoằng Nhẫn ở núi này tiếp dẫn học trò. “Song phong” cũng nghĩa là hai đỉnh núi, ngầm ý nhắc đến hai bướu của lạc đà.

[21] Diêm Phù: chữ trong kinh Phật, chỉ các nước ở cõi phương đông.

[22] Đầu đà: dịch âm tiếng Phạn Dhuta, nghĩa là trừ bỏ bụi bặm phiền não, chỉ người tu hành. Câu “một đầu đà" cũng ngầm ý nói "một con lạc đà."

[23] Sách Thế Thuyết Tân Ngữ có chép chuyện Vương Tử Do (con trai thứ năm của Vương Hi Chi) nhân đêm tuyết đi thuyền tới thăm Đới An Đạo (Đới Quỳ tự An Dạo, người Dông Tấn, tính cao khiết, giỏi thư họa, đàn cầm), tới cửa lại quay về không vào. Có người hỏi duyên do, ông nói: “Có hứng thì đến, hết hứng thì về. Cần gì phải gặp An Đạo.”

[24] Viên An tự Thiệu Công, người Nhữ Nam thời Đông Hán, đời Minh đế từng giữ các chức Sở quận Thái thú, Hà Nam doãn, nổi tiếng là người nghiêm minh.Tưởng Hủ người Đỗ Lăng thời Tây Hán, đời Ai đế từng làm Duyện Châu Thứ sử, nổi tiếng liêm trực.

[25] Nguyên chú: địa danh nơi này gọi là “Cẩu gia chủy" - Mỏm Cẩu gia.

[26] Tào Châu phòng: truyện truyền kỳ Côn Lôn nô - Bùi Hình có câu: “Nhà quan nhất phẩm có chó dữ, là giống chó Mạnh Hải ở Tào Châu”. Ở đây ngầm chỉ loài chó.

[27] Sáu cánh: bông tuyết có sáu cánh nên còn gọi là “lục xuất hoa”.

[28] Tướng Tần: chỉ Thừa tướng Lý Tư nhà Tần. Lý Tư thích săn bắn, trước khi lâm hình còn nói với con trai rằng: “Ta muốn được dắt chó vàng, cùng ra cửa Đông thành Thượng Thái mà săn thỏ, há còn được ư?”

[29] Chưa rõ chỉ nhân vật nào.

[30] Nguyên chú: Dĩ ngũ ngũ chi số, cố đệ thập (hai lần năm thành vai thứ mười). Ở đây dùng “ngũ ngũ” đế ngầm chỉ tiếng mèo kêu.

[31] Câu này nguyên xuất xứ trong thiên “Công Dã Tràng” sách Luận ngữ.

[32] Điền Văn: tức Mạnh Thường Quân, quý tộc nước Tề thời Chiến Quốc. Điền Văn bị giữ lại ở Tấn, một tối trốn về nước, nhưng đến cửa quan thì cửa chưa mở, có người môn khách giả làm tiếng gà gáy, nên quan coi cửa ải tưởng đã sáng mới dậy mở của cho đi, vi vậy thoát thân được.

[33] Kỷ Quyên người nuôi gà chọi cho Tề vương thời Chiến Quốc, ông giỏi nuôi dưỡng và huấn luyện gá chọi, khi gà huấn luyện xong thì trông tựa như làm bằng gỗ, không gà nào dám thí đấu nữa, tức là câu “Dưỡng đấu hình như gỗ” ở trên.

[34] Danh lý: một trào lưu tư tưởng thời Ngụy Tấn, chuyên về biện danh triết lý, khảo xét biện luận danh thực.

[35] Tương truyền, gia thần cũng là con riêng của Thúc Tôn Báo nước Lỗ thời Xuân Thu tên là Thụ Ngưu, sau khi Thúc Tôn Báo chết, đã làm loạn nước Lỗ.

[36] Họ Ninh: tức Ninh Thích, người nước Vệ thời Xuân Thu, nhà nghèo phải đi chăn trâu cho người, Sau Tề Hoàn công và Quản Trọng đi qua, Ninh Thích gõ sừng trâu mà hát, Tề Hoàn công bèn mời về triều cho làm thượng khanh, rồi lại làm Tể tướng. Sau, Bách Lý Hề cũng học Ninh Thích chăn trâu, mà được Tần Mục công vời sang Tằn làm Tể tướng.

[37] Đời Hán Tuyên đế, thừa tướng Bính Cát thấy trâu thở ra hơi, biết là khí hậu không điều hòa, lo sợ thiên tai phát sinh.

[38] Cát Lô thời Xuân Thu hiểu tiếng trâu, từng nghe thấy trâu kêu mà biết việc tế tự dùng tam sinh: trâu, dê, lợn.

[39] Phù Phong: đất Phù Phong có họ Mã là một họ lớn ở đó, câu này ám chỉ con ngựa.

[40] Nguyên chú: ý chỉ con ngựa của Tự Hư.

[41] Quy Tư: tên một nước ở Tây Vực đời Hán, đời Đường đặt làm Đô đốc phủ, vị trí ở sườn nam núi Thiên Sơn. Đất Quy Tư nổi tiếng sản nhiều lừa.

[42] Họ Vị (胃), ngầm chí chữ vị (蝟) con nhím.

[43] Lạp cô: hay “lạp cổ” là biệt danh của mèo, Hồ Thi đời Minh trong Mạ miêu văn (Văn mắng mèo), có câu: “Đốt! Nhữ miêu! Nhữ vô tha chức, chức tại bổ thử, đĩ tư đại lạp cổ dã.” (Chà! Mèo ngươi! Ngươi không có việc gì ngoài việc bắt chuột, đế ăn cho lớn thân lạp cổ vậy.)

[44] Đấu Bá Tỉ: quan đại phu nước Sở, có người con riêng bị bỏ ngoài đồng, được hổ cho bú, sau đặt tên là Đấu Cấu Ô Đồ (Ô Đồ nghĩa là hổ). Hổ cũng họ mèo, nên Miêu Giới Lập tự xưng là con cháu Đấu Bá Tỉ.

[45] Phần Hoàng: tức Miêu Phần Hoàng, cũng có sách chép Miêu Bí Hoàng, là tướng nước Sở sau sang làm quan ở nước Tấn. Câu này ngầm ý nói mèo, tức Miêu Giới Lập theo họ Miêu của Phần Hoàng.

[46] Nguyên chú: “Nói thiên ‘Giao-Đặc sinh’ dùng tám nến nghênh hổ, nghênh mèo vậy.”

[47] Bàn Hồ: theo truyền thuyết, con chó của Cao Tân thị - một đế vương đời cố đại, tên là Bàn Hồ, lông có năm sắc. Cao Tân thì treo thưởng, ai đem được đầu tướng giặc về, thì gả con gái nhỏ cho. Bàn Hồ tha được đầu tướng giặc về, liền được Cao Tân thị gả con gái cho, sinh rất nhiều con cháu.

[48] Ăn thịt: nghĩa bóng chỉ làm quan. Tả truyện - Trang công thập niên có câu: “Nhục thực giả bỉ, vị năng viễn mưu” - Kẻ ăn thịt (làm quan) kém cỏi, không có mưu xa.

[49] Ở đây chữ tước (爵) vừa mang nghĩa quan tước, vừa ngầm chỉ con chim sẻ. Vì mèo thích ăn thịt chim sẻ.

[50] Hướng Tuất: đại thần nước Tống thời Xuân Thu. Tuất tức là chó, nên Kính Khử Văn viện ra mà nói như vậy.

[51] Nghi Liêu: tức Hùng Nghi Liêu, dũng sĩ nước sở đời Xuân Thu. Sau Bạch công Thắng sai Nghi Liêu giết Lệnh doãn Tử Tây và Tư mã Tử Kỳ, nhưng Nghi Liêu kiên quyết chối từ. ở đây chữ Liêu (僚) ngầm chỉ chữ liêu (料) - thức ăn cho gia súc.

[52] Phùng Sửu Phủ: đại thần nước Tề thời Xuân Thu. Sửu tức là trâu, nên Chu Trung Chính viện ra mà nói như vậy.

[53] Tàng: nghĩa là ấn giấu. “Hồ” tức quả bầu, “Lập” đồng âm với “lạp” tức là nón. Hai tên này ẩn ý nói hai con nhím nấp dưới cái bầu múc nước và cái nón.

[54] Tên dự vào tinh tú: trong nhị thập bát tú, có sao Vị, nên Giới Lập nói như vậy. Câu sau: “Tám sông đất Tần” thì trong đó cũng có sông Vị, ý tứ tương tự.

[55] Hàm Dương: kinh đô nước Tần xưa, ở bên bờ sông Vị.

[56] Điểu Thử: tên núi, ở tây nam huyện Vị Nguyên, Cam Túc, là nơi bắt nguồn của sông Vị. Điều thử (chim, chuột) cũng ngầm chỉ loài nhím.

[57] Đây nhắc tới tích Chu Văn vương đi săn ở Vị Thủy, tìm được Khương Thái công (Lã Thượng) về phụ tá cho mình.

[58] Nguyên chú: “Chuột, thỏ đều biến thành nhím vậy”. Tý tức chuột, Mão tức thỏ (khác với Việt Nam, Mão là mèo).

[59] Phép xưa, người tới xin nhận tội thường cỡi trần, buộc bó gai trên lưng, ở đây ngầm chỉ loài nhím có gai trên lưng.

[60] Đây nhắc đến chuyện Bào đinh (đầu bếp) giải ngưu trong thiên “Dưỡng sinh chú” - Nam Hoa kinh, kể người đầu bếp vì biết lựa các chỗ khớp xương nên có thế đưa mũi dao nhẹ nhàng mà cắt được con trâu ra làm nhiều phần nhỏ. Đây ý nói người tinh thông một việc gì đó, nên có thể dễ dàng làm được.

[61] Ở đây ngầm chỉ thành ngữ Chích cẩu phệ Nghiêu (chó của Đạo Chích cắn vua Nghiêu).

Châu Hải Đường dịch
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.