Ngưu Tăng Nhụ

Đường Tống Truyền Kỳ (Châu Hải Đường dịch)

Lượt đọc: 253 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHU TẦN HÀNH KÝ

❊ ❊ ❊

(CHUYẾN DU HÀNH ĐẤT CHU TẦN)

Niên hiệu Trinh Nguyên, ta thi tiến sĩ không đậu, quay về quê, đến khoảng đất Uyển, đất Diệp[1], tới dưới núi Minh Cao[2] phía đường nam Y Khuyết[3], định vào nghỉ nhờ nhà dân ở Đại An. Trời tối, thành ra lạc đường, không tìm đến được. Cách chừng hơn mười dặm, thì đi vào một con đường trông lạ lắm. Bấy giờ mặt trăng mới ló, chợt nghe thoảng mùi hương khác thường, nhân nhắm mà đi tới, không biết xa gần thế nào. Trông thấy ánh lửa, nghĩ thầm là một nhà nông. Dấn bước tiến lên, đến trước một nhà, xem cửa ngõ dường như một nhà hào phú. Một người canh cửa mặc áo vàng nói: “Cậu đến đây có việc gì?” Ta đáp: “Tôi họ Ngưu, tên Tăng Nhụ, đi thi tiến sĩ không đỗ, về nhà, vốn muốn đến nhà một người ở Đại An, nhưng bị lạc đường đến đây. Chỉ xin được ngủ trọ chứ không có gì khác.” Từ trong nhà, chợt có một con hầu áo xanh, tết tóc, ra hỏi người áo vàng rằng: “Ai ngoài cửa thế?” Người áo vàng nói: “Có người khách.” Rồi vào bẩm báo. Lát sau, người ấy ra nói: “Mời cậu vào.” Ta hỏi, đây là nhà ai. Người áo vàng nói: “Cậu cứ vào, không cần phải hỏi.”

Qua hơn chục lần cửa, đến một đại điện. Điện phủ rèm châu, có tới hàng trăm người áo đỏ áo tía, đứng từ bên thềm vào tới phía trong. Quân tả hữu bảo: “Khách hãy quỳ lạy dưới điện.” Rồi trong rèm có tiếng nói rằng: “Thiếp là Bạc Thái hậu[4], mẹ của Hán Văn đế. Đây là miếu thờ, ngài không nên đến. Làm sao lại quá bộ mà vào?” Ta nói: “Nhà thần ở Uyển Hạ, sắp về tới nơi thì lạc đường. Sợ rằng hổ lang ăn thịt, nên mới dám liều mạng tới xin trọ lại. Mong Thái hậu thuận cho.” Thái hậu sai cuốn rèm, ngồi né sang bên, bảo: “Thiếp là mẹ vua Hán Văn xưa, còn ngài là danh sĩ của nhà Đường nay, chẳng phải quân thần, xin chớ nên kính cẩn xa cách quá, cứ lên điện mà gặp mặt.” Thái hậu mặc áo lụa trắng, dung mạo như ngọc, không cần trang sức, hỏi thăm ta rằng: “Ngài đi đường vất vả lắm không?” rồi vời ngồi. Độ ăn xong bữa cơm, thì trong điện có tiếng nhà bếp. Thái hậu nói: “Tối nay trăng trong gió mát, thiếp ngẫu nhiên có hai người bạn gái đến thăm. Huống lại có khách quý, không thể không tụ hội được.” Rồi gọi tả hữu bảo: “Mời hai nương tử hạ cố ra gặp tú tài.” Hồi lâu, có hai người con gái từ phía trong đi ra, cùng mấy trăm kẻ tùy tùng. Người đứng trước, eo nhó mặt dài, tóc dày không trang điểm, mặc áo xanh, tuổi chỉ chừng hơn hai mươi. Thái hậu nói: “Đây là Thích phu nhân[5] của vua Cao tổ.” Ta lạy chào, phu nhân cũng chào lại. Còn người kia, mặt tròn má bầu, thân hình vừa phải, dung mạo ôn hòa, thần thái nhàn nhã, vẻ rạng rỡ tỏa xa gần, thỉnh thoảng lại chau mày, mặc áo thêu hoa, tuổi ít hơn Bạc hậu. Hậu lại chỉ mà rằng: “Đây là nàng Vương Tường[6] của vua Nguyên đế.” Ta bái chào như với Thích phu nhân, Vương Tường cũng bái chào lại. Rồi ai nấy cùng ngồi. Vừa yên vị, Thái hậu lại sai viên hoạn quan mặc áo tía rằng: “Đi đón họ Dương, họ Phan đến đây.” Lâu sau, trên không thấy có đám mây ngũ sắc hạ xuống, rồi nghe tiếng nói cười ngày một gần. Thái hậu nói: “Dương, Phan đến rồi đấy.” Bỗng nhiên thấy tiếng ngựa xe nhộn nhịp, sắc gấm lụa chói lòa, khiến người nhìn không kịp. Có hai người con gái từ trên mây bước xuống, ta nhỏm dậy đứng sang bên cạnh, thấy người đi trước eo nhỏ dáng thon, dung mạo rạng rỡ, vô cùng nhàn hạ, mặc áo vàng, đội mũ ngọc, tuổi chừng độ ba mươi. Thái hậu chỉ bảo: “Đây là Thái Chân[7] Quý phi nhà Đường.” Ta lập tức phục xuống thăm hỏi, nghiêm lạy theo lễ bề tôi. Thái Chân nói: “Thiếp đắc tội với tiên đế (Tiên đế đây chỉ Túc tông vậy)[8], hoàng triều không coi thiếp vào hàng hậu phi, ngài dùng lễ như vậy, há chẳng trái ru? Thiếp không dám nhận.” Rồi lạy đáp. Còn một người, da thịt đầy đặn, ánh mắt sắc sảo, người thấp, da trắng, tuồi còn rất trẻ, khoác một tấm áo rộng. Thái hậu quay sang chỉ bảo: “Đây là Phan Thục phi[9] nhà Tề.” Ta bái chào như với Vương Chiêu Quân, phi cũng chào lại. Rồi Thái hậu sai bày tiệc. Chốc lát món ăn dâng đến, thơm ngon tinh khiết muôn phần, tất thảy đều không rõ gọi là món gì. Muốn ăn cho no, thì chẳng thể đủ được. Xong rồi, lại đem rượu tới, tửu khí toàn dùng bảo ngọc. Thái hậu nói với Thái Chân: “Cớ sao đã lâu không thấy lại thăm?” Thái Chân vẻ mặt kính cẩn đáp: “Tam lang (Đời Thiên Bảo, cung nhân phần lớn đều gọi Huyền tông là Tam lang) mấy bận đến chơi Hoa Thanh cung, nên phải theo hầu, không rảnh rỗi tới thăm được.” Thái hậu lại bảo Phan phi: “Cô cũng không đến, là vì sao?” Phan phi che miệng cười, thành thử không đáp lời được. Thái Chân bèn nhìn Phan phi, nói: “Phan phi có nói với Ngọc nô (tên của Thái Chân là Ngọc Hoàn) rằng, buồn bực về nỗi Đông Hôn hầu mải chơi bời, suốt ngày đi săn, cho nên chẳng khi nào tới thăm được.” Thái hậu hỏi ta: “Thiên tử bây giờ là ai?” Ta đáp: “Hoàng đế hiện giờ, tên Thích, là con trưởng của Đại tông Hoàng đế.” Thái Chân cười nói: “Con trai Thẩm bà[10] làm vua rồi đấy, lạ thay!” Thái hậu nói: “Chúa ngươi thế nào?” Ta đáp: “Tiểu thần làm sao có thể biết đức hạnh của quân vương được.” Thái hậu nói: “Đừng ngại, cứ việc nói thẳng.” Ta đáp: “Dân gian truyền là bậc anh minh thần võ.” Thái hậu gật đầu ba, bốn lần. Rồi lại sai dâng rượu, tấu nhạc. Nhạc công đều là những cô gái trẻ. Rượu được mấy tuần, nhạc cũng theo mà ngừng. Thái hậu mời Thích phu nhân gảy đàn cầm, phu nhân đeo chiếc nhẫn ngọc, ánh sáng soi khắp bàn tay. (Sách Tây kinh tạp ký chép: Cao tổ tặng phu nhân cái vòng vàng bách luyện, soi thấy được cả xương ngón.) Phu nhân cầm đàn gảy, âm thanh vô cùng ai oán. Thái hậu nói: “Ngưu tú tài đến đây nghi trọ không hẹn mà gặp, các nương tử lại ngẫu nhiên đến thăm, nay ta không biết lấy gì để tỏ hết nỗi vui mừng bình sinh. Ngưu tú tài vốn là bậc tài sĩ. Vậy mỗi người hãy làm một bài thơ để nói chí mình, chẳng cũng hay lắm sao?” Bèn đưa giấy bút cho mỗi người, hồi lâu thì thơ xong. Thơ của Thái hậu viết rằng:

Trăng ngủ cung hoa, phụng đế quân,

Đến nay còn thẹn Quản phu nhân[11].

Thuở xưa nhà Hán, nơi ca múa,

Cỏ biếc bao phen thu lại xuân.

Thơ của Vương Tường viết rằng:

Tuyết phủ lều khum xuân cách vời,

Cũ sờn áo Hán, lệ hoài rơi.

Đến nay còn hận Mao Diên Thọ[12],

Mượn thuật đan thanh vẽ bậy người.

Thơ của Thích phu nhân viết rằng:

Từ biệt Hán cung, thôi điệu Sở,

Điểm trang chẳng được, hận quân vương.

Không vàng há đón già Thương[13] được,

Họ Lã nào đâu sợ quật cường[14].

Thơ của Thái Chân viết rằng:

Thoa vàng rơi rụng, biệt quân vương,

Huyết lệ trào tuôn đẫm ngự sàng.

Mưa gió Mã Ngôi sau buổi ấy,

Li cung vắng bặt khúc Nghê thường.

Thơ của Phan phi viết rằng:

Trăng gió xuân thu mấy độ về,

Núi sông vẫn thế, khác kinh kì.

Sen vàng thuở trước Đông Hôn tạc,

Kim lũ[15] la đà nhớ hão chi!

Mọi người mấy bận cùng giục ta làm thơ. Ta không thể từ chối được, bèn vâng lời làm một bài:

Gió thơm đưa đến chốn đài Dao,

Tiên động mây trăng lối dẫn vào.

Cùng nói chuyện buồn nhân thế mãi,

Đêm nay nào biết ấy năm nào.

Lại có một người con gái giỏi thổi sáo, tóc ngắn, mặc áo thắt đai Ngô, dung mạo rất đẹp, lắm vẻ yêu kiều, cùng đi với Phan phi đến. Thái hậu cho ngồi kế bên, thỉnh thoảng sai thổi sáo, và bảo uống rượu luôn. Thái hậu nhìn cô gái, bảo ta: “Biết người này không? Là Lục Châu[16] nhà họ Thạch vậy. Phan phi nhận làm em, nên cùng đến đây với Phan phi.” Nhân lại nói: “Lục Châu há lại không có thơ ư?” Lục Châu bái tạ, rồi có thơ rằng:

Đất vậy, người đà khác vạn phần,

Sáo còn mãi hận Triệu vương Luân.

Dưới hoa lục nát, hồng tan vụn,

Kim Cốc? ngàn năm chẳng thuở xuân.

Mọi người làm thơ xong, rượu lại đã đưa lên. Thái hậu nói: “Ngưu tú tài từ xa đến, tối nay ai cùng làm bạn với ông ấy?” Thích phu nhân đứng lên trước, từ chối rằng: “Như Ý đã trưởng thành, nên thiếp không thể, mà cũng không nên như thế. Huống chi như thế thật là sai vậy.” Phan phi cũng chối rằng: “Đông Hôn vì Ngọc Nhi (tên của phi) mà nước mất thân vong, Ngọc Nhi không muốn phụ người ấy.” Lục Châu thì từ rằng: “Thạch Vệ úy tính nghiêm khắc mà đa nghi, thiếp dù có chết cũng không dám làm bừa.” Thái hậu nói: “Thái Chân là Quý phi của tiên đế đương triều, dễ có thể nói gì được nữa.” Bèn quay sang nói với Vương Tường rằng: “Chiêu Quân ban đầu lấy Thiền vu Hô Hàn Da, sau lại làm vợ Thiền vu Chu Lũy Nhược Đề[17], nên có thể tự quyết được. Vả chăng linh hồn người Hồ ở nơi đất lạnh ấy có thể làm được gì? Mong Chiêu Quân không từ chối.” Chiêu Quân không đáp, chỉ cúi đầu thẹn thùng. Giây lát, ai nấy cùng về nghỉ. Ta được bọn tả hữu đưa đến phòng Chiêu Quân.

Đến khi sắp sáng, người hầu báo khởi hành. Chiêu Quân khóc mà từ biệt. Bỗng nghe bên ngoài có lệnh Thái hậu, ta bèn ra gặp. Thái hậu nói: “Đây không phải nơi có thể ở lâu được, ngài nên quay về ngay cho. Nay xin từ biệt, mong rằng ngài chớ quên chuyện vui hôm nay.” Lại sai dâng rượu. Được đôi tuần, Thích phu nhân, Phan phi, Lục Châu đều rơi lệ, từ biệt ra về. Thái hậu sai người áo đỏ tiễn ta tới làng Đại An, đến đường mé tây, thì phút không thấy người ấy đâu nữa, lúc đó trời vừa sáng.

Ta đến Đại An, hỏi thăm người trong làng. Người làng nói: “Cách đây hơn mười dặm có miếu Bạc hậu.” Ta bèn quay lại, thì thấy miếu vũ hoang tàn không thể vào được, không phải là chỗ mình thấy hôm qua. Nhưng mùi hương đọng trên áo ta qua mười hôm vẫn không hết, rốt cuộc không biết là thế nào nữa.

[1] Uyển, Diệp: tên hai huyện xưa, nay thuộc tỉnh Hà Nam.

[2] Minh Cao: núi ở phía đông bắc huyện Tung, Hà Nam.

[3] Y Khuyết: tên huyện xưa, trị sở ở phía tây huyện Y Xuyên, Hà Nam ngày nay. Vì địa phận có núi Y Khuyết nên tên như vậy.

[4] Bạc thái hậu: hậu phi của Hán Cao tó, sinh ra Đại vương Lưu Hằng. Sau Lưu Hằng lên ngói, tức Hán Văn đế, tôn mẹ lầm Thái hậu.

[5] Thích phu nhân: phi của Hán Cao tố, sinh con trai là Như Ý. Thích phu nhân từng tranh giành việc lập Thái tử với Lã hậu, nên sau khi Hán Cao tổ chết, Lã hậu đã sai người chặt cả chân tay, khoét mắt, hun tai, cho uống thuốc câm, rồi nhốt vào nhà tiêu, gọi là “người lợn”.

[6] Vương Tường: tức Vương Chiêu Quân, thời Hán Nguyên đế được tuyển vào cung. Năm Cánh Ninh nguyên niên, Thiền vu Hung Nô là Hô Hàn Da đến triều cống xin giáng hòa, Chiêu Quân tự xin được gả cho Hung Nô đế nhà Hán và Hung Nô hòa hảo với nhau.

[7] Thái Chân: tức Dương Quý phi.

[8] Những chỗ mở ngoặc in nghiêng ở đây, là nguyên chú trong truyện của tác giả.

[9] Phan Thục phi: tên là Ngọc Nhi, là sủng phi của vua Nam Tề Tiêu Bảo Quyển, sau vua bị phế làm Đông Hôn hầu. Vua từng cho làm hoa sen bằng vàng cho Phan phi bước đi ở trên, nói là “Bộ bộ sinh liên hoa” (mỗi bước đi lại nảy hoa sen). Đông Hôn hầu bị giết, Phan Thục phi cũng tự thắt cố chết.

[10] Thẩm bà: Hoàng hậu của Đường Đại tông, mẹ của Đường Đức tông Lý Thích.

[11] Quản phu nhân: cung phi của Hán Cao tổ. Thuở đầu, Quản phu nhân cùng Bạc cơ và Triệu Tử Nhi rất thân thiết với nhau. Ba người cùng hẹn, ai được Hán Cao tổ sủng ái trước thì không được quên những người còn lại. về sau, Quản phu nhân cùng Triệu Tử Nhi được Cao tổ sủng ái trước. Rồi Cao tổ mới biết lời hẹn của ba người họ, bèn cũng sủng ái Bạc phi.

[12] Mao Diên Thọ người Đỗ Lăng đời Tây Hán, rất giỏi vẽ chân dung. Hán Nguyên đế hậu cung rất đông, bèn sai ông ta vẽ chân dung cung phi, rồi nhìn theo tranh mà triệu kiến. Các cung nữ đều hối lộ Mao Diên Thọ để khiến ông ta vẽ mình thật đẹp mà được vua vời, duy có Vương Tường không chịu như thế, nên bị Mao Diên Thọ vẽ hình thành xấu, không được vua yêu. Sau, Hung Nô sang cầu hòa hảo, Nguyên đế mới biết Vương Tường là người đẹp nhất trong cung, bèn giết Mao Diên Thọ, phơi thấy ngoài đường.

[13] Già Thương: chỉ bốn ông già ở Thương Sơn (Thương Sơn tứ hạo) cuối đời Tần, gồm: Đông Viên công, Lộ Lý tiên sinh, Ỷ Lý Quý, Hạ Hoàng công, tuổi đều hơn tám mươi, ấn cư ở Thương Sơn. Sau ra làm môn khách của Hiếu Huệ, giúp giữ được ngôi Thái tử.

[14] Nguyên văn “mộc cương”, ở đây chi Chu Bột. Sử ký - Giáng hầu Chu Bột thê gia viết: “Bột vi nhân mộc cương đôn hậu, Cao đế dĩ vi khả thuộc đại sự.” (Bột là người quật cường đôn hậu, Hán Cao tổ cho là cỏ thế ủy thác việc lớn.) Chu Bột cuối đời Tần theo Lưu Bang khởi nghĩa, lập nhiều công lao, được phong Giáng hầu. Về sau, bình định phản loạn do họ Lã gây ra, đón lập Văn đế, được phong Hữu thừa tướng.

[15] Kim lũ tức kim lũ y - áo thêu chi vàng. Đáy cũng là tên một bài thơ nổi tiếng của Đỏ Thu Nương đời Đường

[16] Lục Châu: Ái thiếp của Thạch Sùng đời Tây Tấn. Khi Triệu vương Tư Mã Luân chuyên quyền, rất sủng tín Tôn Tú. Tú nhân đó gây sự với Thạch Sùng để đoạt Lục Châu, Lục Châu bèn nhảy xuống lầu tự vẫn mà chết.

[17] Chu Lũy Nhược Đề: là con trai của Hô Hàn Da. Tục người Hung Nô, cha chết, con được lấy vợ của cha, do vậy sau khi Hô Hàn Da chết, Vương Chiêu Quân lại được gã cho Chu Lũy Nhược Đề.

Châu Hải Đường dịch
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.