Nhan Sư Cổ

Đường Tống Truyền Kỳ (Châu Hải Đường dịch)

Lượt đọc: 372 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
QUYỂN VI - TÙY DI LỤC

❊ ❊ ❊

(TÙY DI LỤC)[1]

I

Năm Đại Nghiệp thứ mười hai, Tùy Dạng đế sắp đến Giang Đô, sai Việt vương Hựu[2] lưu thủ Đông đô. Cung nữ một nửa không được đi theo xa giá, tranh nhau khóc mà giữ vua lại, nói Liêu Đông là nước nhỏ, không đáng để phải phiền đến đại giá, xin hãy chọn tướng lĩnh cho đi chinh thảo. Ai nấy bám xe giữ lại, máu tay nhuộm cả ngựa xe. Nhưng ý vua không đổi, nhân lấy lụa trắng đề hai mươi chữ tặng cho cung nữ ở lại rằng:

Ta mộng Giang Nam đẹp,

Chinh Liêu cũng bất ngờ.

Hãy gìn nhan sắc đó,

Xa cách một năm chờ.

Xa giá đi rồi, trăm vạn quân binh cùng ruổi tiến. Khi ấy Đại Kiều chưa xong, Dạng đế mệnh cho Vân Đồn tướng quân Ma Thúc Mưu khơi thông Hoàng Hà đổ vào Biện đê, để thuyền lớn đi được. Thúc Mưu được lệnh, thi hành rất tàn khốc, cho dùng ngỗng gỗ chân sắt để đo nước sông nông sâu, nếu ngỗng dừng, không đi được, thì tức là phu đào không làm hết sức, cả đội sẽ phải chết dưới sông. Đến nay, mỗi khi trẻ con khóc, người ta lại lấy Ma ra dọa rằng: “Ma Hồ đến đấy!”[3] chúng liền nín bặt ngay. Có thể nói Ma Thúc Mưu khiến người ta phải sợ hãi đến như vậy.

Dạng đế rời đô được mươi ngày, ngồi trên xe trâu do Hà Thỏa[4] người nước Tống dâng tiến. Xe có bánh trước cao to, trên đóng đinh thưa thành những gai nhọn, còn bánh sau thì nhỏ thấp, dùng thứ gỗ cây du mềm chế thành, để trơn tru dễ đi chuyển, dùng trâu bò kéo. Từ kinh đô đến quận Biện, mỗi ngày lại dâng một người con gái lên hầu vua trên xe. Rèm xe dùng màn giao tiêu[5], treo xen những miếng ngọc cùng chuông nhỏ, khi xe đi phát ra âm thanh leng keng, hòa lẫn tiếng cười nói trong xe, để tả hữu hầu cận không thể nghe thấy vậy.

Trường An dâng một người ngự nữ tên là Viên Bảo Nhi, tuổi mới mười lăm, thân hình mảnh mai xinh đẹp, Dạng đế đặc biệt sủng ái. Khi ấy Lạc Dương đón xe vua dâng thứ hoa tịnh đế, nói là tìm thấy trong hốc núi Tung Sơn, không ai biết tên hoa là gì, người hái được thấy lạ nên đem tiến cống. Đến khi xa giá đến nơi, bèn đặt tên cho hoa ấy là hoa Nghênh liễn[6]. Bông hoa phía ngoài tím sẫm, bên trong trắng nõn thơm tho, nhụy phấn ở giữa đỏ sẫm, có hai bông chung một đài. Cành hoa xanh biếc, tựa như cỏ thông thảo, không có gai, lá tròn mà mỏng. Mùi hương hoa thơm ngát, thấm vào tay áo, cả ngày không tan hết, người ngửi hương hoa phần lớn không ngủ được. Vua sai Bảo Nhi cầm hoa, gọi là Tư hoa nữ. Bấy giờ lại chiếu cho Ngu Thế Nam[7] soạn Chinh Liêu chỉ huy đức âm sắc ở bên cạnh vua, Bảo Nhi chăm chú nhìn xem hồi lâu. Vua bảo Thế Nam rằng: “Xưa, truyền rằng Phi Yến[8] có thể đứng trên lòng bàn tay mà múa, trẫm thường cho là bọn Nho sinh chữ nghĩa khoác lác, chứ há lại có người như vậy ư? Đến nay có được Bảo Nhi, mới hiểu rõ chuyện đời trước. Mà nàng còn ngây thơ xinh đẹp hơn. Nay nàng chăm chú nhìn ngươi, ngươi là người tài hoa, khá làm mấy câu thơ bỡn chơi.” Ngu Thế Nam vâng mệnh làm một bài tuyệt cú rằng:

Điểm phấn tô son học chửa nên,

Vai mềm áo rủ nét hồn nhiên.

Ngây thơ lại được vua yêu dấu,

Cho giữ hoa thơm mãibên.

Vua xem thơ thích lắm.

Đến đất Biện, vua ngự thuyền rồng, Tiêu phi ngồi thuyền phượng, buồm gấm đây màu, vô cùng xa hoa. Trước thuyền có đài múa, trên đài buông rèm che nắng. Rèm ấy do Bồ Trạch quốc tiến cống, dùng chỉ Phụ sơn Văn tiệp cùng sợi Liên căn xâu những viên ngọc nhỏ kết thành, dù có nắng to đến đâu cũng không soi thấu qua được. Mỗi thuyền lại chọn lấy một ngàn con gái trắng trẻo cao ráo, tay cầm mái chèo khảm vàng mà chèo, gọi là điện cước nữ.

Một hôm Dạng đế sắp lên thuyền phượng, vịn vào vai điện cước nữ Ngô Giáng Tiên, thấy mềm mại xinh đẹp, hơn hẳn người khác, lấy làm yêu lắm, đứng mãi không dời bước. Giáng Tiên giỏi vẽ mày dài, vua không ngăn nổi lòng yêu, về xe bèn vời Giáng Tiên đến phong làm Tiệp dư. Đúng khi ấy, Giáng Tiên được gả cho thợ ngọc Vạn Quần, nên việc không thành. Sau khi Dạng đế thỏa hứng, bèn đưa Giáng Tiên lên đứng đầu các tay chèo ở thuyền rồng, gọi là Không Động phu nhân. Vì thế, những điện cước nữ đều tranh nhau bắt chước vẽ mày dài. Tư cung lại mỗi ngày phải cấp cho năm đấu thuốc kẻ mày làm từ vỏ ốc, gọi là nga lục. Thuốc kẻ mày vỏ ốc xuất xứ từ nước Ba Tư, mỗi vỏ ốc giá mười lạng vàng, về sau thuế thu không đủ, bèn dùng lẫn cả thuốc đồng mà cấp cho, duy có Giáng Tiên được ban cho thuốc vỏ ốc dùng mãi. Dạng đế mỗi khi tựa rèm nhìn Giáng Tiên, hàng giờ cũng không đi, rồi quay sang nội thị, bảo: “Người xưa nói ‘tú sắc nhược khả xan’ (sắc đẹp như có thể ăn được). Người như Giáng Tiên, đúng là có thể nhìn mà khỏi đói vậy.” Nhân ngâm bài Trì tiếp thiên (Bài thơ Cầm mái chèo) tặng Giáng Tiên. Thơ rằng:

Đào Diệp[9], xưa câu hát,

Mai hoa, mới điểm trang.

Mái chèo nghiêng nhẹ tựa,

Biết mới vượt sông sang.

Rồi chiếu cho cả nghìn người điện cước nữ cùng hát to lên.

Khi ấy, đất Việt Khê dâng thứ lụa diệu quang, hoa văn lụa nổi hẳn lên, thường có ánh sáng lóng lánh. Người Việt nhân gió Tiều phong[10], chèo thuyền dưới núi Thạch Phàm, nhặt những kén tằm dại về mà se nên thứ lụa ấy. Có người con gái se tơ, tối nằm mộng thấy thần nhân nói với mình rằng: “Hang Vũ Huyệt ba ngàn năm mới mở một lần. Những kén tằm mà ngươi nhặt được, tức là thứ bích ngư trong văn tập của Giang Yêm[11] hóa ra vậy. Tơ này dệt nên thành xiêm, tất có hoa văn kỳ lạ.” Đến khi dệt xong, quả đúng như mộng, vì vậy bèn đem dâng vua. Dạng đế chỉ ban riêng lụa ấy cho Tư hoa nữ và Giáng Tiên, còn những người khác đều không được. Tiêu phi lấy làm ghen ghét, vì vậy hai nàng ấy dần dà không được sủng hạnh nữa.

Dạng đế thường say rượu đi chơi các cung, ngẫu nhiên đùa bỡn với nô tỳ trong cung tên là La La. La La sợ Tiêu phi, không dám gặp vua, bèn chối từ tà có bệnh như Trình phi[12], không thể hầu chăn gối được. Dạng đế bèn bỡn bảo:

Đưa ngang sóng mắt, rộn lòng ai,

Mực kẻ xanh xanh một nét mày.

May mắn lưu ta, nên mộng đẹp,

Chẳng lưu ta ở, ý sao đây?

Từ khi vua đến Quảng Lăng, trong cung phần đa bắt chước nói giọng Ngô, nên có cách xưng là “nùng”[13]. Vua u mê chìm đắm, nên thường bị ma quỷ trêu ghẹo. Từng có lần, đến thăm Kê đài ở nhà Ngô Công, bỗng nhiên gặp Trần Hậu chủ[14], vẫn gọi vua là điện hạ. Hậu chủ đội một chiếc khăn lụa đen, tay áo rộng màu xanh, vạt áo dài, đi giầy vuông gấm xanh vân tía. Có mấy chục người vũ nữ, đứng hầu cả ở hai bên tả hữu. Trong số ấy có một người đẹp lắm, Dạng đế mấy lần đưa mắt nhìn. Hậu chủ nói: “Điện hạ không biết người này ư? Đó tức là Lệ Hoa[15] vậy. Ta vẫn nhớ khi ở núi Đào Diệp, cùng nàng ngồi trên chiến thuyền vượt sông sang bờ bắc. Khi ấy, Lệ Hoa oán hận hơn cả, vừa mới lên Lâm Xuân các thử cây bút tử hào Đông Quách Thuân[16], viết vào lụa đỏ đáp lại câu ‘Bích Nguyệt’ của Giang lệnh. Thơ từ còn chưa xong, thì đã thấy Hàn Cầm Hổ[17] cưỡi trên con ngựa thanh thông, đem cả vạn binh xông vào, kẻ chạy người hàng đều giết sạch, từ bấy cho đến nay.” Giây lát, lấy bầu trắc hải vân xanh, rót rượu hồng lương mới nấu mời Dạng đế. Dạng đế uống rượu rất vui, nhân xin Lệ Hoa múa điệu Ngọc thụ hậu đình hoa. Lệ Hoa từ chối rằng lâu nay bỏ bẵng, từ dưới giếng lên[18], chân tay lóng ngóng, không còn tư thái như xưa nữa. Dạng đế nói đi nói lại mãi, Lệ Hoa mới chậm rãi đứng lên, múa hết một khúc. Hậu chủ hỏi Dạng đế: “Tiêu phi so với nàng ấy thế nào?” Dạng đế nói: “Xuân, lan, thu, cúc, hoa nào cũng có vẻ riêng một thời vậy.” Hậu chủ lại làm mười mấy bài thơ, Dạng đế không nhớ được, riêng yêu bài thơ Cửa sổ nhỏ và bài Gửi thị nữ Bích Ngọc. Bài thơ Cửa sổ nhỏ thế này:

Ngủ trưa, dậy đã ngả chiều,

Cơn mơ sực tỉnh, chi điều bởi ai?

Tà dương cũng hữu ý thay,

Rọi song cửa nhỏ sáng hoài cùng ta.

Bài thơ Gửi thị nữ Bích Ngọc thế này:

Ruột đứt vì li biệt,

Xương mòn bởi nhớ nhau.

Một lời thăm hỏi đến,

Tan hết lớp mây sầu.

Lệ Hoa đỡ Dạng đế dậy, xin làm một bài thơ. Dạng đế từ chối rằng không biết làm thơ. Lệ Hoa cười nói: “Thiếp từng nghe câu: ‘Chốn này chẳng giữ tôi, Giữ tôi ắt có nơi.’ Sao lại nói là không biết làm thơ?” Dạng đế bèn gượng cầm bút viết một bài rằng:

Gặp mặt không bao chuyện,

Nghe tên đã mấy lâu.

Cùng ngồi trăm vẻ đẹp,

Thực kẻ thấu tình nhau.

Lệ Hoa được thơ, nhăn mày không vui. Hậu chủ hỏi Dạng đế: “Đi chơi thuyền rồng có vui không? Khi xưa nghe nói điện hạ lo việc trị nước còn hơn Nghiêu, Thuấn, ngày nay lại chơi bời như vậy. Đại để đời người ta ai nấy đều mong sướng khoái, khi xưa cớ sao lại cho ta là có tội lớn thế? Ba mươi sáu phong thư, đến nay còn khiến người ta buồn bực không vui.” Dạng đế bỗng nhiên tỉnh giấc, quát lên rằng: “Sao ngày nay còn coi ta là điện hạ, lại lấy chuyện cũ ra để hỏi ta chứ?” Quát xong thì phút chốc không thấy đâu nữa.

II

Dạng đế đến Nguyệt Quán, trăng sáng khói lồng. Nửa đêm một mình cùng Tiêu phi trở dậy ra hiên trước đứng. Rèm buông không mở, tả hữu vừa ngủ cả, vua tựa vai Tiêu phi, kể chuyện khi còn ở Đông cung. Vừa vặn, có tên tiểu hoàng môn, nấp sau bụi tường vi trêu đùa cung nữ, đai áo ngoắc cả lên cành, tiếng cười khúc khích không dứt. Dạng đế trông thấy cung nữ eo thon mảnh mai, ngỡ đó là Bảo Nhi có tư tình, bèn khoác áo đơn lập tức đến bắt, thì hóa ra là cung nữ Nhá Nương. Quay về tẩm điện, Tiêu phi cười trêu mãi không thôi. Vua hỏi: “Năm xưa, khi ta lẻn đến chỗ Thỏa Nương, tình cảnh cũng y như thế. Bấy giờ đến tính mạng đang có cũng chả tiếc. Sau được Nguyệt Tân, bị nàng ấy làm cho hồ đồ không biết gì nữa, khi ấy ta cũng yêu thương không kém gì so với Tiêu phi nàng bây giờ vậy. Ta từng bắt chước Lưu Hiếu Xước làm mấy bài thơ Tạp ức, thường đọc cho phi nghe, phi còn nhớ không?” Tiêu phi thấy vua hỏi, bèn đọc rằng:

Nhớ khi ngủ,

Đợi người, người chẳng sang.

Giục nhau cởi đai ngọc,

Tìm bạn gỡ điểm trang.

Bác Sơn[19] mong mộng đẹp,

Trầm hương vẫn chửa tàn.

Lại đọc tiếp:

Nhớ khi dậy,

Báo sáng trống canh vang.

Chăn lau nét mày nhạt,

Gối nấp cánh thoa vàng.

Cười khiến rừng cây động,

Chim buổi sớm bay tan.

Dạng đế nghe xong, than thở bảo: “Tháng ngày thấm thoắt, đến nay đã thành chuyện mấy năm rồi.” Tiêu phi nhân nói: “Nghe nói quân giặc cướp bên ngoài rất nhiều, mong bệ hạ đẹp yên.” Vua nói: “Việc của ta, đã giao tất cả cho Dương Tố rồi. Đời người dễ được bao lăm? Dù cho có biến cố gì, thì rốt cuộc ta cũng không mất được ngôi Trường Thành công[20]. Nàng chớ nói đến chuyện ngoài làm chi.”

Dạng đế từng đến lầu Chiêu Minh Văn Tuyển, xa giá còn chưa tới, đã mệnh cho mấy ngàn cung nga lên lầu đón hầu trước. Gió đông thổi nhẹ, áo xiêm cung nga phất phới, bay lên đến tận vai. Dạng đế trông thấy thế, lửa dục chợt bốc lén ngùn ngụt. Nhân đó, bèn dựng Mê lâu, chọn những con gái tơ nơi làng xóm cho vào ở đó, bắt mặc áo đơn bằng lụa mỏng nhẹ, ra đứng tựa hiên mà nhìn, thấy như đang bay vậy. Lại cho đốt hương thơm ở bốn góc, khói mờ lất phất, thường như sương sớm chưa tan, mà nói rằng cảnh tiên cũng không hơn gì mình vậy. Trên lầu căng bốn trướng báu, mỗi trướng lại có một tên khác nhau: một cái là Tán Xuân sầu, một cái là Túy Vong Quy, cái thứ ba là Dạ Hàm Hương, cái thứ tư là Diên Thu Nguyệt. Trang sức tẩm y, mỗi trướng một kiểu. Dạng đế từ khi đến Quảng Lăng, chìm đắm vô độ, mỗi khi ngủ đều phải xoa bóp tay chân, hoặc đàn hát vang lừng, mới ngủ được. Có nàng hầu là Hàn Tuấn Nga rất vừa lòng Dạng đế, mỗi khi ngủ tất cho gọi đến, sai đấm bóp tay chân, sau đó vua mới ngủ ngon được, nên ban cho biệt danh là “Lai Mộng Nhi”. Tiêu phi từng hỏi riêng Tuấn Nga rằng: “Hoàng đế thường không thư thái, ngươi có thể giúp người an được, có bí quyết gì không?” Tuấn Nga sợ uy, tâu rằng: “Thiếp theo vua từ kinh đô đến, thấy vua thường ở trên xe Hà Thỏa. Xe đi gặp ghềnh chao đảo, nên thị nữ cũng chao đảo lắc lư theo, vua thấy thế rất thích. Nay, thiếp may nhờ ơn đức của Hoàng hậu, được thị tầm trong trướng, mới thầm bắt chước vẻ nghiêng ngả lắc lư như khi ở trên xe, để vua vui lòng mà thôi. Ngoài ra không có bí quyết gì khác.” ít lâu sau, Tiêu hậu kiếm cớ vu tội cho Tuấn Nga rồi đuổi đi, Dạng đế không thể ngăn được. Ngày rảnh rỗi, vua lên Mê lâu chơi, nhớ đến Tuấn Nga, bèn đề hai bài thơ lên cây cột góc đông nam rằng:

Thảm đạm sầu lan tủy,

Triền miên bệnh ngỡ thành.

Nên hay tóc Phan Nhạc,

Nửa bạc, bởi đa tình.

Bài nữa:

Có hay, nhớ nhau mãi,

Tơ trắng nhuốm đầu xanh.

Buồn bã tựa lầu đứng,

Hoài mong biết mấy tình.

Các điện cước nữ từ khi đến Quảng Lăng, được mệnh cho ở cả hành cung Nguyệt Quán, vì thế bọn Giáng Tiên cũng không được hầu gần tẩm điện. Có viên Lang tướng, đến Qua Châu truyền việc trở về, dâng một giỏ quả hợp hoan. Vua sai tiểu hoàng môn đem một đôi chạy ngựa đến ban cho Giáng Tiên, nhưng vì ngựa chạy nhanh quá, nên quả tách rời làm hai. Giáng Tiên bái tạ ơn được ban thưởng, nhân đưa kèm một tờ giấy hồng viết bài thơ dâng lên vua rằng:

Ngựa trạm truyền đôi quả,

Ơn vua biết mấy mươi.

Hay đâu rời bệ ngọc,

Hoan hợp, dạ đà nguôi.

Vua xem thơ có ý không vui, quay sang tên hoàng môn nói: “Giáng Tiên ra thế nào, mà lại có lời lẽ oán trách ta sâu cay vậy?” Tên hoàng môn sợ, lạy bẩm rằng: “Thần đi ngựa rung lắc, đến Nguyệt Quán thì quả đã rời ra, không còn liền với nhau nữa.” Vua vẫn không nguôi lòng, nhân bảo: “Giáng Tiên không chỉ có dung mạo xinh đẹp, mà thơ cũng sâu sắc, đó chính là Tư Mã Tương Như trong đám nữ nhi vậy. So với Tả quý tần[21] nào có kém gì.”

Dạng đế thường bày tiệc nhỏ trong cung, làm tửu lệnh theo lối chiết tự, lấy ý tả hữu ly hợp. Bấy giờ Diểu Nương đang hầu ở bên, vua nói: “Ta chiết tự chữ Diểu là ‘thập bát nhật’[22].” Diểu Nương lại giải chữ La thành “Tứ duy”[23]. Dạng đế quay sang Tiêu phi nói: “Khanh có thể chiết tự chữ Trẫm không? Nếu không thì phải uống một chén.” Tiêu phi chậm rãi nói: “Dời nét bên tả chuyển sang bên hữu, chẳng phải là chữ Uyên[24] ư?” Bấy giờ, người ta phần đa ngưỡng vọng Đường công, Dạng đế nghe thấy thế trong lòng không vui, nói: “Ta không biết chuyện này, há chẳng phải là thánh nhân ư?”

Khi ấy, gian tà sinh ra ở trong, đạo tặc nổi lên ở ngoài: bọn Trực các Bùi Kiền Thông, Hổ bôn lang tướng Tư Mã Đức Cần, câu kết với Tả hữu Đồn vệ tướng quân Vũ Văn Hóa Cập[25] định mưu loạn, nhân xin Dạng đế tha bớt các hạng nô bộc phân thành hai ban thượng, hạ. Vua chuẩn tấu, rồi tuyên chiếu rằng: “Chiếu cho các môn hạ! Nóng lạnh luân phiên, cho nên mùa màng mới có; nhật nguyệt thay đổi, cho nên nhàn mệt mới đều. Bởi thế, sĩ tử có cái luận về sự dừng chơi, nông phu có cái tết cho được nghỉ việc. Nghĩ nô bộc gọt tóc các ngươi, phục dịch chăm chỉ, vất vả không ngơi, cáu bẩn dính đầy móng tóc, chấy rận bám khắp đâu mâu, trẫm rất lấy làm thương, cho các ngươi được thuận tiện thay nhau luân phiên nghỉ ngơi. Ôi! Không cần phiền đến lời xin khôi hài của Đông Phương Sóc[26], mà theo sớ văn của vệ sĩ đệ trình. Trẫm đối với bọn thị tòng các ngươi, có thể nói là có ơn vậy. Khá chuẩn y theo như việc ở trên!” Vì thế bèn có sự biến đốt cỏ[27].

Trên đây là Đại Nghiệp thập di ký. Huyện Thượng Nguyên là nơi cố đô của Nam Triều, nhà Lương có dựng gác chùa Ngõa Quanđó. Góc phía nam gác, có gác đôi, bị đóng cửa, không nhớ đã bao nhiêu năm tháng. Đời Hội Xương[28] triều đình có chiếu cho phá tháp, nhân mới mở ra, tìm. thấy trong đó có hơn ngàn cây Tuân bút, trong có giấu một tập sách, tuy khi mở xem thì giấy đã mủn, nhưng văn tự có thể nhận được, chính là bản đi cảo cuốn Tùy thư vậy. Sư Chí Triệt lại được trong đó có mấy cuộn giấy Bạch đằng sống, đề là: Nam bộ yên hoa lục. Kịp đến khi đốt các kinh sách họ Thích, tăng nhân tiếc cuộn giấy hương, tranh nhau xé lấy những phần đuôi giấy trắng. Nhìn đến cuộn ấy, thì thấy đều là thủ bút, có đề tên của Nhan công Văn Trung[29] ở Lỗ quận. Bản Yên hoa lục ấy có thể biết chính là viết bằng số Tuân bút nóitrên vậy. Sư Chí Triệt ghi chép lại được chuyện trước rồi, kịp đến khi đem Tùy thư ra hiệu đính, thấy có nhiều đoạn bị che giấu, đặc biệt có những sự việc phù hợp với sử thực, nhưng chỉ được ghi chép rất giản lược. Há chẳng phải là hồi quốc sơ, các tướng văn tướng võ đua nhau đem vương đạo phò tá triều chính, Nhan công không muốn nói những cái xấu của triều trước, nhân đó mới cắt bớt đi chăng? Nay phong thái đời Thuấn Nghiêu đã trở lại, xe đức ruổi rong, ta riêng tiếc văn này phải chịu mai một, không được các bậc văn chương tài tử nói tới, cho nên mới biên lại gọi là: Đại Nghiệp thập di ký, văn gốc bị thiếu khuyết, đến bảy, tám phần mười, thảy đều đã được bổ sung lại đầy đủ vậy.

[1] Trong hiệu lục của Lỗ Tấn, Tùy Di Lục vốn chia ra làm hai phần tương đương hai cuốn thượng, hạ, ở đây để tiện cho bạn đọc theo dõi, chúng tôi gộp chung làm một truyện, và chỉ đánh số La Mã I, II đế chia làm hai phần.

[2] Việt vương Hựu: tức Việt vương Dương Hựụ cháu nội Dạng đế, con của Dương Chiêu (con trưởng của Dạng đế).

[3] Ma Hồ: xem phần Nói Thêm vè Tập Truyền Kỳ mục quyến 6 ở cuối sách.

[4] Hà Thỏa tự Thê Phượng, thời Tùy Văn đế, làm quan đến Quốc từ tế tửu.

[5] Giao tiêu: tên một loại lụa xuất xứ từ Nam Hải, gặp nước không ướt. Cũng dùng tên này để phiếm chỉ lụa mỏng.

[6] Tức là đón xe vua.

[7] Ngu Thế Nam tự Bá Thi, đến đời Đường làm quan tới Bí thư giám, cùng với Âu Dương Tuân, Chử Toại Lương, Tiết Tắc là bốn nhà thư pháp nổi tiếng đời Sơ Đường.

[8] Phi Yến: tức Triệu Phi Yến, Hoàng hậu của Hán Thành đế, giỏi múa hát, vì người nhẹ nên được gọi là Phi Yến. Khi Bình đế lên ngôi, Phi Yến bị phế làm thứ nhân, tự sát mà chết.

[9] Đào Diệp: tên người thiếp của Vương Hiến Chi dời Tấn. Vương Hiến Chi từng một lần qua bến sông làm một bài ca tặng cho nàng, vì vậy người đời sau mới gọi bến sông ấy là Đào Diệp độ.

[10] Gió Tiều phong: theo Cối Kê ký của Khống Linh Phù đời Tống - Nam triều chép: đời Hán, Thái úy Trịnh Hoằng thường ngồi thuyền đến suối Nhược Da lấy củi, vì ngược chiều gió nên chèo rất khó nhọc. Sau ông được thần nhân giúp cho buổi sáng thì nhân gió nam mà đi, buổi tối lại nhân gió bắc mà về. Hậu nhân gọi gió ấy là “Tiều phong”.

[11] Giang Yêm tự Văn Thông, là nhà văn học đời Lương - Nam triều, sớm nổi tiếng văn chương, ông có để lại Giang Vân Thông tập. Bích ngư, còn gọi đố ngư, cá bạc, là một loại côn trùng hay ăn sách vở, giấy vải, sống trong gáy sách.

[12] Hán Cảnh đế cho triệu Trình phi, nàng không muốn tới nên mượn cớ đang kỳ kinh nguyệt để từ chối. Sau dùng câu bệnh như Trình phi đế chỉ tình huống này.

[13] Nùng (chữ Hán 儂): tức là ta, nghĩa như chữ ngã, ngô...

[14] Trằn Hậu chủ: tức Trần Thúc Bảo, Hoàng đế nhà Trần - Nam triều, khi còn làm vua, Hậu chủ cho dựng nhiều cung điện, vô cùng xa xi, ngày ngày chỉ vui chơi với cung tần và các văn quan. Sau quân Tùy vào Kiến Khang, Hậu chủ bị bắt, bệnh chết ở Lạc Dương.

[15] Lệ Hoa: tức Trương Lệ Hoa, sủng phi của Trần Hậu chủ, thông minh, xinh đẹp, có trí nhớ và tài biện bác, bị giết khi quân Tùy diệt nhà Trần.

[16] Đông Quách Thuân: tên một loại thỏ. Chiến Quốc sách - Tề sách tam chép: “Đông Quách Thuân, là giống thỏ láu cá nhất trong nước vậy.”

[17] Hàn Cầm Hổ tự Tử Thông, làm tướng tiên phong theo Tùy Văn đế diệt nước Trần, công phá Kiến Khang, bắt sống được Trần Hậu chủ.

[18] Khi quân Tùy phá Kiến Khang, Trương Lệ Hoa cùng Trần Hậu chủ nấp dưới giếng Cảnh Dương, sau khi quân Tùy tìm thấy bắt lên, liền lôi ra chém ở suối Thanh Khê.

[19] Bác Sơn: tức Bác Sơn Lô (lò Bác Sơn). Bão Chiếu đời Tống - Nam triều trong bài thơ Nghĩ Hành lộ nan có câu: “Lạc Dương danh công chú vi kim Bác Sơn...” (Thợ giỏi Lạc Dương đúc nên lò Bác Sơn vàng...), sau dùng phiếm chỉ lò hương.

[20] Trường Thành công: Trần Hậu chủ sau khi bị quân Tùy bắt hàng, được phong làm Trường Thành huyện công.

[21] Tả quý tần: tức em gái Tả Tư - nhà văn học đời Tấn, là quý tần của Tấn Vũ đế, dung mạo tuy không xinh đẹp nhưng có tài đức xuất chúng.

[22] Chữ Diếu (杳) chiết tự thành ba chữ Thập 十, Bát 八, Nhật 日.

[23] Chữ La 羅, chiết tự thành chữ Tứ 四 và chữ Duy 維.

[24] Chữ Trầm 朕, đổi nét bên trái sang bên phải thành chữ Uyên 渊, tức là dị thể chữ Uyên 淵 - tên Đường Cao tổ Lý Uyên.

[25] Vũ Văn Hóa Cập: thời Tùy Dạng đế giữ chức Hữu đồn vệ tướng quân. Năm Đại Nghiệp thứ mười bốn phát động binh biến ở Giang Đô, giết chết Dạng đế, sau lại giết Dương Hạo tự lập làm vua, cuối cùng bị Đậu Kiến Đức bắt giết.

[26] Đông Phương Sóc tự Mạn Thiến, người đời Tây Hán, thời Vũ đế làm Thái trung đại phu, thường dùng cách nói khôi hài hóm hỉnh để khuyên can vua.

[27] Sự biến đốt cỏ (Phần thảo chi biến): theo Tùy thư - Vũ Văn Hóa Cập truyện chép: Khí Vũ Văn Hóa Cập phát động binh biến, Tư Mã Đức Kham từng tụ tập binh lính trong thành đốt lửa làm hiệu nội ứng. Tùy Dạng đế nghe tiếng hỏi là việc gì, Bùi Kiền Thông liền nói dối là: “Trại cỏ bị cháy, người bên ngoài cứu hỏa, nên huyên náo như thế,” Dạng đế tin là thật, không hề đề phòng, bèn bị giết, sử sách gọi cuộc binh biến ấy là “Sự biến đốt cỏ”.

[28] Hội Xương: niên hiệu của Đường Vũ Tông, từ năm 841 đến năm 846.

[29] Nhan công Văn Trung: tức Nhan Chân Khanh, đại thư pháp gia đời Đường

Châu Hải Đường dịch
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.