Lỗ Tấn

Đường Tống Truyền Kỳ (Châu Hải Đường dịch)

Lượt đọc: 253 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
NÓI THÊM VỀ TẬP TRUYỀN KỲ

❊ ❊ ❊

Truyện Cổ kính ký có trong quyển 230 sách Thái Bình quảng ký, đổi đề tên truyện là “Vương Độ”, chú rằng: “Xuất xứ theo Dị văn tập.” Thái Bình ngự lãm (920) dẫn chuyện về nữ tỳ nhà Trình Hùng trong đó, ghi là Cổ kính ký của Vương Độ đời Tùy, đều vì trong truyện chép những việc xảy ra đời Tùy mà có nhầm lẫn như thế. Lời tựa sách Đới thị quảng dị ký của Cố Huống trong Văn uyển anh hoa (737) viết rằng: “Dưới quốc triều ta, Lương tứ công ký của Yên công, Minh báo ký của Đường Lâm, Cổ kính ký của Vương Độ, Thần quái chí của Khổng Thận Ngôn, Định mệnh lục của Triệu Tự cần, đến như sáng tác của bọn Lý Dữu Thành, Trương Hiếu Cử, đều cùng được lưu truyền.” Thì Vương Độ thực sự đã sống dưới thời Đường, cho nên là tác giả thời Đường. Riêng trong Đường thưTân Đường thư đều không có tên Độ. Sự tích của Vương Độ có thể dựa vào ghi chép trong truyện để khảo cứu, như sau:

Tháng Năm, năm Đại Nghiệp thứ bảy, bãi chức Ngự sử trở về Hà Đông, Tháng Sáu, về Trường An. Tháng Tư năm thứ tám, làm việcđài sảnh, Mùa đông, kiêm Trước tác lang, phụng chiếu soạn quốc sử. Mùa thu năm thứ chín, ra kiêm giữ chức Nhuế Thành lệnh,

Mùa đông, ở chức Ngự sử kiêm Nhuế Thành lệnh, làm trì tiết Hà Bắc đạo, mở kho chẩn cấp cho vùng Thiểm Đông. Năm thứ mười, em là Tích từ chức Huyện thừa huyện Lục Hợp về nhà, rồi lại xuất du. Tháng Sáu năm thứ mười ba thì Tích về Trường An.

Người sống từ đời Tùy sang đời Đường, có Vương Tích, người Long Môn, Giáng Châu. Trong Tân Đường thư - An Dật Truyện (196) có chép về Vương Tích như sau: “Đời Đại Nghiệp, được xét hiếu đễ liêm khiết... không muốn làm quan trong triều, xin làm Huyện thừa huyện Lục Hợp. Vì ham rượu không màng công việc, bấy giờ thiên hạ rối loạn, nhân bị đàn hặc, bèn từ quan mà đi, than rằng: ‘Lưới bủa khắp thiên hạ, ta biết đi đâu!’ Bèn quay về quê... Trước kia, anh Tích là Ngưng làm Trước tác lang nhà Tùy, soạn Tùy thư chưa xong thì chết. Tích bèn nối tiếp công việc, nhưng cũng không hoàn thành.” Như vậy thì, Tích và Ngưng chép trong Tân Đường thư tức là Tích và Độ chép trong truyện này vậy. Hoặc giả, Độ còn có tên gọi khác là Ngưng, hoặc là Tân Đường thư đã chép lầm tên, chưa rõ là như thế nào. Trong Đường thư (192) cũng có truyện về Tích, rằng: “chết năm Trinh Quán thứ mười tám.” Khi ấy Độ đã chết trước rồi, nên không biết là chết năm nào. Tiều Công Vũ đời Tống trong Quận trai độc thư chí (14) mục Thư loại, có ghi cổ kính ký một quyển, rằng: “chưa rõ soạn giả, chép chuyện về chiếc gương cổ” cũng rất có thể là truyện này. Đoạn chép trong sách Ngự lãm, có sai khác mấy chữ, như sau câu “làm con gái nuôi nhà Trần Tư CungHạ Khuê”, có thêm mấy chữ: “Vợ Tư Cung là Trịnh thị”, và câu “mới đem Anh Vũ” thì chữ “đem” (tương) chép là “cướp” (kiếp), ở đây dùng theo Quảng ký đúng hơn.

***

Bổ Giang Tổng bạch viên truyện chép theo Cố thị văn phòng tiểu thuyết ở Trường Châu đời Minh san khắc lại bản đời Tống, có đối chiếu sửa chữa vài chữ theo truyện được dẫn trong Thái Bình quảng ký quyển 444. Quảng ký ghi tiêu đề truyện là Âu Dương Hột, ghi chú xuất xứ theo Tục Giang thị truyện, thì cũng là căn cứ vào bản lưu hành đơn lẻ đầu đời Tống. Truyện này được lưu truyền khá rộng rãi thời Đường-Tống, nên các sách sử nhiều lần thấy có ghi chép:

Tân Đường thư - Nghệ văn chí, tử bộ, thể loại tiểu thuyết: Bổ Giang Tổng bạch viên truyện -1 quyển.

Quận trai độc thư chí, sử bộ, thể loại truyện ký: Bổ Giang Tổng bạch viên truyện -1 quyển. Không rõ soạn giả là ai, thuật chuyện vợ của Âu Dương Hột cuối đời Đại Đồng nhà Lương bị vượn cướp đi, sau sinh con là (Âu Dương) Tuân. Sùng Văn mục cho rằng, đó là do người đời Đường có kẻ ghét Tuân đặt ra chuyện ấy.

Trực trai thư lục giải đề, tử bộ, thể loại tiểu thuyết: Bổ Giang Tổng bạch viên truyện -1 quyển. Vô danh thị. Âu Dương Hột là cha của (Âu Dương) Tuân. Tuân có diện mạo giống như con vượn, nên thường cùng Trưởng Tôn Vô Kỵ châm chọc lẫn nhau. Truyện này bèn nhân việc châm biếm lẫn nhau ấy mà viết rộng ra, để cho là việc có thực. Nói thác là Giang Tổng, nhưng tất là do vô danh thị đặt ra.

Tống sử - Nghệ văn chí, tử bộ, thể loại tiểu thuyết: Bổ Giang Tổng bạch viên truyện -1 quyển.

Chuyện Trưởng Tôn Vô Kỵ châm chọc Âu Dương Tuân, thấy có trong Tùy Đường gia thoại (trung) của Lưu Thúc. Trưởng Tôn Vô Kỵ có bài thơ châm biếm Âu Dương Tuân rằng: “Vai nhô nhọn như núi /cổ rụt không thấy đầu / Trên gác lân ai đó/ Vượn này vẽ lấy mau.” Ấy là vì Tuân vai so cổ rụt, bộ dạng trông như con vượn vậy. Mà chuyện những con khỉ già cướp vợ người ta rồi sinh con, vốn là truyền thuyết xưa nay. Đời Hán, Tiêu Diên Thọ trong Dịch lâm (Khôn chỉ bác) có viết: “Khỉ đột Nam Sơn, cướp thiếp của ta”. Trong Bác vật chí của Trương Hoa, cũng nói rất rõ (xem trong quyển 3 - Dị thú). Người đời Đường có lẽ đã đố kỵ với tiếng tăm của Âu Dương Tuân, nên mới kết hợp đặt ra chuyện này. Còn như nói “Bổ Giang Tổng”, là vì Giang Tổng là bạn của Âu Dương Hột, lại từng nuôi dưỡng Tuân, biết rất rõ đầu đuôi mọi chuyện về Tuân, nhưng chưa viết truyện ấy, nên nhân bổ sung thêm vậy.

***

Ly hồn ký thấy trong Quảng ký quyển 358, nguyên tiêu đề là Vương Trụ, chú thích xuất xứ từ Ly hồn ký, tức là chỉ đổi tên tiêu đề mà thôi. Sau câu “hai người con trai đều từ chân hiếu liêm, thi dậu tiến sĩ, làm quan đến chức huyện thừa, huyện úy.” Có mấy chữ: “Chuyện xuất xứ theo Ly hồn ký của Trần Huyền Hựu”, nay lược bỏ đi. Huyền Hựu người đời Đại Lịch, tôi chưa tìm hiểu rõ được về tác giả.

***

Chẩm trung ký hiện có hai bản lưu hành: một trong sách Quảng ký (812), tiêu đề là Lã Ông chú thích xuất xứ theo Dị văn lập, một trong Văn uyển anh hoa (833) tên truyện, tên người soạn đều đầy đủ cả. Trong Đường nhân thuyết oái lại đổi cho là tác phẩm của Lý Mật, không hiểu cớ sao. Thấm Ký Tế người đất Ngô, Tô Châu (Nguyên Hòa tính toản ghi là người Vũ Khang, Ngô Hưng), thông hiểu kinh học, được Dương Viêm tiến cử, ra làm Tả thập di, sử quán tu soạn. Đời Trinh Nguyên, Viêm mắc tội, Ký Tế cũng bị biếm ra làm Xử Châu tư hộ tham quân. Sau lại về triều, làm đến Lễ bộ viên ngoại lang, rồi qua đời. Ông có soạn Kiến Trung thực lục mười quyển, được người đời khen ngợi. Trong Tần Đường thư (132) có truyện về ông. Ký Tế là sử gia, văn phong giản dị, lại hay khuyên răn, cho nên bấy giờ tuy người ta coi nhẹ việc truyền tụng những thứ kỳ văn, nhưng vẫn rất suy tôn lối văn (khuyên răn) ấy. Như Lý Triệu, lấy truyện Trang sinh để ngụ ngôn và Mao Dĩnh truyện của Hàn Đủ đều được khen ngợi [Quốc sử bổ - hạ). Văn uyển anh hoa không thu truyền kỳ văn, nhưng vẫn chép truyện này cùng với Trường hận truyện của Trần Hồng, cũng là vì chúng có ý tứ khuyên nhủ, đủ để làm răn cho đời vậy.

Trong giấc mộng, bỗng thấy trải qua một đời, vốn cũng là truyện cũ. Can Bảo đời Tấn trong Sưu thần ký cũng có chuyện tương tự như vậy. Chuyện rằng: “Trong miếu Tiêu Hồ có chiếc gối ngọc, trên gối có một kẽ nứt nhỏ. Bấy giờ, có Dương Lâm người huyện Đơn Phụ làm nghề lái buôn, đến miếu cầu khẩn. Thầy đồng trong miếu bảo Lâm: ‘Anh có muốn được cuộc hôn nhân tốt không?’ Lâm nói: ‘Thế thì may lắm.’ Thầy đồng liền bảo Lâm đến gần bên gối, nhân chui qua kẽ nứt vào trong. Bèn thấy lầu son nhà ngọc, trong có quan Thái úy họ Triệuđó, gả con gái cho Lâm, sinh được sáu con trai, đều được làm Bí thư lang. Qua mấy chục năm, Lâm không hề có ý nhớ nhà muốn về. Bỗng nhiên mộng tỉnh, thấy mình vẫn nằm bên gối, Lầm buồn bã hồi lâu.” (Xem trong Thái Bình hoàn vũ ký đoạn dẫn 126, của Nhạc Sử đời Tống. Bản Sưu thần kỳ hiện hành do người sau tập hợp ghi chép, đã để mất đoạn này.) Đó chính là chuyện gốc của Chẩm trung ký. Thang Hiển Tổ đời Minh lại căn cứ vào Chẩm trung ký để soạn kịch Hàm Đan ký, chuyện ấy bèn trở nên phổ biến ở đời. Thong nguyên văn, Lã ông không có tên, Hàm Đan ký bèn cho là Lã Động Tân, điều ấy rất sai lầm. Lã Động Tân niên hiệu Khai Thành mới vào núi, đến đời Khai Nguyên thì chưa thể đã đắc thuật thần tiên và lại xưng là “ông” được. Nhưng đến đời Tống thì người ta đã hỗn dung làm một, Ngô Tăng trong Năng Cải trai mạn lục, Triệu Dữ Thời trong Tân thoái lục đều từng làm như vậy. Hồ Ứng Lân đời Minh cũng đã có khảo xét đính chính, xin xem Ngọc hồ hà lãm trong Thiếu Thất sơn phòng bút tùng.

Thái Bình quảng ký thu thập truyện truyền kỳ đời Đường, có nhiều bản Dị văn tập. Sách ấy có mười cuốn, do Đồn điền viên ngoại lang Trần Hàn sống cuối đời Đường soạn (xem trong Tân Đường thư - Nghệ văn chí), nay đã thất truyền. Theo Quận trai độc thư chí (13) viết thì sách đó “lấy truyền kỳ ghi chép những chuyện kỳ quái đời Đường, tự thành một thể loại”. Kịp tới khi xem xét những truyện được thu lục trong Quảng ký, thì là tập hợp những văn chương cũ của tiền nhân mà thành. Nếu đem đối chiếu với trích dẫn trong sách khác, thì cùng là một nội dung, mà câu chữ lại có nhiều điểm trái khác. Hoặc giả là sách đã căn cứ vào các bản khác nhau, hoặc giả Trần Hàn đã có sửa chữa san định, chưa rõ thế nào. Truyện Chẩm trung ký trong tập sách này, căn cứ vào ghi chép trong Văn uyển anh hoa, so với truyện của Quảng ký chép từ Dị văn tập thì có nhiều chỗ khác nhau. Khác nhất có thể kể như đoạn đầu, Quảng ký viết: “Năm Khai Nguyên thứ mười chín, đạo sĩ Lã ông trên đường qua Hàm Đan, đến quán trọ kê giường ngủ, bỏ tay nải xuống ngồi nghỉ.” Câu “chủ nhân phương chưng thử” (chủ quán đang nấu nồi cháo kê) được viết thành “chủ nhân chưng hoàng lương vi soạn”. Sau này, phàm nói câu “hoàng lương mộng” đều là xuất phát từ Quảng ký vậy. Ngoài những điểm ấy, còn rất nhiều chỗ khác, xin không nêu hết ở đây.

***

Nhâm thị truyện có trong Quảng ký (452), tiêu đề là Nhâm thị, không ghi xuất xứ, có thể thấy là từng lưu hành đơn lẻ. Chỗ “Năm Thiên Bảo thứ chín” nguyên có chữ “Đời Đường”. Xét sách Quảng ký khi chép các sách đời trước thường những chỗ có ghi quốc hiệu trước niên hiệu đều là của người biên tập thêm vào, chứ không phải vốn có như vậy, nay lược bớt đi. Các truyện khác cũng tương tự như thế.

Trên đây là về những truyện trong quyển I.

***

Biên thứ Trịnh Khâm Duyệt biện Đại Đồng cô minh luậncủa Lý Cát Phủ, trong Đường ngự sử đài tinh xá đề danh khảo (3) do Triệu Việt và Lao Cách đời Thanh soạn có nói đến, được chép theo Văn uyển anh hoa. Trước khi viết ra, tôi không có sách Văn uyển anh hoa để tham khảo, nên phải chép theo nội dung trong Quảng ký (391), vốn tiêu đề là Trịnh Khâm Duyệt, sau đó lại căn cứ vào thuyết của Triệu Việt, Lao Cách mà sửa chữa. Nội dung ấy vốn không phải là truyền kỳ, nhưng Quảng ký có chú là xuất xứ từ Dị văn tập, hơn nữa nội dung câu chuyện kỳ bí, nên người Đường-Tống đã coi nó như tiểu thuyết, do vậy cũng chép vào tập sách này. Lý Cát Phủ tự Hoằng Hiến, người đất Triệu, đầu đời Trinh Nguyên, làm chức Thái thường bác sĩ, thăng dần tới Hàn lâm học sĩ Trung thư xá nhân. Năm Nguyên Hòa thứ hai, ở chức Trung thư thị lang đồng Trung thư môn hạ bình chương sự, ra làm Hoài Nam Tiết độ sứ, sau dó về triều làm Tể tướng. Tháng Mười năm thứ chín, bị bạo bệnh chết, thọ năm mươi bảy tuổi, được tặng chức Tư không, ban thụy là Trung Ý. Trong hai sách Đường thư (Cựu -148, Tần

-146) đều có truyện về Lý Cát Phủ. Còn về Trịnh Khâm Duyệt thì trong Tần Đường thư (200) có phụ chép trong Nho học - Triệu Đông Hi truyện, cho biết đầu đời Khai Nguyên, Duyệt đang làm Huyện thừa huyện lần lần xin dự thi Ngũ kinh, đỗ, được ban chức Huyện úy Cũng huyện, Tập hiền viện hiệu lý, Hữu bổ khuyết, Nội cung phụng, thường bị Lý Lâm Phủ ghét. Vi Kiên chết, khi ấy Khâm Duyệt giữ chức Điện trung thị ngự sử, từng làm phán quan xét xử Kiên, sau biếm làm Dạ Lang úy, rồi qua đời.

***

Liễu thị truyện xuất xứ từ Quảng ký (485), dưới tiêu đề có chú thích Hứa Nghiêu Tá soạn. Tân Đường thư (200) - Nho học - Hứa Khang Tá truyện chép: “Niên hiệu Trinh Nguyên, dự thi Tiến sĩ hoành từ, liên tục trúng cách... các em trai đều thi đỗ tiến sĩ, mà Nghiêu Tá lại thăng tiến hơn cả. Lại thi đỗ khoa hoành từ, làm Thái tử hiệu thư lang. Năm thứ tám, Khang Tá tiếp nối. Nghiêu Tá làm đến Gián nghị đại phu.” Chuyện về Liễu thị cũng thấy có trong Bản sự thi của Mạnh Khải (Mục thứ nhất Tình cảm), Mạnh Khải tự nói rằng, niên hiệu Khai Thành khi ở Ngô Châu được nghe từ Đại Lương túc tướng Triệu Duy - người chính mắt thấy chuyện đó. Những điều ghi chép cũng giống như truyện của Nghiêu Tá, nên có thể biết đó là sự thật vậy. Hơn nữa, lại thuật chuyện sau khi Hoành đã tìm lại được Liễu thị tương đối tường tận, xin chép vào đây:

Về sau Hàn bãi việc trong phủ về nhàn cư, gần mười năm sau, tướng quân Lý Miễn trấnDi Môn, lại vời vào làmdưới trướng. Khi ấy Hàn đã già, những người đồng chức đều là những người sinh sau mới nhậm chức, không biết Hàn là ai, lại coi thường chuyện thi ca. Hàn thường buồn bực bất đắc ý, hầu như cáo bệnhnhà. Chỉ có người mạt chức là Tuần quan họ Vi là kẻ biết bậc danh sĩ, rất coi trọng Hàn. Một hôm, đã gần nửa đêm, Vi đến gõ cửa rất gấp, Hàn vội ra xem, thì thấy Vi mừng rằng: “Viên ngoại đã được thăng làm Giá bộ Lang trung Tri chế cáo!” Hàn rất lấy làm ngạc nhiên, bảo: “Làm gì có chuyện như vậy, hẳn là nhầm lẫn rồi!” Vi vào nhà ngồi, bảo: “Có tờ trạng nói còn khuyết chân Chế cáo, Trung thư sảnh đưa ra hai người, nhưng ngự bút không chấm được ai. Lại xin Hoàng thượng tự chọn người để sung chức ấy, Đức tông phê: ‘Lấy Hàn Hoành!’ Khi ấy có một người cùng tên họ như Hoành, làm Thứ sửGiang Hoài, lại đem cả hai tên vào hỏi lại vua. Ngự bút lại phê rằng:

Thành xuân khắp chốn hoa bay,

Vườn cung hàn thực liễu gầy gió nghiêng.

Hán cung chiều tối đuốc truyền,

Năm nhà hầu tước khói êm chia vào.

Lấy Hàn Hoành này!”

Vi lại mừng: “Đó chẳng phải là thơ của Viên ngoại sao?” Hàn đáp: “Phải!” “Thế thì có thể biết là không nhầm vậy!” Đến sáng thì Lý và liêu thuộc đều đến, khi ấy là đầu niên hiệu Kiến Trung.

Về sau, nhiều người đem chuyện này viết thành kịch khúc, đời Minh có Luyện nang ký của Ngô Trường Nhụ, đời Thanh có Chương Đài liễu của Trương Quốc Thọ.

***

Liễu Nghị truyện có trong Quảng ký quyển 419, chú thích xuất xứ từ Dị văn tập. Nguyên trong liêu đề không có chữ “truyện”, nay tăng thêm. Căn cứ vào nội dung văn bản, có thể biết là tác phẩm của Lý Triều Uy người Lũng Tây, nhưng bình sinh tác giả như thế nào thì không thể khảo cứu được.

Chuyện Liễu Nghị được người đời sau sử dụng rất nhiều: người đời Kim đã đem truyện làm tạp kịch (xem trong Huyền sách tây sương của Đổng Giải Nguyên); Đời Nguyên, thì Thượng Trọng Hiền có Liễu Nghị truyền thư, cải biên thành Trương sinh chử hải, Lý Hiếu Cổ cũng có Trương sinh chử hải. Đời Minh thì Hoàng Thuyết Trọng có Long tiêu ký. Dùng vào thơ ca cũng có rất nhiều. Hồ ứng Lân rất không ưa chuyện đó, từng nói: “Tiểu thuyết của người đời Đường, như chuyện Liễu Nghị đưa thư đến Động Đình, thật rất kỳ quái vô căn cứ, kẻ văn sĩ nên lập tức phỉ nhổ, mà bọn thi nhân lại thường thích dùng. Phàm chuyện dùng trong thơ ca, vốn bất luận hư thực, nhưng chuyện này đặc biệt giả dối không thấu tình. Kẻ đặt điều đến như thế, thực chỉ đem lời nghị luận cũng có thể giết chết được vậy. Hà Trọng Mặc thường vẫn răn người khác dùng chuyện đời Đường-Tống, mà lại có câu thơ rằng “Cựu tình triều thâm Liễu Nghị từ” (Quê cũ sóng sâu, đền Liễu Nghị), thì cũng thật là thô thiển vậy. Nay đặc biệt nêu ra đây, để kẻ viết thơ lấy làm răn.” (Bút tùng - 36). Theo như ý đó, thì phàm chuyện của người đời Hán, Tấn, vẫn còn cận tình, tuy dối vẫn có thể dùng được. Người xưa, lấy việc hợp tình hợp lý mà dối lừa, dù biết rõ vẫn vui lòng chấp nhận, đó cũng chưa phải là nghị luận xác đáng vậy.

***

Lý Chương Võ truyện xuất xứ trong Quảng ký quyển 340. Nguyên tiêu đề không có chữ truyện, cuối thiên có chú thích xuất xứ từ truyện của Lý Cảnh Lượng viết, nay căn cứ vào đó mà thêm vào. Về Cảnh Lượng, chỉ biết năm Trinh Nguyên thứ mười thi đỗ khoa tường minh chính thuật khả dĩ lí nhân (xin xem trong Đường hội yếu), ngoài ra chưa rõ.

***

Hoắc Tiểu Ngọc truyện xuất xứ từ Quảng ký (487), dưới tiêu đề có chú thích Tưởng Phòng soạn. Tưởng Phòng tự Tử Trưng (子徵微) (Toàn Đường văn chép là Tử Vi - 子微) người Nghĩa Hưng, hậu duệ của Tưởng Trừng. Năm Phòng mười tám tuổi, cha sai làm bài Thu hà phú, lập tức cầm bút viết ngay. Vu Giản bèn gả con gái cho. Lý Thân ngay trên tiệc cũng sai làm bài thơ Câu thượng ưng (Chim ưng trên tay áo giáp), rồi tiến cử cho. Sau, Phòng trải làm các chức Hàn lâm học sĩ Trưng thư xá nhân (xem Cổ kim vạn tính thống phả - 86, của Lăng Địch Tri đời Minh). Niên hiệu Trường Khánh, Thân mắc tội, Phòng cũng từ Thượng thư tư phong viên ngoại lang Tri chế cáo bị biếm ra làm Thứ sử Đinh Châu (Cựu Đường thư - Kính tông kỳ), ít lâu sau lại đổi đi Liên Châu.

Lý Ích, tự Quân Ngu, vốn người Lũng Tây, trải làm quan đến Hữu tán kỵ thường thị. Niên hiệu Thái Hòa, làm Lễ bộ Thượng thư rồi về trí sĩ. Bấy giờ lại có một người nữa, cũng tên là Lý Ích, làm chức Thái tử thứ tử, vì vậy người đời bèn gọi Quân Ngu là “Lý Ích văn chương” để phân biệt (xem trong Tân Đường thư 203 - Lý Hoa truyện). Đương thời, Lý Ích rất nổi tiếng về thơ, nhưng đến nay di tập thất lạc, Trương Chú đời Thanh từng tập hợp làm thành một quyển, khắc chung vào bộ Nhị dậu đường tùng thư, ở đầu có thu tháp chép các chuyện về Lý Ích rất đầy đủ. Hoắc Tiểu Ngọc tuy là tiểu thuyết, nhưng những chuyện ghi chép lại có nguyên nhân khác. Đỗ Phủ trong bài thơ Thiếu niên hành có câu: “Chàng trẻ áo vàng qua mấy lượt / Trước nhà chẳng thấy nước xuôi đông” tức chỉ về việc này. Khi ấy, Đỗ Phủ ở đất Thục, nhưng cũng có nghe được câu chuyện. Bạn của Lý Ích là Vi Hạ Khanh, tự Vạn Khách, người Vạn Niên, Kinh Triệu, cũng có truyện trong hai sách Đường thư (Cựu -165, Tần -162). Lý Triệu (trong Quốc sử bổ) nói: “Tán kỵ thường thị Lý Ích từ nhỏ đã có bệnh đa nghi”, mà truyền rằng sau khi Tiểu Ngọc chết, Lý Ích bèn thành ra đa nghi quá, thì có lẽ là phụ họa thêm vào để thành một chuyện lạ vậy. Thang Hải Nhược đời Minh từng đem chuyện này dựng thành vở kịch Tử tiêu ký.

Trên đây là về những truyện trong quyển II.

***

Tiểu thuyết của Lý Công Tá hiện còn bốn thiên truyện trong Thái Bình quảng ký, có ảnh hưởng rất lớn đến đời sau, nhưng thông tin về tác giả lại không dễ biết rõ. Theo như ông tự thuật trong văn bản truyện, thì có thể khảo xét được một số điểm như sau:

Năm Trinh Nguyên thứ mười ba, đi thuyền đến Tiêu Tương, Thương Ngô (theo Cổ Nhạc Độc kinh), mùa thu năm thứ mười tám, từ đất Ngô đến đất Lạc, tạm đậu thuyềnbờ sông Hoài, (theo Nam Kha Thái thú truyện)

Tháng Năm, năm Nguyên Hòa thứ sáu, làm chức Giang Hoài tòng sự nhận việc đi sứ đến kinh đô, trở về đến Hán Nam (theo Phùng ảo truyện). Mùa xuân năm thứ tám, bãi chức Giang Tây tòng sự, đi thuyền nhỏ xuống phía đông, dừng nghỉ lại Kiến Nghiệp (theo Tạ Tiểu Nga truyện). Mùa đông,Thường Châu (theo cổ Nhạc Độc kinh). Mùa xuân năm thứ chín, thăm đất Đông Ngô xưa, bơi thuyềnĐộng Đình, lên núi Bao Sơn (theo cổ Nhạc Độc kinh). Mùa hạ, năm thứ mười ba, mới về Trường An, qua bến sông Tứ (theo Tạ Tiểu Nga truyện).

Toàn Đường thi quyển cuối, có chép bài thơ của người đầy tớ Lý Công Tá. Trong phần bản sự, có viết giản lược: Sau khi Công Tá thi đậu tiến sĩ, làm chức Chung Lăng tòng sự, có người đầy tớ làm việc rất chăm chỉ, đã ba mươi năm. Một hôm, kẻ ấy để lại một bài thơ, rồi bèn nhảy lên trên không đi mất. Trong bài thơ có câu: Chuyên Mông sự khả thân, và có chú thích rằng: Công Tá tự là Chuyên Mông, ngờ rằng đó chính là tác giả Lý Công Tá ở đây. Tuy nhiên, không rõ Toàn Đường thi chép thông tin từ sách nào, chắc hẳn là bắt nguồn từ tạp thuyết của người đời Đường, nhưng hiện vẫn chưa kiểm chứng được. Đường thư (70) - Tôn thất thế hệ biểu có viên Thiên ngưu bị thân Lý Công Tá, là con của Hà Đông Tiết độ sứ Lý Duyệt, em của Linh Diên Sóc phương Tiết độ sứ Lý Công Độ, thì lại là một người khác. Đường thư - Tuyên Tông ký chép có Lý Công Tá, đầu đời Hội Xương, làm Dương phủ lục sự, năm Đại Trung thứ hai, vì liên lụy, hai lần bị tước quan chức, thì có vẻ là Chuyên Mông. Nhưng Lý Công Tá ấy, lại sinh đời Đại tông, đến đầu đời Tuyên tông vẫn sống, tuổi đã độ tám mươi rồi vậy. Nhưng mới chỉ có một đoạn văn ấy làm chứng, cũng chưa thể xác định chính xác được.

Cồ Nhạc độc kinh xuất xứ từ Quảng ký (467), với tiêu đề là Lý Thang, chú thích xuất xứ theo Nhung mạc nhàn đàm. Đây là tác phẩm của Vi Huyến, nhưng thiên truyện này là ngòi bút của Lý Công Tá đã rất rõ ràng. Đào Tông Nghi đời Nguyên trong Xuyết canh lục (29) viết: “Tô Đông Pha trong bài thơ Núi Đồ SơnHào Châu có câu: Xuyên tỏa Chi Kỳ thủy thượng hồn - Sông khóa Chỉ Kỳ nước còn đục, chú thích rằng: ‘Trình Diễn nói: Dị văn tập chép cổ Nhạc độc kinh: Vua Vũ trị thủy, đến núi Đồng Bách, bắt được thủy thần sông Hoài, sông Qua tên là Vu Chỉ Kỳ.”‘ Như vậy xuất xứ và tên thiên truyện đều đầy đủ, nay căn cứ vào đó mà sửa lại tiêu dề, và đính chính lại chỗ sai trong chú thích của Quảng ký.

Cồ Nhạc độc kinh là Công Tá tưởng tượng viết ra, mà khiến cho đương thời bị mê hoặc. Lý Triệu trong Quốc sử bổ - Thượng viết: “Sở Châu có người thuyền chài, bỗng câu được dây khóa sắt cổ ở dưới sông Hoài, kéo mãi không thấy hết, bèn bẩm lên quan. Thứ sử Lý Thang tập hợp nhân lực đến kéo. Kéo hết đây xích lên, chợt có con khỉ đột màu xanh nhảy ra khỏi mặt nước, rồi lại lặn xuống nước đi mất. Sau có kẻ xét trong Sơn Hải kinh thấy nói, có loài thú dưới nước hay làm hại người, Đại Vũ bèn khóa giữ nó dưới núi Quân Sơn, tên con thú ấy là Vô Chỉ Kỳ.” Xét trong bản sách Sơn Hải kinh hiện còn không thấy có câu như thế, và nó cũng không giống như một đoạn dật văn. Lý Triệu có lẽ đã bị lầm lẫn vì câu chuyện này của Lý Công Tá, lại nhớ nhầm cả tên sách vậy. Nhưng cũng không phải là Công Tá đã dựa vào dật văn trong Sơn Hải kinh mà tạo ra Nhạc Độc kinh vậy. Đến đời Minh, mới có người thu thập truyện ấy vào tập Cổ dật thư. Hồ Ứng Lân (Bút tùng - 32) cũng có thuyết, cho rằng “đó là truyện người đời Lục triều theo lối Sơn Hải kinh ứng tác vậy. Hoặc giả là văn chương hoạt kê bỡn đời của người đời Đường, từ cách đặt tên là Nhạc độc có thể thấy rõ. Đem câu chuyện vô cùng quỷ dị, để hậu thế hoặc có ké thích kể lại vậy. Thái sử Cảnh Liêm đời Tống cũng chép lại hơi khái quát, cốt chỉ là lấy vàn vui đùa. La Mật trong Lộ sử biện luận rằng có Vô Chỉ Kỳ, và người đời lại nói ngoa truyền rằng Đại Vũ thờ làm Tứ Châu đại thánh, đều là những chuyện dáng cười.” Văn bản dùng ở đây cũng có một số điểm khác với Quảng ký, nhưng tôi chưa xét được nguyên ủy căn cứ của bản nào tốt hơn, nếu gượng ép chỉ là tự ý mà thay đổi thôi, vì vậy mà không căn cứ vào đó để sửa chữa.

Chu Hy trong Sở từ biện chứng - Hạ, viết: “Chương Thiên vấn, Cổn trộm đất Tức nhưỡng của Thượng đế để ngăn nước lụt, ấy là lời dân gian tương truyền dưới đời Chiến Quốc, cũng giống như thói đời nay cho Tăng già hàng phục Vô Chỉ Kỳ, Hứa Tốn chém con giao thần thành tinh, vốn không có căn cứ, mà kẻ hiếu sự đem giả thác soạn tạo cho là thực vậy.” Ấy là đời Tống bắt đầu ngoa dụ Đại Vũ là Tăng già. Sách Dư địa ký thắng (44 - Hoài Nam đông lộ Hu Đi quân) của Vương Tượng viết: “Động Thúy Mẫu ở chùa Quy Sơn, tục truyền Tứ Châu tăng già hàng phục Thủy Mẫu ở đó.” thì lại một lần nữa ngoa truyền Vô Chỉ Kỳ thành Thủy Mẫu. Chử Nhân Hoạch trong Kiên Hồ tục tập (2), chép: “Sách Thủy kinh chép Đại Vũ trị thủy đến sông Hoài, thần sông Hoài hiện ra, hình trạng giống con vượn lớn, nắm vào đất, đất liền thành nước. Vũ sai Canh Thần bắt lấy, rồi khóa xích lại dưới núi Quy Sơn, sông Hoài bèn yên. Đến đời Minh, Cao Hoàng đế đi qua Quy Sơn, sai lực sĩ lôi lên mà xem, nhân kéo dây sắt đầy cả hai thuyền, và một ngàn người mới lôi dậy được. Chỉ thấy có một con vượn già, lông dài khắp người, rống to một tiếng, rồi lại nhẩy xuống dưới nước. Cao Hoàng đế vội sai đem dê, lợn cứng tế, cũng không có tai họa gì.” Ở đây lại ngoa truyền đoạn văn ấy là ở Thủy kinh, hơn nữa lại gán chuyện của Lý Thang cho Minh Thái tổ vậy.

***

Nam Kha Thái thú truyện xuất xứ từ Quảng ký - quyển 475, tiêu đề là Thuần Vu Phần, chú thích xuất xứ từ Dị văn tập. Truyện được viết năm Trinh Nguyên thứ mười tám, Lý Triệu có viết bài tán thêm vào cuối thiên. Nhưng niên hiệu Nguyên Hòa, Triệu soạn Quốc sử bổ, lại viết: “Đời gần đây, có kẻ viết văn tạo báng, như hai truyện Kê nhãn, Miêu đăng. Có kẻ kể chuyện vào hang kiến mà khen ngợi, là Nam Kha Thái thú của Lý Công Tá; có kẻ kỹ nhạc mà giỏi thơ ca, như Tiết Đào Thành Đô; có kẻ gia đồng mà hay chương cú, như nô bộc họ Quách (không nhớ tên). Đều là văn yêu vậy.” (quyển hạ). Ước độ mới qua mười năm, mà đã chê bai đến như thế, cũng khá lạ thay. Chuyện của Thuần Vu Phần cũng được lưu truyền rất rộng, thời Tống, ở Dương Châu đã có mộ của Nam Kha Thái thú (xem trong Dư địa ký thắng (37 - Hoài Nam đông lộ) dẫn Quảng Lăng hành lục). Thang Hiển Tổ đời Minh cũng căn cứ vào đó soạn vở kịch Nam Kha ký, câu chuyện càng được lưu truyền rộng rãi tới nay.

***

Lư Giang Phùng ảo truyện xuất xứ từ Quảng ký - quyển 343, chú thích xuất xứ từ Dị văn tập, chuyện rất giản lược, không giống như những truyện khác của Công Tá. Nhưng vì nó có thể khảo chứng tung tích của tác giả, nên cũng chép lại. Tiêu đề cũ trong Quảng ký không có chữ truyện, nay ghi thêm vào.

***

Tạ Tiểu Nga truyện xuất xứ từ Quảng ký - quyển 491, đề là Lý Công Tá soạn, không ghi xuất xứ sách nào, có lẽ đã từng lưu hành đơn lẻ chăng, nhưng các sách sử, chí đều không thấy nói đến. Lý Phục Ngôn đời Đường soạn Tục huyền quái lục, cũng chép rõ chuyện này, nên đương thời đã được người ta vô cùng khen ngợi. Cho đến đời Tống, đã hơi sai dị. Sách Dư địa ký thắng (34 - Giang Nam tây lộ) ghi chép và nhân vật ở Lam Giang quân, có Tạ Tiểu Nga, như sau: “Cha theo đoàn buôn vàng bạc từ Quảng Châu đem gia đình về kinh, thuyền qua bãi Bá Than, gặp cướp, cá nhà bị giết. Tiếu Nga bị rơi xuống nước, không chết, phải vào trong phố chợ xin ăn. Sau làm thuê cho nhà buôn muối họ Lý, thấy các đồ tửu khí sử dụngđó đều là những vật của cha mình khi xưa, mới ngộ ra kẻ cướp nhà mình khi trước là họ Lý vậy. Tiểu Nga đã quyết chí trong lòng, bèn giấu sẵn dao. Một tối, Lý sinh uống rượu, cả nhà đều say, Nga bèn giết hết cả nhà ấy. Quan trên nghe được chuyện, việc ấy bèn vang tới triều đình, vua đặc mệnh cho làm quan, Nga không nhận, nói: ‘Tôi đã báo được thù cha, ngoài ra không mong muốn gì cả, chỉ xin một am nhỏ để tu hành.’ Triều đình bèn dựng một chùa ni, cho Ngađó, nay chính là ngôi ni tựphường Kim Trì vậy.” Việc ấy cũng gần tương tự như truyện ở đây, nhưng lại xếp vào khoảng giữa Lý Mạc với Phó Phương, tức là cho Tiểu Nga là người cuối đời Bắc Tống vậy. Lăng Mông đời Minh viết truyện này thành tiểu thuyết thông tục (tức Phách án kinh kỳ -19), là căn cứ vào Quảng ký vậy.

***

Năm Trinh Nguyên thứ mười một, Bạch Hành Giản người Thái Nguyên viết Lý Oa truyện, cũng là theo mệnh của Lý Công Tá. Vậy là Công Tá không tự mình viết truyền kỳ ấy, mà lại giục những người đồng bối của mình viết ra. Truyện ấy nay có trong Quảng ký quyển 484, chú thích xuất xứ theo Dị văn tập. Thạch Quân Bảo đời Nguyên viết kịch Lý Á Tiên hoa tửu Khúc Giang trì, Tiết Cận Duyên đời Minh viết kịch Tú nhu ký đều căn cứ vào truyện ấy. Hồ ứng Lân (Bút tùng quyển 411), luận rằng: “Oa về sau giúp thu nạp họ Lý, chỉ đủ để chuộc tội phụ bạc bỏ rơi khi trước, thế mà những người kể truyện liền lập tức khen là người hiền, thì thật đáng chê cười vậy.” Đem nghĩa kinh Xuân thu để xét tội truyền kỳ, như vậy cũng không đúng. Hành Giản tự Tri Thoái (Tân Đường thư - Tể tướng thế hệ biểu chép, tự Thoái Chi), là em Bạch Cư Dị. Cuối đời Tánh Nguyên, thi đậu tiến sĩ. Năm Nguyên Hòa thứ mười lăm, nhận chức Tả thập di, thăng dần tới Tư môn viên ngoại lang Chủ khách lang trung. Mùa đông năm Bảo Lịch thứ hai, thì bị bệnh chết. Hai bộ Đường thư đều phụ chép truyện vào sau Bạch Cư Dị truyện (Cựu -166, Tần -119). Ông có để lại đi tập hai mươi quyển, nay không còn. Truyện truyền kỳ của ông còn một thiên nữa là Tam mộng ký, nguyên bản thấy trong Thuyết phu quyển 4. Đặc biệt, chuyện về Lưu u cầu trong đó được lưu truyền rất rộng, Hồ Ứng Lân (Bút tùng - 36) đã nói: “Những chuyện về mộng trong Thái Bình quảng ký đều tương tự như thế. Chỉ có truyện ấy là thực lục, còn những truyện khác đều bắt nguồn từ đó mà giả thác ra vậy.” Xét, truyện Phượng Dương sĩ nhân trong Liêu Trai chí dị của Bồ Tùng Linh đời Thanh, cũng là căn cứ vào truyện ấy vậy.

Sách Thuyết phu sau Tam mộng ký còn chép thêm một thiên nữa là Kỷ mộng cũng nói là sáng tác của Bạch Hành Giản, nhưng năm tháng ghi trong đó là tháng Sáu, năm Hội Xương thứ hai, bấy giờ Hành Giản chết đã mười bảy năm rồi, ngờ rằng là ngụy tạo hoặc chép lầm tên tác giả vậy. Xin phụ chép vào đây để kiểm chứng đầy đủ:

(Bạch) Hành Giản kể: Có người kiếm sống bằng nghề bán cháokhu hàng vải, chợ Tây, Trường An, họ Trương, không rõ tên, nhàlàng Quang Đức, rất giàu có. Con gái họ Trương, là một bậc quốc sắc vậy. Trương thị từng ngủ trưa, mộng thấy đến một nơi, nhà lớn của son, nghi trượng nghiêm trang, Qua cửa bước vào, trông thấynhà giữa dường như có thiết yến, bày nhạc, hai hành lang tả hữu đều chăng màn trướng. Có một viên lại áo tía dẫn Trương thị vào trướnghành lang phía tây, thấy có mười mấy người thiếu nữ trạc tuổi như mình, đều mặt hoa da phấn, trang sức chói ngời. Đến nơi rồi, viên lại bèn giục Trương thị trang sức, những người con gái khác đều giúp chải chuốt sửa sang tô son đánh phấn. Giây lát, thấy từ bên ngoài có tiếng truyền hô: “Quan Thị lang đến!” Trương thị nhòm trộm qua khe cửa, thấy có viên đại quan thắt đai tía. Anh trai Trương thị từng làm chức tiểu lại, nên nàng cũng có biết người ấy, bèn nói: “Là Lại bộ Thị lang Thẩm công đây mà!” Lát sau, lại có tiếng hô: “Quan Thượng thư đến!” Lại có kẻ biết được, đó là Tinh soái Vương công vậy. Lan lượt lại thấy hô liền rằng, có vị ấy vị ấy đến, đều là những ngôi lang quan trở lên, tất cả sáu, bảy người, ngồitrước sảnh. Viên lại áo tía nói: “Có thể ra được rồi.” Đám con gái bèn lần lượt tiến vào, tiếng kim thạch ti trúc réo rắt, vang động cả sảnh đường. Rượu say, quan soái Tinh Châu nhìn thấy Trương thị, có vẻ ưng ý, bảo rằng: “Nàng giỏi ngón nghề gì?” Trương thị đáp: “Thiếp chưa từng học âm nhạc.” Quan sai đem cây đàn cầm cho, Trương thị từ chối là không biết đàn. Quan nói: “Cứ thử gảy đi!” Bèn cứ gảy, liền thành khúc nhạc. Lại đưa cho cây đàn tranh, cũng như thế, rồi đàn tỳ bà, cũng vậy. Đều là những nhạc cụ bình sinh chưa từng tập chơi. Vương công nói: “E là nàng lại dời đi.” Bèn đọc cho một bài thơ rằng:

Chải đầu vấn tóc lối cung trang,

Hóng mát đêm thanh đứng trước sân.

Thềm trúc, cành trâm tay gõ nhịp.

Thanh ca một khúc ánh trăng ngần.

Trương thị nói: “Xin cho thiếp về từ biệt cha mẹ, ngày khác sẽ lại đến.” Chợt giật mình kêu lên, tỉnh dậy, tay còn nắm dải áo, nói với mẹ rằng: “Quan Thượng thư có để lại bài thơ!’, roi đòi lấy bút chép lại, Hỏi duyên do, nàng khóc mà kể lại giấc mộng, roi nói: Có lẽ con sắp chết chăng?” Mẹ giận nói: “Con nằm mơ thôi, sao lại nói ra những câu chẳng lành như thế?” Trương thị bèn bị ốm mấy ngày. Hôm ấy, họ hàng bên ngoại có người đem rượu nhắm tới, lại có người đem đồ ăn tới. Trương thị nói: “Cho con tắm rửa cho sạch sẽ.” Người mẹ bằng lòng, hồi lâu nàng bèn trang điểm đẹp đẽ đến nơi dự tiệc. Ăn xong, đi lạy chào cha mẹ cùng hết lượt khách khứa, nói: “Thời giờ đã hết, nay tôi phải đi rồi.” Rồi tự đắp chăn nằm ngủ. Cha mẹ cùng vây quanh, chốc lát thì Trương thị qua đời. Khi ấy là ngày mười lăm, tháng Sáu, năm Hội Xương thứ hai vậy.

***

Hai mươi năm trước, trong số những người đọc sách, có kẻ nào hơi khoáng đạt, cũng ngẫu nhĩ đem bài thơ Trường hận ca dạy cho con trẻ đọc. Truyện Trường hận của Trần Hồng viết cũng nhân đó được nhiều người biết đến, tôi còn nhớ trong Đường thi tam bách thủ hình như cũng có chép truyện ấy. Nhưng sự tích về Trần Hồng thì rất mờ mịt, duy ở mục Tiểu thuyết trong Tân Đường thư - Nghệ văn chí có ghi: Khai Nguyên thăng bình nguyên của Trần Hồng, một quyển, và chú rằng: “(Hồng) tự Đại Lượng, đời Trinh Nguyên làm Chủ khách lang trung.” Lại trong Đường văn túy (95) có Đại thống kỷ tự của Trần Hồng, chép rằng: “Khi còn nhỏ học theo sử gia, có chíviệc chép biên niên. Năm Đinh Dậu (xét: có lẽ là Ất Dậu) niên hiệu Trinh Nguyên, đỗ khoa Thái thường, mới bắt đầu nhàn cư toại chí, bèn soạn Đại thống kỷ ba mươi quyển... Năm thứ bảy, sách hoàn thành, nên dừng bút năm Tân Mão, niên hiệu Nguyên Hòa năm thứ sáu.” Trong Văn uyển anh hoa (392) có bài Thụ Khâu Trữ Trần Hồng viên ngoại lang chế của Nguyên Chẩn soạn, viết rằng: “Triều nghị lang, hành Thái thường bác sĩ, Thượng trụ quốc Trần Hồng, thảo luận kiên quyết, có thế cử sự được, khá cho làm Ngu bộ viên ngoại lang.” Từ đó có thể biết được đại lược con đường sĩ hoạn của ông. Trường hận truyện thì hiện có ba văn bản. Một trong Văn uyển anh hoa (794), người đời Minh lại phụ khắc một thiên vào phía sau, ghi xuất xứ theo Lệ tình tậpKinh bản đại khúc, câu văn khác rất xa, ngờ là đã qua tay bọn Trương Quân Phòng sửa chữa thêm thắt để tiện xem đọc, không đủ để căn cứ. Một bản nữa, trong Quảng ký (486), người đời Minh chép vào các tập tùng san đều là căn cứ vào bản này, được lưu truyền rộng rãi nhất. Nhưng so với văn bản trong Văn uyển, cũng có nhiều điểm dị đồng, thậm chí như 172 chữ từ đoạn “kỳ niên hạ tứ nguyệt” (Mùa hạ, tháng Tư, năm ấy) cho đến cuối thiên, sách Quảng ký chỉ chép là: “Đến năm Nguyên Hòa nguyên niên đời Hiến tông, Chu Chí úy Bạch Cư Dị có làm bài ca để nói chuyện này, gộp cả truyện của tú tài Trần Hồng soạn, đểđầu bài ca, gọi là Trường hận ca truyện”. Câu “Tú tài Trần Hồng soạn”, trong văn bản của Văn uyển không có, hậu nhân thì nhất định khó có thể đặt bừa ra được, có lẽ đương thời cũng có hai bàn giản lược và chi tiết chăng? Chúng ta chưa thể rõ được. Nay tôi thấy bản của Văn uyển anh hoa tương đối khó thấy, nên căn cứ vào đó để chép vào tập này, nhưng vì không có bài thơ, nên chép thêm từ Bạch thị Trường Khánh tập vào cho đủ.

Ngũ sắc tuyến (quyển hạ) có dẫn Trường hận truyện của Trần Hồng, viết rằng: “Quý phi được ban cho tắm ở ao Hoa Thanh, tựa sóng trong ba thước, gột rửa cho viên ngọc sáng, đến khi bước từ dưới nước lên, vẻ yếu đuối như không mang nổi áo lụa.” Nay xem trong ba văn bản đều không có đoạn thứ hai và thứ ba. Chỉ có trong Thanh tỏa cao nghị (quyển 7) - Triệu Phi Yến biệt truyện của Tần Thuần đời Tống sáng tác, có viết: “nước lan thang sóng sánh, Chiêu nghi ngồi tắmtrong, tựa như suối lạnh ba thước, thấm viên ngọc sáng.” Có lẽ do người dẫn lại đã có nhầm lẫn, chứ không phải là câu văn trong truyện này.

Căn cứ vào truyện này để viết truyền kỳ, có Trường Sinh điện của Hồng Phương Tư đời Thanh, đến nay còn Lưu truyền rộng rãi. Oa Ký Cư Sĩ cũng có vở tạp kịch Trường Sinh điện bổ khuyết, nhưng tôi chưa được thấy.

***

Đông Thành lão phụ truyện xuất xứ từ Quảng ký - quyển 485. Tống sử - Nghệ văn chí trong mục sử bộ truyện ký, có ghi nhận Đông Thành lão phụ truyện của Trần Hồng, 1 quyển. Như vậy nó đã từng lưu hành đơn lẻ. Cuối truyện, Giả Xương thuật lại chuyện trị loạn đời Khai Nguyên, rằng: “bấy giờ chọn kẻ sĩ, chỉ xét hiếu đễ hiểu người mà thôi, chưa từng nghe có chuyện chọn lựa từ tiến sĩ, hoành từ mà được người vậy”, cũng nói những ý giống như trong Khai Nguyên thăng bình nguyên. Lại chép người đương thời có câu rằng: “Sinh con biết chữ làm gì / Chọi gà đua ngựa hơn bề thơ ca / Con nhà Giả, tuổi mười ba / Thế mà phú quý vinh hoa ai bằng.” Cùng là truyện do Trần Hồng viết, nhưng câu ấy không được đời truyền tụng bằng câu “Sinh con gái cũng chớ lo / Sinh con trai cũng chớ cho là mừng”, là vì không có bài ca của Bạch Cư Dị vậy.

***

Tư trị thông giám khảo dị quyển 12, có dẫn truyện Thăng bình nguyên, nói rằng người đời cho là của Ngô Căng soạn, chép chuyện Diêu Nguyên Sùng theo vua đi săn bắn, không tạ ơn khi được phong chức, mà dâng mười việc xin vua chấp thuận, rồi mới phụng chiếu làm tướng. Tư Mã Quang có phản bác rằng: “Nếu quả như nói vậy, thì Nguyên Sùng đã dâng tấu không chính đáng. Hơn nữa, nếu dương thời, việc trong thiên hạ chỉ có mười điều ấy, thì nên nhân việc mà tấu xử, chứ há lại xin phê chuẩn trong một buổi? Chuyện ấy tựa hồ như kẻ hiếu sự đặt ra, thác danh của Ngô Căng, khó có thể tin cả được” Xét, Ngô Căng người Tuấn Nghi, Biện Châu, từ nhỏ có chí khí, thông hiểu kinh sử. Ngụy Nguyên Trung tiến cử rằng Căng có tài năng văn chương luận soạn, triều đình bèn có chiếu cho vào làm ở Sử quán, tu soạn quốc sử. Căng lại riêng soạn Đường thư, Đường xuân thu, chép sự giản dị rành mạch, người ta coi trọng như Đổng Hồ xưa, ông có truyện trong Đường thư (cựu -102, tân -132). Truyện Khai Nguyên thăng bình nguyên, sách Đường chí vốn cho là của Trần Hồng viết, đến Tống sử - Nghệ văn chí mục sử bộ cố sự, mới ghi: Ngô Căng soạn Trinh Quán chính yếu 10 quyển, và Khai Nguyên thăng bình nguyên 1 quyển. Ngờ rằng truyện này vốn không ghi tên người soạn, Trần Hồng hay Ngô Căng, đều là người đời sau đề vào. Hai người đều nổi tiếng trong việc viết sử, nên người sau muốn mượn tên để tăng thêm uy tín. Nay tôi tạm xếp vào sau Đông Thành lão phụ truyện, vì cớ chép theo Thông giám khảo dị, nên đề tên người viết là Ngô Căng.

Trên đây là về những truyện trong quyển III.

***

Nguyên Chẩn tự Vi Chi, người Hà Nội, Hà Nam, làm chức Hiệu thư lang rồi thăng dần tới Trung thư xá nhân, Thừa chỉ học sĩ. Lại từ Công bộ Thị lang làm Tể tướng, rồi ra làm Đồng Châu Thứ sử, đổi lĩnh Việt Châu, kiêm Triết đông Quan sát sứ. Đầu niên hiệu Thái Hòa, về triều làm Thượng thư tả thừa, Kiếm hiệu Hộ bộ Thượng thư, kiêm Ngạc Châu Thứ sử, Vũ Xương quân Tiết độ sứ. Tháng Bảy năm thứ năm, ông mất ở nơi trấn nhậm, thọ năm mươi ba tuổi. Hai sách Đường thư (Cựu -166, Tân -174) đều có truyện về Nguyên Chẩn. Đối với văn chương Nguyên Chấn lại có tiếng tăm rất lớn, từ nhỏ đã thường xướng họa với Bạch Cư Dị, đương thời những người luận về thơ ca gọi chung là “Nguyên-Bạch”, đặt tên cho lối thơ là “Nguyên Hòa thể”. Ông có Nguyên thị Trường Khánh tập một trăm quyển, và “Tiểu tập” mười quyển, nay chỉ còn lại sáu mươi quyển Trường Khánh tập.

Oanh Oanh truyện có trong Quảng ký - quyển 488. Nội dung câu chuyện rung động văn đàn, có sức ảnh hưởng rất lớn. Ngay khi ấy đã có các nhà thơ như Dương Cự Nguyên, Lý Thân... làm thơ để phổ biến. Đến đời Tống, có Triệu Lệnh Trù lấy truyện ấy viết Thương điệu Điệp luyến hoa (xem trong Hầu Thanh lục), đời Kim có Đổng Giải Nguyên soạn Huyền sách Tây sương, đời Nguyên có Tây Sương ký của Vương Thực Phủ, Tục Tây Sương ký của Quan Hán Khanh, đời Minh có Nam Tây Sương ký của Lý Nhật Hoa, Lục Thái Diệc cũng có Nam Tây Sương ký, Châu Công Lỗ có Phiên Tây Sương ký, đến đời Thanh, Tra Kế Tá cũng còn có vở tạp kịch Tục Tây sương.

Những vở tạp kịch và truyền kỳ dựa vào Oanh Oanh truyện soạn ra, đến nay chỉ có bản của Vương Thực Phủ và Quan Hán Khanh là dễ tìm. Hiện nay thì Noãn Hồng Thất của họ Lưu đã san định Huyền sách Tây sương, lại gom các tác phẩm khác như Thương điệu Điệp luyến hoa của Triệu Lệnh Trù đối chiếu so sánh tất cả mười quyển in thành Tây Sương ký thập tắc. Trên thị trường có nhiều, không khó để tìm được.

Trong Oanh Oanh truyện đã có tên Hồng Nương và Hoan Lang, nhưng riêng Trương sinh không thấy có tên. Vương Mậu trong Dã khách tùng thư - 29, viết: “Đời Đường có Trương Quân Thụy, gặp con gái họ Thôiđất Bồ. Thôi thị tiểu danh là Oanh Oanh. Nguyên Chẩn và Lý Thân có kể lại chuyện ấy, mà viết bài thơ Oanh Oanh ca.” Tôi ở nơi đất khách, không có Hầu Thanh lục của Triệu Lệnh Trù, nên không biết trong Thương điệu Điệp luyến hoa Trương sinh đã có ghi tên hay chưa. Nếu không thì đời Tống ắt còn có tiểu thuyết hoặc từ khúc, đã ghi tên cho Trương sinh là Quân Thụy, nay tôi tạm ghi vào đây, đợi có sách sẽ khảo chứng.

***

Chu Tần hành ký tôi đã đọc qua ba bản. Một bản trong Quảng ký quyển 489, một bản trong Văn phòng tiểu thuyết, dòng cuối có ghi “hiệu dính theo bản đời Tống”; và một bản phụ chép trong Lý Vệ công ngoại tập, là san bản đời Minh. Trong dó, hai bản sau tương đối tốt, nên tôi căn cứ theo dó đối chiếu lẫn nhau để chép vào đây, đồng thời bổ chính mấy chữ theo bản trong Quảng ký. Cả ba bản đều đề là “Ngưu Tăng Nhụ soạn”. Ngưu Tăng Nhụ tự Tư Ảm, vốn là người Địch Đạo, Lũng Tây, sống ở khoảng huyện Uyển, huyện Diệp. Đầu niên hiệu Nguyên Hòa, đứng đầu khoa thi đối sách hiền lương phương chính, nhưng chỉ trích những chính sự sai lầm của triều đình, đối chọi không tránh né với những kẻ quyền quý, do vậy mà bất đắc ý. Sau, ông làm quan đến Ngự sử trung thừa, Hộ bộ Thị lang đồng trung thư môn hạ bình chương sự. Lại nhiều lần bị biếm ra làm Tuần Châu trưởng sử. Đường Tuyên tông lên ngôi, bèn gọi ông về triều, làm Thái tử thiếu sư. Năm Đại Trung thứ hai, ông mất khi sáu mươi chín tuổi, được tặng chức Thái úy, thụy là Văn giản. Hai bộ Đường thư (Cựu -172, lần - 174) đều có truyện Ngưu Tăng Nhụ. Tăng Nhụ tính cứng rắn, với Lý Đức Dụ rất ghét nhau, ai nấy cùng đóng cửa với nhau, suốt đời không hòa giải được. Ông hay viết các truyện chí quái, có Huyền quái lục 10 quyển, nay đã thất truyền, chỉ còn lại một truyện này. Nhưng Chu Tần hành ký không phải thực sự là tác phẩm Ngưu Tăng Nhụ viết. Như Tiều Công Vũ (Quận trai độc thư chí -13) nói: “Giả Hoàng Trung cho là của Vi Quán soạn. Quán là môn nhân của Lý Đức Dụ, nên viết chuyện ấy để vu cho Tăng Nhụ”. Xét, bấy giờ có hai người tên là Vi Quán, đều từng là Trung thư xá nhân. Một người, năm mười chín tuổi vào Quan Trung, dự thi tiến sĩ, năm hai mươi mốt tuổi đỗ đầu, sau khi yết bảng được làm Tả thập di, đầu niên hiệu Đại Trung giữ chức Liêm sát Quế Lâm, ít lâu sau, lại làm Chủ khách phân ti (xin xem trong Quế Lâm phong thổ ký của Mạc Hưu Phù). Một người tự là Mậu Hoằng, người Vạn Niên, Kinh Triệu, là con của Vi Chính Khanh, em của Vi Hạ Khanh, “thi đậu tiến sĩ, làm quan tới Trung thư xá nhân, rất thần thiết với Lý Đức Dụ... Lý Tông Mẫn rất ghét, Đức Dụ bị bãi, ông cũng bị biếm ra làm Minh Châu trưởng sử.” (Xem trong Tần Đường thư (162) - Hạ Khanh truyện) Như vậy đó chính là người viết Chu Tần hành ký.

Hồ Ứng Lân (Bút tùng - 32) nói: “Trong truyện có những câu như ‘con trai của Thẩm bà làm thiên tử’, có thể nói là gốc rễ rất sâu xa. Riêng lấy làm lạ rằng, Tư Ảm mắc vào cái lỗi sàm báng lớn như vậy mà không tự biết, là cớ sao? Hai đảng Ngưu, Lý khúc mắc với nhau, còn lớn hơn đất Lỗ tới đất Vệ. Ngưu soạn các truyện trong Huyền quái, không có một lời nào giá họa cho Lý, mà đồ đáng của Lý lại làm ra chuyện này đế hại Ngưu. Ôi chao! Hai kẻ ấy, dụng tâm như thế nào có thể thấy rõ vậy! Cho đến khi Ngưu dừng công danh, mà con cháu mấy đời còn quý thịnh. Còn Lý ôm cao tài cái thế, công trạng hơn đời, rốt cuộc phải trầm luân hải dảo, chẳng phải là quả báo cho tội đố kỵ khắc bạc ư? Nên ta nhân truyện này, mà báo rộng cho những ké chỉ chuyên vu cáo sàm báng trên đời được biết.” Mong ở chuyện quả báo linh ứng, thực không đủ để chúng sự hãi.

Nhưng xem trong Chu Tần hành ký luận của Lý Đức Dụ viết, để định đem truyện ấy khiến cho Tăng Nhụ phải diệt tộc, thì âm mưu quỷ quyệt thật đáng sợ vô cùng. Những người xa lánh ghét bỏ ngày càng nhiều, cũng là phải vậy. Bài luận ấy vẫn còn trong tập của Dụ (Ngoại tập 4), nay chép vào dưới đây:

“Lời phát ra từ trong lòng, tình hiện racâu nói, thì ngôn từ vốn là từ chí khí mà ra vậy. Cho nên, xét lời nói, mà biết nội tâm, xem ngôn từ mà hay ý tứ vậy. Ta thường nghe Thái Lao thị (Lương Quốc Lý công từng gọi Ngưu Tăng Nhụ là Thái Lao. Tên của Lương công không tiện nói, nên không nêuđây) thích cho thân mình là kỳ quái, hành động của mình là khác thường, cho họ mình là ứng với câu sấm thụ mệnh quốc gia, rằng: “Thủ vĩ tam lãn lục thập niên, Lưỡng giác độc tử tứ cuồng điên, Long xà tương đấu huyết thành xuyên.’ (Đầu đuôi ba lân sáu mươi năm, Nghé non hai sừng thỏa cuồng điên, Rắn rồng giao chiến máu thành sông) Kịp đến khi soạn Huyền quái lục, nói nhiều câu ẩn ngữ, người ta không thể hiểu được. Hoặc có người có thể hiểu được một, hai, thì tất phụ hội nói thêm vào. Dung cho việc họ Tư Mã cướp dần nhà Ngụy, dùng duyên do mà Điền Thường lấy được nước Tề. Cho nên, từ phẩm trật thấp hèn, lên đến Tể tướng, mà bè đảng như núi, không thể lay động. Những ai có ý muốn lay chuyển, thì thảy đều bị vu hãm, chẳng kẻ nào không cứng lưỡi, ghé nhìn, việc ấy đã được nêu cả trong Nhật lịch của Lưu Kha ở Sử quán.

Ta được truyện Chu Tần hành ký của Thái Lao, xem đi xem lại chuyện Thái Lao cho mình tụ hội cùng các hậu phi của đế vươngcõi âm, ý muốn chứng tỏ mình chẳng phải là hàng bề tôi của người khác, mà hòng có ý ‘điên cuồng’ vậy. Cho tới việc bỡn Đức tông là ‘con trai Thẩm bà’, dám gọi Hoàng hậu của Đại tông là ‘Thẩm bà’, thì thật khiến người ta phải run sợ tận xương tủy. Có thể coi là vô lễ với quân vương quá lắm vậy! Ôm chí khác mà hòng tỏ rõ lời sấm truyền vậy! Ta từ nhỏ vẫn phục câu nói của Tang Văn Trọng rằng: ‘Thấy kẻ vô lễ với vua của mình, như diều cắt truy đuổi se sẻ vậy’, cho nên để ý đến Thái Lao đã lâu rồi. Trước đây, khi coi chính sự, ta đã muốn đem hình luật mà trị tội, nhưng sức chưa thắng nổi đành phải thôi. Ta đọc quốc sử, thấy đời Khai Nguyên, quan Ngự sử là Nhữ Nam tử Lượng đàn hặc Ngưu Tiên Khách, cho là họ (Ngưu) hợp với lời đồ sấm. Tuy có vẻ đúng, nhưng chưa hợp với số ‘tam lân lục thập’. Từ khi Bùi Tấn quốc cũng với các vị tòng huynh Dư Lương quốc (không tiện nêu tên), Bành Nguyên (Trình), Triệu Quận (Thân), ghét Thái Lao như cừu thù, rất giống chí ta, chẳng phải là vì nỗi phẫn oán riêng, mà bởi ghét hắn ứng với câu sấm vậy. Khi Thái Lao trấnTương Châu, đã phán ‘Hạ Vũ tông giám quốc trạng’ (Biểu mừng Vũ tông coi việc nước) của Nhạc Khôn - Thứ sử Phục Châu, rằng: ‘Việc thường không có gì đáng mừng’, có phải chăng hắn đã cậy vào họ của mình mà dám như vậy ư?

Không lâu sau, ta lại coi chính sự, định tố giác ra, nhưng chưa có lý do. Đến khi bình định Chiêu Nghĩa, bắt được bức thư của hắn kết giao với Lưu tòng gián, mới nhân đó đuổi đi. Ôi chao, làm kẻ bề tôi mà âm mưu nghịch tiết, chẳng riêng người muốn trừ diệt, mà quỷ thần cũng muốn trừ diệt vậy. Phàm những kẻ thường kết giao với Thái Lao, chẳng kẻ nào không phải là bọn vô lại hạ lưu, mà ứng làm trong ngoài cho nhau vậy. Ý chừng thấy Thái Lao có hy vọng, mà định giúp mệnh vậy, ấy cũng là tin hắn hợp với mệnh trời mà làm như thế. Hoặc giả trong ngoài cùng khép tội ta vì sự yêu ghét của Thái Lao, bởi vậy ta mới làm rõ luận này, để mọi người biết rõ chí ta. Chỉ hận rằng, ta chưa kịp diệt tộc hắn, thì lại bị bãi quan, há chẳng phải là bậc vương giả không chết ư? Nhưng để mầm họa cho nước, cũng là tội lớn của ta vậy. Nếu như có người nào cùng chí với ta, kế tục giữ chính sự, thì nên vì vua mà trừ họa. Vận lịch nước nhà đã có số định, ý chừng chẳng phải ngẫu nhiên, nếu chẳngđời này, tất sẽđời con cháu. Nên đem tất cả lớn nhỏ nhà Thái Lao, đều khép vào hình pháp, thì hình phạt xác đáng mà xã tắc yên ổn, không phải hoạn nạn trong hai trăm bốn mươi năm sau vậy. Ôi! Như ta, đạo giúp vua, phân cách bởi minh thời, lòng oán ghét, dám lỗi cùng tuổi trẻ? Nhân đưa ngòi bút mà tỏ niềm phẫn cũ. Cũng biên lại dấu tích truyện Hành ký dưới đây.”

Trong bài luận có nêu ra tên Lưu Kha, cũng là bè đảng của Lý Đức Dụ. Nhật lịch gọi đầy đủ là Ngưu dương nhật lịch, “ngưu dương” ý chỉ Ngưu Tăng Nhụ, và Dương Ngu Khanh vậy, nội dung chê bai hai người vô cùng. Sách ấy từ lâu đã mất, nay chỉ còn bản được thu thập in trong Ngẫu hương linh thập của Liêu Thuyên Tôn. Lại có Hoàng Phủ Tùng soạn Tục ngưu dương nhật lịch, sách cũng đã mất. Tư trị thông giám khảo dị (quyển 20) dẫn một điều, bên cạnh Chu Tần hành ký là lời phê phán chửi rủa gia thế Ngưu Tăng Nhụ rất thậm tệ, dưới đây chép lại giản lược:

Thái Lao sớm mồ côi cha. Mẹ là Châu thị, phóng đãng vô hạnh. Hương lý đều nói: “Anh em đến hổ thẹn, nên bắt tái giá.” Châu thị đã tuyệt nghĩa với chồng trước rồi, kịp đến lúc Thái Lao quý hiển, xin truy tặng cho mẹ. Kinh Lễ có câu: “Mẹ của thường dân chết, cớ chỉ lại đến miếu họ Khổng mà khóc?” Lại có câu: “Không phải vợ của Cấp, thì không phải là mẹ của Bạch,”[1] Mà vợ của Lý Thanh Tâm lấy Ngưu Ấu Giản, thì như Hạ Hầu Minh đã nói rằng: “Hồn như có linh, chồng trước chẳng nhận dưới âm phủ. Chết mà làm được, chồng sau tất tố với trời xanh.” Khiến cho mẹ mình thành âm hồn thất hạnh không biết theo về đâu, thì trên dối thánh triều, dưới khinh vong phụ, có được coi là người trung hiếu trí thức hay không? Soạn Chu Tần hành ký, gọi Đức tông là “con trai Thẩm bà”, gọi Đốc Chân hoàng thái hậu là “Thẩm bà”. Ấy thực là vô quân quá lắm vậy!

Nên chi, điều mà Lý (Đức Dụ) công kích Ngưu (Tăng Nhụ), chủ yếu là ở điểm họ (của Ngưu) ứng với câu sấm vĩ, lại có tâm địa không cam làm kẻ bề tôi, mà việc Chu Tần hành ký gọi vua Đức tông là “con trai Thẩm bà” đã có thể chứng minh rõ tội trạng. Cho nên Lý Đức Dụ mới phụ thêm bài luận ở sau, Hoàng Phủ Tùng cũng viết Tục lịch nghiêm khắc chê trách. Nay Cùng sầu chí của họ Lý tuy vẫn còn (Lý Văn Nhiêu ngoại tập - quyển 1 đến 4), song ít người đọc. Huyền quái lục của họ Ngưu cũng bị mất từ lâu, chỉ còn tồn tại trong các tập lục của hậu nhân. Riêng thiên truyện này là được san khắc nhiều lần trong các tùng thư, khiến cho người đời nhờ đó mà càng biết đến tên tuổi Ngưu Tăng Nhụ. Thời thế đã đổi thay, oán hờn hay thân thiết đều đã không còn, kết quả sau cùng, lại thường thường chẳng phải là điều khi ấy có thể liệu trước được vậy.

***

Trong Ca thi biên -1 của Lý Hạ, có bài Tống Thẩm Á Chi ca, lời tựa nói: Năm Nguyên Hòa thứ bảy, tiễn Thẩm Á Chi thi trượt về Ngô Giang, cho nên thơ viết rằng:

Ngô Hưng tài tử oán xuân phong,

Ngập lối hoa đào vạn dặm hồng.

Cành trúc tử ti, con ngựa nhỏ,

NhàTiền Đường đông lại đông.

Trong thơ lại có câu:

Bộ lễ lựa tài, trời sáng lóa,

Ném bỏ vàng mười, cởi long mã.

Mang sách về sông vào cửa nhà,

Thương chàng khó nhọc nào ai tá?

Nhưng trong Đường thư đã không biết rõ hành trạng của Á Chi, chỉ thấy trong Văn uyển truyện tự có nhắc đến tên ông. May mắn rằng Thẩm Hạ Hiền tập đến nay vẫn còn, lại khảo xét trong Đường thi kỷ sự của Kế Hữu Công đời Tống, Đường tài tử truyện của Tân Văn Phòng đời Nguyên, cũng có thể biết được đại lược.

Thẩm Á Chi tự Hạ Hiền, người Ngô Hưng. Năm Nguyên Hòa thứ mười, đỗ tiến sĩ, trải làm Điện trung thị ngự sử, Nội cung phụng. Đầu niên hiệu Thái Hòa, làm Phán quan cho Đức Châu hành doanh sứ giả Bách Kỳ. Kỳ bị biếm quan, Á Chi cũng bị giáng làm Nam Khang úy, cuối cùng làm Dĩnh Châu duyên. Thẩm Hạ Hiền tập vốn có chín quyển, nay là mười hai quyển, là vì người sau có gia thêm, trong đó có ba thiên truyền kỳ, đều có chép trong Thái Bình quảng ký, và chú thích xuất xứ theo Dị văn tập, câu chữ nhiều chỗ khác với văn bản trong tập. Nay căn cứ theo tập gốc chép lại.

Tương trung oán từ xuất xứ từ Thẩm Hạ Hiền tập quyển 2. Quảng ký trong quyển 298, chép tiêu đề là Thái học Trịnh sinh, không có tựa và ba mươi sáu chữ cuối sách từ chỗ “Năm Nguyên Hòa thứ mười ba...” đến hết, câu văn cũng khác nhiều, có lẽ khi Trần Hàn biên soạn Dị văn tập đã san cải đi chăng? Nhưng đại để văn bản trong bản tập là chính xác hơn. Duy chữ “tùy ngã” viết thành “tọa ngã” thì dường như Quảng ký hay hơn. Nhưng Á Chi lại hay thích viết những câu không trơn tru, nên nay cũng không lấy gì để quyết đoán được. Nên điểm dị đồng tuy nhiều, cũng không nên nói lại nữa.

***

Dị mộng lục trong quyển 4 Thẩm Hạ Hiền tập, Cốc Thần Tử đời Đường đã thu lượm chuyện đó vào tập Bác dị chí. Quảng ký chép trong quyển 282, ghi tiêu đề là Hình Phượng, so sánh với văn bản trong tập của ông thì thiếu hơn hai mươi chữ, Vương Viêm thì ghi là Vương sinh. Vương Viêm là em của Vương Bá, cũng giỏi thơ, không hiểu vì sao Dị văn tập lại bỏ mất tên. Thẩm Hạ Hiền tập nay có bản khắc in của Quan cổ đường của họ Diệp ở Trường Sa, và bản ảnh ấn của Hàm Phân lâu ở Thượng Hải, hai mươi năm trước thì rất ít thấy. Tập mà tôi được xem là bản của Tiểu Thảo Trai ảnh sao, có chép ba thiên truyền kỳ, lại đối chiếu sửa chữa theo sao bản của Bát Thiên Quyển Lâu của họ Đinh. Cùng là 12 quyển Thẩm tập, nhưng câu chữ lại cũng có dị đồng, không biết đâu là đúng. Như câu thơ của Vương Viêm: “Trạch thủy táng kim thoa” (Thoa vàng chọn nước chôn), chỉ có bản của Tiểu Thảo Trai như thế, còn các bản khác đều viết là “trạch thổ” (chọn đất). Nhưng cũng không thể xác định ngay “trạch thủy” là sai. Những khác biệt như vậy rất nhiều, xin không nêu hết ở đây. Ấn bản đã dần được lưu hành rộng rãi, dễ dàng tìm kiếm, bạn nào muốn tìm hiểu tường tận tự mình có thể tìm nguyên thư để xem xét vậy.

Trong mộng thấy múa Cung loan, cũng thấy trong các tiểu thuyết khác cùng đời Đường. Trong Dậu Dương tạp trở (14) của Đoàn Thành Thức có chép: “Đầu niên hiệu Nguyên Hòa, có kẻ sĩ nhân, đã quên lên họ, nhân say rượu nằmtrong sảnh. Kịp tỉnh dậy, thấy đám đàn bà con gái trên bức bình phong cổ đều kéo nhau hết xuống trước giường múa hát, ca rằng:

Trường An thiếu nữ dạo xuân dương,

Nào chốn xuân dương chẳng đoạn trường?

Tay múa Cung yêu, chừng chẳng nhớ,

Mày ngài suông đượm chín thu sương.

Trong bọn có người để hai bím tóc, hỏi rằng: ‘Thế nào là Cung yêu?’ Người vừa hát cười đáp: ‘Cô không thấy tôi làm Cung yêu ư?’ Bèn ngửa đầu ra phía sau, uốn cong eo lưng như cánh cung, cho tóc chạm tới đất. Sĩ nhân kinh hãi, nhân cất tiếng quát lên. Bỗng tất cả đã lên cả trên bình phong, không thấy gì khác cả.” Bài ca ấy so với bài trong Dị mộng lục đại thể giống nhau, có lẽ đều từ một bài mà diễn biến ra. Nhạc Sử đời Tống soạn Dương Thái Chân ngoại truyện, trong quyển thượng cũng có chú thích ghi chuyện Dương Quốc Trung nằm trông thấy các nữ nhân trên bình phong xuống trước giường xưng tên và ca múa. Trong đó có khúc Sở cung cung yêu, cũng lại do những ghi chép trong Dậu Dương tạp trở mà truyền ngoa thêm. Phàm tiểu thuyết lưu truyền, đại thể dần càng rộng rãi, càng biến đổi, nhưng kê cứu gốc rễ, kỳ thực là một vậy.

***

Tần mộng ký thấy trong Thẩm tập quyển 2, và Quảng ký - 282, với tiêu đề là Thẩm Á Chi, không khác nhau mấy. “Kích thể vũ” nên là “kích bác vũ” (đập vai múa), “truy tửu” nên là “trí tửu” (bày rượu), các bản đều lầm. Chữ “kim” trong “như kim nhật” (đến ngày nay) ngờ là diễn dịch thêm thắt, bản của Tiểu Thảo Trai có, còn các bán khác đều không có.

***

Vô Song truyện xuất xứ Quảng ký - quyển 486, có ghi chú Tiết Điệu soạn. Điệu người Bảo Đỉnh, Hà Trung, dung mạo đẹp đẽ, người ta vẫn gọi là “bồ tát sống”. Năm Hàm Thông thứ mười một, đang làm Hộ bộ viên ngoại lang, được gia phong làm Giá bộ lang h ung, sung Hàn lâm thừa chỉ học sĩ, năm sau lại gia thêm Tri chế cáo. Quách phi thích diện mạo Điệu, nói với Ý tông rằng: “Phò mã có được như Tiết Điệu không?” ít lâu sau Điệu bị bạo bệnh chết, tuổi mới bốn mươi ba, khi ấy là ngày 26 tháng Hai năm Hàm Thông thứ mười ba, người đời cho là bị trúng độc (xem trong Tân Đường thư - Tể tướng thế hệ biểu, Hàn uyển quần thưĐường ngữ lâm - 4). Hồ ứng Lân (Bút tùng - 41) nói: “Vương Tiên Khách... việc rất lạ nhưng chẳng hợp tình, ấy là vì nhuận sức quá đáng vậy. Hoặc là chuyện không hề có thực, không biết được.”

Xét, Phạm Sư trong Vân khê hữu nghị (thượng) chép: “Có tú tài Thôi Giao, ngụ cư ở Hán Thượng, tinh thông văn chương tài nghệ, nhưng của cải không có gì. Không bao lâu, Giao tư tình với nữ tỳ của người cô, chỉ có Nguyễn Hàm biết chuyện ấy. Người nữ tỳ rất xinh đẹp, lại giỏi âm luật, có thể nói là hạng nhất ở Hán Nam. Người cô đem nữ tỳ ấy bán cho quan liên soái, quan liên soái rất yêu, coi không khác gì Vô Song, trả cho bốn mươi vạn tiền, mà sủng ái lắm. Giao thương nhớ mãi không nguôi, bèn gắng làm thân với người trong phủ quan, chỉ mong được một lần thấy lại nàng. Người nữ tỳ nhân ngày Hàn thực ra ngoài quét mộ, vừa vặn gặp Giao đứng dưới gốc cây liễu, hai người cùng khóc lóc, thề nguyện nước non. Giao tặng cho nàng một bài thơ rằng:

Công tử vương tôn dấu bụi trần,

Lục Châu rơi lệ ướt đầm khăn.

Cửa hầu dấn bước sâu như bể,

Từ bấy chàng Tiêu chẳng biết quen.

Thơ đến tai liên soái, quan bèn đem nàng trả lại cho Giao. Dưới chỗ “Vô Song” nguyên có chú thích rằng: “Tức ái thiếp của Tiết thái bảo, đến nay còn thấy trên tranh vẽ.” Như vậy thì Vô Song chẳng những có thực, mà bấy giờ còn rất được truyền tụng. Ngờ rằng nửa đầu câu chuyện, có lẽ tương tự như chuyện người nữ tỳ của cô Thôi Giao: Điệu đã đổi nhà Tiết thái úy thành cung cấm để che giấu ngôn từ. Nửa sau câu chuyện thì thêm thắt nhiều, nên có điểm hơi trái với sự lý vậy. Lục Thái Thường đời Minh đã lấy chuyện này soạn vở kịch Minh châu ký.

***

Thượng Thanh truyện của Liễu Trình có trong Tư trị thông giám khảo dị quyển 19. Tư Mã Quang bác rằng: “Nếu tin như chuyện này, thì Tham bị người ta cướp, Đức tông há lại nói ngược lại là “nuôi dưỡng thích khách”. Huống chi, Lục Chí là bậc hiền tướng, sao chịu làm chuyện như thế. Dù cho muốn hãm hại Tham, cũng đâu thiếu cách, há lại chịu làm trò trẻ con ấy. Thật chẳng hợp nhân tình.” Chuyện này cũng thấy trong Thái Bình quảng ký quyển 275, tiêu đề là Thượng Thanh, chú thích xuất xứ từ Dị văn tập. “Tướng quốc Đậu công” viết là “Thừa tướng Đậu Tham”, đoạn sau phàm những chữ “Đậu công” đều chỉ viết một chữ “Đậu”. Sau chỗ “lệ danh dịch đình” 棣名掖庭 (sung làm nô tỳ trong cung) có thêm hai chữ “thả cửu” 且久 (lâu sau); trước chữ “nộ Lục Chí” 怒陆贄 (tức giận Lục Chí) có năm chữ “chí thị đại ngộ nhân” 至是大悟因 (đến đó mới ngộ ra, nhân); chữ “lão” 老 (lão) viết thành “giá” 這(đó); sau mấy chữ “tứ hành môi nghiệt” 四行媒孽 (thỏa sức gây mối nghiệt) có bốn chữ “thừa gián công chỉ” 乘間攻之 (thừa cơ công kích); sau chữ “đặc sắc” 特敕 (đặc ban sắc chỉ) có chữ “tước” 削. Ngoài ra còn một số điểm sai khác nhỏ nữa, xin không nêu hết ở đây. Truyện này vốn cùng với Lưu U Cầu truyện cùng phụ chép sau Thường thị ngôn chỉ. Đó cũng là một tác phẩm khác của Liễu Trình. Quận trai độc thứ chí (3) cho biết, tác phẩm đó là “ghi lại những lời nói của ông nội là Liễu Phương”. Liễu Phương người Hà Đông, Bồ Châu, có con trai là Đăng, Miện. Con Đăng là Cảnh, xin xem truyện trong Tân Đường thư (132). Trình tức là anh em con chú bác với Cảnh vậy.

***

Dương xương truyện xuất xứ Quảng ký - quyển 491, nguyên đề là Phòng Thiên Lý soạn. Thiên Lý tự Hộc Cử, người Hà Nam, xem trong Tân Đường thư - Tể tướng thế hệ biểu. Nghệ văn chí ghi nhận Phòng Thiên Lý soạn Nam phương dị vật chí -1 quyển, Đầu hoang tạp lục -1 quyển, và có chú rằng: “Đậu tiến sĩ đầu niên hiệu Thái Hòa, lĩnh chức Cao Châu Thứ sử”, ông giữ chức quan ấy đến khi không làm quan nữa.

Truyện này ghi chép giản dị, không có vẻ như một truyện truyền kỳ. Trong Vân Khê hữu nghị (quyển thượng) lại có một thiên truyện đề là Nam Hải phi, kể chuyện bác sĩ Phòng Thiên Lý mới thi đỗ, xuống chơi Lĩnh Kiểu, có tiến sĩ Vi Bàng từ Nam Hải, cho đưa Triệu thị tặng cho Thiên Lý làm thiếp. Thiên Lý đi chơi đã mỏi quay về kinh, hai người tạm nam bắc chia tay đôi ngả. Qua Tương Châu, gặp Hứa Hồn, Thiên Lý đem Triệu thị mà ủy thác. Hứa Hồn đến nơi, định đem củi gạo ra trợ giúp cho, thì Triệu thị đã theo Vi tú tài rồi. Hứa Hồn nhân làm thơ báo cho Phòng rằng:

Xuân phong ngựa trắng cương vàng,

Đương mùa tầm ngủ chửa mang dâu về.

Năm canh mưa tối mong bề,

Trăm năm không chí đợi kỳ thu sương.

Đai thêu dây sắn vấn vương,

Quần là thấy nhuốm bên đường cỏ xanh

Báo du tử bớt hận tình,

Nguyễn vừa đi đã về dinh Lưu rồi!

Phòng hay chuyện, buồn đau than khóc tưởng có thể chết được, v.v. Truyện này có thể được Phòng Thiên Lý viết sau khi nhận được tin báo ấy, để gửi gắm niềm cảm khái chăng?

Nhưng, Vi Hộc trong Tài điệu tập (10) lại cho bài thơ của Hồn là khuyết danh, làm bài thợ tiêu đề rằng; “Có kẻ đề bài thơ oán hận việc ly biệt ở Tân Phong Quán, nhân hỏi nha lại ở trạm dịch, nghe được sự thực, ngẫu nhiên viết đùa bốn vần.”

***

Phi Yên truyện xuất xứ theo Thuyết phu quyển 33 chép từ Tam Thủy tiểu độc của Hoàng Phủ Mai soạn. Truyện cũng có trong Quảng ký - quyển 491, nhưng tên Phi Yên 飛煙 viết thành Phi Yên 非煙. Tam Thủy tiểu độc vốn có ba quyển, xin xem trong Tống sử - Nghệ văn chí và Trực trai thư lục giải đề, nay chỉ còn hai quyển, khắc trong Bão kinh đường tùng thư của Lư thị, và Vân Tự Tại Khám tùng thư của Mâu thị. Theo trong sách có thể khảo xét được, Hoàng Phủ Mai tự Tuân Mĩ, người An Định (Tam Thủy là tên ấp thuộc An Định vậy), cuối đời Hàm Thông, giữ chức Huyện lệnh Lỗ Sơn ở Nhữ Châu. Niên hiệu Quang Khải, Đường Hi tông ở Lương Châu, Mai được điều tới nơi hành tại. Diêu Tư đời Minh có lời bạt rằng: “Năm Canh Ngọ niên hiệu Thiên Hựu, Mai trọ ở Phần Tấn, viết sách này.” Nay trong sách không thấy nói tới chuyện ấy, có lẽ là ở lời tựa tự viết của Mai, mà nay đã mất rồi. Bản khắc của Mâu thị có một cuốn dật văn, thu lục Phi Yên truyện, nhưng chỉ là căn cứ vào truyện mà Quảng ký đã dẫn, so với văn bản trong Thuyết phu có sai khác chút ít, và thiếu mất hơn trăm chữ cuối truyện. Quảng ký không nói truyện ấy xuất xứ từ sách nào, hẳn là truyện ấy đã từng lưu hành đơn lẻ, cho nên tôi vẫn thu lục vào đây.

***

Cầu Nhiêm khách truyện chép theo Văn phòng tiểu thuyết của họ Cố, so với Cầu Nhiêm truyện trong Quảng ký -193, hai bên đều có chỗ tường tận, chỗ giản lược khác nhau, nay bổ chính thêm hơn hai mươi chữ. Đỗ Quang Đình tự Tân Chí, người Tấn Vân, Xử Châu. Đầu tiên, ông theo học đạo ở núi Thiên Thai, sau làm quan cho nhà Đường, giữ chức Nội cung phụng. Lánh nạn đến đất Thục, Đỗ Quang Đình theo thờ Vương Kiến, làm Kim tử Quang lộc đại phu, Gián nghị đại phu, được ban hiệu là Quảng Thành tiên sinh. Hậu chủ lên ngôi, lấy ông làm Truyền Chân thiên sư, Sùng Chân quán đại học sĩ. Sau ông từ quan, ẩn cư ở núi Thanh Thành, hiệu là Đông Doanh tử, năm 85 tuổi thì chết. Ông viết rất nhiều sách, có Gián thư 100 quyển, Lịch đại trung gián thư 5 quyển, Đạo Đức Kinh quảng thánh nghĩa sớ 30 quyển, Lục dị ký 10 quyển, Quảng Thành tập 100 quyển, Hồ trung tập 3 quyển. Ngoài những sách đó ra còn có hơn 20 đầu sách, với tổng cộng hơn 80 quyển nói về các nghi thức, cùng sự linh nghiệm của Đạo giáo, về tiên nhân, linh cảnh... Nay chỉ còn Lục dị ký được lưu truyền. Đỗ Quang Đình từng viết Vương thị thần tiên truyện 1 quyển để vui lòng Thục chủ.

Riêng Cầu Nhiêm khách truyện cảnh tỉnh về việc dòm ngó ngôi báu, có lẽ đã được ông viết khi còn làm quan nhà Đường. Tống sử - Nghệ văn chí thể loại tiểu thuyết, có chép: Cầu Nhiêm khách truyện -1 quyển. Trình Đại Xương đời Tống trong Khảo cổ biên - 9, cũng có một điều tiêu đề là Cầu Tu truyện, viết: “Lý Tĩnh khi còn ở thời nhà Tùy, thường nói (Đường) Cao tổ rốt sẽ không làm bề tôi kẻ khác. Vì vậy, khi Cao tổ vào kinh sư, bèn bắt Tĩnh định giết đi. Nhờ Thái tông giải cứu cho, mới được thoát chết. Cao tổ bắt Tĩnh, sử sách không nói cớ gì, là vì tránh né vậy. Cầu Tu truyện nói Tĩnh được Cầu Tu khách tư trợ cho, bèn đem hết gia nghiệp giúp Thái tông khởi sự. Truyện này văn chương hoạt kê, mà người ta đều không xét vậy. Lại nữa, Đỗ có câu thơ rằng: ‘Râu rồng tựa Thái tông’. Tiểu thuyết cũng nói rằng người ta đều bảo Thái tông râu rồng, râu có thể treo được cây cung, Cầu Tu ấy tức chính là Thái tông. Vậy mà nói là Cầu Tu tư trợ cho Tĩnh, bảo giúp Thái Tông, thì có thể thấy đó là lời đùa chơi vậy.” Ở đây chữ “Nhiêm” 髯 đều viết thành “Tu” 須[2]. Nay chép thành Cầu Nhiêm, có lẽ do sửa đổi sau này. Riêng chuyện Cao tổ vì sao bắt Tĩnh, thì sử sách đương thời chưa từng tránh né không nói. Thông giám khảo dị (8) viết: Đường lịch của Liễu Phương, và truyện Lý Tĩnh trong Đường thư đều chép: “Cao tổ đánh Đột Quyết ở ngoài ải. Tĩnh xét Cao tổ, biết là có chí ở bốn phương, nhân tự đeo gông về triều báo tin có biến, sắp tới Giang Đô, đến Trường An thì đường bị chặn nghẽn không đi được, phải thôi.” Xét, Thái tông mưu khởi binh, Cao tổ còn chưa biết, đến khi biết rồi, còn không nghe theo. Khi đi đánh Đột Quyết, chưa hề có chí gì khác, Tĩnh từ đâu mà xét biết được? Vả chăng, báo tin có biến phải cho ngựa trạm cấp

báo, làm sao lại tự đeo gông cổ mình? Nay căn cứ vào Lý Tĩnh hành trạng viết: “Trước dưới triều nhà Tùy, từng trái thánh chỉ. Kịp đến đây thành bị hãm, Cao tổ truy trách lỗi cũ, ông bèn khảng khái nghị luận thẳng thắn, nên được tha tội” Liễu Phương là người đời Đường, không chép chuyện bẩm báo tin có biến ấy, là bởi biết duyên cớ Tĩnh vì thành hãm mà bị bắt vậy. Nhưng những chỗ khuất tối trong sử sách thì tiểu thuyết hay viết thành truyện, Cầu Nhiêm khách truyện cũng theo lệ ấy, vẫn là chuyện người đời thích kể, thậm chí vẽ thành tranh, gọi là tranh Tam hiệp (ba hiệp khách). Đem chuyện ấy viết thành khúc nghệ thì Trương Phượng Dực, Trương Thái Hòa đời Minh đều có kịch Hồng Phất ký, Lãng Sơ Thành thì có Cầu Nhiêm ông.

Trên đây là về những truyện trong quyển IV.

***

Minh âm lục xuất xứ Quảng ký - quyển 489. Trong truyện gọi Lý Đức Dụ là “Tể tướng cũ”, như vậy thì nó đã được viết sau đời Đại Trung hoặc Hàm Thông. Đường nhân thuyết oái đề là Chu Khánh Dư soạn, không đúng.

***

Đông Dương dạ quái lục xuất xứ Quảng ký quyển 490, chép Vương Thù thuật lại chuyện được nghe Thành Tự Hư kể, đương đêm tối gặp yêu quái, dùng ẩn ngữ thù đáp với nhau. Đường nhân thuyết oái đề Vương Thù soạn, là không đúng. Trịnh Chấn Đạc trong Trung Quốc đoản thiên tiểu thuyết tập nói: “Những tình tiết trong truyện, tương tự như truyện Nguyên Vô Hữu của Ngưu Tăng Nhụ, có thể hai truyện này là cùng xuất phát từ một nguồn.” Xét, truyện Nguyên Vô Hữu vốn trong tập Huyền quái lục, sách đó nay đã mất, nhưng có thể xem huyện này được dẫn trong Quảng ký - quyển 369, như sau:

“Đời Bảo ứng, có Nguyên Vô Hữu, từng nhân cuối tháng giữa xuân đi một mình trên đồng hoang ngoài thành Duy Dương. Bấy giờ trời đã chiều tối, bỗng có cơn mưa gió lớn. Khi ấy, sau thời loạn lạc đói kém, dân cư phần lớn đã dời trốn đi, Vô Hữu bèn chạy vào một trang viên bên đường. Hồi lâu mưa tạnh, trăng non ló ra, Vô Hữu ngồi bên cửa sổ phía bắc, chợt nghe hành lang phía tây có tiếng người đi. Không bao lâu, thấy dưới ánh trăng có bốn người, áo mũ đều khác lạ, cùng nhau ngâm vịnh đùa cợt rất vui vẻ. Có tiếng nói: ‘Tối nay không khác gì mùa thu, gió mát trăng trong thế này, chúng ta há chẳng ngâm mấy câu để tỏ bày những việc bình sinh ư?’ Một người trong bọn liền đáp lời. Tiếng ngâm vịnh sang sảng, Vô Hữu nghe được đầy đủ cả. Một người đội mũ mặc áo có vẻ bậc trưởng giả, cất giọng ngâm trước tiên rằng:

Lụa là Tề Lỗ như sương tuyết,

Vang vọng lời cao là tớ hát.

Người thứ hai đội mũ, mặc áo ngắn đều màu đen có vẻ quê mùa, ngâm tiếp:

Tiệc tùng khách khứa lúc đêm thanh,

Đèn đuốc huy hoàng tôi giúp thành.

Người thứ ba áo mũ đều màu vàng cũ kỹ, mà cũng ngắn ngủn thô lậu, đọc rằng:

Suối lạnh nước trong mai sớm lấy,

Thừng đay lôi kéo thường qua lại.

Người thứ ta, cũng mũ áo đen cũ, thơ rằng:

Củi cành nước suối cùng sôi sục,

No bụng cho người, ta khó nhọc.

Vô Hữu nghe xong, cũng không cho là họ có gì khác lạ, bốn người ấy cũng chẳng hay rằng Vô Hữu đang có mặt trên nhà, cùng thường thức khen ngợi lẫn nhau, xem chiều có vẻ tự phụ, cho rằng dù là thơ Vịnh hoài của Nguyễn Tự Tông, cũng chẳng bằng được vậy. Bốn người ấy tới gần sáng mới cùng nhau ra về. Vô Hữu bèn đi tìm xem, thì thấy trong nhà chỉ có một cái chày giặt vải cũ, một cây đèn, một cái thùng đựng nước, và một cái nồi chõ vỡ. Khi ấy mới biết, bốn kẻ tối qua chính là bốn vật này hóa ra vậy.

Linh ứng truyện xuất xứ Quảng ký quyển 492, không ghi tên người soạn. Đường nhân thuyết oái cho là Vu Địch viết, cũng không đúng. Câu truyện viết về lòng trinh thục của Long nữ, và sự trí dũng của Trịnh Thừa Phù, và cũng lấy câu chuyện như trong Liễu Nghị truyện của Lý Triều Uy, chịu ảnh hưởng của truyện ấy và thay đổi đi ít nhiều. Kỉnh Nguyên Tiết độ sứ Châu Bảo, tự Thượng Khuê, người Lô Long, Bình Châu, khi ở nơi trấn nhậm chú trọng việc cấy cày, thu hai mươi vạn thạch lương, được coi là bậc tướng giỏi. Hoàng Sào chiếm cứ đất Tuyên, Hấp, triều đình bèn đổi Bảo làm Trấn Hải quân tiết độ sứ, kiêm Nam diện chiêu thảo sứ. Sau, Bảo bị Tiền Lưu giết. Trong Tân Đường thư (186) có truyện về Châu Bảo.

Trên đây là về những truyện trong quyển V.

***

Tùy di lục gồm hai quyển thượng, hạ, chép theo nguyên bản trong Thuyết phu quyển 78, có đối chiếu với Bách xuyên học hải. Trước quyển có đề do Nhan Sư Cổ soạn, cuối quyển có bạt của vô danh thị, nói đời Hội Xương, tăng Chí Triệt tìm được trong đống sách bút gác Nam Song ở chùa Ngõa Quan. Tiêu đề Nam bộ yên hoa lục là ở đi cảo của Nhan công, so với Tùy thư thấy có nhiều ẩn văn trong đó không viết. Sau lại được chép lại thành Đại Nghiệp thập di ký. Nhưng nguyên bản bị mất thiếu, đến bảy, tám phần mười, thảy theo đó mà bổ sung lại. Như vậy, sách này vốn tên là Nam bộ yên hoa lục, sau khi chép lại, mới có tên là Đại Nghiệp thập di ký. Nay lại viết làm Tùy di lục, đề bạt thêm những điều trong sách chưa nói, có lẽ lại được người truyền khắc sau này sửa đổi vậy. Cuốn sách đã được lưu hành phổ biến thời Tống, Nguyên, Quận trai độc thư chí Thông khảo đều có ghi nhận Nam bộ yên hoa lục, Thông chí có ghi Đại Nghiệp thập di lục, Tống sử - Nghệ văn chí - sử bộ, thể loại truyện ký cũng có ghi Đại Nghiệp thập di, 1 quyển, của Nhan Sư Cổ soạn; Tử bộ, thể loại tiểu thuyết lại có Tùy di lục 1 quyển của Nhan Sư Cổ, như vậy cùng một sách mà khác tên, nhưng lại được ghi thành hai quyển vậy. Chính văn và bài bạt, từ ý sơ sài, tựa hồ cùng một người viết ra, nhưng thác danh Nhan Sư Cổ, cách làm cũng giống như Tây Kinh tạp ký của Cát Hồng, được cho là chép từ đi cảo Hán thư của Lưu Hâm, nhưng tài nâng và hiểu biết kém xa, nên sai sót nhiều hơn, không cần phải tìm tòi kỹ, cũng đã biết rõ là ngụy tạo. Trong Tứ khố toàn thư tổng mục - 143, đời Thanh, chép: “Vương Đắc Thần trong Trần sử cho là ‘vô cùng khả nghi’. Diêu Khoan trong Tây Khê tùng ngữ cũng nói: ‘Nam bộ yên hoa lục’ lời văn rất quê mùa. Lại chép câu thơ của Trần Hậu chủ là: ‘Tà dương cũng hữu ý thay / Rọi song cửa nhỏ sáng hoài cùng ta’ (Tịch dương như hữu ý, Thiên bạng tiêu song minh). Đó là thơ của người đời Đường, lời thơ đời Lục Triều không như thế. Yên hoa lục chép trong Nghệ văn chí đời Đường, ghi chuyện Dạng đế đến Quảng Lăng, bản đó đã mất, nên người đời mới ngụy tác ra sách này...” Như vậy đây cũng là một cuốn ngụy thư. Nay xem trong quyển hạ chép việc Dạng đế đến Nguyệt Quán, buổi tối nói chuyện với Tiêu hậu, có câu: ‘việc của ta, đã giao tất cá cho Dương Tố’, nhưng bấy giờ Tố đã chết từ lâu rồi vậy. Sư Cổ há lại sơ suất hoang đường như vậy? Trong truyện có chép các thơ từ của Dạng đế và bài thơ của Ngu Thế Nam tặng Viên Bảo Nhi, những người đời Minh biên tập thơ ca đời Lục triều, vẫn thường lượm lặt ghi chép, đó đều là cái lỗi không suy xét vậy.”

***

Dạng đế hải sơn ký gồm hai quyển thượng, hạ, xuất xứ từ Thanh tỏa cao nghị hậu tập, quyển 5, trước tiên tôi chép theo bản khắc của Trương Mộng Tích đời Minh, sau đó hiệu đính theo bản của Sĩ Lễ Cư, do Đổng thị khắc. Trong quyển 32, Thuyết phu nguyên bản chép tay đời Minh có một bản giản lược, cũng được tôi lấy để tham khảo hiệu đính. Dưới tên truyện nguyên có chú thích, ở quyển thượng là: “Kể về các thứ hoa mộc trong cung Dạng đế”, ở quyển hạ là: “Kể về các thứ chim thú trong hậu uyển của Dạng đế”, đều là do người biên chép viết thêm vào, nay lược bỏ đi. Truyện này muốn trình bày rõ những sự xa xỉ của Dạng đế, giống như Đỗng minh của Quách thị, Đỗ dương của Tô Ngạc, nhưng lực còn chưa bằng được. Trong truyện có tám bài từ Vọng Giang Nam, Tứ khố mục đời Thanh cho rằng đó là sáng tác của Lý Đức Dụ. Đoàn An Tiết trong Nhạc phủ tạp lục thuật lại duyên do chuyện ấy rất tường tận, những bài từ khúc ấy cũng không thể có trước thời gian giữa niên hiệu Đại Nghiệp được.

***

Mê lâu ký chép theo nguyên bản trong Thuyết phu quyển 32. Tiều Hoành đời Minh trong Quốc sứ - Kinh tịch chí, cũng nhắc tới truyện này cùng với Hải sơn ký, có thể thấy chúng đều từng lưu hành đơn lẻ. Tứ khố mục đời Thanh (143) nói: “Cũng thấy trong Thanh tỏa cao nghị... rốt cuộc cho Mê Lâu làTrường An, sai lầm vô cùng.” Nhưng trong Thanh tỏa cao nghị thực ra không có, có lẽ bọn Kỷ Quân đã có sự nhầm lẫn vậy. Châu Trung Phu (Trịnh đường độc thư ký) càng bình luận rõ thêm rằng: “Đoạn sau nói ‘Năm Đại Nghiệp thứ chín, Dạng đế lại đến Giang Đô, có Mê lâu’. Cuối truyện lại nói: ‘Dạng đế đến Giang Đô, vua Đường hạ lệnh đem quân vào kinh, trông thấy Mê Lâu, Thái tông nói: ‘Đây đều là làm nên từ mỡ máu của dân vậy!’ rồi hạ lệnh đốt cháy, Hơn một tháng, lửa còn chưa tắt’, thì rốt cuộc lại cho Mê lâu làTrường An, giống như chuyện Hạng Vũ đốt cung A Phòng vậy. Sao lại sai lầm quá đỗi đến như thế?”

***

Khai hà ký chép theo nguyên bản trong Thuyết phu quyển 44. Tống sử - Nghệ văn chí, sử bộ, thể loại địa lý, ghi nhận có một quyển, chú là không rõ tác giả. Tứ khố mục cho là “ngôn từ rất quê kệch, rất gần với những truyện truyền kỳ nơi thôn xóm, cùng là tác phẩm thác danh, không có gì đáng nói. Xét Tư hạ tập quyển hạ, của Lý Khuông Văn đời Đường nói: “Tục dọa trẻ con là ‘Ma Hồ đến!’ không biết bắt nguồn từ đâu, cho là vị thần nhiều râu mà hay bắt người, không đúng! Đời Tùy, có tướng quân Ma Hỗ, tính tàn bạo. Dạng đế ra lệnh đào sông Biện, Ma Hỗ uy hiếp rất tàn bạo, đến trẻ nhỏ nghe tên cũng sợ, nên mới dọa nhau là ‘Ma Hỗ đến!’ Trẻ con nói chưa sõi, nên gọi chệch Hỗ ra thành Hồ.” Cuối có thêm chú thích rằng: “Miếu Ma HỗTuy Dương. Lộc Phương Tiết độ sứ Lý Phi tức là hậu duệ của Ma Hỗ, có dựng lại biađó.” Như vậy, chuyện tàn ngược của Thúc Mưu là có thật, những điều chép trong chuyện này, cố nhiên là chuyện truyền miệng nhưng cũng không hoàn toàn là bịa đặt. Tiếc rằng bia ký do Lý Phi lập, nay không còn nữa, nếu không hẳn đã có thêm tư liệu đầy đủ để đối chiếu tham khảo. Đến như những điều kỳ dị trong mộ, thì dường như căn cứ vào chuyện Quảng Lăng vương Lưu Khứ Tật đào mộ được chép trong Tây Kinh tạp ký mà phụ hội diễn dịch thêm vậy.

Bốn thiên truyện ở trên đều được Cổ kim dật sử thu lục. Ba truyện sau còn thấy trong cổ kim thuyết hải, không đề tên người soạn. Đến Đường nhân thuyết oái, thì cùng ghi người soạn là Hàn Ốc. Trí Nghiêu[3] sinh cuối đời Đường, trong suốt cuộc đời, trước thì phải lăn lộn vất vả vì triều đình nguy cấp, sau thì phải phiêu dạt xuống phía nam, tuy có viết thể loại diễm thi, nhưng chưa từng viết đã sử. Tác phẩm chỉ có Kim loan mạt ký 1 quyển, thơ hai quyển, Hương Liêm tập 1 quyển mà thôi. Hơn nữa, trong chuyện lịch sử, ông cũng không đến nỗi hoang đường thô thiển như thế. Đây chỉ là của những kẻ thôn quê hơi biết chút văn tự viết ra mà thôi, thật có thể gọi là chuyện đầu đường xó chợ, nhưng được Phùng Do Long thu thập vào trong Tùy Dạng diễm sử, nên mới lại lan truyền trở lại xã hội. Đến nay, Tùy Dạng đế trong suy nghĩ nhìn nhận của thế tục có lẽ vẫn là ngày chơi Tây Uyển, tối ngự Mê Lâu vậy.

Thuyết phu nguyên bản chép tay đời Minh, 100 quyển, tuy có nhiều chữ sai sót nhầm lẫn, nhưng Mê lâu ký lại chép rất tốt. Xem những tục tự hiện còn trong văn bản, ví dụ như chữ 你(nhĩ), trong bản khắc đại khái đều đổi thành 爾 (nhĩ) hoặc 汝 (nhữ). Những bậc cao nhã ở đời thường ghét khẩu ngữ, mỗi khi biên tập hiệu đính khắc in, đã là sách cũ chép hay rồi, gián hoặc vẫn có chỗ sửa dổi để tăng thêm nhã chính. Đời Tống soạn Đường thư, ngay những câu quen thuộc khi ấy, cũng ra sức viết giản lược cổ kính, nên thường làm giảm mất thần tình, thậm chí có khi còn không rõ được ý câu văn. Nhưng đó còn là sách vở soạn thuật. Đối với việc san định lại văn chương cũ, họ cũng không tha, nói ngay như văn bản thu thập ở tập này, câu 這獠奴 (Giá lạo nô) trong Thượng Thanh truyện mà Tư trị thông giám khảo dị bản đời Tống chép, thì trong Thái bình quảng ký bản khắc đời Minh, Thanh lại đều viết là 老獠奴 (Lão lạo nô); Câu 屈兩箇娘子 (khuất lưỡng cá nương tử) và 不宜負他 (bất nghi phụ tha) trong Chu Tần hành kỷ bản đời Tống do Cố thị hiệu đính, thì trong Quảng ký dẫn, lại viết là 屈二娘子 (khuất nhị nương tử) và 不宜負也 (bất nghi phụ đã). Không dưng, tự định ra rằng cổ nhân quyết không viết tục tự, ra sức phục cổ, mà đã làm mất đi cổ ý vậy.

Trên đây là về những truyện trong quyển VI.

***

Lục Châu truyện một quyển, xuất xứ Lâm Lang bí thất tùng thư, ở đây căn cứ là bản chép tay cũ, và đối chiếu với bản khác. Cuối truyện có bạt của Hồ Đình, viết: “Bản cũ không có tên người soạn. Xét, Kinh tịch khảo của họ Mã có đề là Tống sử quan Nhạc Sử soạn. Trong Tục đàm trợ của người đời Tống soạn, cũng có chép truyện này, nhưng cắt giảm mất một nửa, cuối truyện có bạt của Tây Lâu Bắc Trai viết: ‘Trực sử quán Nhạc Sử, rất tinh thông địa lý học, cho nên truyện này khảo xét sông núi rất tường tận, lại đều xuất xứ từ các tạp thư về địa chí.’ Tôi cho rằng Lục Châu chỉ là một nữ tỳ, có thể cảm ơn chủ mà phán phát không tiếc thân mình, nên được tuyên truyền để làm gương cho đời vậy. Tháng Tám, năm Hàm Phong thứ ba, Hồ Đình người Nhân Hòa đề thức.” Nay, đối chiếu với bản chép trong Thuyết phu quyển 38, cũng không có sai biệt gì lắm. Ngờ rằng, nói là “bản chép tay cũ” hoặc bản khác, cũng đều xuất xứ từ Thuyết phu mà ra vậy. Các hiệu đính cũ hơi phiền nhiễu, ví như tất cả các chữ 越 (việt) đều đổi thành 粵 (việt) chẳng hạn, gần như chỉ tự làm rối thêm, nay thảy đều không dùng.

***

Dương Thái Chân ngoại truyện hai quyển, lấy từ Văn phòng tiểu thuyết của họ Cố, ghi là sử quán Nhạc Sử soạn. Đường nhân thuyết oái có thu lục, là vô cùng sai lầm. Nhưng sai lầm ấy là khởi thủy từ Thuyết phu của Đào Tông Nghi đề Nhạc Sử là người đời Đường. Ngoài hai bản này, tôi còn từng xem bản chép tay cũ của Đinh thị Bát Thiên Quyển Lâu hiện cất giữ tại thư viện Đại học Sư phạm Bắc Kinh, được gọi là “thiện bản”, nhưng thực ra cũng chì là bản thường mà thôi, không có điểm nào tốt hơn cả. Tống sử - Nghệ văn chí, sử bộ, thể loại truyện ký, có ghi nhận: “Tăng Trí Nghiêu soạn Quảng trung đài ký 80 quyển, lại có Lục Châu truyện 1 quyển,” như vậy, dường như truyện này cũng của Tăng Trí Nghiêu viết; Lại có: Dương phi ngoại truyện 1 quyển, chú thích là: “Không rõ soạn giả”. Rồi lại có: Nhạc Sứ soạn: Đằng vương ngoại truyện 1 quyển, Lý Bạch ngoại truyện 1 quyển, Đỗng tiên tập 1 quyển, Hứa Mại truyện 1 quyển, Dương Quý phi đi sự 2 quyển, chú thích là: “Đề là Mân Sơn Tẩu Thượng”. Cách ghi chép rất hàm hồ, dường như không thể hiểu nổi. Nhưng ngoài lời bạt trong Tục đàm trợ ra, còn có Quận trai độc thư chí (quyển 9 - truyện ký loại) viết: “Lục Châu truyện 1 quyển, do Nhạc Sử người bản triều soạn. Và: Dương Quý phi ngoại truyện 2 quyển, do Nhạc Sử người

bản triều soạn, viết sự tích về Dương phi đời Đường, cho đến Hiếu Minh Hoàng đế băng hà.” Trong Trực trai thư lục đề giải (quyển 7, truyện ký loại) cũng nói: “Dương phi ngoại truyện 1 quyển, Trực sử quán Nhạc Sử tự Tử Chính người Lâm Xuyên soạn” Như vậy thì hai truyện Lục Châu, Dương phi, rõ ràng là tác phẩm của Nhạc Sử. Số quyển của Dương phi truyện, từ thời Tống đã chia, gộp, khác nhau, bản chép ở tập này là bản gồm hai quyển mà họ Tiều đã thấy, nhưng tên truyện đã hơi thay đổi một chút vậy.

Nhạc Sử, người Nghi Hoàng, Phủ Châu, sống từ thời Nam Đường, chuyển sang thời Tống, làm Trước tác tá lang, sau ra coi Lăng Châu. Nhờ dâng bài phú lên vua, được vời về làm Tam Quán biên tu, thăng Trước tác lang, Trực sử quán. Xem lời kết ở hai truyện Lục Châu, Thái Chân, thì có thể thấy đều được viết vào thời gian này. Sau ông được chuyển làm Thái thường bác sĩ, ra coi ba châu Thư, Hoàng, Thương, lại vào Văn quán, nắm Tây Kinh khám ma ty, được ban Kim tử. Năm Cảnh Đức thứ tư, Nhạc Sử chết, thọ bảy mươi tám tuổi. Chuyện có chép rõ ở đầu Nhạc Hoàng Mục huyện trong Tống sử quyển 306. Nhạc Sử trước tác rất nhiều, khi còn ở Tám Quán, từng dâng lên hơn 420 quyển sách, đều chép các truyện về khoa cử đỗ đạt, hiếu đễ, thần tiên. Lại có Thái Bình hoàn vũ ký hai trăm quyển, dẫn cứ tới hơn trăm đầu sách, đến nay vẫn còn. Như vậy, Nhạc Sử vốn đã xem đọc nhiều sách, lại riêng giỏi về địa lý, cho nên các biên soạn địa chí, ghi chép thu thập rất rộng, đến độ lan man. Và soạn truyện truyền kỳ, như Lục Châu, Thái Chân truyện, lại không tránh khỏi thu nhặt văn cũ, như Ngữ lâm, Thế thuyết tân ngữ, Tấn thư, Minh hoàng tạp lục, Khai thiên truyền tín ký, Trường hận truyện, Dậu Dương tạp trở, An Lộc Sơn sự tích... tăng thêm đối tỉ, và thường nói nhiều về sông núi vậy.

Trên đây là về những truyện trong quyển VII.

***

Tú tài Lưu Phủ đời Tống viết Hàn phủ đanh đàm 25 quyển, lại có Trích di 20 quyển, Thanh tỏa cao nghị 18 quyển, xin xem trong Tống sử - Nghệ văn chí, tử bộ, thể loại tiểu thuyết, nhưng đến nay chỉ còn Thanh tỏa cao nghị, có san bản của Hương Mộng Tích đời Minh, chia làm tiền, hậu tập, mỗi tập 10 quyển, rất khó tìm được. Gần đây, Đổng Khang có hiệu san bản chép tay của Sĩ Lễ Cư, cũng hai mươi quyển, lại có biệt tập 7 quyển, trong Tổng chí không thấy có. Nhưng người đời Tống ngay khi ấy đã có dẫn Thanh tỏa trích di, ngờ rằng chính là phần gọi là biệt tập hiện nay. Tống chí cho là phần Trích di của Hàn phủ danh đàm, cũng là nhầm lẫn vậy. Sách ấy tập hợp các truyện chí quái, truyền kỳ của người đương thời, lan man không chia chủ đề, gián hoặc có lời bàn, nhưng cũng nông cạn đơn giản. Đầu sách có lời tựa của Tôn phó xu, không xưng tên, chỉ xưng quan tước, rất kỳ lạ, nay cũng không biết là người nào. Ở đây, chúng tôi tuyển chọn chép năm truyện tương đối đầy đủ xúc tích, tác giả là ba người: Trương Thực tự Tử Kinh người Ngụy Lăng, Tần Thuần tự Tử Phục người Tiều Xuyên, và Liễu Sư Doãn người Trạm Thượng, đều chưa khảo xét được hành trạng, và có một truyện không có tên người soạn.

Lưu hồng ký xuất xứ từ tiền tập, quyển 5, dưới tiêu đề nguyên có chú thích: “Lá thắm đề thơ lấy Hàn thị”, nay lược bỏ đi. Mạnh Khải đời Đường trong Bản sự thi (Mục thứ nhất - Tình cảm) có chuyện Cố Huống được một chiếc lá ngô đồng lớn trên dòng suối từ ngự uyển chảy ra cửa Lạc Thừa, trên có thơ đề, Huống bèn họa lại. Câu thơ: “Thành cao nước chảy nào ngăn nổi / Trên lá đề thơ muốn gửi ai?” (Đế thành bất cấm đông lưu thủy / Diệp thượng đề thi dục ký thùy?) chính là của Huống. Phạm Sư trong Vân Khê hữu nghị (quyển hạ) lại có chuyện Đề hồng oán, kể chuyện Lư Ốc vào kinh ứng thí, bắt được trên ngòi ngự câu một chiếc lá đỏ, trên có bài thơ tuyệt cú, nhân cất vào rương khăn. Kịp tới khi Tuyên tông tha bớt các cung nữ cho ra ngoài, Ốc lấy được một người. Người ấy nhìn chiếc lá đỏ mà than thở hồi lâu, nói: “Khi xưa thiếp ngẫu nhiên đề thơ trên lá thả theo dòng nước, đâu ngờ lang quân lại bắt được mà cất vào rương thế này.” Đem so chữ viết của nàng mà nghiệm, chẳng ai không lấy làm kinh ngạc. Bài thơ viết:

Nước chảy sao quá gấp,

Thâm cung trọn buổi nhàn.

ân cần nhờ lá thắm,

Khá chuyển đến nhân gian.

Người đời Tống viết truyền kỳ, bắt đầu tránh né thời sự, lượm lặt những chuyện đời trước nghe được, mà phụ hội tô vẽ thêm cho thành truyện, mà lời văn, ý tứ đều yếu ớt. Như Lưu hồng ký chính là một trong số ấy.

***

Triệu Phi Yến biệt truyện xuất xứ từ tiền tập, quyển 7,cũng thấy có trong nguyên bản Thuyết phu quyển 32, nay tôi tham khảo thêm từ đó mà hiệu đính ghi chép. Hồ Ứng Lân (Bút tùng - 29) nói: “Năm Mậu Thìn, ta ngẫu nhiên qua một quán sáchYên Trung, được bản khắc cũ gồm mười mẩy tờ giấy, đề là Triệu Phi Yến biệt tập. Đọc xem, mới biết là sách Thuyết phu san bản của họ Đào. Lời văn rất giống với Đông kinh, nhưng cuối truyện chưa chép việc Lương Vũ đế trả lời chuyện Chiêu nghi hóa thành con giải. Mới biết đó là người đời Lục triều soạn, rồi Tần Thuần tự Tử Phục đời Tống bổ sung thêm mà truyền ra. Sách Thông khảo của Đệ Đoan Lâm, Thông chí của Ngư Trọng đều không có mục này. Mà lời văn thì không phải là văn đời Tống có thể viết được. Trong đó có mấy việc viết rất tài tình, lời văn đẹp đẽ, hơn cả Linh Huyền, còn như Tần Thuần thì không thể cổ kính khỏe khoắn như thế được. Tiếc rằng không còn được đọc toàn quyển vậy.” Ông lại đặc biệt tán thưởng mấy câu như “nước lan thang sóng sánh”, cho là “trăm đời sau đọc đến đó, vẫn còn tràn trề hứng thú”. Nhưng mấy bản hiện nay còn thấy đều đề là “biệt truyện” chứ không có bản nào ghi là “tập” cả; sách Thuyết phu vốn cũng không cắt giảm gì, nhưng so với Cao nghị thì thiếu mất hơn năm mươi chữ, có thể do người chép bỏ sót mất vậy. Trong Cao nghị thu thập rất nhiều tác phẩm của Tần Thuần, ngoài truyện này và Đàm Ý Ca truyện, còn có Ly sơn kýÔn tuyền ký. Lời văn Dông dài, nhưng gián hoặc cũng có những câu đẹp đẽ. Nếu như để tâm mà viết thì cũng có thể được như truyện này. Nguyên Thụy tuy soi xét tính tường, có thể soạn được Tứ bộ chính ngoa, nhưng người đương thời hiếu kỳ, thích những chuyện khác thường, để thêm hứng thú, nên thường muốn những sách ấy là sách cổ thực sự để tăng thêm giá trị. Cũng giống như người đời nay, có kẻ nghe nói Phi Yến ngoại truyện của Linh Huyền và Hán - Tạp sự bí tân là ngụy thư, thì tự nhiên bực tức không vui vậy.

***

Đàm Ý Ca truyện xuất xứ từ biệt lập, quyển 2, vốn tiêu đề không có chữ “truyện”, lại có chú thích: “Kể chuyện Anh Nô tài hoa xinh đẹp”, nay lược bỏ đi. Ý Ca (意歌) trong văn viết là Ý Ca (意哥), chưa biết chữ nào đúng. Đời Đường có Đàm Ý Ca, cùng tài hoa như các nữ thi nhân Tiết Đào, Lý Dã. Tân Văn Phòng trong Đường tài tử truyện từng có nêu tên, nhưng không kể sự tích. Truyện này của Tần Thuần, dường như cũng không có bản nào khác, có lẽ tác giả đã lấy ý từ Oanh Oanh truyện, Hoắc Tiểu Ngọc truyện viết nửa đầu truyện, và kết thúc bằng cái kết đoàn viên có hậu hơn.

***

Vương Ấu Ngọc ký xuất xứ theo tiền tập quyển 10, dưới tiêu đề có chú thích: “Ấu Ngọc nhớ Liễu Phú mà chết”, nay lược bỏ.

***

Vương Tạ xuất xứ từ biệt tập quyển 4, có chú thích rằng: “Sóng gió trôi dạt đến nước Ô Y”, nay lược bỏ, và thêm chữ “truyện” vào tiêu đề. Bài thơ Ô Y hạng của Lưu Vũ Tích, vốn viết 王謝 (họ Vương, họ Tạ), trong truyện đã đổi chữ Tạ thành 榭 để chỉ tên người (Vương Tạ), lại lấy chữ Ô Y để làm tên nước chim én, khiến bài thơ kém hẳn ý thú. Nhưng Trương Đôn Di đời Tống trong Lục triều sự tích biên loại lại dẫn chuyện này để làm điển cứ, đó thực là như người ta vẫn nói “Tục ngữ không thật, chuyển vào sách vở” vậy. Nhân đó tôi cũng biên chép lại, để giúp các bạn có câu chuyện đàm luận cùng nhau.

***

Mai Phi truyện xuất xứ theo Thuyết phu quyển 38, cũng thấy có trong Văn phòng tiểu thuyết của họ cố. Nếu đem so sánh thì bản của Thuyết phu trội hơn. Cả hai bản đều không nói soạn giả là ai. Đường nhân thuyết oái chép truyện này, đề người soạn là Tào Nghiệp, không đúng. Trong sử chí Đường, Tống cũng không thấy có ghi chép. Cuối truyện có lời bạt của vô danh thị, nói là “tìm được ở nhà Vạn Quyển - Chu Tuân Độ, viết tháng Bảy năm Đại Trung thứ hai.” Lại nói “chỉ có Diệp Thiếu Uẩn với ta là có được”. Xét, Chu Tuân Độ là người ham đọc sách, người ta gọi là Chu Vạn Quyển. Có Tử Ngang, gọi là Tiểu Vạn Quyển, sống từ thời Chu[4] sang thời Tống, làm Hành Châu lục sự tham quân, thăng dần tới Thủy bộ lang trung, chết năm Cảnh Đức thứ tư, thọ 83 tuổi. Trong Tống sử - Văn uyển (439) có truyện. Thiếu Uẩn tức tên tự của Diệp Mộng Đắc. Mộng Đắc đỗ Tiến sĩ năm Thiệu Thánh thứ tư, thời Cao tông làm quan đến tri Phúc Châu, sống khoảng thời gian Nam Bắc Tống, niên đại cách nhau đã quá xa, làm sao có thể được sách nhà Chu Tuân Độ? Nhu vậy ngay cả lời bạt cuối truyện cũng là ngụy tạo, không phải là của người thực sự hiểu về sách vở viết ra vậy. Nay xếp vào các trước tác của người đời Tống.

***

Lý Sư Sư ngoại truyện xuất xứ từ Lâm Lang bí thất tùng thư, nói căn cứ vào bản chép tay cũ, cuối truyện có bạt của Hoàng Đình Giám, viết: “Sách Độc thư mẫn cầu ký nói, trong số sách bí mật của Tiền Công PhủNgô Quận có cuốn Lý Sư Sư tiểu truyện, Mục ông từng nói rằng treo thưởng trăm vàng để mua mà không ai có. Ngẫu nhiên nghe nói, họ Tiêu trong ấp có sách ấy, bèn vội vàng mượn chép một bản. Lời văn nhã khiết khác thường, không giống lời của các nhà viết tiểu thuyết. Sư Sư chẳng những tài sắc quán tuyệt đương thời, mà xem tiết tháo quyên sinh khảng khái lúc sau cùng, thực có khí tiết của bậc trượng phu lẫm liệt. Chỉ bất hạnh phải hãm thân vào chốn ti tiện, chẳng được đứng chung hàng với các bậc liệt nữ, để tranh nêu tên tuổi với sử xanh vậy. Trương Đoan Nghĩa trong Quý nhĩ lục có chép hai mẩu chuyện dật sự về Lý Sư Sư, truyệnđây đã kể lại phần lớn rồi, nên không chép lại, nay cùng chép phụ vào phía sau. Lại trong Tuyên Hòa đi sự cũng chép chuyện về Sư Sư, cũng không hoàn toàn giống với truyện này, có thể cùng xem thêm để tham khảo. Cầm Lục cư sĩ viết.”

Hai mẩu chuyện trong Quý nhĩ lục nay tôi xin chép lại dưới đây, nhưng thiên truyện này chưa hẳn đã là bản mà Trương Đoan Nghĩa đã thấy vậy.

Đạo Quân Hoàng đế tuần thú phương bắc,Ngũ Quốc thành hoặcHàn Châu, mỗi khi có sự cát hung tang tế hay lễ tết cỏn con gì, người bắc cũng đều được ban thưởng. Mỗi lần ban thưởng tất phải có một tờ biểu tạ ơn. Người bắc đem tập hợp thành quyển, cho khắc in bánngoài chợ. Truyền chép suốt bốn, năm mươi năm, sĩ đại phu đều có, ta cũng từng đọc qua một cuốn. Lại có một cuốn Lý Sư Sư tiểu truyện cùng được lưu hành lúc bấy giờ.

Đạo Quán đến nhà Lý Sư Sư, ngẫu nhiên gặp lúc Chu Bang Ngạn đãđó trước. Thấy Đạo Quân đến, Bang Ngạn bèn trốn dưới gầm giường. Đạo Quân cầm theo một quả cam đầu mùa, nói là “Giang Nam mới dâng cống”, rồi cùng cười đùa với Sư Sư. Bang Ngạn nghe được hết mọi chuyện, ngầm viết thành một bài từ điệu Thiếu niên du, có câu: “Dao Tinh như nước, muối Ngô hơn tuyết, tay ngọc bóc cam tươi. Cuối bài lại có câu: “Thành nổi trống canh ba, ngựa trượt sương trơn, chi bằnglại, lặn lội có bao người.” Lý Sư Sư hát bài ấy, Đạo Quân hỏi là ai làm. Lý Sư Sư tâu: “Là từ của Chu Bang Ngạn.” Đạo Quân nổi giận, ngồi trước triều tuyên dụ Sái Kinh rằng: “Phủ Khai Phong có tên giám thuế là Chu Bang Ngạn, nghe nói thuế khóa không thu được đủ, làm sao Kinh doãn không xét xử đi?” Sái Kinh không biết duyên do, bèn tâu: “Xin cho thần thoái triều sẽ gọi Kinh doãn hỏi, rồi sẽ tâu lại cho Hoàng thượng rõ.” Quan Kinh doãn đến, Sái đem thánh chỉ tuyên dụ cho biết. Kinh doãn nói: “Hiện chỉ có Chu Bang Ngạn là thu được thuế ngạch nhiều hơn cả.” Sái nói: “Ý Hoàng thượng đã như vậy, chỉ có thể biếm đời Bang Ngạn đi nơi khác mà thôi.” Bèn tâu lên vua, Đạo Quân hạ chỉ rằng: “Chu Bang Ngạn bỏ bê chức vụ, ngày hôm sau phải áp giải ra khỏi quốc môn.” Cách một, hai hôm, Đạo Quân lại đến nhà Lý Sư Sư, thấy Sư Sư đi vắng, hỏi người nhà mới biết là đi tiễn Chu Giám thuế. Đạo Quân vừa lấy làm mừng vì Bang Ngạn đã bị đuổi ra khỏi quốc môn, nay đến lại không gặp Sư Sư, ngồi đến đầu canh một, mới thấy Sư Sư về, mi sầu mắt lệ, tiều tụy ủ rũ. Đạo Quân nổi giận nói: “Nàng đi đâu thế?” Lý tâu: “Thần thiếp tội đáng muôn chết. Hay tin Chu Bang Ngạn đắc tội, bị giải ra khỏi quốc môn, nên gọi là có chén rượu tới tiễn biệt. Không biết là quan gia tới đây.” Đạo Quân hỏi: “Bang Ngạn có làm bài từ nào không?” Lý tâu: “Có bài từ điệu Lan Lăng vương. Nay tức là điệu Liễu âm trực vậy”. Đạo Quân nói: “Nàng hãy hát một lượt cho ta nghe.” Lý tâu: “Xin cho thần thiếp dâng một chén rượu, rồi hát bài từ ấy chúc thọ quan gia.” Hết khúc ca, Đạo Quân vui lòng lắm, lại vời Bang Ngạn về làm chức Đại Thạnh nhạc chính. Sau Bang Ngạn làm đến chức Đại Thạnh Nhạc nhạc phủ đãi chế. Bang Ngạn vì có nhiều bài từ khúc được truyền tụng, nên đương thời đều khen ngợi từ khúc, mà không biết văn bút của ông cũng rất hay, ông từng viết bài Biện Đô phú, các tấu chương tạp trước cũng đều là kiệt tác, đáng tiếc là đã bị từ khúc che khuất hết những văn chương khác. Bấy giờ, trong số những người đến nhà Sư Sư có tới hai người tên là Bang Ngạn, một người là Chu Bang Ngạn tự Mỹ Thành, một người là Lý Bang Ngạn tự Sĩ Mỹ, đều là những khách chơi cùng với Đạo Quân. Sĩ Mỹ nhân đó được làm tới Tể tướng. Ôi, quân thần gặp gỡ nhaunhà kỹ nữ hạ tiện, thì nước nhà an nguy trị loạn thế nào, có thể biết rõ mười mươi vậy.

Trên đây là về những truyện trong quyển VIII.

[1] Câu này xuất xứ theo thiên Đàn cung- Kinh Lễ. Cấp tức Khổng cấp, tự Tử Tư; Bạch tức Khổng Bạch, tự Tử Thượng là con Khổng Cấp. Mẹ Bạch đã bị đuổi, nên khi chết Bạch không để tang. Có người hỏi Khổng Cấp, Khổng Cấp đã nói câu trên.

[2] Nhiêm, hay Tu đều có nghĩa là râu.

[3] Trí Nghiêu: tên tự của Hàn Ốc.

[4] Nhà Chu ở đây là nhà Hậu Chu (951-959) do Quách Uy lập nên.

Châu Hải Đường dịch
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.