Nguyên Chẩn

Đường Tống Truyền Kỳ (Châu Hải Đường dịch)

Lượt đọc: 253 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
QUYỂN IV - OANH OANH TRUYỆN

❊ ❊ ❊

(TRUYỆN NÀNG OANH OANH)

Đời Trinh Nguyên, có Trương sinh, tính tình ôn hòa, dung mạo phong tư tốt đẹp, giữ niệm cứng cỏi độc lập, những điều phi lễ chẳng hề để tâm. Hoặc có khi cùng các bằng hữu chơi bời yến ẩm, trong chốn hỗn tạp, ai nấy hau háu ganh đua, như sợ không kịp, duy Trương sinh vẫn thản nhiên ung dung, chung cuộc lòng không rối loạn. Vì vậy, tuổi đã hai mươi ba mà chưa từng gần nữ sắc. Những người biết chuyện vặn hỏi. Trương tạ, mà rằng: “Đăng Đồ tử[1] đâu phải người hiếu sắc, mà chỉ là kẻ xấu nết. Tôi mới thực là người hiếu sắc, chỉ là chưa thấy ai hợp ý mình mà thôi. Sao lại nói như vậy? Đại phàm những hạng vưu vật, tôi chưa từng không lưu luyến trong lòng bao giờ, như vậy thì biết là tôi chẳng phải kẻ vong tình vậy.” Người vặn hỏi khi ấy mới hiểu.

Không lâu sau, Trương đến chơi đất Bồ[2]. Hơn chục dặm về phía đông đất Bồ, có nơi tăng xá gọi là chùa Phổ Cứu, Trương sinh đến ngụ ở đó. Vừa khi ấy có bà góa phụ họ Thôi, trên đường về Trường An, có đi qua đất Bồ, cũng dừng chân ở lại chùa ấy. Bà góa phụ họ Thôi là con gái họ Trịnh. Mẹ Trương cũng họ Trịnh, kể dòng dõi họ hàng, thì là bá dì khác chi vậy.

Năm ấy, Hồn Hàm[3] chết ở đất Bồ, có trung quan Đinh Văn Nhã, không biết việc quân, vì vậy lính tráng mới nhân việc tang mà nổi loạn, cướp bóc dân chúng đất Bồ. Nhà họ Thôi, nhiều của cải, lắm nô bộc, giữa nơi đất khách, kinh sợ muôn phần, chẳng nơi nương tựa. Khi trước, Trương vốn thân quen với bọn các tướng ở Bồ, xin họ bảo hộ giúp cho, nên mọi người đều được thoát nạn. Hơn chục hôm sau, Liêm sứ Đỗ Xác phụng mệnh Thiên tử đến cầm quân, ban rõ mệnh lệnh, quân sĩ khi ấy mới an. Trịnh thị cảm ơn Trương lắm, nhân bày tiệc rượu, mời Trương tới yến ẩm. Lại bảo Trương rằng: “Dì thân tàn cô quả, dắt díu con thơ, chẳng may gặp lúc quân binh loạn lạc, thật khó mà toàn được thân mình. Con thơ gái nhỏ, nhờ cháu mà thoát. Cái ơn đấy đâu phải là thường! Nay xin cho chúng theo lễ anh em ra chào hỏi, mong có thể báo được ơn cháu vậy.” Nói rồi sai con trai là Hoan Lang, chừng hơn mười tuổi, diện mạo tuấn tú, ra chào. Lại gọi con gái, bảo: “Mau ra chào anh đi con, anh cứu sống con đấy.” Hồi lâu, thấy con gái cáo ốm. Trịnh thị giận nói: “Trương huynh cứu mạng cho con. Nếu không, con đã bị bắt đi rồi, còn có thể ở đó mà tỵ hiềm sao?” Lúc lâu sau nàng ra, mặc áo thường, để mặt mộc, không hề trang điểm, tóc để chấm mi, chỉ có hai má hơi ửng hồng mà thôi. Vậy nhưng nhan sắc diễm lệ khác thường, rực rỡ mê người. Trương giật mình, vội vàng thi lễ. Nàng bèn ngồi xuống bên cạnh Trịnh thị, vì cớ bị Trịnh thị ép phải ra chào, nên ánh mắt ai oán, dường có vẻ yếu mệt không gượng nổi. Trương hỏi tuổi nàng. Trịnh thị đáp: “Nó sinh tháng Bảy, năm Giáp Tý đời đương kim thiên tử, đến nay năm Canh Thìn, niên hiệu Trinh Nguyên, là vừa tròn mười bảy.” Trương sinh đem lời thử ướm, nhưng nàng không đáp. Mọi người cùng ngồi đến tàn tiệc rồi tan về. Từ đó Trương đâm phải lòng nàng, chỉ mong sao có thể bày tỏ được tâm tình, mà không có cớ gì.

Nàng Thôi có con hầu tên gọi Hồng Nương. Trương nhiều lần đem lễ riêng mà tặng, rồi thừa cơ ngỏ rõ ý mình. Nó quả nhiên kinh hãi, xấu hổ mà bỏ chạy. Trương lấy làm hối lắm. Hôm sau, con hầu lại đến, Trương bèn muối mặt xin lỗi, không dám ngỏ ý mong mỏi nữa. Nó nhân đó bảo sinh rằng: “Lời của cậu, tôi không dám nói, cũng không dám để lộ ra. Nhưng là chỗ thân thích của nhà họ Thôi, cậu cũng đã rõ cả. Sao không nhân người ta mang ơn, mà xin hỏi cưới?” Trương nói: “Ta từ bé đến giờ, chưa từng có thói lẳng lơ. Có khi ở giữa đám phấn son, cũng không hề liếc mắt, không ngờ đến nay, rốt cũng có người khiến phải mất hồn. Trên tiệc hôm trước, suýt không còn giữ nổi mình. Suốt mấy hôm nay, đi quên đường, ăn quên bữa, e rằng mệnh nguy sớm tối. Nếu lại đợi bà mối giúp cho mới lấy, nào là nạp thái, vấn danh, thì phải mấy tháng trời, khi ấy chắc tìm ta trong hàng cá khô vậy. Cô bảo ta phải làm sao?”

Con hầu nói: “Tiểu thư giữ điều trinh thận, tuy là người tôn kính, cũng không dám đem lời xằng bậy mà nói phạm đến được. Lời kẻ hạ nhân, cố nhiên khó mà chịu nghe. Tuy vậy, cô tôi lại rất thích thơ văn, vẫn thường ngâm vịnh thơ từ, mà ngẩn ngơ cả buổi. Cậu hãy thử làm một bài thơ tình mà khêu gợi xem sao. Nếu không thì cũng chẳng có cớ nào khác cả.” Trương mừng lắm, lập tức làm hai bài Xuân từ đưa cho con hầu. Tối ấy, Hồng Nương lại tới, cầm một tờ hoa tiên đưa cho Trương, nói: “Thôi tiểu thư sai đưa cho cậu.” Trương mở ra xem, thấy có bài thơ Minh nguyệt tam ngũ dạ (Trăng sáng đêm rằm). Thơ rằng:

Mái tây đợi ánh trăng ngần,

Cửa ngoài nửa khép đón làn gió vương.

Bóng hoa lay động bên tường,

Ngỡ rằng người ngọc đã sang đây rồi.

Trương cũng hơi hiểu ý. Tối ấy, là ngày mười tư tháng Hai. Phía đông nhà họ Thôi có cây hoa hạnh, vin cành có thể vượt qua tường được. Đêm trăng mười bốn, chàng bèn trèo lên cây mà vào. Đến chỗ mái tây, thấy cửa ngoài khép hờ. Hồng Nương đang nằm ngủ trên giường, Trương bèn đánh thức dậy, Hồng Nương kinh sợ nói: “Sao cậu lại tới đây?” Chàng bèn nói dối rằng: “Trong thư, tiểu thư mời ta đến đây, cô hãy vào nói giúp.” Lúc sau, Hồng Nương trở ra, liên mồm nói: “Đến rồi! Đến rồi!” Trương vừa mừng vừa sợ, cho là việc đã thành. Kịp nàng Thôi tới nơi, thấy y phục chỉnh tề, nghiêm mặt trách Trương rằng: “Ơn anh cứu sống nhà tôi, kể cũng hậu lắm. Bởi vậy mẫu thân mới đem con thơ gái nhỏ ra nhờ cậy. Cớ làm sao anh lại nhân đứa nô tì hư hỏng, mà buông lời cợt nhả. Ban đầu thì lấy điều giúp người trong cơn loạn lạc làm nghĩa, mà rốt cuộc lại nhân hết loạn mà đòi hỏi. Như vậy là lấy loạn mà thay loạn, có khác nhau mấy? Thực muốn bỏ qua lời ấy đi, nhưng lại e như thế là giấu hộ cho lòng gian của người, thực không phải nghĩa. Muốn nói rõ với mẹ, thì lại e là phụ ơn huệ người, thực không tốt gì. Định nhờ bọn tì bộc, lại sợ chúng không tỏ được hết lòng thành thực. Định viết mấy câu, mong được tự tỏ bày, vẫn còn sợ làm anh khó chịu. Bởi thế mới đem mấy câu quê mùa, để mong anh sẽ tới. Việc làm phi lễ, há chẳng thẹn lòng. Xin anh hãy lấy lễ giữ mình, chớ để sinh loạn.” Nói xong, quay ngoắt vào trong. Trương thất thần đứng ngẩn mãi hồi lâu, rồi lại trèo tường mà ra. Từ đó tuyệt hẳn hy vọng.

Mấy đêm sau, Trương đang ngủ một mình ngoài hiên, chợt có người đánh thức. Giật mình tỉnh dậy, thì hóa ra Hồng Nương đang ôm chăn cầm gối tới nơi, lay Trương nói: “Tới rồi, tới rồi! Còn ngủ gì nữa?” Rồi để chăn gối lại, đi ra. Trương dụi mắt ngồi dậy hồi lâu, còn ngờ là mộng, nhưng vẫn sửa soạn cẩn thận mà đợi. Lúc sau, thấy Hồng Nương đỡ nàng Thôi tới. Đến nơi rồi, thấy nàng e lệ thẹn thùng, yểu điệu dường không gượng nổi mình, vẻ đoan trang khi trước, biến đâu hết cả. Tối ấy, là đêm mười tám. Trăng tà lấp lóa, rọi sáng nửa giường. Trương sinh lâng lâng trong dạ, ngỡ đang ở chốn thần tiên, chứ chẳng phải nơi nhân thế. Hồi lâu, nghe tiếng chuông chùa, trời đà sắp sáng, Hồng Nương giục đi. Nàng Thôi nũng nịu khóc than, Hồng Nương lại đỡ đưa về, hết đêm không nói một lời. Trương sinh thấy sắc trời hơi hửng, trở dậy, còn tự nghi hoặc nói: “Há là mơ ư?” Kịp đến sáng, chỉ thấy dấu son trên tay, mùi hương đượm áo, ngấn lệ rõ ràng, còn in chăn chiếu mà thôi.

Sau đó lại hơn mười ngày, vắng bặt tin nhạn. Trương sinh viết bài thơ Hội chân (Gặp tiên), ba mươi vần, chưa xong thì Hồng Nương đã tới, nhân đưa cho nó, bảo đem về cho nàng Thôi. Từ bấy giờ hai người lại qua lại với nhau. Sáng thì ẩn mình mà ra, tối lại ẩn mình mà vào, cùng ăn nằm ở chỗ khi trước gọi là mái tây, thấm thoắt đã một tháng trời. Trương từng dò hỏi nàng về ý Trịnh thị, nàng nói: “Thiếp không biết phải làm sao nữa.” Nhân muốn Trương lo chuyện cho thành.

Chưa bao lâu, Trương sắp sửa đi Trường An, nhân nói rõ sự tình cho nàng biết trước. Nàng Thôi cũng không ngăn cản gì, nhưng vẻ mặt buồn bã oán sầu vô hạn. Hai tối trước khi Trương lên đường, thì không gặp lại nàng nữa, rồi đó Trương bèn đi sang miền tây. ít lâu sau, Trương lại tới đất Bồ, đến chỗ họ Thôi mấy tháng. Nàng Thôi viết chữ rất đẹp, lại giỏi văn thơ, nhưng Trương đã mấy bận xin xem, mà vẫn không được. Trương thường đem thơ văn ra khêu gợi, nhưng nàng cũng không chịu nhìn đến. Đại khái chỗ hơn người của nàng là, giỏi giang rất mực, nhưng ngoài mặt thì như không biết, nói năng biện bác, nhưng ít khi đối đáp cùng ai. Đối đãi với Trương thì rất hậu, nhưng chưa từng thấy nói ra lời. Có khi sầu muộn vô ngần, mà không ai biết, vui mừng cực độ, cũng ít lộ ra. Đêm nọ, nàng ngồi một mình gảy đàn, tiếng buồn thê thiết. Trương trộm nghe thấy. Đến khi xin nàng gảy cho nghe, thì nàng lại không gảy nữa, Trương vì vậy càng thêm mê mẩn.

Thoáng chốc đã tới kỳ thi, Trương sắp phải đi Trường An. Tối trước hôm lên đường, Trương không nói gì đến tâm tình mình nữa, chỉ ngồi bên nàng buồn bã thở than. Nàng Thôi đã thầm biết rằng sắp phải quyết biệt, bèn kính cẩn dịu giọng, từ tốn bảo Trương: “Ban đầu khơi gợi, rốt cuộc ruồng bỏ, cũng là đáng lắm. Thiếp ngây ngốc chẳng dám giận chàng. Ví như chàng khơi gợi, rồi trọn đến cùng, thì ấy là ơn chàng vậy. Như thế thì lời thề trọn đời, cũng có sau rốt vậy, chàng hà tất phải cảm than về chuyến đi này? Tuy nhiên, chàng trong dạ không vui, thiếp biết lấy gì an ủi. Trước chàng từng khen thiếp giỏi đàn, nhưng thiếp vẫn thẹn thùng, chẳng được như thế. Nay chàng sắp đi xa, thiếp xin gảy một khúc để báo đáp tấm chân tình.” Nói rồi, sai phủi đàn, gảy khúc Nghê Thường vũ y, chưa được mấy tiếng, mà điệu buồn đã ai oán chen loạn, không còn nghe ra khúc ấy nữa. Những người ngồi bên ai cũng ngậm ngùi. Nàng Thôi bèn ngưng, buông đàn khóc ròng, rồi chạy về chỗ Trịnh thị, không quay lại nữa.

Sáng mai, Trương lên đường. Năm sau, thi hỏng, Trương lưu lại kinh thành, nhân gửi thư cho nàng, để tỏ ý mình. Nàng Thôi cũng có thư đáp lại, xin chép đại lược lại đây:

“Được chàng thăm hỏi, yêu mến quá chừng. Tấc lòng nhi nữ, vừa mừng vừa tủi. Lại được ơn chàng tặng cho một hộp hoa ngọc, năm tấc son hồng, để thiếp tô môi cài tóc. Tuy đội ơn vạn bội, nhưng trang điểm vì ai? Nhìn vật nhớ người, chỉ thêm buồn thảm. Nghe tin chàngkinh sư học tập, nấu sử sôi kinh, vẫn được bình an. Chỉ hận cho kẻ quê mùa, xa xôi vứt bỏ. Mệnh đã như vậy, còn biết nói sao? Từ thu trước đến nay, thiếp thường hoảng hốt như mất vật gì. Khi trong đám ồn ào, hoặc gắng câu cười nói, nhưng đêm thanh chỗ vắng, nào lúc chẳng lệ sa. Cho đến trong giấc chiêm bao, cũng nhiều khi tấm tức, nỗi sầu li biệt, quyến luyến khôn dời, dần thành thường sự. Hẹn riêng chưa tròn, kinh hồn đã dứt, tuy nửa chăn còn ấm, mà nghĩ đã xa vời. Một buổi chia ly, đã thành năm cũ. Trường An là đất ăn chơi, dây tình dễ vướng. May chàng chẳng quên phận mọn, vẫn còn đoái thương, chí mỏng chẳng lấy gì báo đáp. Lời thề chung thúy, thì vẫn không quên. Khi xưa, vì lẽ họ hàng, hoặc cùng yến ẩm. Tì bộc dụ dỗ, ngỏ biết tình riêng. Tấm lòng nữ nhi, chẳng thể vững vàng. Quân tử có vặn đàn trêu ghẹo[4], phận hèn chẳng gieo thoi cự ngăn[5]. Mới dâng chăn gối, nghĩa nặng ý sâu. Tấm tình ngu si, những rằng cậy mãi. Đâu ngờ khi gặp người quân tử, chẳng thể cầm lòng, đến độ mang nỗi thẹn tự hiến mình, chẳng được quang minh mà hầu khăn lược. Trọn đời tủi hận, than thở chi đây? Nếu được người nhân để lòng, cúi nhìn phận mọn, thiếp dù chết cũng như còn sống. Còn như kẻ đạt sĩ nhẹ tình, bỏ nhỏ theo lớn, cho vụng trộm là nết xấu, coi lời thề chẳng đáng gì, thì xin thịt nát xương tan, lòng son chẳng hết, theo sương nương gió, còn gửi bụi trong. Tấc thành đưa đến, lời cạnđây. Trước giấy sụt sùi, tình khôn nói hết. Muôn vàn trân trọng, trân trọng muôn vàn! Chiếc vòng ngọc này, là của thiếp chơi từ bé, gửi người quân tử, đeobên mình. Ngọc là ý bền sạch không mờ, vòng là nghĩa thủy chung chẳng dứt. Cùng một cuộn tơ rối, một cối nghiền trà bằng trúc vân. Mấy vật này nào có quý gì. Ý là muốn người quân tử tình chân như ngọc, chí gắn như vòng, ngấn lệ trên trúc, mối sầu như tơ, nhờ vật ngỏ lòng, xin mãi lấy đó làm trân trọng vậy. Lòng gần thân xa, bao giờ hội ngộ. ư hoài chung đúc, ngàn dặm thần giao. Muôn vàn trân trọng! Gió xuân dễ bệnh, ăn gắng mới nên, chàng hãy giữ gìn, chớ vì thiếp mà lo nghĩ.”

Trương đem thư cho bạn bè quen biết xem, do vậy nhiều người biết. Có người bạn thân là Dương Cự Nguyên, giỏi làm thơ, nhân viết một bài thơ tuyệt cú vịnh nàng Thôi rằng:

Thanh tú chàng Phan[6] ngọc cũng thua,

Trước sân lan huệ tuyết tan vừa.

Phong lưu tài tử bao tình tứ,

Đứt ruột Tiêu nương[7] một lá thư.

Nguyên Chẩn người Hà Nam, cũng nối ba mươi vần bài thơ Gặp tiên của Trương, thơ rằng:

Trăng mờ soi lọt rèm song,

Chập chờn ánh đóm bầu không qua rồi.

Trời xa thấp thoáng vừa coi,

Muôn tàn cây thấp lần hồi mông lung.

Ngâm nga sân trúc tiếng rồng,

Giọng oanh phơ phất ngô đồng giếng thu.

Áo là buông rủ sương mờ,

Leng keng vòng ngọc nhẹ hờ gió lay.

Theo Vương mẫu, ngọn cờ bay,

Vấn vương ngọc nữ bóng mây la đà.

Canh khuya vắng lặng người qua,

Sớm ngày gặp gỡ nhạt nhòa mưa rơi.

Hài văn sắc ngọc chói ngời,

Rồng thêu ẩn hiện, sáng tươi hoa lồng.

Thoa cài cánh phượng linh lung,

Khăn là rờ rỡ, cầu vồng phủ che.

Dao Hoa, rằng tự ấy đi,

Sắp sang Bích Ngọc cung kia lạy chầu.

Lạc Thành nhân ghé qua mau,

Phía đông nhà Tống, ghé vào ngẫu nhiên.

Cợt đùa, thoáng cự trước tiên,

Mà nhu tình đã thuận êm trong lồng.

Cúi đầu cho cánh trâm rung,

Quay lưng khiến bụi ngọc tung gót hài.

Ngoái nhìn, vẻ tuyết hoa tươi,

Bước lên giường nệm, chung ngồi ôm chăn.

Uyên ương ghé cổ ái ân,

Đôi con phỉ thúy hợp hoan trong lồng.

Ngượng ngùng nhíu chặt mày cong,

Môi son ủ ấm, càng nồng càng say.

Hương lan sực nức đâu đây,

Nhuận tươi như ngọc, sẵn bày làn da.

Điệu đà tay ngại nhích qua,

Khép mình bao vẻ kiêu sa yêu kiều.

Mồ hôi giọt giọt châu gieo,

Vấn vương tóc rối mướt đều vẻ xanh.

Ngàn năm mừng gặp duyên lành,

Đã nghe khoảnh khắc năm canh hầu tàn.

Dùng dằng thời khắc có ngần,

Ỷ tình quyến luyến khôn phân cho cùng.

Ủ ê mặt, vẻ sầu đong,

Mấy lời thề nguyện tình chung tỏ bày.

Tặng vòng hội hợp mong ngày;

Dải đồng tâm, để người hay tâm đồng.

Phấn vương ngắn lệ gương trong,

Đèn tàn chấp chới bay vòng bướm đêm.

Ánh trăng vằng vặc cồn xem,

Mà ra nắng sớm đã lên tỏ mờ.

Kể về sông Lạc, cánh cò,

Thổi tiêu người lại chơi bờ núi Tung.

Áo còn hương xạ đượm nồng,

Gối còn in dấu son hồng chưa phai.

Bên ao cỏ biếc phủ dài,

Lông chông ngán nỗi bãi ngoài phiêu diêu.

Vặn đàn ai oán hạc kêu,

Trông dòng Ngân Hán, ngóng theo cánh hồng.

Vượt qua bể rộng khó lòng,

Chín trùng trời thẳm dễ xông được nào.

Mây bay ai biết về đâu,

Một chàng Tiêu Sử trong lầu mà thôi.

Các bạn của Trương, ai nghe thấy cũng lấy làm lạ, nhưng chí Trương đã quyết tuyệt. Chẩn thân thiết với Trương hơn cả, nhân hỏi xem vì sao. Trương nói: “Đại phàm những thứ vưu vật trời sinh ra, chẳng mê hoặc mình, thì cũng mê hoặc người. Giả sử nàng Thôi gặp nơi phú quý, được yêu chiều, thì chẳng làm mây làm mưa, cũng làm rồng làm ly, chẳng biết sẽ biến hóa ra thế nào nữa. Xưa, vua Trụ nhà Ân, vua U nhà Chu, làm vua một nước có trăm vạn dân, thế lực lớn thế nào, vậy mà chỉ một người đàn bà có thể đánh bại. Làm cho quân phải tan, thân phải chết, đến nay còn khiến thiên hạ chê cười. Đức của tôi chưa đủ để thắng được yêu nghiệt ấy, nên phải dứt tình vậy.” Những người ngồi quanh khi ấy đều lấy làm than thở.

Hơn năm sau, nàng Thôi đã gửi thân theo người, Trương cũng lấy vợ. Một hôm, Trương đi qua nhà nàng, bèn nhờ người chồng nói với nàng, rằng có anh bên họ ngoại đến thăm. Người chồng có nói giúp, nhưng nàng Thôi rốt không chịu ra. Trương lấy làm oán giận, lộ ra nét mặt. Nàng Thôi biết được, ngầm viết một bài thơ cho Trương, rằng:

Từ khi gầy guộc kém dung quang,

Trằn trọc muôn phần ngại xuống giường.

Nào phải thẹn ai mà chẳng dậy,

Vì chàng tiều tụy, thẹn trông chàng.

Rồi rốt cuộc vẫn không ra gặp. Mấy ngày sau, Trương sắp đi, nàng lại viết một bài thơ để tạ tuyệt rằng:

Vứt bỏ còn chi nói?

Ngày nào thân mến thay!

Xin đem tình thuở trước,

Thương lấy người hôm nay.

Từ đó, tuyệt không còn biết tin gì về nhau nữa. Bấy giờ không ít người cho Trương là người giỏi biết sửa lỗi. Ta thường trong những khi tụ tập bằng hữu, luôn luôn nói đến chuyện này, để cho người biết chuyện ấy thì không làm, người làm chuyện ấy thì không bị mê hoặc. Tháng Chín, năm Trinh Nguyên, chấp sự Lý Công Thùy[8] nghỉ lại nhà ta ở làng Tĩnh An, cùng nhau nói đến chuyện này. Công Thùy kinh ngạc cho là chuyện lạ, bèn viết bài thơ Oanh Oanh ca để truyền lại. Tiểu danh của nàng Thôi là Oanh Oanh, nên Công Thùy lấy làm tiêu đề vậy.

[1] Đăng Đồ tử: Tống Ngọc nước sở đời Chiến Quốc từng làm bài phú Đăng Đồ tử hiếu sắc phú, nói chuyện vợ Đăng Đồ tử dung mạo xấu xí, nhưng Đăng Đồ vẫn sinh cùng vợ tới năm người con. Sau người ta dùng từ “Đăng Đồ tử” đế chỉ kẻ hiếu sắc.

[2] Bồ: tức Bồ Châu, trị sở ở phía tây huyện Vĩnh Tế, tỉnh Sơn Tây ngày nay.

[3] Hồn Hàm: tướng đời Đường, tổ tiên người bộ lạc Hồn, tộc Thiết Lặc, nhiều đời làm tướng nhà Đường, vì lập nhiều chiến công, bình định phản loạn, nên được làm Phó nguyên soái, phong Hàm Ninh quận vương, từng nhậm chức Kiếm hiệu tư đồ kiêm Trung thư lệnh.

[4] Theo Sử ký - Tư Mã Tương Như truyện, Trác Văn Quân thích âm nhạc, Tư Mã Tương Như bèn gảy khúc nhạc Phượng cầu hoàng để trêu ghẹo, khiến Trác văn Quân đến đêm bỏ trốn theo mình.

[5] Theo Tấn thư, Tạ Côn truyện: nhà họ Cao hàng xóm có người con gái đẹp, Côn từng trêu ghẹo, bị người con gái cằm thoi dệt vải ném gãy hai răng.

[6] Chàng Phan: tức Phan An, là một người đẹp trai nổi tiếng đời Tấn. Ở đây ngầm chỉ Trương sinh.

[7] Tiêu nương: cách gọi phiếm chí nữ nhân đời Đường, ở đây ngầm chỉ Thôi Oanh Oanh.

[8] Lý Công Thúy, tự Lý Thân tự Công Thùy - nhà thơ đời Đường, từng nhậm chức Thượng thư tả bộc xạ. Đời Đường Vũ tông, ông được phong làm Tướng quốc, rất thân thiết với Nguyên Chẩn, Bạch Cư Dị.

Châu Hải Đường dịch
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.