Thẩm Ký Tế

Đường Tống Truyền Kỳ (Châu Hải Đường dịch)

Lượt đọc: 291 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHẨM TRUNG KÝ

❊ ❊ ❊

(TRUYỆN CHIẾC GỐI)

Năm Khai Nguyên[1] thứ bảy, có vị đạo sĩ tên là Lã Ông, học được thuật thần tiên. Trên đường đi Hàm Đan[2], đạo sĩ dừng chân ở một nhà trọ, bỏ mũ cởi đai, tựa gối ngồi nghỉ. Lát sau, thấy trên đường có một thanh niên, tên là Lư sinh[3], mặc áo ngắn, cưỡi ngựa xám, đang đi ngoài đồng. Chàng cũng dừng lại quán trọ nghỉ chân, cùng ngồi xuống chiếu với Lã Ông, vui vẻ trò chuyện.

Hồi lâu, Lư sinh nhìn bộ y phục cũ rách của mình, thở dài nói: “Đại trượng phu sinh chẳng phùng thời, khốn đốn thế đấy!” Lã Ông nói: “Trông bộ dạng cậu, không khổ, không bệnh, nói cười thích chí, mà lại thở than khốn đốn, là cớ làm sao?” Lư sinh đáp: “Tôi chỉ cẩu thả sống qua ngày, có gì đáng gọi là thích chí?” Lã Ông nói: “Như vậy mà không phải thích chí thì còn thế nào nữa?” Lư sinh đáp: “Kẻ sĩ ở đời, nên dựng công lập danh, ra tướng văn vào tướng võ, bày đinh mà ăn, chọn nhạc mà nghe, khiến họ mạc hưng thịnh, gia đình giàu sang, như thế mới có thể gọi là thích chí được. Tôi thường để chí học hành, trau dồi lục nghệ, tự cho là đương hoa niên đã có thể áo tía đai xanh[4]. Vậy mà nay tuổi đã tráng niên, vẫn còn phải chăm chỉ đồng áng, chằng phải khốn đốn là gì?” Nói xong, thì thấy dường mỏi mắt, buồn ngủ.

Bấy giờ, người chủ quán đang nấu một nồi kê. Lã Ông thò tay lấy cái gối trong túi ra đưa cho Lư sinh, nói: “Cậu gối cái gối này của ta, thì có thể được vẻ vang thích chí như ý muốn.” Chiếc gối ấy làm bằng sứ xanh, hai đầu có lỗ rỗng. Sinh cúi đầu xuống nhìn vào, thấy cái lỗ rỗng ấy lớn dần, bên trong sáng sủa. Sinh liền nhỏm người bước vào, bèn về đến nhà mình.

Mấy tháng sau, sinh lấy con gái nhà họ Thôi ở Thanh Hà[5]. Vợ sinh dung mạo tuyệt đẹp, hồi môn lại nhiều, sinh mừng lắm, từ đó mặc áo tốt, cưỡi ngựa hay, mỗi ngày một thêm sang quý. Năm sau, sinh thi đỗ khoa Tiến sĩ, bỏ áo vải, khoác triều phục, được bổ làm Hiệu thư lang ở Bí thư sảnh, thi ứng chế[6] xong, đổi làm Vị Nam[7] úy. Không bao lâu lại đổi làm Giám sát ngự sử, rồi Khởi cư xá nhân, Tri chế cáo. Được ba năm, thì sinh được cử tới coi Đồng Châu[8], rồi Thiểm Châu[9] mục. Sinh vốn thích việc thổ mộc, bèn cho đào con sông dài tám mươi dặm ở Thiểm Tây, thông tới mọi miền. Người vùng ấy được nhờ, bèn dựng bia ghi công đức. Sinh lại đổi làm Biện Châu Tiết độ sứ, lĩnh Hà Nam đạo[10] Thái phỏng sứ, rồi được vời về làm Kinh Triệu doãn.

Năm ấy, Thần Vũ Hoàng đế[11] vừa tính việc đánh dẹp Nhung, Địch, mở mang cương thổ. Gặp lúc tướng Thổ Phồn[12] là Tất Mạt La và Chúc Long Mãng Bố Chí đem quân vây hãm Qua Châu, Sa Châu. Tiết độ sứ Vương Quân Hoán[13] bị giết, một vùng Hà, Hoàng đều chấn động. Hoàng đế xét tài tướng soái, bèn bổ sinh làm Ngự sử trung thừa, Hà Tây đạo Tiết độ sứ. Sinh đại phá quân Nhung, chém bảy ngàn thủ cấp, mở đất chín trăm dặm, dựng ba tòa thành lớn để giữ những nơi hiểm yếu. Dân chúng ở biên cương dựng bia ở núi Cư Diên mà ca tụng công lao. Sinh về triều, được sách phong công trạng, ân lễ cực thịnh. Được đổi làm Lại bộ Thị lang, thăng Hộ bộ Thượng thư, kiêm Ngự sử đại phu.

Bấy giờ, sinh ngôi cao vọng trọng, ai nấy kính nể, nên bị Tể tướng đố kỵ, đặt điều vu khống. Sinh bị biếm làm Thứ sử Đoan Châu[14].

Sau ba năm, sinh được vời về làm Thường thị, không bao lâu lại làm Đồng trung thư môn hạ Bình chương sự, cùng với Trung thư lệnh Tiêu Tung, Thị trung Bùi Quang Đình nắm quyền chính hơn mười năm trời, mưu hay lệnh mật, ngày mấy lần tiếp nhận; lại hết sức khuyến gián, một lòng phò tá, được gọi là bậc hiền tướng. Nhưng đồng liêu ghen ghét, vu cho sinh kết giao với tướng ngoài biên, định mưu làm phản, tội phải hạ ngục. Quan binh kéo đến nhà sinh truy bắt rất gấp. Sinh hốt hoảng sợ hãi không biết làm sao, nói với vợ rằng: “Nhà ta ở Sơn Đông, còn ruộng tốt năm khoảnh, đủ để không phải lo đói rét, sao phải khổ cầu bổng lộc? Giờ ra nông nỗi này, nghĩ muốn mặc áo ngắn, cưỡi ngựa xám, thong dong trên đường Hàm Đan, cũng không thể được nữa rồi!” Nói đoạn vung kiếm tự vẫn. Vợ sinh vội cứu, may mắn không chết. Những người liên lụy đều bị tội chết cả, duy sinh được các Trung quan[15] bảo tấu, nên được giảm tội chết, đày đi Hoan Châu[16].

Mấy năm sau, Hoàng đế biết sinh bị oan, cho phục chức Trung thư lệnh, phong Yên quốc công, ơn huệ hơn hẳn người khác. Sinh có năm người con trai, là Kiệm, Truyền, Vị, Thích, Ỷ, đều có tài năng. Kiệm thi đậu tiến sĩ, làm Khảo công viên ngoại, Truyền làm Thị ngự sử, Vị làm Thái thường thừa, Thích làm Vạn Niên úy, Ỷ là người hiền hơn cả, tuổi mới hai mươi tám, được làm Tả tương. Các con sinh đều lấy con gái những nhà vọng tộc trong thiên hạ, sinh được hơn mười cháu nội.

Lư sinh hai bận phải lưu đày biên viễn, rồi lại giữ ngôi cao Tể tướng, làm quan trong triều ngoài trấn, trải khắp đài các, hơn năm mươi năm, vô cùng hiển hách. Tính sinh xa hoa, rất thích du nhàn an lạc, ca kỹ trong nhà đều là những người đẹp bậc nhất. Trước sau được ban tặng những phủ đệ, ruộng tốt, gái đẹp, ngựa hay không thể đếm xuể. Đến khi tuổi tác già yếu, sinh nhiều lần xin về dưỡng lão, nhưng vua không cho. Lúc bị bệnh, quan lại đến thăm, tấp nập chật đường, thuốc tốt danh y, chẳng thiếu thứ gì. Đến khi sắp mất, sinh dâng sớ nói:

“Thần vốn là kẻ học tròSơn Đông, lấy ruộng vườn làm vui. May gặp thánh chúa, được ra làm quan. Đội ơn Hoàng thượng đặc biệt ân thưởng, xuất trấn cầm cờ tiết, về triều phong tể thần. Chu toàn trong ngoài, trải nhiều năm tháng. Thần trộm nhận ơn trời, mà chưa giúp được gì cho thánh hóa, tài hèn mà ngôi cao, lo như giẫm băng mỏng. Ngày qua rồi ngày lại, không biết tuổi già đến. Nay thần đã ngoài tám mươi, giữ ngôi tam công, mệnh đà sắp hết, gân sức già nua, còn chút hơi tàn, đợi lìa trần thế. Trông lại cuộc đời chưa có công lao gì để báo đáp thánh ân, uổng phụ ơn sâu, mà từ biệt đời minh thánh. Thần, trong lòng quyến luyến cảm thương, kính cẩn dâng biểu này để tỏ bày cảm tạ.”

Hoàng đế hạ chiếu rằng:

“Khanh lấy đức lớn, giữ ngôi đầu phụ tá cho trẫm. Xuất trấn gìn giữ biên cương, về triều giúp đời thái bình. Hai mươi năm yên hàn, thực nhờ khanh giúp sức. Lần này khanh mắc bệnh, tưởng sẽ dần thuyên giảm. Đâu ngờ bệnh thêm nặng, thực đau đớn lắm thay! Nay lệnh cho Phiêu kỵ đại tướng quân Cao Lực Sĩ đến phủ thăm hỏi. Khanh hãy gắng thuốc thang chạy chữa, vì ta mà bảo trọng lấy mình. Mong khanh sẽ mau khỏi bệnh, như lòng trẫm hy vọng.”

Tối ấy sinh mất.

Lư sinh chợt vươn vai ngáp dài tỉnh giấc, thấy mình vẫn đang nằm nghỉ trong quán trọ, Lã Ông vẫn đang ngồi bên cạnh. Còn nồi cháo kê chủ quán nấu vẫn chưa chín, y như lúc trước. Sinh giật mình nhỏm dậy nói: “Lẽ nào chỉ là giấc mộng ư?” Lã Ông bảo sinh: “Thích ý ở đời, cũng như vậy đó.” Sinh ngồi lặng hồi lâu, đáp tạ rằng: “Phàm cái đạo sang hèn, cái vận thành bại, cái lẽ được mất, cái tình sinh tử, thảy đều vậy cả! Ấy là tiên sinh đã giúp dứt cái lòng ham muốn cho tôi vậy, lẽ đâu chẳng vâng tuân lời dạy.” Nói rồi dập đầu lạy tạ mà đi.

[1] Khai Nguyên: niên hiệu của Đường Huyền tông từ năm 713 đến năm 741.

[2] Hàm Đan: kinh đô nước Triệu thời Chiến Quốc, nay thuộc thành phố Hàm Đan, tỉnh Hà Bắc.

[3] Sinh: là chữ dùng đế phiếm chỉ một người, ở đây Lư sinh nghĩa là chàng họ Lư.

[4] Áo tía đai xanh: chi việc làm quan lớn.

[5] Thanh Hà: tên quận đời Đường, tức huyện Thanh Hà, Hà Bắc ngày nay, họ Thôi ở Thanh Hà là một đại tộc phương Bắc.

[6] Ứng chế: thời Đường, các tiến sĩ khoa Minh kinh sau khi được bố nhậm, có thể được Hoàng đế đặc biệt gọi tham gia khoa thi ứng chế.

[7] Vị Nam: tên huyện, nay thuộc tỉnh Thiểm Tây.

[8] Đồng Châu: tên một châu đời Đường, địa bàn đại khái gồm các huyện Đại Lệ, Hợp Dương, Hàn Thành, Trừng Thành, Bạch Thủy tỉnh Thiểm Tây ngày nay.

[9] Thiểm Châu: tên một châu xưa, địa bàn đại khái gồm các huyện Thiểm, Lạc Ninh, Mẫn Trì, Linh Bảo, thành phố Tam Môn Hiệp, tỉnh Hà Nam, và các huyện Bình Lục, Nhuế Thành, phần đông bắc Vận Thành, tỉnh Sơn Tây.

[10] Thời Khai Nguyên nhà Đường chia thiên hạ ra làm mười lăm đạo, Hà Nam đạo ước bao gồm khu vực phía nam Hoàng Hà của hai tỉnh Sơn Đông, Hà Nam, và phía bắc Hoài Hà của hai tỉnh Giang Tô, An Huy.

[11] Thân Vũ Hoàng đế: tức Đường Huyền tông.

[12] Thố Phồn: cũng gọi Thố Phiên, tức khu vực Tây Tạng ngày nay. Tất Mạt La, Chúc Long Mãng Bố Chi là hai tướng lĩnh của Thố Phồn. Tất Mạt La trong Tân Đường thư - Vương Quân Hoán truyện chép là Tất Nặc La.

[13] Vương Quân Hoán: khi ấy nhận chức Hà Tây Tiết độ sứ, vì kết oán với thủ lĩnh các bộ tộc Hồi Hột nên bị giết.

[14] Đoan Châu: tức khu vực Cao Yếu, Đoan Châu thuộc Triệu Khánh, Quàng Đông ngày nay.

[15] Trung quan: thái giám trong cung.

[16] Hoan Châu: tức khu vực phía nam tỉnh Nghệ An, và tỉnh Hà Tĩnh (Việt Nam) ngày nay.

Châu Hải Đường dịch
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.