Nhạc Sử

Đường Tống Truyền Kỳ (Châu Hải Đường dịch)

Lượt đọc: 372 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
DƯƠNG THÁI CHÂN NGOẠI TRUYỆN

❊ ❊ ❊

(DƯƠNG THÁI CHÂN)[1]

Dương Quý phi tiểu tự Ngọc Hoàn, người Hoa Âm, Hoằng Nông[2]. Sau dời đến ở thôn Độc Đầu, Vĩnh Lạc, Bồ Châu[3]. Cụ tổ là Dương Lệnh Bản, từng làm Kim Châu Thứ sử, cha là Dương Huyền Diễm, làm quan Tư hộ Thục Châu. Quý phi sinh ở đất Thục, từng xảy chân ngã xuống hồ, sau người ta gọi hồ ấy là hồ Lạc Phi. Hồ ở trước huyện Đạo Giang[4] (Cũng như Vương Chiêu Quân sinhHiệp Châu, nay có thôn Chiêu Quân, Lục Châu sinhBạch Châu, nay có sông Lục Châu). Phi sớm mồ côi cha, được nuôi ở nhà chú là Hà Nam phủ sĩ tào Dương Huyền Khuê. Tháng Mười một, năm Khai Nguyên thứ hai mươi hai, được đưa vào cung Thọ vương. Tháng Mười, năm thứ hai mươi tám, Huyền tông đến Ôn Tuyền cung (từ tháng Mười, năm Thiên Bảo thứ sáu, đổi gọi là Hoa Thanh cung). Vua sai Cao Lực Sĩ đem Dương thị từ phủ Thọ vương ra, cho độ làm nữ đạo sĩ, hiệu là Thái Chân, cho ở Thái Chân cung. Tháng Bảy năm Thiên Bảo thứ tư, sách chọn con gái của Tả vệ Trung lang tướng Vi Chiêu Huấn gả cho Thọ vương. Cùng tháng ấy, sách phong cho nữ đạo sĩ ở Thái Chân cung là Dương thị làm Quý phi ở vườn Phượng Hoàng, được phục dụng bằng một nửa Hoàng hậu. Ngày vào tấn kiến, được tấu nhạc Nghê thường vũ y khúc (Nghê thường vũ y khúc là khúc nhạc mà Huyền tông làm ra khi lên trạm dịch Tam Hương[5], nhìn núi Nữ Kỷ[6], cho nên Lưu Vũ Tích có bài thơ Kính xem bài thơ Ngắm núi Nữ Kỷ của Hoàng đế Huyền tông, tiểu thần bỗng có cảm xúc rằng:

Khai Nguyên muôn sự thảy sung túc,

Cảnh sắc bấy giờ riêng thúc giục.

Vua đến Tam Hương ngắm núi tiên,

về soạn Nghê Thường vũ y khúc.

Dao Trì, từ bấy chuộng thần tiên,

Bát Cảnh, Tam thanh[7] kiếm mấy phen.

Chợt đến tự trời, chợt mây khuất,

Câu Thu phong[8] để lại trần gian.

Lại sách Dật sử chép rằng: “Đầu đời Thiên Bảo, La Công Viễn[9] theo hầu Huyền tông, tối ngày rằm tháng Tám, trong cung thưởng trăng, Công Viễn nói: ‘Bệ hạ có thể theo thần lên cung trăng chơi không?’ Bèn lấy một cành quế, ném lên không trung, hóa thành một cái cầu, có sắc như bạc, rồi mời vua cùng lên, ước đi mấy chục dặm, thì bèn đến một tòa thành lớn. Công Viễn nói: ‘Đây là Nguyệt cung’. Có mấy trăm tiên nữ, mặc áo rộng lụa trắng, múa ở trên một sân rộng. Vua lên trước hỏi: ‘Đây là khúc gì?’ Đáp: ‘Là khúc Nghê thường vũ y.’ Vua bèn thầm ghi nhớ thanh điệu, khi quay về cầu, nhìn lại thì thấy cứ bước qua đâu cầu liền biến mất tới đó. Đến sáng, vua bèn truyền dụ cho quan coi việc múa hát, phỏng theo thanh điệu ấy mà đặt ra Nghê thường vũ y khúc. Hai thuyết ấy không giống nhau, nên chép cả lại ở đây.) Tối ấy, vua tặng cho Quý phi hộp trang sức cùng cành kim thoa. Vua lại tự tay cầm cành bộ dao chạm bằng tử ma kim[10], lấy từ kho trấn Lệ Thủy[11] đến gác trang điểm, cài lên tóc cho Quý phi. Vua mừng lắm, nói vói những người ở hậu cung rằng: “Trẫm được Dương Quý phi, thật như được của báu vậy.” Bèn đặt ra khúc nhạc Đắc bảo tử, lại gọi là Đắc bổng tử.

Trước đây, đầu đời Khai Nguyên, Huyền tông có Vũ Huệ phi[12] và Vương Hoàng hậu[13]. Hậu không có con trai, phi sinh được con trai, lại xinh đẹp nên được sủng ái hơn hẳn Hoàng hậu. Đến năm Khai Nguyên thứ mười ba, Hoàng hậu bị phế, phi tần không ai so được với Huệ phi. Tháng Mười một năm Khai Nguyên thứ hai mươi mốt, Huệ phi qua đời, trong hậu cung tuy cũng có những con nhà lương gia, nhưng không có ai vừa mắt cả, trong lòng vua rất buồn bã. Đến đây có được Quý phi, vua lại sủng hạnh hơn cả Huệ phi. Quý phi có ba chị gái, đều có dung mạo xinh đẹp, giỏi ăn nói, khéo chiều ý người, mỗi khi vào cung chơi, đều tới sáng mới ra. Trong cung gọi Quý phi là nương tử, lễ ngộ hệt như Hoàng hậu vậy. Ngày sách phong Quý phi, cũng truy phong cho cha là Huyền Diễm làm Tế Âm Thái thú, mẹ là Lý thị làm Lũng Tây quận phu nhân. Lại truy tặng Huyền Diễm chức Binh bộ Thượng thư, Lý thị là Lương Quốc phu nhân, chú phi là Huyền Khuê làm Quang lộc khanh Ngân thanh quang lộc đại phu. Anh họ là Dương Chiêu làm Thị lang, kiêm Sổ sứ, anh họ là Dương Tiêm lại đứng trong hàng triều liệt. Em họ là Dương Kỳ lấy Thái Hoa công chúa, là con gái của Vũ Huệ phi, nên nhờ mẹ mà được đãi ngộ hơn hẳn các công chúa khác, ban cho phủ đệ ngay liền cấm cung. Từ đó, họ Dương quyền nghiêng thiên hạ, mỗi khi có điều gì nhờ đến, thì các đài sảnh, phủ huyện coi không khác gì chiếu vua. Các món hàng hiếm lạ bốn phương, không ngày nào không có tôi tớ, cùng ngựa, lạc đà, thồ đến cửa.

Bấy giờ, An Lộc Sơn làm Phạm Dương Tiết độ sứ, được ân ngộ vô cùng, vua gọi là con, thường được vào điện riêng cùng yến ẩm với Quý phi. Mỗi khi Lộc Sơn vào điện, không bái chào vua mà bái chào Quý phi. Vua bèn hỏi: “Sao không lạy chào ta mà lại lạy chào Quý phi? Ý ngươi là thế nào?” Lộc Sơn bèn tâu: “Tục người Hồ không biết đến cha, chỉ biết đến mẹ thôi.” Vua bèn cười mà xá tội cho. Lại mệnh cho bọn Dương Tiêm trở xuống, kết làm huynh đệ tỷ muội với Lộc Sơn, mỗi khi qua lại tất yến ẩm tiếp đón lẫn nhau. Mới đầu tuy là kết nghĩa thâm sâu với nhau, nhưng về sau quyền thế ngang ngửa, không hòa thuận nữa.

Tháng Bảy năm Thiên Bảo thứ năm, Quý phi vì ghen tuông đành hanh trái lại thánh chỉ, vua bèn cho lên xe nhỏ, sai Cao Lực Sĩ đưa trả về nhà Dương Tiêm. Đến trưa, vua nhớ quá không ăn uống được, hơi một chút là nổi giận. Lực Sĩ dò ý, bèn tâu xin đưa về, tặng cho các cung nhân trong viện quần áo cùng những đồ ăn, gạo miến, rượu của quan Tư nông hơn một trăm xe. Các chị của Quý phi cùng Dương Tiêm, mới đầu sợ phải tội túm nhau khóc than, đến khi thấy được ban ơn hơn trước, có cả đồ ngự soạn đưa đến, thì mới an lòng.

Lúc Quý phi mới bị đưa ra ngoài, vua trong lòng buồn bã, người trong cung đi qua trước mặt, có khi bị đánh đòn, đến nỗi có kẻ sợ quá mà chết. Lực Sĩ thấy thế, xin triệu Quý phi về, tối hôm ấy mở lối phường An Hưng, rồi đưa phi từ nhà Thái Hoa công chúa vào cung. Đến sáng, Huyền tông thấy phi ở nội điện thì mừng rỡ vô cùng. Quý phi bái lạy tạ tội, vua nhân vời những phường tạp kỹ ở hai chợ vào mua vui cho Quý phi. Các chị Quý phi cũng dâng đồ ăn mà mừng. Từ đó, ân ngộ ngày càng nhiều thêm, hậu cung không một ai được vua lâm hạnh cả.

Đến năm Thiên Bảo thứ bảy, lại gia phong cho Dương Chiêu làm Ngự sử đại phu, quyền Kinh triệu doãn, ban cho tên là Quốc Trung. Phong cho chị cả của phi làm Hàn Quốc phu nhân, chị ba làm Quắc Quốc phu nhân, chị tám làm Tần Quốc phu nhân, bái mệnh cùng một ngày, hàng tháng đều cho mỗi người mười vạn tiền, gọi là tiền son phấn, nhưng Quắc Quốc phu nhân chẳng cần trang điểm mà đã xinh đẹp vô cùng, thường để mặt mộc vào chầu thiên tử. Bấy giờ, Đỗ Phủ có thơ rằng:

Quắc Quốc phu nhân được chủ ân,

Rạng ngời lên ngựa đến cung môn.

Riêng hiềm son phấn tổn nhan sắc,

Nhại kẻ mày xanh chầu chí tôn.

Lại ban cho Quắc Quốc phu nhân ngọc Chiếu dạ, ban cho Tần Quốc phu nhân mũ thất diệp, ban cho Quốc Trung trướng Tỏa tử, đều là những thứ trân bảo hiếm có trên đời, có thể thấy ân sủng đến như vậy. Tiêm nhận chức Ngân thanh quang lộc đại phu Hồng lô khanh, được dùng nghi trượng khải kích, đặc ban Thượng trụ quốc, một ngày ba lần hạ chiếu, cùng với bọn Quốc Trung năm nhà đều ở làng Tuyên Dương, phủ đệ san sát, tiếm vượt cung đình, ngựa xe bộc tòng, chói lọi kinh thành. Mấy nhà thường cùng nhau khoe khoang xa xỉ, mỗi khi dựng một tòa nhà, thường phí tổn đến hàng ngàn vạn tiền. Thấy phủ đệ nhà ai mới dựng to đẹp hơn của mình, liền phá ngay phủ đệ của mình đi mà dựng lại, hưng công thổ mộc, bất kể ngày đêm. Ngự thực cùng các đồ cống phẩm bên ngoài tiến dâng đều được ban thưởng cho năm nhà. Từ đời Khai Nguyên đến nay, các nhà hào môn quý tộc, chưa từng có ai vinh hiển đến như thế.

Vua đi đâu cũng tất phải có Quý phi đi cùng, cưỡi ngựa thì có Lực Sĩ cầm cương, giữ roi. Trong cung có tới bảy trăm người lo việc thêu thùa may mặc cho Quý phi, lại tới mấy trăm người làm việc chạm khắc đồ dùng vàng ngọc để dùng vào những buổi sinh nhật cùng lễ tết. Lại sai Dương ích đến Lĩnh Nam, khiến các trưởng lại ngày ngày tìm kiếm những thứ tân kỳ mà dâng hiến. Lĩnh Nam Tiết độ sứ Trương Cửu Chương, Quảng Lăng Trưởng sử Vương Dực, nhân hết Đoan ngọ dâng Quý phi những đồ trân ngoạn y phục, khác hẳn các quận khác, vì vậy Cửu Chương bèn được gia phong Ngân thanh Quang lộc đại phu, Dực được thăng làm Hộ bộ Thị lang.

Tháng Hai năm Thiên Bảo thứ chín, vua khi xưa có đặt trướng năm vương, bầy gối dài, chăn rộng, cùng nằm với anh em ở đó. Quý phi không hiểu cớ gì, trộm lấy chiếc sáo bằng ngọc tía của Ninh vương ra thổi chơi. Cho nên thi nhân Trương Hỗ[14] mới có câu thơ: “Hoa lê sân vắng không người thấy, Sáo ngọc Ninh vương rảnh thổi chơi.” Vì việc ấy, phi lại phạm thánh chỉ, bị đuổi ra. Khi ấy Cát Ôn[15] thân thiết với nhiều thái giám trong cung, Quốc Trung lo sợ, hỏi kế Ôn, rồi vào tâu vua rằng: “Quý phi chỉ là đàn bà, không hiểu biết gì, phạm đến thánh nhan, tội thật đáng chết. Nhưng đã từng được chịu ân sủng, chỉ nên chết ở trong cung. Bệ hạ tiếc gì một thước đất, mà không cho được chết? Sao lại nhẫn tâm bắt phải chịu nhục ở bên ngoài?” Vua nói: “Trẫm dùng khanh, đâu phải vì cớ Quý phi.” Lúc trước, Huyền tông sai Trung sứ Trương Thao Quang đưa Quý phi về nhà, phi khóc nói với Thao Quang rằng: “Xin tâu giúp với Hoàng thượng: Thiếp tội đáng muôn chết, y phục vật dụng, đều do thánh ân ban cho, chỉ có da tóc này là của cha mẹ sinh ra mà thôi. Nay thiếp sắp phải chết, không có thứ gì để cảm tạ Hoàng thượng cả.” Nói xong, liền cắt một nắm tóc, trao cho Thao Quang nhờ dâng lên Hoàng thượng. Phi ra khỏi cung rồi, vua buồn bực không vui. Bấy giờ, Thao Quang mới để tóc phi trên vai mà tâu lên vua. Vua giật mình cả sợ, lập tức sai Lực Sĩ đến đón Quý phi về, từ đó càng sủng ái hơn. Lại gia phong Quốc Trung làm Kiếm Nam Tiết độ sứ.

Năm Thiên Bảo thứ mười, hết Thượng Nguyên, năm nhà họ Dương đi chơi đêm, xảy việc tranh nhau với quân kỵ tòng của Quảng Ninh công chúa khi vào cửa chợ Tây. Gia nô của họ Dương vung roi vụt nhầm vào áo công chúa, khiến công chúa ngã ngựa. Phò mã Trình Xương Duệ đỡ công chúa dậy, nhân cũng bị trúng mấy roi. Công chúa khóc tâu lên vua, vua ra lệnh giết một tên gia nô nhà họ Dương, còn Xương Duệ thì bị bãi quan, không cho vào triều kiến. Vì vậy, nhà họ Dương càng trở nên hoành hành hống hách, ra vào nơi cấm môn không ai dám hỏi, các trưởng lại ở kinh sư, chẳng ai không ngứa mắt. Cho nên, bấy giờ người ta có câu dao ngôn rằng: “Sinh con gái cũng chớ lo, Sinh con trai cũng chớ cho là mừng.” Lại có câu: “Con trai chẳng lập tước hầu, Con gái lại được vào chầu làm phi, Thì coi gái lại hơn bề, Đứng trên cao nhất làm mi cửa nhà.” Có thể thấy lòng người hâm mộ đến là như vậy.

Một hôm, vua ra ngự lầu Cần Chính, cho bày nhã nhạc. Khi ấy giáo phường có Vương đại nương, giỏi đội cây sào trăm thước trên đầu, trên đầu sào có núi bằng gỗ, hình trạng như đảo Doanh Châu, Phương Trượng, cho trẻ con cầm cờ tiết đỏ ra vào trong đó, mà Vương đại nương vẫn múa không hề gì. Khi ấy, Lưu Yến[16] nổi danh thần đồng, giữ chức Bí thư tình chính tự, mới mười tuổi mà đĩnh ngộ hơn người. Vua cho gọi Yến đến lầu, Quý phi cho ngồi lên gối mà đánh phấn vẽ mày, chải tóc đội khăn cho, rồi sai Yến làm thơ vịnh Vương Đại Nương đội sào. Yến bèn ứng khẩu ngâm rằng:

Trước lầu tranh cạnh đủ trò chơi,

Múa đội sào riêng diệu tuyệt vời.

Ai bảo yếm khăn là sức yếu,

Vẫn còn hiềm nhẹ, đội thêm người.

Huyền tông cùng các phi tần đều vui cười mãi không thôi, tiếng cười vang tận ra ngoài cung. Huyền tông bèn sai lấy hốt ngà cùng áo bào vàng ra thưởng cho Yến.

Vua lại yến hội các vương ở điện Mộc Lan, khi ấy hoa mộc lan nở, vua tâm tình không được vui, Quý phi bèn nhân say, múa một khúc Nghê thường vũ y, vua mới vui nét mặt. Thế mới hay, gió thổi tuyết bay, có thể xoay trời chuyển đất vậy.

Vua thường mơ thấy mười nàng tiên, bèn đặt ra khúc Tử vân hồi (Huyền tông từng mộng thấy hơn mười nàng tiên, cưỡi mây giáng xuống, mỗi người cầm một thứ nhạc khí cùng hòa tấu, khúc nhạc trong trẻo vang vọng, thực là âm thanh chốn tiên phủ. Một nàng tiên nói: “Đây là khúc Tử vân hồi của chốn thần tiên. Nay xin truyền thụ cho bệ hạ, là thứ âm nhạc thuần chính vậy.” Vua vui mừng mà nhận. Tỉnh dậy rồi, mà dư âm nghe vẫn còn vang vọng. Đến sáng, vua sai lấy sáo ngọc mà tập theo, học được hết tiết tấu của khúc nhạc vậy), và Mộng Long nữ, lại đặt ra Lăng ba khúc. (Huyền tông khi ở Đông đô, nằm mộng thấy một người con gái, dung mạo xinh đẹp lạ kỳ, chải tóc hai búi giao nhau, áo chùng tay rộng, đến bái chào trước giường. Vua hỏi: “Nàng là ai?” Đáp: “Thiếp là Long nữ trong hồ Lăng Ba của bệ hạ. Việc giữ cung hộ giá, thiếp đã có công, nay bệ hạ thông hiểu nhạc Quân thiên, xin ban cho thiếp một khúc để vẻ vang cho tộc loại.” Vua ngay trong mộng bèn gảy hồ cầm, lượm lặt những thanh khúc cũ mới, làm nên Lăng Ba khúc. Long nữ bèn bái tạ mà đi. Kịp khi tỉnh dậy, còn nhớ được hết, bèn tụ tập nhạc công trong cung, tự mình gảy đàn tỳ bà, giúp chúng tập đến thành thạo. Vua cùng các quan văn võ, ra bên hồ trong cung Lăng Ba tấu khúc nhạc mới ấy, trong hồ bèn có sóng nổi lên, lại có thần nữ hiện ra, chính là người con gái đã thấy trong mộng. Vua cá mừng, nói với Tể tướng, nhân lập miếu ở trên hồ, hàng năm đều lệnh cho cúng tế.) Hai khúc đã thành, bèn ban cho Nghi Xuân viện, cùng các đệ tử Lê Viên và các vương.

Bấy giờ, huyện Tân Phong mới tiến một đào hát tên gọi Tạ A Man, múa rất đẹp. Vua và Quý phi rất thích, bèn giữ lại. Nhân bày ca vũ ở Thanh Nguyên tiểu điện, Ninh vương thổi ngọc địch, vua gõ trống da dê, Quý phi gảy tỳ bà, Mã Tiên Kỳ chơi phương hưởng, Lý Quy Niên thổi tất lật, Trương Đã Hồ chơi đàn không hầu, Hạ Hoài Trí gõ phách[17], từ sáng đến trưa, vô cùng vui vẻ. Lúc ấy chỉ có em gái Quý phi là Tần Quốc phu nhân ngồi xem. Khúc nhạc chơi xong, vua đùa bảo: “Đội nhạc của A Man (vua thường tự xưng là A Man trong nội cung), hôm nay may mắn được hầu phu nhân. Xin ban thưởng cho tấm khăn đội.” Tần Quốc phu nhân nói: “Lẽ nào em vợ của thiên tử Đại Đường lại không có tiền ư?” Rồi xuất tiền ba trăm vạn mở một cuộc rượu vui. Các đồ nhạc khí đều không phải thứ trên đời có được, mới vừa tấu lên mà đã nghe gió mát mơn man, âm vang chân trời vậy. Tỳ bà của Quý phi được làm bằng gỗ chiên đàn La Sa[18], do hoạn quan Bạch Quý Trinh đi sứ đất Thục trở về dâng tặng, chất gỗ ấm nhuần như ngọc, sáng láng như gương, lại có những vân đỏ như sợi kim tuyến, kết thành hình đôi chim phượng. Đây đàn là thứ tơ tằm Lục thủy của nước Mạt Ha Đi La tiến cống từ đầu niên hiệu Vĩnh Thái, sáng đẹp lung linh như chuỗi ngọc. Cây sáo ngọc tía là vật cũ của Hằng Nga. An Lộc Sơn từng dâng cống các thứ ống sáo ba trăm loại, đều dùng ngọc chế thành. Các vương, quận chúa và các chị em Quý phi đều coi Quý phi là bậc thầy mà làm đệ tử học tỳ bà của phi. Mỗi khi diễn tấu xong một khúc nhạc đều được tặng thưởng rất nhiều. Một hôm, Quý phi nói với A Man[19] rằng: “Ngươi nghèo túng, không có gì để dâng tặng sư trưởng, để ta cho ngươi.” Rồi sai con hầu Hồng Đào Nương lấy vòng đeo tay bằng ngọc hồng túc ban cho A Man. Quý phi lại giỏi gõ khánh, tiếng nghe lanh lảnh thánh thót, đều là những âm vận mới, dù là những kỹ nhạc ở Thái Thường, Lê Viên cũng không thể bằng được. Vua sai lấy thứ lục ngọc ở Lam Điền đẽo thành khánh, vua làm xong giá khánh, cho treo tua trang trí, lấy vàng ngọc tô điểm, lại đúc hai con sư tử vàng làm chân đế, vô cùng rực rỡ mỹ lệ, nhất thời không gì sánh bằng.

Trước kia, đời Khai Nguyên, trong cung trồng mộc thược được, tức nay gọi là hoa mẫu đơn (Khai Nguyên Thiên Bảo hoa mộc ký chép: “Trong cung gọi mộc thược được là mẫu đơn”), được mấy gốc đỏ, tía, hồng, trắng, vua nhân đánh ra trồng trước đình Trầm Hương phía đông hồ Hưng Khánh. Đến khi hoa nở rộ, vua cưỡi con ngựa Chiếu dạ bạch, Quý phi ngồi kiệu nhỏ theo sau, chiếu cho chọn những người giỏi trong đám đệ tử Lê Viên, được mười sáu người nhạc công. Lý Quy Niên hát hay nổi tiếng thời bấy giờ, tay cầm phách, đứng ra trước đám nhạc công, đang định cất tiếng hát, thì vua nói: “Ta thưởng danh hoa cùng Quý phi, há lại dùng những bài hát cũ ư?” Rồi liền sai Quy Niên đem giấy Kim hoa tiên, tuyên ban cho Hàn lâm học sĩ Lý Bạch lập tức dâng lên ba bài thơ Thanh Bình nhạc. Lý Bạch lĩnh chỉ, tuy vẫn còn say từ tối qua, nhưng vẫn cầm bút viết liền ba bài thơ.

Bài thứ nhất là:

Mặt ngỡ hoa cười, áo ngỡ mây,

Gió xuân hiên thoảng, đượm sương bay.

Chồng nơi Quần Ngọc đầu non thấy,

À

Ắt gặp Dao Đài dưới nguyệt đây!

Bài thứ hai là:

Một cành thắm đẹp, ngát thơm sương,

Đỉnh Giáp mây mưa luống đoạn trường.

Dám hỏi Hán cung ai sánh được,

Điểm trang Phi Yến khá nên thương.

Bài thứ ba là:

Danh hoa, người đẹp thảy đều ưa,

Thường khiến vui nhìn xứng ý vua.

Gỡ giúp gió xuân muôn vạn hận,

Trầm Hương hiên bắc, tựa thờ ơ.

Quy Niên mang thơ dâng lên, vua sai đệ tử Lê Viên theo từ điệu mà gióng tiếng tơ tiếng trúc, rồi giục Quy Niên hát. Quý phi cầm chén pha lê thất bảo, rót rượu bồ đào Lương Châu, cười mà nhận lời ca, ý rất vui thích. Vua nhân thổi sáo ngọc mà hòa theo, hết mỗi khúc lại thổi xen vào để bài hát chậm lại cho Quý phi vui. Quý phi uống xong, cầm khăn thêu mà lạy tạ. Từ dó, vua coi trọng Lý Hàn lâm khác hắn những học sĩ khác.

Nhưng Cao Lực Sĩ cho chuyện phải cởi giày cho Lý Bạch là nhục[20], ngày khác, khi Quý phi ngâm lại khúc ấy, mới đùa bảo: “Cứ ngỡ Quý phi phải oán Lý Bạch đến tận xương tủy mới phải, chứ sao lại vui thích làm vậy?” Quý phi ngạc nhiên hỏi: “Học sĩ sao có thể làm gì không phải với ta?” Lực Sĩ nói: “Lấy Phi Yến để ám chỉ Quý phi, thật là quá coi rẻ vậy.” Vì vậy Quý phi bèn thâm oán Lý Bạch. Vua từng mấy bận muốn cho Lý Bạch làm quan, nhưng sau rốt đều bị Quý phi ngăn cản mà lại thôi.

Vua ở tiện điện trong Bách Hoa viện, nhân đọc Hán Thành đế nội truyện, khi ấy Quý phi đến sau, đưa tay chinh lại cổ áo cho vua, nói: “Hoàng thượng đang đọc sách gì?” Vua cười bảo: “Chớ hỏi. Biết rồi lại bối rối khó hiểu.” Quý phi cầm xem, thấy trong truyện viết: “Hán Thành đế được Phi Yến, thân mình nhẹ không chịu nổi gió thổi, chỉ sợ cuốn bay đi. Thành đế lại làm mâm thủy tinh, cho cung nhân giữ trên tay để Phi Yến đứng trên đó mà múa. Lại dựng đài thất bảo tránh gió, dùng các loại hương liệu ngăn cách, để Phi Yến trên đó, sợ là tứ chi không chịu nổi gió thổi.” Vua lại nói: “Khanh thì gió có thổi bao nhiêu cũng không ngại gì.” Vì rằng Quý phi có thân hình đầy đặn, cho nên vua mới nói đùa như vậy. Quý phi nói: “Một khúc Nghê thường vũ y, cũng có thể che lấp hết người xưa rồi.” Vua nói: “Ta mới vừa đùa một câu, khanh đã giận ư? Ta nhớ có một tấm bình phong, nay vẫn còn, đợi ta cho người tìm thấy, sẽ tặng cho khanh.” Bức bình phong ấy có tên là Hồng nghê, trên đó có khắc hình các mỹ nhân đời trước, cao độ trên dưới ba tấc, trong bình phong những đồ món đồ chơi, y phục đều được dùng bảo ngọc chế thành, sàn nhà là thủy tinh, khung rèm bằng đồi mồi sừng tê, rèm là những chuỗi trân châu lóng lánh. Điểm xuyết tinh diệu, tựa hồ chẳng phái sức người có thể làm được. Đó chính là tấm bình phong do Tùy Văn đế làm, tặng cho Nghĩa Thành công chúa[21] mang theo sang bắc Hồ. Đầu đời Trinh Quán, khi diệt rợ Hồ, tấm bình phong lại cùng Tiêu hậu quay về Trung Quốc, đến nay tặng cho Quý phi. (Khi Quý phi về nhà Vệ công[22], bèn mang hình phong đi cùng, để trên lầu cao, chưa kịp mang về cung. Dương Quốc Trung buổi trưa nằm ngủ trên lầu, lên giường nằm, thấy bình phong vẫn còn ở đó. Vừa nằm xuống gối, thì những mỹ nhân trên bình phong đều bước xuống cả trước giường, ai nấy tự xưng tên mình. Người thì xưng rằng: “Thiếp là người xé lụa.” Kẻ lại xưng rằng: “Thiếp là người Định Đào.” Rồi: “Là người Khung lư”, “Là người Đương Khư”, “Là người nước Ngô”, “Là người đi trên hoa sen”, “Là người Đào Nguyên”, “Là người Ban trúc”, “Là người phụng ngũ quan”, “Là người da ấm”, “Là người của họ Tào nhảy xuống sóng nước”, “Là người tỏa hương vô song trong cung Ngô”, “Là người nhặt phỉ thúy”, “Là người trộm hương”, “Là người trong nhà vàng”, “Là người cởi ngọc bội”, “Là người làm mây”, “Là Đổng Song Thành”, “Là người làm khói”, “Là người vẽ mày”, “Là người thổi tiêu”, “Là người cười kẻ khoèo chân”, “Là người đất Cai Trung”, “Là Hứa Phi Quỳnh”, “Là Triệu Phi Yến”, “Là người vườn Kim Cốc”, “Là người tóc mai nhỏ”, “Là người tỏa ánh sáng”, “Là Tiết Dạ Lai”, “Là người kết lụa”, “Là người ở gác Lâm Xuân”, “Là người con gái Phù Phong”. Quốc Trung tuy mở mắt nhìn thấy rõ ràng, nhưng thân thể không thể cử động được, miệng không thể nói được. Các mỹ nhân ai nấy đem đồ vật bày quanh chỗ ngồi. Phút chốc có hơn chục người ca kỹ eo thon, nói: “Chúng tôi là Đạp dao nương trong cung Chương Hoa nước Sở vậy.” Rồi bèn khoác tay nhau mà hát rằng: “Ba đóa phù dung là chúng tôi, Dương xưa tạo tác, Dương nay nhận”. Lại có đôi, ba người kỹ nữ, nói: “Chúng tôi là Cung yêu nương trong cung nước Sở. Chắc hẳn ngài đã nghe, trong “Sở từ biệt tự” có viết: “Tươi tắn vẻ hoa, Cung thân da ngọc.” Chớp mắt bèn trổ hết tài nghệ của mình, trình diễn xong xuôi lại nhất nhất quay về trên bình phong như cũ. Quốc Trung tỉnh dậy, vô cùng kinh hãi, vội chạy xuống lầu, mau chóng sai người khóa chặt cửa lại. Quý phi nghe được chuyện ấy, cũng không muốn thấy bức bình phong ấy nữa. Sau loạn An Lộc Sơn, vật ấy vẫn còn, ở trong nhà Tể tướng Nguyên Tảĩ[23], về sau không biết đi đâu.)

***

Trước khi, cuối đời Khai Nguyên, Giang Lăng dâng giống cây quýt ngọt nhỏ, vua cho đem mười cây trồng trong cung Bồng Lai. Đến mùa thu, tháng Chín, năm Thiên Bảo thứ mười, thì có quả. Vua tuyên đem quả ban cho các bậc tể thần, rằng: “Vừa rồi, trẫm có trồng được mấy cây quýt trong cung, đến thu năm nay đậu được hơn một trăm năm chục quả, ngon không kém gì quýt ở Giang Nam và đất Thục tiến cống, chỉ khác chút ít.” Tế thần dâng biểu mừng rằng: “Thần phủ phục thưa rằng: Vật tự trời sinh chẳng thể đổi bản tính vốn có, Thứ từ xưa hiếm khá nói là cảm ứng khác thường. Cho nên biết: Thánh nhân ngự vật, lấy nguyên khí điều hóa, Đạo lớn đúng thời, thì các phương hợp điệu. Vả chăng: Cam quýt giống ấy, nam bắc khác danh. Thực là tạo hóa có phân chia, chẳng bởi âm dương mà ngăn cách. Bệ hạ phong độ diệu kỳ, kỷ cương thuần phác, hợp trời đất tại một nhà. Mưa gió thuận hòa, khắp dưới trời cùng thấm đượm, cỏ cây có tính, nhờ khí đất được lưu thông. Cho nên, thứ quả quý ở Giang Nam, thành trái ngon nơi cung cấm. Cuống xanh sương đượm, điện gấm hương bay, áo vàng nắng chói, sắc đẹp thềm son...” Vua bèn ban thưởng cho đại thần, còn một đôi quả hợp hoan hai trái dính nhau, vua cùng Quý phi giữ lại thưởng ngoạn. Vua nói: “Quả này dường như hiểu ý người, trẫm với khanh vốn cùng là một, nên thành một cặp hợp hoan[24].” Bèn ngồi kề vai cùng ăn. Nhân sai người vẽ thành tranh để truyền cho đời sau.

Quý phi vốn sinh ở đất Thục, nên thích ăn trái vải. Vải ở Nam Hải, ngon hơn ở Thục, nên hàng năm đất ấy đều phải cho chạy trạm chuyển trái vải về kinh tiến cống. Nhưng trái vải vừa nắng nóng lên là chín, qua một đêm, thì đã không còn

vị ngon nữa, người đời sau không thể biết được việc ấy là như thế nào.

Vua và Quý phi chơi đổ xúc xắc, vua sắp thua, chỉ có đổ được bốn điểm thì mới chuyến bại thành thắng được. Vua liên tục hô, quả nhiên xúc xắc đổ được bốn chấm. Vua bèn lệnh cho Cao Lực Sĩ ban cho mặt tứ thành màu đỏ, vì vậy thành phong tục đến nay vẫn không đổi.

Quảng Nam tiến cống một con vẹt trắng, hiểu được tiếng người, gọi tên là Tuyết Y Nữ. Một sớm, con vẹt bay lên đài gương của Quý phi, tự nói rằng: “Tuyết Y Nữ tối qua mộng thấy bị chim ưng bắt.” Vua bảo Quý phi đem Tâm kinh dạy vẹt, nó đều đọc tụng được thuộc lòng, về sau, vua và Quý phi đến chơi biệt điện, để Tuyết Y Nữ đậu trên đòn kiệu cùng đi. Bỗng đâu có một con chim ưng bay đến, bắt lấy con vẹt quắp chết. Vua và Quý phi than thở mãi không nguôi, bèn đem Tuyết Y Nữ chôn trong vườn, gọi là Anh Vũ trủng (mộ vẹt).

Giao Chỉ tiến cống thứ long não hương, có hình trạng như con ve, con tằm, tất cả là năm mươi miếng. Người Ba Tư nói, trong mắt cây long lão già mới có thứ ấy, trong cung gọi là Thụy long não. Vua ban cho Quý phi mười miếng. Phi lại riêng sai minh đà sứ (minh đà, tức lạc đà dưới bụng có lông, ban đêm phát sáng, một ngày có thể chở hàng đi được năm trăm dặm)đem cho An Lộc Sơn ba miếng, lại thường đem cho Lộc Sơn những đồ trang sức nạm vàng, hộp ngọc, bát sắt nạm vàng...

Năm Thiên Bảo thứ mười một, Lý Lâm Phủ chết, lại lấy Dương Quốc Trung làm Tể tướng, kiêm giữ hơn bốn mươi chức vụ. Năm thứ mười hai, lại gia phong Quốc Trung làm Tư không. Con trưởng là Huyên, khi trước lấy Diên Hòa quận chúa, lại thăng tước Ngân thanh quang lộc đại phu, Thái thường khanh, kiêm Hộ bộ Thị lang. Con nhỏ là Phi lấy Vạn Xuân công chúa. Em họ Quý phi là Bí thư thiếu giám Dương Giám lấy Thừa Vinh quận chúa. Trong một nhà mà có tới một quý phi, hai công chúa, ba quận chúa, ba phu nhân. Năm Thiên Bảo thứ mười hai, lại tặng cho cha Quý phi là Dương Huyền Diễm chức Thái úy, Tề quốc công, phong cho mẹ Quý phi là Lương Quốc phu nhân. Sai quan phủ lập miếu thờ, ngự chế bia đá và sắc thư. Lại cho chú Quý phi là Huyền Khuê làm Công bộ Thượng thư. Con rế của Hàn Quốc phu nhân là Bí thư thiếu giám Thôi Tuần có con gái là phi của Đường Đại tông. Con trai của Quắc quốc phu nhân là Bùi Huy lấy tông nữ của Đường Đại tông là Diên Quang công chúa, con gái của Quắc quốc phu nhân thì làm dâu Nhượng đế[25]. Con rể của Tần quốc phu nhân là Liễu Trừng có con trai là Quân lấy Trường Thanh huyện chúa. Em của Trừng là Đàm lấy con gái Túc tông là Hòa Chính công chúa.

Mùa đông tháng Mười hàng năm, vua lại đến Hoa Thanh cung, thường hết mùa đông mới quay về cung khuyết, mỗi khi đi đều có Quý phi cùng ngồi chung xe. Trong Hoa Thanh cung có Đoan Chính lâu, tức là nơi rửa mặt của Quý phi, có Liên Hoa thang, tức là buồng tắm của Quý phi. Quốc Trung được ban cho phủ đệ ở phía nam cửa đông của Thanh Hoa cung, đối diện là phủ của Quắc Quốc phu nhân. Phủ đệ của Hàn Quốc, Tần Quốc cũng tiếp liền ngay đó. Mỗi khi thiên tử đến thăm phủ đệ, tất qua cả năm nhà, ban thưởng cho yến nhạc. Khi hỗ tòng xa giá, thì mỗi nhà một đội, mỗi đội một sắc áo. Năm nhà đội ngũ xen nhau, như trăm hoa đua nở. Đồ trang sức, guốc hài của phụ nhân rơi rớt rào rào, châu ngọc chói lọi trên đường, có thể lấy tay mà bốc được. Từng có người cúi mình nhìn trộm xe của phi, mà hương thơm mấy ngày vẫn còn phảng phất. Ngựa thồ đến hơn ngàn con, lấy nghi trượng cờ tinh cờ tiết của Kiếm Nam đi tiền khu. Khi đi thì có tiệc tiễn hành, khi về thì có tiệc khao thưởng. Các đồ trân ngoạn, chó ngựa, nô bộc, ca nhi, xa gần biếu tặng đầy ngập đường đi. Đến khi Tần Quốc phu nhân mất, chỉ còn ba nhà Quắc Quốc, Hàn Quốc và Quốc Trung ngày càng thêm thịnh. Quắc Quốc phu nhân lại loạn luân với Quốc Trung, không kiêng sợ gì cả, mỗi khi vào triều, Quốc Trung thường cùng Hàn, Quắc sóng ngựa mà đi, ra roi rong ruổi lấy làm trò đùa vui, số tòng quan cùng bộc phụ cưỡi ngựa theo hầu có đến hơn trăm. Ban đêm đốt đuốc sáng như ban ngày, mặc quần áo rực rỡ mà đi, không cần phải che đậy gì cả. Khắp đường đi lối lại người đứng xem đông chật như tường, chẳng ai không thán phục kinh ngạc. Việc hôn nhân giá thú của mười nhà các vương, đều nhờ hai người Hàn, Quắc mai mối, mỗi người phải nộp ước một ngàn quan tiền, vua mới bằng lòng.

Mồng một tháng Sáu năm Thiên Bảo thứ mười bốn, nhằm ngày sinh nhật Quý phi, vua đến Hoa Thanh cung, mệnh cho một tiểu bộ nhạc đội (tiểu bộ, là một đội nhạc đặt ra theo phépLê Viên, gồm có ba mươi người đều tuổi dưới mười lăm) tấu khúc nhạc mới ở điện Trường Sinh, chưa có tên gọi. Vừa vặn khi ấy đất Nam Hải tiến cống quả vải tới nơi, nhân bèn đặt tên cho khúc nhạc là “Lệ Chi hương”. Tả hữu mừng reo, vang động rừng núi.

Tháng Mười một năm ấy, An Lộc Sơn làm phản ở U Lăng[26] (Lộc Sơn vốn tên là Loát Lạc Sơn, là người Hồ tạp chủng. Mẹ vốn là một vu sư. Lộc Sơn khi lớn tuổi ngày càng béo, bụng chảy xệ quá gối, tự cân được nặng tới ba trăm năm mươi cân, mà múa xoay theo điệu của người Hồ trước mặt vua, vẫn nhanh như gió. Vua từng đặt một tấm bình phong Đại kim kê ở gian phía đông lầu Cần Chính, kê một sập lớn, cuốn rèm, cho An Lộc Sơn ngồi. Dưới lầu cho diễn kịch, rồi cùng ngồi xem với Lộc Sơn. Túc tông can rằng: “Xem khắp sách vở xưa nay, chưa từng nghe chuyện bề tôi được cùng ngồi xem kịch với vua bao giờ.” Vua nói riêng rằng: “Hắn có dị tướng, nên ta mượn việc này để giải đi vậy.” Vua lại từng mời Lộc Sơn dự dạ yến, Lộc Sơn say nằm ngủ, hóa ra một con lợn mà đầu rồng. Tả hữu vội vàng báo với vua. Vua nói: “Đó là thứ trư long, không làm được gì cả.” Rốt cuộc không giết. Cuối cùng Lộc Sơn làm loạn Trung Quốc),lấy danh nghĩa diệt trừ Quốc Trung. Triều thần đều nói Quốc Trung, Quắc Quốc và Quý phi là ba kẻ tội đồ, nhưng không dám nói cho vua nghe. Vua định cho Hoàng thái tử giám quốc, muốn truyền ngôi, tự thân chinh, bàn với Quốc Trung. Quốc Trung sợ lắm, về nói với chị em rằng: “Chúng ta chỉ sớm chiều sẽ chết. Nay Thái tử giám quốc, tất sẽ lấy mạng các nương tử.” Các chị em cùng khóc kêu với Quý phi, phi hết sức xin với vua, việc ấy bèn thôi.

Tháng Sáu năm Thiên Bảo thứ mười lăm, Đồng Quan thất thủ, vua dời đến Ba Thục, Quý phi cùng đi theo. Đến Mã Ngôi[27], Hữu long vũ tướng quân Trần Huyền Lễ[28] sợ quân rối loạn, bèn nói với binh sĩ rằng: “Nay thiên hạ tan vỡ, ngôi cao chấn động, há chẳng phải do Dương Quốc Trung bóc lột dân chúng, mà ra nông nỗi này ư? Nếu như không diệt trừ đi, biết lấy gì mà tạ lỗi với thiên hạ!” Chúng đều nói: “Chúng tôi mong như thế đã lâu rồi.” Gặp lúc có sứ hòa hảo của Thổ Phiên gặp Quốc Trung ở cửa dịch quán nói chuyện, quân sĩ bèn hô lên rằng: “Dương Quốc Trung mưu phản với người Phiên!” Quân bèn vây kín bốn xung quanh trạm dịch, giết Quốc Trung và các con là bọn Dương Huyên. (Quốc Trung tên cũ là Chiêu, vốn là con trai của Trương Dịch Chi[29]. Đời Thiên Thụ[30], Dịch Chi được sủng hạnh không ai bằng, mỗi khi về phủ riêng, Võ Tắc Thiên đều hạ lệnh bắt phải ở trên lầu cao rồi bỏ thang đi, lấy từng bó rào gai vầy kín quanh lầu, không cho nữ tỳ nào hầu hạ. Người mẹ sợ rằng họ Trương thành tuyệt tự, bèn giấu nữ tỳ Tần Xu trong vách lầu, nên có thai Quốc Trung, về sau người ấy lấy họ Dương.) Vua bèn ra cửa trạm dịch úy lạo sáu quân, quân sĩ vẫn không giải vây. Vua quay sang tả hữu hỏi nguyên cớ, Cao Lực Sĩ đáp: “Quốc Trung có tội, nên chư tướng đã diệt trừ đi. Quý phi tức là em gái Quốc Trung, vẫn còn ở bên cạnh bệ hạ thì quần thần sao có thể không lo sợ? Xin thánh thượng suy nghĩ quyết định.” (Có chỗ nói rằng: “Gốc giặc còn đó, sao dám giải tán?” Ý muốn bắt Quý phi vậy.) Vua quay vào trạm dịch, cạnh cửa trạm dịch có ngõ nhỏ, vua không nhẫn tâm về hành cung, bèn đứng gục đầu lên gậy chống trong ngõ, tâm tư rối bời, rất lâu không vào trong được. Kinh triệu tư lệ Vi Ngạc (là con trai VI Kiến Tố) tâu rằng: “Xin bệ hạ nhẫn nhịn cắt bỏ ân tình để yên nước nhà.” Lâu sau, vua vào đến hành cung, vỗ về Quý phi ra khỏi cửa sảnh, đến tường phía bắc bên đường cái mà chia biệt, sai Cao Lực Sĩ ban cho Quý phi chết. Quý phi khóc than nức nở, nói chẳng hết tình, bảo: “Mong bệ hạ bảo trọng. Thiếp thực phụ ơn nước, chết cũng không ân hận gì, chỉ xin dung thứ cho được lễ Phật.” Vua nói: “Mong phi tử được thụ sinh vào nơi đất Phật.” Lực Sĩ bèn treo cổ Quý phi dưới gốc cây lê trước Phật đường. Quý phi vừa chết thì phương nam lại cống quả vải tới nơi. Vua thấy vậy, lại kêu khóc thở than mãi, rồi sai Lực Sĩ: “Làm lễ tế Quý phi cho ta.” Tế xong, sáu quân vẫn chưa chịu giải vây. Vua lấy chăn thêu trùm lên giường, để trước sân dịch quán, lệnh cho bọn Huyền Lễ vào dịch quán xem. Huyền Lễ nâng đầu Quý phi lên, biết là đã chết, nói: “Đúng thực rồi.” Khi ấy, vây mới được giải. Vua cho chôn Quý phi ở dưới dốc phía bắc đường, ngoài tường thành phía tây độ một dặm, khi ấy Quý phi ba mươi tám tuổi. Vua cầm quả vải ngồi trên lưng ngựa nói với Trương Dã Hồ rằng: “Từ đây đến Kiếm Môn, dọc đường đi, chim kêu hoa rụng, nước biếc non xanh, chẳng gì không khiến trẫm thêm thương nhớ Quý phi cả.”

Trước đây, khi vua ở cung Hoa Thanh, có bận cưỡi ngựa ra cửa cung định đến nhà Quắc Quốc phu nhân. Huyền Lễ nói: “Chưa tuyên sắc chỉ báo bề tôi, thiên tử không thể khinh dị mà đến được.” Vua bèn quay trở về. Lại năm khác, ở Hoa Thanh cung, gặp tiết Thượng Nguyên, vua định đi chơi đêm. Huyền Lễ tâu rằng: “Ngoài cung tức là đồng không mông quạnh, cần phải có phòng bị. Nếu bệ hạ muốn đi chơi đêm, thi xin quay về kinh thành.” Vua lại không thể trái lời can ngăn được. Đến nay, việc tru giết Quý phi ở Mã Ngôi, cũng đều là dám nói mà dám làm vậy.

Xưa, thuật sĩ Lý Hà Châu có thơ rằng:

Yên Thị người cùng đến,

Hầm Quan ngựa chẳng về.

Gặp ma ngồi dưới núi,

Vòng buộc trên áo là.

“Yên Thị người cùng đến”, An Lộc Sơn là người Kế Môn, từ đất Yên mà đến vậy. “Hàm Quan ngựa chẳng về”, ấy là Ca Thư Hàn bị thua trận ở Đồng Quan vậy. “Gặp ma ngồi dưới núi”, chữ “quỷ” (鬼) dưới chữ “sơn” (山) tức là chữ “ngôi” (嵬), chỉ Mã Ngôi dịch vậy. “Vòng buộc trên áo là”, Quý phi tiểu tự Ngọc Hoàn (vòng ngọc), đến khi chết, bị Cao Lực Sĩ lấy dải khăn là thắt cổ vậy. Lại nói, Quý phi thường dùng búi tóc giả để trang sức, và thích mặc váy màu vàng. Cuối đời Thiên Bảo, ở kinh sư có câu đồng dao rằng: “Tóc giả ném xuống sông, Váy vàng theo nước chảy.” đến đây thì ứng nghiệm vậy.

Trước kia, Lộc Sơn khi đối đáp trước mặt vua, thường hay nói năng hài hước. Quý phi ngồi ở bên, Lộc Sơn trông thấy động lòng. Đến khi nghe phi đã chết ở Mã Ngôi, Lộc Sơn than thở nuối tiếc mấy ngày liền. Việc làm phản của Lộc Sơn, tuy nói là do Lâm Phủ dưỡng dục nên, Quốc Trung kích động nên, nhưng cũng còn có điểm do tự bản thân Lộc Sơn muốn gây ra vậy.

Khi ấy, Quắc Quốc phu nhân đến quan trạm Trần Thương[31] trước, có tin Quốc Trung bị giết truyền tới, Huyện lệnh Tiết Cảnh Tiên bèn dẫn lại thuộc truy đuổi. Chạy đến một rừng trúc, ngỡ là quân giặc đuổi đến nơi, Quắc Quốc bèn giết con trai là Huy trước, rồi giết đến con gái. Vợ Quốc Trung là Bùi Nhu nói: “Sao nương tử không tiện giúp ta luôn một tay.” Quắc Quốc bèn giết luôn Bùi Nhu và con gái, rồi tự vẫn, nhưng không chết, liền bị bắt giam vào ngục. Quắc Quốc hỏi ngục lại rằng: “Đây là quân của triều đình ư? Hay là quân giặc?” Ngục lại nói: “Đều có cả.” Sau, Quắc Quốc bị máu đông lại ở cổ họng mà chết, được chôn ở dưới gốc cây dương phía bắc đường, ngoài tường thành phía đông hơn mười bước.

Vua rời Mã Ngôi, đi đến đạo Phù Phong. Bên đường có hoa, cạnh chùa thấy có cây thạch nam mọc xúm xít, vua xem rất thích, nhân gọi là cây Đoan chính, ấy là vì trong lòng có điều tưởng nhớ Quý phi vậy. Lại đi đến cửa Tà Cốc, đúng tuần mưa dầm, trên đường sạn đạo, trong mưa bụi, nghe tiếng nhạc ngựa cách núi vang vọng, vua trong lòng nhớ đến Quý phi, nhân lựa âm vận đặt ra khúc Vũ lâm linh, để ghi nỗi oán hận.

Năm Chí Đức thứ hai[32], đã thu phục lại được Tây kinh. Tháng Mười một, vua từ Thành Đô trở về, sai người tế phi Sau lại muốn cải táng, nhưng bọn Lý Phụ Quốc[33] không nghe theo. Bấy giờ Lễ bộ Thị lang Lý Quỹ tâu rằng: “Long vũ tướng sĩ vì cớ Dương Quốc Trung phản, cho nên diệt trừ đi. Nay cải táng cho Quý phi, e là Long vũ tướng sĩ sẽ nghi hoặc lo sợ.” Túc tông bèn dừng việc ấy. Thượng hoàng mật sai quan hầu trong cung ngầm dời táng Quý phi sang chỗ khác. Trước kia, khi chôn Quý phi có lấy tấm chăn tía cuộn lại, tới khi dời mộ, da thịt đã tiêu tan hết, nhưng túi hương trước ngực vẫn còn.

Quan hầu an táng xong đem về dâng lên, Thượng hoàng liền cất ở trong mình. Lại sai thợ vẽ họa hình Quý phi ở biệt điện, sớm chiều nhìn ngắm thở than.

Thượng hoàng vào ở Nam nội[34] rồi, đêm khuya, lên lầu Cần Chính, tựa lan can trông về phía nam, chỉ thấy trăng sáng sương giăng trước mắt, nhân tự ca rằng: “Trước sân cây ngọc đã vin, Chinh nhân ngoài ải sao riêng chưa về.” Ca xong, chợt nghe trong xóm loáng thoáng như có tiếng người ca, Thượng hoàng quay sang Cao Lực Sĩ nói: “Phải chăng là người cũ ở Lê Viên? Đến sáng thì ngươi hãy tìm hỏi thăm cho ta.” Hôm sau, Lực Sĩ ngầm tìm kiếm trong xóm, rồi đưa kẻ ấy về cùng, quả nhiên là đệ tử Lê Viên xưa. Sau, Thượng hoàng lại cùng ngồi với người hầu của Quý phi là Hồng Đào, ca bài Lương châu do Quý phi đặt ra. Thượng hoàng đích thân thổi sáo ngọc mà hòa theo. Hết khúc ca, cùng nhìn nhau, chẳng ai không che mặt mà khóc. Thượng hoàng nhân mở rộng khúc ấy, nay khúc Lương Châu vẫn được lưu truyền rất rộng rãi vậy.

Niên hiệu Chí Đức, Thượng hoàng lại đến thăm Hoa Thanh cung. Các tòng quan, phi tần, phần lớn không phải là những người ngày trước. Thượng hoàng ngồi dưới lầu Vọng Kinh, sai Trương Dã Hồ tấu khúc Vũ Lâm linh. Giữa chừng, Thượng hoàng nhìn bốn xung quanh buồn bã, bất giác rơi lệ, tả hữu cũng lấy làm thương cảm. Có đào hát người Tân Phong tên Tạ A Man, giỏi múa Lăng Ba khúc, xưa ra vào cung cấm, được Quý phí hậu ái, hôm ấy vua mệnh cho múa. Múa xong, A Man nhân dâng chiếc vòng tay ngọc hồng túc[35], nới; “Đây là chiếc vòng được Quý phi ban cho khi xưa.” Thượng hoàng cầm xem, buồn đau rơi lệ, nói: “Chiếc vòng này là vua Đại đế[36] ta khi xưa phá Cao Ly, thu được hai bảo vật: một chiếc đai tử kim, và một chiếc vòng hồng ngọc. Cái đai tử kim trẫm đã thưởng cho Kỳ vương khi vương dâng Long Trì thiên, còn chiếc vòng hồng ngọc thì trẫm tặng cho Quý phi. Sau nước Cao Ly biết hai thứ báu vật ấy ta đã thu được, mới tâu lên với ta rằng: “Bản quốc vì mất bảo vật ấy, nên mưa gió thất thời, dân lìa quân yếu.” Trẫm vẫn cho rằng được hai thứ ấy cũng chẳng lấy gì làm quý, bèn sai đem cái đai tử kim trả lại cho chúng, duy có vòng này thì không trả. Ngươi được Quý phi tặng cho, khiến nay trẫm lại được trông thấy nó mà thêm buồn nhớ vậy.” Nói xong, nước mắt lại đầm đìa.

Đến năm Càn Nguyên[37] nguyên niên, Hạ Hoài Trí lại tâu rằng: “Trước đây, ngày hè bệ hạ đánh cờ với thân vương, sai thần một mình gảy tỳ bà (Cây đàn tỳ bà ấy dùng đá làm cần đàn, gân côn kê[38] làm dây, dùng sắt mà gảy), Quý phi đứng bên bàn cờ xem. Vua đếm quân cờ xem ra sắp thua, thì Quý phi thả con chó Ba Nhi mà Khang Quốc dâng cống, xô vào khiến bàn cờ rối loạn, vua mừng lắm. Khi ấy, gió thổi cái khăn quàng cổ của Quý phi bay lên khăn của thần, hồi lâu, Quý phi quay mình cái khăn mới rơi. Đến khi thần về, thấy toàn thân thơm ngát, bèn cởi khăn đầu cất vào trong cái túi gấm. Nay thần xin dâng cái khăn đầu vẫn cất giữ bấy lâu.” Thượng hoàng mở túi ra, nói: “Đây là hương thụy long não. Ta từng xức cho đóa sen ngọc trên hồ nước nóng, mỗi khi đến lại vẫn thấy có hương thơm thoang thoảng, huống chi là những vật mềm nhuận như tơ lụa chứ.” Bèn rầu rĩ mãi không nguôi. Từ đó, vua canh cánh nhớ nhung, bèn ngâm:

Khắc gỗ trùm tơ làm lão ông,

Da gà tóc hạc giống tiên cùng.

Phút giây múa dứt im muôn việc,

Hệt một đời ai đã trải xong.

Có đạo sĩ Dương Thông U từ đất Thục đến, biết Thượng hoàng nhớ Dương Quý phi, tự nói rằng mình có thuật của Lý Thiếu Quân xưa. Thượng hoàng mừng lắm, sai trổ tài thần thông. Phương sĩ bèn trổ hết tài thuật mà tìm kiếm linh hồn, nhưng không thấy tới. Lại du thần ngự khí, ra khỏi cõi trời, vào nơi địa phủ mà tìm, nhưng rốt vẫn không thấy. Lại tìm kiếm khắp bốn cõi tứ hư thượng hạ, đi cùng hết phía đông, vượt đại hải, qua Bồng Hồ. Bỗng thấy một hòn núi cao nhất, trên có rất nhiều lầu gác. Tới nơi, thấy dưới mái tây có một cửa động, quay ra phía đông, cánh cửa đóng chặt, trên có biển đề Ngọc phi Thái Chân viện. Phương sĩ rút cành trâm ra gõ cửa, chợt có một đồng nữ đầu hai búi tóc ra đáp lời. Phương sĩ bước tới, chưa kịp hỏi, thì đồng nữ đã lại quay vào. Khoảnh khắc có một thị nữ áo xanh ra tới, vặn hỏi duyên do. Phương sĩ nhân nói là sứ giá của thiên tử, và nói lại mệnh vua cho nghe. Thị nữ áo xanh nói: “Ngọc phi vừa ngủ, xin hãy đợi giây lát.” Độ một canh giờ, thị nữ áo xanh ra dẫn phương sĩ vào, nói: “Ngọc phi tới.” Chỉ thấy phi đội mũ kim liên, mặc áo lụa tía, đeo hồng ngọc, xỏ guốc phượng. Có bảy, tám người thị nữ theo hầu hai bên, vái chào phương sĩ, hỏi thăm vua có được bình an chăng, rồi hỏi tới những chuyện từ năm Thiên Bảo mười bốn lại đây thế nào. Nói xong có vẻ thương cảm, bảo thị nữ áo xanh lấy thoa vàng cùng hộp trang sức, xẻ một nửa trao cho sứ giả, nói: “Xin giúp ta tạ ơn Thái thượng hoàng, kính dâng vật này, để nhớ những ân tình ngày trước vậy.” Phương sĩ sắp đi, có vẻ như có gì chưa đủ, Ngọc phi nhân hỏi ý thế nào. Phương sĩ lại quỳ xuống trước mặt tâu rằng: “Xin nói cho thần một chuyện gì, mà không ai biết, để chứng nghiệm với Thái thượng hoàng. Nếu không, e rằng chỉ có thoa vàng hộp ngọc, thì thần khó tránh khỏi tội dối lừa như Tần Viên Bình xưa vậy.” Ngọc phi phân vân lùi lại, tựa suy nghĩ điều gì, rồi chậm rãi bảo: “Xưa, năm Thiên Bảo thứ mười, ta theo hầu xe vua đến tránh nóng ở cung Ly Sơn. Mùa thu tháng Bảy, đêm Ngưu lang Chức nữ gặp nhau, vua ngồi kề vai ta ngắm trời. Nhân cảm thương chuyện Ngưu lang Chức nữ, có mật thề với nhau rằng: ‘Xin đời đời làm phu thê.’ Nói xong cùng nắm tay nhau mà nghẹn ngào. Chuyện ấy chỉ có mình đức vua biết mà thôi.” Rồi lại buồn rầu nói: “Do một niệm ấy, ta sẽ không được ở đây mãi, mà lại phải xuống hạ giới để kết hậu duyên. Hoặc cõi trời, hoặc ở cõi người, nhất định còn gặp nhau, hảo hợp như xưa.” Nhân bảo: “Thái thượng hoàng cũng không còn ở lâu trên nhân gian nữa, xin hãy bảo trọng, không cần tự làm khổ mình.”

Sứ giả quay về, tâu rõ hết với Thái thượng hoàng, Thái thượng hoàng trong lòng vô cùng cảm động. Tới khi dời vào điện Cam Lộ trong đại nội, càng không ngày nào không thương nhớ Quý phi. Bèn lịch cốc phục khí[39], Trương Hoàng hậu[40] dâng anh đào, mật mía, Thượng hoàng cũng không ăn. Lại thường chơi một cây sáo ngọc tía, nhân thổi mấy tiếng, thị có một đôi hạc đáp xuống trước sân, ngẩn ngơ lúc lâu mới đi. Thượng hoàng nói với người hầu là Cung Ái rằng: “Ta phụng mệnh Thượng đế, làm Nguyên thủy Khổng thăng chân nhân, lần này có thể được tái ngộ Quý phi rồi. Cây sáo này không phải là bảo vật của ngươi, khá trao cho Đại Thu.” (Đại Thu, tiểu tự của Đường Đại tông) Rồi lập tức sai chuẩn bị nước tắm. “Ta đi nằm rồi, hãy cẩn thận chớ kinh động ta.” Cung Ái nghe thấy trong khi vua ngủ có tiếng động, kinh hãi nhìn xem thì Thượng hoàng đã băng rồi.

Hôm Quý phi chết, có bà lão ở Mã Ngôi nhặt được một chiếc tất gấm. Tương truyền những khách nhân qua lại, ai muốn xem thử phải bỏ trăm tiền, nên bà lão trước sau thu được nhiều tiền lắm.

Buồn thay! Huyền tông ở ngôi lâu ngày, mệt mỏi vì chính sự, thường bận vì tiếp đãi trò chuyện với đại thần, khó có lúc được thỏa những điều mong muốn riêng của mình. Từ khi có Lý Lâm Phủ để ủy thác chính sự, nên dứt hẳn được những lời trái tai, thả sức yến lạc. Trong khi yến tiệc, không hề phân biệt tôn ti, không lấy đó làm sỉ nhục, ấy là do Lâm Phủ giúp thành vậy. Đến khi phải ngồi xe lánh nạn, triều đình thất thủ, trăm quan nguy ngập, Quý phi bị giết, binh hỏa khắp nơi, tàn bạo bốn bể, đều là do Quốc Trung gây họa vậy.

Thần, Nhạc Sử bàn rằng: Phàm, lễ để định rõ tôn ti, sửa trị nước nhà. Vua không ra vua, thì lấy gì mà hưởng nước? Cha không ra cha, thì lấy gì mà trị nhà? Chỉ cần có một điều trong đó, chưa từng thấy không bại vong bao giờ. Đường Minh hoàng vì một sai lầm mà để thẹn cùng thiên hạ, cho nên Lộc Sơn làm loạn, thiên hạ quy tội cho ba người ấy vậy. Nay viết ngoại truyện này, chẳng phải muốn nhặt nhạnh những câu chuyện về Dương Quý phi, mà chính là để răn ngừa mầm họa vậy.

[1] Trong hiệu lục của Lỗ Tấn, Dương Thái Chân Ngoại Truyện vốn chia ra làm hai phần tương đương hai cuốn thượng, hạ. Ở đây để tiện cho bạn đọc theo dõi, chúng tôi gộp chung làm một truyện, và đánh số La Mã I, II để phân biệt.

[2] Hoằng Nông: tên quận được đặt từ đời Hán, trị sở cách phía nam huyện Linh Bảo, Hà Nam bốn mươi dặm. Hoa Âm: tên huyện, thời Chiến Quốc là đất Ngụy, sau thuộc Tần, đối tên là Ninh Tần, Hán Cao tổ năm thứ tám (năm 199 TCN) đổi tên là Hoa Âm, vì ở phía bắc núi Hoa Sơn, nay thuộc tỉnh Thiểm Tây.

[3] Nay là khu vực phía đông nam huyện Vĩnh Tế, tỉnh Sơn Tây.

[4] Đạo Giang: tên huyện được đặt đời Đường, cách phía đông huyện Quán, tỉnh Tứ Xuyên ngày nay hai mươi dặm.

[5] Tam Hương dịch: cách tây nam huyện Nghi Dương, Hà Nam tám mươi dặm.

[6] Núi Nữ Ký: ở phía tây huyện Nghi Dương, Hà Nam, tục gọi là núi Thạch Kẻ.

[7] Bát Cảnh: theo quan niệm Đạo giáo, Bát cảnh cung là cung điện nơi Lão Tử ở; Tam thanh: cũng theo quan niệm Đạo giáo, ba cõi trời cao nhất Ngọc thanh, Thượng thanh, Thái thanh, hợp xưng là Tam thanh.

[8] Thu phong: tức Thu phong từ do Hán Vũ đế trước tác.

[9] La Công Viễn: đạo sĩ thường theo hầu Huyền tông, tự xưng là có phép tiên.

[10] Tử ma kim: tên một thứ vàng tốt.

[11] Trấn Lệ Thủy: địa danh, cách phía tây huyện Lệ Thủy, Triết Giang ngày nay ba mươi lăm dặm.

[12] Vũ Huệ phi: là con gái Hằng An vương Vũ Du Chi, khi cha chết, theo lệ vào cung, làm phi của Đường Huyền tông. Sau khi Vương Hoàng hậu bị phế, rất được Đường Huyền tông sủng ái, ban hiệu là Huệ phi, muốn lập làm Hoàng hậu, nhưng bị đại thần phản đối, việc chưa thành thì năm Khai Nguyên thứ hai mươi lăm (năm 737) Huệ phi chết.

[13] Vương Hoàng hậu: là con gái Vương Nhân Hạo, năm Trường Thọ thứ hai đời Vỗ Tắc Thiên (năm 693) khi Huyền tông còn là Lâm Truy vương, nạp làm phi. Tháng Tám năm Tiên Thiên nguyên niên (năm 712), Huyền tông lên ngôi vua thì lập làm Hoàng hậu. Vương Hoàng hậu không có con, để củng cố địa vị của minh, đã tin dùng phương thuật cầu con, sự việc lộ ra, nên năm Khai Nguyên thử mười ba (năm 725) bị phế làm thứ nhân, và chết cùng năm ấy.

[14] Trương Hỗ tự Thừa Cát, người Hà Thanh, là nhà thơ đời Trung Đường.

[15] Cát Ôn, người Hà Nam, là đồng đảng của Lý Lâm Phủ, làm quan tới Hộ bộ lang trung kiêm Thị ngự sử.

[16] Lưu Yến tự Tử An, người Nam Hoa, Tào châu, làm quan trải ba triều Huyền tông, Túc tông, Đại tông. Đời Đức tông, nhân bất hòa với Dương Viêm, nên bị hãm hại, phải chết.

[17] Phương hưởng: tên một nhạc khí thịnh hành thời Đường, thường dùng 16 tấm sắt, dài tám tấc, rộng hai tấc, dày mỏng khác nhau, trên tròn dưới vuông, treo trên khung, dùng búa nhỏ bằng sắt hoặc gỗ để gõ.Tất lật: tên một loại kèn, từ Tây Vực truyền sang Trung Quốc.Đàn không hầu: một loại đàn dây, ít thì năm dây, nhiều thì 25 dây.Mã Tiên Kỷ, Lý Quy Niên, Trương Dã Hồ, Hạ Hoài Trí là bốn nhạc sư cung đình bấy giờ.

[18] La Sa: là đô thành của Thổ Phồn dời Đường, tức Lhasa, Tây Tạng ngày nay.

[19] A Man ở đây là đào hát Tạ A Man (đoạn dưới nói rõ) không phải tên A Man mà Huyền tông tự xưng ở trên.

[20] Chuyện này người đời lưu truyền có nhiều điểm khác nhau. Cựu Đường thư - Lý Bạch truyện chỉ chép rất giản lược: Bạch từng say rượu vào cung, đưa chân bảo Cao Lực Sĩ cởi giày cho, vì vậy mà bị đuổi đi.

[21] Nghĩa Thành công chúa: vốn là tôn nữ hoàng thất nhà Tùy, năm Khai Hoàng thử mười chín đời Tùy Văn đế (năm 599), Khá hãn của Đột Quyết là Thực Lợi nội phụ, nên Tùy Văn đế đem gả cho Thực Lợi. Công chúa ở Đột Quyết hơn mười năm, ra sức giúp giữ hòa hảo giữa nhà Tùy với Đột Quyết. Năm Trinh Quán thứ tư đời Đường (năm 630), Đột Quyết làm phản, Lý Tĩnh đi đánh, phá được. Nghĩa Thành công chúa bị giết.

[22] Tức Dương Quốc Trung, Quốc Trung trước được phong Ngụy quốc công, sau đổi là Vệ quốc công.

[23] Nguyên Tải tự công Phụ, người Kỳ Sơn, Phượng Tường. Đời Túc tông trải làm Độ chi sứ, Chư đạo chuyển vận sứ, Đồng trung thư môn hạ binh chương sự... Thời Đại tống làm Tể tướng, sau mắc tội bị giết.

[24] Huyền tông ở đây chơi chữ, hợp hoan vừa ám chi nam nữ ân ái vừa là tên một giống quýt.

[25] Nhượng đế: tức Ninh vương Lý Hiến, nhường ngôi vua cho Huyền tông. Năm Khai Nguyên thứ hai mươi chín (năm 741) Lý Hiến chết khi sáu mươi ba tuổi, được truy thụy là Nhượng Hoàng đế.

[26] Tức U Châu.

[27] Cũng gọi Mã Ngôi dịch, thuộc huyện Hưng Bình, Thiểm Tây ngày nay.

[28] Trần Huyền Lễ tướng lĩnh trong triều Đường Huyền tông, từng theo Huyền tông khởi binh đánh Vi hậu. Khi Huyền tông lên ngôi, phong làm Hữu long vũ tướng quân, cai quản cấm vệ quân, là người chí huy sự biến Mã Ngôi, sau được phong là Sái quốc công.

[29] Trương Dịch Chi người Nghĩa Phong, Định Châu (nay là An Quốc, Hà Bắc) thời Võ Tắc Thiên, dung mạo tuấn tú, thông hiếu âm luật, được Võ Tắc Thiên sủng ái. Cuối đời Võ Tắc Thiên, Trương Dịch Chi cùng Trương Xương Tông nắm giữ triều chính. Sau, Đường Trung tông phục vị, Tể tướng Trương Giản Chi khép cho Trương Dịch Chi tội mưu phản giết chết.

[30] Thiên Thụ: niên hiệu Võ Tắc Thiên từ năm 690 đến năm 692.

[31] Trần Thương: nay thuộc Bảo Kê, Thiểm Tây.

[32] Chí Đức: niên hiệu Đường Túc tông từ năm 756 đến năm 758.

[33] Lý Phụ Quốc: hoạn quan tâm phúc dưới triều Đường Túc tông. Túc tông về Trường An, cho Phụ Quốc làm Điện trung giám, kiêm Sổ sứ. Năm Chí Đức thứ hai được phong Thành quốc công, Binh bộ Thượng thư, coi giữ cấm quân. Sau khi Túc tông chết, Phụ Quốc vi có công giúp lập Đại tông Lý Dự, được gia phong Tư không, Trung thư lệnh, được Đại tông tôn xưng là Thượng phụ. Sau, Quốc vì tội bất kính với Đại tông, bị tước quan chức, và bị người đâm chết tại nhà.

[34] Nam nội: tức cung Hưng Khánh, vì ở phía nam nội cung nên gọi Nam nội, nguyên là chỗ nhà cũ của Huyền tông khi còn là phiên vương.

[35] Nguyên chép: kim túc. Chính là chiếc vòng ngọc hồng túc ở đoạn trên và đoạn ngay sau đó nói tới, chúng tôi thống nhất dịch để bạn đọc dễ theo dõi.

[36] Đại đế: tức Đường Cao tông Lý Trị. Vì sau khi chết được quân thần dâng thụy hiệu là Thiên hoàng Đại đế, nên Huyền tông gọi như vậy. Đường Cao tông phá Cao Ly năm Tống Chương nguyên niên (năm 668).

[37] Càn Nguyên: niên hiệu Đường Túc tông từ năm 758 đến năm 760.

[38] Côn kê: tên một loại chim, tương tự con hạc.

[39] Tịch cốc phục khí: một phép tu thân của Đạo gia xưa, tức là không ăn lương thực ngũ cốc, chỉ luyện tập hít thờ không khí đế được trường thọ.

[40] Trương Hoàng hậu: nguyên là phi của Túc tông, sau khi Túc tông lên ngôi, trước tiên sách phong làm Thục phi, đến năm Càn Nguyên nguyên niên (năm 758) thì phong làm Hoàng hậu.

Châu Hải Đường dịch
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.