(MỘNG NƯỚC TẦN)
Đầu niên hiệu Thái Hòa, Thẩm Á Chi sắp đi sang đất Bân[1], ra khỏi Trường An, mời khách đến nhà riêng ở Thác Tuyền. Đang tiết xuân, Á Chi ban ngày chợt ngủ mơ thấy đến nước Tần, ở nhà Nội sử Liêu[2]. Nội sử Liêu tiến cử Á Chi, Tần công[3] bèn cho vời vào điện, rồi quỳ gối trước chiếu bảo: “Quả nhân muốn nước Tần lớn mạnh, vẫn mong được biết thuật ấy. Tiên sinh có gì dạy bảo quả nhân?” Á Chi đem Côn, Bành, Tề Hoàn[4] ra đối đáp, Tần công hài lòng, bèn phong Á Chi làm Thung quyên (tên chức quan đời Tần), sai phụ tá Tây Khất[5] đi đánh Hà Tây (là nơi giao giới hai nước Tần, Tấn vậy). Á Chi dẫn binh tướng đi trước, hạ được năm thành, quay về báo tin. Tần công mừng lắm, đứng dậy úy lạo rằng: “Đại phu đã phải vất vả rồi, hãy nghỉ ngơi đã.”
Được ít lâu, người chồng của Lộng Ngọc - con gái nhỏ của Tần công - là Tiêu Sử qua đời. Tần công bèn bảo Á Chi rằng: “Nếu không có đại phu thì quả nhân sao có được năm thành nước Tấn. Quả nhân rất biết ơn đại phu. Nay quả nhân có đứa ái nữ, muốn ban cho đại phu để giúp việc quét tước, có được chăng?” Á Chi từ nhỏ đã tự lập, không muốn nhờ một người con gái mà được vua sủng hạnh, bèn cố sức chối từ. Tần công không nghe, phong làm Tả thứ trưởng[6], cho cưới công chúa và tặng hai trăm cân vàng. Nhưng dân gian vẫn gọi công chúa là “Tiêu gia công chúa”.
Ngày hôm sau, có viên nội thị mặc áo vàng, cưỡi ngựa khỏe, đến đón Á Chi vào cung. Cung điện vô cùng nghiêm trang. Khoảnh khắc cho gọi công chúa ra: tóc đen mượt, áo tay ngắn, trang sức không nhiều, nhưng vẻ xinh đẹp yêu kiều, không bút nào tả xiết. Thị nữ theo hầu, chia đứng hai bên tả hữu đến vài trăm người. Tần công lại cho triệu kiến Á Chi đến tiện quán, rồi cho ở lại trong cung, ngoài cửa có biển đề là “Thúy Vỉ cung”, nhưng cung nhân đều gọi là “Thẩm lang viện”.
Tuy Á Chi chỉ là Hạ đại phu, nhưng vì lấy công chúa, nên ra vào đều có quân cấm vệ. Công chúa thích phượng tiêu, mỗi khi thổi, tất lên lầu cao trong cung Thúy Vi, âm điệu du dương, khiến người cảm động, chẳng ai nghe thấy mà không say mê. Công chúa sinh ngày bảy tháng bảy, nhưng Á Chi chưa từng tặng quà mừng bao giờ. Nội sử Liêu từng vì nước Tần đem đội nữ nhạc sang tặng Tây Nhung, chúa Nhung lại cho Liêu một chiếc hộp nhỏ bằng sừng tê. Á Chi được hộp ấy từ chỗ Liêu, bèn đem tặng công chúa. Công chúa thích lắm, coi trọng vô cùng, đeo vào bên dải quần. Tần công đãi Á Chi hậu hĩ hơn tất cả những người cùng hàng, liên tục ban thưởng không dứt.
Lại một năm xuân nữa, Tần công tới Thủy Bình[7], công chúa bỗng nhiên không bệnh mà mất. Tần công thương nhớ vô cùng. Khi sắp an táng ở đồng cao ngoài thành Hàm Dương, Tần công bèn sai Á Chi làm một bài điếu ca. Á Chi vâng mệnh viết rằng:
Khóc táng một cành hồng.
Sống cùng, chết chẳng cùng.
Thoa vàng chôn cỏ biếc,
Áo ngát nhuốm xuân phong.
Thuở trước nơi tiêu thổi,
Lầu cao dãi nguyệt suông.
Hoa lê đêm Hàn thực,
Đóng chặt Thúy Vi cung.
Bài ca dâng lên, Tần công đọc xong, rất lấy làm khen ngợi. Bấy giờ trong cung có người không cầm lòng nổi mà bật khóc, Tần công cũng khóc theo. Lại sai Á Chi viết mộ chí cho công chúa, duy còn nhớ lời minh rằng:
Bạch dương khóc gió chừ, cỏ đá phất phơ.
Hoa rơi ngập đất chừ, sắc xuân chan hòa.
Phấn gầy châu thảm chừ, chẳng sức lụa là.
Chôn sâu ngọc báu chừ, oán hận bao la.
Á Chi cũng đưa đám công chúa đến ngoài thành Hàm Dương. Mười bốn người trong cung tuẫn táng theo. Á Chi vì đau buồn quá, đến nỗi bị ốm, nằm trong cung Thúy Vi. Nhưng ở buồng ngoài điện, không vào trong cung.
Hơn một tháng thì khỏi bệnh. Tần công nói với Á Chi rằng: “Ta đem con gái gửi gắm ngươi vốn là muốn được lâu dài, ai ngờ nó lại không được hầu hạ quân tử cho trọn, mà qua đời trước. Nước Tần cỏn con nhỏ bé, chẳng đủ để nhục đại phu. Vả chăng, mỗi khi quả nhân trông thấy ngươi, lại không khỏi đau lòng. Đại phu sao không sang nước lớn khác?” Á Chi đáp: “Thần bất tài, lại được làm thân thích tâm phúc của chúa công, đắc tội giữ chức Tả thứ trưởng, không thể chết theo công chúa được. May mắn được miễn tội, mà cho thần đem nắm xương tàn về nước cha mẹ, thì ơn ấy thần không dám quên, mãi như mặt trời soi sáng vậy.”
Lúc sắp đi, Tần công lại bày yến tiệc khoản đãi, hát bài hát nước Tần, múa điệu múa nước Tần, vũ công đập vai vỗ đùi, giọng hát ồ ồ, âm thanh nghe rất ai oán không hay. Tần công nâng chén rượu đến trước mặt Á Chi nói: “là nghe bài hát này không hay cho lắm, xin Thẩm lang hòa lại một bài ca coi như chia biệt.” Rồi lập tức sai mang bút nghiên. Á Chi vâng mệnh, liền viết bài ca rằng:
Đập vai múa,
Hận ngập đất trời nào mấy chỗ.
Dòng lệ nhỏ,
Muốn viết đôi lời đâu dễ ngỏ.
Phượng vàng hoa ngậm, áo thêu xưa,
Mấy độ trong cung cùng thưởng múa.
Ngày xuân nhàn nhã đáng hân hoan,
Gió đông chiều tối, đi đâu chứ?
Viết xong, đưa cho người ca múa, cùng hòa tiếng hát theo, quan khách đều rơi lệ. Tiệc xong, Á Chi lạy hai lạy từ biệt. Tần công lại sai đến cung Thúy Vi, từ biệt những người hầu cận công chúa. Lần nữa bước chân vào trong điện, thấy ngọc thúy vương mảnh dưới thềm xanh, dấu son y nguyên trên cửa lụa. Bọn cung nhân đều nhìn Á Chi mà khóc. Á Chi cũng nghẹn ngào hồi lâu, nhân đề lên cửa cung một bài thơ rằng:
Vua thương cho được trở về đông,
Từ bấy Tần cung hết ngóng trông.
Xuân cũng đau thương công chúa mất,
Như mưa hoa rụng, lệ tuôn dòng.
Rồi từ biệt ra đi. Tần công cho xe đưa đến cửa Hàm Cốc. Ra khỏi cửa quan rồi, sứ giả theo tiễn nói: “Đã hết mệnh vua, xin ngài hãy đi tiếp vậy.” Á Chi cùng từ biệt, chưa xong thì bỗng giật mình tinh dậy, hóa ra đang nằm ở nhà.
Hôm sau, Á Chi kể lại chuyện cho người bạn là Thôi Cửu
Vạn nghe. Cửu Vạn là người Bác Lăng[8], rất am tường chuyện xưa, nhân nói với ta rằng: “Sách Hoàng Lãm có chép Tần Mục công được chôn dưới Kỳ Niên cung, ở Thác Tuyền, đất Ung. Há đó chẳng phải là hiển linh ư?” Á Chi lại kiếm được cuốn địa chí đời Tần, cũng nói hệt như Cửu Vạn vậy. Ôi chao! Lộng Ngọc đã thành tiên rồi, sao lại còn chết như vậy nữa?
[1] Bân: tức Bân Châu, tên châu đời Đường, địa bàn tương đương bốn huyện Sam, Trường Vũ, Tuân Ấp, Vĩnh Thọ, tỉnh Thiểm Tây ngày nay.
[2] Nội sử: tên chức quan ở nước Tần, cai quản khu vực kinh thành, tương đương chức Kinh triệu doãn sau này. Nội sử Liêu là người đưa ra kế giúp Tần Mục công đưa được Do Dư từ nước Nhung về dùng làm quan.
[3] Tần công ở đây tức Tần Mục công, vua nước Tần thời Xuân Thu, tại vị 659-621 TCN.
[4] Côn tức Côn Ngô, Bành tức Đại Bành, truyền là hai vị trọng thần đời Hạ, Thương. TỀ Hoàn: tức tề Hoàn công, vua nước Tề, một trong ngũ bá đời Xuân Thu, tại vị 685-643 TCN.
[5] Tây Khất” tức Tây Khất Thuật, danh tướng nước Tần thời Mục công.
[6] Thứ trưởng: tên quan tước nước Tần, nắm giữ đại quyền quân chính, tương đương chức khanh của các nước khác. Có hai người làm tà, hữu thứ trưởng. Bách Lý Hề và Kiến Thúc từng nắm giữ hai chức vụ này.
[7] Thúy Bình: tên quận đời xưa, nay thuộc tình Thiểm Tây.
[8] Bác Lăng: tên quận đời xưa, địa bàn tương đương các huyện Thâm, An Bình, Nhiêu Dương, An Quốc, tỉnh Hà Bắc ngày nay.