(TRUYỆN NHÂM THỊ)
Có viên Sứ quân[1] họ Vi, tên Ngâm, đứng hàng thứ chín[2], là cháu ngoại của Tín An vương Lý Y, thuở nhỏ thích rong chơi, ham uống rượu. Ngâm có người em rể họ là Trịnh lục, không nhớ rõ tên, từ bé luyện tập võ nghệ, cũng mê tửu sắc, vô gia cư, phải gửi thân bên đằng vợ, cùng Ngâm rất tương đắc, đi chơi đâu cũng có nhau.
Mùa hạ, tháng Sáu, năm Thiên Bảo[3] thứ chín, hai người rủ nhau ra ngoại thành Trường An, hẹn đến làng Tần Xương uống rượu. Đi tới phía nam Tuyên Bình, Trịnh từ biệt đi có công việc, xin theo đường tắt đến chỗ uống rượu sau. Ngâm cưỡi con ngựa trắng đi về phía đông, còn Trịnh thì cưỡi lừa đi xuống phía nam, vào cửa bắc Thăng Bình. Chợt thấy ba người con gái đang đi trên đường, trong đó có một người mặc áo trắng, nhan sắc xinh đẹp. Trịnh trông thấy, kinh ngạc lấy làm thích, bèn dong lừa, khi vượt trước, lúc tụt sau, định buông lời trêu ghẹo mà chưa dám.
Nàng áo trắng thỉnh thoảng lại đưa mắt liếc nhìn, tỏ ý ưng thuận, Trịnh bèn đùa rằng: “Người đẹp như vậy, mà lại đi bộ là cớ làm sao?” Nàng áo trắng cười bảo: “Cưỡi lừa mà không cho nhau mượn, chẳng đi bộ thì biết làm sao?” Trịnh nói: “Con lừa xấu này tuy chẳng xứng cho giai nhân cưỡi, nhưng nay xin lập tức dâng nàng. Tôi đi bộ theo sau, cũng thấy đủ lắm rồi.” Đoạn nhìn nhau mà cười. Những người cùng đi, cũng đầu mày cuối mắt, dần dà thân thiết.
Trịnh đi cùng bọn họ sang phía đông, đến Lạc Du viên[4], thì trời đã tối. Thấy một căn nhà, tường dày cửa lớn, phòng ốc thâm nghiêm. Nàng áo trắng quay đầu lại bảo: “Xin chờ một lát”, rồi đi vào trong. Một nữ tì tùy tòng đứng ở bình phong sau cửa, hỏi họ cùng thứ bậc trong nhà của Trịnh. Trịnh đáp xong, cũng hỏi thăm nàng áo trắng. Thị nói: “Họ Nhâm, đứng hàng thứ hai mươi.” Một lát, thì được mời vào, Trịnh buộc lừa trước cửa, treo mũ lên yên. Ban đầu một người phụ nữ tuổi chừng hơn ba mươi, đi ra đón, đó là chị của Nhâm thị. Mọi người cùng thắp nến, bày đồ ăn, uống mấy chén rượu. Nhâm thị tô điểm trang phục xong bước ra, cùng vui vẻ uống say. Khuya cùng đi nằm, Nhâm thị dung nhan xinh đẹp, câu hát nét cười, cử chỉ diễm lệ, không dễ thấy ở nhân gian, sắp sáng, Nhâm thị nói: “Chàng về đi. Anh em thiếp có tên trong giáo phường, thuộc Nam nha quản[5], sáng mới về nhà, chàng chớ nên ở lại lâu.” Trịnh bèn hẹn ngày sau gặp lại, rồi đi.
Ra đến cổng làng, thì cửa vẫn chưa mở. Bên cổng có hàng bánh của một người Hồ, vừa mới thắp đèn, quạt lò. Trịnh ngồi nghỉ chân dưới cửa, đợi trống mở cổng, nhân trò chuyện với chủ quán. Tịnh chỉ nơi mình vừa nghỉ đêm khi trước hỏi rằng: “Từ đây đi về phía đông, có khu nhà, là của ai vậy?” Chủ quán nói: “Là khu đất hoang, trạch xá nào đâu.” Tịnh nói: “Tôi vừa qua đó, sao lại nói là không có?” Rồi cố tranh cãi mãi. Chủ quán hiểu ra, nói: “Ôi! Tôi biết rồi. Chỗ ấy có đám hồ, hay dụ đàn ông đến ngủ lại, tôi từng thấy vài bận rồi. Nay ông cũng gặp chuyện như thế chăng?” Trịnh hổ thẹn, giấu bảo: “Không có.” Đến sáng, Trịnh quay lại chỗ cũ, thấy tường dày cửa lớn y nguyên. Ghé mắt trông vào bên trong thì chỉ có cỏ rậm vườn hoang mà thôi.
Tịnh quay về, gặp Ngâm, Ngâm trách vì lỡ hẹn. Tịnh không tiết lộ sự tình, nói thác cho qua chuyện. Rồi trong bụng vẫn tơ tưởng đến sắc đẹp, muốn gặp lại một lần, trong lòng nhớ mãi không quên.
Qua hơn chục ngày, Trịnh đi chơi, đến hàng quần áo ở chợ Tây, chợt trông thấy Nhâm thị cùng với nữ tì lần trước. Tịnh vội vàng gọi, nhưng Nhâm thị đã lách người lẩn vào đám đông để tránh mặt. Trịnh vừa liền miệng gọi vừa đuổi theo. Nàng đứng quay lưng lại, lấy quạt che mặt, nói: “Ngài đã biết, sao còn thân cận làm chỉ?” Trịnh nói: “Tuy đã biết, nhưng nào can hệ gì?” Nhâm thị nói: “Thiếp lấy làm hổ thẹn, còn mặt mũi nào gặp ngài.” Trịnh nói: “Ta mong nhớ nàng như vậy, nàng nỡ lòng nào mà ruồng rẫy?” Nhâm thị nói: “Thiếp đâu dám ruồng rẫy, chỉ sự ngài ghét bỏ mà thôi.” Trịnh bèn thề nguyền, ý rất khẩn thiết. Nhâm thị khi ấy mới hạ quạt ngoái nhìn, nét diễm lệ rực rỡ vẫn như khi trước. Lại bảo Trịnh rằng: “Trong nhân gian, những người như thiếp đâu phải chỉ có một, chỉ là ngài chưa biết đấy thôi, xin chớ lấy làm lạ.” Trịnh xin nối lại tình ân ái, nàng nói: “Giống loài của thiếp, bị người đời oán ghét, chỉ vì làm hại người ta. Thiếp thì không như thế. Nếu ngài không ghét bỏ, xin nguyện trọn đời nâng khăn sửa áo cho ngài.” Trịnh hứa hẹn sẽ tìm nơi để cùng chung sống. Nhâm thị nói: “Từ đây đi về phía đông, có khu nhà với ngọn cây lớn mọc vượt lên, cửa ngõ u tĩnh, có thể thuê mà ở được. Bữa trước, người cưỡi ngựa trắng từ phía nam Tuyên Bình đi về phía đông, chẳng phải là anh em bên vợ của chàng ư? Nhà ông ấy nhiều đồ đạc, có thể mượn dùng.” Bấy giờ, các chú bác của Ngâm đi làm quan khắp nơi, đồ dạc trong nhà, đều đem gửi nhờ đó cả. Trịnh y lời mà hỏi thuê chỗ ở, rồi đến chỗ Ngâm mượn đồ dạc. Ngâm hỏi mượn làm gì, Trịnh nói: “Mới được một người đẹp, đã thuê được chỗ ở, nay mượn đồ để có cái dùng.” Ngâm cười nói: “Trông bộ dạng cậu, tất kiếm được kẻ tầm thường thô lậu, chớ lấy đâu ra người đẹp!” Rồi Ngâm bèn cho mượn đủ giường chiếu màn trướng, sai kẻ gia đồng lanh lợi khôn ngoan, đi cùng để xem thế nào.
Lát sau tên gia đồng hổn hển chạy về bẩm mệnh, Ngâm đón hỏi: “Có không?” Rồi lại hói: “Dung mạo ra sao?” Nô dáp: “Kỳ lạ thật! Thiên hạ chưa từng thấy ai đẹp như vậy.” Ngâm vốn họ hàng rất đông, vó trước giờ hay chơi bời du lạc, biết
nhiều người đẹp, bèn hỏi: “Đẹp chừng bằng ai?” Gia đồng nói: “Chẳng ai bì được!” Ngâm đem so khắp vói bốn, năm người đẹp nhất mà hỏi, nhưng nó vẫn nói: “Không bì được!” Bấy giờ có người con gái thứ sáu của Ngô vương, tức là em vợ của Ngâm, sắc đẹp tựa thần tiên, vẫn được tộc nhân tôn là người đẹp hạng nhất. Ngâm mới hỏi: “Có bằng con gái thứ sáu của nhà Ngô vương không?” Đứa gia đồng vẫn nói: “Vẫn không bì được.” Ngâm vỗ tay kinh hãi nói: “Thiên hạ há lại có người như thế ư?” Rồi lập tức sai lấy nước tắm gội, đội khăn mặc áo đến tận nơi xem.
Ngâm đến nơi, thì vừa vặn Trịnh vắng nhà. Ngâm bước vào cửa, thấy một đứa nhỏ cầm chổi quét dọn, và một nữ tì ở trước cửa, ngoài ra không có ai khác. Quay sang hỏi dứa gia đồng, nó cười nói: “Không có cô ấy.” Ngâm xem khắp trong phòng, chợt thấy một người con gái váy đỏ đi ra cửa. Ngâm sấn lại nhìn, Nhâm thị vội nép mình nấp sau cánh cửa. Ngâm kéo ra chỗ sáng nhìn kỹ, thấy quả là đẹp hơn những gì được nghe. Ngâm thích đến phát cuồng, bèn ôm chầm lấy định xâm phạm, nhưng Nhâm thị không chịu. Ngâm ra sức cưỡng ép, nàng thấy nguy, bèn nói: “Xin nghe theo. Nhưng nhẹ tay cho.” Ngâm buông tay ra, Nhâm thị lại chống cự như cũ. Như vậy đến bốn, năm bận, Ngâm bèn lấy hết sức giữ chặt. Nhâm thị kiệt sức, mồ hôi túa như mưa, tự nghĩ mình không thoát được, đành buông xuôi không chống trả nữa, nhưng thần sắc vô cùng thê thảm. Ngâm hỏi: “Sao sắc diện không vui?” Nhâm thị thở dài nói: “Trịnh Lục thật đáng thương thay!” Ngâm hỏi: “Sao vậy?” Đáp: ‘‘Trịnh sinh mình cao sáu thước, mà chẳng bảo vệ được cho một người con gái, há lại đáng mặt trượng phu ư! Vả, ngài từ nhỏ giàu sang xa xỉ, có nhiều gái đẹp, những người đẹp hơn tôi nhiều lắm. Còn Trịnh sinh, vốn nghèo hèn, được người xứng ý, chỉ mình tôi thôi. Ngài nỡ lòng nào đem cái tâm của kẻ có thừa, mà đoạt lấy của người chẳng đủ ư? Thương thay chàng ấy bần cùng, không thể tự lập, mặc áo ông cho, ăn cơm ông giúp, cho nên bị ông trói buộc. Nhược bằng tự lo được bát cơm hẩm mà ăn, thì đâu đến nỗi thế này.” Ngâm vốn tính hào hiệp, nghĩa khí, nghe nói vậy, vội buông tay, chỉnh lại áo mũ, mà tạ rằng: “Tôi không dám thế.” Chốc lát, Trịnh về tới nhà, lại cùng Ngâm vui vẻ trò chuyện.
Từ đó, phàm dầu muối củi gạo của Nhâm thị, Ngâm đều cung ứng đầy đủ. Nhâm thị cũng thỉnh thoảng qua chơi, khi xe ngựa lúc bộ hành, không nhất định thế nào. Ngâm hàng ngày vẫn cùng ngao du, vô cùng vui vẻ, thân thiết với nhau, không kiêng dè gì, duy không hề có sự loạn bậy. Vì Ngâm rất yêu quý tôn trọng Nhâm thị, nên không tiếc thứ gì, có đồ ăn thức uống, cũng chưa từng quên nhau. Nhâm thị biết Ngâm yêu mến mình, nhân cảm tạ rằng: “Thật lấy làm thẹn vì được ngài quá yêu. Xét thiếp bỉ lậu xấu xí, không đáng để đáp tạ hậu ý. Vả, thiếp cũng không thể phụ Trịnh sinh, cho nên không thể khiến ngài toại lòng được. Thiếp vốn người đất Tần, sinh trưởng ở Tần thành, nhưng gia đình lưu lạc, họ hàng nội ngoại, nhiều kẻ làm sủng thiếp cho người, do vậy những kỹ viện ở Trường An, thảy đều biết cả. Nếu có người nào xinh đẹp, ngài vừa ý mà không có được, thiếp xin đưa đến giúp, coi như báo đáp ơn đức ngài vậy.” Ngâm nói: “Nếu vậy thì may mắn cho tôi lắm!”
Trong chợ, có người đàn bà bán quần áo, gọi là Trương thập ngũ nương, trắng trẻo đẹp đẽ, Ngâm vẫn ưa thích. Nhân hỏi Nhâm thị có biết người ấy không. Nhâm thị nói: “Đó là cô em họ của thiếp, đưa lại ngài dễ thôi.” Hơn chục hôm, quả nhiên dẫn đến cho Ngâm. Mấy tháng, Ngâm chán lại thôi.
Nhâm thị nói: “Người ngoài chợ dễ có, không đáng để mất công. Có chỗ nào cách tuyệt khó mưu tính, thì ngài cứ thử nói, thiếp xin dốc hết trí lực mà làm.” Ngâm nói: “Hôm qua nhân tiết hàn thực, tôi cùng mấy người đi chơi chùa Thiên Phúc[6], thấy tướng quân Điêu Miến bầy dàn nhạc ở điện đường, có người thổi ống sênh rất hay, tuổi chừng đôi tám, có đôi bím tóc rủ bên tai, nhan sắc diễm tuyệt. Nàng có biết không?” Nhâm thị nói: “Đó là sủng tì của Điêu tướng quân. Mẹ nàng ấy là chị họ của thiếp, ngài muốn thì có thể được.” Ngâm bèn bước xuống chiếu bái tạ. Nhâm thị nhận lời, bèn qua lại nhà họ Điêu luôn. Hơn một tháng, Ngâm hỏi đã có kế gì chưa, Nhâm thị xin cho hai sấp lụa làm của đút lót. Ngâm y lời cấp cho. Hai ngày sau, Nhâm thị đang cùng ngồi ăn cơm với Ngâm, thấy Điêu Miến sai người hầu dắt một con ngựa tốt đến mời Nhâm thị. Nhâm thị thấy vậy, cười bảo Ngâm rằng: “Việc đã thành rồi!”
Vốn khi trước, Nhâm thị khiến cô gái kia mắc bệnh, ăn uống chữa chạy gì cũng không giảm. Mẹ cô gái và Miến đều vô cùng lo lắng, muốn mời thày đồng. Nhâm thị lén hối lộ cho thầy đồng, nói chỗ mình ở, để khi bói thì bảo cho người bệnh đến đó sẽ tốt. Kịp khi xem bệnh, thầy đồng bèn nói: “Ở nhà không tốt, nên cho ra chỗ nọ theo phương đông nam, để lấy sinh khí.” Miến cùng người mẹ cô gái xem kỹ nơi ấy, thì chính là chỗ nhà Nhâm thị. Miến bèn xin được ở nhờ. Nhâm thị vờ từ chối rằng nhà cửa chật hẹp, phải cầu mãi mới bằng lòng. Điêu Miến bèn cho xe đưa cô gái cùng với y phục đồ dùng, và cả người mẹ đến nhà Nhâm thị. Người con gái vừa tới, bệnh liền khỏi. Mấy hôm sau, Nhâm thị lén dẫn Ngâm đến cùng tư thông, hơn tháng thì cô gái có mang. Người mẹ lo sợ, vội đưa con về chỗ Miến, từ đó bèn đoạn tuyệt vãng lai.
Một hôm, Nhâm thị nói với Trịnh rằng: “Chàng có thể gom được năm, sáu ngàn tiền không? Thiếp sẽ mưu kiếm lợi cho.” Trịnh đáp: “Được.” Bèn đi mượn mọi người, được sáu ngàn tiền. Nhâm thị nói: “Chàng đến chỗ bán ngựa ở chợ, thấy con nào trên đùi có cái bớt đen, thì nên mua về nhà.” Trịnh ra chợ, quả thấy có người bán con ngựa, bên đùi trái có bớt đen. Trịnh bèn mua dắt về. Các anh em đàng vợ đều chê, nói: “Con ngựa bỏ đi, mua nó làm gì?” ít lâu, bỗng thấy Nhâm thị nói: “Có thể bán ngựa được rồi. Sẽ được ba vạn tiền.” Trịnh bèn đem ngựa đi bán. Có người trả hai vạn, Trịnh không bán. Cả chợ đều nói: “Kẻ kia làm sao lại mua đắt giá như thế, con ngựa có gì quý mà ông còn không bán?” Trịnh cưỡi ngựa đi về. Người kia theo đến tận cửa, trả thêm tiền để mua, đến hai vạn năm ngàn. Trịnh vẫn không ưng, nói: “Kém ba vạn thì không bán.” Anh em đàng vợ lại xúm vào mắng, Trịnh chẳng đừng đặng, bèn bán, rốt cùng chưa tới ba vạn. Bán rồi, Trịnh mật tìm người mua hỏi duyên do, hóa ra con ngự mã có bớt đen trên đùi ở huyện Chiêu Ứng[7] bị chết đã ba năm nay, viên quan coi ngựa đã bị cách chức. Quan trên bắt phải bồi thường sáu vạn tiền. Nếu có thể đem nửa số tiền ấy mua được con ngựa giống vậy thì vẫn còn có lợi. Hơn nữa, nếu sung được
con ngựa này vào danh sách, thì tiền lương thảo cho con ngựa trong ba năm ông ta được lĩnh cả, cũng không hề nhỏ. Bởi vậy, mới mua bằng được.
Nhâm thị vì cớ áo quần đã cũ rách, mới xin với Ngâm. Ngâm định mua lụa tấm cho, Nhâm thị không chịu, nói: “Xin những quần áo đã may sẵn.” Ngâm mời thợ may ngoài phố là Trương Đại, vào gặp Nhâm thị, hỏi xem muốn quần áo thế nào. Trương Đại gặp xong, lấy làm kinh ngạc mà nói với Ngâm rằng: “Người này tất là bậc quý thích người trời, bị ngài trộm về, chứ chẳng phải nhân gian có được. Xin ngài mau đem trả lại, để tránh mắc họa.” Có thể thấy nhan sắc của Nhâm thị động lòng người đến vậy, nên nàng muốn xin áo chứ không thích mua vải lụa mà may, nhưng Ngâm không hiểu ý ấy.
Hơn năm sau, Trịnh được ra làm võ quan, nhận chức Quả nghị úy, phủ Hòe Lý, đến ở huyện Kim Thành[8]. Bấy giờ Trịnh mới có thê thất, ban ngày dù chơi bời ở ngoài, nhưng tối phái về nhà ngủ, nên vẫn lấy làm hận vì không được cùng Nhâm thị trọn đêm. Khi sắp đi nhậm chức, Trịnh mời Nhâm thị đi cùng, nhưng Nhâm thị không muốn đi, nói: “Đồng hành dăm bữa nửa tháng, chẳng đủ để vui vầy. Xin lo giúp chút lương ăn, thiếp sẽ ở đây đợi chàng quay trở về.” Trịnh một mực khẩn mời, nhưng Nhâm thị vẫn không chịu. Trịnh bèn nhờ Ngâm giúp cho. Ngâm lại ra sức khuyên nhủ, và căn vặn duyên do. Hồi lâu, Nhâm thị nói: “Có vị thầy đồng nói, năm nay thiếp sang phương tây sẽ bất lợi, cho nên không muốn đi.” Trịnh lấy làm nghi hoặc, chẳng nghĩ gì khác, chỉ cùng Ngâm cười lớn mà rằng: “Nàng sáng suốt như vậy, mà lại nghe lời yêu hoặc ấy, là cớ làm sao?” Rồi vẫn cố mời. Nhâm thị nói: “Nếu như vị thầy đồng nói đúng, thì thiếp sẽ vì chàng mà chết, như thế có ích gì?” Hai người kia nói: “Đâu có lý như thế?” rồi vẫn ra sức khẩn mời như trước. Nhâm thị bất đắc dĩ, bèn đi cùng.
Ngâm đem ngựa cho mượn, đi theo đến Lâm Cao bày tiệc tiễn hành, rồi mới chia tay. Qua hai đêm, thì tới Mã Ngôi[9]. Nhâm thị cưỡi ngựa đi trước, Trịnh cưỡi lừa theo sau, nữ tì cũng cưỡi lừa theo sau nốt. Bấy giờ có bọn chăn ngựa Tây Môn đang dạy chó săn ở Lạc Xuyên, đã mươi ngày rồi. Vừa vặn trên đường, một con chó đen trong lùm cỏ phóng ra. Trịnh chợt thấy Nhâm thị hốt hoảng ngã xuống đất, hiện nguyên hình bỏ chạy về phía nam. Con chó đen đuổi theo. Trịnh cũng chạy theo hò hét, nhưng không thể ngăn được. Chạy được hơn một dặm, thì bị con chó vồ được. Trịnh nuốt lệ lấy tiền trong túi ra chuộc lấy xác mà đem chôn, cắm cột gỗ để ghi dấu. Quay lại nhìn con ngựa Nhâm thị cưỡi, vẫn đang gặm cỏ bên đường, y phục còn vắt trên yên, hài tất vẫn nguyên nơi bàn đạp, hệt như ve sầu lột xác vậy. Chỉ có trang sức trên đầu là rơi dưới đất, ngoài ra không thấy gì nữa. Đám nữ tì cũng không thấy bóng dáng đâu.
Hơn tuần sau, Trịnh quay về thành. Ngâm gặp gỡ vui mừng, đón hỏi: “Nhâm thị vẫn bình an chứ?” Trịnh sụt sùi rơi lệ đáp: “Mất rồi.” Ngâm nghe xong cũng đau buồn, dắt tay vào nhà, ngậm ngùi thương sót. Nhân hỏi nguyên do bệnh tật thế nào, Trịnh đáp: “Bị chó cắn chết.” Ngâm nói: “Chó tuy dữ tợn, nhưng sao có thể cắn chết người?” Trịnh đáp: “Nàng không phải là người.” Ngâm kinh sợ hỏi: “Không phải người thì là gì?” Trịnh bấy giờ mới thuật lại đầu đuôi. Ngâm kinh ngạc than thở mãi không thôi. Hôm sau, sai người đánh xe cùng Trịnh đến Mã Ngôi, đào mộ lên xem, đau buồn hồi lâu rồi về. Hồi tưởng việc trước, duy thấy việc không tự may quần áo là khác người hơn cả.
Về sau, Trịnh làm đến Tổng giám sứ, nhà rất giàu có, trong tàu ngựa có tới mười mấy con. Đến năm, sáu mươi lăm tuổi thì mất.
Niên hiệu Đại Lịch[10], Ký Tế ở Chung Lăng, từng giao du với Ngâm, nhiều lần được nghe chuyện này, cho nên biết rất rõ. Sau Ngâm làm Điện trung Thị ngự sử, kiêm Lũng Châu[11] Thứ sử, đến khi chết cũng không quay về quê.
Than ôi! Dị loại cũng có tình cảm như người vậy! Gặp cường bạo cũng không thất tiết, vì người mà hy sinh, phụ nữ đời nay nhiều kẻ không được bằng vậy. Tiếc rằng, Trịnh sinh chẳng phải người tinh tế, chỉ thích sắc đẹp chứ không tường nỗi tính tình. Nếu được kẻ sĩ học thức uyên áo, tất có thể cứu lẽ biến hóa, xét việc thần người, soạn văn chương đẹp, tỏ tình vi diệu, chứ đâu chỉ có thưởng ngoạn phong tư tài sắc mà thôi. Tiếc thay!
Năm Kiến Trung[12] thứ hai, Ký Tế giữ chức Tả thập di, cùng với Kim ngô tướng quân Bùi Ký, Kinh Triệu Thiếu doãn Tôn Thành, Hộ bộ Lang trung Thôi Nhu, Hữu thập di Lục Thuần, cùng bị biếm quan đến miền đông nam, từ đất Tần, sang đất Ngô, thủy lục một đường. Bấy giờ quan Thập di trước đây là Chu Phóng nhân du ngoạn, cũng cùng đi theo. Đi thuyền xuôi dòng, từ sông Dĩnh, qua sông Hoài, ngày đêm trò chuyện, ai nấy đều đem chuyện kỳ lạ kể cho nhau nghe. Các vị được nghe chuyện Nhâm thị, ai cũng than thở kinh ngạc. Nhân đó bảo Ký Tế viết thành truyện, để ghi lại sự lạ ấy.
[1] Sứ quân tức Thứ sử.
[2] Tập quán đời Đường, các anh em con chú bác ruột, tức cùng ông nội, thì tính hàng thứ tự với nhau, do vậy có những nhà đông con cháu, có thế xếp thứ tới hàng mấy chục.
[3] Thiên Bảo: niên hiệu Đường Huyền tông từ năm 742 đến năm 756.
[4] Lạc Du viên: cũng gọi Lạc Du nguyên hay Lạc Du miếu, là một nơi danh thắng ở Trường An. Nhà thơ Lý Thương Ẩn từng có bài thơ Đăng Lọc Du nguyên.
[5] Giáo phường: Là cơ quan quản lý việc ca xướng và nhạc công xưa. Đời Đường cấm vệ quân của Hoàng đế chia ra làm hai nha Nam, Bắc. Giáo phường đặt trong sự quản lý của cấm vệ, cũng chia ra thuộc Nam nha hay Bắc nha.
[6] Chùa Thiên Phúc: ở phường An Định, phía tây bắc thành Trường An đời Đường, thời Tuyên tông đổi tên thành chùa Hưng Nguyên.
[7] Huyện Chiêu Ứng: ở phía đông Trường An, nay là huyện Lâm Đồng, Thiểm Tây.
[8] Huyện Kim Thành: nay là thành phố Lan Châu, tỉnh Cam Túc. Phủ Hòe Lý: trên thực tế từng có huyện Hòe Lý, ở khu vực đông nam huyện Hưng Bình, Thiểm Tây ngày nay, đến đời Tùy bãi bỏ. Đời Đường không hề có phủ Hòe Lý.
[9] Mã Ngôi: địa danh ở phía tây huyện Hưng Bình, Thiểm Tây ngày nay.
[10] Đại Lịch: niên hiệu Đường Đại Tông, từ năm 766 đến năm 779.
[11] Lũng Châu: tên một châu đời Đường, thuộc khu vực lưu vực sông Thiên Thủy ở Thiểm Tây và huyện Hoa Đình, tỉnh Cam Túc ngày nay.
[12] Kiến Trung: niên hiệu Đường Đức tông, từ năm 780 đến năm 783.