(CHIẾC GƯƠNG CỔ)
Đời Tùy, có Hầu Sinh, người Phần Âm[1] là một bậc kỳ sĩ trong thiên hạ. Vương Độ thường lấy lễ thầy học mà thờ. Trước lúc lâm chung, Hầu Sinh có đem một chiếc gương cổ ra tặng cho Độ, và nói: “Giữ cái này trăm thứ tà đều tránh xa.” Độ bèn nhận lấy mà coi như vật chí bảo. Bề ngang chiếc gương độ tám tấc, sau lưng ở giữa có hình kỳ lân nằm phục, xung quanh bốn bên có hình long, hổ, quy, phượng theo phương hướng mà sắp đặt. Vòng ngoài bốn phương, đặt thêm bát quái. Bên ngoài bát quái đặt phương vị mười hai giờ, có hình con giáp đại diện. Ngoài vòng ấy, lại đến hai mươi tư chữ bao quanh, viết theo lối lệ, không thiếu một chấm một nét, nhưng trong tự thư không hề có. Hầu Sinh nói: “Đó là tượng hình của hai mươi tư tiết khí.” Soi dưới mặt trời, những chữ viết hình vẽ sau lưng gương, như mực in vào trong bóng, không thiếu nét nào. Cầm gương lên mà gõ nhẹ, âm thanh từ từ vang lên, trọn một ngày mới dứt tiếng. Ôi chao, chiếc gương ấy thật khác hẳn với những vật thường khác, thật đáng dành cho những bậc cao hiền thưởng thức, mà tự xưng là vật thiêng vậy. Hầu Sinh thường nói: “Ta từng nghe, khi xưa Hoàng Đế đúc mười lăm chiếc gương, cái lớn nhất rộng một thước năm tấc, theo như ngày trăng tròn vậy. Mỗi cái sau giảm dần đi một tấc, đây chính là cái gương thứ tám!” Tuy rằng năm tháng xa xôi, sách vở thiếu thốn, nhưng những điều bậc cao nhân nói, không thể dối bịa được. Xưa, họ Dương nhận vòng[2], mấy đời hiển đạt; Trương công mất kiếm[3], tính mạng cũng tàn. Nay Độ gặp buổi nhiễu nhương, cuộc đời buồn khổ, vương thất một khi vong diệt, biết đâu là chốn nương thân, gương báu nay lại bị mất, buồn thay! Xúi đem những chuyện kỳ lạ về nó, chép kể ra đây, biết đâu mấy ngàn năm sau, giả như có người được gương, thì sẽ biết xuất xứ của nó vậy.
Tháng Năm, năm Đại Nghiệp[4] thứ bảy, Độ từ chức Ngự sử, về Hà Đông[5], gặp khi Hầu Sinh chết, nên được gương này. Đến tháng Sáu năm ấy, Độ về Trường An, đến dốc Trường Lạc, nghỉ tại nhà trọ của Trình Hùng. Hùng mới nhận gửi một con hầu, tên là Anh Vũ, dung mạo rất đẹp. Độ vừa xuống xe, chỉnh trang áo mũ, lấy gương tự soi. Anh Vũ từ xa trông thấy, lập tức dập đầu đến chảy máu, liên mồm nói: “Tôi không dám ở lại nữa!” Độ bèn gọi chủ quán hỏi duyên do. Hùng nói: “Hai tháng trước, có người dắt theo cô gái này từ miền Đông đến. Cô ta ốm quá, khách bèn gửi trọ lại, nói khi quay về sẽ đón, nhưng đến giờ vẫn chưa thấy quay lại. Không biết cô ta cớ chi lại như vậy.” Độ ngờ là yêu tà, bèn mang gương ra bức hỏi. Thị nói: “Xin tha mạng! Tôi sẽ lập tức hiện nguyên hình.” Độ liền cất gương nói: “Mi trước hãy kể rõ đầu đuôi, rồi sau hãy hiện hình, ta sẽ tha chết cho.” Thị bèn lạy tạ, kể rằng: “Tôi chính là con chồn ngàn tuổi ở dưới cây tùng cổ thụ trước miếu Hoa Sơn phủ quân, đã làm nhiều sự biến hóa mê hoặc, tội thật đáng chết. Vì vậy mới bị phủ quân đuổi bắt, mà trốn đến vùng sông Hà sông Vị, làm con gái nuôi nhà Trần Tư Cung ở Hạ Khuê[6], được nuôi nấng tử tế, rồi gả cho người cùng làng là Sài Hoa. Anh Vũ với Hoa ý không hợp nhau, mới trốn đến miền Đông. Ra khỏi huyện Hàn Thành, Anh Vũ bị hành nhân là Lý Vô Ngạo bắt giữ. Vô Ngạo vốn là kẻ thô bạo lỗ mãng, mới đem Anh Vũ theo chu du vài năm, bữa trước theo đến đây, mới ngẫu nhiên mà lưu lại, không ngờ gặp phải gương trời, không thể giấu mình được nữa.” Độ bèn bảo: “Mi vốn là lão hồ ly, biến hình làm người, há lại không làm hại người ư?” Thị nói: “Biến hình hầu hạ, chứ không hại người. Nhưng ẩn trốn huyễn hoặc, thần linh ghét bỏ, thật nên đáng chết vậy.” Độ lại báo: “Ta muốn tha cho mi, có được không?” Anh Vũ nói: “ơn ngài hậu tứ, há dám vong ân. Nhưng gương trời đã soi, không thể lẩn trốn. Có điều, biến thành hình người đã lâu, nay thẹn trở về lốt cũ. Xin ngài hãy cất kỹ gương vào hộp, cho phép tôi được say một bữa mà chết.” Độ lại bảo: “Cất gương đi rồi, mi không trốn chứ?” Anh Vũ cười nói: “Ngài vừa nói những lời tốt đẹp, hứa tha cho tôi đó thôi. Nay cất gương cho tôi đi, chẳng phải là trọn ân của ngài ư? Nhưng gương trời tới đây rồi, đâu còn đường lẩn tránh nữa, chỉ mong kéo dài mạng sống thêm mấy khắc, để tận được vui sướng một đời mà thôi.” Độ liền cất gương đi, lại bầy tiệc rượu mời tất cả láng giềng của Trình Hùng cùng đến yến ẩm vui vẻ. Cô gái uống chốc lát liền say khướt, vung áo đứng dậy múa hát rằng: “Gương báu! Gương báu! Buồn thay mệnh ta! Từ thuở biến hình, đã trải bao nhà? Sống tuy đáng vui, chết cũng chẳng ngại. Sao phải quyến luyến, ở nơi này mãi!” Hát xong, lại lạy tạ, rồi hóa ra một con chồn già mà chết. Mọi người đều kinh hãi.
Mồng một tháng Tư năm Đại Nghiệp thứ tám, có nhật thực. Khi ấy Độ dang ở nơi đài thự, buổi trưa nằm trên gác sảnh, thấy mặt trời dần tối đi. Các lại chức đến nói, có nhật thực lớn lắm. Độ đứng dậy mặc áo, lấy gương ra, thấy gương cũng mờ tối đi, không sáng như bình thường. Độ cho là gương báu này biết thay đổi hợp với cái diệu của quanh cảnh âm dương, nếu không khi thái dương mờ tối sao gương cũng lu mờ như thế? Còn than thở chưa thôi, chốc lát chợt thấy gương dần sáng lại, thì mặt trời cũng đang dần ó ra, đến khi mặt trời trở lại bình thường, gương cũng sáng nguyên như cũ. Từ dó về sau, mỗi khi nhật thực, nguyệt thực, gương đều mờ tối đi vậy.
Rằm tháng Tám năm ấy, bạn của Độ là Tiết Hiệp, có được một thanh kiếm đồng, dài bốn thước, lưỡi liền với chuôi. Chuôi kiếm có hoa văn rồng phượng vờn múa, bên tả có hình lưỡi lửa, bên hữu có hình sóng nước, ánh ngời sáng lóa, không phải vật thường. Hiệp mang kiếm tới chỗ Độ, nói: “Kiếm này Hiệp đã thử nhiều lần rồi, cứ ngày rằm hàng tháng, trời thanh trăng sáng, dể nơi buồng tối, tự nhiên phát quang, chiếu xa mấy trượng. Hiệp giữ kiếm này từ rất lâu nay, biết minh công là người hiếu kỳ ái cổ, như hạn mong mưa, tối nay xin được cùng ngài thử xem.” Độ mừng lắm. Tối ấy, quả nhiên trời thanh trăng sáng, bèn cho đóng kín một gian buồng, không để một kẽ hở nhỏ nào, cùng ngồi trong đó với Hiệp, Độ Liền lấy gương ra, để cạnh chỗ ngồi. Chốc lát, trên gương tỏa ánh sáng, chiếu rạng cả gian buồng, không khác gì ban ngày. Kiếm để bên cạnh, không có chút ánh sáng nào cả. Hiệp kinh ngạc nói: “Xin ngài cất gương vào trong hộp.” Độ làm theo lời, rồi mới thấy kiếm tỏa ra ánh sáng, nhưng chỉ một, hai thước mà thôi. Hiệp vỗ kiếm than rằng: “Những thần vật trong thiên hạ, cũng có cái lý chế phục lẫn nhau vậy.” Từ đó về sau, mỗi khi đến ngày rằm hàng tháng, đem gương ra để trong buồng tối, đều có ánh sáng chiếu xa mấy trượng. Nhưng nếu có ánh trăng lọt vào, thì gương không hề phát sáng. Có nhẽ ánh sáng của nhật, nguyệt, không gì có thế địch được chăng?
Mùa đông năm ấy, Độ kiêm giữ chức Trước tác lang, phụng chiếu soạn quốc sử, muốn viết truyện về Tô Xước[7]. Trong nhà Độ có một lão nô, tên là Báo Sinh, tuổi đã bảy mươi, vốn là bộ hạ của Tô Xước, rất hiểu sử truyện, cũng hơi biết văn chương, đọc bản thảo truyện Tô Xước, không kiềm nổi bi thương. Độ hỏi duyên do, lão nô nói: “Báo Sinh này từng được Tô công hậu đãi, nay thấy lời Tô công nói nghiệm, cho nên đau buồn. Tấm gương báu mà ngài có, chính là của người bạn Tô công là Miêu Quý Tử ở Hà Nam[8] đem tặng Tô công. Tô công yêu quý gương này lắm. Năm Tô công sắp mất, thường buồn bã không vui, gọi Miêu sinh đến bảo rằng: “Ta tự liệu sống không được bao lâu nữa, chẳng biết rồi gương này rơi vào tay ai? Nay muốn đem cỏ thi bói một quẻ, tiên sinh thử xem xem thế nào.” Nói rồi, quay sang bảo Báo Sinh đi lấy cỏ thi, rồi Tô công tự tay lập quẻ. Quẻ lập xong rồi, Tô công nói: “Sau khi ta chết hơn mười năm, nhà ta bị mất tấm gương này, không biết là đi đâu. Nhưng thần vật trong trời đất, động tính đều có điềm báo trước. Nay vùng sông Hà, sông Phần, thường có bảo khí, lại hợp với triệu của quẻ này, gương này sẽ đến nơi ấy chăng?” Quý Tử hỏi: “Là kẻ khác có được chăng?” Tô công lại xem kỹ quẻ bói, nói: “Trước thì vào nhà họ Hầu, thứ về nhà họ Vương. Sau đó đi đâu, thì không biết nữa.” Báo Sinh nói xong lại nhỏ nước mắt mà khóc. Độ ta hỏi thăm họ Tô, thì quả nhiên nói trước đây có cái gương như vậy, sau khi Tô công qua đời, thì không biết bị mất đi đâu, đúng như lời Báo Sinh đã nói. Bởi vậy khi Độ viết truyện về Tô công, cũng đã ghi lại chuyện này ở cuối truyện, khen ngợi Tô công có tài bói dịch tuyệt luân, âm thầm tự dụng, chính vì chuyện này.
Ngày mồng một tháng Giêng năm Đại Nghiệp thứ chín, có nhà sư người Hồ, đi hành khất đến nhà Độ, em Độ là Tích ra gặp, thấy nhà sư thần thái thoát tục, bèn mời vào nhà, mang đồ ăn thết đãi, cùng ngồi trò chuyện hồi lâu. Nhà sư nói với Tích rằng: “Nhà thí chủ dường như có chiếc gương báu tuyệt thế chăng? Có thể cho xem được không?” Tích nói: “Làm sao mà thầy biết như thế?” Sư nói: “Bần đạo được thụ giáo minh lục bí thuật, rất tường bảo khí. Trong nhà thí chủ, hàng ngày thường có ánh sáng xanh chiếu thẳng tới mặt trời, ánh sáng đỏ chiếu thẳng tới mặt trăng, ấy là khí của bảo kính vậy. Bần đạo trông thấy như vậy đã hai năm rồi. Nay chọn được ngày tốt, nên mới muốn được xem qua.” Tích mang gương ra, nhà sư quỳ xuống đỡ lấy mà vui sướng phấn kích, lại bảo với Tích rằng: “Gương này có mấy chỗ linh tướng, trước nay tôi chưa thấy bao giờ. Nếu lấy cao vàng mà bôi, phấn ngọc mà lau, đem soi dưới nắng, tất ánh sáng phản chiếu xuyên được vách tường vậy.” Nhà sư lại than thở báo: “Nếu lại làm pháp thí, thì có thể soi thấu phủ tạng. Đáng tiếc không có thuốc ở đây. Tuy nhiên, nếu lấy khói vàng mà hun, nước ngọc mà rửa, rồi lại lấy cao vàng phấn ngọc mà lau theo đúng như phép, dẫu có để dưới bùn, gương cũng không mờ vậy.” Nói rồi, bèn bày các phép khói vàng nước ngọc cho Độ theo đó mà làm, chẳng gì không nghiệm, duy nhà sư người Hồ ấy thì không gặp lại bao giờ nữa.
Mùa thu năm ấy, Độ ra kiêm nhậm chức Huyện lệnh Nhuế Thành[9], trước lệnh sảnh có một cây táo lớn, to đến mấy trượng, không biết cây đã mấy trăm năm. Các huyện lệnh trước kia, đều phải cúng bái cây này, nếu không sẽ lập tức gặp tai họa ngay. Độ cho là tác quái bởi người, lễ tà nên hủy. Các huyện lại đều dập đầu kêu khuyên can, Độ bất đắc dĩ, củng phải cúng bái, nhưng trong lòng thầm nghĩ: cây này hẳn có giống yêu tình quỷ quái thác ngụ, người ta không thể trừ được, nên dung dưỡng mãi thành thế lớn như vậy. Độ bèn bí mật treo chiếc gương lên tán cây, đến khoảng canh hai đêm ấy, chợt nghe trước sảnh có tiếng động ầm ầm, nghe như sấm nổ. Độ bèn dậy, nhìn xem, thì thấy gió mưa tăm tối, vây khắp quanh cây, có ánh chớp lửa chói lòa, vần vũ trên dưới. Đến sáng, thấy một con rắn lớn, vẩy tía, đuôi đỏ, đầu xanh sừng trắng, trên trán có chữ “vương”, mình bị mấy vết thương, chết ở trên cây. Độ bèn thu gương xuống, lệnh cho nha lại kéo rắn ra đốt ở ngoài cửa huyện nha. Lại cho quật gốc cây, thấy trong ruột cây có một cái hang, thông xuống dưới đất càng lớn hơn, vẫn còn dấu tích của con rắn lớn bò trườn qua lại. Bèn sai lấp đi, yêu dị tuyệt tích.
Mùa đông năm ấy, Độ giữ chức Ngự sử, kiêm Nhuế Thành lệnh, trì tiết Hà Bắc đạo[10], mở kho lương để chẩn cấp cho đất Thiểm Đông[11]. Bấy giờ khắp nơi đói to, trăm họ khốn khổ, vùng Bồ[12], Thiểm, bệnh dịch càng ghê gớm. Có tên Trương Long Câu, người Hà Bắc, làm chân tiểu lại dưới trướng của Độ, trong nhà chủ tớ mấy chục người, nhất thời cùng bị đau ốm. Độ thương tình, đưa cái gương cho Long Câu mang về, bảo đến đêm thì cầm gương mà chiếu vào người nhà. Người bệnh trông thấy gương đều kinh hoảng ngồi dậy, nói: “Trông thấy Long Câu tay cầm mặt trăng chiếu vào mình. Những chỗ ánh sáng gương chiếu tới, đều thấy lạnh như băng, thấu tận tạng phủ.” Tức thì nhiệt định, hết sốt, đến khuya thì khỏi. Độ cho là làm vậy không gây hại gì cho gương, mà có thể cứu giúp được mọi người, mới sai người bí mật cầm gương đi khắp dân chúng mà giúp họ. Tối hôm ấy, trong hộp gương bỗng nhiên phát ra tiếng động, âm thanh vang rất xa, hồi lâu mới dừng, Độ trong lòng rất lấy làm lạ. Sáng hôm sau, thì Long Câu đến nói với Độ rằng: “Tối qua tôi mơ thấy một người, đầu rồng mình rắn, áo tía mũ đỏ, nói với tôi rằng: “Ta đây chính là tính của gương báu, tên gọi Tử Trân, từng có ân với nhà ngài nên đến nhờ việc. Ngài hãy vì ta mà tạ giúp với Vương công rằng, dân chúng có tội, trời giáng bệnh dịch, sao lại khiến ta trái ý trời mà cứu người! Vả chăng, tới tháng sau thì bệnh dịch sẽ dần lui hết, chớ nên bắt tội ta làm chi!” Độ đã thấy gương có sự linh dị, nên bèn ghi nhớ kỹ chuyện này. Đến tháng sau, bệnh dịch quả nhiên dần lui, đúng như lời nói.
Năm Đại Nghiệp thứ mười, em Độ là Tích từ chức Huyện thừa Lục Hợp[13] về nhà, định đi ngao du sơn thủy trong thời gian dài. Độ ngăn lại mà rằng: “Nay thiên hạ sắp loạn, đạo tặc khắp nơi, em còn định đi dâu? Vả chăng ta với em cùng anh em một bọc, chưa từng xa cách, lần này em đi, có vẻ xa xôi. Xưa, Thượng Bình Tử[14] đi chơi Ngũ Nhạc, không biết về đâu. Nếu em lại theo gót tiền hiền như vậy, ta chịu sao cho thấu?” Nói xong, nhìn mà sa nước mắt. Tích nói: “Ý em đã quyết, anh giữ cũng không được. Anh là bậc thông đạt đời nay, có chuyện gì mà không xét cho được. Khổng Tử nói: ‘Dù kẻ thất phu cũng không nên đoạt chí của họ, đời người trăm năm, bóng câu qua cửa, thỏa tình thì vui, thất chí thì buồn, toại chí bình sinh, là nghĩa thánh nhân muốn nói.” Độ bất đắc dĩ, đành cùng chia biệt. Tích nói: “Lần này em đi, cũng có điều muốn xin với anh. Chiếc gương báu của anh, chẳng phải là vật trần tục. Nay em đã để chí ở mây nước, gửi thân nơi yên hà, xin anh tặng nó cho em.” Độ nói: “Anh có tiếc gì em đâu.” Rồi liền lấy gương ra cho. Tích được gương, bèn lên đường, chẳng nói là đi đâu cả.
Đến mùa hạ, tháng Sáu, năm Đại Nghiệp thứ mười ba, thì Tích quay về Trường An, đem gương trả lại, kể chuyện cho Độ nghe rằng:
“Chiếc gương này thực là vật báu vậy! Sau khi từ biệt anh, trước tiên Tích đến chơi núi Tung Sơn, Thiếu Thất[15], xuống Thạch Lương, chơi Ngọc Đàn. Một buổi chiều tối, thì gặp một vách núi cao, có nhà đá đẹp, chứa được dăm ba người, Tích bèn dừng lại nghỉ ở đó. Đêm ấy sáng trăng, sau độ canh hai, thấy có hai người: một người diện mạo tựa như người Hồ, mày râu trắng mà gầy gò, tự xưng là Sơn công; một người mặt rộng, râu bạc, mày dài, người lùn đen, tự xưng là Mao sinh, cùng hỏi Tích là ai mà ở đây. Tích nói: “Tôi là kẻ tìm tòi ngao du sơn thủy.” Hai người cùng ngồi nói chuyện với Tích hồi lâu, trong khi nói chuyện, thấy có nhiều câu kỳ dị lộ ra, Tích ngờ là giống tinh quái, mới ngầm đưa tay ra sau lưng, mở hộp lấy gương ra. Ánh gương vừa chiếu, hai kẻ ấy liền kêu thất thanh mà phục xuống. Kẻ thấp hóa ra một con rùa, còn người Hồ hóa ra một con vượn. Tích treo cái gương đến sáng, thì cả hai con vật đều chết, trên mình con rùa có lớp lông xanh, còn con vượn thì toàn lông trắng.
“Tích lại đến Cơ Sơn[16], qua Dĩnh Thủy[17], trải Thái Hòa[18], thăm Ngọc Tỉnh. Bên cạnh giếng Ngọc Tỉnh có cái ao, nước sâu mà xanh biếc. Hỏi thăm kẻ tiều phu, thì thấy nói: “Đó là ao Linh Thu rất thiêng. Người trong làng bốn mùa đều cúng tế để cầu phù trợ. Nếu như có lần nào thiếu khuyết thì ao lập tức có mây đen bốc lên, rồi bọt nước cuộn sôi, phá hỏng cả đê, lụt cả ruộng.” Tích bèn lấy gương ra rọi xuống, nước ao lập tức sôi sùng sục, có tiếng động như sấm nổ. Rồi bỗng nhiên nước trong ao tung vọt hết lên không trung, trong ao không còn một giọt. Bay xa hơn hai trăm bước, nước mới rơi xuống đất. Trong ao có một con cá, dài ước hơn một trượng, to hơn cánh tay người, đầu đỏ trán trắng, mình có sắc xanh vàng, không có vẩy mà chỉ có nhớt, mình rắn sừng rồng, miệng nhỏ, tựa như cá tầm, khi cử động thì trên mình có ánh sáng bóng, đang nằm quẫy trên bùn không thể đi được. Tích cho nó là con cá giao, nay đã mắc cạn, nên không còn làm gì được nữa. Bèn mổ thịt mà nướng ăn, thấy béo mà ngon lắm, ăn luôn được mấy bữa.
“Tích lại đến Biện Châu ở đất Tống[19]. Chủ nhà trọ ở Biện Châu là Trương Kha, có người con gái mắc bệnh, cứ đêm xuống lại kêu rên đau đớn, không thể chịu nổi. Tích hỏi duyên do, mới biết người con gái bị bệnh đã hơn năm nay, ban ngày không sao, nhưng cứ tối là như vậy. Tích ở lại một đêm, khi nghe tiếng người con gái kêu la, bèn lấy gương ra soi. Người con gái kêu lên rằng: “Chàng đội mũ bị giết rồi!” Tìm xem, thấy dưới gầm giường người con gái ấy có một con gà trống lớn, đã chết rồi. Chính là con gà trống già của gia chủ đã nuôi bảy, tám năm.
“Lại đến chơi Giang Nam, sắp vượt sông Dương Tử ở Quảng Lăng[20], bỗng nhiên thấy mây đen vần vũ, trùm kín mặt sông, gió cuộn sóng dâng, phu thuyền kinh hãi, sợ thuyền lật chìm. Tích bèn cầm gương lên mui thuyền, rọi xuống sông suốt mấy bộ, thấy sáng rõ đến tận đáy, gió mây liền ngừng, ba đào tĩnh lặng, chỉ khoảnh khắc, thuyền liền vượt được qua sông Dương Tử. Tích lại lên chơi đỉnh Khúc Phương trên núi Nhiếp Sơn[21], lúc vượt đỉnh cao, khi dò hang thẳm, thấy từng đàn chim quây quần bên người mà kiếm ăn, mấy con gấu ngồi ngay giữa đường không hề sợ hãi, bèn lấy gương ra soi, chúng đều sợ hãi trốn chạy hết. Sau lại vượt sông Triết Giang, gặp khi sóng triều từ biển tới, tiếng reo ầm ầm, mấy trăm dặm cũng nghe thấy. Người lái thuyền nói: “Sóng đã gần tới rồi, chưa thể vượt sang phía nam được. Nếu như không quay lại, thì chúng ta tất chôn thây bụng cá.” Tích bèn lấy gương ra chiếu xuống sông, thì sóng dừng không tiến nữa, mà đứng sững như mây cuộn. Bốn bên mặt sông mở rộng hơn năm mươi bộ, nước dần trong xanh, cá rùa tan chạy. Buồm dựng phơi phới, chạy thẳng bờ nam. Tới rồi, quay đầu nhìn lại, thấy sóng cuồn cuộn cao tới mấy mươi trượng, ở ngay chỗ mới vừa đi qua. Tích bèn lên chơi Thiên Thai[22], thăm khắp hang động, đêm đeo gương mà đi trong hẻm núi, cách xa trảm bước, sáng rõ bốn bề, tóc tơ cũng thấy, chim ngụ nơi rừng, hoảng bay tán loạn.
“Khi Tích quay về đến Cối Kê[23], gặp được dị nhân Trương Thủy Loan, truyền thụ cho Tích sách Chu Bễ, Cửu Chương cùng các thuật Minh đường, Lục giáp[24]. Tích cùng về với Trần Vĩnh, rồi lại đi chơi Dự Chương[25], gặp đạo sĩ Hứa Tàng Bí, tự nói là cháu bảy đời của Hứa Tinh Dương[26], có thuật niệm chú mà đi trên dao, bước trên lửa. Cùng nói đến chuyện yêu quái, Hứa Tàng Bí bèn kể nhà Thương đốc[27] Lý Kính Thận ở huyện Phong Thành có ba người con gái, bị ma quỷ ám sinh bệnh, không ai biết là bệnh gì, Tàng Bí có chữa cho nhưng vô hiệu. Người bạn cũ của Tích là Triệu Đan, rất có tài, làm chức Phong Thành Huyện úy, Tích nhân tiện bèn qua thăm. Đan mệnh sai nhân bố trí chỗ ở cho Tích, Tích nói: “Muốn đến ở nhà ông Thương đốc Lý Kính Thận.” Đan bèn bảo Thận theo lễ mà tiếp đãi Tích. Tích nhân đó hỏi duyên do chuyện ba người con gái, Kính Thận nói: “Ba đứa con gái tôi đều ở trong buồng nhỏ trong sảnh đường, cứ đến chiều tối, lại ăn mặc trang điểm thật đẹp, sau khi hoàng hôn buông xuống, liền vào trong buồng, tắt hết đèn nến. Để ý lắng nghe, thì tựa như thấy nói cười cùng người nào đó, kịp tới sáng lại ngủ mê mệt, không gọi thì không dậy nổi. Cứ như vậy, mỗi ngày chúng một gầy yếu, không thể ăn uống được. Nếu như ngăn không cho chải đầu trang điểm, là chúng đòi nhảy xuống giếng tự vẫn. Chẳng biết làm thế nào cho được.” Tích bèn nói với Kính Thận: “Xin dẫn tôi đến buồng ấy xem sao.” Phía đông buồng có một cửa sổ, một khi đã đóng thì sợ rằng khó mà mở được, vì vậy Tích bèn cưa bốn chấn song cửa đi, rồi chống gá vào đấy như cũ. Chiều tối, Kính Thận bảo: “Con gái tôi đã trang điểm và vào buồng rồi.” Đợi đến canh một, Tích lắng nghe, thấy có tiếng cười nói tự nhiên. Tích bèn bật song cửa sổ, cầm gương nhảy vào buồng soi chiếu. Ba người con gái kêu lên: “Giết chồng ta rồi!” nhưng không thấy có gì cả. Treo chiếc gương đến sáng, thì thấy có một con chồn, từ đầu đến đuôi dài một thước ba, bốn tấc, đã trụi lông rụng răng; một con chuột, cũng trụi lông rụng răng, to nặng đến năm cân; lại một con thạch sùng, to bằng cánh tay, mình đầy vẩy sáng, óng ánh năm sắc, trên đầu hai sừng, dài độ nửa tấc, đuôi dài hơn năm tấc, một tấc chót đuôi đã thành sắc trắng, tất cả đều chết ở trước hốc tường. Từ đó cả ba người bệnh khỏi.
“Sau đó, Tích lại đến núi Lô Sơn tìm dấu tích thần tiên, lần lửa mấy tháng trời, có khi ở trong rừng sâu, có lúc nằm ngoài đồng cỏ, hổ báo nối đuôi, sài lang tiếp bước, hễ đưa gương chiếu, chẳng giống gì không sợ hãi phủ phục. Lô Sơn xử sĩ Tô lần là kẻ sĩ có hiểu biết kỳ tài, thấu tỏ Dịch lý, hiểu quá khứ biết tương lai, có nói với Tích rằng: “Thần vật trong thiên hạ, tất không ở lâu trong chốn nhân gian. Nay khắp nơi loạn lạc, nơi tha hương vị tất có thể dừng chân được, ngài vẫn còn chiếc gương này, đủ để tự bảo vệ mình được, nên mau quay trở về quê nhà.” Tích lấy làm phải, bèn lập tức quay về bắc. Đến Hà Bắc, thì nằm mơ thấy gương nói với mình rằng: “Ta chịu hậu lễ của lệnh huynh, nay sắp phải xa rời nhàn gian, nên muốn từ biệt ông ấy, xin ngài sớm quay về Trường An cho!” Trong mơ, Tích có hứa nhận lời. Đến sáng tỉnh dậy, ngồi một mình ngẫm nghĩ mà phát hoảng, bèn lập tức quay về đất Tần phía tây. Nay đã gặp anh rồi, coi như Tích dã không phụ lời hứa. Song chỉ sợ là vật thiêng này rồi sẽ không còn là của anh nữa.” Mấy tháng sau thì Tích quay về Hà Đông.
Ngày mười lăm tháng Bảy, năm Đại Nghiệp thứ mười ba, trong hộp phát ra tiếng kêu bi ai, âm thanh ban đầu như xa xa, khoảng khắc bèn lớn dần lên, nghe như rồng gào hổ rống, hồi lâu thì hết. Độ mở hộp xem, thì gương đã không còn.
[1] Tất cả các truyện và tác giả đều được Lỗ Tấn khảo cứu chi tiết ở mục Nói Thêm về Tập Truyền Kỳ cuối sách.
[2] Phần Âm: tên huyện đời xưa, trị sở ở tây nam huyện Vạn Vinh, tỉnh Sơn Tây (Trung Quốc) ngày nay.
[3] Tục Tề hài ký chép: năm Dương Bảo chín tuổi, đi chơi phía bắc núi Hoa Âm thấy có con hoàng tước bị chim cắt đánh rơi xuống gốc cây. Bảo bèn đem về nhà ủ trong hộp khăn, nuôi nấng hơn trăm ngày, chim đủ lông cánh, bèn bay đi. Tối hôm ấy, Bảo nằm mơ thấy có một đồng tử áo vàng đến lạy tạ mình, rồi tặng bốn chiếc vòng trắng, nói: “Để cho con cháu ngài làm đến tam công, mà luôn thanh khiết như vòng này.” Sau quả nhiên như vậy.
[4] Trương công: tức Trương Hoa đời Tấn, là người học rộng biết nhiều, từng soạn sách Bác vật chí. Thời Tấn Huệ đế, Trương Hoa làm chức Tư không. Theo Tấn thư - Trương Hoa truyện, Trương Hoa đang đêm trông thấy trong khoảng sao Đẩu, sao Ngưu có khí tốt lành, bèn gọi Lôi Hoán đến cùng xem thiên tượng. Lôi Hoán nói rằng, đó là tinh khí của bảo vật, thuộc về đất Phong Thành. Trương Hoa liền bổ Lôi Hoán làm Huyện lệnh Phong Thành. Lôi Hoán tới nhậm sớ, quả nhiên đào được hai thanh báo kiếm ở đó, bèn đem thanh kiếm Long Tuyền trong đó dâng lên Trương Hoa. Sau, Trương Hoa bị Triệu vương Tư Mã Luân hại, thanh bảo kiếm cũng phá tường bay đi mất.
[5] Đại Nghiệp: niên hiệu Tùy Dưỡng đế (Trung Quốc) từ năm 605 đến năm 618.
[6] Hà Đông: tên khu vực đời xưa, dưới thời Tần, Hán chỉ khu vực tây nam tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc. Từ đời Đường về sau, chỉ chung toàn bộ tỉnh Sơn Tây.
[7] Ha Khuê: tên huyện đời xưa, trị sở ở đông bắc huyện Vị Nam, Thiểm Tây, Trung Quốc, thời Đường thuộc Hoa Châu
[8] Tô Xước người Vũ Công, Kinh Triệu đời Tây Ngụy, làm quan đến chức Đại hành đài độ chi thượng thư, kiêm Tư nông khanh đời Tây Ngụy Văn đế.
[9] Hà Nam: tên một đạo dời Đường - Trung Quốc, ước khoảng khu vực từ Sơn Đông, Hà Nam, Hoàng Hà trở về phía nam và Giang Tô, An Huy, Hoài Hà trở lên phía bắc.
[10] Nhuế Thành: tên huyện, nằm ở bờ bắc Hoàng Hà, phía tây nam tỉnh Sơn Tây, tiếp giáp hai tỉnh Thiểm Tây, Hà Nam, Trung Quốc.
[11] Trì tiết: nghĩa là cầm phù tiết. Ngày xưa, sứ giả thường cầm theo phù tiết để làm tin. Từ sau thời Ngụy, Tấn các quan nắm giữ việc quân chính ở địa phương cũng được gọi là Trì tiết.Hà Bắc đạo: phần lớn thuộc tỉnh Hà Bắc - Trung Quốc ngày nay.
[12] Thiểm Đông: chỉ khu vực phía đông huyện Thiểm Mạch nay là khu vực tây nam huyện Thiểm, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc.
[13] Bồ: địa danh xưa, nay là khu vực tây bắc huyện Thấp, tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc.
[14] Lục Hợp: tên huyện đời Tùy, nay là huyện Lục Hợp, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc.
[15] Thượng Bình Tử: tức là Hướng Bình Tử, người thời Đông Hán, tên là Trường, tự là Bình Tử, ẩn cư không làm quan. Theo Hậu Hán thư - Hướng Trường truyện, khoảng niên hiệu Kiến Vũ, sau khí đã cưới, gả hết cho các con trai, gái, Hướng Bình Tử bèn không hỏi đến việc nhà nữa, cùng người bạn thân là cầm Khánh người Bắc Hải đi chơi Ngũ Nhạc, về sau không biết tin tức gì nữa.
[16] Tung Sơn: tức núi Trung Nhạc Tung Sơn, ở phía bắc huyện Đăng Phong, tỉnh Hà Nam.Thiếu Thất: tức núi Thiểu Thất thuộc mặt tây núi Tung Sơn, dưới đỉnh Ngũ Nhũ Phong ở sườn phía bắc núi ấy có chùa Thiếu Lâm.
[17] Cơ Sơn: tên núi ở đông nam huyện Đăng Phong, Hà Nam, là nơi ẩn cư của ẩn sĩ Sào Phủ, Hứa Do đời xưa.
[18] Dĩnh Thủy: tên sông, bắt nguồn từ phía tây nam núi Tung Sơn, chảy tới huyện Thọ, tỉnh An Huy thì đổ vào sông Hoài.
[19] Thái Hòa: tên huyện ở tây bắc tỉnh An Huy, sông Dĩnh Thủy chảy qua phía nam huyện này.
[20] Biện Châu: đời Đường, trị sở ở huyện Khai Phong, Hà Nam ngày nay, xưa là đất nước Tống thời Xuân Thu.
[21] Quảng Lăng: tên quận, trị sở ở thành phố Dương châu, Giang Tô ngày nay.
[22] Nhiếp Sơn: tên núi, tức núi Thê Hà, ở dông bắc thành phố Nam Kinh, Giang Tô ngày nay.
[23] Thiên Thai: tên núi, ở phía đông tính Triết Giang.
[24] cối Kê: tên huyện đời xưa, trị sở ở thành phố Thiệu Hưng, tỉnh Triết Giang ngày nay.
[25] Minh đường, Lục giáp: chỉ các thuật bói toán xưa.
[26] Dự Chương: tên quận đời xưa, tức thành phố Nam Xương, tỉnh Giang Tây ngày nay.
[27] Hứa Tinh Dương: tức Hứa Tốn, đạo sĩ đời Tấn, trước học đạo vói Ngô Mãnh, sau được cử Hiếu liêm, từng giữ chức Huyện lệnh Tinh Dương, nên được gọi là Hứa Tinh Dương, về sau ông bỏ quan đi chu du giang hồ. Truyền rằng, năm Ninh Khang thứ hai đời Đông Tấn, cả giả đình Hứa Tình Dương bốn mươi hai người, ở núi tây, Nam Xương đều bay lên trời thành tiên.