(CHUYỆN ĐÀO SÔNG)
Đất Tuy Dương[1] xuất hiện khí đế vương, quan xem thiên văn là Cảnh Thuần Thần tâu rằng, trong năm trăm năm tất có bậc thiên tử dấy lên. Dạng đế u tối hoang dâm, không tin vào điều ấy. Bấy giờ vua ra chơi Mộc Lan đình, sai Viên Bảo Nhi hát khúc Liễu chi từ, nhân xem trên tường cung điện có bức tranh Quảng Lăng đồ, vua trừng mắt chăm chú nhìn mãi, rất lâu vẫn không cất bước đi nổi.
Khi ấy có Tiêu hậu ở bên, nói với vua rằng: “Không biết nó là bức tranh gì, mà Hoàng thượng lại chú tâm như vậy?” Vua nói: “Trẫm không phải thích bức tranh này, chỉ là nhớ lại những chỗ đi chơi ngày xưa mà thôi.” Rồi vua bèn tay trái bá vai hậu, tay phải chỉ vào núi sông cùng làng mạc, chùa chiền trong tranh, kể ra rành mạch như ở ngay trước mắt, rồi bảo hậu rằng: ‘Khi trẫm còn là Trần vương, trấn giữ Quảng Lăng, sớm chiều du ngoạn ở đó. Lúc bấy giờ, chỉ lấy khói mây làm cảnh đẹp, coi phú quý như cừu thù. Há bởi vì lâu nay ở ngôi cao, lo muôn việc, đã khiến cho la không còn hoài bão cao rộng như vậy nữa?” Nói xong, nét mặt có vẻ buồn bã. Hậu nói: “Hoàng thượng đã có ý nhớ Quảng Lăng, sao không tới đó chơi một chuyến?”
Vua nghe thấy vậy, trong lòng chợt sáng ra, hôm sau bèn bàn bạc với đại thần, muốn đi thuyền lớn từ sông Lạc vào sông Hà, rồi từ sông Hà ra biển, vào sông Hoài, là tới được Quảng Lăng. Quần thần đều nói, hành trình như vậy, chẳng những xa xôi vạn dặm, mà còn nỗi Mạnh Tân[2] nước xiết, Đông hải sóng to, nếu như đi thuyền lớn, thì vô cùng bất trắc. Khi ấy có Gián nghị đại phu Tiêu Hoài Tĩnh (em trai Tiêu hậu) tâu rằng: “Thần nghe, thời Tần Thủy Hoàng, Kim Lăng có vương khí, Thủy Hoàng bèn sai người đến đào đứt long mạch, vương khí bèn tuyệt. Nay Tuy Dương có vương khí, mà bệ hạ có ý định xuống chơi miền đông nam, muốn theo đường Mạnh Tân, lại lo nguy hiểm. Vả, ở tây bắc đất Đại Lương[3] có đường sông cũ, chính là chỗ tướng nước Tần là Vương Ly dẫn nước đổ vào thành Đại Lương[4]. Vì vậy thần muốn xin bệ hạ tập hợp phu lính đào sông, bắt đầu từ Đại Lương, đào sang phía tây đến Hà Âm[5], dẫn nước từ Mạnh Tân đổ vào, đào sang phía đông đến Hoài Khẩu, để nước từ Mạnh Tân đổ ra. Con đường sông ấy chưa đầy một ngàn dặm, hơn nữa lại đi qua địa hạt Tuy Dương, một là có đường đến Quảng Lăng, hai là cắt đứt được vương khí.”
Vua nghe tâu mừng lắm, quần thần ai nấy lặng im. Vua bèn ban sắc lệnh, triều đình có kẻ nào dám can gián trẫm không nên đào sông, thì chém. Lại chiếu cho Chinh bắc đại tổng quản Ma Thúc Mưu làm Khai hà đô hộ, lấy Đãng khấu tướng quân Lý Uyên làm phó sứ. Uyên xưng có bệnh không đến, Dạng đế liền lấy Tả đồn Vệ tướng quân Lệnh Hồ Tân Đạt thay Lý Uyên làm Khai cừ phó sứ đô đốc. Bắt đầu khởi công từ Đại Lương, dựng mới dinh Tu cừ ở phía bắc Lạc Đài, sai đặt tên cừ là Biện cừ (Xưa đất đó chỉ viết chữ Biện 卞, thành Khai Phong gọi là Biện ấp), nhân đó gọi tên dinh phủ là Biện cừ Thượng nguyên truyến xá (Truyến xá, cũng tức dịch trạm. Vì Biện cừ bắt đầu từ đó, nên gọi là Biện cừ thượng nguyên - thượng nguồn Biện cừ.) Xuống chiếu trưng tập đinh phu trong thiên hạ, tất cả đàn ông con trai từ mười lăm tuổi trở lên, kẻ nào lẩn trốn sẽ chém cả ba họ. Vua thấy sông chảy ngang qua đất Biện, nên mới gia thêm bộ thủy vào bên cạnh chữ Biện[6], số đinh phu là ba trăm sáu mươi vạn người. Bèn luân phiên, cứ năm nhà thì có một người, hoặc già, hoặc trẻ, hoặc phụ nữ, để cung đốn việc ăn uống. Lại lệnh cho năm vạn kiêu binh tuổi trẻ, cầm gậy làm đốc công lại, tương tự như hàng tiết cấp đội trưởng, tổng cộng tất cả là hơn năm trăm bốn mươi ba vạn người. Thúc Mưu bèn lệnh lấy ra một phần ba số ấy, đào từ Thượng Nguyên sang phía tây đến Hà Âm, rồi nối thông với đường sông cũ (tức nơi Vương Ly dẫn nước đánh thành), quanh co đến Sầu Tư đài mà lên phía bắc. Còn hai phần ba số phu thợ, thì đào từ trạm dịch Thượng Nguyên về phía đông. Năm ấy là năm Đại Nghiệp thứ năm đời Tùy, thượng tuần tháng Tám thì khởi công. Cuốc xẻng đã tụ tập đâu đấy, trải dài từ đông sang tây đến mấy ngàn dặm. Mới đào xuống được hơn trượng, thì gặp một tòa nhà cổ, có tới mấy gian, vẫn nguyên vẹn sạch sẽ, màu sơn rực rỡ, đèn đuốc chiếu sáng như ban ngày. Bốn vách đều có những bức vẽ hình hoa trúc rồng quỷ, ở giữa có một cỗ quan tài, tựa như mộ của một nhà hào tộc. Đốc công lại ở đó bẩm với Thúc Mưu. Mưu sai mở quan tài ra xem, thì thấy một người dung mạo như người sống, da thịt béo tốt, trắng trẻo như ngọc. Tóc từ đầu mọc dài ra che xuống mặt, qua ngực bụng xuống quấn lấy chân, rồi lại vươn ngược trở lên, đến dưới lưng mới dừng. Tim thấy có một miếng đá khắc chữ, trên có chữ như lối chữ triện theo hình dấu chân chim của Thương Hiệt[7] xưa, bèn truyền trong đám đinh phu, ai đọc được thì miễn cho khỏi lao dịch. Có một người ở Hạ Bi[8], đọc là:
Ta là Đại Kìm tiên,
Chết đã một ngàn niên,
Đủ số một ngàn niên,
Dưới lưng suối chảy xuyên.
Được gặp Ma Thúc Mưu,
Táng ta trên cao nguyên.
Tóc dài đến nê hoàn[9],
Lại đợi một ngàn niên,
Mới lên Đâu Suất[10] thiên.
Thúc Mưu bèn tự chuẩn bị quan quách, chôn người ấy ở khu đất phía góc tây thành (nay tức là chùa Đại Phật vậy), rồi đào tiếp đến Trần Lưu[11]. Vua sai sứ cầm chúc văn bằng ngọc, cùng một đôi bạch bích và lễ thiếu lao[12] đến tế lễ ở miếu Lưu hầu[13] để mượn đường. Tế xong, bỗng có gió lớn, xuất phát từ cửa sổ phòng trong nội điện, thổi thốc vào mặt người. Sứ giả vội lui ra. Từ Trần Lưu đào sang phía đông, quả nhiên những phu vác mai, gánh đất đi lại, đều nhanh như gió rung chớp giật. Người xa kẻ gần xúm xít làm việc đông đúc như ong kiến. Mấy ngày, thì đào đến Ung Khâu.[14]
Bấy giờ có một phu dịch người Trung Mâu,[15] ngẫu nhiên mắc chứng gù lưng, không thể đi nhanh được, tụt lùi lại sau, đi một mình. Tối ấy, ánh trăng vằng vặc, chợt nghe thấy tiếng quát đẹp đường rất nghiêm, tên phu ấy cúi mình nép vào bên tả đường đứng đợi. Hồi lâu, thấy lính đẹp đường tới nơi, nghi vệ không thể kể xiết. Có một quý nhân đội mũ tước hầu, mặc áo vương giả, cưỡi con ngựa trắng, sai tả hữu đòi tên phu đến trước mặt, nói: “Hãy nói với Thập nhị lang của ngươi rằng, ta gửi trả lại đôi ngọc bạch bích. Ông ta sắp làm khách trên trời rồi.” (Dạng đế làm vua mười hai năm). Nói xong, lấy ngọc bích ra đưa cho. Tên phu quỳ mà nhận lấy, định lạy tạ thì quý nhân đã lên ngựa đi sang phía tây. Đến Ung Khâu, tên phu đem ngọc bích trình lên Ma đô hộ, nhìn kỹ, thì chính là vật mà vua dâng tế Lưu Hầu. Ma cật vấn, tên phu ấy liền kể lại hết mọi chuyện. Thúc Mưu tính tham lam, bèn giấu viên ngọc, lại không hiểu ý câu nói, lo tên phu tiết lộ ra ngoài, bèn chém đầu diệt khẩu, rồi sau đó khởi công ở Ung Khâu. Đến một khu rừng lớn, trong rừng có một ngôi đền nhỏ. Thúc Mưu hỏi thăm những ông già ở trong thôn, thì thấy nói: “Từ xưa truyền lại, gọi nơi ấy là Ẩn sĩ mộ, thần rất linh thiêng.” Thúc Mưu không tín, bèn quật ngôi mộ lên. Được mấy thước, bỗng đào vào một hầm trống. Các phu dịch nhìn vào trong, thấy có đèn đuốc sáng choang, không ai dám bước vào. Ma bèn sai tướng dưới trướng vào xem. Có viên lang tướng ở Vũ Bình là Địch Khứ Tà xin đi, Thúc Mưu mừng nói: “Thật là bậc Kinh, Nhiếp[16] vậy.” Rồi sai buộc đây vào ngang eo Khứ Tà ròng xuống, ước mấy chục trượng mới chạm đáy. Khứ Tà cởi dây buộc, đi độ trăm bước, thì vào một thạch thất. Phía đông và bắc mỗi nơi có bốn cột đá, cùng hai dây sắt buộc một con thú, to như con trâu. Nhìn kỹ, thì là một con chuột lớn. Phút chốc, phía tây thạch thất có một cửa đá mở rộng. Một đồng tử đi ra nói: “Ngài chẳng phải là Địch Khứ Tà ư?” Đáp: “Chính phải.” Đồng tử nói: “Hoàng Phủ quân đợi ngài đã lâu.” Rồi dẫn vào, thấy có một người mặc áo đỏ, đội mũ vân quan, ngồi trên sảnh đường. Khứ Tà lạy chào, người ấy không nói, cũng không chào lại. Một viên lại áo xanh dẫn Khứ Tà ra đứng dưới thềm phía tây sảnh. Hồi lâu, trên nhà hô lực sĩ lôi A Ma đến (A Ma là tiểu tự của Dạng đế). Bèn có mấy tên võ phu, hình dung xấu xí khác lạ, lôi con chuột lớn khi nãy đến. Khứ Tà vốn là bề tôi trên điện, nên có biết tiểu tự của vua, nhưng không hiểu là chuyện gì, chỉ nín thở đứng yên. Người trên sảnh lớn tiếng mắng con chuột rằng: “Ta sai ngươi tạm trút bỏ da lông, làm chủ trong nước, cớ sao lại ngược dân hại vật, bất tuân đạo trời như thế?” Con chuột chỉ biết gật đầu quẫy đuôi mà thôi. Người trên sảnh càng giận, sai võ sĩ lấy gậy lớn mà đánh vào đầu nó. Vừa đánh một gậy thì bỗng nghe có tiếng như tường đổ, con chuột lớn kêu to lên như sấm động. Định giơ gậy đánh thêm lần nữa, thì chợt có một đồng tử cầm thiên phù xuống đến nơi. Người trên sảnh giật mình kinh sợ, vội vàng xuống thềm phủ phục nghe mệnh. Đồng tử bèn tuyên rằng: “Số A Ma vốn là một kỷ, đến nay đã được bảy năm. Hãy đợi thêm năm năm nữa, sẽ lấy lụa trắng mà treo cổ.” Đồng tử đi rồi, người trên sảnh đường lại sai buộc con chuột lại chỗ cũ, rồi quay sang bảo Khứ Tà rằng: “Hãy nói với Ma Thúc Mưu giùm ta: ‘Tạ ơn ngươi không đánh vào địa giới của ta, năm sau ta sẽ tặng cho hai con dao vàng, chớ cho là bạc lễ vậy.’“ Nói xong, thì viên lại áo xanh lại dẫn Khứ Tà theo của khác mà ra. Ước chừng đi được mười mấy dặm, thì vào một khu rừng, bám dây vin đá mà đi. Khi ngoảnh đầu lại nhìn, thì đã không thấy người đưa dường đâu nữa. Lại đi hơn ba dặm, thấy ngôi nhà cỏ, có một ông lão ngồi trên bệ đất. Khứ Tà hỏi đây là nơi nào, ông già nói: “Đây là dưới chân núi Thiếu Thất ở Tung Dương vậy.” Ông già lại hỏi Khứ Tà từ đâu tới. Khứ Tà nhất nhất thuật lại tất cả. Ông già bèn giải rõ cho nghe, Khứ Tà biết Dạng đế ắt không còn được bao lâu. Ông già lại nói: “Nếu ngài có thể không làm quan nữa, thì tức là thoát thân khỏi nơi miệng hùm vậy.” Khứ Tà đi về phía đông, khi quay lại nhìn thì ngôi nhà cỏ đã không thấy đâu nữa.
Khi ấy, Ma đô hộ đã đến huyện Ninh Dương[17]. Khứ Tà vào gặp Thúc Mưu, nói hết sự việc. Hóa ra sau khi Khứ Tà vào mộ huyệt, thì ngôi mộ tự lở xuống. Ai nấy đều tưởng Khứ Tà đã chết, vậy mà hôm nay lại h ở về được. Thúc Mưu không tin, cho là hóa điên. Khứ Tà bèn giả thác mắc bệnh điên cuồng, ẩn ở núi Chung Nam. Lúc đó, Dạng đế bị mắc chứng đau đầu, hơn tháng trời không coi chầu. Hỏi duyên do, thì đều nói Hoàng đế nằm mơ, bị người ta đánh vào đầu, bèn phát ra bệnh suốt liền mấy hôm. Hôm ấy chính là ngày mà Khứ Tà thấy chuột bị đánh.
Thúc Mưu đã đến huyện Ninh Lăng[18], mắc phải chứng phong ngứa, đứng ngồi không được. Vua sai thái y lệnh Sào Nguyên Phương đến chữa cho. Nguyên Phương nói: “Phong vào dưới da, bệnh ở trong ngực. Nên dùng dê non chọn những con béo hấp chín, trộn với thuốc mà ăn, thì khỏi.” Thúc Mưu bèn chọn những dê non được nửa năm, giết lấy thịt, để trộn thuốc mà dùng. Thuốc chưa hết thì bệnh đã khỏi. Từ đó về sau, Thúc Mưu ngày nào cũng cho giết mấy con dê non, nhồi mứt hạnh, ngũ vị vào bụng mà hầm, rồi để cả con lên mâm, tự lấy tay xé từng miếng thịt ra ăn, gọi là “thịt hầm mứt”. Người các thôn đem dê non đến dâng, mỗi ngày có tới hàng ngàn, đều được trả giá hậu cả. Có thôn dân ở thôn Hạ Ma, huyện Ninh Lăng tên là Đào Lang Nhi, nhà cự phú, anh em đều rất hung ác. Vì có mộ tổ phụ ở cách nơi đào sông qua có hơn hai trượng, nên rất lo lắng bị đào vào mộ, bèn bắt trộm đứa trẻ ba, bốn tuổi con nhà người khác, đem giết, bỏ đầu, chân tay đi, hấp chín, đem dâng Thúc Mưu. Thúc Mưu xé ăn, thấy thơm ngon khác hẳn dê non bình thường, rất lấy làm thích. Bèn cho gọi Lang Nhi đến vặn hỏi, Lang Nhi nhân khi Thúc Mưu đang say tiết lộ hết sự tình. Đến khi tỉnh rượu, Thúc Mưu bèn lấy mười lạng vàng tặng cho Lang Nhi, lại sai phu dịch đào sông vòng ra một đoạn để bảo toàn cho mộ của tổ phụ Lang Nhi. Từ đó anh em Lang Nhi thường bắt trộm trẻ con đem dâng, được ban thưởng rất hậu. Dân nghèo có kẻ biết chuyện, cũng tranh nhau bắt trộm con nhà khác đem dâng, để hòng được hậu thưởng. Khắp các huyện Tương Ấp[19], Ninh Lăng, Tuy Dương có tới mấy trăm đứa trẻ bị bắt trộm, tiếng ai oán đau thương, ngày đêm không dứt. Hổ bôn lang tướng Đoàn Đạt làm chức Trung môn sứ, nắm giữ tấu biểu bốn phương. Thúc Mưu bèn sai gia nô là Hoàng Kim Quật đem vàng đến biếu, nên phàm có ai dâng tấu biểu tố cáo chuyện Thúc Mưu ăn thịt trẻ con đưa đến, Đoàn Đạt đều không xét hỏi, lại sai đánh bốn mươi roi, rồi áp giải ra khỏi Lạc Dương. Có tới mười bảy, mười tám người chết trên đường giải đi. Khi ấy, có Lệnh Hồ Tần Đạt biết chuyện, mới ngầm sai người thu lấy những xương cốt trẻ nhỏ, chưa mấy ngày mà đã đầy một xe. Vì vậy những người có con nhỏ khắp thành thị làng quê ai nếu đều làm tủ gỗ, dây sắt, cứ đến đêm, lại cho cả mẹ lẫn con vào trong tủ mà khóa lại, rồi cả nhà cầm đuốc canh giữ xung quanh. Đến sáng, mở tủ ra mà thấy còn con, thì lớn nhỏ đều mừng.
Đến địa giới Tuy Dương, có Hào trại sứ Trần Bá Cung nói, đào sông thẳng thì sẽ xuyên ngang qua thành Tuy Dương, nếu muốn tránh để giữ thành, thì phải lập tức xin lệnh chỉ của vua. Thúc Mưu giận Bá Cung dám nói đến chuyện giữ thành, sai lôi ra chém ngang lưng, may được Lệnh Hồ Tần Đạt cứu thoát Khi ấy, một trăm tám mươi nhà hào tộc ở thành Tuy Dương, đều sợ sông đào xuyên thành cắt qua nhà cửa, mồ mả nhà mình, bèn họp nhau đem ba ngàn lượng vàng dâng lên Thúc Mưu, nhưng chưa có ai tiến dẫn cho. Bỗng một hôm, sông đào tới một khu rừng lớn, trong có ngôi mộ, các bậc cố lão tương truyền đó là mộ của Hoa Nguyên, quan Tư mã nước Tống xưa. Đào tới một gian hầm đá, trong hầm thấy có quan cửu, cùng các thứ rèm trướng, đèn sơn, gặp cơn gió thổi, đều hóa ra tro bụi cả. Thấy có một phiến đá có khắc bài minh, rằng:
Tuy Dương đồng đất cao,
Sông Biện khá làm hào.
Nếu người chịu tránh né,
Xin tặng đôi kim đao.
Thúc Mưu nói: “Đây là trò lừa thôi, không đáng tin.” Hôm ấy, Thúc Mưu bèn nằm mộng thấy có sứ giả triệu tới dưới một tòa cung điện, có một người mặc áo lụa đỏ, đội mũ tiến hiền[20]. Thúc Mưu lạy hai lạy, Vương cũng vái chào lại, rồi nói: “Quả nhân chính là Tống Tương công[21]. Thượng đế mệnh cho trấn ở đất này, đã hai ngàn năm rồi. Nếu tướng quân giúp cho được thuận tiện, vòng tránh giữ được thành này, thì già trẻ cả thành đều đội ơn đức vậy.” Thúc Mưu không bằng lòng. Vương lại nói: “Việc giữ toàn cho tòa thành vừa nói, chẳng phải chỉ là ý của quả nhân. Mà phụng theo mệnh của Thượng đế, nói rằng đất này đợi năm trăm năm, tất sẽ có bậc vương giả lập nên cơ nghiệp muôn đời. Há có thể vì một chuyến đi chơi ngẫu nhiên, mà khiến cho cắt đứt vương khí ư?” Thúc Mưu vẫn không bằng lòng. Hồi lâu, có sứ giả vào tâu rằng: “Đại tư mã Hoa Nguyên đến!” Rồi tả hữu dẫn một người mặc áo tía, đội mũ tiến hiền vào bái kiến trước mặt vương. Vương bèn nói đến chuyện bảo hộ tòa thành. Người kia bỗng nhiên nổi giận nói: “Thượng đế có mệnh, mà bề tôi dám vô tâm ư? Thúc Mưu thật là kẻ ngu muội, không biết mệnh trời vậy.” Rồi quát tả hữu, sai lấy đồ hình cụ thẩm vấn ra. Vương nói: “Việc tra khảo, cách nào đau khổ nhất?” Người áo tía nói: “Lấy đồng đun nóng đổ vào miệng, cho đốt cháy gan ruột, là hạng nhất vậy.” Vương bằng lòng. Bèn có mấy tên võ phu bắt lấy Thúc Mưu, lột áo ra, chỉ để mặc cái quần ngắn, rồi trói vào cột sắt, sắp sửa lấy nước đồng nung chảy mà đổ. Thúc Mưu kinh hồn táng đởm. Người trên điện liền ngăn lại nói: “Việc bảo toàn cho tòa thành thế nào?” Thúc Mưu vội vàng nói liên mồm: “Xin tuân theo mệnh trên.” Vị vương bèn sai cởi trói, đưa trả mũ áo lại cho mặc, rồi sai dẫn về. sắp đi, người áo tía lại nói: “Thượng đế ban cho Thúc Mưu ba ngàn lạng vàng, lấy trong dân gian.” Thúc Mưu tính tham, nói với sứ giả rằng: “Thượng đế thưởng vàng, câu này là nghĩa thế nào?” Sứ giả nói: “Có dân chúng ở Tuy Dương dâng cho tướng quân, ấy là âm định mà dương nhận vậy.” Thúc Mưu bỗng nhiên tỉnh mộng, chỉ thấy như thần hồn lìa khỏi xác vậy.
Dân Tuy Dương quả nhiên hối lộ cho Hoàng Kim Quật để dâng cho Thúc Mưu ba ngàn lượng vàng, Thúc Mưu nhớ đến chuyện trong giấc mộng, bèn nhận lấy. Rồi lập tức gọi Trần Bá Cung, lệnh cho đến phía tây Tuy Dương thì đào sông ngoặt từ nam lên bắc, qua thôn Lưu Triệu lại tiếp tục đào sang phía đông. Lệnh Hồ Tân Đạt biết chuyện, nhiều lần dâng biểu, nhưng cũng bị Đoàn Đạt chặn lại không tới được vua.
Sông đào đến Bành Thành[22], qua khu rừng lớn, có ngôi mộ của Yển vương[23], đào được mấy thước thì không thể đào tiếp được nữa vì chạm phải đồng và sắt. Đào hết đất ở bốn bên ra, thì chỉ thấy sắt, bên cạnh mộ lắp một cửa đá, khóa rất chắc chắn. Thúc Mưu theo kế của dân ở Toản Dương, phá vỡ cửa mộ, rồi tự mình vào trong, đi được hơn trăm bước, thấy hai đồng tử đón bảo: “Yển vương đợi ngài đã lâu.” Thúc Mưu bèn theo vào, thấy cung điện, trên có một người đội mũ thông thiên[24], mặc áo lụa đỏ đang ngồi. Thúc Mưu bái chào, vương cũng vái chào lại, rồi nói: “Phần mộ của quả nhân, nằm đúng đường sông. Nay xin đem ấn ngọc báo tặng cho tướng quân, để ngài có được thiên hạ. Nếu được bảo toàn cho, thì ấy là cái may của núi gò này vậy.” Thúc Mưu bằng lòng, vương bèn sai sứ giả đem một chiếc ấn ngọc trao cho Thúc Mưu. Nhìn xem, thì thấy ấn văn khắc rằng: “Bách đại đế vương thụ mệnh ngọc ấn”. Thúc Mưu mừng lắm, vương lại nói: “Hãy giữ gìn cẩn thận, ấy là cái triệu ‘đao đao’ vậỵ”. (Đao đao, tức là ẩn ngữ, cũng có ý như “đôi kim đao” vậy). Thúc Mưu ra, bèn sai binh phu ngày đêm bảo vệ ngôi mộ.
Bấy giờ, Dạng đế đang ở Lạc Dương, bỗng nhiên bị mất ấn quốc bảo, tìm khắp trong cung, mà không thấy đâu, bèn giấu kín, không nói lộ ra. Vua đôn đốc việc đào sông rất gấp. Thúc Mưu bèn từ Từ Châu, đào ngày đêm không nghỉ, phu dịch chết mất hơn một trăm năm mươi vạn người. Ở nơi đóng trại, xác chết đầy đồng.
Vua đọc sách ở Quan Văn điện, nhân xem Sử ký, thấy chuyện Tần Thủy hoàng dựng Trường thành, bảo Tể tướng Vũ Văn Thuật rằng: “Từ thời Thủy Hoàng đến nay đã tới ngàn năm, Trường thành liệu có sụt lở.” Vũ Văn Thuật thuận ý vua, tâu rằng: “Bệ hạ ngẫu nhiên nối tiếp chuyện của Tần hoàng, dựng sự nghiệp muôn đời, chẳng gì bằng sửa chữa kiên cố lại tường thành ấy.” Vua mừng lắm, bèn xuống chiếu lấy Thư quốc công Hạ Nhược Bật làm Tu thành đô hộ, lấy Gián nghị đại phu Cao Quýnh làm phó sứ, lấy dân phu các châu Ngô, Sở, Tương, Đặng, Trần, Sái, Tinh suốt một rẻo Giang Hoài, tất cả là một trăm hai mươi vạn người để sửa sang Trường thành. Chiếu ban xuống, Bật can rằng: “Thần nghe rằng, Thủy hoàng dựng Trường thành ở nơi tuyệt ải, kéo dài tới một vạn dặm, không biết bao nhiêu trai chết gái ế, vợ góa con côi, mà thành chưa dựng xong, thì cha con đã đều phải chết. Bệ hạ lại muốn nghe lời kẻ cuồng phu, học theo việc khiến nhà Tần phải mất, chỉ e rằng xã tắc tan vỡ, giống như nhà Tần mà thôi.” Vua nổi
giận, còn chưa nói gì, thì Vũ Văn Thuật đứng bên bèn nói chen vào: “Tên võ phu cuồng tốt ngươi, thì biết gì mà dám làm loạn mưu lớn?” Bật tức giận, cầm cái hốt ngà đánh Vũ Văn Thuật. Vua nổi giận, lệnh giam Nhược Bật ở nhà, tối hôm ấy, Bật uống rượu độc mà chết. Cao Quýnh cũng không đi. Vũ Văn Thuật bèn cử Tư nông khanh Vũ Văn Bật làm Tu thành đô hộ, lấy Dân bộ[25] Thị lang Vũ Văn Khải làm phó sứ.
Khi ấy, Thúc Mưu đã khơi Biện Cừ đến Quán Khẩu[26], kiểm lại dân phu, ước chừng đã mất hai trăm năm mươi vạn người. Quân sĩ bộ hạ của mình khi trước là năm vạn người, cũng tổn thất hai vạn ba ngàn người. Công việc xong xuôi, dâng tấu lên vua, rồi sai phá Biện khẩu để dẫn nước vào Biện cừ. Vua từ Lạc Dương đi giá đến Đại Lương, chiếu cho các châu ở Giang Hoài đóng năm trăm thuyền lớn. Sứ mệnh đến nơi, vô cùng gấp rút. Dân gian có ai bị sai đóng một chiếc thuyền, thì dốc cạn hết cả gia tài, mà còn chưa đủ, phải gông cổ đánh đòn, rồi bán cả con trai, con gái, để cung đốn cho quan dụng. Thuyền rồng xong rồi, đi men theo sông Hoài mà xuống. Đến Đại Lương, lại đặc biệt trang trí sửa sang thêm, lấy vàng ngọc thất bảo mà làm bậc. Đến đất Ngô, Việt lại lấy năm trăm con gái mười lăm, mười sáu tuổi trong dân gian, để làm Điện cước nữ. Còn việc kéo thuyền rồng, thì mỗi thuyền dùng mười dây chão lụa màu, mỗi đây dùng mười Điện cước nữ, cùng mười con dê non, cho Điện cước nữ và dê đi xen kẽ nhau mà kéo.
Bấy giờ đang tiết nắng nóng, Hàn lâm học sĩ Ngu Thế Cơ hiến kế, xin cho trồng liễu ở trên đê hai bên Biện cừ. Một là, rễ cây ăn lan rộng bốn bên sẽ giữ cho đê được vững chắc; hai là, người kéo thuyền được nhờ bóng mát; ba là, dê kéo thuyền có lá liễu để ăn. Vua mừng lắm, chiếu cho dân gian, ai dâng một cây liễu thì thưởng cho một súc lụa. Dân chúng bèn đua nhau đem dâng. Lại sai phải tự tay trồng, vua tự trồng một cây, rồi quần thần lần lượt trồng, sau đó tới dân chúng. Bởi vậy, lúc đó mới có câu dao ngôn rằng: “Thiên tử trồng trước, làng nước trồng sau.” Trồng xong, vua ngự bút ban họ Dương cho cây liễu, gọi là Dương liễu vậy.
Bấy giờ, thuyền san sát nối nhau, suốt ngàn dặm, từ Đại Lương tới Hoài khẩu, liên miên không dứt. Những nơi buồm gấm đi qua, hương thơm tỏa ngát trăm dặm. Đi qua Ưng Khâu, gần tới địa giới Ninh Lăng, mực nước nông dần, thuyền rồng bị mắc lại, những người kéo thuyền tốn sức khó nhọc vô cùng. Khi ấy, có Hổ bôn lang tướng Tiên Vu Câu La làm chức Hộ lãm sứ, tâu lên rằng, nước nông sông hẹp, thuyền đi rất khó. Vua hỏi Ngu Thế Cơ, Cơ nói: “Xin cho làm ngỗng gỗ chân sắt, cao một trượng hai thước, thả theo dòng sông từ thượng lưu xuống, nếu như ngỗng gỗ dừng chỗ nào, thì tức là chỗ ấy nước nông.” Vua theo lời, sai Hữu dực tướng quân Lưu sầm đi kiểm tra các nơi nước nông. Từ Ung Khâu tới Quán Khẩu, có một trăm hai mươi chín chỗ. Dạng đế nổi giận, sai tra xét họ tên chức lại những nơi ấy. Cứ chỗ nào ngỗng gỗ dừng lại, thì tất cả những người ở hai bên bờ sông trong địa phận ấy đều bị bắt trói đem chôn ngược dưới bờ sông, nói rằng: “Lệnh cho chúng sống làm phu đào sông, chết làm ma ôm cát.” số người bị chôn tới hơn năm vạn.
Đã đến Tùy Dương, vua hỏi Thúc Mưu rằng: “Những nơi làng mạc phố xá, phải đào bao nhiêu?” Thúc Mưu nói: “Tùy Dương là nơi địa linh, không thể phạm được. Nếu như đào, tất có sự chẳng lành. Thần đã vòng tránh để bảo toàn cho tòa thành.” Vua nổi giận, sai Lưu Sầm đi thuyền nhỏ xem xét chỗ vòng tránh, thấy dài hơn so với đào thẳng hai mươi dặm. Vua càng tức giận, bèn hạ lệnh bắt Thúc Mưu, giam vào hậu ngục, rồi vội sai truyền gọi Lệnh Hồ Tân Đạt đến hỏi duyên do. Tân Đạt tâu rằng: Từ Ninh Lăng, Thúc Mưu đã làm trái phép, mới đầu thì ăn thịt dê, rồi sau ăn đến thịt trẻ con, dung dưỡng cho kẻ cướp là Đào Lang Nhi bắt trộm con cái người khác; lại nhận ba ngàn lạng vàng, để thay đổi đường sông qua Tùy Dương. Rồi đem xương trẻ nhỏ trình lên. Vua nói: “Sao ngươi không tâu lên?” Tân Đạt nói: “Tấu chương đã mấy lần dâng lên, nhưng bị Đoàn Đạt ách lại không trình.” Vua sai người lục soát rương túi của Thúc Mưu, thấy số vàng mà dân Tuy Dương đem dâng, lại thấy cả ngọc bạch bích mà Lưu hầu trả lại cùng chiếc ấn ngọc thụ mệnh. Vua lấy làm kinh ngạc, nói với Vũ Văn Thuật rằng: “Vàng với ngọc bích chẳng đáng nói làm gì, nhưng ấn ngọc của quả nhân, sao lại tự nhiên có ở đây?” Vũ Văn Thuật nói: “Tất là đã sai kẻ trộm lấy cắp vậy.” Vua trợn trừng mắt, nói: “Thúc Mưu nay lấy trộm ấn ngọc của ta, mai tất lấy trộm cái đầu của ta.” Tân Đạt đứng bên, tâu rằng: “Thúc Mưu thường sai Đào Lang Nhi bắt trộm con cái của người ta, có lẽ quốc bảo cũng là do Lang Nhi lấy trộm.” Vua càng giận, sai Vinh quốc công Lai Hộ Nhi, Nội sử Lý Bách Được, Thái bộc khanh Dương Nghĩa Thần truy vân Thúc Mưu, đặt đài thự xét xứ ở Tùy Dương. Lại bắt cả nhà Đào Lang Nhi, lệnh cho Lang Nhi cung khai việc vào cung
ăn trộm ấn báu. Lang Nhi không chịu được tra tấn, bèn nhận hết tội trạng. Vua lại trách tội Đoàn Đạt nhận tấu chương của Lệnh Hồ Tân Đạt mà không dâng lên. Án đã thành, trình lên, vua hỏi Thừa tướng Vũ Văn Thuật, Thuật nói: “Thúc Mưu có bốn tội lớn: Ăn thịt con người ta; nhận vàng của người ta; sai trộm cướp lấy cắp ấn báu; tự ý thay đổi đường đào sông. Xin nghiêm phép tru diệt. Còn như con cháu của hắn, thì xin tùy theo ý bệ hạ xử quyết.” Vua nói: “Thúc Mưu có tội lớn, nhưng có công đào sông, nên miễn tội cho con cháu.” Bèn chỉ hạ lệnh chém ngang lưng Ma Thúc Mưu ở bên sông. Khi Lai Hộ Nhi nhận sắc mệnh còn chưa tới nơi, Thúc Mưu nằm mộng, thấy một đồng tử từ trên trời giáng xuống, nói rằng: “Tống Tương công và Đại tư mã Hoa Nguyên sai ta đến đây, cảm ơn tướng quân đã bảo toàn cho tòa thành, năm xưa hứa tặng hai cây kim đao, nay xin trao cho.” Thúc Mưu tỉnh dậy, nhủ thầm: “Cứ như theo điềm trong giấc mơ này, thì tất không lành, cổ và lưng ta tất khó mà còn được.” Chưa dứt câu thì Hộ Nhi đến, đem ra bờ bắc sông, chém làm ba đoạn. Anh em Đào Lang Nhi năm người, cùng gia nô của Thúc Mưu là Hoàng Kim Quật đều bị đánh chết. Trung môn sứ Đoàn Đạt được miễn tội chết, giáng chức ra làm Lạc Dương giám môn lệnh.
[1] Tuy Dương: tên huyện xưa, trị sở ở phía nam huyện Thương Khâu, Hà Nam ngày nay. Vì ở phía bắc sông Tuy, nên có tên ấy.
[2] Mạnh Tân: tên một bến trên sông Hoàng Hà, ở phía tây nam huyện Mạnh, đông bắc huyện Mạnh Tân, tỉnh Hà Nam ngày nay.
[3] Đại Lương: tên thành xưa, ở tây bắc Khai Phong, Hà Nam ngày nay. Sau đời Tùy, Đường, lại thông dụng gọi khu vực Khai Phong ngày nay là Đại Lương.
[4] Vương Ly là con Vương Bí, cháu Vương Tiễn, làm tướng nước Tần, đem quân canh giữ rợ Hồ phía bắc. Cuối đời Tần, cùng Chương Hàm đem quân vây quân khởi nghĩa Trương Nhĩ ở Cự Lộc, sau bị Hạng Vũ đem viện quân tới phá quân Vương Ly, bắt được.Ở đây tác giả có chút nhâm lẫn, việc dẳn nước phá thành Đại Lương là của Vương Bi chứ không phái Vương Ly, năm Tần vương Chinh thứ 22 (225 TCN).
[5] Hà Âm: tên huyện xưa, trị sở ở đông bắc huyện Mạnh Tân, Hà Nam ngày nay.
[6] Ban đầu là chữ Biện “卞 sau Dạng đế ban thêm bộ thủy thành chữ Biện 汴.
[7] Thương Hiệt: tương truyền là người đời thượng cố, nhìn sao trên trời và dấu chán chim trên mặt đất mà sáng tạo ra chữ Hán.
[8] Hạ Bì: tên quận xưa, trị sở ở tây bắc Tuy Ninh, Giang Tô ngày nay.
[9] Nê hoàn: tức vị trí phía trên đan điền theo thuật ngữ đông y và đạo gia.
[10] Đâu Suất: dịch chữ Tusita trong Phạn văn, là cung trời thứ tư trong sáu trời dục giới mà Phật giáo nói tới.
[11] Trần Lưu: tên huyện xưa, trí sở là thành Trần Lưu, phía đông nam Khai Phong, Hà Nam ngày nay.
[12] Thiếu lao: lễ cúng tế thời xưa, lễ vật dùng lợn và dê.
[13] Lưu hầu: tức Trương Lương, sau khi nhà Hán lập nên, được phong Lưu hầu.
[14] Ung Khâu: tên huyện xưa, trị sở ở huyện Kỷ, Hà Nam ngày nay.
[15] Trung Mâu: tên huyện, ở bờ nam Hoàng Hà, miền trung tình Hà Nam.
[16] Tức Kinh Kha, Nhiếp Chính, hai bậc hiệp sĩ thích khách đời Chiến Quốc xưa.
[17] Nính Dương: tên huyện, ở nam trung bộ tỉnh Sơn Đông ngày nay.
[18] Ninh Lăng: tên huyện, ở phía đông Hà Nam ngày nay.
[19] Tương Ấp: tên huyện xưa, nay thuộc huyện Tuy, Hà Nam.
[20] Mũ tiến hiền: là một loại mũ quan văn đời xưa thường đội.
[21] Tống Tương công: vua nước Tống, một trong Ngũ Bá thời Xuân Thu.
[22] Bành Thành: tên huyện xưa, trị sở tại Từ Châu, Giang Tô ngày nay.
[23] Yển vương: tức Từ Yển vương, vua nước Từ thời Chu Mục vương. Sau khởi binh đánh nhà Chu, bị thua, bỏ đi ẩn cư trong rừng núi ở Bành Thành.
[24] Mũ thông thiên: còn gọi mũ quyến vân, là một loại mũ của đế vương đời xưa.
[25] Dân bộ: tức Hộ bộ sau này. Đời Đường vì kiêng húy Đường Thái tông Lý Thế Dân, nên đối gọi Dân bộ thành Hộ bộ.
[26] Quán Khẩu: địa danh, nay ở đông bắc Liên Thúy, Giang Tô.