Giờ Đức văn

Lượt đọc: 151 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 8
BỨC CHÂN DUNG

❊ ❊ ❊

Lão đàn ông mặc áo choàng đỏ, phải rồi, bây giờ đến lúc tôi phải kể về lão. Rốt cuộc rồi cũng đến lượt lão, gã đàn ông khoe tài trồng cây chuối trên bãi biển vắng bóng người, hoặc thậm chí múa may, trong khi đầu cắm xuống đất, trước mặt ông anh Klaas tôi, lúc đó vô tình, hay chẳng phải vô tình nữa, đứng cạnh lão. Bây giờ lão có thể cho chúng tôi hỏi lần nữa, tại sao bức tranh không rạo rực niềm vui, mà tràn ngập một màu xanh lục sáng khiếp đảm. Với gương mặt già nua, nhưng đầy mánh lới kia, bây giờ đến lượt lão góp phần; bởi vì, tại lão - tôi đoán vậy - cho nên xưởng vẽ mới không được che ánh sáng theo đúng quy định phòng không như thế. Do họa sĩ Max Ludwig Nansen không bằng lòng với lão, do ông họa sĩ cứ phải dùng bút vẽ chua chát thay hình đổi dạng lão, do ông họa sĩ đôi lúc - dù buổi sáng hay buổi tối - hơi hấp tấp muốn tạo dựng lão đúng như ông ấy hình dung, cho nên quên mất, rằng ông ấy phải đi một vòng quanh nhà, cả phía ngoài, để xem rèm che ánh sáng đã thật kín hay chưa! Dẫu sao thì cũng vì ông ấy bận bịu với lão, loay hoay tìm cách sửa chỗ này, chỉnh chỗ khác để hoàn thiện hình ảnh của lão, cho nên ông ấy không để ý một tấm mành bị rối, giống như một cánh buồm bị kẹt, khiến ánh sáng đèn - ánh đèn nơi ông làm việc - lọt ra ngoài.

Thế là giữa cánh đồng trống trải và tối om vươn từ Rugbüll đến Glüserup bỗng lóe lên một nguồn sáng lung linh. Nguồn sáng ấy không rời khỏi Bleekenwarf, không lịm đi phía xa, không di chuyển đi đâu cả, cũng không đung đưa bên này bên kia, mà vươn dài, đâm sâu vào bóng tối của đêm mùa thu lộng gió, khiến khu ấp từ từ nhô lên, in bóng như một con tàu đang thả neo giữa cánh đồng. Thả neo dưới bầu trời đầy ắp các đụn mây. Và khuất sau bờ đê. Theo tất cả những gì tôi biết, sau nhiều năm trời, đó là nguồn sáng đầu tiên xuất hiện trên cánh đồng này và hắt các tia sáng mảnh mai ra xa, trải dài qua các mương nước lẫn kênh đào như thế này, và bất cứ ai nhìn thấy, sẽ phải hoảng hốt giật mình tự hỏi: nguồn sáng này sẽ nhử ai trước hết đây? Ai, trong góc nhìn một trăm bảy chục độ đó, sẽ phát hiện ra nguồn sáng trước tiên, sẽ suy đoán và rút ra kết luận cần thiết? Con tàu nào đó, không bật đèn đêm, bơi lừ lừ trên Biển Bắc? Phải chăng là bọn biệt kích? Hay máy bay Blenheim?

Trước cả các loại tàu thủy, trước cả bọn biệt kích lẫn máy bay ném bom Blenheim của Anh quốc, ngay từ đầu, viên cảnh sát đóng ở chốt Rugbüll đã phát hiện ra nguồn sáng không được phép đó; đúng thế, do nhiệm vụ của ông là phải lo làm sao ở quê tôi, hễ bóng tối buông xuống thì mọi nơi đều phải tối om, cho nên vừa phát hiện ra nguồn sáng, ông liền lập tức lên đường. Áo choàng bay phần phật, ông đạp xe - vâng, một hình ảnh đến là quen thuộc - xiên xiên chiều gió, dọc theo bờ đê, rồi đổ không phanh có tính toán từ bờ đê xuống lối đi giữa hai hàng bạch dương; ông xuống xe và đi thẳng vào vườn, tìm xem ánh sáng hắt từ đâu ra. Anh sáng đèn hắt ra từ xưởng vẽ. Tất cả cửa sổ khu nhà chính đều che kín, đúng theo luật định, không để chút ánh đèn nào lọt ra ngoài, nhưng từ xưởng vẽ, một tia sáng sắc và gọn hắt ra vườn. Viên cảnh sát Rugbüll nhằm khung cửa sáng đèn hình chữ nhật đó đi tới, ông không để ý gì đến lối đi, cứ thế bước ào qua mấy luống hoa cúc, đi qua khu nhà vườn, lách người qua hàng cây con và bụi rậm ướt sương đêm, và rốt cuộc tiến tới gần đến mức, tưởng như ông có thể nhúng bàn tay vào tia sáng hắt từ trong ra. Ông nhận ra ngay tấm mành bị kẹt giữa chừng, ông nhìn thấy cả sợi dây bị tuột và cái vòng sứ đung đưa. Ông dỏng tai nghe ngóng: không có tiếng động cơ trên không, nhưng cách ông chỉ vài bước về phía trước, ông nghe tiếng người nói nhát gừng, gắt gỏng. Bây giờ lẽ ra ông có thể ới gọi đánh tiếng, lẽ ra ông cũng có thể gõ cửa, nhưng như tôi được biết, ông chẳng gọi đánh tiếng, cũng không gõ cửa, chỉ hì hục kéo một cái bàn kê trong vườn đến gần - bởi nguồn sáng nằm hơi cao - trèo lên đó và áp mặt vào cửa kính nhòm vào bên trong: Ông chưa bao giờ được nhìn rõ như thế về những gì diễn ra trong xưởng vẽ ở Bleekenwarf.

Gió vẫn đùa với áo choàng của ông, thổi nó đập vào cửa kính; ông cẩn thận thót người lại, rồi nhét hai đầu áo choàng xuống dưới thắt lưng. Bây giờ ta cũng nên để ông bỏ mũ ra, che một bàn tay lên trán; có lẽ ta cũng để ông nhìn quanh một lượt, để cầm chắc không có ai đứng trong vườn quan sát ông.

Có lẽ không cần nói gì thêm để mô tả ông bố tôi - người đang hành động dứt khoát, đầy ý thức trách nhiệm và cũng rất kiên nhẫn, ông cũng là người, nếu cần, có thể đứng trên cái bàn dùng để kê trong vườn như thế lâu hơn bất kỳ viên cảnh sát nào khác. Vâng, gộp chung tất cả các chi tiết đó lại, thì tôi có thể kể tiếp câu chuyện: bố tôi ngước mắt nhìn lên.

Trước mắt ông là lão đàn ông mặc áo choàng đỏ và anh Klaas - hay là ai đó rất giống anh Klaas - và đứng trước hai người, che khuất họ một phần, là ông ấy, ông họa sĩ, chiếc mũ rộng vành vẫn đội trên đầu. Ông họa sĩ đang vẽ. Miệng lẩm bẩm nói gì đó, cãi cọ với ai đó, ông dùng những nét bút sắc, ngắn gọn chỉnh đi chỉnh lại các chi tiết trên lão đàn ông mặc áo choàng đỏ. Ông rút ngắn đôi chân ma quái thò ra khỏi áo choàng. Ông thêm màu xanh lơ làm nền, để làm nổi bật áo choàng màu đỏ. Và, tấm áo choàng đỏ sáng lên giữa bãi biển hoang vắng của Biển Bắc đen ngòm, đang chuyển sang mùa đông - sáng lên và bất chấp cả trọng lực, bởi vì, mặc dù lão đàn ông mặc áo đỏ trồng cây chuối, thậm chí còn nhảy trên hai tay, tấm áo mở xòe ra như cái chuông vẫn không tụt xuống. Nó không tụt xuống, không che gương mặt già nua, gương mặt mà ngay cả khi lão ta trồng cây chuối vẫn để lộ vẻ láu cá của tuổi già. Chân cẳng lão mới khẳng khiu làm sao! Thân mình cong cong giữ thăng bằng trông mới mềm mại làm sao! Rõ ràng, lão đang cười, đang khúc khích, toan làm anh Klaas cũng vui vẻ lên, phải rồi, lão đang cố làm trò cho anh tôi vui, đang tán tỉnh, ve vãn, chòng ghẹo anh tôi, mà lão lại làm trò đúng bằng cách trồng cây chuối, và trồng một cách phải nói là khá nhẹ nhàng.

Song, dù lão trồng cây chuối nhẹ nhàng thành thạo, lão vẫn không tán tỉnh được anh Klaas tôi, đến rủ anh ấy ở lại cũng chả được, bởi nỗi khiếp đảm lão vô tình gây ra cho anh - nỗi khiếp đảm màu lục sáng ấy khiến anh Klaas đã toan quay đi chỗ khác. Các ngón tay anh Klaas xòe cả ra. Đầu anh ngửa ra sau. Miệng há ra, trông như anh đang nén một tiếng kêu to. Chỉ vài ba bước đi ngập ngừng nữa thôi, thì chắc ai cũng sẽ thấy, anh Klaas sẽ cất bước bỏ chạy, nỗi khiếp đảm khắc xua anh chạy ra bãi biển, hướng về đường chân trời dửng dưng mà chạy, cốt làm sao thoát khỏi lão già mặc áo choàng đỏ trồng cây chuối. Bức tranh mang tên Bất ngờ bên bãi biển, hay ít ra thì ông họa sĩ đã chính thức đặt tên như thế cho nó, chỉ riêng trong nhật ký của ông, ông lại gọi bức tranh này là Nỗi khiếp đảm. Nỗi khiếp đảm trên gương mặt anh tôi. Dẫu sao, đã kể lại chuyện này, thì tôi cũng phải chua thêm như vậy cho đủ.

Không biết viên cảnh sát Rugbüll có lần lượt nhìn ra những điều đó không? Hay đứng trên chiếc bàn con trong vườn, ông chỉ nhăm nhăm theo dõi độc ông họa sĩ đang vừa càu nhàu, vừa ương ngạnh vung bút vẽ? Và, tại sao ông không bước vào ngay - bởi vì, dẫu sao thì hai lệnh cấm đã bị vi phạm quá đáng và rõ rành rành - mà ông vẫn cứ đứng nguyên đó, lâu hơn cần thiết, trong đêm mùa thu gió lộng, khuất trong bóng tối là gương mặt tò mò cao độ, như thể ông còn muốn rình tiếp để chứng kiến nhiều chuyện có thể sắp diễn ra ở đây? Những gì ông vừa chứng kiến vẫn chưa đủ để ông ra tay hay sao?

Mặc dù tia sáng hắt từ xưởng vẽ ra trải dài trên cánh đồng, và tàu bè, biệt kích hay máy bay ném bom Blenheim có thể dựa vào đó mà định vị, bố tôi vẫn đứng nguyên trên bàn và theo dõi ông họa sĩ đang vẽ.

Ông theo dõi cuộc cãi vã giữa ông họa sĩ với tay Balthasar vô hình, cái tay lúc nào cũng ra vẻ hiểu biết hơn người ấy. Ông nhận ra sức cản mà cánh tay phải ông họa sĩ phải cưỡng lại. Và, sự lặp lại nhau: ông quan sát thấy toàn thân ông họa sĩ dường như lặp lại và khẳng định những gì đã xảy ra giữa anh Klaas tôi với thằng người mặc áo choàng đỏ: cố làm trò gây vui một đường, nỗi khiếp đảm chợt ập đến một đường khác, vân vân.

Một điều gì đó khó tin nổi dường như giữ chặt chân bố tôi ở đó, nỗi sửng sốt rất khó chịu trước một sự thật là, người đàn ông này, tức ông họa sĩ - một người cùng gốc gác như ông và vì thế lẽ ra phải giống ông mới đúng - lại không chấp hành bất cứ thứ gì hết, kể cả các quy định lẫn các mệnh lệnh nghiêm ngặt. Ông ta đã được cảnh báo rất nhiều lần rồi đấy thôi. Phải chăng thói kiêu ngạo của lão còn cao hơn các mối lo? Đầu óc giàu trí tưởng tượng của lão hẳn phải đủ để lão hình dung ra tất cả những hậu quả của thái độ coi thường luật lệ một ngày nào đó sẽ ập đến chứ? Hay lão tự tin đến mức chẳng cần nghĩ đến các hậu quả nữa? Phải chăng phải cần đến một viên cảnh sát khác, ở Husum về đây chẳng hạn, mới quy phục được lão?

Ông họa sĩ trông không có vẻ thích thú gì, cũng không có vẻ gì cho thấy ông ta đang ngầm khoái trá với việc ông đang vi phạm lệnh cấm. Duy có mỗi một điều có vẻ đang thu hết tâm trí ông là lão Balthasar và cuộc cãi cọ với màu sắc. Như thế, nguyên do có lẽ chỉ quy tụ ở điều mà chính ông ta đã báo trước, rằng chẳng ai ngừng vẽ được cả. Hay công việc ông ta đang làm kia chỉ nhằm để trêu ngươi một mình viên cảnh sát Rugbüll mà thôi?

Đứng ở nơi quan sát, bố tôi hẳn phải thỏa mãn quái gở thế nào đó trong lòng lắm, nên ông mới đứng lâu như thế được, chứ nhẽ ra ông phải ra tay ngay, để bịt ngay nguồn sáng hắt ra ngoài cánh đồng tối om, hắt đến tận Gatwick không biết chừng. Việc bắt quả tang ông họa sĩ vi phạm các mệnh lệnh đã ban hành khiến ông khoan khoái một cách quái lạ trong lòng, và chả biết ông sẽ còn đứng như thế được bao lâu nữa, nếu như ông không chợt nghe, hình như có tiếng bà Ditte, vợ ông họa sĩ, trong xưởng vẽ. Bấy giờ ông mới tụt khỏi bàn, bê nó đặt vào chỗ cũ, rồi kéo hai đầu áo choàng ra khỏi thắt lưng, ngước nhìn một lần cuối lên khung cửa sổ sáng ánh đèn - ấy là tôi tưởng tượng ra như thế - rồi ông đưa tay gõ lên cánh cửa xưởng vẽ.

Ông gõ thêm lần nữa. Có lẽ ông đang cân nhắc sẽ phải nói cái gì, nếu bà Ditte ra mở cửa - bà Ditte, người đàn bà có gương mặt đăm đăm kiêu ngạo và mái tóc hoa râm búi lên cao ấy. Nhưng cánh cửa mở toang ra và đích thân ông họa sĩ hiện ra trước mặt ông, và hỏi, không có vẻ gì là hốt hoảng cả: Nào, có việc gì thế? Viên cảnh sát không nói gì, lẳng lặng ngoắc ngoắc tay gọi ông họa sĩ đi theo mình ra sau vườn, chỉ lên khung cửa sổ sáng ánh đèn, rồi, vẫn lặng thinh quay lại lối vào xưởng vẽ; đến đây, ông mới nói: Tôi phải làm giấy báo lên trên phạt ông, ông Max ạ.

Ông phải làm gì thì ông cứ việc làm, ông họa sĩ nói, rồi nói thêm: Tôi khắc sửa lại ngay bây giờ, tôi sẽ làm tối lại ngay, tối om như các ông muốn. - Nhưng làm giấy báo phạt thì tôi vẫn phải làm, bố tôi nói rồi đi theo ông họa sĩ vào bên trong, tự đóng cửa lại và đứng nhìn ông họa sĩ trèo lên ghế, mới đầu dùng một cái thước kẻ, sau đó vớ cán chổi chọc chọc vào tấm mành bị rối, cho đến lúc nó bung ra, buông xuống che kín toàn bộ cánh cửa sổ. Với vẻ bằng lòng, ông tụt khỏi ghế, ném cán chổi vào góc nhà, rồi lôi cái tẩu thuốc từ túi áo măng tô ra; trước khi châm thuốc hút, ông làm đổ cái cốc đựng thứ dầu gì đó nhờn nhợt trắng ra bàn.

Liệu tiền phạt có cao lắm không? ông họa sĩ hỏi. Bố tôi không đáp. Ông họa sĩ quay người lại và thấy bố tôi đang đứng trước bức tranh, bức tranh không phải như bức “Phong cảnh và những người lạ mặt” gắn ở mặt sau cánh cửa tủ, mà nằm ngang nhiên trên giá vẽ. Bố tôi ngắm nghía bức tranh dưới các góc độ ông cho là quan trọng; ông đứng yên, không đổi chân, cũng không bước ra xa hay tiến lại gần, mái đầu không động đậy, chỉ chắp tay ra sau lưng thôi. Vâng, tôi có thể nói, dáng bố tôi đứng trông cũng oai ra phết. Trong tranh, lão đàn ông mặc áo choàng đỏ đang trồng cây chuối, không khéo đang nhảy múa bằng hai tay cũng nên, còn ông anh Klaas tôi đứng nhìn lão, có vẻ khiếp đảm và dường như đang muốn bỏ chạy. Nhưng, các chi tiết đó hình như bố tôi không nhận ra.

Ông thấy đấy, tôi vừa lôi một bức tôi vẽ hồi xưa ra, tôi gần như quên khuấy nó đi rồi, và các ông chắc cũng chẳng quan tâm đến nó. Bố tôi lặng thinh, nhưng quay mặt về phía ông họa sĩ. Ông này nói tiếp: Mấy bức tranh cũ rích này, các ông chẳng dính tay vào, đúng không? Mấy bức tranh này, chúng nó chẳng liên can gì đến các ông, đúng không nào?

Nhưng ông, ông Max ạ, ông đã vẽ, viên cảnh sát nói thủng thẳng, ta chẳng cần làm bộ làm tịch với nhau làm gì, tôi đứng xem ông vẽ khá lâu rồi. Ông đã hành nghề, ông Max, hành nghề trái với lệnh cấm. Sao ông lại làm thế?

Tôi đã bảo đây là các bức tranh cũ mà lại, ông họa sĩ nói, còn viên cảnh sát đáp: Không phải thế, ông Max, không, đây không phải bức tranh cũ: thằng Klaas, trông bộ điệu nó đứng và khiếp sợ như thế kia - thì chỉ mới hôm nay thôi, nó đứng ở đó và run rẩy. Ai chả thấy thằng nhỏ vừa đứng ở đó chưa được bao lâu. - Ông có biết bức Người đàn ông khoác áo choàng đỏ này, ông họa sĩ nói, ông có biết tôi vẽ nó từ hồi nào không? Tháng Chín, năm Ba Chín. - Thì cũng thế thôi, bố tôi nói, lần này tôi phải làm giấy báo lên trên để họ xử ông. - Ông nói thế, tức là ông biết chắc ông đang làm gì chứ? Ông họa sĩ hỏi. - Đây là nghĩa vụ của tôi, bố tôi đáp, và ông chẳng cần nói gì hơn để lay chuyển ông Max Ludwig Nansen, người từ nãy đến giờ vẫn ôn tồn, không chút ngại ngần đối đáp với vị khách không mời mà tới lúc tối muộn, và có lẽ, thậm chí còn cân nhắc xem có mời ông khách ly rượu gin hay không cũng nên. Ông rút tẩu thuốc đang ngậm ra. Ông nhắm mắt lại. Ông ngồi thẳng người, ngả lưng dựa vào một cái tủ, và cũng không buồn che giấu nét chua chát và khinh bỉ đang dần dần, mỗi lúc một rõ, hiện ra trên mặt ông. Được, ông nói khẽ, nếu ông nghĩ rằng người ta phải làm tròn nghĩa vụ, thì tôi nói cho ông nghe điều ngược lại: người ta phải làm cái gì đó chống lại nghĩa vụ mới đúng, ông ạ. Đối với tôi, bổn phận, nghĩa vụ - chỉ là sự kiêu ngạo mù quáng mà thôi. Chả trách, bao giờ cũng có kẻ cứ nhắm mắt, nhắm mũi làm cả những gì mà chính bổn phận không hề đòi hỏi.

Ông nói như thế là với ý gì đây, bố tôi hỏi, vẻ ngờ vực.

Ông họa sĩ mở mắt ra, ẩy lưng vào tủ, lấy đà đứng dậy. Ông đặt tẩu thuốc lên bậu cửa sổ. Ông dừng lại một lát, lắng nghe tiếng gió thổi bên ngoài làm các nhánh cây hồ đào đập đập lên máng nước gắn vào mái nhà, đoạn ông bình thản, không hề tỏ chút xúc động nào, bước tới bên giá vẽ, gỡ bức tranh xuống, đưa ra xa ngắm nghía trong giây khắc rồi cũng nhanh như chớp kéo nó về phía mình; đôi bàn tay vạm vỡ, dày dạn kinh nghiệm của ông chạm vào mép bức tranh, chần chừ, nửa muốn, nửa không muốn, nhưng rồi hai tay ông bỗng nhấc lên cao và rời nhau ra, mỗi bàn tay về một bên; động tác đó làm bức tranh bị xé ra làm đôi. Vết xé tách anh Klaas khỏi thằng người áo choàng đỏ, khiến anh ấy chẳng còn lý do gì để sợ hãi nữa. Ông Max Ludwig Nansen xếp hai mảnh của bức tranh lên nhau, không, không phải xếp lên nhau, mà trước hết ông xé vụn thằng người áo đỏ rồi ném các mẩu giấy lấp lánh màu xuống đất, sau đó ông mới xé phần anh trai tôi, phần chân dung nỗi khiếp đảm, thành những mẩu không đều nhau, to cỡ như bao thuốc lá, xếp chúng lại với nhau rồi tiến về phía bố tôi, đưa xấp giấy xé vụn cho ông, và nói: Đây, ông cầm lấy, để còn có cái mà mang đi nộp, tôi đã làm đỡ một phần việc cho các người rồi đây.

Bố tôi không phản đối gì, ông không ngăn, cũng chẳng cản ông họa sĩ, và như tôi nghe kể lại, ông cũng không nói một lời cảnh cáo nào. Ông chăm chú, mà cũng chỉ chăm chú thôi, theo dõi cảnh ông họa sĩ tự tay phá hủy bức tranh, và sau khi ông họa sĩ trao các mảnh giấy vụn vào tay ông, thì ông mở túi da đeo ở thắt lưng ra, nhét các mảnh vụn vào với vẻ mặt vô tư, bình thản; ông cũng cẩn thận nhặt hết các mảnh giấy còn nằm dưới đất lên, và do túi da đeo bên hông đã đầy ắp, ông nhét số mảnh vụn còn lại vào túi áo choàng.

Thỏa mãn chưa, ông họa sĩ hỏi, bây giờ thì ông đã bằng lòng rồi chứ? Song, ông lại tiếp ngay, như thể ông hối tiếc về việc vừa làm: Không, lẽ ra ta phải để việc đó cho các ngươi, chứ không phá hủy thay cho các ngươi như vậy. Lẽ ra ta chẳng nên làm thế. - Đúng rồi, nhẽ ra ông không cần làm như thế, bố tôi nói, nhưng ông họa sĩ đốp lại ngay: Thì tôi như thế đấy, tôi không đừng được. Bao giờ tôi cũng phải thử, thử xem nỗi đau đớn bắt đầu từ chỗ nào: dân Glüserup chúng ta như thế đấy. - Ông là người như thế, bố tôi nói, chỉ một mình ông như thế thôi. Chứ người khác, còn khối người khác nữa, họ đều tuân theo luật lệ chung cả - có mỗi một mình ông, ông đòi luật lệ cho riêng ông.

Thế mà rồi luật lệ riêng của ta sẽ còn sống rất lâu cho mà xem, ông họa sĩ nói, ngay cả khi tất cả các người đều biến đi hết rồi kia. - Ông nói năng như thế đấy, bố tôi đáp, phải, ông là người như thế, nên giọng lưỡi ông như thế; nhưng ông cứ chờ đấy, nhiều thứ đã đổi thay, rồi cả ông, đến ngày ông cũng khắc phải thay đổi cho mà xem.

Hai ông nhìn nhau. Hai người nghe thấy tiếng cửa mở và tiếng ủng có gá đinh ở đế lệt sệt, và trước khi họ nhìn thấy nó, thì Jutta đã gọi to: Bác Max ơi, bác có đấy không, bác Max ơi? Ông họa sĩ lặng thinh. Ông để cho nó, chân mang đôi ủng nhà binh nặng trình trịch, lết đến gần, và khi nó đứng trước mặt ông, váy mỏng, nổi cả da gà vì lạnh, nhưng vẫn mỉm cười, thì ông nhìn nó với vẻ dò hỏi và lắc lắc đầu tỏ ý chê trách. Đôi chân gầy khẳng khiu. Đôi tay gầy guộc, lông tơ hoe hoe đỏ. Gương mặt xương xẩu, ranh mãnh. Răng cửa to và chắc nịch. Jutta thu vạt áo, nhét vào giữa hai đùi của nó để khoe với ông họa sĩ đôi ủng còn thừa bao nhiêu là chỗ. Rồi nó bảo: Cháu đến mời bác về, cả nhà đang chờ. Ông họa sĩ đút hai bàn tay vào túi áo khoác, đút vào đủ sâu, như thể ông muốn ngăn cho hai bàn tay khỏi tuột ra ngoài. Ông tránh không nhìn Jutta, lúc ấy nó đã đu vào tay ông và, vừa kéo vừa cố ép cánh tay ông vào bộ ngực nhỏ bé của nó. Ông họa sĩ đẩy nó ra, nói: Lát nữa bác về, lát nữa. Cháu về trước, bảo với mọi người, bác đang có khách.

Hai bác xong việc rồi, bố tôi nói, gì chứ về phần tôi, mọi sự đều đã rõ cả. - Nhưng tôi còn muốn nói với ông cái này, ông họa sĩ nói, và xua tay, đuổi Jutta biến đi. Ông xua nó với vẻ nghiêm khắc, ông giậm chân, bước mấy bước về phía nó, như muốn đẩy nó ra ngoài, và khi nó rốt cuộc dang hai chân lết đi, hai cánh tay gầy guộc vung vẩy hai bên, thì ông theo nó ra đến tận cửa và chờ cho nó biến hẳn ra ngoài, ông đóng chặt cửa lại. Hai vai buông thõng, ông chậm rãi quay vào, ghé ngồi lên một chiếc thùng gỗ, cúi gằm mặt một lúc. Bố tôi đứng yên trước cái giá vẽ trống trải, ngay dưới ngọn đèn ông họa sĩ làm việc, bóng ông nằm gọn dưới chân; ông đã xong việc, chỉ chực ra về.

Này ông Jens, ông họa sĩ cất tiếng, ông nghe tôi nói đây, một lần cuối nữa thôi. Tôi nghĩ, dù sao tôi với ông chắc vẫn còn nói chuyện được với nhau. Ông với tôi biết nhau đã đủ lâu rồi. Tôi đồng ý là ông không thể trung lập đứng giữa, tôi cũng không trung lập được. Ai có việc người nấy. Thế nhưng nhìn xa ra, tôi với ông đều có thể nhìn ra xa, để thấy rồi chuyện sẽ đi đến đâu. Cho dù cả tôi với ông đều đã thay đổi nhiều, ông với tôi vẫn còn có thể nhìn thấy trước kết cục của mọi sự như thế sẽ thế nào. Tôi với ông, ta hãy bỏ qua những gì đã xảy ra từ trước đến giờ đi. Tôi với ông, ta hãy nghĩ xem, cái gì sẽ xảy ra sau hai, hay ba năm tới, có khi còn sớm hơn. Nếu ta có nghĩa vụ gì đó, thì chính là ta buộc phải tính trước được mọi việc, ông ạ. Tôi biết, ai đã cam kết, đã tuyên thệ thì người đó rất dễ bị tổn thương, như ông với tôi đây đều vậy. Nhưng chẳng lẽ ta không thể tạm gác mọi chuyện này một thời gian hay sao? Có ai bắt buộc ta phải phán xét ngay đâu? Ông ngồi xuống đây với tôi. Tôi muốn đề nghị với ông một việc thế này.

Ông họa sĩ Max Ludwig Nansen ngẩng mặt lên, rời thùng gỗ đứng dậy, nhưng rồi ông lại ngồi xuống ngay, bởi chỉ cần một tích tắc đồng hồ thôi, ông đã nhận ra rằng viên cảnh sát không muốn nghe đề nghị của ông, bất kể đề nghị đó của ông là gì. Bộ dạng viên cảnh sát chỉ thể hiện một thái độ duy nhất là cự tuyệt, khước từ mọi sự, và nếu điệu bộ ấy còn thể hiện gì thêm nữa, thì có lẽ, cũng chỉ thể hiện thêm ý muốn ra về của ông nữa mà thôi, bởi đối với ông, chẳng còn gì để nói nữa cả. Ông nhìn ông họa sĩ bằng ánh mắt lạnh lùng, trống rỗng, xa vời và xuyên thấu mọi thứ - cũng là ánh mắt ra vẻ, ta đây tường tỏ mọi chuyện, và tường tỏ hơn ai hết - rồi nhún vai. Ông họa sĩ nắm hai tay vào nhau, đầy thất vọng, cái đầu lắc lư, lắc lư. Đôi mắt xám của ông dường như nheo nhỏ lại và lạnh lùng. Ông hắng giọng, rồi nói: Bây giờ thì tôi với ông biết rõ về nhau rồi. Bây giờ thì không còn gì là không rõ nữa cả. Lẽ ra tôi phải biết mới phải, lẽ ra tôi phải biết các người có thể gây ra những gì mới phải.

Ông biết rồi thì càng tốt thôi, bố tôi nói. Có những việc người ta không quên được. - Ông nói vậy chắc đúng thôi, ông họa sĩ đáp, ai chứ chúng tôi, chúng tôi không quên những gì người ta gây ra cho chúng tôi. Chúng tôi chỉ quên những gì chúng tôi không chịu đựng được thôi. - Trong kia, cả nhà đang chờ ông, bố tôi nói, và ông họa sĩ đáp: Phải, còn ông, bây giờ ông muốn về.

Không nói không rằng, hai ông đi ra cửa, ngang qua các cánh tủ, các hốc tường, ngang qua các bó hoa mùa thu đầy đặn cắm trong lọ hay chậu hoa đặt giữa nền nhà. Ông Nansen chợt nói bâng quơ: Chẳng có màu sắc nào là màu trung lập cả. Hai người đi ngang cái bàn dài dùng làm nơi tạo hình đồ gốm, ngang qua bàn quay nặn đất sét đầy vết sứt sẹo, trên đó một cặp tình nhân trần truồng, gầy gò mảnh mai vừa được nặn từ đất sét ra. Lúc chia tay, hai ông không chìa tay cho nhau bắt. Ông họa sĩ mở cửa, còn bố tôi - không buồn chào một lời - bước ra ngoài, rồi trước khi cánh cửa sập lại, ông quay người lại nói: Rồi tôi sẽ nhắn tin cho ông. Ông họa sĩ đáp: Tin ông nhắn, tôi nhận rồi.

Với món chiến lợi phẩm thu được nằm gọn trong túi, viên cảnh sát đứng trơ trọi một mình ở bên ngoài một lúc, giữa một buổi tối mùa thu xao động, trong bóng tối đen, thứ bóng tối đen ngòm tuân đúng sắc lệnh quy định, một sắc lệnh mà đích thân ông phải giám sát việc thi hành, rồi - chân cẳng cứng đơ, áo choàng bay phần phật - ông xuyên qua sân ấp Bleekenwarf, đi ngang cái ao, qua trại gia súc bỏ hoang, qua cả khu nhà kho, và trong đầu ông - tôi cầm chắc như thế - đang hình thành một bức tranh mới về Bleekenwarf.

Liệu trong bức tranh mới đó, ông có nhận ra những gì thường vẫn khuất mắt ông lúc đứng bên ngoài không? Tôi dám cam đoan rằng bố tôi đã hình dung một bức tranh, và trong đó ông phát hiện được nhiều thứ hơn là những bụi dương liễu, rặng táo hay hàng sơn trà cũng như những căn nhà dài, xây chụm vào nhau và cách biệt với đời, mà mọi khi ông vẫn thấy. Nhìn ấp Bleekenwarf kín đáo phơi ra trước mắt mình, ông hình dung ra trong đầu một Bleekenwarf khác, với những ngôi nhà mái bị dỡ, các bức tường toang hoang - ông tưởng tượng ra mô hình của Bleekenwarf, cho phép ông nhìn vào mọi ngóc ngách, xó xỉnh - và trong lúc ông đi ngang sân, tôi nghĩ bụng, tự ông, ông thấy mình chẳng những đang đi qua sân, mà ông còn đang nhìn được vào từng căn phòng không mái ấy, sẽ thấy bà Ditte cùng ông Busbeck ngửa cổ lên nhìn - chắc họ đoán ra ông đang ghé mắt ngó vào - và có lẽ, cũng sẽ thấy cả Jutta mang đôi ủng nhà binh cũ đang dọn bàn ăn, chắc ông cũng sẽ nhận ra cả thằng Jobst đang đuổi bắt mấy con cú làm tổ trên xà nhà ở gác mái; đồng thời, như thể vẫn đang phân thân, ông cũng thấy mình như đang lết qua vô vàn khung cửa sổ. Bức tranh thật là bức nào đây? Bức nào ảo? Làm sao có thể giải thích được việc ông bỗng đúng dừng lại, lôi chiếc đèn pin trong túi ra, thử bật rồi tắt xem đèn có ổn không, rồi không đi về phía cánh cửa gỗ có bản lề xoay ở cổng, mà lại đi về phía chái nhà hướng Đông của ngôi nhà chính? Bức tranh nào thôi thúc ông làm như vậy? Đứng bên ngoài, liệu ông có tìm thấy cái mà ông, nhờ tưởng tượng, phát hiện ra ở bên trong Bleekenwarf không?

Cơn gió thổi làm lá rụng xoay tròn, quất xuống mặt ao, nỉ non từng hơi dài, luồn lách, dò xét các khe hở giữa những khúc gỗ ngắn xếp thành khối nằm giữa sân. Bố tôi đi đến chỗ cái bơm, tắt bơm rồi rẽ sang một bên, sán đến bên khung cửa sổ ở góc nhà. Ông đưa đèn pin lên; mặt đèn pin hình tròn được che bớt bằng băng dính cách điện màu đen, để sót lại một tia sáng mảnh và sắc. Ông sai khiến tia sáng mảnh mai đó đi do thám cho ông, bắt nó từ cánh cửa đối diện với cửa sổ, men theo tường, trèo qua cái chậu rửa mặt ba chân cổ lỗ sĩ, chạm vào tấm gương đã gần mờ hẳn, sờ nắn một chồng hộp các tông, liếc sang cái ghế bành mặt ghê đã rách bươm, xoáy vào cái tủ búp phê đứng lù lù như con quái vật màu nâu và tờ lịch treo tường, tờ lịch một mực khăng khăng hôm nay là mồng Một tháng Tám năm Một Ngàn Chín Trăm Lẻ Bốn.

Căn phòng tiếp theo trống không. Phòng tiếp theo cũng trống nốt. Vữa trát tường nứt nẻ toang hoác, khiến ở đôi chỗ, bông cách nhiệt ở các đường ống lộ cả ra ngoài. Tiếp theo, ánh đèn run rẩy chui vào một căn phòng ngủ bụi bặm, sờ soạng lên giường nằm, lướt qua các bộ váy đã nhạt màu và đôi bộ áo ngủ ẩm ướt, ố vàng, treo sát tường, trên các mắc áo bện bằng dây thép. Như thông thường ở phòng ngủ nào cũng vậy, trên chiếc ghế đẩu kê ở đầu giường là cái mũ các bà vẫn đội cho gọn tóc khi ngủ. Những đôi dép chuyên dùng đi trong nhà về đêm đã cũ mòn, một cái bô thô thiển mà các vết xước để lộ màu ánh kim, trông giống như vết súng cao su bắn trúng vào vậy. Dọc tiếp theo dãy cửa sổ: có cái gì thế kia?

Trong một căn phòng tiếp theo có kê cái bàn, trên đó một con chim lặn đang đậu và có vẻ đang trò chuyện với cái bàn chải quần áo. Không biết ai đã cho nhồi con chim này? Ai là người định chải lông cho nó, nhưng rồi giữa chừng bỏ đi, để dở công việc và chẳng bao giờ quay lại làm nốt nữa? Tôi hình dung người đàn ông gầy gò, có gương mặt hẹp và cái mũi lõ khá thẳng ấy - thỉnh thoảng vẫn làm tôi nghĩ đến một loài thủy cầm nào đấy - chiếu đèn lên con chim lặn khiến đôi mắt giả của nó lóe lên, trước khi ông - thôi thúc bởi một thứ linh tính nào đấy chợt trỗi dậy trong lòng - không hề nao núng xăm xăm bước tiếp, chiếu đèn xem xét hết phòng này đến phòng khác, soi rọi các bức tường, bàn ghế, soi mói mọi ngóc ngách, cho đến khi lần đến cái phòng tắm xây dở. Các tấm đệm bê bết vết bẩn chất đống giữa nền nhà. Một cái thang xếp. Một đống vôi vữa, vốc đinh, tàn thuốc hút, phơi bào từ ống dẫn nước bằng chì. Một cái áo vét lúi xùi, may bằng vải in hình xương cá. Một bóng đèn điện để trần. Ông hy vọng còn phát hiện thêm được gì nữa chăng? Hay ông biết nhiều hơn là chúng tôi tưởng?

Bố tôi dùng tia sáng mảnh chiếu ra từ ngọn đèn để xem xét cái buồng tắm bị bỏ hoang ấy. Nếu bà Ditte hay ông họa sĩ có bắt gặp ông lúc này, thì chắc ông cũng không lấy làm bối rối lắm; cái thời mà ông còn phải xin lỗi về sự tò mò đường đột này, đã mãi mãi qua rồi. Kiên nhẫn một cách bướng bỉnh - tôi phải nói thẳng ra như thế - bố tôi như vồ lấy cái buồng tắm, xem xét, soi mói cẩn thận từng li từng tí ở đó, khiến ta có thể nghĩ, hình như ông đang tin chắc, ông sắp lần tới đích. Ông thấy bóng đèn điện đung đưa nhè nhẹ. Ông thấy cái đĩa đựng một ít thức ăn còn sót lại, và như sau này tôi nghe kể lại, ông còn thấy ở đầu ổ nằm một dải băng tháo từ áo khoác nhà binh ra. Tia sáng dừng lại ở dải băng đó, trườn qua đĩa thức ăn, rồi chiếu theo cái bóng đèn đang đung đưa. Viên cảnh sát tắt đèn pin, dỏng tai, áp vào tường nghe ngóng, và nghe được nhiều thứ hơn là ông muốn.

Ở quê tôi, vào buổi tối mùa thu, nếu ai đó đứng giữa luồng gió dỏng tai nghe ngóng, thì bao giờ người đó cũng sẽ nghe được nhiều chuyện hơn những gì người đó có thể trông đợi, hoặc những chuyện chẳng dùng được vào việc gì: bao giờ cũng sẽ xảy ra một cuộc chuyện trò nhảm nhí nào đó bên bờ rào, trên không trung sẽ xuất hiện các tòa nhà kỳ ảo, và nếu ai đó chủ tâm muốn nghe thấy giọng người nói hay tiếng cửa sập, ắt sẽ nghe ra ngay giọng nói hay tiếng sập cửa người đó muốn nghe.

Đứng dỏng tai bên cửa sổ, bố tôi nghe nhiều tiếng chân bước quá, nhiều giọng nói quá, chốc chốc ông lại bất ngờ chiếu đèn vào buồng tắm toan bắt quả tang ai đó, nhưng rồi lần nào ông cũng bị thất vọng; cuối cùng, ông đành bỏ cuộc, cài cái đèn ra trước ngực, rồi đi ra chỗ chiếc xe đạp của ông.

Ta có thể yên trí, rằng ông nhẹ nhõm trở lại bên xe đạp - không phải hài lòng, mà nhẹ nhõm - và, hẳn là ông, lúc đã ngồi trên yên đạp xe đi, sẽ không để mắt đến Bleekenwarf, lúc này trông như một cái bè nặng nề thả neo trong đêm tối nữa. Trong túi, dù sao, ông cũng đã có đủ màu mè, màu đỏ đè lên màu trắng, màu lục chồng lên màu trắng; hơn thế nữa, ông đã lo sao cho bóng đêm trùm xuống, và ông cũng đã tìm được lời khẳng định cho những gì ông đã biết hay đã đoán trước, chính vì thế, nên ông có thể cho xe chạy nhanh từ bờ đê xuống, trong mưa phùn đượm vị muối, với những gì ông đã thu thập được nhờ biết cảnh giác và hành động theo linh tính nghề nghiệp. Cũng có thể, dọc đường ông đã nghĩ xem nên viết giấy báo lên cấp trên ra sao, nhưng cũng có thể, ông chỉ nghĩ đến món ăn ông ưa nhất mà ở nhà chị Hilke đang nấu trong bếp thôi, tức là món cá trích rán ăn với xa lát khoai tây. Thôi, khỏi kể dông dài, lúc ông bước vào nhà, treo áo khoác, rồi mũ đội lên giá, và vừa xoa xoa hai tay vào nhau, vừa tiến vào căn bếp sực mùi thức ăn, thì cả nhà đã chờ trong đó cả. Thế nào, ăn tối được chưa? - Vâng, được ạ.

Tôi tót ngay lên ghế bên bàn ăn, trong khi mẹ tôi bày biện bát đĩa ra bàn, còn chị Hilke - rơm rớm nước mắt vì cay khói - vẫn đang đứng bên bếp lò, chờ mỡ trong chảo chảy ra, xèo xèo, lép bép. Mỡ sôi, nóng bỏng, sủi bọt, bắn hai chục ngàn bong bóng li ti ra xung quanh; chị cho mấy con cá trích đã cắt bỏ đầu và tẩm bột vào chảo mỡ sôi đó. Bước vào bếp, bố tôi cất tiếng chào, nhưng ông cũng không hề tỏ ra phật ý khi không ai đáp lại cả. Chào cả nhà, ông nói, vỗ vỗ vai tôi, rồi đến bên bếp lò, gật gù xem chị Hilke gắp mấy con cá trích đã rán giòn ra khỏi chảo, xếp cả lên một cái đĩa, rồi dùng mu bàn tay dụi mắt, và ngay sau đó, chị lại cho tiếp cá trích tẩm bột vào chảo mỡ, mỡ lại xèo xèo, lại bắn tứ tung. Bố tôi ra hiệu cho tôi, và xoa xoa bụng hơi cường điệu; đoạn ông tháo thắt lưng có đeo khẩu súng ngắn và túi xắc công vụ ra, đặt cả lên nóc chạn bếp, rồi ngồi xuống bên cạnh tôi. Những con cá trích rán vàng rộm và ánh mỡ nằm trên đĩa, vây đuôi cong lại, giòn tan, và ngồi trong phòng giam thoáng gió này của tôi, cứ bao giờ nhớ lại món cá trích rán, thì lập tức tôi ngửi thấy ngay mùi cá rán và cảm giác nghèn nghẹn trong cổ, thậm chí cả cơn ho không tránh khỏi vào những lúc như thế, cũng tức thời nổi lên.

Đứng rán cá, chị Hilke mặc áo nấu ăn - cài cao đến tận cổ - ra ngoài áo vét dân gian chị vẫn mặc, cái áo dùng mấy đồng xu thay cho cúc áo bình thường; mái tóc dày và dài, chị buộc ra sau gáy. Đôi chân chị mang tất len dài đến đầu gối, trên cổ tay chị đung đưa cái vòng mạ bạc anh Addi chẳng rõ duyên cớ trời ơi đất hỡi thế nào, tự dưng gửi từ Rotterdam - là nơi anh ấy được phái đến phục vụ quân đội - về tặng chị. Cứ mỗi lần chị tôi gắp được vài con cá trích từ trong chảo mỡ sôi ra, chị lại chìa môi thổi bay mấy sợi tóc xõa xuống mặt, quay người về phía mọi người, mỉm cười với vẻ ít nhiều chua chát qua làn khói cay sè.

Rồi mẹ tôi rốt cuộc cũng bưng đĩa cá rán và tô xa lát khoai tây có trộn đôi khoanh táo ra đặt lên bàn, và sau khi cả nhà, ai nấy nắm tay nhau thành một vòng, rồi đồng thanh chúc nhau “Chúc cả nhà ăn ngon” - một thủ tục mà cả nhà chỉ làm khi nào chị Hilke có mặt thôi - thì ai nấy bắt đầu ăn. Lần lượt, mỗi người múc một ít xa lát khoai tây trong cái tô màu nâu ra đĩa của mình, rồi ai nấy chọn cho mình vài con cá rán. Chỉ cần dùng nĩa ấn mạnh một cái là miếng thịt ở lưng đã tách ra, chọc thêm một cái bằng mũi nĩa là đủ tách riêng xương cá; tôi chẳng cần mất nhiều công lắm để ăn vượt chị Hilke hai con và giữ lợi thế đó cho đến cuối, riêng có bố tôi thì tôi chịu, không làm sao vượt được ông. Viên cảnh sát Rugbüll có cách riêng để tách xương cá, tách xong, ông xiên nguyên cả nửa con cá nhét vào mồm, không cần cả phù phù thổi hay hít hà lôi thôi cho đỡ nóng nữa, còn tôi chỉ còn biết ghen tị nhìn chỗ xương cá bên mép đĩa của ông mỗi lúc một cao. Bao giờ có món cá trích rán là thể nào trông bố tôi lại sánh ngang ông ngoại Per Ame Schessel tôi - một người sành ăn, ăn nhiều, ăn nhanh nhất đời mà tôi từng biết - mặc dù tôi phải nói ngay, lúc ăn, trông bố tôi hơn nhà địa phương học hay cáu bẳn ấy, tức ông ngoại tôi, ở chỗ, bố tôi cho thấy ông thật sự khoái trá thưởng thức món ăn. Còn tôi, tuy không thể làm đống xương cá bên mép đĩa cao lên nhanh như bố tôi được, nhưng so với chị Hilke hay mẹ tôi thì tôi ăn đứt.

Vâng, cả nhà lao vào ăn, nhai ngấu nghiến, nuốt ừng ực, đĩa cá rán cao có ngọn xẹp hẳn xuống, tô xa lát khoai tây vơi hẳn, nhìn thấy tận đáy, và tôi đã bắt đầu thấy cơn buồn ngủ khi no bụng kéo đến - một cảm giác mệt mỏi thật khoan khoái - thì chị Hilke chợt phát hiện mẩu giấy đo đỏ thò từ túi áo vét của bố tôi ra. Chị lôi hẳn nó ra ngoài, đặt lên lòng bàn tay, ngửa ra bàn với vẻ dò hỏi, nhưng vì không ai nói gì cả, chị bèn để nó nằm xuống cạnh cái đĩa của chị, rồi nói với bố tôi: Sao cái gì bố cũng nhét vào túi áo thế?

Bố tôi lẳng lặng vươn người trên mặt bàn, thu mảnh giấy về rồi nhét trở lại vào túi. A, ra đây cũng là tài liệu bí mật cơ đấy, chị Hilke nói, còn bố tôi đáp, mắt nhìn xuống cái đĩa ông đang ăn dở: Thời buổi này, giá người ta có đủ cá trích mà ăn, phải, giá có đủ cá trích… - Ông Max thế nào, khỏe chứ, mẹ tôi bỗng hỏi. Khỏe thì lão vẫn khỏe thôi, bố đáp, rồi sau khi dùng nĩa tách một con cá trích rán ra làm đôi, ông nói tiếp: Bây giờ đã đến lúc tôi không rộng lượng bỏ qua mãi được rồi. Mà chính lão muốn thế. - Tại lão Tiến sĩ Busbeck hết, mẹ tôi nói, nếu lão Busbeck không lôi kéo, có lẽ ông Max không đến nỗi như thế. Có ai biết lão là người thế nào đâu? Chả biết gốc gác ở đâu ra. Lão bị mất gốc, đích thị giống dân Digan nòi. Làm lụng lão cũng có làm gì đâu. - Không phải đâu, không buộc tội lão Busbeck vào đâu được; với lại, lão Max làm gì là tự ý làm hết. Lão tưởng, lão chẳng có trách nhiệm với ai. Lão tưởng, các luật lệ, các quy định do trên ban hành là dành cho người khác, không phải dành cho lão. Bây giờ đã đến lúc tôi không làm ngơ được nữa rồi. Bạn bè thì bạn bè, nhưng có phải vì thế mà tự do, muốn làm gì cũng làm được đâu.

Mẹ tôi dừng, không ăn tiếp nữa. Bà chống hai khuỷu tay lên bàn, nhìn chằm chằm thóp đầu bố tôi, rồi bất ngờ cất tiếng: Đôi lúc tôi cứ nghĩ, ông Max phải mừng vì bị cấm vẽ mới phải. Cứ nhìn mà xem ông ấy vẽ những người với ngợm thế nào: mặt mũi màu xanh lục nhá, mắt xếch như mắt dân Mông Cổ nhá, thân hình méo mó, rặt những người lạ hoắc; có bệnh hoạn mới vẽ vời như thế. Chả thấy ông ấy vẽ khuôn mặt Đức bao giờ. Trước đây thì cũng có đi. Chứ hiện giờ? Ông ấy bị lên cơn sốt đấy, ông ạ, ông phải biết, ông ấy làm ra mọi thứ trong lúc lên cơn sốt cả đấy. - Cơ mà ở nước ngoài, tranh của lão đắt giá lắm, bố tôi đáp, ở đấy người ta đề cao lão. - Bởi chính họ cũng bệnh hoạn cả mà lại, mẹ tôi nói, bởi thế nên họ mới treo đầy tranh bệnh hoạn ở nhà họ. Ông cứ thử nhìn mồm miệng những hình người lão ta vẽ ra mà xem, méo xệch méo xọ, đen ngòm, lúc nào cũng thấy hoặc la hét, hoặc như nghẹn lời, lắp ba lắp bắp, chứ những cái mồm, cái miệng như thế nói làm sao nổi đôi lời tử tế, chín chắn, hay nếu họ có nói, thì cũng không phải tiếng Đức nhà ta. Nhiều khi tôi cứ tự hỏi, không biết những người như thế, họ nói thứ tiếng gì.

Chắc chắn không phải tiếng Đức ta rồi, bố tôi nói, bà nói chí lí. - Chắc chắn là do lão Busbeck, mẹ tôi lại nói, lão đã đẩy ông Max đến nước ấy: để cho vừa lòng người nước ngoài, lão xui ông ta vẽ những hình người lạ hoắc và bệnh hoạn như thế, mặt mũi xanh lục, mồm miệng há hốc, thân hình kỳ quặc. Lẽ ra ông Max phải mừng vì bị cấm vẽ mới phải, lệnh cấm giúp ông ấy trở lại với chính ông ấy. Trở về với nghệ thuật của ta.

Bố tôi đẩy cái đĩa ra, lau mồm. Chị Hilke đứng dậy, bưng chồng đĩa bẩn ra bếp lò, rồi mang một đĩa chè táo đặt ra trước mặt bố tôi. Lần này thì lão phải được một bài học, bố tôi nói, còn mẹ tôi lại chêm vào: Nếu biết mụ Ditte cần tiền thế nào, thì phạt tiền là họ đau nhất đấy. - Tôi báo vụ này về Husum, bố tôi nói, chẳng cần báo về Berlin. Ở Husum họ khắc phải biết nên phạt lão Max thế nào. Bố tôi múc chè táo đưa lên miệng, khen ngon, để phần chè còn lại cho tôi, rồi nói tiếp: Vi phạm quy định che đèn buổi tối là một, cưỡng lệnh cấm vẽ là hai - gộp cả vào thì cũng cộm đây.

Bố tôi đẩy đĩa chè sang cho tôi. Ông ngả người ra lưng ghế, dùng lưỡi đưa một lượt qua hàm răng, mút thật mạnh, đoạn ông húng hắng lấy giọng. Từ phía mẹ tôi, tôi cũng thấy đĩa chè táo nâu nâu trôi về phía tôi. Lần này thì lão không lừa tôi được nữa rồi, bố tôi nói và lôi vài mảnh giấy đo đỏ, xanh xanh trắng trắng khỏi túi áo. Ông đặt mấy mảnh giấy vụn, như mấy quân bài lên bàn, đẩy qua đẩy lại miếng này với miếng kia, nhưng chúng không chịu khớp vào với nhau. Ông à? Mẹ tôi hoảng hốt hỏi, ông xé à? - Viên cảnh sát lắc đầu, vẻ cân nhắc, rồi nói, với một giọng - tôi cũng phải nói cho rõ như thế - không phải không chứa ít nhiều thán phục: Tự tay lão xé bức tranh của lão. Tôi dồn lão vào chỗ bí. Nhưng xé thì xé, cũng chẳng ích gì cho lão cả. - Xé chính bức tranh của lão? Mẹ tôi hỏi, vẫn chưa hết sửng sốt. - Tranh vẽ cái gì hả bố? Chị Hilke hỏi. - Còn tôi thì hỏi: Bố cho con chỗ giấy vụn nhá.

Bố tôi làm một động tác vô định, gạt một lúc cả ba câu hỏi, đoạn ông đứng dậy, vươn người lấy túi xắc công vụ để trên nóc chạn bếp xuống, và sau khi mở túi, ông đóng vai bà Holle rắc tuyết rơi trong chuyện cổ tích, cứ thế dốc hết các thứ trong túi ra, khiến các mảnh giấy màu đỏ, màu lục, màu xanh da trời rơi lả tả - như một trận mưa rào các mảnh giấy nhàu nhò, nhưng nhiều màu - phủ lên mặt bàn, bay cả vào bát chè của tôi, rải rác xuống nền nhà, bay bay ra tận đến cửa. Sau đó, ông cũng lôi các mảnh giấy từ túi áo ra, đập từng xấp từng xấp xuống mặt bàn, rồi nói: Ta sẽ cho gửi những thứ này kèm theo đơn tố cáo, để làm bằng chứng. - Con sẽ xếp lại, con sẽ xếp rồi lắp ghép lại với nhau, bố nhé. - Chẳng phải làm như thế, bố tôi nói, mày chẳng cần mất công. Chỉ cần các mảnh vụn là đủ. - Thế nhưng con thích ghép nó lại mà, tôi vẫn cố nài.

Chợt có tiếng đập cửa. Ai nấy lắng tai nghe, bên ngoài có người đập cửa thật. Bố tôi ra hiệu, bảo tôi thu dọn nhanh các mảnh còn lại của bức tranh khỏi mặt bàn, dọn đi đâu cũng được, miễn sao sạch mặt bàn, bởi vì hình như ông đã nghi, thậm chí có vẻ cầm chắc, ai đang đứng gõ cửa ngoài kia - cầm chắc đến nỗi, ai cũng nhận ra vẻ thất vọng trên mặt ông, khi ông mở cửa mời ông Hinnerk Timmsen bước vào nhà. Hai người đứng nói chuyện với nhau ngoài hành lang, còn mẹ con chúng tôi ngồi lặng tại chỗ, và vểnh tai nghe cùng. Ánh đèn hắt từ trong bếp ra chỉ chiếu lên người bố tôi, chứ không chiếu lên ông Timmsen.

Ông ạ, tôi nghe có tiếng động cơ khả nghi… đứng trên bậc thềm quán Wattblick… Thình lình một máy bay bốn động cơ chui từ trong mây ra, bay mỗi lúc một thấp… Một bên động cơ bén lửa, trong khi chính chiếc máy bay… ngoài biển kia… rồi động cơ thứ hai cũng bốc cháy, ngoài biển… phải, phải, tiếng nổ khá to, ai đang ngủ chắc cũng bị đánh thức… một chiếc dù lơ lửng hạ xuống bãi biển… chả nhìn thấy gì, nhưng chiếc dù…

Từ trong bóng tối, khuất mắt mẹ con tôi, ông Hinnerk Timmsen báo lại mọi chuyện với viên cảnh sát, rồi còn nói thêm: Bọn Mỹ, tôi chắc đây là bọn Mỹ, và trên gương mặt khô khan, lạnh lùng của bố tôi, sự kiện vừa được nói đến dường như đang gây tác động, chẳng những thế, gương mặt ông còn cho thấy ông quyết định phải đích thân tìm hiểu ngọn ngành, ông phải kiểm chứng lại các chi tiết của sự kiện vừa xảy ra; ông lặng lẽ gật đầu, lấy mũ cùng áo choàng từ trên giá xuống, rồi gọi ới vào trong: Đưa thắt lưng đây! Chị Hilke đem thắt lưng có đeo khẩu súng ngắn ra cho ông, ông mang thắt lưng lên người, sửa khẩu súng cho ngay ngắn, rồi bước hai bước ra cửa, nhưng lại lùi hai bước trở lại, chỉ cốt để nói với mẹ con tôi: Tôi đi, hả? Sau đó, ông theo chân ông chủ quán ra ngoài, ông này lúc đó đã đứng chờ ở giữa sân, sẵn sàng dẫn đường.

Mặc dù cũng muốn lắm, nhưng lần này tôi không bám theo hai ông. Trên đùi tôi là cả một mớ các mảnh vụn của bức tranh; tôi cẩn thận nhét chúng vào trong áo len tôi mặc, tức là vào giữa áo sơ mi bên trong và áo len bên ngoài, rồi chui tuột xuống dưới gầm bàn, và do chẳng ai gọi tôi, tôi thu nhặt những mảnh giấy nằm rải rác trên nền nhà. Các mảnh giấy vụn nằm giữa hai chân chị Hilke, dưới bậu cửa sổ, dưới ghế mẹ tôi ngồi, cả những mảnh nằm trước chạn bếp, tôi thu lại bằng hết, cho đến khi bức tranh, hay đúng hơn là các mảnh xé rời nhau của bức tranh nằm gọn dưới cái áo len, cái áo bây giờ phình hẳn ra trước bụng tôi. Tôi khoanh tay ôm lấy chỗ phình ra đó, và đứng yên trước chạn bếp. Chị Hilke với mẹ tôi lặng lẽ ngồi đối diện nhau, cả hai người hình như đang dỏng tai nghe ngóng các tiếng động bên ngoài. Tiếng động cơ rì rì từ đằng xa vẳng tới, nhưng cái đồng hồ báo thức đặt cạnh hộp đựng bánh mì bỗng reng lên át mất; nó vừa reng, vừa nhảy tưng tưng trên mấy chân đứng bằng sắt chắc nịch và ngắn ngủn, rồi xoay xoay đúng một trăm tám mươi độ, phơi mặt cho đống xương cá trích róc hết thịt nằm chỏng chơ trên bếp lò biết lúc này là mấy giờ.

Không biết cơn ợ của mẹ tôi đâu nhỉ? Tôi nóng lòng chờ con bệnh ợ nóng mẹ tôi vẫn bị sẽ nổi lên, khiến bà sẽ phải chạy đến chỗ chậu rửa, mở vòi, và trong lúc nước chảy, bà sẽ lấy một cái cốc, túi thuốc bột, cho nước chảy đầy vào cốc, xé túi thuốc đổ hết vào cốc nước, rồi đem ra ngồi uống bên bàn ăn. Chưa bao giờ tôi lại sốt ruột mong cho cơn ợ ập đến với mẹ tôi như lúc này, bởi vì tôi định lợi dụng lúc bà bận bịu nước nôi, thuốc thang chống con bệnh nổi lên để chuồn đi nơi khác, chuồn đi mà không bị căn vặn hỏi han, dặn dò, đe nẹt gì. Hừm, cơn ợ có vẻ đến chậm hơn mọi khi, hay nó bị cá trích rán làm tịt ngòi cũng nên. Tôi đành thử cách khác, mới hơn, dứt khoát hơn, nghĩa là tôi cứ thế đi về phía mẹ với chị tôi, và tuyên bố thẳng thừng: Con có việc bận, phải làm bây giờ; nghe tôi nói vậy, chị Hilke bật cười, mẹ tôi cũng quay người nhìn tôi có vẻ giễu cợt, nhưng trước khi hai người kịp nói gì, tôi đã tót ra ngoài, leo cầu thang, biến nhanh vào phòng tôi.

Có ai gọi tôi lại không? Không ai gọi cả. Tôi bước đến bên cái bàn mặt phủ bằng tấm bản đồ đại dương màu xanh lam, trên đó các mô hình màu xám của nhiều chiến thuyền đang dàn đội hình, tôi còn nhớ, chuẩn bị cho trận thủy chiến Skagerrak; do khôn ngoan về chiến thuật, đô đốc Hipper lẩn khỏi tầm bắn của hạm đội hùng mạnh hơn gấp bội do đô đốc Jellicoe chỉ huy. Nhưng lúc này, tôi chẳng nghĩ gì đến trận thủy chiến nữa, dùng ống tay gạt trận đánh sang một bên - tức là gạt nó ra khỏi chương trình ngày hôm nay - và mở áo len, dốc hết các mảnh giấy vụn lên mặt đại dương thanh bình. Các mảnh vụn rơi lả tả, bơi bơi trên mặt biển. Màu đỏ giục giã màu lam. Màu trắng làm xao động màu lục. Màu nâu chen với màu xám. Một ngón chân màu nâu cong queo. Một con mắt đờ đẫn hình tam giác. Các ngón tay xòe ra. Đợt sóng bạc đầu. Trận thủy chiến vẫn tiếp diễn à? Mớ giấy vụn quả là lộn tùng phèo, chẳng cần lâu la gì lắm để tôi nhận ra điều đó. Tôi lắng tai nghe các tiếng động dưới bếp; vâng, tôi nghe rõ tiếng nước chảy, tiếng bát đĩa lách tách - chị Hilke đang dọn dẹp. Chẳng ai để ý đến tôi, và tôi bắt tay vào việc.

Phải, tôi bắt tay ghép lại bức tranh, bắt đầu từ lão đàn ông mặc áo choàng đỏ, bắt đầu truy tìm lão từ những mảnh, những mẩu giấy to nhỏ không đều nhau, và tôi còn nhớ rất rõ nỗi hồi hộp lẫn niềm vui nổi lên trong tôi như thế nào trong suốt cuộc truy tìm đó. Tôi không bắt đầu từ mép tranh, cũng không đi từ giữa; tôi cứ theo màu, xếp mảnh màu đỏ này với mảnh màu đỏ khác, mảnh màu lục với mảnh màu lục, không, tôi chưa chắp ngay các mảnh riêng lẻ với nhau được, mới đầu tôi chỉ xếp chúng lại với nhau - như tôi đã nói - theo màu, vâng tôi chia bức tranh thành từng phân đoạn hay từng phần khớp với nhau.

Vâng, tôi thú thật, xếp chúng lại với nhau quả không dễ chút nào, chẳng hạn, mảnh màu nâu này có cùng loại với mảnh màu nâu kia không; có những mảnh màu lục tôi phải lật đi lật lại, cân nhắc chán chê xem có đúng màu lục hay không; đúng thế, riêng phân loại các màu sắc khác nhau đã chiếm của tôi khối thời gian rồi.

Đã thế, các mẩu xé ra từ một tờ giấy quả là lắm hình lắm dạng! Không biết tôi phải vắt óc bao nhiêu lâu để chia loại các mảnh giấy theo hình theo dạng. Mảnh này giống hình hòn đảo Kreta, mảnh kia giống mũi giáo, mảnh khác nữa lại giống mái nhà, cái chụp đèn, cây cải bắp, đồng hồ quả lắc, chiếc ủng Ý, con cá thu, hay lọ hoa: đấy mới chỉ là một phần của tất cả những hình ảnh mà các mảnh giấy hay mẩu giấy nhiều màu, mép xé lởm chởm làm tôi nhớ đến, lúc tôi xếp chúng bên nhau, đẩy qua đẩy lại, tìm cách khớp chúng lại với nhau.

Dùng ngón tay trỏ, tôi gí mảnh giấy xuống mặt bàn, di nhanh nó đến chỗ trông có vẻ khớp với nó; phải, tôi đẩy một chiếc du thuyền vào cảng tôi cho nằm ở bán đảo An Độ; bằng cách ghép mấy mảnh giấy khớp nhau, mới đầu tôi biến một tán cây màu đỏ thành con ngựa đang chổng vó, sau chuyển thành con rồng đang bay, rồi cuối cùng - cứ ghép thêm mảnh giấy này, mẩu giấy khác vào - thành một cái chuông màu đỏ, đúng hơn là thành cái áo măng tô màu đỏ, hình quả chuông. Một bức tranh có thể biến hóa ra biết bao nhiêu là hình vẻ khác nhau! Từ khi khởi đầu cho đến khi kết thúc, không biết nó đã trải qua bao nhiêu chặng đường!

Lão đàn ông mặc áo choàng đỏ đang làm gì thế? Vì sao lão lại nâng bãi biển trên tay, dùng hai tay giữ thăng bằng cho bãi cát, còn đôi bàn chân ma quái của lão lại phơi trần ra giữa trời? Dưới sức nặng của bãi cát xám xịt liệu lão còn khúc khích cười được không nhỉ? Tôi tiếp tục loay hoay với đôi chân, với những ngón tay xòe ra, với thân hình nặng nề pha lẫn màu lục với màu trắng, tôi tìm một gương mặt khớp với cái mồm há hốc, để rốt cuộc - thử bên này bên kia - tìm ra các dấu hiệu về anh Klaas; thêm vài mẩu hình tam giác và hình thoi và cứ để mặc cho hình ảnh anh tôi hiện dần ra, cho đến lúc anh ấy hiện hẳn ra ở tư thế chuẩn bị bỏ chạy, không hẳn là hình ảnh anh Klaas thật, mà là hình ảnh của nỗi khiếp đảm.

Cứ như thế tôi tái dựng lại họ, tôi giải phóng anh tôi cùng lão đàn ông mặc áo choàng đỏ khỏi mớ giấy lộn, tôi lần mò lôi hai người từ các mảnh giấy vụn ấy ra. Thế nhưng, lộ ra đó rồi, mà họ vẫn không chịu khớp vào với nhau. Cũng là một bãi cát xám xịt bên bờ biển ấy, bãi biển anh tôi toan vụt qua chạy trốn, còn lão đàn ông áo choàng đỏ lại muốn đẩy nó lên cao. Hay đây là hai bãi khác nhau? Chả lẽ còn thiếu một cái cầu? Hay tôi ghép bức tranh chưa đúng?

Tôi đi vòng quanh bàn, ngắm nghía, thay mảnh giấy này đẩy mảnh kia, thử xem hai người này liên quan với nhau thế nào, và vì tiền cảnh bức tranh không cho tôi thấy gì cả, tôi bèn tập trung vào hậu cảnh trong bức tranh, vào Biển Bắc đen ngòm và giá lạnh. Từ trong khối màu đen đó của biển cả, một con sóng màu lam pha lẫn màu lục đang nhẹ nhàng xô tới; có thể nhận ra con sóng nổi ở phía sau và giữa hai người - con sóng trải dài, trông uể oải, nhưng bây giờ tôi gán cho nó vai trò hàn gắn: không để ý đến mối tương quan giữa hai nhân vật, tôi hoàn thiện con sóng và để mặc cho nó lan tới, và để làm như thế, tôi buộc phải xoay lộn đầu lão đàn ông, bắt lão trồng cây chuối. Bây giờ thì khớp, bãi biển mà anh tôi toan chạy qua tìm nơi trốn, và bãi biển lão già lúc nãy định dùng tay nâng cao lên, ăn nhập vào nhau. Bây giờ thì khớp, khi đường chân trời thấp chính là đường chân trời chung, đều đặn chạy dài mãi, và bây giờ cũng ăn nhập vào nhau, bởi nỗi kinh hãi của anh tôi, lúc đó đang tính quay người bỏ chạy, là nỗi kinh hãi bắt nguồn từ lão đàn ông gầy guộc, lưng còng, mặc áo choàng đỏ, và nhẹ tênh, dường như coi khinh cả sức hút của địa cầu. Đến lúc này, không còn mảnh giấy nào thừa ra nữa.

Thay vì gọi chị Hilke hay mẹ tôi lên xem mớ giấy vụn bố tôi tịch thu về ấy thật sự chứa đựng cái gì, tôi lại ra khóa trái cửa phòng lại. Rồi tôi tìm quanh xem có cái gì làm nền được không, nhưng chẳng có gì, ngoài tấm mành cũ, hơi rách, nằm xộc xệch dưới gầm giường - tấm mành vốn dùng làm mành phòng không, che ánh đèn ban đêm lọt ra ngoài. Tôi trải nó ra giữa nền nhà, và để ngăn không cho nó cuộn trở lại, tôi lấy hai ghế chặn hai đầu; mỗi ghế lại còn chất thêm mấy cuốn truyện cổ tích đã hết thời cho nặng thêm. Tôi lôi một ống keo dán vạn năng trong hộp “chú thợ mộc trẻ” của tôi ra, rồi quỳ xuống trước tấm mành, bóp keo từ ống keo phụt ra ngoằn ngoèo, giống như con giun màu mật ong, rồi dùng đầu ống keo bôi đều thứ keo đặc quánh đó ra tấm mành. Keo tôi bôi lúc thành hình xoắn ốc, lúc theo vòng tròn, và lớp keo khô đi rất nhanh. Sau khi đã bôi đều một lớp keo lên tấm mành vốn màu đen nay bạc thếch vì quá cũ, tôi gỡ lần lượt từng mẩu giấy đã xếp khớp vào nhau trên mặt bàn, dán lên tấm mành, rất cẩn thận, theo đúng trình tự đã xếp trước đó, song, điều không thể tránh được là mép xé ra của các mảnh giấy không hẳn khớp với nhau, khiến trên bức tranh đang dần dần hình thành, cũng ngoằn ngoèo thành hình những đường vân - những đường vân mãi mãi làm chứng cho cuộc phá hủy từng diễn ra với bức tranh. Bắt đầu dán từ góc phải phía trên, trước hết tôi khôi phục lại bầu trời, Biển Bắc và anh Klaas, sau đó mới đến lượt lão, lão đàn ông mặc áo choàng đỏ, với vẻ ranh mãnh già nua và nụ cười bất động trên gương mặt. Tôi nhấc một chiếc ghế lên, tấm mành tự cuộn ngay lại, ôm trọn bức tranh vào trong. Tôi thận trọng đẩy nó xuống gậm giường.

Bây giờ đến lượt hộp thuốc màu, tôi nghĩ bụng, tôi cũng nhớ ngay đến tập giấy vẽ; nếu bây giờ tôi đẩy mấy cái gối sang một bên thì bậu cửa sổ cũng rộng chán; nhưng tôi phải nhanh tay mới được, bởi lẽ ra tôi phải làm mọi việc theo trình tự ngược lại mới phải. Tôi còn nhớ, tôi lấy hộp thuốc màu và tập giấy vẽ đến bên bậu cửa sổ, tôi vẫn nhớ tôi cầm cây bút vẽ to nhất trong tay và quỳ xuống, mạnh tay phết màu đỏ lên tờ giấy vẽ, tôi vẫn còn nghe tiếng động phát ra khi tôi tách một tờ giấy vẽ ra khỏi tập, tôi thấy tôi bôi màu nâu ảm đạm lên giấy, và cũng như hồi đó, cho hai màu lục và trắng hòa vào nhau. Tôi chuyển tất cả các màu có trong bức tranh ra giấy, phết chúng lên ba bốn tờ giấy tách từ quyển vở vẽ ra. Tôi phe phẩy các tờ giấy, tôi thổi phù phù lên mặt giấy, tôi lấy đèn bàn chiếu lên các tờ giấy và quan sát màu khô đi, thấm sâu vào giấy. Xong đâu đấy, tôi gạt hộp màu cùng giấy vẽ sang một bên, đem tập giấy màu, chỉ các trang giấy đã bôi phết màu thôi chứ không có gì khác, đến bên bàn và bắt đầu xé chúng ra thành từng mẩu.

Tôi xé các tờ giấy màu rất cẩn thận, mới đầu thành các hình chữ nhật khá đều nhau, sau đó tách riêng từng hình chữ nhật, xé nhỏ ra nữa với mép răng cưa hay mép vòng cung, rồi xếp các mảnh giấy đủ hình dạng đó lên nhau, thả cho chúng bay lả tả xuống tấm bản đồ đại dương, cho chúng khoái trá trộn vào nhau. Tôi nghe có tiếng bước chân. Lần lượt, các hình chữ nhật bị xé nhỏ ra, rơi như các mảng tuyết màu xuống mặt bàn. Cẩn thận hơn nữa, để không gây ra cảm giác giả tạo, tôi vơ một ít mảnh giấy vụn, nhét vào túi. Tôi dùng ngón tay dồn đống giấy vụn vào nhau, trộn thêm lần nữa, rồi tôi cố tình tạo một con bão tuyết nhỏ, bằng cách tung chỗ giấy vụn lên cao, nhưng cũng không cao quá, trước khi để chúng rơi hết xuống mặt bàn. Tiếng chân bước. Tiếng gọi: Siggi! Tôi chạy vội ra cửa, mở ra rồi lại quay ngay về bàn, làm bộ xếp xếp, đẩy đẩy các mảnh giấy vào với nhau mà không mảnh nào khớp mảnh nào, và lúc chị Hilke bước vào hỏi: Đã thấy cái gì chưa? - thì tôi thở dài chán nản một cách rất chân thật. Chị Hilke đứng sau ghế tôi ngồi, nhìn mớ giấy vụn và dường như nảy ngay ra ý nghĩ gì đó. Thói ưa ngăn nắp đã trỗi dậy trong lòng chị. Chị vỗ vai tôi, nói: Việc này mày không làm được đâu, để chị làm cho. - Em chỉ tìm thấy màu đỏ với màu lục, tôi nói, hình như tượng trưng cho lửa với nước thì phải. Chị ấy đáp: Để chị Hilke mày ra tay xem nào.

Chị ấy không bao giờ bỏ được thói xem tôi là thằng em nhóc con chẳng biết gì của chị. Với vẻ đầy tự tin, chị thu các mảnh giấy lại, để lên một quyển sách, rồi nói: Cái bàn dưới bếp rộng, đem xuống đó làm dễ hơn; rồi chị áp quyển sách vào bụng và đi ngay xuống phía dưới, dưới đó chị ấy bật đài Nhân dân lên nghe giọng một anh chàng nào đấy - dù sóng bị nhiễu - đang hát, bài hát cho biết anh ta yêu quý các bà các cô đến mức nào. Tôi vẫn ngồi nguyên một chỗ và tưởng tượng cảnh chị tôi bắt đầu phân loại các mảnh giấy vụn, đỏ ra với đỏ, nâu ra với nâu. Tiếng chàng ca sĩ nỉ non: “Tôi thật muốn hôn chị em!” Màu trắng thì xếp vào đâu? Mảnh màu xám để làm gì? Tôi hình dung cảnh chị tôi khéo léo khớp các mảnh vụn với nhau, ngắm nghía, mà vẫn chưa nhìn ra bức tranh thế nào, đành xóa đi, bắt đầu lại từ đầu. Tiếng ca sĩ hát: “Tôi chẳng bao giờ hỏi, liệu có được phép hay không”. Và, cũng như cảnh chị Hilke dưới kia, tôi hình dung cảnh các quan chức ở Husum, thậm chí quan chức ở Berlin nữa, xúm lại nghiên cứu bức tranh, họ cũng sẽ bày các tang chứng do bố tôi gửi đến cho họ ra một cái bàn nào đấy và sẽ loay hoay tìm cách này cách khác sắp xếp chúng lại với nhau thành bức tranh toàn cục, cố mãi mà không thành, cho đến lúc trong đầu ai đó sẽ chợt nảy ra ý nghĩ, có lẽ còn thiếu nhiều mảnh khác nữa, và họ sẽ tự an ủi, do còn thiếu quá nhiều mảnh vụn, họ buộc lòng phải cho công trình của tôi vào kho hồ sơ lưu trữ vậy.

Thôi, đằng nào thì chị Hilke vẫn còn bận bịu. Chị loay hoay cùng mớ giấy, miệng khe khẽ huýt sáo theo giai điệu bài ca phát từ loa phóng thanh ra, đôi lúc còn hát theo thành lời. Tôi lôi tấm mành phòng không dán tranh của tôi ra, rồi bước ra hành lang - “tôi chẳng bao giờ hỏi, liệu có được phép hay không” - áp lưng vào tường, men theo cầu thang đi xuống, đúng lúc bài ca của chàng trai am hiểu đàn bà nọ bị ngắt bởi tiếng kèn chợt nổi lên báo hiệu sắp có thông báo quan trọng. Tiếng còi vang lên đó cũng giúp tôi mở, rồi đóng ngay cửa nhà để tót ra ngoài mà không ai hay biết. Bê tấm mành cuộn tròn, lỏng lẻo và mềm èo như thể bê khẩu bazöka bằng hai tay, tôi chạy đến chỗ thùng xe cũ, nhìn quanh cho chắc, nhảy qua lối đi lát gạch, tuột xuống bờ mương, rồi cúi người chạy tới chỗ cửa cống; tôi lại nhìn quanh cho chắc lần nữa; đến đây thì gió đã lọt vào tấm mành cuộn tròn và thổi nó ép vào đùi tôi. Đằng sau bãi lau sậy, cối xay gió không cánh của tôi đứng sừng sững, tối đen hơn cả nền trời. Tôi toan vác tấm mành cuộn tròn lên vai, nhưng như thế càng khó đi, tôi bèn lại ôm nó bằng hai tay, rồi một lát sau, khi đã chui vào bãi lau sậy, tôi ôm nó thẳng đứng ra trước ngực, khiến nếu có ai nhìn thấy tôi lúc đó, chắc chắn họ sẽ tưởng đang trông thấy ống kính tiềm vọng của tàu ngầm nhô lên, lách qua bãi lau sậy, như thể một chiếc tàu ngầm đang vào vị trí, chuẩn bị phóng ngư lôi phá hủy cối xay gió vậy.

Nóc cối xay gió trông có vẻ lỏng lẻo, nghe như có tiếng gì lạch cạch trên đó, nhưng lúc này tôi chẳng bận tâm. Tôi chỉ muốn mang tấm mành có dán bức tranh đến nơi an toàn, nên tôi chạy qua cái ao trước cối xay gió, rồi theo lối đi ngược lên phía trên. Tôi định giấu bức tranh vào một cái thùng đựng bột cũ nào đấy, giấu qua một đêm thôi, rồi sau đó tôi mới đem nó lên chỗ ẩn náu của tôi và treo nó lên bên cạnh các bức tranh kỵ sĩ của tôi. Phải rồi, với bức Bất ngờ bên bãi biển này, tôi sẽ cho khai mạc cuộc triển lãm - tôi dám nói ngay - cuộc triển lãm về quê hương tôi.

Nhìn ra tít đằng xa, tít ngoài đê và quán Wattblick, không thấy bóng dáng bố tôi đâu cả, lúc ấy chắc đang bận truy tìm bằng được cái dù rơi giữa bãi cát lầy mênh mông ven biển. Tôi kéo mạnh cánh cửa dẫn vào cối xay gió, dỏng tai nghe ngóng phía trong: tiếng gió thổi, tiếng lách cách, tiếng suỵt soạt, bốn bề như có ai rình rập, theo dõi tôi, và phía trên, dưới mái vòm, cái gì đó đung đưa trên đầu tôi rồi bay vụt lên; như mọi khi, tiếng mảnh thủy tinh lạo xạo dưới chân và tiếng động rất dễ nhận ra vẫn chốc chốc lại phát ra từ cái ròng rọc vô hình ở đâu đó phía trên. Tôi chẳng cần đèn. Tôi sờ soạng tìm cầu thang dẫn lên khoang xay bột, lần sang trái, chạm được vào cây cột được đẽo nhẵn nhụi bằng rìu, tiếp tục lần sang trái - xung quanh nghe toàn tiếng lạch cạch, chít chít như chuột chạy - rốt cuộc, một tay tôi cầm cuộn mành, tay kia đưa ra phía trước sờ soạng tìm mấy thùng đựng bột cũ - lại có tiếng lạch cạch, kin kít - và rốt cuộc tay tôi chạm được vào cái nắp lành lạnh của một thùng đựng bột. Nhưng tôi chưa muốn hấp tấp quá.

Vâng - như đã nói - tay tôi vừa chạm vào nắp thùng đựng bột, thì đột nhiên, từ phía sau lưng tôi, một cánh tay quàng lấy cổ tôi, quàng không thô bạo, không siết chặt, nhưng rất chắc, khiến tôi phải thả tấm mành rơi khỏi tay, và dùng hai tay nắm lấy cánh tay đang quàng cổ tôi. Tôi không nhớ rõ, nhưng rất có thể, tôi đã kêu lên. Cũng có thể tôi định cắn vào cánh tay lạ kia. Nhưng tôi còn nhớ rất rõ cảm giác gai gai xù xì của cánh tay áo cọ lên mặt tôi. Tôi đạp mạnh ra sau, tôi vùng vẫy, nhưng không thoát ra được khỏi cánh tay quàng quanh cổ. Tôi đành đứng yên. Cánh tay quàng quanh cổ tôi cũng không siết chặt thêm. Rồi đột nhiên, cánh tay buông tôi ra, không quàng lên cổ nữa, và tôi nghe tiếng anh Klaas hỏi: Mày làm gì ở đây, hả? - Anh Klaas à? Tôi hỏi hướng vào bóng tối. Anh Klaas à? - Mày xéo đi, mày phải về nhà ngay, rồi đừng thò mặt đến đây nữa. Tôi chỉ nghe thấy tiếng anh ấy thở hổn hển. Ai bảo với mày tao đang ở đây? - anh ấy hỏi - ai bảo với mày, hả? - Chẳng ai cả, tôi đáp, không ai nói với em anh ở đây cả, thật mà, em chỉ định mang bức tranh đến đây giấu thôi. - Bố phái mày đến đây, phải không? - anh lại hỏi. Tôi đáp: Không! Không mà.

Bố có ở nhà đâu. Người ta gọi bố đến Wattblick rồi. - Bố đang lùng tao đấy, anh Klaas nói. Lúc nào bố cũng lùng tìm tao. Bố đánh hơi thấy tao đang ở đâu đây. - Em đã hứa với anh rồi mà, tôi nói, em không cho ai biết bất cứ chuyện gì mà. - Hôm nay, anh Klaas nói, suýt nữa là lộ hết. Hình như bố đoán ra, tao nói cho mày biết, không biết ai mách với bố. Tao phải chuồn khỏi Bleekenwarf. Bố đã đứng ngay trước phòng tao trốn rồi. - Bố có trông thấy anh không? Tôi hỏi. Anh Klaas đáp: Chả biết nữa. Lúc bố chiếu đèn vào, tao nấp dưới bậu cửa sổ. Chả biết bố đã thấy những gì, nhưng nhất định đã có ai mách cho bố biết, rằng tao đang ở quanh đâu đây.

Anh tôi bước từ trong bóng tối ra, không gây ra tiếng động nào, anh ấy tiến về phía tôi, chân mang đôi giày may bằng vải buồm của bác họa sĩ tặng. Tôi nghe anh tôi đạp lên tấm mành cuộn tròn, dừng ngay lại, rồi từ từ nhấc chân lên. Cuộn mành cũng sột soạt dưới chân. Anh tôi cúi người, sờ soạng nhặt cuộn giấy lên, mở rộng ra một lát rồi lại để nó cuộn vào ngay. Lại đây, anh lệnh cho tôi. Tôi nghe lời, giữ chặt một đầu tấm mành như anh tôi bảo, còn anh kéo rộng nó ra, rồi lấy một thanh gỗ đè lên đầu kia. Anh tôi bật diêm sáng lên. Ánh sáng lung lay hắt từ dưới lên, khiến bóng chiếu trên mặt anh cũng lung lay động đậy. Anh hạ que diêm đang cháy soi xuống bức tranh, chậm rãi làm một vòng; lúc que này cháy hết, anh bật que khác: Cái gì thế này? - anh tôi hỏi. Anh không nhận ra ai à? - tôi hỏi lại anh. Nhận ra ai chứ? - anh tôi ngạc nhiên. Thì người đứng bên phải kia kìa, anh nhận không ra chắc?

Hoàng Đăng Lãnh (dịch).
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.