Hôm nay, ngày 25 tháng Chín năm 1954, tôi tròn hăm mốt tuổi. Chị Hilke gửi vào trại cho tôi một gói bánh kẹo, mẹ tôi gửi tặng một chiếc áo len thô, rất nhặm, ông giám đốc Himpel - theo lệ thường ở trại giam này - góp đôi cây nến cháy nhanh, còn lão Karl Joswig, viên giám thị chúng tôi vẫn ưa nhất ở đây ấy, hiến mười hai điếu thuốc lá và dành khoảng hai tiếng đồng hồ an ủi tôi. Vâng, với bấy nhiêu thứ như thế, mọi người những mong sẽ làm cái ngày tôi đến tuổi trưởng thành này dễ chịu hơn chút ít. Tôi mà không bị vướng với bài luận tôi phải viết cho xong, tôi mà đang có mặt cùng đám bạn bè - thay vì phải ngồi một thân một mình trong phòng giam ngột ngạt này - thì chỗ ngồi của tôi tại phòng ăn lớn của trại hẳn sẽ được chúng nó trang trí bằng vài bông cúc tây thân ngắn, cắm trong một cái lọ mứt nào đấy, và cả bọn sẽ phải đồng thanh hát một bài hát mừng sinh nhật do ông Himpel sáng tác theo mẫu nhạc gọi là mẫu canon, vâng, thì khẩu phần ăn của tôi chắc cũng sẽ được thêm một mẩu bánh ngọt, một miếng thịt, rồi hơn nữa, buổi tối họ sẽ cho phép tôi để đèn sáng lâu thêm một tiếng. Song, đâu có được như thế!
Từ hôm nay trở đi, tôi được tiếng đã đến tuổi trưởng thành, được tiếng là người lớn, nhưng đứng cạo râu trước chậu rửa, tôi vẫn chưa thấy có gì thay đổi cả. Tôi đọc lại phần bài luận đã viết, rồi vừa nhấm nhá bánh kẹo chị tôi gửi tặng, tôi vừa nhìn ngọn nến cháy nhanh và ngẫm nghĩ, thậm chí tôi hút trọn cả một điếu trong số thuốc anh chàng Wolfgang Mackenroth tuồn vào cho tôi, mà mãi vẫn chẳng nặn được ý tưởng nào ra hồn. Nhưng nhìn mãi vào mẩu nến khỉ gió, rốt cuộc, nó cũng buộc tôi phải nhớ lại và cân nhắc xem tôi đã thấy những gì ở chỗ ông ngoại tôi - nhà địa phương học thạo đời ấy - và lúc nào cũng chỉ làm tôi ngao ngán với các câu hỏi kiểu như: Mày là ai? Mày muốn gì? Mục tiêu của mày là gì? vân vân và vân vân. Rồi các kỷ niệm trỗi dậy nữa. Bữa ăn dưới biển trong ngày sinh nhật sáu mươi của Tiến sĩ Busbeck… Jutta đứng trên cái đu, người loang lổ bóng nắng… các trận thủy chiến của tôi, đến giây phút tìm thấy anh Klaas trong đống than bùn, và… đám ma bác Ditte.
Chìm sâu trong những ý nghĩ như thế, tôi cảm thấy không bị phá rối, lúc lão Joswig vào phòng tôi - có vẻ rụt rè, nhưng ra điều thân thiện - cất tiếng chào buổi sáng và chúc mừng tôi: Chúc mừng cậu gia nhập hàng ngũ người lớn nhé, Siggi. Lão mỉm cười, dốc thuốc lá từ tay áo rơi xuống mặt quyển vở của tôi. Lão ngồi ghé xuống mép giường của tôi. Lão chăm chú nhìn tôi khá lâu, không nói không rằng, với vẻ thông cảm, trong khi ở bên ngoài, trên mặt sông Elbe, buổi trời sang thu, dây chuyền gàu múc của cỗ máy nạo vét lạch cạch chạy lên chạy xuống; vâng, từ mấy hôm nay rồi, cỗ máy này thả neo trên sông, buông những cái gàu múc răng nhọn xuống đáy sông, rồi lại kéo lên, moi đầy một thứ bùn màu xanh đen lên, và phun xuống chiếc xà lan đỗ ngay bên cạnh.
Lão hỏi, nếu bây giờ lão báo tin cho tôi biết tụi bạn bè, kể cả thằng Eddi, đều đang rất mong tôi, thì tôi có chóng xong việc của tôi không? - Không, cũng chẳng chóng lên được. - Lão lại hỏi, trông tôi hốc hác, dễ cáu bẳn, hay sốt ruột thế có phải là do đề bài thầy Korbjuhn, tức là có phải do “niềm vui nghĩa vụ” gây ra không. - Vâng, có thể là do đề tài này lắm. - Liệu tôi bây giờ có muốn chặc lưỡi, cứ thế ném xoạch tất tật cho ông Himpel để chấm dứt mọi chuyện không. - Bởi niềm vui nghĩa vụ còn kéo dài, còn chưa kết thúc, thì tôi không thể một chốc một lát vứt bỏ hết đi được.
Chuyện trò đến đây thì lão Karl Joswig đưa hai tay vuốt lên mặt một cái, hạ ánh mắt nhìn xuống đất, gật gật đầu tán thành với tôi. Chẳng những tán thành, lão còn khen ngợi sự kiên nhẫn, vâng, sự bướng bỉnh của tôi. Nãy giờ lão hỏi chỉ để cốt thử xem tôi kiên định đến mức nào thôi, lão nói. Phạt là phạt, Siggi ạ. Niềm vui nghĩa vụ rất đa dạng, lắm hình, nhiều vẻ, nên cũng rất đáng xem xét nó cho đúng. - Đa dạng nghĩa là thế nào ạ? - tôi hỏi, và lão Joswig đáp: Chà, nếu cậu hiểu ý tôi muốn nói gì. Vì tôi nói tôi không hiểu ý lão thế nào, nên lão nói tiếp: Thế thì cậu nghe đây. Rồi lão kể tôi nghe một câu chuyện để tùy tôi, muốn làm gì với nó thì làm. Lão bảo, nếu câu chuyện giúp ích được cho cậu, thì cậu cứ dùng! Bởi nó cũng dính dáng đến niềm vui nghĩa vụ và dính dáng đến thằng cháu ta, ở bên Hamburg bên kia kìa, trong một hội bơi thuyền hồ Alster, ừ, chuyện thế này.
Dạo ấy, trong hội bơi thuyền Hamburg có đội thuyền tám người mang số hiệu Không Hai; người ngồi mũi thuyền cầm trịch, họ Pfaff, nhưng anh ta rất nổi tiếng trong vùng, và ai cũng chỉ gọi anh ta ngắn gọn bằng tên thân mật “Fiete”. Đã từng có rất nhiều tấm ảnh chụp anh ta, ví dụ, đang lúc anh ta cởi áo thể thao tặng ai đó trong số người hâm mộ; anh ta vốn là một vận động viên thẳng thắn và trung thực, song lại mắc cái tật hám tiền, cứ chạm đến tiền - cả tiền của người khác mới khổ - là bám chặt lấy. Tật này, có muốn giấu cũng không giấu được. Lần ấy, có cuộc thi đấu loại để tham dự Giải vô địch, được tổ chức ở Alster, và tất nhiên, dân Hamburg lại đặt hết hy vọng vào Fiete; xung quanh hồ Alster ai cũng hân hoan như mở hội, cảnh sát đường thủy chặn các ngả để dành lối cho cuộc thi. Tên tuổi Fiete ai chả biết, kể cả cảnh sát. Mới đầu chỉ là cuộc thi các thuyền nhỏ, ít người xem, bởi trọng tâm của cuộc thi bao giờ cũng là cuộc thi thuyền tám người chèo diễn ra sau. Thôi được rồi, ta nhắc lại câu chuyện từ đầu, là một dạo có gã đội trưởng đội bơi thuyền to con, tính tình thẳng thắn, tên là Fiete Pfaff; lần ấy, trước cuộc thi, hắn tiếp một vị khách, tướng mạo quý phái, rất lịch sự, nhưng cũng rất khắt khe, không chịu nhân nhượng chút nào; vị này tỏ ra nắm rõ các thói hư tật xấu, lẫn các ham hố của gã Fiete, và lúc vị khách này chia tay, gã Fiete thề sống thề chết với ông ta, giữa chừng cuộc đua sẽ lăn ra bất tỉnh; hắn cam đoan, với một kẻ vô danh tiểu tốt, khán giả sẽ chẳng tha thứ đâu, nhưng đối với một thần tượng như hắn, người ta chắc chắn sẽ bỏ qua thôi.
Bây giờ ta cho thuyền vào cuộc thi được rồi. Thì vẫn một cảnh tượng như mọi khi, nghĩa là, những người giúp việc nằm sấp, giữ chặt các con thuyền, và đến khi hiệu lệnh xuất phát vang lên, thì các con thuyền thon nhẹ, bóng nhẫy nước sơn, với bốn mươi sáu mái chèo, liền xông lên phía trước trên mặt nước hồ hầu như không gọn sóng, giữa tiếng hô của những người cầm trịch cũng như tiếng hò reo cổ vũ của khán giả. Mới đầu, các thuyền đều ngang nhau, nhưng sau đó, lúc con thuyền đối phương - phải, đến ta cũng gọi là thuyền đối phương rồi đây - bắt đầu tăng nhịp chèo, thì Fiete Pfaff cùng đồng đội của gã cũng tăng nhịp và vượt lên trước. Rõ ràng, họ muốn về nhất. Những người điều khiển thuyền dáng người thon thả dùng máy phóng thanh gắn sẵn trước miệng để cổ vũ các đồng đội; còn các vận động viên ngồi dính chặt trên những chiếc ghế trôi lên trôi xuống trong lòng thuyền, và vung mái chèo dài ngoằng chém xuống nước; cách di chuyển của các vận động viên rất quan trọng, và không ai di chuyển uyển chuyển như Fiete Pfaff cả. Làm được như gã, ngoài tập luyện, còn phải có tài nữa.
Thuyền đã bơi được tám trăm thước, rồi một ngàn hai trăm thước, bây giờ nhẽ ra đã đến lúc người ngồi cầm trịch phải lăn ra bất tỉnh rồi đây, và như thế, sẽ phân thắng bại cuộc đua. Thế nhưng, chuyện gì vậy? Thay vì phải làm cho nhịp chèo rối loạn, và nằm gục người ra trước ra vẻ bị ngất xỉu, thì Fiete có vẻ lại mỗi lúc một khỏe thêm. Mái chèo gã vung lên trông như thể gã đang tràn ngập niềm vui, hay ít ra, hắn có vẻ đã quên khuấy những lời hắn thề thốt với vị khách lịch sự nhưng không khoan nhượng nọ; như mọi lần, hắn là tấm gương cho toàn đội mà lại. Nếu bây giờ cậu mà hỏi ta, cái gì khiến hắn ta quên hết cả những gì đã thề thốt, để lại hăng máu, muốn giành phần thắng cho đội mình như thế, thì cậu phải biết ngay, rằng đó chính là niềm vui nghĩa vụ vậy. Cậu thấy không! Vào thời khắc đó, không còn gì là đáng kể nữa, đúng rồi, không còn gì đáng để nói nữa cả, đúng ở thời điểm đó, một khi đã ngồi lên thuyền, đã nắm lấy mái chèo, đã nghe tiếng thở của đồng đội bên tai, đã nghe tiếng hò reo của khán giả bên bờ Alster, thì hắn ta không còn lựa chọn được nữa, hắn ta phải hòa nhập vào không khí chung, hay nói cách khác, hắn ta phải thi hành những gì nghĩa vụ đòi hỏi hắn.
Thế đấy, ta nói lại, hồi xưa có một gã cầm trịch đội chèo thuyền tên là Fiete Pfaff, một gã đàn ông to lớn, mạnh mẽ, nhưng yếu lòng, hắn bị ép, giữa một cuộc thi đấu phải giả vờ bị ngất, thế nhưng, một lô nhằng nhịt các nghĩa vụ đã trói chân trói tay hắn ta, không cho hắn giở trò, mãi đến lúc gần đến đích, còn đúng hai trăm thước, thì mới xảy ra chuyện khiến khán giả phải ồ lên và các quan chức phải đứng bật dậy là Fiete bị ngất xỉu, hắn diễn rất thật, nằm gập người ra phía trước, đội thuyền của hắn lập tức bị loạn nhịp chèo, đối phương thắng. Có tin gã được không? Phần đông Ban lãnh đạo Hội đều tin gã bị bệnh thật, đến ngay cả khi nội dung cuộc chuyện trò giữa Fiete với vị khách lịch sự nọ bị lộ ra rồi, họ vẫn muốn trông cậy vào gã, vẫn muốn mời hắn tham gia đội đua thuyền tám người. Nhưng chính Fiete lại không muốn nữa, hắn tự thấy hắn không thể, không được phép tham gia đội đua thuyền, hắn tự nhận hắn có trách nhiệm phải rút lui khỏi đội, và rốt cuộc, hắn rút lui thật.
Lão Joswig ngừng nói, chờ xem tôi sẽ phản ứng thế nào, nhưng tôi vẫn im lặng, bởi tôi đang mải tưởng tượng lại câu chuyện của lão như một cuốn phim chiếu trên màn ảnh. Tôi chỉ coi nó như một cuốn phim thôi.
Cậu thấy không, lão hỏi, cậu có thấy niềm vui trách nhiệm có thể xô đẩy con người ta đến đâu không? Có thể xui khiến con người ta thế nào không? Và, bằng một cử chỉ mời mọc, như muốn nói, cậu cứ việc nói xem nào. Tôi nói: Đó chính là các niềm vui trách nhiệm mà thầy Korbjuhn muốn thấy; nhưng các nạn nhân của trách nhiệm thì khác; người ta không nói đến nạn nhân bao giờ. Lão Joswig đứng dậy khỏi mép giường, đặt tay và xoa xoa lên vai tôi với vẻ nể nang: Cứ nghe lời cậu là đủ biết cậu đã đến tuổi trưởng thành rồi. Rồi lão trịnh trọng cho phép tôi được hút thuốc hết ngày hôm nay, vỗ nhè nhẹ lên gáy tôi. Ra đến cửa, lão ngoái lại hỏi: Cậu không muốn xin nghỉ nốt ngày hôm nay à? - Nghỉ làm gì ạ? - Thì, hôm nay cậu chả tròn hăm mốt là gì. Là đến lúc người ta nghĩ đến trách nhiệm, đến lúc bắt đầu tự đặt câu hỏi này, câu hỏi khác, người ta bắt đầu đi dạo chỗ này, chỗ nọ. Lúc ta vừa tròn hăm mốt, Siggi ạ, ta ngấp nghé nghề thanh tra rồi đấy. Đó cũng là tuổi để xuất ngoại, chẳng hạn. Lúc tròn hăm mốt tuổi, người ta chọn một thứ gì đó trong vô số các dự định người ta có trong đầu, người ta quyết định làm nghề gì đó, như nghề gác viện bảo tàng chẳng hạn. Cậu hiểu ý ta chứ? Tròn hăm mốt là người ta bắt đầu có trách nhiệm với cái gì đó, người ta bắt đầu phải trả nợ đấy! Cây nến trên bàn sinh nhật hăm mốt tuổi của cậu cháy hết lúc nào, thì cậu chính thức trở thành người lớn lúc đó.
Lão Joswig nói với tôi những lời như thế đấy, những lời mà tôi thật tình không tin là do chính lão thốt ra, song, do hiểu ý lão muốn nói gì, nên tôi nhịn, không hỏi lão các chi tiết liên quan đến đời tư của lão, khiến lão có thể khó chịu. Tôi chỉ gật đầu ngoan ngoãn, cố làm ra vẻ đăm chiêu nghĩ ngợi, mắt nhìn không chớp vào cây nến đang cháy rất nhanh và hơi nóng bốc lên làm khói thuốc lá tôi hút bay lên trần. Tôi không ngắt lời lão trong lúc lão tuôn hàng tràng những lời khuyên bảo và cảnh báo như thế. Trước khi rời khỏi phòng, lão đi thêm một vòng quanh bàn và quả quyết, giống như thợ săn, lão đã đánh hơi thấy thành công sắp tới của tôi.
Không biết lão đánh hơi thấy cái quái gì? Phần tôi, tôi chỉ biết, cứ vào phòng tôi, bao giờ lão cũng mang theo một thứ mùi thuốc khử trùng hăng hắc; không chừng trước khi đặt chân đến một phòng giam nào đấy, lão phải lén phun thuốc lên người để phòng thân cũng nên. Chẳng biết thực hư thế nào, nhưng lần nào cũng như lần nào, lão cứ đi khỏi, là tôi lại phải mở cửa sổ thông gió cho phòng tôi mất một lúc.
Chà, con sông Elbe! Sang thu, dòng nước sông trôi qua đây sao mà ngầu đục; phía bờ bên kia sương mù buông xuống che khuất hẳn cả một vùng đất. Các ngọn cây nhô lên, như nhô lên từ một cánh rừng ngập lụt, tiếng máy diesel nổ nghe chỉ khẽ khàng như mạch tim đập, các tiếng động từ bến cảng không còn vọng lại, và những tiếng lạch cạch của dây chuyền các gàu múc bùn của cỗ máy nạo vét lòng sông chẳng còn vang đến đây nữa. Các luồng ánh sáng, mờ đục, chậm rãi trườn qua, như muốn báo hiệu mọi vận động đang trở nên khó nhọc thế nào. Tầng trên của các con tàu thủy trôi qua, lơ lửng, như thể không chạm đến mặt nước sông. Đối với tôi, đó chính là những khoảnh khắc, nếu không phải là đáng xúc động nhất, thì cũng là những khoảnh khắc ly kỳ hồi hộp nhất trên sông Elbe, những lúc mà màn sương mù trắng muốt buông xuống cùng màn đêm, khiến cho vạn vật hai bên sông trở nên vô cùng bí hiểm.
Tự tôi, tôi cũng nhận ra là tâm trạng ngày sinh nhật đang có vẻ muốn chi phối tôi, cùng tâm trạng tự thỏa mãn với chính mình, nhưng tôi cũng biết, tôi phải quay về, phải lặn xuống lục địa Atlantis của một mình tôi, lôi hết mảnh ký ức này đến mảnh ký ức khác lên bờ. Thời gian đang giục giã, nghĩa vụ đang thôi thúc; nói cho cùng thì hăm mốt năm đã là gì, so với vị thuyền trưởng Andersen, một cụ già mà hồi đầu năm ngoái, vừa ăn mừng sinh nhật một trăm lẻ hai tuổi hôm trước xong, hôm sau - tức là vào ngày đầu tiên của tuổi một trăm lẻ ba - tuy vẫn còn chuếnh choáng hơi men, cụ đã tham gia vào bộ phim tài liệu Con người và thiên nhiên vùng ven biển hiện giờ đang được đem chiếu khắp nơi đó. Dòng sông Elbe, cùng mọi vật trên sông, cũng như sương mù phủ xuống mặt nước và đôi bờ kia, thì dính dáng gì đến tôi mới được, Cánh vận động viên bơi thuyền đã buộc chắc thuyền họ từ lâu dưới những lùm cây xơ xác lá. Nằm xiên xiên dòng nước chảy, chiếc xuồng máy cuối cùng đang ì ạch bơi ngược dòng. Nó chẳng làm tôi quan tâm. Tôi chẳng quan tâm ai sẽ góp phần bao nhiêu và như thế nào vào các phát hiện mà con tàu nghiên cứu biển đang rời đi kia một ngày nào đó sẽ mang về. Tôi chỉ cần biết kết quả thử mẫu đất, mẫu nước ở Rugbüll là đủ. Đó mới là nơi tôi tung lưới thu vớt đủ thứ sinh vật phù du của tôi, đó mới là nơi tôi sẽ thu gom những gì được vớt lên.
Như mọi khi, tôi cứ mở lưới ra là bố tôi hiện ra trước tiên. Sau khi được họ thả khỏi trại giam, ông lại giữ chân nhân viên cảnh sát Rugbüll, chân trước đây ông từng giữ và bất kỳ ai sống ở vùng nằm giữa Glüserup và đại lộ Husum cũng cầm chắc là ông sẽ tiếp tục giữ. Chân cảnh sát Rugbüll chỉ khuyết đúng có ba tháng; sau ba tháng đó, ông lại xuất đầu lộ diện, với gương mặt khô khan tẻ nhạt cùng chiếc quần rộng thùng thình, và đứng ra giữ nhiệm vụ cũ một cách hết sức thản nhiên, như thể ông vừa đi nghỉ phép ở đâu đó ít lâu, không phải do ai bắt ông phải nghỉ, mà hoàn toàn do ông tự nguyện. Duy có bánh chiếc xe đạp công vụ là ông phải bơm lại, vì suốt cả thời gian ông đi vắng, nó bị xì hơi, nằm bẹp gí một chỗ. Sau khi mẹ tôi tháo giúp ông cái vật nho nhỏ, tức phù hiệu mang hình con đại bàng, ra khỏi mũ cho ông, thì tự tay ông, ông tháo nốt cái phù điêu, rồi quẳng cả hai, cả hình con đại bàng lẫn phù điêu - không phải vứt hẳn đi - mà quẳng vào một cái hộp thiếc, rồi nhét hộp thiếc đó vào ngăn kéo bàn giấy, khóa lại. Và, cũng đúng ngày hôm ấy, trước khi ông được chính thức tái bổ nhiệm, ông đã nhảy lên yên xe đạp, phóng lên đê, để gặp bất kỳ ai, ông cũng dừng lại, kể lể bằng những lời lẽ y như nhau, những cử chỉ chán ngán y như nhau, về thời gian ông đi vắng. Phải, phải, ở trại Neuengamme. Ở đấy, không phải cái gì cũng tồi tệ cả đâu. Ăn uống thế nào à? Không có gì phải chê cả; họ đối xử nói chung đàng hoàng, vân vân và vân vân.
Không lần nào ông tỏ ra muốn bỏ công nghĩ thêm một lời khác để chua vào câu chuyện, hay ít ra, cũng bỏ bớt những lời ông dùng đã quá nhàm; vâng, đúng thế, cứ bao giờ ông kể lại những gì ông trải qua ở trại giam, thì lần nào cũng như lần nào, với bất cứ ai, ông đều lặp đi lặp lại y những lời, những câu nói như nhau. Phải, đúng vậy, từ trại giam trở về, ông lại tiếp tục những gì ông bị buộc phải ngắt quãng giữa chừng, tiếp tục theo cách của ông, theo trình tự vốn có của ông. Ông ghi chép vào sổ trực ban, ông chẻ củi, ngày ngày ông đeo súng ngắn đạp xe đến Glüserup, rồi nạp súng ở đó, ông đào một góc vườn lên, nơi ông tính sẽ trồng thuốc lá, và cũng trồng thật, ông đến quán Wattblick nắm tay, kéo chị Hilke đang dự bữa tiệc phải về, kéo mạnh đến nỗi sái cả tay chị, ông nhiều lần lên Husum nhận tài liệu Điều lệnh mới của nhân viên cảnh sát đem về, rồi chẳng buồn đọc, mà đem khóa luôn vào ngăn kéo, ông đi tuần quanh vùng bằng xe đạp. Rồi, vào một buổi sáng, sau bữa điểm tâm, rốt cuộc cũng đến “việc thằng Klaas”.
Lần này, tôi không có cớ để kể xem bữa sáng hôm ấy có những gì - thì cũng vẫn cháo yến mạch, vẫn bánh mì phết mứt mận và bột ngô rang giả cà phê, như mọi khi thôi. Cả nhà ngồi ăn, nhanh chậm khác nhau, ai nấy đều lặng im, người này kín đáo để ý xem người kia ăn mấy lát bánh mì, trong khi đó vẫn người nào nghĩ việc người nấy, tức là, hoặc chẳng nghĩ gì, hoặc nhớ lại những chuyện mình đã nghĩ từ trước. Đang lúc như thế, thì bố tôi bỗng lên tiếng bảo chị Hilke: Đem ảnh nó ra đây! Chị tôi vốn bao giờ cũng thế, cứ đưa thìa lên miệng là lại cắn răng vào đấy, nghe kin kít, ken két, nên không nghe ra bố tôi nói gì; đến lúc bố tôi nhắc lại mệnh lệnh lần nữa, thì chị tôi lại còn cắn răng vào thìa chặt hơn nữa, rồi nguyên thìa trong mồm, cháo mắc trong cổ, giương to mắt như mắt bò, nhìn trân trân, có vẻ không hiểu bố tôi muốn gì. Thằng Klass, bố tôi nói, đem cái ảnh nó ra đây. Chị Hilke tôi buông tay khỏi cán thìa, nhưng vẫn ngậm, đứng dậy với vẻ hoang mang, đưa mắt hỏi lần nữa, vì mồm đang ngậm thìa, không nói được; rồi chị ra ngoài, một lát sau quay lại, đem theo bức ảnh anh tôi lồng trong khung - bức ảnh nằm trong ngăn kéo tối om, từ lâu đã không được ai để ý.
Bố tôi giật khung ảnh khỏi tay chị Hilke, đặt nó nằm úp mặt xuống nóc chạn thức ăn, bên cạnh cái đồng hồ báo thức, và dùng nốt bữa sáng, rồi ông kiên nhẫn ngồi yên chờ cả nhà cũng ăn uống xong xuôi. Sau đó, ông bảo chị em tôi dọn bàn. Thì dọn! Tôi vẫn nhớ, tôi đếm có cả thảy bốn cái thìa. Bát đĩa bẩn chúng tôi dồn vào chậu rửa, xong đâu đấy, tôi lau sạch mặt bàn. Viên cảnh sát mấp máy môi, chắc là để lựa câu chọn chữ, liếc nhìn mẹ tôi một cái với vẻ lo âu; nhưng mẹ tôi không nhìn đáp lại, chỉ đăm chiêu dùng lưỡi đưa đi đưa lại giữa hai hàm răng, như muốn kiểm tra xem có chỗ nào bị hổng không. Bố tôi hất tay ra hiệu bảo chị em tôi ngồi xuống, nhưng chính ông lại đứng lên, với tay cầm lấy khung ảnh, dựng đứng lên bậu cửa sổ, rồi nhìn xoáy vào đó, nhưng trong ánh mắt ông, vẻ trách móc thì ít, mà vẻ khích lệ lại nhiều hơn, như thể ông đang muốn lôi anh Klaas bằng da bằng thịt từ trong bức ảnh ra ngoài. Nó phải nghe ta nói đây, bố tôi nói, hay ít ra nó phải có mặt ở đây lúc này, dù chỉ trong ảnh thôi cũng được.
Tôi hồi hộp, căng mắt nhìn dán vào bức ảnh. Bố tôi nắm hai tay vào lưng ghế, đứng thẳng người, đầu ngửa ra, mắt nhìn thẳng vào anh Klaas trong ảnh, rồi cất tiếng nói: Bây giờ phải làm cho rõ chuyện, cả với anh nữa, ta cũng phải nói cho hết chuyện, chúng tao không im lặng mãi được, chúng tao nghĩ thế nào thì chúng tao phải nói ra như thế, dù chỉ một lần thôi, cũng phải nói cho rõ ra. Bây giờ cả nhà ta ngồi đây, vì ta phải thanh toán cho xong chuyện đó với nhau. Cả nhà ai cũng biết anh đã gây ra chuyện gì, phải, thời buổi đã đổi thay, có thể như thế lắm, nhưng chuyện anh gây ra thế nào, thì vẫn là chuyện do anh gây ra thôi.
Ông ngắt lời, lấy ngón cái và ngón giữa bàn tay ấn nhè nhẹ lên hai bên mu mắt. Nhân lúc đó, mẹ tôi xích lại gần bàn hơn và ngồi thẳng lưng ra. Chị Hilke kín đáo gãi gãi lên đầu gối. Lúc buông tay xuống, viên cảnh sát thở dài đánh sượt; ông nhìn vào tấm ảnh, lắc đầu, rồi nói tiếp: Ta phải chấm dứt thôi, ta phải chấm dứt câu chuyện này ở đây, để đi đến phán quyết. Ở đấy, trong trại giam ấy, ta cứ phải nghĩ đi nghĩ lại mãi, xem nó đã đổ cái gì lên đầu lên cổ ta. Ta phải nghĩ mãi đến chuyện nó về quê mà không lần nào nó đặt chân vào cái nhà này. Cũng không một lời xin lỗi. Nó làm nhục cả nhà, rồi không nói lấy một lời xin lỗi. Ở đằng kia, bên nhà kia, tại Bleekenwarf ấy, nó nằm lì ở đó bao nhiêu lâu trước khi bỏ đi Hamburg. Mà không thèm nói lấy một lời. Thì người ta cũng phải nói ra với nhau những gì cần phải nói chứ. Cũng phải làm cho rõ mọi chuyện ra chứ.
Cứ một lối nói như thế, ông làm mãi một thôi; ông kể lể trước tấm ảnh, cho anh Klaas nghe những gì mà dường như anh đã gây ra cho cả nhà; ông không nhắc đến các hoàn cảnh có thể làm nhẹ tội anh tôi, có lẽ vì ông không thấy có hoàn cảnh nào như thế cả, ông nói thẳng vào tấm ảnh, và cho nó thấy rằng một gia đình cũng có thể giữ vai trò một phiên tòa lắm, và phiên tòa ấy sẽ tuyên phạt. Nghe đến đây tôi đâm lo, và cố tưởng tượng xem liệu hình phạt sẽ thế nào: Không lẽ bố sẽ nhốt anh Klaas xuống hầm suốt cả năm hay sao? Hay bố sẽ bắt anh ấy uống cạn chai thuốc trừ sâu trước mặt mọi người trong nhà? Tôi cũng nghĩ đến việc bố tôi sẽ bắt anh ấy nhảy từ trên cối xay gió xuống để chuộc hết tội lỗi, hoặc bắt anh ấy tự treo cổ lên tấm biển “Chốt cảnh sát Rugbüll”. Hay bố sẽ không phạt nặng như thế? Bố chỉ dừng ở mức bắt anh tôi suốt đời làm bếp thôi là đủ? Hay phải đi đào than bùn suốt năm mùa hè thôi?
Chắc sẽ không có ai lấy làm ngạc nhiên lắm, nếu tôi kể thêm rằng ông cứ lần chần mãi, chưa xướng ngay quyết định cuối cùng của phiên tòa là gì; tuy không thích nói năng dài dòng, tuy phải khó nhọc thế nào đó mới cất được nên lời, ông vẫn con cà con kê, rườm rà nhắc lại cho cả nhà - và cho cả chính mình - nghe mãi về cái tội anh Klaas tự gây thương tích cho mình ra sao, về vụ anh ấy bỏ trốn rồi bị bắt trở lại thế nào, và cuối cùng, về chuyện anh ấy dứt khoát không chịu về nhà ra làm sao; xong xuôi đâu đấy, ông mới thật sự bắt tay thi hành phận sự: ông bảo chị Hilke đưa khung ảnh cho ông, ông tháo bức ảnh ra khỏi khung, ông đặt nó lên bàn, ông ra lời tuyên án.
Tôi hơi ngạc nhiên, bởi vì tôi có cảm giác, hình phạt không đến nỗi quá nặng nề như tôi lúc đầu lo ngại: Anh Klaas bị cấm cửa, không được về nhà nữa. Hãy nghe đây, bố tôi nói, ta còn sống ngày nào, thì nó không được bước vào nhà bố mẹ nó ngày ấy! Thêm nữa, hai chị em tôi bị cấm, không được nhắc đến tên anh Klaas, thậm chí không được nghĩ đến anh ấy. Hai đứa chúng mày, cả đến nhớ nó, chúng mày cũng không được nhớ, nghe không? Nói xong, bố tôi xé vụn bức ảnh, ném các mảnh vụn vào lò bếp. Mẹ tôi đứng dậy - hình như bà đã biết trước mọi sự rồi, tôi đoán, có lẽ bà đã bàn tính trước với ông rồi. Bà phủi vụn bánh dính trên váy xuống, thản nhiên đi vào góc phòng chứa thức ăn, lấy một tấm bìa cứng đậy lên lọ mứt, rồi mở chai nước ngọt ra. Chị Hilke với tôi vẫn ngồi yên tại chỗ, đến liếc nhìn nhau hai chị em còn chẳng dám, chứ nói gì đến thì thào đôi tiếng. Còn viên cảnh sát thì sao? Ông ta vừa lên dây cót cho chiếc đồng hồ báo thức, hay đúng hơn, ông đang lúc chuẩn bị lên dây cót cho con quái vật cổ lỗ sĩ, có tiếng chuông đáng ghét vô cùng, nhưng vẫn còn chạy ngon lành, chỉ đúng giờ, đúng phút ấy, thì bỗng dưng, tay ông quay chậm, lại, mỗi lúc một chậm, rồi ông dỏng tai lên nghe ngóng, nghếch mũi lên đánh hơi, với một vẻ xúc động lạ lùng, giống hệt vẻ xúc động mà dạo nào, lần đầu tiên chị em tôi thấy ở ông, tại Külkenwarf, vào buổi tối hôm ấy, buổi tối dành cho biển và quê hương, hay đúng hơn nữa là, buổi tối dành cho vùng biển quê hương ấy.
Vâng, bộ tôi dỏng tai nghe, dường như ông phát hiện ra cái gì ở đâu đó. Tay ông run rẩy. Ông đặt chiếc đồng hồ báo thức vào chỗ cũ trên nóc chạn, móc ngón tay vào dây đeo quần, xoay bên này, xoắn bên kia, không yên tay. Ông nghe ngóng cái gì vậy nhỉ? Ông nghiêng đầu, hướng về căn phòng tôi trên gác. Có ai trên đó đâu? Một áp lực, một áp lực vô hình nào đó thì phải, dường như đang đè nặng lên ông, khiến ông đứng không vững, phải dựa lưng vào tường một lát. Rồi sao nữa? Mồ hôi đổ ra lấm tấm trên trán, phải rồi, môi trề ra… mắt ông mở to, nhưng tôi dám chắc, ông không thấy gì, chỉ lờ đờ. Dường như ông vừa phải dồn sức chống lại một cái gì đó, nhưng rồi đành chịu thua, và không ai giúp ông được. Rồi ông mấp máy môi, nói nhát gừng với chính mình cái gì đó nghe không rõ, đoạn ông gật đầu lia lịa, như thể muốn nói, dạ, dạ, tôi xin nhận hết ạ. Đoạn, ông lảo đảo bước ra ngoài hành lang, khoác áo ngoài, đeo thắt lưng, đội mũ. Ngồi bên bàn ăn, chúng tôi ngơ ngác nghe tiếng ông chạy bổ ra nhà kho, giật mạnh chiếc xe đạp của ông khỏi chỗ dựa. Lần này, ông cứ thế đạp đi, không nói vọng vào nhà câu chào thường lệ.
Nhưng các vị đừng vội nghĩ rằng mẹ tôi - lúc bà từ trong góc nhà quay lại - sẽ nhận ra ngay là bố tôi đi rồi đâu; mãi đến lúc, tuy mẹ tôi không hỏi gì, chị Hilke vẫn nói: Hình như bố lại mơ mơ thế nào ấy rồi, thì mẹ tôi mới ngước mắt nhìn chúng tôi, một thoáng rất nhanh thôi, rồi lại bình thản bật đài lên, và trong tiếng nhạc bài hát “con đom đóm, con đom đóm”, bà quay ra rửa đống bát đĩa còn chất trong chậu. Chả còn thêm chuyện gì ở đây nữa đâu. Tuy tôi cũng có ý chờ xem còn có gì xảy ra nữa không, nhưng mãi chẳng thấy gì, nên tôi bèn từ từ chuồn khỏi bếp lên phòng, căn phòng mà từ nay, do anh Klaas bị cấm cửa, sẽ mãi mãi thuộc về một mình tôi.
Trong phòng này, lâu nay vẫn kê một cái giá ở trong góc để xếp đồ đạc của anh tôi. Tôi kéo tấm rèm mỏng sang một bên; ở ngăn dưới cùng là một cái hộp các tông có buộc dây mà tôi đã có lần hứa với anh ấy, tôi sẽ không bao giờ tự ý mở ra. Tôi đã luôn giữ lời hứa suốt thời gian anh tôi đi vắng; hay nói cho đúng, thì cũng đã ba bốn lần tôi định mở nó ra thật, nhưng lại thôi. Nhưng bây giờ, bỗng dưng sao mà “nóng” thế, cái hộp cứ như thể tự nhấc lên cao, tự cởi dây, và tôi chẳng phải làm gì, hay hầu như chẳng phải làm gì nữa, mà nắp hộp vẫn tự mở ra, ngay trên giường tôi mới khổ chứ, để nếu cần, tôi có thể giấu biến đi ngay, nên tôi đành lôi các thứ anh tôi cất giữ trong đấy và giao cho tôi trông coi ra xem. Dưới bếp, mẹ tôi cùng chị tôi đang loay hoay dọn dẹp. Còn bố tôi thì đi vắng rồi.
Không có lẽ anh tôi, vào lúc anh bị cấm bước vào nhà này như bây giờ, không muốn tôi mở hộp các tông của anh ấy ra, và đem cất giấu những thứ quan trọng đối với anh vào nơi nào an toàn hơn hay sao? Chắc chắn là anh tôi muốn như thế rồi. Cho nên, tôi cứ thế lôi hết các thứ trong hộp ra, ngắm nghía, xem xét. Tôi còn nhớ, trong hộp tôi thấy có một cái lọ thủy tinh đựng vỏ sò, vỏ ốc đã được lựa chọn và tẩy trắng, cây súng cao su và quyển sách Người trồng vườn trẻ tuổi, một chiếc khăn tay bẩn, dính máu, quyển vở làm văn, nhiều mẩu dây thừng; tôi cũng nhớ trong hộp các tông còn có một cái túi con đựng mấy hòn đá nhọn loại “lưỡi dao thần sét”, một cái hộp đựng một lô các chú lính chì - chú nào cũng còn nguyên vẹn, không sứt sẹo - một cái giá cắm nến tự làm, chắc là do bác họa sĩ cho anh ấy; một bức ảnh chụp lớp anh ở trường, mười tám anh, năm chị tóc tết đuôi sam dài, một bức phác thảo của bác họa sĩ cho bức tranh Người hái táo - tôi nhét ngay nó xuống gối ở giường tôi - và một con dao con, cán nạm xà cừ. Và, tất nhiên, tôi còn nhớ cả tập thư buộc dây; nếu đấy là thư người lạ, thì tôi đã chẳng mở ra đâu, nhưng vì đây lại toàn là thư mang nét chữ của anh tôi, mà lá nào cũng gửi cho chị Hilke cả, thì hẳn là tôi đọc được. Thư nào cũng là thư trách móc và dọa thế này, dọa thế nọ. Anh trách chị hẹn mà không đến - đến ao than bùn, ra bãi biển hay cột hải đăng - rồi anh dọa chị sẽ “chấm dứt” mọi chuyện, nếu lần sau chị vẫn hẹn mà không đến như thế. Có một bức thư anh nhắc đến kỷ niệm chung của hai anh chị ngoài bãi biển - vào mùa hè năm nào tôi không nhớ nữa - lúc hai anh em cùng nhìn thấy hai người lạ, một đàn ông, một đàn bà, giữa các cồn cát trên bán đảo; mới đầu hai anh em chỉ theo dõi thôi, về sau thì bám gót họ một đoạn dài.
Tôi lôi hết các thứ trong hộp các tông ra, tôi tuồn một vài thứ, trong đó quan trọng nhất là phác thảo bức tranh Người hái táo, sang góc của tôi; đang lúc như thế, thì dưới nhà có tiếng chuông điện thoại. Tôi dừng tay, lắng nghe. Chị Hilke nhấc máy, nói như mọi khi chị vẫn nói vào máy: Tôi Hilke Jepsen đây, ai nói ở đầu kia đấy? Sau đó, tôi chỉ còn nghe một tràng Không ạ, Vâng ạ, rồi lại Vâng ạ, Không ạ. Sau đó, lúc nghe tiếng chân chị tôi vội vã quay lại bếp, thì tôi đã đoán ra ngay là có ai đó cần nói chuyện với bố tôi. Tôi chỉ vừa kịp đóng hộp các tông, buộc dây, cất vào chỗ cũ, thì chị tôi đã lại sồn sồn lên rồi: Siggi, xuống đây chị bảo. Nhanh lên nào, Siggi! Tôi chẳng còn đường nào khác là lại tụt cầu thang xuống dưới nhà. Chị Hilke đang chờ tôi dưới chân cầu thang. Không biết có phải do ánh mắt tôi nhìn chị quá soi mói, dò hỏi hay không, mà chị tôi bỗng miễn cưỡng lùi lại, và thay vì giao việc ngay cho tôi, lại nói tướng lên: Mày nhìn kiểu gì thế? Đừng có mà nhìn như thế nhá, mày nhìn gì mà nhìn như chị vừa làm gì mày không bằng. - Em muốn nhìn chị thế nào, thì em nhìn như thế chứ, tôi đáp. Nhưng chị ấy vẫn chưa chịu thôi: Cơ mà không nhìn như thế, mắt mày lạnh như băng thế kia kìa. - Thôi, chị muốn gì em, thì nói đi, tôi sốt ruột giục.
Hóa ra là sắp có chuyện gì đó ở Bleekenwarf, kíp đến nơi rồi, bởi hai ba tiếng nữa, sẽ có khách cấp cao, có khi cấp cao nhất bang cũng nên, cỡ Tổng thanh tra gì đó, nghĩa là các quan chức to, họ muốn gặp ông Nansen làm gì không biết, và cảnh sát khu vực phải có mặt ở đấy. Nhanh lên, Siggi, mày phải báo cho bố biết người ta vừa gọi điện đòi bố phải sang bên Bleekenwarf ngay. Mà thôi, đừng có mà nhìn chị như thế, chị nói rồi đấy, chị không thích mày nhìn như thế đâu, hiểu không. Ánh mắt tôi làm chị hoang mang, bối rối, đến mức chị phải bước ra trước chiếc gương treo ở hành lang, soi mặt mình trong gương, quay người, soi bên này bên kia, đầy vẻ ngờ vực, xem có gì trên áo, trên váy không, rồi, do không thấy có gì bất thường cả, bèn bực tức đuổi tôi đi: Thôi chạy nhanh lên, việc gấp đấy.
Lên đê, phải lên đê cái đã. Hôm nay, một ngày đầu thu, trời hơi tối, nhưng lặng gió. Mặt Biển Bắc chỉ gờn gợn sóng, một con thuyền, hai người câu cá thu. Trên trời không một bóng chim hải âu, nhưng trên mặt nước, chúng chụm lại với nhau, đậu thành một đám lớn, thảnh thơi để mặc cho sóng nước ngầm dập dềnh mang đi theo dọc bờ biển. Không thấy bóng người đi xe đạp nào cả, nhìn về hướng quán Wattblick không thấy, về hướng hải đăng cũng không nốt. Phía xa xa đường chân trời, hai tàu dọn mìn đang từ từ chạy. Dọc chân đê, một chiếc xe jeep đang chạy xa dần về mạn Glüserup. Tôi chọn hướng quán Wattblick mà đi, ở đấy chắc có người biết bố tôi đang ở đâu. Không biết trên người tôi có cái quái gì, mà lúc tôi đi ngang, mấy con cừu bờm xờm lông lá cứ sán vào, chen nhau chạy theo, làm tôi cứ phải lấy chân đạp chúng nó ra xa. Lông con nào con nấy dính bết, hôi hám kinh người.
Giá không bị cái mùi hôi ấy ám, thì có lẽ tôi đã ngửi thấy mùi cháy khét ngay rồi, đã phát hiện ra bố tôi đang làm gì sớm hơn rồi đấy. Thế nhưng, bị bọn cừu theo chân - con này chen, con khác lấn - tôi cứ mải cắm cúi đi ngang qua bán đảo, và, chỉ vì do vô tình quay đầu nhìn lại, mà tôi mới nhìn thấy, phía đằng xa, dưới chân cồn cát, một chiếc xe đạp dựa bên cạnh túp lều bác họa sĩ. Nó có thể là xe đạp bố tôi, nhưng cũng có thể không phải. Tôi tuột theo sườn đê xuống, đàn cừu không biết làm sao hơn, chỉ biết đứng phía trên bờ đê, mồm trệu trạo nhai, trố mắt nhìn theo; thế là tôi thoát khỏi chúng nó, thoát cả mùi hôi lẫn tiếng be be khó chịu. Có ai đó trong lều bác họa sĩ. Có cả mùi cháy khét lẹt. Lúc trèo lên cồn cát, tôi không thấy ngọn lửa đâu, cột khói cũng không, nhưng mùi khét mỗi lúc một rõ, mãi đến lúc lên đến đỉnh cồn cát rồi, tôi mới nhìn thấy cột khói mỏng bốc lên từ phía sau túp lều, và tôi chưa thể nói ngay được, đó là nỗi sợ hãi như thế nào, nỗi sợ hãi bỗng tràn ngập trong lòng tôi, thôi thúc tôi phải chạy tới, chạy mãi, nỗi sợ hãi tôi chưa từng cảm thấy bao giờ, nỗi sợ làm tim tôi đập thon thót; nhưng, thoạt đầu, âu cũng mới chỉ là nỗi sợ chung chung thế thôi.
Đó đúng là xe đạp bố tôi thật, dựa vào bên hông túp lều; cửa túp lều mở toang, nhưng bố tôi không ở trong đó, mà đứng đằng sau, vừa hút thuốc vừa nhìn đống lửa nhỏ, đống lửa sắp tàn thì đúng hơn, và dùng chân cẩn thận đẩy thêm những mẩu giấy chưa cháy hết vào chỗ lửa còn liu riu. Ông có nổi giận hay ngạc nhiên khi nhìn thấy tôi không ư? Không! Ông có vẻ không nhận ra tôi là đằng khác, ông chỉ đứng trơ ra đó, mệt mỏi, có vẻ lơ đãng, mắt nhìn dán vào ngọn lửa sắp tàn. Ông không cản tôi, khi tôi hấp tấp toan dùng một cây gậy dập tàn lửa dưới chân ông. Nhưng thật ra, mọi thứ đã xong rồi. Chẳng còn kịp cứu vãn được gì nữa. Mẩu giấy, mẩu giấy bé tẹo còn sót lại ấy, mẩu giấy màu xanh lơ, là mẩu còn sót lại ở tờ bìa của tập tranh vẽ nháp. Đúng thế! Bố tôi đã thiêu hủy tập tranh vẽ nháp của bác họa sĩ, tập tranh phác thảo cho bộ tranh liên hoàn Những mái đầu vùng ven biển.
Tôi đứng thẳng người, và chỉ còn biết kinh hãi nhìn ông. Nét hả hê, hí hửng còn đọng cứng lại trên mặt ông, đây, lúc này, sau khi ông đã làm xong cái việc ấy, ông thản nhiên đúng đó và hút thuốc, giống như sau khi ông vừa hoàn thành một nhiệm vụ nào đó vậy. Vâng, ở ngoài đó, ngoài bán đảo, đứng bên đống lửa chỉ còn liu riu cháy ấy, tôi bắt đầu cảm thấy kinh sợ ông, kinh sợ không phải vì sức mạnh, vì các mưu mô chước mẹo, hay vì thói bướng bỉnh của ông, mà là kinh sợ sự ương ngạnh đến lạnh lùng, sự cứng nhắc đến sắt đá trong con người ông. Nỗi kinh sợ ấy còn lớn hơn nỗi căm giận chợt trỗi dậy trong lòng tôi, dường như chỉ còn muốn xui khiến tôi phải xông vào mà cào cấu, đấm đá túi bụi lên chân, lên cẳng, lên người ông. Trời ơi, cái vẻ mặt hả hê lạnh lùng, sắt đá ấy! Cái vẻ điềm tĩnh kinh khủng toát ra từ tấm thân ông ấy! Tôi không còn đủ sức nhìn ông nữa, tôi ngồi xổm xuống bên đống lửa tàn, lặng lẽ, tuyệt vọng, bốc cát ném vào đó, vâng, tôi rải cát mịn lên các mẩu giấy đã hóa than, rải cho đến khi cát phủ hết, không còn dấu vết gì của đống lửa nữa, mới thôi.
Cảnh tượng đó có vẻ chẳng làm ông, viên cảnh sát Rugbüll, bận tâm chút nào; ông lặng lẽ theo dõi xem tôi làm gì, đôi lần thở hắt ra, như thể ông vừa tỉnh giấc, nhưng rồi không thức hẳn, mà lại chìm ngay trở lại vào cơn hả hê hí hửng làm ông dường như đờ đẫn ra ấy. Không, dạo ấy tôi chưa thấy kinh ngạc, khi tôi bỗng nhiên cảm thấy đau giần giật hai bên thái dương, thêm vào đó là cảm giác tê tê nhè nhẹ cùng nỗi khiếp sợ, bắt tôi lần đầu tiên phải nghĩ, rằng có lẽ sẽ không có thứ gì, không còn bất cứ thứ gì, có thể thoát khỏi tay ông, một khi ông thi hành nhiệm vụ cảnh sát của ông. Với sự ương ngạnh lạnh lùng, cái chất sắt đá đáng sợ trong con người ông, ông sẽ có thể làm bật tung tất cả các nơi ẩn giấu bí mật, tôi nghĩ, và nhớ ngay đến kho sưu tầm tôi giấu trong cối xay gió, khiến tôi phải suy tính ngay xem liệu tôi phải giấu nó vào đâu, để ông không tìm ra được. Nhưng, giấu vào đâu mới được chứ?
Sao mày lại run lên như thế, hả? - bố tôi hỏi. Ở tuổi mày, không có gì mà phải run như thế. Sáng mai, tôi nghĩ, hay tốt nhất là ngay tối nay, tôi phải mang các thứ ấy đi chỗ khác. Sao, ông lại hỏi, có chuyện gì thế, hả? Có lẽ đem sang Bleekenwarf, tôi vẫn nghĩ trong đầu, có thể bác họa sĩ sẽ giúp tôi tìm ra chỗ cất giấu mới ở Bleekenwarf. Mày làm sao thế, nói xem nào, bố tôi lên giọng. Tôi liền đáp: Bố không được làm thế, bố không được tịch thu cái gì nữa cả, bố không được nổi lửa, bố không được đốt cái gì nữa đâu. - Ai bảo với mày thế? - Mọi người chứ ai, ai cũng bảo hết lệnh cấm vẽ rồi, bố không được ra lệnh gì nữa cả. Con mà kể bố vừa làm cái gì ở đây, thì bác họa sĩ, bác ấy không chịu yên đâu. Ai cũng bảo mọi chuyện ngày xưa, bây giờ hết rồi; trước đây bố làm gì, con đều nghe, con đều thấy hết, bây giờ bố không được làm như thế nữa đâu. Bố không có quyền bắt bác Nansen làm cái gì nữa cả, bây giờ bác ấy muốn làm gì, thì bác ấy cứ làm. Con biết thế.
Ông vung tay tát tôi. Tôi ngã, nhưng lồm cồm ngồi dậy ngay, đầu gối quỳ xuống cát. Ông tát đúng quai hàm dưới của tôi. Cú tát tiếp theo chỉ sượt qua má. Đứng lên, ông quát. Tôi không đứng. Ông nắm lấy cổ áo tôi, xốc lên, rồi kéo mặt tôi lại sát mặt ông, khiến tôi phải kiễng lên đầu ngón chân mà đứng, và người tôi áp sát vào người ông. Cứ thế ông chậm rãi nhìn thẳng vào mắt tôi, một lối nhìn thành thạo, nghiêm khắc, xoáy sâu vào bên trong, nhưng lần này, tôi không nhìn lảng ra chỗ khác, không tránh ánh mắt của ông, mà nhìn thẳng vào đôi con ngươi nheo lại của ông. Chả mấy khi tôi được nhìn vào mặt ông gần như thế này. Đến là nhiều nếp nhăn, đến là cau có. Nét cau có ấy thật hợp với ông, nó cho thiên hạ thấy viên cảnh sát này không hài lòng với mọi sự ở đời chút nào.
A, ra mày cũng biết khối chuyện rồi đấy nhỉ, ông nói, ghê thật, tức là mày cũng biết nghe ngóng này nọ rồi cơ đấy. Mày biết cái gì được phép, cái gì không được phép rồi cơ đấy. Mày còn biết, cái gì bắt đầu ở đâu, cái gì kết thúc ở đâu. À, mà ngày nay khác ngày xưa, mày cũng biết nốt. Ông nói tay, đẩy tôi lùi ra xa ông, nhưng đẩy không mạnh, không đến mức tôi phải ngã ngồi xuống. Thế là mày nghe được nhiều thứ rồi đấy, con ạ, ông nói tiếp, nhưng có điều này, thì mày chưa nghe này: là ai cũng phải trung thành với chính mình, là ai cũng phải thi hành nghĩa vụ của mình, dù thời thế có thay đổi cũng vậy thôi. Ta muốn nói đến nghĩa vụ được giao phó cho ta. Và bây giờ mày định rêu rao mách với mọi người biết bố mày đã làm cái việc mà bố mày coi là nghĩa vụ phỏng? Được thôi, mày cứ việc rêu rao, cứ việc kể cho mọi người nghe, cứ việc báo cho bên Bleekenwarf biết chuyện. Thì lúc nào mày cũng thậm thụt bên ấy đó thôi. Mày cứ việc đi mà phản lại bố mày. Thằng Klaas ta còn trị được, thì với mày, ta cũng một lần là xong. Ông ngẩng mặt lên, nhợt nhạt, môi mím chặt, hàm răng nghiến vào nhau. Ánh mắt dò xét, dò xét, chứ không chế nhạo. Rồi ông phẩy tay, không rõ với ý gì, chỉ như lúc người ta độc thoại. Thế nào, mày muốn nói gì nữa không?
Tự tôi, tôi cũng bất ngờ, bởi vì, tuy đã định lắc đầu, tôi lại nói, tôi nhắc lại, là không có gì để ông canh chừng, giám sát nữa cả, không có gì để ông tịch thu và tiêu hủy nữa. Tôi nhắc lại với ông, là không còn lệnh cấm vẽ nữa, và ông chẳng còn có nghĩa vụ phải làm gì nữa hết. Tuy nhiên, tôi không “dọa” ông, và tôi cũng không nói tuột ra, tôi tức ông đến thế nào. Nhưng, có lẽ ông cũng cảm nhận được điều đó, cũng như ông cũng cảm nhận được nỗi sợ hãi trong lòng tôi, cho nên, ông tiến về phía tôi, nói ôn tồn: Nếu mày biết tránh xa những chuyện này ra, thì bố con mình vẫn hiểu được nhau như trước. Mày chỉ cần tránh xa ra là được.
Nói xong ông lại nhìn vào chỗ đống lửa bị vùi xuống cát, gật gật đầu, rồi đi tới bên chiếc xe đạp, nhấc nó lên, quay đầu về hướng bờ đê, chẳng buồn để ý xem tôi định làm gì; nhưng có lẽ ông cầm chắc tôi sẽ đi theo ông, bởi tôi vẫn nghe ông lẩm bẩm nói gì đó trong miệng, nghe ông nhắc cả đến tên tôi; tôi theo ông ra đến mép biển, rồi ở đó, vẫn đứng sau lưng ông, tôi báo cho ông biết cái tin lúc nãy chị Hilke bảo tôi mang đến cho ông. Các vị đừng vội tưởng ông Jens Ole Jepsen sẽ đứng lại, khi ông nghe tin người ta đang chờ ông, và ông phải sớm có mặt ở Bleekenwarf, vì ông Tổng thanh tra cùng một lô một lốc các quan chức cao cấp sẽ đến đó đâu nhé; ông lặng lẽ nghe tôi nói xong, rồi đi vòng qua cồn cát, và lên xe, đạp xe chạy dọc phía chân con đê nằm dài ven theo mép biển, đến một chỗ chỉ cần vác xe vượt qua đê là ông đâm ngay vào lối đi, với hai hàng bạch dương hai bên, dẫn thẳng tới Bleekenwarf. Vượt qua cái cổng có cánh cửa treo, bản lề lò xo, bật ra bật vào được ở Bleekenwarf, ông đạp xe thêm một đoạn vào trong sân, rồi lúc xuống xe, ông cũng như tôi, ngước mắt nhìn về phía đại lộ Husum, và cùng một lúc, đều nhìn thấy hai chiếc xe con sơn màu xanh oliu vừa rẽ vào đó, tiến tới mỗi lúc một gần.
Mới đầu, bố tôi định dựng xe đạp vào vách nhà, nhưng sau đó, ông đẩy nó ra xa hơn, dựng vào chồng gỗ ván, rồi, không đi vào nhà, ông quay ra cổng, mở cánh cổng ra, đứng chờ; lúc này, tôi cũng vừa chạy đến nơi, và cùng với bố tôi, tôi cũng đứng tựa lưng vào cánh cổng, hai bố con xếp thành một thứ hàng danh dự trông đến là tiều tụy chờ đón hai chiếc xe - lúc này vừa khuất ra sau hàng rào vườn nhà ông Holmsen - sắp lăn đến nơi. Từ ngày ra khỏi trại giam đến giờ, bố tôi chưa lần nào đến thăm lại Bleekenwarf, chưa chào hỏi bác họa sĩ lấy một lời, đến như hỏi xem ở Bleekenwarf mọi thứ còn như xưa hay không, ông cũng chưa buồn hỏi. Bởi ông không ưa, không chịu nổi các đổi thay, nên ông không bao giờ hỏi ngay, xem có gì mới không, mà ông cứ chờ ít lâu, rồi ông khắc quen dần. Ở lối vào, ông đứng cạnh tôi, vẻ thư thái, nếu không nói là thờ ơ. Ông bảo tôi giúp ông xem lại sắc phục ông mặc, cả đằng trước lẫn đằng sau, tôi cũng phải lấy nắm cỏ lau ủng cho ông, nếu không lau được bóng nhoáng, thì cũng phải lau cho sạch sẽ tươm tất.
Tôi không biết, tại sao tôi cũng đứng ở cổng như thế, nhưng chưa kịp nghĩ ngợi gì cho ra nhẽ, tôi đã thấy bố tôi - mặc dù chưa nhìn rõ mặt mũi khách khứa ngồi trong xe ra sao - đưa tay lên vành mũ để chào. Vâng, chúng tôi đứng nghiêm chào hai chiếc xe con nối sát đuôi nhau, từ từ chạy vào sân.
Thôi được, mọi sự diễn ra trước mắt tôi như thể do tôi điều khiển vậy: bốn người đàn ông, cao thấp khác nhau, ăn mặc khác nhau, vẻ mặt cũng khác nhau nốt, theo nhau bước xuống xe, sau đó tôi cho họ nhìn ra xung quanh, quan sát từ cái ao, chuồng gia súc, xưởng vẽ, đến khu vườn, và một đoạn cắt ra từ cảnh trí vùng này; trông vẻ mặt các vị, có lẽ người ta sẽ đoán họ đang chung nhau một ý nghĩ duy nhất, ý nghĩ dường như bắt buộc phải nảy ra trong đầu họ lúc này là: Ra đây là nơi ông ấy sống, ra đây là thế giới của ông ấy đây.
Mấy người đàn ông gật đầu với nhau, người này có vẻ hiểu ý người kia lắm. Hai người lái xe đánh hai chiếc xe nặng nề, sơn màu xanh oliu nọ, chạy một vòng quanh ao rồi cho chúng đỗ lại cạnh nhau. Hừm… tôi biết mô tả bốn vị đàn ông này thế nào nhỉ? Có lẽ, ông hay cười nhếch mép là dễ mô tả nhất, bởi ông ta là người duy nhất đóng quân phục nhà binh, đầu để trần, ngậm tẩu lệch một bên mép, ria mép lốm đốm bạc, một lô huân chương nhiều màu gắn trên ngực, tàn nhang nổi đầy trên mặt và hai tay, hai cầu vai gắn nhiều sao; vâng, ông này, nói tóm lại, trông giống như một con hải cẩu ục ịch, miệng luôn luôn nhếch ra cười. Trái ngược với ông ta, ông Tổng thanh tra - hay đúng hơn là người đàn ông về sau sẽ tự giới thiệu là Tổng thanh tra - không nổi bật lắm, thậm chí có vẻ tội nghiệp, thấp hơn ông Hải cẩu một cái đầu, gầy gò, lưng còng, hai tay đút sâu trong túi, người co ro, như thể ông bị lạnh trong bộ com lê cũ kỹ. Ông này là Mister Gaines. Gã trẻ tuổi nhất trong số họ nổi bật lên không phải do gương mặt gân guốc, thô lỗ của gã, cũng không phải do gã hút thuốc luôn mồm, hay do đôi giày da lộn, mà tôi có cảm tưởng rộng quá cỡ, gã mang trên chân; điều làm người ta phải chú ý đến gã là giọng nói. Gã mà cất tiếng - và khổ nỗi, bởi gã ta là thông ngôn, nên gã còn phải nói nhiều gấp đôi những người khác - vâng, gã ta mà cất tiếng, thì cứ tưởng như trong vườn mận bên ấp Söllring, người ta đang lôi hết chuông với cồng ra gõ liên hồi để xua cho chim sáo đá bay đi vậy. Còn ông thứ tư? Ông này đội mũ mềm, đeo kính gọng kim loại và xách trên tay một chiếc cặp hồ sơ dày cộp.
Cuộc viếng thăm này chắc chắn đã được báo trước; không những thế, người trong nhà cũng phải phát hiện ra khách khứa đứng ngoài sân từ lâu rồi chứ. Tuy thế, cửa vẫn chưa thấy mở ra, chưa thấy ai thò mặt ra đón khách; lúc này, các vị khách đều đang đứng trong vườn trồng hoa mùa thu của họa sĩ; ai nấy im lặng, có lẽ họ đang cố lục lại trong trí nhớ, xem các loại hoa này tên là gì. Ai nấy đều tỏ ra hiếu kỳ, gật gù ra điều am hiểu, ngưỡng mộ khu vườn lắm. Họ bước mấy bước xuyên qua vườn, rồi nối gót nhau làm một vòng quanh xưởng vẽ, trước khi quay trở lại sân, và chỉ cho nhau thấy mấy con vịt đang nháo nhác bơi tụ lại với nhau ở giữa ao; sau đó, họ bước về phía bố con tôi. Lúc ấy, bố tôi với tôi đã đến đứng một bên cửa ra vào, vâng, nói thế nào nhỉ, lại đứng thành hàng, bố tôi phía ngoài, tôi phía trong - một thứ hàng danh dự trông đến là khổ sở như lúc ở cổng. Chúng tôi nhìn không rời mắt khỏi mấy vị khách nọ, vâng, ý tôi muốn nói là, bằng cách đứng ì ra và chằm chằm nhìn họ như thế, chúng tôi buộc họ rốt cuộc cũng phải nhớ đến chúng tôi, và quả nhiên, dường như họ sực nhớ ra sự có mặt của chúng tôi thật, nên đang từ lối đi bách bộ, chậm rãi, thong thả, họ chuyển sang lối đi sải bước, nhằm thẳng về phía chúng tôi mà tiến.
Bố tôi giơ tay lên vành mũ chào. Họ bắt tay nhau. Đôi ba câu hỏi thăm, ngắn gọn, có phần kẻ cả và trịch thượng. Viên cảnh sát đáp cũng ngắn gọn, không lạnh nhạt, không nồng nhiệt. Ông hay cười nhếch mép và ông thông ngôn cũng chào cả tôi, đưa tay ra bắt, nhưng lơ đãng, mắt không nhìn thẳng vào tôi, theo một lối đôi khi tôi vẫn thấy ở một vài người lớn, lúc họ bắt tay tôi. Ông thông ngôn hỏi tôi với giọng rít kèn kẹt: Khỏe chứ, cháu? Kiểu hỏi như thế, nói chung, tôi chả bao giờ đáp. Không sốt sắng, chỉ là do trách nhiệm, bố tôi hỏi, liệu ông có cần gõ cửa không, vâng, gõ thay cho khách. Ông Tổng thanh tra mỉm cười đáp lại, rồi tự tay, nắm tay lại thành nắm đấm hờ, ông đập đập nhẹ hai lần lên cửa, và lúc ông định quay mặt nhìn những người đi cùng, thì cánh cửa bỗng mở bật ra, khiến ông ta có lẽ cũng hơi bất ngờ.
Tất nhiên, nhẽ ra bà “Chuột đồng” phải đợi thêm một lúc, đếm từ một đến mười hai chẳng hạn, rồi hẵng mở cửa ra, nhưng có lẽ, bà ta đã đứng chờ ở đó một lúc lâu rồi, nên hồi hộp không chịu nổi nữa, đành mở toang cửa nhanh như thế. Vâng, bà “Chuột đồng”, tức là bà quản gia của họa sĩ - bà này gốc đâu ở Flensburg và có họ hàng xa thế nào đó với bác Ditte - bà quản gia mà bác họa sĩ vẫn gọi là Katrine hay Trinchen ấy - xuất hiện ở ngưỡng cửa, vội vàng cất tiếng chào khách, rồi đứng nép sang một bên. Bốn vị khách theo nhau biến ngay vào bóng tối của hành lang. Bố con tôi đứng lại bên ngoài sân, và đang nghĩ xem nên giết thời gian như thế nào trong lúc chờ đợi, thì ông Tổng thanh tra lại chợt hiện ra ở cửa, và không những ông vẫy bố con tôi vào nhà, mà còn né người cho chúng tôi bước lên trước, rồi mới tự tay đóng cửa lại sau lưng chúng tôi.
Ánh sáng ban ngày chiếu thẳng vào căn phòng khách rộng thênh thang. Chúng tôi theo nhau bước vào. Tôi chen ngay lên trước, đến sát chỗ bác họa sĩ đang nằm. Vâng, bác đang nằm thì đúng hơn là ngồi, trên chiếc ghế đi văng dài ơi là dài, nơi ông Teo Busbeck bao nhiêu năm qua vẫn từng ngồi; dưới áo choàng màu xanh khoác bên ngoài, bên trong bác mặc áo ngủ may bằng vải lanh thô, đôi bàn chân để trần, gân nổi chằng chịt, xỏ dép. Tất nhiên, mũ bác vẫn đội trên đầu. Trên mặt chiếc bàn, được kéo đến gần đi văng từ trước, là tẩu thuốc, gói thuốc lá sợi và một tập thư chưa mở. Rơi dưới đất là một tấm chăn len màu xám. Bà Chuột đồng vội nhặt nó lên với vẻ mặt đầy trách móc, gập lại làm đôi rồi đắp lên đùi bác. Bác bảo, bác vừa qua trận cúm. Rồi, như thể muốn tống bà quản gia đi chỗ khác, bác họa sĩ nói: Bà pha cà phê mời khách giúp tôi, mà nhớ cho thêm cái gì vào nhá… À, nhưng bà mang giúp vài cái ghế vào đây đã. Bà kia nhìn bác đầy vẻ bực bội, còn bác chỉ cười, rồi chìa tay cho ông Tổng thanh tra. Ông này bắt tay bác khá chặt. Sau đó, bác bắt tay từng người, chào ông hay cười nhếch mép, ông thông ngôn, ông đội mũ mềm, rồi chào tôi, và cuối cùng, đến lượt viên cảnh sát Rugbüll. Ông này rõ ràng chẳng thiết tha gì chuyện chào hỏi, đã không chen lên trước để chào, thậm chí còn định lảng, thế nhưng, bây giờ đến lượt, thì ông chẳng còn cách nào khác là chìa tay bắt tay bác họa sĩ vậy. Ông Jens? Ông Max? Nghe họ chào nhau như thế, ai mà ngờ hai ông vướng chuyện gì với nhau.
Chúng tôi kéo ghế đến gần, ngồi thành nửa vòng tròn trước ghế đi văng, chăm chú nhìn gương mặt bác họa sĩ, đang nửa nằm nửa ngồi, trán lấm tấm mồ hôi của người vừa bị sốt; còn bác, bác cũng nhìn mọi người, qua đôi mắt xám, vui vẻ, lanh lợi, và thẳng băng ấy.
Làm thế nào để mào đầu một cuộc chuyện trò, cuộc chuyện trò đến một lúc nào đó phải trở thành có nghi lễ hẳn hoi, trong khi nhân vật chủ chốt của nghi lễ lại chỉ vừa kịp gượng dậy sau trận cúm, đang mặc áo ngủ, khoác áo choàng nằm trước mặt đây? Cơ hội may mắn đầu tiên để mở đầu câu chuyện là nói về bệnh tật, cho nên mọi người liền quay ra nói về bệnh cúm, cả cúm trái mùa, lẫn cúm đúng mùa, về cách điều trị cúm ở Schleswig-Holstein cũng như cách điều trị ở Anh, về những sự khác nhau ở hai nước xung quanh căn bệnh này. Như ông Tổng thanh tra chẳng hạn, ông bảo ông chưa bao giờ bị cúm, nhưng bà vợ ông, thì ngược lại, cứ sang xuân là bị, vân vân và vân vân. Còn bác họa sĩ thì nói: Vâng, cúm không phải là thứ bệnh làm người ta chết được. Nó đến, rồi nó lại đi thôi. Chỉ cần chăm rót cà phê pha rượu ra mà uống là khỏi. Mà không biết sao Katrine pha cà phê lâu thế nhỉ. Rồi mọi người lại chuyển sang nói về vườn hoa của bác họa sĩ, về các loại hoa trồng vào mùa thu, về muôn màu muôn sắc mùa thu thường vẫn trưng ra. Nói về màu sắc, ông mặc quân phục nói nhiều nhất, ông ta cũng nói với bác họa sĩ về hình dáng các bông hoa, nói nhiều nhất là về cánh hoa hình môi, hình cánh bướm. Rốt cuộc bà Chuột đồng cũng bưng cà phê vào, và không ai là không thấy bà ta - trong lúc dọn tách lên bàn, rồi rót cà phê cho khách - chốc chốc lại liếc bác họa sĩ với ánh mắt đầy khiển trách, và sau rốt, bực bội ra mặt, bà đặt phịch một chai rượu mạnh lên bàn. Bác họa sĩ mở chai rượu ra ngay: ở đây, chúng tôi pha thêm cái gì đó vào cà phê, rồi mới uống.
Trừ tôi, mọi người đều uống cà phê pha thêm cái gì đó. Lúc nâng tách cà phê lên, gã thông ngôn nói: Nâng cốc! Bác họa sĩ cười phụ họa: Đúng thế, bao giờ uống cà phê, chúng tôi cũng có quyền được nói “Nâng cốc” như thế. Ông Tổng thanh tra - tuy khi cần ông cũng nói được tiếng Đức - chẳng những đề nghị dịch lại, mà còn xin giải thích cho ông nghe câu bác họa sĩ vừa nói là thế nào. Sau đó, ông bảo đưa cặp hồ sơ cho ông, rồi đứng dậy, mở cặp, lôi cái gì đó trong cặp ra, cái gì mà trông xanh xanh, khổ lớn, cứng, vâng, cái gì đó có vẻ oách lắm, khiến ông ta phải kính cẩn nâng bằng cả hai tay để bước tới bên mép đi văng. Bây giờ thì tôi nhìn ra đó là hai tấm bìa bọc vải lanh. Tuy không quan cách trịnh trọng, còn hơi nháy mắt vui vẻ nữa là khác, nhưng vẫn không kém phần nghiêm trang, ông chìa hai tấm bìa, như muốn trao cho bác họa sĩ. Song, lúc bác đưa tay ra đón, thì ông ta lại nhẹ nhàng rụt lại, bởi ông còn phải nói cái gì đó, hay đúng hơn là ông muốn nói đôi lời, và ông im lặng mất một lúc, để nghĩ ngợi, lựa lời. Thừa lúc, chúng tôi cũng đều đứng cả dậy.
Tiếp theo là một diễn văn nhỏ nhẹ ở mức tôi chưa từng nghe bao giờ. Vâng, có một cái Viện Hàn lâm Hoàng gia nào đấy ở London, Viện này… xem xét các đóng góp to lớn cho nền hội họa châu Âu, và căn cứ vào kết quả bỏ phiếu tại Hội đồng thành viên… Với sự đồng ý của họa sĩ, hôm nay Viện Hàn lâm vô cùng hân hạnh được trao… Bác họa sĩ lại đưa tay, muốn đỡ lấy tấm bằng, nhưng ông Tổng thanh tra cũng lại lần nữa hơi rụt nó lại, bởi ông ta còn muốn nói thêm đôi lời, đôi lời rất riêng tư thôi. Ông ta nói, tuy ông không có nhiệm vụ thay mặt Viện Hàn lâm Hoàng gia để làm việc này, song, đây lại là một nhiệm vụ ông từng mong ước được hoàn thành từ lâu, và ông thật vui mừng được thi hành nhiệm vụ đó hôm nay - vả lại, đằng nào ông cũng có việc ở gần đây, lại thêm ông bạn ông là tướng Täte đây, đòi theo chân ông cho bằng được; bởi thế, họ đến đây, không những là để cùng nhau được trao tấm bằng hội viên danh dự này của Viện Hàn lâm Hoàng gia đến tận tay Mister Nansen, mà còn là để được bày tỏ lòng kính trọng của họ đối với một họa sĩ lớn của nền nghệ thuật và giới nghệ sĩ tự do. Đại loại những lời như thế.
Vâng, sau những lời như thế, bác họa sĩ được nhận bằng hội viên danh dự vào tay. Ông Tổng thanh tra từ từ nâng tách cà phê lên, rồi nói: Chúng ta được phép nâng cốc chúc mừng bằng tách cà phê mà. Tất cả mọi người đều uống chúc mừng bác họa sĩ; cả bố tôi cũng uống mừng. Ngón tay út duỗi ra, ông nâng tách cà phê ra trước ngực, một con mắt liếc nhìn vị khách cấp cao, ông uống mừng bác họa sĩ như mọi người khác. Còn bác họa sĩ, sau khi liếc thoáng qua tấm bằng danh dự, rồi đặt nó lên bàn, bên cạnh tập thư chưa mở, bác chỉ chai rượu, mời mọi người tự rót. Họ tự rót ra uống thật. Và, ai nấy hút thuốc, riêng bố tôi thì không.
Tại nhà ông ta ở Nottingham, ông tướng mặc quân phục và hay cười nhếch mép nói vậy, ông ta có treo vài bức Nansen, rồi ông nêu tên bức tranh đó, nói rõ cả năm bức tranh ra đời, làm bác họa sĩ phải sửng sốt ngẩng đầu lên nhìn. Các bức tranh đó, như bức Cô gái hái anh túc chẳng hạn, một dạo xưa treo tại các các viện bảo tàng ở Dresden và Heidelberg, sau bị tịch thu đem về Berlin để tiêu hủy cơ mà? Nhưng ông tướng bảo ông mới mua các bức tranh đó ở Thụy Sĩ được ít lâu thôi mà. Hóa ra lại đúng à, bác họa sĩ nói, hóa ra những gì bác từng thỉnh thoảng vẫn nghe đồn, mà không chịu tin, lại đúng à. Người ta chả đồn bọn điên rồ ở Berlin dạo ấy, do cần ngoại tệ, nên chúng nó thuê môi giới đem bán các bức tranh chúng tịch thu của người ta ra nước ngoài. Nếu tướng quân vừa mua tranh ở Thụy Sĩ, thì có nghĩa là chúng không bị hủy thật. Ông sĩ quan nói, ông biết rõ là rất nhiều bức tranh hiện đại không bị hủy, mà tuồn ra nước ngoài. Thế mà tôi, tức bác họa sĩ, cứ đinh ninh là mất hết rồi, cả tám trăm bức, đều tiêu tan cả. Không, ông sĩ quan bảo, ông ta có thể nói để họa sĩ yên tâm, nếu lúc này người ta có thể nói đến chuyện yên tâm được. Theo ông biết, thậm chí người ta đã nắm được gần đúng số tranh bị đem bán như thế; có thể đến lúc nào đó con số chính xác về số bức tranh này sẽ được công bố cũng nên.
Họ nói chuyện với nhau. Hết chuyện này đến chuyện khác. Câu hỏi này, câu hỏi nọ. Vậy chứ trong thời gian gọi là thời gian cấm vẽ ấy, làm sao họa sĩ sống được? Ông Tổng thanh tra hỏi. Làm sao mà cấm vẽ được chứ? Ông Tổng thanh tra bảo ông không thể tưởng tượng nổi một lệnh cấm như thế. Bác họa sĩ bảo bác còn biết những chuyện còn kinh khủng hơn nhiều. Riêng bác, mặc dù phải quen dần với một hoàn cảnh như thế, phải thích ứng, phải phòng xa mọi thứ, nhưng, bác chưa hề biết một họa sĩ nào trên đời do bị cấm mà không vẽ nữa cả. Nói gì thì nói, nào có phải là anh cứ phải vác màu ra đứng trước giá vẽ anh mới là họa sĩ đâu, đã là họa sĩ thì lúc nào anh cũng vẽ được cả. Làm sao mà cấm người ta làm cái việc mà người ta làm trong mơ được?
Ông Tổng thanh tra nói ông ta diễn đạt chưa đủ ý, ý ông ta muốn hỏi là, làm sao người ta thi hành lệnh cấm ấy được. Người ta tiến hành rà soát thường xuyên ư? Ngày nào cũng khám nhà hay sao? Và nếu vậy, thì ai tiến hành mới được?
Liệu bố tôi có trả lời không ư? Ông chỉ hơi cựa quậy một tí trên chiếc ghế có lưng tựa cao thôi, lưng dựa hẳn vào lưng ghế được chạm trổ chi chít; ông xoay xoay cái mũ của ông, ngón tay cái cào cào lên gò má đang giần giật. Người ta có người để làm những việc đó, người ta trao nhiệm vụ giám sát việc chấp hành lệnh cấm vẽ cho cảnh sát khu vực, bác họa sĩ điềm tĩnh nói. Một việc như thế kể ra cũng giống như con dao hai lưỡi, bởi người giám sát và bị giám sát có thể là bạn bè thân thiết nhau từ lâu; nhưng nói cho cùng, rồi mọi sự cũng ổn cả. Thế còn các thiệt hại? Vâng, đều có thiệt hại chỗ này chỗ nọ. Cũng khó mà tránh. - Tức là có thiệt hại chứ gì ạ? - Tất nhiên rồi, trong thời cấm vẽ cũng có thất thoát, thiệt hại này nọ. - Thế còn những bức tranh bị tịch thu thì sao? - Bác họa sĩ nhún vai, rồi bác bỗng nói: Ông bảo nếu một người chỉ muốn thi hành nghĩa vụ của mình mà không đòi hỏi mình cái gì khác nữa cả, thì người đó phải làm gì? Một người như thế không phải lúc nào cũng may mắn đâu; nói gì thì nói, chứ anh ta không phải là không khó nhọc đâu.
Họ lại chuyện trò với nhau. Họ khơi một chuyện gì đó ra như khơi cho nước chảy, rồi lại để dòng nước trôi đi. Họ chỉ ngồi một chỗ nói chuyện với nhau. Thế mà trong câu chuyện, họ chu du cũng khắp nơi. Cũng tìm được khối thứ.
Không biết đến bao giờ mới có cuộc trưng bày nhiều tranh Turner, bác họa sĩ hỏi. Bác bảo bác sẵn lòng đến thăm triển lãm, xa mấy cũng đi, có phải mang cả bệnh cúm theo cũng đi. Đến phòng tranh của ông ta, viên tướng nói. Họa sĩ mà đến Nottingham, họa sĩ có thể xem Turner, họ có một vài bức Turner ở đấy. Nhưng sao phải đúng Turner mới được? Bởi ông ấy để mọi thứ đều nổi lơ lửng; vâng, đúng rồi, những người khác cũng làm vậy, phần lớn đều làm vậy, nhưng chỉ có Turner mới làm như thế với ánh sáng thôi, và bác, tức là bác họa sĩ, muốn được xem nhiều tranh của Turner cùng một lúc để hiểu cho rõ hơn. Thế thì, tại sao họa sĩ không đến thăm Nottingham? - viên tướng sốt sắng hỏi.
Ông Tổng thanh tra muốn biết họa sĩ đã bao giờ đến London chưa. Chưa, ông chưa bao giờ đến London, và ông cũng không chắc, liệu rồi có còn lúc nào ông sẽ đến đó hay không; hồi xưa, ông cũng thích đi đây đi đó, nhưng bây giờ… Vả lại, ông vốn không ưa các thành phố lớn, vì một lẽ nào đó, đến tận giờ vẫn vậy. Ngoài ra, ở đây, ở vùng giữa Glüserup với đại lộ Husum này, ông còn bao nhiêu thứ để tìm tòi phát hiện, dù ông vẫn biết, ông sẽ không thể tìm hiểu hết được, nhưng ông vẫn muốn hiểu biết thêm càng nhiều càng hay về mảnh đất này, cùng những con người ở đó. Ông ta, tức là viên tướng, muốn biết, không biết có phải thủ đô thường vẫn quan trọng cho công việc của họa sĩ không. Bác họa sĩ đáp, và tôi sẽ không bao giờ quên câu trả lời ấy của bác: Tôi nghĩ, các thủ đô mà chúng ta cần bao giờ cũng nằm ngay trong lòng chúng ta. Thủ đô của tôi nằm ở đây. Ở đây tôi có tất cả những gì tôi cần, thậm chí còn hơn. Nhưng năm tháng còn lại của đời tôi chắc chắn sẽ không đủ, để kể cho hết về mảnh đất này, về những gì đáng kể ở đây. Chỉ riêng về những người dân bí hiểm ở đây thôi, những người cư ngụ cả dưới đất, cả trên trời, hay về những gì diễn ra đêm đêm ở bãi than bùn, ngoài bãi biển, về chuyện tai mắt dân chúng ở đây tinh tường ra sao, ngay cả khi trời đất tối tăm, về các mối lo âu, sợ hãi của họ, về các câu chuyện của họ, về lối suy nghĩ chậm chạp của họ, hoặc là về cách thức họ đối đầu với nhà cầm quyền. Đúng không, ông Jens?
Bố tôi hơi giật mình, giương mắt ngơ ngác nhìn bác họa sĩ. Ý tôi muốn nói, bác họa sĩ nói hướng về phía bố tôi, là nếu bác, với các kinh nghiệm của bác, nếu bác được kể hết chuyện về dân chúng ở đây thì chuyện còn nhiều hơn cả chuyện dân thủ đô. Ở đời có những chuyện gì, thì ở đây cũng có cả như thế, tôi nói vậy, có đúng không nào?
Mọi người lặng im, chờ bố tôi đáp, hoặc ít ra, cũng một cử chỉ tán đồng. Ai cũng nhìn ông. Ấy thế, nhưng viên cảnh sát Rugbüll không nói lấy một tiếng. Ông chỉ gật đầu, độc có thế. Bác họa sĩ mời mọi người tự rót thêm rượu ra mà uống. Nhưng mọi người đều có vẻ không muốn nghe lời bác nữa. Viên tướng bảo, tất nhiên, ông ta rất muốn được ngó vào xưởng vẽ một lát, hay đúng hơn, ông muốn được vào ngồi trong đó một lúc, nhưng bây giờ chắc không được. Bác họa sĩ - với vẻ khổ sở hơi thiếu tự nhiên - liếc về phía bếp, nơi bà Chuột đồng đang hí hoáy, là đủ để thay lời thoái thác. Liệu lần khác đến có được không? Lần sau chắc là được, chứ hôm nay thì không, bởi cứ theo lời cái bà đang ở trong bếp kia, thì đến ngồi dậy ông còn chả được phép nữa là; bà ấy nghiêm lắm, và theo ông, cãi lại bà ta chỉ vô ích. Thôi được, chúng tôi sẽ còn trở lại, chắc chắn thế, có lẽ tháng sau là thu xếp được. Ai cũng vui. Lại lần nữa nào: Xin chúc mừng nồng nhiệt. Cảm ơn các vị đến thăm. Không, chúng tôi mới phải cảm ơn chứ, và chúc ông chóng bình phục.
Bốn vị khách rất khác nhau, nhưng ít nhiều đều góp chung vào buổi chuyện trò vừa qua, đứng dậy cáo từ, ông nào ông nấy lần lượt chìa tay, nhe răng cười, da mặt căng ra, co lại, bước một bước về phía ghế đi văng, rồi lùi lại, né sang một bên, vừa nhìn người bệnh vừa nghiêng người bước ra cửa. Sau khi cân nhắc mãi xem có nên tranh thủ lúc mọi người nhốn nháo, rồi cứ thế lẳng lặng ra về không - cứ nhìn nét mặt ông là tôi biết - bố tôi là người cuối cùng đến chia tay bác họa sĩ. Ông bước đến gần, người cứng đơ, nghiêm nghị nhưng không làm lộ vẻ ác cảm, mặt thuỗn dài hết cỡ, đưa tay cho bác họa sĩ nắm, và bóp đáp lại, không quá chặt, không quá hờ hững.
Còn kịp làm tách cà phê rượu nữa chứ, ông Jens? Bác họa sĩ hỏi. - Thôi, tôi còn nhiều việc lắm, bố tôi đáp. Không thật à? - Phải, tôi xin kiếu, bố tôi đáp, rồi rời khỏi phòng ngay, mắt không nhìn bác họa sĩ như mấy người kia. Ông vội làm gì ngoài sân ư? Ông dắt xe đạp ông ra cổng, chờ cho hai chiếc xe hơi lăn bánh tới gần. Xe chưa đến, ông đã đưa tay lên mũ chào, và, tuy xe đầu chạy một đoạn rồi xe sau mới lăn tới, ông vẫn giữ nguyên tư thế chào, mãi đến khi hai chiếc xe lần lượt rú ga - rú ngắn thôi, nhưng nghe cứ như sấm rền - vượt qua cây cầu lát bằng gỗ khúc, ông mới bỏ tay xuống.