Tiếng chân lão Joswig và những cảnh tượng mà tiếng chân lão, mỗi khi lão bước ra khỏi căn phòng giám thị trống trải toang hoác, gợi ra thường vẫn là cái cầu thang sắt, chùm chìa khóa nhảy tưng tưng bên hông, các tấm đá hoa mang vết khía trên bề mặt cùng mạng lưới các dãy hành lang ủ dột, là những ngày tháng tẻ nhạt nối tiếp nhau như những khoanh táo khô xâu chuỗi, là sự yên ắng đột nhiên ập xuống khi lão ghé mắt, dò xét nhòm vào lỗ nhòm của một phòng giam nào đó, rồi tiếp theo lại là tiếng chân bước nặng nề uể oải tiến lại gần, từ một chân trời xa xôi vô vọng; tới hành lang chính có dựng tấm bảng đen, lão dừng lại, lặng lẽ đứng đọc một cái gì đó trên cái bảng dựng ở góc tường do chúng tôi chen chúc cọ vai, cọ mông mà đen sì, buổi nghỉ giải lao ăn sáng, cánh cửa sổ không bao giờ mở ra, cái còi buộc lủng lẳng ở một đầu dây, bước chân nặng nề đến ngang chỗ kê cái tủ dựng chổi quét nhà, và từ chỗ đó, có vẻ như vẫn còn phải mất những nửa ngày hay gần nửa ngày nữa, lão mới khó nhọc - chốc chốc phải dừng lại thở - bước tới chỗ buồng tắm được, để sau đó sẽ bước sang giai đoạn nước rút, với những bước ngắn, gấp gáp đầy tuyệt vọng, với cánh tay vươn ra phía trước, rối rít sờ soạng chùm chìa khóa, có tiếng rơi, không, không phải rơi, chỉ là tiếng loảng xoảng của chìa khóa, mới đầu nhét thử vào ổ khóa, sau đó mới mạnh mẽ mở ra; ôi giời, cảnh tượng bao lâu nay thường vẫn vậy.
Mặc dù tôi chả bao giờ bấm đồng hồ xem lão cần bao nhiêu lâu để đi từ phòng giám thị của lão đến phòng giam cửa khóa trái của tôi, nhưng tôi có thể cam đoan, ang áng đó là khoảng thời gian tôi kịp giặt vài ba đôi tất, kịp quấn sẵn khoảng hai chục điếu thuốc lá, hay thời gian đủ để thanh thản thưởng thức xong bữa ăn sáng mà không lo bị quấy giữa chừng. Cũng chậm chạp như một con tàu biển xuất hiện ở chân trời, rồi thong thả tiến vào bờ, lão lê chân chậm rãi tiến tới từ gian phòng giám thị không trang trí bằng thứ gì khác ngoài tấm lịch năm ấy, chậm rãi tiến tới như muốn rơi vãi cho hết thời gian trên nền đá hoa dọc dãy hành lang. Gì thì gì, trong lúc lão tiến về phía phòng giam của tôi và gợi lên trong đầu tôi đủ thứ chuyện như thế, tôi không còn thấy nghi ngờ lời thằng Kurtchen Nickel từng quả quyết với tôi nữa, rằng trong lúc chờ lão Karl Joswig lết được từ phòng giám thị đến phòng giam của nó, nó còn kịp khâu nhiều mảnh vải - cửa một tấm khăn trải giường bị xé ra - với nhau thành tấm khăn lành lặn tinh tươm như cũ.
Vâng, tôi chờ lão đến, chờ mãi, chờ mãi. Tôi lôi cái gương con bỏ túi ra soi, rồi chải đầu. Tôi nhìn theo một con tàu kéo đang gồng mình vượt qua các ô vuông đều đặn trên sông Elbe do tấm lưới sắt ở cửa sổ phòng tôi chia ra. Tôi cũng dõi theo đàn chim hải âu rủ nhau tụ lại thành bầy đông đảo, rồi cùng bay ra xa, xuôi theo dòng chảy của con sông. Một hồi còi đâu đó rống lên, đòi tàu kéo mau đến trợ giúp. Nhưng lão Joswig vẫn chưa chịu đến. Liệu lão có mang quyển vở mới đến cho tôi không? Liệu ông giám đốc Himpel có chịu xuất mực xuất bút cho tôi viết tiếp bài luận không? Tôi chìa khuỷu tay xuống dưới vòi nước chậu rửa mặt, xả mạnh nước lên tay cho mát. Tôi xé nát vụn đôi đầu mẩu thuốc lá rồi xối nước cho trôi đi. Để không quá lạm dụng lòng khoan dung của lão Joswig, tôi vuốt vuốt tấm chăn phủ trên giường tôi cho thật phẳng. Tôi ngạc nhiên phát hiện ra hai vận động viên bơi thuyền trên sông, đang ương ngạnh cố gò mình chèo ngược dòng Elbe. Không còn băng trôi trên mặt sông nữa. Không biết ngọn đuốc trên ống khói nhà máy lọc dầu còn cháy không? Hóa ra nó vẫn cháy. Thành phố Hamburg - với hai mảng màu quen thuộc là màu xám trắng và màu đỏ gạch - vẫn còn bên kia sông chứ nhỉ? Lão Joswig tiến đến mỗi lúc một gần. Không biết họ đánh giá công việc của tôi thế nào? Liệu ông Himpel có thấy nên cấp thêm giấy cho tôi viết không? Chả cần nghĩ ngợi lâu la, tôi khoác ngay cái áo khoác sạch sẽ vẫn mặc mỗi lúc điểm danh lên người, tôi cởi đôi giày vải ra, mang ủng vào, rồi rút một chiếc khăn tay mới, còn sạch sẽ tinh tươm trong tủ sắt ra. Tấm gương lớn của tôi soi và đánh giá tôi không đến nỗi tồi: mái tóc màu vàng xỉn, xoăn xoăn bướng bỉnh, nhưng hiện giờ nằm yên, ngay ngắn; đôi mắt sáng, nằm hơi tụt xuống, giống hệt ông anh Klaas tôi, cái mũi không nổi bật lắm, được cái sống mũi thon thon, riêng cái mồm thì bành bạnh, vâng, cứ nói thẳng ra là mồm nhá hạt dẻ - tay Pelle Kastner nhận xét thế mà đúng - cái cằm chắc nịch; hàm răng xấu, khấp kha khấp khểnh - chắc chắn thừa hưởng của dòng họ Schessel - cái cổ hơi dài nhưng không quá gầy và đôi má trông cũng tàm tạm: đây chính là thằng tôi. Không có dấu hiệu gì cho thấy tôi đã miệt mài viết cả ngày lẫn đêm. Có điều, chiếc gương con của tôi không hẳn đã tán thành như thế; ngược hẳn với tấm gương to treo tường, nó vạch cho tôi thấy quầng thâm dưới mắt, nó chỉnh lại bức tranh chung về tôi, nó cho tôi thấy trong gương một bộ mặt nhàu nát, mệt mỏi và cau có. Chả biết lão Joswig thấy tôi lúc này sẽ bảo cái gương nào đúng? Thôi, nhanh lên nào, lão Joswig ơi, dấn thêm ga đi, lão khỏi phải ngó vào buồng tắm nữa, trong đấy chỉ có mấy cái vòi hoa sen nước nhỏ giọt chứ chẳng có gì hơn đâu, nước rút lên đi, mở cửa phòng tôi ra đi, để rốt cuộc tôi cũng được biết đầu đuôi mọi sự - thì ta vẫn chẳng quen nói đầu đuôi mọi sự là gì - ra làm sao.
Như mọi lần, lần này tôi cũng chạy ra cửa chực sẵn để đón lão; tôi đứng sát sàn sạt bên cửa, nhìn chằm chặp vào chốt cửa và lỗ ổ khóa, chỗ mà chiếc chìa thô kệch sẽ thọc vào, hay đúng hơn là lóng ngóng ngập ngừng lách vào, và cái mấu gắn ở đầu chìa khóa sẽ xoay bên trong ổ khóa, khiến chốt cửa động đậy. Cái chốt đến là thô thiển. Trong khi bộ sưu tập chìa khóa, với ổ khóa hồi trước của tôi, tôi còn nhớ, thì gồm nào ổ khóa đơn, ổ khóa nâng lên sập xuống, ổ khóa số, ổ khóa kiểu Bramah, ổ khóa kiểu Chubb, ổ khóa ống, ổ khóa Vexier, nào chìa khóa kiểu gôtic, chìa kiểu Pháp, có cả tấm biển đeo chìa khóa kiểu barốc. Chả biết sau này, liệu tôi còn tìm lại được bộ sưu tập đó nữa không? Nhưng, lúc này, dù sao cánh cửa cũng mở ra.
Lão Karl Joswig, viên giám thị chúng tôi thấy thân thiện nhất ấy, không bước vào phòng tôi, tôi cũng chưa nhìn thấy lão ở đâu, chỉ nghe tiếng lão nói: Đi nào, Siggi, ra ngoài đi. Tôi tuân theo lời lão, bước ra ngoài, và lấy làm ngạc nhiên thấy lão khóa căn phòng trống không của tôi lại. Lão làm thế theo thói quen của ba mươi lăm năm trong nghề hay sao? Hay lão không muốn trong lúc tôi vắng mặt có ai đó sẽ lẻn vào nơi tôi làm bài?
Ông giám đốc đang chờ cậu, lão nói rồi bảo tôi đi lên trước - một biện pháp đề phòng lão chỉ áp dụng vào mấy tuần đầu tôi ở đây. Chưa đến nỗi bị chạm tự ái, nhưng cũng hơi bối rối, tôi nhìn thẳng mặt lão, và thoáng nhận thấy vẻ gì như ngờ vực kín đáo, hoang mang dè chừng; thế nhưng trước khi tôi kịp hỏi tại sao lầm lì thế, thì lão đã dùng ngón tay cái nâu sạm và khô đét vẽ một vòng chỉ về phía hành lang; chẳng còn cách nào khác, tôi bèn đi lên trước.
Tôi đi trước lão đến ngang chỗ tấm bảng đen ở hành lang chính, bước chân lão nghe cứ như tiếng vọng lạc lõng của bước chân tôi, hơi thở già nua của lão cũng gây cảm giác như thể lão thô thiển lặp lại nhịp thở của tôi vậy. Tại đây, lúc đi ngang tấm bảng, tôi hỏi qua vai ra phía sau: Họ có cho phép hết mọi thứ không ạ? Lão gắt: Cứ chờ xem đã. Hay cậu không chờ được, hả? Tôi cảm thấy ánh mắt lão nhìn xoáy vào gáy tôi, tôi cảm thấy bước chân tôi mỗi lúc một nặng nề, thậm chí còn thấy nhoi nhói đau ở sống lưng. Tôi phải làm gì bây giờ? Tôi có thể làm gì được? Ở đây bọn tôi đứa nào cũng biết, có thể tức thời thu được thiện cảm của lão Joswig, nếu biết cách tự xỉ vả mình cho thật khéo; mình tự xỉ vả mình càng thậm tệ, lão càng sẵn lòng bênh, thậm chí càng thương hại mình. Có điều lúc này tôi phải xỉ vả, trách móc mình thế nào, để bắt chuyện được với lão? Tôi phải bịa ra tội gì để đổ cho mình bây giờ?
Tôi thất thểu bước đi trước mặt lão, và cố đoán xem, khi lão ló mặt ra ở chỗ tôi mà không mang quyển vở, hay tí mực, tí thuốc lá vụn nào theo, và, thay vì tỏ vẻ thông cảm như mọi khi, lão không hề để lộ chút thiện cảm nào hết, mà chỉ khô khan lệnh cho tôi phải lên chỗ ông giám đốc ngay như thế, thì sự thể là thế nào. Chả lẽ mọi sự không ổn cho tôi? Chả lẽ họ không coi trọng những gì tôi đã làm đến giờ? Không có lẽ họ định cắt giờ Đức văn họ dùng để phạt tôi?
Có tiếng chuông điện thoại kêu reng reng trong phòng giám thị trống trải của lão. Tôi cố tình không bước nhanh lên. Điện thoại vẫn không ngừng reng, sáu lần, tám lần, mười lần. Tôi vẫn không bước nhanh thêm, chỉ liếc sang bên phải, chắc mẩm, lão sẽ vượt lên trước, bỏ tôi lại sau để kịp nhấc ống nghe lên, nhưng chả thấy cái mũ giám thị cứng đơ của lão đâu, cũng không nghe thấy chùm chìa khóa tưng tưng vượt qua tôi: phải, lão Karl Joswig vẫn điềm tĩnh đi sau tôi. Mãi đến lúc hai chúng tôi đi ngang phòng giám thị của lão, lão mới ra lệnh: Khoan, đứng lại! Tôi vâng lời lão, đứng dừng lại. Mắt tôi nhìn thẳng, chỉ để tâm đến tám bậc thang của chiếc cầu thang sắt. Lúc lão bảo: Đứng chờ đây, tôi liền gật đầu, lúc lão nói tiếp: Ta quay lại ngay bây giờ, thì tôi lại gật đầu lần nữa. Sau đó, tôi lại liếc qua khóe mắt nhìn theo lão, thấy lão nhấc ống nghe, đẩy mũ đang đội trên đầu ra phía sau, rồi trong lúc vừa lắng nghe, tay lão lần lần đếm các chìa khóa mắc trong chùm hoặc đang gỡ cho chúng không vướng vào nhau. Cú điện thoại chẳng làm lão lúng túng chút nào. Cũng giống như bố tôi khi nói điện thoại, lão chỉ đáp hay hỏi lại thật ngắn gọn. Trông lão chẳng ra vui, cũng không ra bực bội. Nghe điện thoại xong, lão ngoắc tay gọi tôi vào trong, và vừa bước vào trong, tôi đã phải nín thở: trong phòng ngột ngạt, không khí tù đọng từ bao giờ đến giờ, lại thêm mùi hôi hám, tanh tưởi của mấy con cá nằm chết đã lâu ở đâu đó trong phòng.
Vừa có hai cậu mới đến, lão Karl Joswig bảo tôi, họ gọi ta; chắc cậu còn biết đường đến văn phòng giám đốc chứ hả. Tôi gật đầu, nhưng vẫn đứng yên tại chỗ, mặc dù lão đã xua tay bảo tôi đi đi, cái xua tay cho thấy tôi vướng chân lão. Cậu không nhớ đường nữa à? - lão hỏi. Tôi chờ một lúc, chăm chú nhìn lão, rồi mới cụp mắt hỏi tôi mắc lỗi gì mà lão lại cáu bẳn với tôi như thế, thì vừa giữ cửa cho tôi bước ra ngoài, vừa đáp: Ôi giời, cả cậu lẫn bạn bè cậu, cả bọn chúng mày; người ta thương, người ta che chở các cậu. Thế còn các cậu đền đáp lại người ta thế nào? Thôi xéo đi! ông giám đốc đang đợi cậu đấy! Nói rồi, lão đẩy tôi ra khỏi phòng lão và đóng cửa lại.
Tôi đoán lão thấy chỉ cần nói bóng gió thế là đủ, và có lẽ lão cũng không thấy cần giải thích cho tôi rõ thêm tại sao lão lại thay đổi thái độ đột ngột như vậy làm gì, nên tôi đành đi một mình, không có lão đi kèm, đến văn phòng giám đốc. Chân cẳng cứng đơ, tôi dò dẫm theo cầu thang sắt đi xuống. Ở tiền sảnh lồng lộng gió lùa, tôi xoa nhè nhẹ lên mái đầu hói bằng đá cẩm thạch, còn sờ cả cái cằm lạnh như băng, của bức tượng bán thân tạc nghị sĩ H. W. J. W. Riebensahm - vị nghị sĩ tuy không phải là cha đẻ ra cù lao này cho chúng tôi, nhưng là người đã ra quyết định tối hậu biến nó thành trại giam. Không biết bao nhiêu lâu rồi nhỉ, từ ngày tôi không còn chào ngài nữa? Từ ngày tôi nhìn thấy bà vợ góa chín mươi tám tuổi của ngài vuốt ve âu yếm bức tượng bán thân bằng đá cẩm thạch đó, mỗi lần đi ngang qua tôi lại cảm thấy mình phải có nghĩa vụ vuốt nhẹ lên đầu ngài một cái. Suốt cả đoạn đường tôi không gặp một ai; rồi tôi kéo cánh cổng, và bước ra ngoài - lần đầu tiên, kể từ ngày tôi bị phạt viết lại bài luận đến giờ.
Một chiếc xuồng máy hú còi gọi tôi - sao lại gọi tôi? Tôi giật mình quay người nhìn sang phía cầu tàu, nơi một chiếc xuồng máy sáng loáng màu đồng thau đang neo đậu, trên xuồng đầy chật một lô các nhà tâm lý học nôn nóng, người nào người nấy đều khoác áo choàng, đồng loạt màu nâu hoặc vàng sáng như màu cát. Tiến sĩ Alfred Thiede, phụ tá của giám đốc Himpel, đang đứng trên cầu tàu, dang tay rộng - một cử chỉ chắc chắn ông học được của ông Himpel - đón chào các nhà tâm lý học đến thăm cù lao chúng tôi. Tôi bất giác tìm đường tẩu thoát, đưa mắt liếc sang phía ruộng rau - nhưng tôi không cần trốn đi đâu cả, vì Tiến sĩ Thiede đang mời các nhà tâm lý học quây lại quanh mình trên cầu tàu nghe đôi lời khích lệ của ông. Từ dưới bãi cát, nơi tấm biển chỉ đường bị băng xô nghiêng đã được cắm thẳng trở lại, một làn gió lạnh thổi tới làm lay động rặng liễu. Trên mặt sông Elbe không thấy lơ lửng đám sương mù nào, không khí lạnh băng và trong suốt, và trong bầu không khí trong suốt đó, bờ bến phía xa dường như xích gần lại, và nước sông, vốn vẫn vẩn đục hết cỡ, để lộ - qua màu xanh lục hay lam sẫm - chỗ nào nông, nơi nào sâu của lòng sông. Một con tàu cắm đầy cờ hiệu rời bến, có lẽ đi giao hàng ở bến cảng nào đấy. Từ khu xưởng của trại chúng tôi, chúng nó đang đẩy xe chất đầy khung cửa sổ ra ngoài; thằng Eddi Sillus cũng có mặt ở đó.
Vì lúc này tôi chẳng muốn giáp mặt ai, mà chỉ muốn sớm biết xem mọi chuyện của mình thế nào thôi, nên tôi lẩn ra phía sau khu xưởng, và, vừa khuất gió vừa khuất tầm mắt người khác, tôi đi một lúc rồi đâm ra lối đi chạy vòng vòng dẫn tới ngôi nhà quét vôi màu xanh lam của Ban Giám đốc. Tôi bước hai bậc một lên cầu thang xây trước cửa. Tôi kéo cánh cửa bằng gỗ sồi đánh véc ni bóng loáng ra, rồi làm một hơi thở dài. Sau đấy, tôi theo cầu thang lên phòng giám đốc. Trong đầu tôi, tôi đã chuẩn bị sẵn một lô câu trả lời, hay ít nhất tôi cũng biết trước, tôi sẽ phải trả lời các câu hỏi lắt léo ông ta chắc sẽ đặt ra như thế nào. Tôi không muốn ngoan ngoãn để họ ngắt giờ Đức văn giữa chừng mà không phản đối gì, tôi muốn mình phải trước sau như một mới được. Thôi, cứ ngắn gọn mà nói, thì tôi sẵn sàng tranh đấu cho việc tôi tiếp tục bị phạt để viết nốt bài luận. Với ý nghĩ đó, tôi bước tới bên cánh cửa phòng ông giám đốc, và vừa dỏng tai lên nghe ngóng, tôi vừa giơ ngón tay lên, toan gõ vào cửa. Song, ngón tay tôi chưa kịp chạm vào cửa, thì từ phòng phía trong bỗng ầm ầm nổi cơn giông âm nhạc: bắt đầu bằng tiếng sấm truyền, nghe giống như tiếng gầm giận dữ của Đấng Cứu thế, vâng, bằng một âm thanh dữ dội, dường như ông Himpel đang để cho các tảng băng vỡ ra, đang khiến các mảng sông băng răng rắc rạn nứt; trong nhịp điệu khởi đầu nghe khá khắc nghiệt, ông phóng thích một lúc nhiều dòng sông miền núi khỏi lớp băng đã đè nén, giam hãm chúng suốt mùa đông, vâng, ông đuổi mùa đông nặng nề ra đi, ông bắt mùa đông phải đi tha hương, và tất tật những nỗ lực đó của ông chỉ cốt làm cho tiếng lao xao phập phồng, vâng, tiếng thì thầm của mùa xuân mỗi lúc một rõ rệt. Người nghe không thể không nhận thấy, rằng lúc đầu, ông phác thảo một bầu trời đầy bão tố, dưới bầu trời đó, các thế lực đối nghịch nhau đang ganh đua nhau dữ dội, và ông cũng không để cho mùa xuân dễ dàng thắng thế, mà ông bắt nó phải vượt qua tất cả những xáo động, những gầm gào, thách thức của trời đất, để cuối cùng mới trương lá cờ màu xanh da trời của nó lên cao được - vâng, mong sao tôi chỉ kể lại như vậy là đủ hiểu. Nhưng sau đó, ông để cho mùa xuân hân hoan chiến thắng, cùng tiếng hải âu và tiếng còi tầu, cùng những đợt sóng lăn tăn vỗ về, hòa cùng những tiếng cười vui, tiếng xì xào say đắm: phải, tôi có thể cầm chắc, rằng dàn đồng ca của trại sẽ sắp phải trình diễn bài ca mùa xuân mới này của ông, và thậm chí - vì giấy mời đã được gửi đến rồi - rất có thể còn phải tham gia buổi hòa nhạc của các bến cảng do Đài phát thanh miền Bắc Đức tổ chức cũng nên.
Vì tiếng gõ cửa của tôi không đủ át tiếng nứt vỡ của sông băng, tôi đành chờ cho đến lúc mùa xuân toàn thắng, rồi mới gõ lần nữa. Bây giờ thì ông nghe thấy tiếng tôi gõ cửa. Tôi được phép bước vào. Ông giám đốc Himpel, mặc áo bờ lu và quần cộc chẽn gối, đứng dậy khỏi chiếc ghế xoay ông đang ngồi trước đàn dương cầm, cúi lần nữa xuống bản nhạc lốm đốm nốt, miệng vẫn chưa ngớt “um- ta- ta; um- ta- ta”, rồi ông gật đầu vẻ hài lòng, đưa tay ra trước và bước về phía tôi. Tay ông ta ấm và ươn ướt. Tôi còn phải gọt giũa thêm, ông ấy nói, hàm hất ra phía sau. Liếc nhanh về phía bàn giấy của ông ta, tôi đoán ông đã đọc mấy quyển vở tập làm văn kín mít chữ tôi viết; nhưng, mặc dù vở của tôi xếp thành chồng ở đấy, tôi cũng hiểu ngay, hiện giờ ông đang tạm thời quên vụ việc của tôi và không có hứng thú nào mà nói chuyện với tôi cả, bởi các cơn giông chưa dứt của mùa xuân vẫn còn xâm chiếm tâm trí ông. Mãi đến lúc cúi người xuống nhìn vào cuốn sổ ghi lịch làm việc, ông mới nhận ra tôi chính là kẻ ông đóng khung đỏ trong sổ - tức là ông cũng coi việc này ít nhiều quan trọng - và vẫn đứng bên bàn giấy, ông đưa tay lên ngang tầm mắt, ra hiệu chào tôi lần nữa. Ông mời tôi ngồi xuống. Riêng ông lại không ngồi, mà vẫn đứng nguyên ở tư thế hơi gượng gạo, ông lật lật và đưa mắt đọc lướt qua đôi chỗ trong quyển vở của tôi, nụ cười mỉm nở dần trên môi ông ra hiệu cho tôi biết trí nhớ ông đang dần dần hồi lại, lúc này ông lắc lắc đầu có vẻ không tin, lúc khác ông gật gật đầu tán thành; ông phô diễn các suy nghĩ nghiêm túc đang diễn ra trong đầu ông qua cách nhiều lần bật bật đôi môi, có lần ông còn định vỗ đùi, nhưng chỉ vỗ đúng vào đoạn thừa ra của quần chẽn ống. Vâng, sau khi lật các trang giấy và đọc lướt lại nội dung bài luận tôi viết như thế, và nhớ lại phần nào đầu đuôi sự việc, ông bước nhanh về phía cánh cửa dẫn sang phòng thư ký của ông, rồi mở toang ra và nói to: Chị báo giúp sang bên phòng mười bốn cho họ biết tôi chờ họ nhé, đoạn ông khép cửa lại, và, do trong lúc quay trở lại bàn giấy, ông cố tình không nhìn tôi, nên tôi hiểu ngay, tôi không còn hy vọng được thưa chuyện riêng với ông nữa rồi.
Nghị sĩ Riebensahm trong bức chân dung sơn dầu treo phía trên bàn giấy - gầy gò, xương xẩu, ánh mắt ngây ngô nhìn từ cảnh tranh tối tranh sáng họa lại của người xưa - có vẻ để tâm đến các con tàu từ xa, chẳng hạn từ Kamerun, đang tiến vào sông Elbe, hơn là đến những gì diễn ra trong phòng ông giám đốc Himpel. Vâng, cho nên tôi không thể trông cậy vào sự hỗ trợ của ngài nghị sĩ đó được. Tôi đành dỏng tai nghe tiếng chân cô thư ký vậy; mang giày cao gót có bọc kim loại, cô ta rời khỏi phòng, nện gót như nện búa dọc hành lang đến phòng số mười bốn, khẽ nói cái gì đó kiểu như mật khẩu vào trong phòng, rồi ngay lập tức quay trở lại phòng thư ký - nhưng bây giờ không phải chỉ có tiếng chân của riêng cô nữa, mà kéo theo tiếng chân nhiều người khác - và mở cửa ra cho vài nhà tâm lý học bước vào phòng ông giám đốc. Tôi cảm thấy nhẹ nhõm trong lòng, khi thấy bọn họ cả thảy có năm vị, vị nào vị nấy rõ ràng đều đến tham dự một hội nghị quốc tế nào đó ở Hamburg, bởi ai cũng gắn một tấm biển con con ghi tên họ người đó ở ve áo vét. Chỉ có một vị không đeo biển tên đang ra hiệu chào tôi với vẻ bằng hữu thân mật - là anh chàng Wolfgang Mackenroth. Sự có mặt của anh ta, tuy không làm tôi đỡ lo lắng, nhưng không rõ tại sao, lại làm tôi vui vui thế nào đó. Tôi cũng ra hiệu đáp lại anh ta, không che giấu nỗi vui mừng của tôi. Trong khi đó ông giám đốc lần lượt bắt tay các nhà tâm lý học, tủm tỉm cười nghe khách chuyển những lời chào từ Zürich, từ Cleveland thuộc bang Ohio, hay từ Stockholm đến cho ông, rồi lên tiếng đáp lại, với giọng hơi cao, hơi xúc động và khôn khéo xếp khách khứa của ông đứng thành hình bán nguyệt trước mặt tôi. Ông định chuyện gì đây? Đôi mắt ông để lộ ý đồ gì không biết nữa? Nhà nghệ sĩ cưỡi ngựa này toan trình diễn tiết mục sư phạm nào đây? Dạy thú ư? Đi thăng bằng trên dây ư? Hay đu dây tâm lý học? Ông định bắt tôi leo lên thang dây cất lên từ các tham vọng của ông, bắt tôi nhào lộn vài vòng trên không rồi rơi xuống, để ông tự đứng ra làm người đón đỡ đáng tin cậy hay sao?
Không, ông giám đốc Himpel không diễn tất cả những trò đó. Ông thân mật đặt tay lên vai tôi. Ông đề nghị tôi đồng ý để ông nói sơ qua cho các vị khách của ông nghe về vụ việc của tôi, và cầm chắc tôi sẽ không phản đối gì, ông cứ thế là kể luôn. Mọi sự bắt đầu với bài luận trong giờ Đức văn, ông nói vậy. Đề tài bài luận là: “Niềm vui nghĩa vụ”. Sau một tiếng làm bài, ông nói tiếp, anh Jepsen đây đem nộp quyển vở giấy còn trắng tinh, chưa viết một chữ nào - quyển vở để trống không phải vì anh không có gì để viết, mà vì - theo lời anh ấy nói - có nhiều chuyện để kể quá. Vâng, hẳn đây là hiện tượng tắc nghẽn lúc khởi đầu. Hội chứng Korsakoff. Thế là chúng tôi thỏa thuận một biện pháp kỷ luật, buộc anh Jepsen phải làm lại bài luận. Anh Jepsen được phép viết lại bài luận trong một gian phòng cách biệt. Đoạn, ông nhắc lại các điều kiện đã thỏa thuận với tôi: tôi không được đón khách đến thăm, nhưng tôi cũng được miễn các công việc lặt vặt, vân vân. Và, ông mô tả cho các vị khách đang lắng nghe - không phải là chăm chú nín thở, mà có vẻ uể oải nhiều hơn - cái cung cách mà tôi đã lao vào công việc. Toàn tâm toàn ý. Đầy hứng thú. Nhưng đến lúc ông giám đốc thông báo cho các vị khách biết, rằng thời gian tôi bị phạt để viết lại bài luận đã kéo dài một trăm lẻ năm ngày, thì các vị khách, ai nấy đều dỏng tai chú ý nghe thật. Từ ba tháng nay, ông nói, anh Jepsen của chúng tôi, người đang đứng trước mặt các vị đây, đã cố gắng hết sức để hoàn thành bài luận. Anh ấy không thiếu kiên nhẫn - ông giơ cao tập vở của tôi lên - đây chính là bằng chứng hùng hồn cho lời tôi vừa nói. Nhưng, như các vị thấy, ông nói, bài luận đã phình tới mức độ đáng lo ngại. Sự cưỡng bách về tên tuổi, cưỡng bách về địa danh. Triệu chứng tâm thần mnemism. Sau cùng, ông bảo tôi, nếu tôi thấy ông nói có gì sai thì cứ việc đính chính. Đáp lại lời ông, tôi chỉ biết nhún vai.
Vị khách từ Cleveland, bang Ohio, Mr. Boris Zwettkoff, đón mấy quyển vở của tôi từ tay ông Himpel, dùng ngón tay cái lật vù vù các trang giấy đầy kín chữ là đủ biết hết nội dung, vị khách từ Zürich, một ngài Carl Fouchard Jr. nào đó, cùng vị khách từ Stockholm, một vị mang tên Lars Peter Larsen cũng vậy, đều để lộ một thứ biệt tài hiếm thấy của họ là - tuy cũng có lật chỗ này chỗ kia trong mấy quyển vở ra, rồi xem lướt qua thật - nhưng đúng ra chỉ cần đặt chúng lên tay, ướm xem nặng nhẹ thế nào là họ đã nhìn xuyên suốt và nắm bắt đầy đủ nội dung những gì tôi viết trong đó để đủ phán nó hay dở, tốt xấu thế nào rồi. Riêng có tay Wolfgang Mackenroth không xử sự như vậy. Anh ta là người cuối cùng đến lượt, cẩn thận đón mấy quyển vở lên tay, vuốt vuốt cho phẳng các nếp nhăn, và xếp ngay ngắn lên bàn giấy. Tôi thở phào, tưởng màn trình diễn thế là xong và khoan khoái đổi tư thế đứng, thì ông giám đốc Himpel từ phía sau bước tới. Sau khi ném về phía các nhà tâm lý một cái nhìn yêu cầu họ bây giờ phải đặc biệt chăm chú và ghi nhận những gì sẽ xảy ra, ông hướng về phía tôi, nói rành rọt, rằng bài luận tôi viết như thế không những đã đủ, mà còn vượt quá mọi mong đợi của ông. Ông đề nghị tôi kết thúc giờ Đức văn ở đây. Theo lời ông, tôi đã thuyết phục được cả ông lẫn Tiến sĩ Korbjuhn. Ông đề nghị tôi quay trở lại với cộng đồng anh em trên cù lao và nhận công việc của tôi tại thư viện cù lao. Anh đã nhận thức được - nguyên văn lời ông nói với tôi lúc đó - anh đã nhận thức được, rằng một khi đã ra đề, thì bài luận phải viết cho bằng xong. Đó mới là điều chúng tôi mong muốn anh nhận thức được, chứ không phải chúng tôi muốn phạt anh. Rồi, như thể muốn dành cho tôi món quà riêng tư, ông nói tiếp: Vả lại, đã sang xuân rồi.
Lẽ ra ông không cần nói thế, nhất là khi ông cũng thừa biết, rằng cả bọn chúng tôi trên cù lao này, có đứa nào không bị tước mất mùa xuân rồi đâu. Dù sao tôi cũng ngạc nhiên, trân trân nhìn ông; đề nghị của ông quả đã làm tôi bất ngờ. Thế nào, ông hỏi, anh thấy thế nào? Nếu ngày mai ta chấm dứt biện pháp kỷ luật bắt anh phải làm bài luận lại, thì không phải là hay ư? Ăn mừng gặp lại anh em, bạn bè chứ nhỉ? Anh thấy sao? - Thưa ông, tôi đáp, bài luận vẫn chưa viết xong ạ. - Không sao cả, ông ta nói, những gì anh đạt được đủ làm chúng tôi hài lòng rồi, phần còn lại, ta gác sang một bên cũng được. - Thiếu phần còn lại, thưa ông, thì bài luận chẳng có giá trị gì ạ. - Quả thật là như vậy, tôi đã nghĩ sao nói vậy với ông. Câu trả lời của tôi làm ông Himpel sửng sốt. Ông đề nghị tôi giải thích cho ông cũng như cho khách của ông rõ, do đâu mà tôi lại sẵn sàng khước từ trở lại nhập bọn với bạn bè trên cù lao, khước từ cả mặt trời mùa xuân lẫn công việc tại thư viện, chỉ để viết cho xong bài luận tôi buộc phải viết ấy. Tôi ngước mắt qua cánh cửa sổ rộng trong góc nhìn ra sông Elbe, nhưng mới đầu không thấy gì để dõi theo cả, tôi liền đảo một lượt sang bãi cát ven sông của chúng tôi và phát hiện ra hai vận động viên bơi thuyền cùng ngồi trong một chiếc thuyền kayak màu xám bạc trôi từ trong rặng liễu trôi ra, trôi không ai điều khiển, không do mái chèo, mà trôi chếch chếch dòng nước, trôi mãi, trôi mãi, vì người bơi thuyền ngồi phía sau ôm lấy người ngồi trước, kéo người này ngửa ra sau, và bất chấp tư thế ngồi trái khoáy, áp mặt mình sát vào mặt người kia, hay đại loại như thế, trong khi mái chèo vẫn thọc xuống nước nhưng chưa tách khỏi thuyền.
Tại sao nào, ông giám đốc Himpel lại hỏi, tại sao chứ? Đến đây thì tôi lên tiếng đáp: Vì niềm vui thực thi bổn phận ạ. Tôi muốn hiểu hết niềm vui ấy từ đầu đến cuối, không cắt xén. - Nhưng nếu nó không bao giờ cạn thì sao? - ông hỏi, rồi nhìn quanh để cầm chắc các nhà tâm lý học đều đang lắng nghe ông - nếu niềm vui không bao giờ cạn kiệt thì sao? - Nếu thế thì càng dở, tôi nói, nếu thế thì càng tệ ạ.
Tôi có cảm giác họ có ý đồ gì đó với tôi, muốn làm sáng tỏ cái gì đó, nhưng tôi không nghĩ ra là cái gì. Hai người bơi thuyền vẫn để mặc thuyền trôi xuôi dòng, họ bám chặt vào nhau, nằm đè lên nhau, môi người này dán chặt môi người kia thì phải, và trên sông, đáng tiếc không có con tàu nào xuất hiện để có thể dùng mũi tàu cắt họ lìa nhau ra. Một mái chèo của họ vẫn giữ được nguyên đó.
Carl Fouchard Jr. chợt cất tiếng hỏi: Anh kể tất cả những chuyện đó cho ai? - Cho tôi thôi, tôi đáp, thì anh ta hỏi tiếp ngay: Điều đó làm anh an lòng ư? - Vâng, tôi nói, cái đó làm tôi yên lòng. Anh chàng người Thụy Điển không nói gì nữa, chỉ thỉnh thoảng lại liếc tôi với con mắt hằn học, như thể anh ta muốn đánh gục tôi vậy. Boris Zwettkoff - anh chàng người Mỹ - tỏ ra rất hài lòng, khi tôi dứt khoát nói “Không”, để đáp lại câu anh ta hỏi, liệu trong khi bị phạt, tôi có cảm giác đang đứng dưới nước, đang đi dưới nước hay đang bơi giữa dòng nước trong hay không. Một nhà khoa học vạm vỡ khác - mà tên anh ta tôi đọc không ra, bởi anh ta đeo ngược biển ghi tên; song qua giọng nói có thể đoán ngay là dân Hà Lan - làm tôi thật sự bất ngờ khi anh ta, trước hết, muốn biết tôi bao nhiêu tuổi, và sau đó, cỡ giày tôi mang là bao nhiêu; sau khi tôi cho anh ta biết cả tuổi tôi bao nhiêu, lẫn cỡ giày tôi mang là cỡ nào rồi, anh ta lại muốn biết trong khi tôi làm bài, tôi có bị đổ mồ hôi và rơi vào trạng thái hoảng sợ hay không; do tôi không muốn để anh ta thất vọng vì hỏi nhiều mà chẳng được gì, tôi bèn thú nhận tôi có hoảng sợ thật. Việc anh chàng Mackenroth không hỏi gì tôi cả, đôi lúc thậm chí còn mỉm cười khích lệ tôi, càng làm tôi có thiện cảm với anh ta. Do hội đồng khoa học quốc tế để tôi được yên thân, và thôi, không tiến hành các khảo cứu sâu hơn về tôi nữa, nên tôi đoán chừng, họ đã nhìn thấu ruột gan tôi, họ biết trường hợp của tôi không đáng để tranh cãi hay làm ầm ĩ với nhau làm gì.
Ông giám đốc Himpel rõ ràng không ngờ sự thể xoay ra như thế, ông những mong các nhà tâm lý học sẽ chất vấn tôi lâu hơn, nghiên cứu vấn đề sâu hơn, ông những hy vọng chứng kiến một buổi tranh luận, nếu không nảy lửa thì cũng sôi nổi, không dè cả chất vấn nghiên cứu lẫn tranh luận học thuật đều không thành, đâm ra lại đến phiên ông phải bận với tôi. Tôi liếc nhìn nhanh ra chỗ hai người bơi thuyền, thuyền họ bị lật, chìm nghỉm đi đường nào mất rồi, dòng Elbe trôi qua, trống trải, vô can.
Làm thế nào bây giờ nhỉ, anh Siggi, ông Himpel nói, chúng ta phải cùng nhau cố tìm cho ra một giải pháp, chứ việc này không kéo dài mãi ra như thế được. Hình thức phạt, buộc viết lại bài, ông nói, không phải là hình thức bất thường, nó được áp dụng khắp nơi, và trên cù lao đây, giá trị sư phạm của hình thức kỷ luật này cũng đã được khẳng định nhiều rồi. Thế nhưng, ông nói tiếp, hình thức kỷ luật nào cũng phải có giới hạn của nó: một trăm lẻ năm ngày - là đủ rồi. Hôm nay là ngày kết thúc hình phạt dành cho anh. Ông chìa bàn tay dày dạn kinh nghiệm của ông cho tôi, ông muốn đập tay với tôi, thỏa thuận kết thúc ngay tại chỗ giờ Đức văn của tôi, nhưng tôi lại cưỡng lại, không chịu đập tay với ông. Tôi kháng cự. Tôi xin được thêm giờ. Tôi hứa hẹn, không bao giờ làm mếch lòng ai nữa, chỉ cần ông cho tôi viết nốt bài luận. Hình như tôi còn cố tình kêu gọi lòng khoan dung độ lượng của ông. Thế nhưng, tất cả những lời phản đối, xin xỏ, hứa hẹn đều có vẻ không thành. Không biết làm thế nào mà rốt cuộc tôi vẫn đạt được mục đích của tôi ư? Thì tôi cứ nhắc ông nhớ lại thỏa thuận lúc đầu, nhắc lại chính lời ông cho phép tôi tự quyết định bao giờ tôi kết thúc bài luận. Không phải ông đã bảo tôi, việc có thể sẽ kéo dài, nhưng cần kéo dài bao nhiêu, ông cho kéo dài bấy nhiêu đấy thôi. Bằng cách nhắc lại đúng những lời ông nói như thế, tôi không làm ông đổi hẳn ý, nhưng dù sao cũng được ông tạm thời đồng ý cho tôi tiếp tục viết bài luận. Thôi được, thôi được, ông nói với giọng hơi có vẻ nhường nhịn, được rồi, được rồi, tôi đồng ý để anh làm tiếp.
Ông bước tới bên bàn và trả lại mấy quyển vở viết kín chữ cho tôi. Ông đưa mắt nhìn thẳng vào mặt các nhà tâm lý học với vẻ dò hỏi, nhưng vì các vị này không tỏ vẻ gì không tán thành cả, nên ông cho tôi về, và nói: Lối quay lại thế nào, hẳn anh biết rồi. Tôi đồng ý cấp thêm cho anh một quyển vỏ mới, cả mực nữa.
Thở phào nhẹ nhõm, tuy không hẳn là đã hết lo lắng, tôi len qua giữa các vị khách đang đứng thành hình bán nguyệt trước mặt, nhưng cũng cố tình đi ngang qua chỗ anh chàng Mackenroth đứng. Anh này nháy mắt với tôi. Tôi có cảm giác, ánh mắt anh ta tỏ vẻ cảm phục lắm. Thế nhưng, trong khi ở phía trên anh ta nháy mắt với tôi một cách vô thưởng vô phạt, thì ở phía dưới, ngang tầm túi áo vét của tôi, anh ta làm một việc ít vô thưởng vô phạt hơn là nhẹ nhàng, khéo léo, nhanh nhẹn và tất nhiên rất kín đáo, các ngón tay gầy gò của anh ta mở túi áo tôi ra, nhanh như chớp nhét thứ gì đó vào trong túi, nhanh đến mức vẫn còn kịp vuốt vuốt bên ngoài túi cho phẳng, rồi rụt ngay lại. Tôi hầu như không hay biết gì, nhưng chắc chắn chuyện đã phải xảy ra như thế. Nếu bây giờ tôi có bảo, trong bọn tôi, chỉ một mình thằng Ole Plötz - chuyên gia móc túi xách tay - là đủ tài lặp lại nhanh như thế mà thôi, thì cũng không phải quá phóng đại.
Ra đến cửa tôi quay người lại chào vội các vị trong hội đồng lần nữa, nhưng vội thì vội, tôi vẫn kịp nhìn thẳng mặt anh chàng Mackenroth: nét mặt anh ta không hề để lộ chuyện gì vừa xảy ra, anh ta đã kịp kéo mặt nạ mang vẻ dửng dưng ra che mặt. Cái kiểu anh ta đứng đã đủ xua tan mọi nghi ngờ có thể có rồi, chẳng cần buông thêm một lời nào nữa.
Ra đến ngoài hành lang, tôi mới thọc tay vào túi áo để xem những thứ nhà tâm lý học trẻ tuổi lén nhét vào là gì. Cũng không nhiều nhặn lắm: tay tôi chạm vào một xấp giấy được kẹp vào với nhau bằng kẹp giấy và gập đôi lại, ngoài ra còn một bao thuốc lá mỏng nữa, chứa mười hai điếu. Tôi tạt ngay vào toilet. Tôi nhét bao thuốc lá vào phía trong tất chân bên phải, xấp giấy tôi bẻ cong lại như tấm khiên ở bắp chân bên trái rồi kéo tất lên cho vòng dây thun ôm lấy tập giấy. Tôi cẩn thận thả ống quần xuống che kín chân. Tôi rửa tay, hớp một hớp nước, vã ít nước lên trán. Các cánh cửa sổ đều mở toang, luồng không khí mùa xuân có lẽ do ông Himpel lùa vào đây sặc mùi amoniac cay gắt. Từ dưới sân vọng lên tiếng ai đó huýt sáo bài “Rock Around the Clock”, nhưng khá lạc điệu; chỉ cốt để khỏi phải nghe điệu nhạc lạc điệu ấy, tôi kéo nước xối ầm ĩ trong cả ba ngăn cầu tiêu để cho giai điệu nhạc Rock bị cuốn đi theo dòng nước xả. Rồi tôi quay trở lại hành lang, dỏng tai về phía cửa văn phòng ông Himpel, nhưng ngoài tiếng gì giống tiếng rên mãn nguyện - như thể ai đó đang được xoa bóp - tôi không nghe thấy gì khác, nên tôi quay người đi về phía cầu thang, tụt xuống phòng cấp phát văn phòng phẩm ở tầng dưới.
Phòng cấp phát văn phòng phẩm nằm ở tầng dưới cùng của tòa nhà Ban Giám đốc, bên cạnh thư viện; hai phòng này thông nhau, và cả hai việc - xuất nhập sách ra cũng như cấp phát văn phòng phẩm - đều do một người duy nhất đảm nhiệm. Tôi đã biết trước, ai sẽ xuất hiện trước mặt tôi sau khi tôi gõ cửa, ai sẽ đón tôi với nụ cười xảo trá và, vừa nhai cái gì đó, vừa hỏi, đại loại: Mọi việc ổn cả chứ, hả? Thằng này thuộc loại lớn tuổi nhất trong bọn tôi. Tất cả bọn chúng tôi ở đây, không những đứa nào cũng buộc phải kết bạn với nó, mà còn thường xuyên phải tỏ ra quan tâm, săn sóc đến nó. Bởi vì nó ở trên cù lao này đã năm năm rưỡi, nên nó thản nhiên tự dành cho mình những quyền lợi đặc biệt, và chẳng có ai trong chúng tôi tự cho phép mình từ chối không đẩy món tráng miệng của mình cho nó, nếu chẳng hạn, nó cất tiếng tưng tửng bảo: Này Siggi, bát chè tráng miệng của mày muốn sang với tao, mày đẩy giúp nó sang đây cho tao với. Cái thằng này, cứ nhìn bộ dạng, khi nó vác mái đầu húi cua và cặp môi dày tiến về phía anh, cứ quan sát nó, lúc nó - vào một giờ Đức văn nào đấy - từ chỗ sửa soạn, rồi chuyển sang lên cơn động kinh như thật, co giật rồi ngã vật ra, thì anh có thể cầm chắc thằng này còn dám làm nhiều chuyện quái gở hơn nữa lắm, duy có một việc thì hơi khó tin: có đứa cam đoan, thằng này chỉ cần liếc thấy một cái túi xách trên tay người đàn bà nào đó, là lập tức trong lòng nó sẽ nổi cảm hứng, một thứ cảm hứng mãnh liệt đến mức làm trỗi dậy một tài năng đặc biệt trong con người nó, giúp nó có thể biết bên trong túi xách chứa đựng những thứ gì. Mặc dù tôi cho lời đồn, bảo nó chỉ cần vuốt một cái là mở được tất cả các loại khóa túi xách tay, là lời đồn ít nhiều phóng đại, nhưng có hai đứa trong bọn tôi, nghe đâu đã thực sự chứng kiến thằng này biểu diễn ngón tài lẻ ấy ra sao.
Nói sao thì nói, nhưng thằng Ole Plötz là thằng thế chân tôi ở thư viện, và cũng như tôi dạo trước, nó phải đảm nhiệm luôn cả việc cấp phát văn phòng phẩm. Tiếng gõ của tôi gọi nó ra cửa. Nó mở phần trên của cánh cửa, cười nhăn nhở, kéo một tấm gỗ ra và biến nửa dưới của cánh cửa thành một thứ bàn như bàn học sinh, uể oải chống hai cùi tay lên đó, rồi ngẩng mặt lên hỏi: Mọi việc ổn cả chứ, hả? Tôi đáp, phải, mọi sự đều ổn, rồi vừa lắng tai nghe ngóng, tôi vừa thò tay vào trong quần, với xuống dưới đùi, và - tai vẫn để ý nghe ngóng - lôi bao thuốc lá lên, nhón ra ba điếu đặt vào bàn tay lúc nào cũng mở sẵn của thằng Ole, rồi đã tính lại giấu biến bao thuốc đi, nhưng tôi không ngờ đến ý thức nhạy bén của thằng Ole đối với lẽ công bằng: nó khéo léo giằng lấy bao thuốc từ tay tôi, đếm lướt qua rất nhanh và phát hiện nó bị thiệt mất ba điếu, nó liền thản nhiên lẳng lặng lôi ba điếu ấy ra, rồi trả số điếu còn lại cho tôi và giơ một ngón tay lên ngang trán chào, ngỏ ý cảm ơn. Tao giúp được gì cho mày nào, nó hỏi tôi, và trong lúc hỏi, nó để lộ cho tôi biết cái nó đang nhá nhá trong mồm là cái cúc áo, cúc áo bằng sừng, và nếu tôi không nhầm, có lẽ là cúc áo của chiếc áo khoác mùa đông nào đấy. Tôi xin nó phát cho tôi một quyển vở không đường kẻ và một lọ mực, nhưng rồi tôi lại chữa lại ngay, xin cấp hai quyển. Thằng Ole đáp: Mày nghĩ cho kỹ xem mày cần những gì đi. Hôm nay, bọn tao rộng rãi hào phóng lắm, nếu hôm nay mày có muốn lấy năm quyển cũng được, mà có lấy hết chỗ của nợ ấy càng hay; còn ai lạ gì mày.
Thì họ phạt tao, bắt tao viết lại bài luận - tôi nói như để tự bào chữa - chuyện thế nào, chúng mày đều biết cả đấy thôi.
Phải, chúng tao biết cả, nhưng chúng tao cũng chưa bao giờ thấy đứa nào lại khoái được phạt như mày. - Nào tao có làm gì đụng đến chúng mày đâu, tôi đáp, còn nó lại đốp luôn: Trong trại này, tự mày, mày làm thế, khiến không ai ưa được mày, nhưng hôm nay, bọn tao tha thứ cho mày. Hôm nay, ai bọn tao cũng tha thứ hết.
Có chuyện gì đặc biệt thế? Tôi tò mò hỏi.
Chẳng có gì đặc biệt cả, nó nhăn nhở đáp. Chỉ có đôi ba người muốn dời chỗ ở thôi. Đổi chỗ. Đổi khí trời. Con người ta vốn trưởng thành, tao đọc ở đâu đấy như thế, và nếu một người trưởng thành tự nguyện rời bỏ nơi nào đó ra đi, thì đó đã là một lời phê phán rồi!
Chúng mày định chuồn chắc? Tôi hỏi.
Chúng tao nghĩ mày sẽ đi cùng, nó nói khẽ, dỏng tai nghe ngóng phía ngoài, túm cổ áo tôi, kéo tôi qua cái bàn tạm bợ về phía mình. Mười một giờ tối nay, nó thì thầm, mọi thứ đã bàn định hết rồi, bọn tao có sáu đứa cả thảy. Tôi hỏi dò, chúng nó tìm đâu ra xuồng, thì nó đáp với vẻ miệt thị ra mặt, chỉ đứa nào không biết bơi mới cần đến xuồng. Tôi lại hỏi nó có thông thạo các luồng nước chảy trên sông Elbe không, thì nó bảo tôi, đã bơi thì bao giờ cũng được lợi, nhờ nước thủy triều lên. Nó không thể và cũng không muốn xem lão Karl Joswig là trở ngại lớn, vì một mình thằng Eddi Sillus đã nhận xử lý lão giám thị đáng mến của chúng tôi rồi - thằng Eddi, cái thằng đã sớm giành được đai quán quân võ judo vùng Tây-Bắc Đức ấy mà.
Tôi muốn biết xem, chúng nó đã lo liệu thế nào cho trường hợp may mắn gặp được dòng nước thuận dạt sang bờ bên kia, ở chỗ gần Blankenese chẳng hạn, thì nó buông tôi ra, nhìn tôi chằm chằm với vẻ xỏ lá và lầu bầu nói “đồ vô dụng” hay “đồ ăn hại” gì đó, rồi thản nhiên lôi một điếu thuốc ra châm hút. Nhưng nó chỉ làm vài hơi rồi lại dụi đi ngay. Sau đó, nó đến bên giá xếp văn phòng phẩm, lấy xuống ba quyển vở ném ra trước mặt tôi. Đoạn, nó lại lục lọi trong thùng các tông lôi ra một lọ mực nhỏ quẳng ra cho tôi; cả quyển sổ biên nhận nó cũng ném đánh xoạch cho tôi rồi dùng ngón tay trỏ gõ gõ vào nơi tôi phải ký tên vào. Tôi biết ngay, thằng Ole Plötz không buồn chuyện trò với tôi nữa.
Tôi không thể lặng lẽ chia tay nó một cách hằn học thế này được, ngay cả lúc này cũng không được, tôi phải nhượng bộ, bởi chả biết rồi mọi sự sẽ ra sao, nên tôi hỏi tiếp: Sang đến bờ bên kia, chúng mày định thế nào? Nó liếm liếm đôi môi dày, dựng tấm gỗ lên và mở nửa dưới cánh cửa ra. Đến chỗ chị tao, nó nói nhỏ, cả bọn sẽ trốn ở nhà chị tao. Ông chồng chị tao đang theo tàu ra khơi. - Thế thì bọn mày có thể chờ cho qua trận bão đầu mùa, tôi gật gù, còn nó lại nói, có vẻ mủi lòng: Mày sẽ đi cùng bọn tao chứ. Ai lại bỏ rơi bạn bè bao giờ, đúng không? - Nó nhìn vội ra ngoài hành lang, rồi hỏi: Thế nào? Mười một giờ nhé? Đến mở cửa mày cũng chẳng cần mở. Chúng tao khắc đón mày.
Không biết tôi đã gây cho nó ấn tượng thế nào, khi tôi đứng đực ra trước mặt nó, lưỡng lự, tự dằn vặt, giữa mong muốn và nghĩa vụ, giữa một bên là bổn phận, với bên kia là bị cưỡng bức? Một mặt tôi đã hình dung ra cảnh chúng tôi chạy trốn, cảnh lão Joswig bị trói, cảnh cả bọn rón rén chạy theo hành lang, căng thẳng đứng khuất sau khu xưởng dỏng tai nghe ngóng, cảnh theo nhau nhảy tới gốc liễu trên bãi cát bên sông, rồi tiếng chó sủa - có lẽ cũng đúng tiếng chó sủa thằng Philipp Neff dạo nào đã bất chợt nghe khiến nó sợ đến ngạt thở - cảnh cả bọn lội bì bõm, lết đến chỗ nước sâu, rồi lặng lẽ thả mình xuống, và mặt trăng sẽ chiếu lên sáu gương mặt, sáu gương mặt sáng bạc, nhỏ bé, trông giống như những cái phao tròn chưa từng thấy trên sông Elbe, trôi ngược chếch dòng - khôn khéo lựa theo dòng chảy - để dạt về hướng Blankenese; nước lạnh như kim châm, một tiếng kêu và cánh tay giơ lên cao, không, không phải tiếng kêu, mà ánh đèn, ánh đèn đang mỗi lúc một gần, mời chào, phải, ánh đèn ở Blankenese mời chào vẫy gọi, bóng dáng rập rình của bãi cát mà có lẽ thằng Philipp Neff hồi nào đã nhìn thấy trước mắt mà không vươn tới được, tiếp đến là bóng sáu đứa chúng tôi nối đuôi nhau bì bõm lội về phía bờ, những bóng người mỗi lúc một lớn lên, khiến ai đó có thể tưởng, chúng tôi vừa bám theo đáy sông Elbe lội sang đến đây.
Vâng, nhìn phía bên này, tôi hình dung ra một viễn cảnh như thế và phải thừa nhận nó không phải là không hấp dẫn. Nhưng nhìn sang phía khác, tôi lại thấy các quyển vở tôi đã viết kín chữ, tôi nhấc trên tay xem nặng nhẹ thế nào, giống như các nhà tâm lý học trước đó đã nhấc thử, và dưới ánh mắt quỷ quyệt của thằng Ole, tôi nghĩ đến đề tài thầy Korbjuhn đặt ra cho tôi, thậm chí còn giao riêng cho tôi là đằng khác. Tôi nghĩ đến niềm vui thực thi bổn phận bắt đầu nảy nở, đến tất cả những điều tôi muốn chia sẻ hay thú nhận với mọi người: chẳng lẽ tôi lại vứt bỏ giữa chừng? Viên cảnh sát ở nơi cực Bắc nước Đức, ông họa sĩ, ông anh Klaas của tôi, ông Asmus Asmussen, Jutta, không lẽ tôi lại có quyền không cho họ được giãi bày, được tự bào chữa hay sao? Chẳng lẽ tôi phải kéo màn, tự ý phủ bóng đen lên mọi sự hay sao? Chẳng lẽ tôi phải bỏ dở câu chuyện? Liệu tôi có quyền tự ý vứt bỏ tất cả các kỷ niệm không phải ngẫu nhiên mà trỗi dậy trong lòng tôi không? Sau khi tôi đã cố gọi lại bấy nhiêu ký ức, không phải bây giờ là lúc phải chờ kết quả sẽ ra sao ư?
Không, Ole ạ, không được đâu, tôi nói. Không được đâu, tao rất tiếc, nhưng không được đâu, tao không trốn với chúng mày được. Tao không bỏ dở bài luận được. Chưa bỏ được. Thằng Ole đóng phần cửa phía dưới lại, rồi nói: Hóa ra các niềm vui bổn phận của họ cũng làm mày mất hồn rồi đấy. Cũng được, đối với tao thì mày cứ việc chết ngạt với các niềm vui ấy cũng chẳng làm sao.
Mày hiểu cho tao, tôi nói. Nó đốp lại, thôi mày cầm lấy mấy quyển vở của mày rồi xéo đi cho tao nhờ. Mày phải hiểu cho tao, Ole, tôi lại nói, còn nó, nhăn nhó khó chịu: Hiểu cái gì mới được chứ? Phải hiểu cái gì mới được nào, nếu có thằng tự khuấy cứt lên mà ngửi thì tao phải hiểu cái gì nào? Vở của mày đấy, mày cầm lấy mà xéo đi. - Hượm đã nào, tôi nói, chờ ít lâu nữa thì tao sẽ đi với bọn mày. - Đã bảo tối nay là tối nay, thằng Ole đáp. Hôm nay còn sớm quá, tao chưa đi được, tôi nói, rồi tiếp luôn: Chúng mày phải cẩn thận lão Joswig, hình như lão đánh hơi được cái gì đó rồi thì phải, lão có vẻ ngờ vực thế nào đó. - Chuyện ấy chúng tao khắc lo, nó đáp, rồi đưa mắt bảo tôi lùi lại cho nó đóng nửa trên của cánh cửa lại. Tôi đành nhượng bộ và, để đánh trống lảng, tôi hỏi nó công việc ở thư viện thế nào, nhưng thằng Ole Plötz không nghe tôi nói nữa, nó đóng cửa lại trước mũi tôi, khiến những lời cuối cùng tôi nói là nói với tấm biển “Cấp phát văn phòng phẩm”. Cuộc đọ sức đã kết thúc, nhưng ai thắng nhỉ? Chúc may mắn nhé, tôi nói với tấm biển, chúc chúng mày tối nay may mắn.
Tôi quay về, tôi phải quay về phòng mình, tay ôm mấy quyển vở, lòng bàn tay nắm chặt lọ mực đầy, bên ngoài bê bết bụi - những thứ bảo đảm cho tôi tiếp tục viết bài luận tôi bị buộc phải viết. Không ai thuyết phục nổi tôi bỏ cuộc, ngay cả lời rủ rê trốn trại cũng không đủ sức quyến rũ tôi vứt bỏ công việc. Tôi phải quay lại, đơn giản có thế thôi, và tôi dùng vai đẩy cánh cửa bản lề lò xo, rồi đi xuyên qua những âm thanh mùa xuân dữ dội mà ông Himpel đang cho phát ra từ phòng ông: hình như ông vừa cho đàn chim di trú cưỡi gió từ phương xa trở về thì phải, nào sáo, nào nhạn, nào cò - nhưng cò không bay thành đàn, mà bay lẻ từng con - ông để đàn chim phành phạch, vù vù vây lấy ngôi nhà Ban Giám đốc, song, ông không tránh nổi một sự thật là bản nhạc mùa xuân của ông đang nhích lại rất gần, đang mỗi lúc một giống với một bài ca mùa xuân quen thuộc, thiên hạ vẫn hát đi hát lại mãi rồi. Bên ngoài, giữa bầu không khí trong lành, một dạng mùa xuân khác, mùa xuân xứ Hamburg, đang trải ra dưới ánh nắng êm ả chiếu xuống mảnh sân rải cát. Đúng rồi, đã đến lúc phải tưới nước cho ruộng cải bắp. Rặng liễu, mà dòng sông luôn co kéo, không còn rủ thấp xuống nữa. Bầu trời đượm màu xanh lam của nước sông. Các luống rau diếp, rau xà lách đâm lá xanh mơn mởn. Các nhà tâm lý học đầy phấn chấn đều mở phanh áo khoác. Trong các gian xưởng mở toang cửa, hay trên các luống rau, tụi bạn tôi đang bị người ta bắt buộc phải cật lực làm việc để khám phá ra lợi ích của lao động; các giám thị phì phèo thuốc lá, uể oải, chán chường đứng cạnh để trông chừng.
Không, mùa xuân ở đây không phải là mùa xuân của ông Himpel, mùa xuân ở đây đang lan rộng ra xung quanh, nhưng không hề làm tôi động lòng, lúc tôi đi ngang sân tiến về phía phòng mình; phải, nó không hề làm lòng tôi rung động chút nào, tôi phải nói thẳng ra như thế, hay ít ra cũng không khiến tôi muốn ngắm cảnh mùa xuân đang lan ra, đang gồng mình lấn tới. Đột nhiên tôi rảo bước chạy. Tôi chạy với xấp vở trên tay, lòng bàn tay nắm chặt lọ mực. Tất nhiên, đôi ba viên giám thị ném ngay về phía tôi những ánh mắt nghi ngờ, nhưng do tôi không chạy về phía bãi cát ven sông, mà lại biến vào khu nhà ở, cho nên họ chẳng buồn động chân động tay. Mà thực ra, nếu họ có đuổi theo tôi, thì chẳng mấy chốc họ sẽ nhận ra rằng các nỗ lực của họ đều công cốc, bởi vì họ sẽ chỉ chứng kiến cảnh một gã thanh niên mặc bộ đồng phục dành cho đám thanh thiếu niên khó dạy đang chạy hộc tốc, xoạc cẳng vượt liền một lúc hai ba bậc lên cầu thang, rồi ngơ ngẩn dừng lại trước phòng giám thị vắng tanh không một bóng người, dỏng tai nghe ngóng về phía hành lang, trước khi sốt ruột cất tiếng gọi tên lão giám thị để xin lão tống gã về phòng giam; nhưng sau đó, có lẽ họ sẽ chỉ chứng kiến cảnh gã thanh niên, mà người ta nhốt giam chỉ nhằm mục tiêu biến gã thành người tốt hơn ấy, bước vào căn phòng trống trải của viên giám thị, ngớ ngẩn lục lọi tìm chìa khóa phòng gã, rồi, do không tìm thấy chìa khóa đâu, gã đành ngồi xuống chiếc ghế xoay nhằng nhịt vết bẩn; để chờ.
Phải, tôi ngồi chờ lão Joswig. Chẳng biết làm gì cho hết giờ, tôi lục lọi bàn giấy lão, nhưng chẳng tìm thấy gì, ngoài năm chục tỉ tiền lạm phát cũ, loại tiền giấy mà lão giám thị đáng mến của chúng tôi sưu tầm, cũng như mọi thứ tiền đã mất giá trị khác. Tôi còn tìm thấy mẩu bánh mì pho mát, bị bỏ quên hàng năm rồi chứ không ít, cong queo, khô cứng như đá. Cho đỡ chán, tôi cũng lôi cả cái bảng ghi một vài số điện thoại quan trọng xuống xem xét cho kỹ: Số điện thoại trại phía Tây, trại phía Đông, giám đốc Himpel, nhà kho, văn phòng, báo động. Chả biết đêm nay còi báo động có nổi lên không? - Xưởng I-IV, tôi đọc tiếp, số điện thoại thợ làm vườn, phòng vật liệu, bệnh xá, nhà bếp.
Vẫn chưa thấy mặt mũi lão Karl Joswig đâu. Tôi treo cái bảng ghi số điện thoại lên chỗ cũ, lôi tấm lịch tường xuống và toan giết thời gian bằng cách đọc các câu châm ngôn in trên mỗi tờ lịch; tôi lật lật các tờ lịch ngược chiều thời gian, qua mùa thu, quay lại mùa hè, tới mùa xuân thì sửng sốt phát hiện ra bức tranh đầu tiên: tranh vẽ một người đàn ông khổng lồ, đang lội nước ngập đến mắt cá chân, vạch dương vật vẽ phóng đại to tướng, tồ tồ đái lên một cù lao. Tôi giở tiếp thêm tờ lịch nữa: trên tờ này cũng là một bức tranh thô tục, thậm chí xúc phạm người xem, vẽ một cái hậu môn, từ đó các nốt nhạc ốm yếu, có thể nói là còm cõi đi, nối đuôi nhau bay vào không trung, và phía dưới bức tranh là dòng chữ viết bằng chữ in hoa: Bản giao hưởng số 1 đặc biệt của ông Himpel. Không khỏi bất ngờ, tôi lật tiếp thêm một tờ, sang một ngày thứ Bảy nào đó: ở đây, một ống khói nhoẻn miệng cười và cúi gập trước cánh cổng nhà kho phủ đầy rêu. Tôi vẫn không ngừng lật tiếp các tờ lịch, tờ nào cũng chứa một bức tranh, hay một khẩu hiệu cay đắng, một lời chào tệ hại, cả tháng trời trên lịch bị hoen ố, bị bôi bẩn, tới mức xúc phạm các cảm xúc đứng đắn, bởi sự trâng tráo, hỗn xược. Các tranh vẽ này chỉ có thể là của thằng Ole Plötz mà thôi. Tôi chẳng cần phải mất nhiều sức để biết nó là tác giả các bức tranh này, và tôi có thể hiểu, nó tặng các tác phẩm của nó cho các vị giám thị làm lưu niệm. Cả lão Joswig nó cũng không chừa.
Tôi phải thú nhận, tôi đã giật mình, khi lật các trang trên tờ lịch bị bôi bẩn này, dù là bị bôi bẩn một cách tài tình, và sau khi nhìn quanh để cầm chắc không có ai theo dõi, tôi treo tờ lịch lên tường như cũ. Liệu thằng Ole có thoát được không? Cả mấy đứa khác nữa, liệu chúng nó qua nổi sông Elbe không? Trong tất cả các vụ vượt sông chạy trốn tôi còn nhớ, không cố tình nhưng vẫn nhớ, vụ nào cũng khởi đầu không tốt lành, rồi kết thúc cũng không tốt lành nốt, vụ nào cũng như vụ nào.
Lão Karl Joswig vẫn biệt tăm. Tôi moi thuốc lá ra, nhưng lại cất đi ngay, bởi trong phòng giám thị không có ống hút khói ra ngoài. Tôi đành lôi tập giấy dưới bắp chân ra, vuốt cho phẳng và thử tìm xem có thư riêng của gã Mackenroth gửi tôi không, và cũng tò mò không biết gã sẽ xưng hô thế nào với tôi trong thư. Ông Jepsen kính mến, Siggi thân mến, hay - để không tỏ ra quá thân mật mà cũng không quá đỗi khách sáo - anh Siggi Jepsen thân mến. Nhưng chẳng có thư riêng. Tập giấy gã ta nhét cho tôi, rốt cuộc, chỉ là một phần bài viết của gã, bản thảo, như gã ghi rõ ngay ở trang đầu. Đầu đề thì hình như đã chắc rồi: “Nghệ thuật và tội phạm hình sự, nghiên cứu thông qua trường hợp Siggi J.”; đầu đề được gạch đít. Tôi có cần phải đọc không? Hay không cần đọc? Tôi cảm thấy mình bị lôi cuốn. A. Các ảnh hưởng tích cực. I. Họa sĩ Max Ludwig Nansen, phác thảo. Có đáng đọc tiếp không nhỉ? Gã Wolfgang Mackenroth viết như sau: Bởi vì các ảnh hưởng của họa sĩ Max Ludwig Nansen lên đối tượng nghiên cứu - bao hàm cả ảnh hưởng chủ động lẫn ảnh hưởng thụ động - đều lấn át các ảnh hưởng của trường học và gia đình, cho nên, để hiểu được các mối quan hệ khác, trước hết có lẽ cần nêu ra một số dữ kiện về cuộc đời cũng như về sáng tác nghệ thuật của nhà họa sĩ này. Các dữ liệu về ông được dẫn ra, trước hết, từ cuốn tiểu sử Mắt chim ưng (xuất bản ở Zürich; 1952) và cuốn Sách viết về bạn hữu (Hamburg; 1955); bổ sung thêm là tập Tiếng nói của màu sắc của tác giả Teo Busbeck (Hamburg; 1951). Tuy không trực tiếp, song các tài liệu này cũng cung cấp các thông tin giúp ta hiểu được mối quan hệ qua lại - sẽ được trình bày ở phần sau - giữa đối tượng nghiên cứu với nhà họa sĩ.
Tôi ngẩng đầu lên, nghe ngóng, rồi hấp tấp châm một điếu thuốc. Tôi cảm thấy hơi bồn chồn, hai bên thái dương nóng bừng, đùi bên phải run run. Hừ, đối tượng nghiên cứu! Thôi được, có gọi thế cũng chẳng sao. Ra tôi là thuyền, còn gã là sóng đưa đẩy thuyền? Có điều, cuốn Tiếng nói của màu sắc mãi năm 1952 mới xuất bản thì gã cần phải biết chứ.
Gã Wolfgang Mackenroth viết tiếp: Họa sĩ Max Ludwig Nansen sinh ra trong một gia đình nông dân người Friesen ở Glüserup, một vùng quê mà về sau này ông đã khám phá và mô tả về mặt nghệ thuật. Ngay từ dạo còn học ở trường làng, ông đã bắt đầu vẽ, phác họa và tạo hình, làm mẫu. Về sau, ông học nghề thợ khắc gỗ trong xưởng sản xuất đồ gỗ ở Itzehoe; đó cũng là nơi ông học thêm về đồ họa. Sau thời kỳ học nghề, ông làm công ở nhiều xưởng đồ gỗ ở phía Nam và Tây Đức, nhưng vẫn tiếp tục học thêm ở các lớp học ban đêm, cũng như tại các Viện bảo tàng, đồng thời, trong các chuyến đi lang thang một mình xuyên rừng vượt núi, ông vẽ tranh phong cảnh bằng màu nước. Vào mùa đông, ông học cách vẽ tranh khỏa thân và các loại chân dung. Ông vẫn luôn luôn giữ được lòng tự trọng và tự tin, khi những bức tranh đầu tiên đều bị các chủ nhà triển lãm tranh khước từ, thậm chí ngay cả khi ông bị từ chối, không được nhận vào một lớp học của Viện Hàn lâm Nghệ thuật cũng vậy. Theo tác giả Busbeck, việc tranh của ông thường xuyên bị từ chối là một trong các lý do chính khiến ông bỏ hẳn chân giáo viên dạy nghề để trở thành họa sĩ chuyên nghiệp. Các chuyến đi đến Florenz, Wien, Paris và Kopenhagen, thoạt đầu, đã kết thúc trong thất vọng, buộc ông phải quay về quê, nương nhờ bố mẹ. Lối sống cô đơn, ẩn dật của ông, cũng như mối quan hệ và sự nhạy bén của ông đối với thiên nhiên khiến ông tự cảm thấy “lạc lõng tại các tâm điểm nóng bỏng của đời sống nghệ thuật”. Theo chính lời ông thừa nhận, ông cần có mối liên hệ với thiên nhiên, bởi vì, đối với ông, chính thiên nhiên mới chứa đựng các giá trị tượng trưng tuyệt đối. Chua chát, cay đắng, nhưng bướng bỉnh, và cũng không thiếu nét tự cao tự đại cao độ, ông chấp nhận việc các bức tranh của mình bị khước từ, những bức tranh mà tác giả Busbeck mệnh danh là “các bản trường ca bằng màu sắc về phong cảnh thiên nhiên”, và từ rất sớm đã phản ánh các yếu tố hoang đường và huyền ảo do ông phát hiện trong thiên nhiên. Trong một chuyến đi dạo trên bãi biển cạn, ông gặp và làm quen với nữ ca sĩ Ditte Gosebruch, người sau này trở thành bạn đời của ông và giúp ông vượt qua những năm tháng bần hàn, vô danh, do không ai hiểu đúng nghệ thuật của ông.
Hai người lưu lạc nay đây mai đó, sống tạm cho qua ngày ở Dresden, ở Berlin hay ở Köln; nhưng, sự nghèo khổ - sự nghèo khổ bắt nguồn một phần từ bản tính bướng bỉnh, không khoan nhượng của ông - đã nhiều lần buộc họa sĩ Max Ludwig Nansen, rốt cuộc, lại phải quay về quê hương Glüserup.
Năm 1914, tạp chí Chúng ta cho đăng ảnh một số tranh khắc gỗ của ông - những hình ảnh quái dị, đáng kinh ngạc về mảnh đất quê hương ông ở phương trời Bắc. Loạt tranh Biển cả của tôi sau đó được trưng bày ở phòng tranh Busbeck. Lúc chiến tranh nổ ra, ông Nansen xin tình nguyện nhập ngũ, và khi nhận được tin, vì lý do sức khỏe, ông được miễn quân dịch, ông thất vọng, đóng cửa, ở lì suốt cả một năm trời trong xưởng vẽ của mình tại trang trại nhà bố mẹ. Thời gian này ông hoàn thành bộ tranh liên hoàn mang tên Thomas vô thần về thăm Husum.
Sau đợt triển lãm đầu tiên ở Hannover - được tổ chức cùng với nhiều họa sĩ khác - ông Ludwig von der Goltz đã cho đăng một bài về tranh khắc của họa sĩ Nansen, và sau đó không lâu, ông còn cho xuất bản tập tranh màu in thạch bản mang tên Làm quen với sóng biển. Thế nhưng, ở Berlin, tranh của ông trước sau vẫn bị bài xích và từ chối. Một nhóm họa sĩ ở Jena, tự xưng là Hội họa sĩ “Ngày mai”, mời ông Nansen gia nhập Hội. Ông đồng ý ngay, nhưng rồi cũng lại sớm rút lui khỏi Hội, khi ông - sau một thời gian ngắn lưu chân tại Jena - phát hiện ra vị Chủ tịch Hội này là một trong những người đứng đầu phong trào hòa bình chủ nghĩa, và đồng thời, cũng là môn đệ trung thành của chủ nghĩa ấn tượng Pháp. Các bức tranh thuộc bộ Mùa gặt ở phương Bắc được trưng bày tại triển lãm mùa đông ở München, đồng thời, bộ Mùa thu ở đầm lầy phương Bắc cũng được nhận cho trưng bày ở Karlsruhe. Họa sĩ Max Ludwig Nansen thường sống độc thân suốt nhiều mùa hè trên các đảo Halligen, và trong thời gian đó ông sáng tác hàng loạt tranh màu nước quanh các đề tài về thế giới hồn ma hoang tưởng, về các thế lực đen tối lẫn ma quỷ hoang đường trong thiên nhiên. Cùng với vợ, ông gia nhập Phong trào Nhân dân, nhưng chẳng bao lâu đã rút lui để bày tỏ thái độ phản kháng, sau khi ông phát hiện ra xu hướng đồng tính trong giới lãnh đạo của phong trào này. Trong một cuộc triển lãm tại Hội trường Nghệ thuật thành phố Basel, ông Nansen xé nát bức tranh Xuồng than bùn của mình, mà không công bố với khán giả bất kỳ lời giải thích nào. Năm 1928, ông được trường Đại học Göttingen trao bằng Tiến sĩ danh dự, và cũng trong năm đó, Viện Bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại, Museum of Modern Art, Ở New York đã mua tác phẩm Cuộc nổi loạn của hoa hướng dương của ông.
Họa sĩ Max Ludwig Nansen được mời nói chuyện ở Berlin do một số tin nhắn ông cho đăng báo, tỏ ý ông muốn gặp lại tên đạo chích trẻ tuổi, kẻ mà hồi trước - bị bắt quả tang trong khi hành sự - đã đâm một nhát dao vào ngực làm thủng cả phổi ông; ông định nhận nó làm con nuôi. Từ khi hai vợ chồng ông mua được khu trại Bleekenwarf, họa hoằn lắm hai vợ chồng mới rời quê ra thành phố; nói như lời ông von der Goltz, thì ông Nansen đã trở thành “kẻ khinh bỉ các thành phố”, là những nơi mà ông coi là “chốn tập trung tử khí và trí tuệ vô dụng”. Chính tại Bleekenwarf ông đã cho ra đời bộ tranh Câu chuyện cỗ cối xay gió cũ bên bờ biển. Mặc dù nhà buôn bán tranh Malthesius giàu thế lực đã trả giá cao chưa từng thấy cho bộ tranh này, nhưng rồi hai bên vẫn không ngã được giá. Trước đây, có lần ông Malthesius từng bắt anh họa sĩ trẻ Nansen chầu chực bốn giờ liền mà chẳng được tiếp, nay họa sĩ Nansen lại để ông Malthesius phải ngóng đợi bốn tiếng đồng hồ liền như thế, mà không buồn cho một lời đáp. Mặc dù lúc đầu ông rất hoan nghênh các sự kiện của năm 1933, nhưng một năm sau ông đã từ chối nhận chức giám đốc trường Nghệ thuật Quốc gia với một bức điện, mà trong giới nghệ thuật người ta vẫn thường kháo nhau. (Xin cảm ơn sự tín nhiệm - chấm - Tôi mắc chứng dị ứng màu sắc - chấm - Bác sĩ chẩn đoán màu nâu là màu gây bệnh - chấm - Thật đáng tiếc, tôi phải từ chối - chấm - Trân trọng - chấm - Nansen Họa sĩ.) Sau đó chẳng bao lâu ông bị tước danh hiệu thành viên Viện Hàn lâm Nghệ thuật Phổ, ông cũng bị khai trừ khỏi Hội đồng Đế chế về Nghệ thuật Tạo hình. Choáng váng vì hơn tám trăm bức tranh của ông tại các viện bảo tàng ở Đức bị tịch thu, ông Max Ludwig Nansen đã ra khỏi đảng Công nhân Quốc gia Xã hội Chủ nghĩa Đức, NSDAP, là đảng ông gia nhập chỉ sau Adolf Hitler có hai năm. Cùng với Teo Busbeck, ông cho xuất bản chuyên luận “Màu sắc và sự đối kháng” (Zürich, 1938). Ông từ chối yêu cầu về Berlin đối chất, với lý do, ông không thể rời xưởng vẽ mà đi được, vì ông phải vẽ lại các bức tranh bị tịch thu. Viên cảnh sát chốt Rugbüll được trao nhiệm vụ, tùy cơ ứng biến, phải ghi danh tất cả khách khứa nước ngoài xuất hiện tại Bleekenwarf. Theo lời ông von der Goltz, trong mấy tháng cuối cùng trước chiến tranh, ông Nansen đã vẽ một vài bức tranh mà qua đó, ông “chứng minh cho thiên hạ biết rằng nền nghệ thuật cao siêu cũng nắm trong tay một ngón đòn trả thù dành cho thế giới; nội dung ngón đòn ấy là, nghệ thuật sẽ bắt buộc những thứ mà người đời liệt vào hạng đáng khinh miệt trở thành những thứ bất tử”.
Vâng, tôi đọc một đoạn như thế trong bản thảo của tay Wolfgang Mackenroth, và cũng phải nói ngay, đọc đến đây rồi mà tôi vẫn chưa thấy có gì phải phản đối cả, vâng, nhưng đọc đến đây thì tôi cũng có cảm giác ánh mắt ai đó đang nhằm vào tôi, thậm chí xoáy vào tôi - ánh mắt từ ngoài hành lang nhìn vào. Tôi không ngẩng lên nhìn ngay: tôi gập bản thảo của tay Mackenroth lại, nhét vội nó vào giữa một quyển vở, đồng thời mở một quyển khác ra, làm như thể đang đọc dở đến chỗ này vậy, rồi, xong xuôi đâu đấy, tôi mới ngẩng đầu lên và nhận ra lão Joswig. Để đề phòng, tôi mỉm cười với lão. Lão không tiến về phía tôi. Lão đứng nguyên một chỗ, hai vai buông thõng, hai tay hơi đung đưa, giống hệt một con tinh tinh rầu rĩ mặc quân phục, không biết nói năng gì, chỉ quắc mắt nhìn và nghiêng nghiêng đầu tỏ vẻ bực bội. Tôi bèn thu mấy quyển vở lại, đi ra chỗ lão đứng bên ngoài và nói tranh lời lão: Được phép rồi! Họ đồng ý để tôi viết tiếp bài luận, bác ạ. Tiếc một nỗi tôi không có chìa khóa để tự về phòng.
Đồ Judas phản trắc, lão lẩm bẩm, đồ Judas nhãi ranh. - Tôi giơ mấy quyển vở mới nguyên và lọ mực đầy cho lão xem, rồi nói: Từng này đủ cho mấy tuần tới. Lão lặng thinh nhìn tôi. Rồi đột nhiên lão chỉ vào đùi tôi ra lệnh: Chỗ thuốc lá kia, đưa hết ra đây cho ta, và sau khi đã nắm gọn bao thuốc trên tay rồi, lão liền gắt: Đi lên trước đi! Từ giờ không ai được phá rối cậu nữa!