Giờ Đức văn

Lượt đọc: 151 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 14
HỌC CÁCH NHÌN

❊ ❊ ❊

Thay cho vé vào cửa, họ đòi mỗi người nửa ổ bánh mì. Cặp theo hai ổ bánh là chúng tôi cầm chắc bốn vé vào cửa rồi, cho nên chúng tôi yên chí lên đường từ Bleekenwarf, dọc theo chân đê, cắt ngang cánh đồng cỏ về phía Glüserup, nhưng sau đó rẽ sang hướng Đông, tiến tới chỗ khu rừng nhỏ, cây mọc thưa thớt, nằm trong khu vực trại giam, hay đúng ra là khu vực cấm, theo tên gọi chính thức hiện nay họ dùng để gọi toàn bộ vùng đất nằm giữa Klinkby và Timmenstedt. Nói cho cùng, họ khó lòng gọi khu đất này là trại giam được, bởi trại giam này không có những thứ mà sách vở nào đã nói đến trại giam đều phải nhắc đến, là hàng rào dây thép gai, là các dãy lán gỗ san sát nhau, là tháp canh, đến đèn pha cũng không có, không có cả các tốp lính đi tuần, những tốp lính cơ động có khả năng di chuyển nhanh, và nhờ đó, có thể kiểm soát toàn khu vực.

Để giam giữ một lúc được gần sáu trăm ngàn tù binh - trong số đó, khá nhiều người thậm chí còn không ngờ mình đang bị bắt làm tù binh nữa kia - họ đã vạch ra khu vực cấm này, có lẽ, vạch ra trong lúc cúi gập người trên một tấm bản đồ nào đó và bàn bạc với nhau: Đây là con đường chạy từ Klinkby đến Glüserup, ta cắt thêm một đoạn của đại lộ Husum, vòng sang phía Đông - Nam về hướng Faltmoor, rồi vạch đường biên chạy tiếp đến Timmenstedt; như thế, sẽ tạo thành tuyến đường liên tục ôm lấy toàn bộ khu vực cấm để ta cho xe bọc thép bánh hơi thường xuyên tuần tra dễ dàng được.

Cuộc chiến, lúc đầu diễn ra ngon lành, suôn sẻ thế, nay hóa ra đại bại. Lính thất trận từ mặt trận phương Bắc đổ xuống, từ mặt trận phía Đông trốn sang, hay từ phía Nam may mắn luồn ngược lên được tận đây, đều bị xe bọc thép bánh hơi đi tuần đón bắt dọc đường, ném vào khu cấm này; ở trong khu cấm, không những họ được phép đi lại tự do, lính tráng còn được tự chọn nơi cắm lều, được nghe thuyết trình về đủ thứ trên đời, như về luật ly hôn chẳng hạn; không cần xin phép ai, họ vẫn được phép hái lá tầm ma hay nhặt cây chút chít về ăn, nếu hợp khẩu vị, và họ cũng không bị cấm tổ chức các buổi ca hát, đọc sách hay diễn kịch. Ở đây, nghệ sĩ chả thiếu. Mỗi khi có diễn kịch, dân chúng ở các vùng bên ngoài khu vực cấm cũng được đến xem, nhưng để úy lạo các nghệ sĩ bị giam cầm, họ đòi bánh mì thay phí vào cửa.

Tôi không muốn hỏi xem anh chàng Wolfgang Mackenroth sẽ đánh giá sự việc này như thế nào về mặt tâm lý học, sự việc là dạo ấy tôi phải trả giá cho lần xem kịch đầu tiên trong đời bằng nửa ổ bánh mì, ấy là chưa kể, ổ bánh mì đó là ổ bánh gối của lính, vốn qua tay một gã quân lương từ khu vực cấm tuồn ra ngoài, và bây giờ qua tay chúng tôi, nó lại từ ngoài quay trở vào trong đó. Gì thì gì, bốn chúng tôi - tôi, chị Hilke, Tiến sĩ Busbeck và bác họa sĩ - đều rảo bước tới khu rừng thưa, bác họa sĩ cầm trên tay hộp các tông đựng hai ổ bánh. Thời tiết hôm ấy thế nào à? Trên cao, nói theo sách vở, toàn mây ti, mây tích; gió Tây- Tây Bắc đang dịu dần; thỉnh thoảng có nắng. Nói tóm lại, thời tiết tuyệt vời để diễn kịch - hồi ấy tôi chưa biết vậy, nhưng bây giờ vẫn muốn nhấn mạnh lại như thế. Nộp bánh mì cho một tay quân lương xong, chúng tôi được vào, và được mấy anh lính thủy quân tóc dài giữ chân xếp chỗ dẫn lên phía trước, gần sát sân khấu dựng trong rừng, dưới mấy cây vân sam, cây dẻ, cây bạch dương - và che bằng các tấm vải bạt nối vào nhau. Khán giả, đông có lẽ phải đến mười hai ngàn người chứ không ít, đều ngồi xếp bằng trên bãi cỏ khô ráo, cười nói ồn ào, chỗ này chỗ kia nhiều người vẫn còn dùng thìa xúc ăn từ cà mèn lính, số đông khác còn ngủ; tôi rất lạ thấy sao nhiều người đi chân đất thế. Chốc chốc lại có đôi chim ác là sà xuống khu rừng thưa, nhưng rồi lại vỗ cánh bay đi. Chim te mào thì đã rời bỏ khu vực này từ lâu, cả đám gà lôi lẫn thỏ rừng, là loài thú ưa yên tĩnh, cũng di sang vùng khác kiếm ăn.

Trước khi mở màn, một người đàn ông mang đôi ủng bóng loáng, có lẽ cũng là một viên thủ kho nào đấy, có gương mặt non choẹt bước từ các hàng cây lên sâu khấu, đề nghị mọi người yên lặng, rồi cất tiếng nói đôi lời dạo đầu, về cảm xúc này, cảm xúc nọ. Xung quanh tôi, chốc chốc lại có tiếng vỗ đen đét, kèm theo tiếng chửi lầu bầu: chả là ruồi muỗi kéo đến mỗi lúc một nhiều; nhưng nhiều thì nhiều, chúng cũng không ngăn nổi buổi diễn.

Câu chuyện trên sân khấu xoay quanh một anh chàng râu quai nón rậm rạp; ngoài ra, anh còn đeo một cánh tay giả bằng sắt - cánh tay thật, theo như vở kịch, anh ta hiến cho Hoàng đế trong lúc xông pha trận mạc mất rồi. Cũng theo vở kịch, anh chàng này phải dũng cảm và cao thượng lắm; chàng ta tung hoành nơi trận mạc như chỗ không người, và tất nhiên, anh chàng lấy làm kiêu hãnh vì các vết thương mang trên mình. Rõ ràng là chàng ta trung thành với Hoàng đế, bởi Hoàng đế cũng là bạn chàng, nhưng chàng ta không ưa vị Tổng Giám mục cũng như đám hoàng thân lau nhau, bởi đám này quá tồi tệ; nhưng, do chàng ta cản đường làm ăn sinh sống của đám này, cho nên bọn chúng tất nhiên tìm cách hãm hại chàng; suốt một thời gian dài, chàng trai cùng chiến hữu của chàng luôn chiến thắng trong cuộc đọ sức đó, nhưng về sau, chàng bị kết tội gây hỏa hoạn, cố tình giết người, nên bị ném vào nhà giam Heilbronn; tại đây, tuy cai ngục cho chàng ra cả ngoài vườn sưởi nắng, nhưng chẳng giúp ích gì được nữa, và chàng lăn ra chết, lúc chết vẫn còn phải dùng tay đập ruồi muỗi đen đét mới ngộ chứ; cả đám hoàng thân cùng các phu nhân cũng phải luôn tay đập ruồi đập muỗi như thế. Vâng, dạo ấy, trên sân khấu có thể diễn ra những chuyện như thế lắm.

Tôi rất ngạc nhiên thấy sao kịch diễn trên sân khấu lại chán thế. Tức là cách người ta nói năng với nhau ấy - kiểu như “ối giời ơi là giời” hay “liệu các người có xéo đi không!” Hoặc: “Cho đến khi chết.” Hoặc: “Hãy chuyển lời cho chỉ huy của ngươi biết rằng ta luôn luôn kính trọng Hoàng đế của các ngươi.” Về sau, tôi quay ra để ý đến những lời chửi rủa hằn học, những cú đập giận dữ của cả khán giả lẫn diễn viên dành cho lũ ruồi muỗi quê tôi vốn ham đốt, ham chích người, hơn là để ý nghe những lời thoại như thế trên sân khấu. Tôi không biết làm sao được, song quả thật, tôi không thể cũng cười, càng không thể cùng vỗ tay như mọi người xung quanh được, lúc anh chàng đeo tay giả bằng sắt nọ bỗng nhiên kêu tướng lên: “A, cái thằng ấy! Ông cứ nói cho nó biết, nó cứ việc đến mà liếm mông tôi đây này.”

Người duy nhất làm tôi để ý là một ông thầy tu Martin nào đấy, do một anh diễn viên mặc áo thầy tu bước lên sân khấu thủ vai, bởi anh ta làm tôi nhớ ngay đến anh Klaas; từ giọng nói, điệu bộ, đến dáng đứng hơi cui cúi đều giống anh Klaas tôi đến mức, tôi phải ẩy bác họa sĩ một cái vào lưng để bác cũng thấy ông thầy tu Martin nọ; bác họa sĩ gật gật đầu, như thể bác còn biết nhiều hơn tôi. Thầy tu Martin chẳng được vỗ tay mấy, trong khi họ vỗ tay ào ào tán thưởng các diễn viên khác, nhất là các vai đàn bà nói giọng trầm; họ chỉ cần bóp nát bông hoa hay gạt giọt nước mắt là khán giả đã rầm rầm vỗ tay. Và, đến lúc - trong màn chia tay tại Jagsthausen - bộ tóc giả lộng lẫy của một bà không may bị tuột ra làm lộ mái tóc ngắn của một gã đàn ông, thì có lẽ không còn ai trong số mười hai ngàn khán giả là không ồ lên vì vui sướng cả.

Riêng có chị Hilke lại khóc, với vẻ thương cảm, và về sau bác họa sĩ bảo có mỗi chị là hiểu ý nghĩa của màn kết. Chuyện như thế cũng có thể xảy ra khi xem diễn kịch lắm. Mới đầu tôi còn có hứng, toan chui ra phía sau sân khấu, vào chỗ các bụi cây, bởi tôi chắc mẩm ở đó hẳn phải có nhiều điều thú vị, nhưng càng về sau, tôi càng thấy chán, không còn buồn biết cái gì đang xảy ra dưới bóng những cây dẻ, cây vân sam kia nữa. Tôi quay ra đếm số khán giả thường dân để nhẩm suy ra xem họ thu về được bao nhiêu ổ bánh nhằm đỡ đần nền nghệ thuật và các nghệ sĩ lúc nào cũng đói kém này. Chả biết được ba mươi hay ba mươi lăm ổ? Nhưng, chính xác bao nhiêu ổ cả thảy, thì có lẽ chỉ ông thủ kho mới biết chắc mà thôi. Rốt cuộc, các tiếng kêu “ôi giời ơi” hay “giời ạ, khổ thân tôi” - bởi trời bắt đầu tối - vang lên trên sân khấu có vẻ thật lòng hơn; lại thêm mặt mũi gã Weilingen - một nhân vật khá độc ác - bị cả muỗi lẫn ruồi trâu đốt đã sưng vù, các tiếng kêu than mỗi lúc một rõ cho thấy vở kịch đã đến hồi kết. Và, vở kịch hạ màn thật, sau khi anh chàng đeo tay giả lăn ra chết vì đau buồn, hay vì thất vọng, hoặc vì cả đau buồn lẫn thất vọng cùng một lúc. Tôi chẳng để tâm mấy đến tất cả những cảnh đó nữa, và có cố sức, tôi cũng chả góp phần làm to thêm tiếng hò reo của đám tù binh. Vâng, tôi thật thất vọng với lần xem kịch đầu tiên trong đời này. Tôi chỉ còn muốn về nhà cho nhanh, nhưng bác họa sĩ còn có việc gì đó, bác bảo chúng tôi đứng chờ, còn bác thì biến đi đâu đó ra phía sau sân khấu, vào giữa các lùm cây. Khán giả lục tục đứng dậy, và dần dần tản ra mỗi người một ngả; nhiều người nhấm nháy, huýt sáo gọi chị Hilke, rủ rê chị đi với họ. Bây giờ thì tôi nhìn thấy rõ, khá nhiều người nằm lăn ra ngủ, và mọi người khác cứ để mặc họ nằm yên tại chỗ mà ngủ tiếp. Nhiều khán giả vẫn vừa đi vừa múc thức ăn trong cà mèn ra ăn ngon lành, một số khán giả khác đi chân đất, tất nắm trên tay, còn đôi giày thì buộc dây khoác lên vai. Cũng có khối khán giả cứ thế lẳng lặng bỏ đi, chẳng để ý đến ai và cũng không ai để ý đến họ.

Chị Hilke chào hỏi, chuyện trò với một bà nào đấy tên là Laura Lauritzen, người mà tôi biết là bị mắc bệnh đái đường; Tiến sĩ Busbeck chuyện trò với bà Söllring từ ấp Söllring đến đây, nhưng nói đúng ra là ông kiên nhẫn đứng nghe bà ta thuật lại cho ông nghe bằng lời lẽ của bà về vở kịch mà chính ông cũng vừa xem xong. Bà ta bảo bà ta muốn đích thân làm quen với một gã kiểu gã Weisungen xem sao; loại người như thế không phải chỉ trong kịch mới có đâu. Bà ta nói: Ông cứ tin tôi, Tiến sĩ Busbeck ạ, hạng người như thế đầy rẫy ở đời ấy mà. Và, ông Busbeck không phản đối bà, bởi bà ta nói như nước chảy, ai mà chen vào được. Bà ta hỏi tôi: Thế nào, Siggi, cháu có thích vở kịch do lính tráng mình diễn không? Rồi, không buồn chờ tôi đáp có thích hay không thích, bà ta đã nói tôi nghe tôi thích cái gì ở vở kịch, và tại sao tôi lại thích như thế. May quá, ít lúc sau bà ta phát hiện ra nhà Magnussen, và nhà này cũng chưa biết họ vừa thấy những gì trên sân khấu. Thế là chúng tôi thoát. Còn bác họa sĩ?

Đến lúc bác rốt cuộc quay lại, thì ngay từ đằng xa, nhìn dáng đi và vẻ mặt bác, chúng tôi đoán bác vừa nhận được tin gì đó quan trọng mà bác phải báo ngay cho chúng tôi biết. Dùng hai tay gạt sang hai bên như bơi thuyền, môi mím lại, bác len lỏi, lách qua nhóm người này, nhóm người khác đến chỗ chúng tôi. Bác nói: Đúng là nó. Đúng nó thật, thằng Klaas! Mai nó về.

Thế là ai nấy nhao nhao hỏi. Chị Hilke còn định chạy ra sau sân khấu, vào chỗ các bụi cây, nhưng bác Họa sĩ ngăn lại, rồi kéo chúng tôi đi, miệng nhắc đi nhắc lại: Khoan đã, chưa được, chưa được. Bác đẩy, bác kéo chúng tôi ra khỏi khu vực cấm, đi ngang một chiếc xe bọc thép, rồi vượt qua cái cầu ghép lại bằng thân cây.

Đúng mười mươi là thằng Klaas, bác nói. Thằng nhỏ còn sống. Cứ nghĩ mà xem, thằng nhỏ còn sống mới giỏi chứ. - Có phải cái anh mặc áo thầy tu không ạ? - chị Hilke hỏi. Phải, ta còn chẳng dám tin vào mắt mình nữa, bác họa sĩ đáp, nhưng đúng là ta không nhầm. Làm sao nó lại lọt vào khu cấm này à? Nó bị người ta tóm lại, có thế thôi. Nó bảo nó hai lần định trốn về nhà, nhưng cả hai lần đều bị họ bắt lại. Tôi nghe bác kể anh ấy phải nằm khá lâu ở trạm quân y; các giấy tờ, hồ sơ, cả hồ sơ về vụ anh tự bắn vào tay đều bị một trận bom làm cháy sạch. Có lẽ vì thế, về sau, lúc bị chuyển vào nhà tù quân đội rồi, vụ của anh cứ bị trì hoãn mãi. Đến khi được giải phóng, anh đi bộ ngược từ Altona lên đây, nhưng lại bị xe bọc thép bắt dọc đường rồi nhét vào khu cấm này, và hiện giờ đang chờ ngày được thả ra. Bởi họ ưu tiên thả người làm nghề nông và nghệ sĩ về trước, nên anh ấy khai mình là nghệ sĩ. Ai mà biết được. Và, bác họa sĩ còn nói thêm vào, làm chứng cho anh ấy đúng là nghệ sĩ, cho nên người ta hứa sẽ sớm thả anh Klaas. Có khi ngày mai nó đã được thả rồi. Chà, cứ nghĩ mà xem, ngày mai thằng Klaas được về!

Suốt cả đoạn đường về nhà, chỉ mỗi một mình bác họa sĩ nói là chính; thỉnh thoảng chúng tôi mới chen được vài câu hỏi ngắn; chúng tôi muốn nghe bác kể hết những gì bác thấy lúc gặp anh Klaas, và tôi phải thú thật, nếu dạo ấy tôi không thấy ngạc nhiên lắm, thì bây giờ nhớ lại, tôi mới lấy làm lạ, sao mà bác ghi nhớ được nhiều chi tiết đến thế. Niềm vui vô bờ bến ấy của người đàn ông lớn tuổi! Bác kể đi kể lại không dứt. Niềm vui dường như làm bác bàng hoàng! Duy có một lần, bác chợt tỏ vẻ bối rối. Đấy là lúc chị Hilke bảo, chị sẽ nhường phòng chị cho anh Klaas, anh ấy đáng được ở căn phòng tốt nhất đó. Sáng mai cháu sẽ dọn ngay, chị nói, để đến trưa, nếu anh ấy về thì có ngay chỗ mà nghỉ. - Thong thả đã, bác họa sĩ nói ôn tồn, chưa cần vội như thế. - Nhưng mai anh ấy về rồi cơ mà? - Phải, nó về, bác sẽ đi đón nó, nhưng trước tiên, có lẽ vài ba ngày gì đấy, nó sẽ về với bác ở bên Bleekenwarf cái đã. - Anh ấy muốn thế à? - Phải, nó đòi như thế. Phải được về chỗ bác, nó mới xin ra khỏi trại. Chắc sẽ không lâu đâu, vài ngày là cùng. Nó phải có thời gian hoàn hồn cái đã.

Bác ấy nói vậy là nghĩa làm sao: Hoàn hồn? Hoàn hồn là thế nào? Tôi hỏi, thì ai cũng vậy, chỉ nhún vai, ai cũng ra vẻ nghĩ ngợi một lát, rồi, hoặc không đáp, hoặc chỉ nói: Rồi sau này cháu khắc hiểu. Chính vì thế, chờ được đến lúc anh Klaas về, tôi nóng lòng sốt ruột không chịu được.

Nhưng rốt cuộc, cũng chẳng ai trả lời cho câu hỏi của tôi, cả dạo đầu lẫn về sau. Cả anh Klaas cũng không trả lời tôi nốt, bởi vì lúc gặp lại anh sau bao nhiêu lâu như thế, nào tôi có hỏi được gì ở anh tôi đâu. Anh ấy lăn ra ngủ. Sáng ngủ, chiều ngủ, trời nắng hay mưa đều ngủ. Bác họa sĩ để anh nằm trong căn phòng xây dở dang ở Bleekenwarf; ở đấy, anh nằm trên tấm đệm đặt ngay giữa nền nhà, nhưng cái thang gấp, cả đống vôi vữa, đinh với sắt vụn, đầu mẩu thuốc lá và số ống dẫn nước thì đã được dọn sạch. Anh Klaas nằm trên tấm đệm và đắp tấm chăn kẻ sọc xanh sọc đen bác họa sĩ đem từ xưởng vẽ sang; đắp kín đầu, kín chân, thỉnh thoảng mới thấy mái tóc bờm xờm, một bàn chân, hay cánh tay bị thương của anh, xỏ trong một chiếc tất len, thò ra ngoài.

Do tôi không được vào chỗ anh ấy, nên tôi vẫn thường đứng bên ngoài, trước cửa sổ rất lâu, hai tay che hai bên mặt nhìn vào trong, và tôi lấy làm ganh tị với Jutta, vì nó lại được ngồi bên tấm đệm anh ấy nằm, được theo dõi và canh chừng giấc ngủ cho anh ấy. Nó mang thức ăn cho anh, ngồi nhìn anh lúc ăn phải khó nhọc gượng dậy, nằm nghiêng nghiêng, cùi tay chống xuống đệm; đến lúc anh ăn xong, đôi khi nó còn kéo chăn đắp cho anh nữa. Nó chẳng buồn để ý đến tôi, ngay cả những lúc tôi ló mặt ra bên ngoài cửa sổ, khi nó đứng bên trong gấp quần xếp áo cho anh tôi. Có những lúc anh Klaas nằm ngủ ngoài vườn, dưới rặng táo, ở đâu đó sau hàng rào cho khuất gió, thì nó - với dáng người xương xương - cũng ngồi chồm hỗm bên cạnh, không cho tôi đến gần. Anh Klaas tôi tuy đã về rồi đấy mà hóa ra vẫn ở xa; tôi nhìn thấy anh đấy, nhưng trong vòng che chở của Jutta, tôi không đến gần được anh tôi.

Thế nào, nhóc, có lần anh hỏi tôi. Độc một câu như thế. Rồi thôi.

Tôi chẳng còn cách nào khác là phải làm quen dần với sự thực là anh tôi buồn ngủ và đành để yên cho anh ngủ thôi. Tôi chạy từ nhà sang Bleekenwarf, biết thể nào cũng thấy anh tôi ngủ, thì y như rằng anh tôi đang ngủ thật, nên sau một lúc xem xét chờ đợi, tôi lại tự nhủ: ừ, thì thôi vậy, rồi bỏ đi tìm bác họa sĩ; bác cũng không biết anh Klaas còn ngủ bao lâu nữa, nhưng bác biết rất rõ, tại sao anh tôi không muốn làm gì ngoài nằm ngủ như thế. Vâng, cho dù chẳng chơi bời gì với anh Klaas được cả, dù cho anh tôi chỉ thỉnh thoảng mới nháy mắt với tôi một cái, hay nhiều lắm, cũng chỉ dành cho tôi một nụ cười mỉm buồn bã, dạo ấy tôi vẫn cứ có dịp là sang Bleekenwarf - có lẽ vì tôi muốn ở đâu đó gần anh tôi, nhỡ anh ấy thức dậy sau cơn buồn ngủ, song, cũng có thể vì hồi đó bác họa sĩ đang lúc hoàn thành bức chân dung tự họa, bức tự họa bác bắt tay vẽ, không lâu lắm, sau cái lần bác bỏ công sự dưới cối xay gió ra về ấy.

Đúng thế, bao giờ tôi cũng ghé chỗ anh Klaas cái đã, và y như mọi khi, sau khi cầm chắc chỗ ông anh nằm chẳng có chuyện gì mới mẻ cả, thì tôi băng qua vườn đến xưởng vẽ, đến chỗ bác họa sĩ; còn bác ấy, bác chỉ cần nghe cách tôi mở cửa là biết tôi đến, và cất tiếng gọi từ trong góc sâu phía trong: Vào nhanh lên, Witt-Witt, lại đây. Gọi như thế tức là bác lại có chuyện gì khó khăn rồi đây. Giữa bác với các loại màu sắc lại có chuyện cãi cọ gì rồi. Tôi nhận ra ngay ánh mắt không bằng lòng của bác. Đúng như tôi đoán, bác đang loay hoay cùng bức Chân dung tự họa cuối cùng của bác thật. Bác tự biến mình thành kẻ đàm đạo với chính mình, và dần dần nhận ra hai bên không thể đồng tình với nhau được. Ta không thấy ta đâu nữa cả, bác nói với tôi, không có gì chịu đứng yên cả, mọi thứ thay đổi quá nhanh, ta không sao thâu tóm sự đối chọi nhau ấy vào tranh được. Màu sắc bỗng nhiên không còn “thân thiện” nữa, mà chuyển sang trạng thái tạm thời, nó có xu thế đáng ghét là tự giải phóng, bung ra - bác nói - nó biến thành một sức sống vô ý vô tứ. Đây, cháu cứ thử nhìn vào đây mà xem, Siggi, rồi thử mô tả xem, cứ thử xem, chỉ cốt để cháu thấy là khó mà mô tả được gì, một khi màu sắc biến thành sức sống. Thành sự vận động. Thành sự vận động trong không gian.

Tôi ngồi trên một cái thùng gỗ phủ khăn vải chéo sau lưng bác, và theo dõi bác đang tìm cách tự mình “tóm” được mình, ở một nơi nhất định nào đó, dưới một bầu trời nhất định, trong một cảnh quan mà gã Balthasar của bác - khoác áo choàng lông cáo màu đỏ ối - đang đi qua, và có lẽ do chìm nghỉm trong cảnh sắc xung quanh đó mà trông có vẻ nhỏ bé và vô hại. Tờ giấy Nhật Bản, thấm đẫm màu, trông giống như vải, và gương mặt bị chia ra thành hai nửa bởi các nguồn ánh sáng khác nhau thì trông giống một cái mặt nạ nhẹ trong suốt, nhìn xuyên được mọi thứ ở đời. Nửa bên trái của gương mặt mang màu hung hung xám yếu ớt, nửa bên phải - màu vàng lục, nền loang lổ đỏ. Đó chính là gương mặt bác họa sĩ đem ra mặt đối mặt với mình. Hai nửa khác nhau của một gương mặt, và đôi mắt xám nhìn từ xa, xuyên qua tấm màn phơn phớt xanh, để lộ nỗi khó nhọc khi tập trung nhìn. Nếu bây giờ ta bảo cái miệng hơi mở chực nói điều gì, thì vầng trán nhợt nhạt trắng khắc phản đối ngay. Nếu ta bảo cái bóng màu lơ ở sống mũi giữ vai trò kết nối cho nửa mặt bên này với nửa mặt bên kia, thì ta cũng phải nói thêm rằng nó cũng có thể khơi sâu thêm sự khác biệt vậy. Chả có gì là rõ ràng hết, cả cái mồm lẫn đôi mắt, thậm chí đôi tai cũng vậy, trông cứ như tai giả, tai bằng kim khí vậy.

Nó cho thấy cái gì nào? - bác nôn nóng hỏi tôi. Hả, bức tranh cho ta thấy cái gì nào? Cháu phải nói được chứ? Nếu cháu nghĩ ngợi gì đó, thì cứ việc mở miệng ra mà nói chứ; nếu cháu chỉ nhìn, thì cũng đừng có mà lặng im. Nào, thế nào nào?

Tôi không biết bác muốn gì ở tôi. Tôi không hiểu tại sao bác không thể, hay không muốn bằng lòng với bộ mặt có hai nửa khác nhau kia - nửa bên này hung hung xám, nửa bên kia vàng lục. Không phải nội dung, bác nói tiếp, nội dung không phải là thứ bức tranh phải toát ra. Vậy thì là cái gì? Không đâu Balthasar, không dàn phẳng màu sắc ra được; ngươi còn nhớ mùa đông không, lúc màu nước đột nhiên đóng băng trên mặt giấy vẽ không, lúc tuyết làm màu nhòe đi không, lúc tan ra thì lại hòa vào nhau không? Vậy, cái gì đã xảy ra nào? Màu sắc có sinh động ra không? Đúng như sự sinh động chứa đựng trong các tinh thể, hay rong rêu? Witt-Witt, cháu nghĩ sao? Do đâu mà ta không chọn được đúng màu? Do ta không chịu khuất phục, hay do ta không biết nhìn? Thằng cha Balthasar cứ khăng khăng, ta phải học lại cách nhìn từ đầu. Phải rồi, cách nhìn! Lạy Chúa, ngươi cứ làm như không phải mọi chuyện ở đời lúc nào cũng phụ thuộc cách nhìn vậy!

Bác gác hai tấm phác thảo khác nhau của bức chân dung tự họa lên hai giá vẽ, và kê chúng sát cạnh nhau, rồi bước lùi ra sau; cứ nhìn tư thế đứng căng thẳng, hơi xiên xiên của bác thì biết ngay bác đang chê bai, không bằng lòng với chính mình. Đây, cháu xem đây này, Siggi. Nghèo nàn quá, hoàn thiện quá, biết không. Cái màu xanh hắt từ trong ra trên toàn gương mặt này không ổn, nó không chừa chỗ nào cho các vận động khác nữa. Cháu biết nhìn là gì không? Là nhân rộng ra. Nhìn có nghĩa là xuyên thấu và nhân rộng ra. Hay cũng có nghĩa là hư cấu, là bịa đặt ra. Muốn tìm ra một người y hệt như cháu, cháu phải bịa ra một đứa y như cháu, bịa đi bịa lại, bất cứ lúc nào. Cái gì được bịa ra, hư cấu ra, rồi cũng sẽ thành sự thật cả. Ở đây, trong màu xanh lơ này này, không có gì lung lay, sống động cả, không chứa đựng cái gì bồn chồn cả, thì cũng không có gì thực hết. Không có cái gì được nhân rộng ra cả. Nếu cháu nhìn, đồng thời cháu cũng sẽ nhìn thấy chính cháu, ánh mắt nhìn của cháu khắc quay trở lại. Chà! Nhìn! Lạy Chúa. Nhìn cũng có thể giống như bỏ vốn đầu tư, hoặc như chờ đợi sự đổi thay vậy. Cháu có mọi thứ trước mặt, mọi vật xung quanh, cả ông già này nữa, nhưng tất cả những thứ đó sẽ không tự thành hình, nếu tự cháu không làm gì hết. Nhìn không có nghĩa là thu nhận cái gì đó, rồi thôi, coi như xong. Người ta phải biết soi đi xét lại. Cháu đi xa, rồi cháu quay trở lại, trong lúc đó đã có cái gì đó thay đổi rồi. Hãy quên các biên bản đi. Mọi hình thể đều phải lung lay chập chờn, mọi thứ đều phải lung lay chập chờn, bởi vì ánh sáng chẳng ngoan ngoãn gì đâu.

Hay cháu nhìn đây này, Witt-Witt, nhìn bức tranh nhỏ đây, nắng chiếu ấm áp: thằng cha Balthasar chìa cho ta một cái cối xay gió tí hon trên tay, và ta không buồn để ý đến gã. Cho nên cháu phải thấy: hễ có ai khác ở đâu đó, hễ có cái gì khác ở đâu đó, thì phải có chuyển động gì hướng ta về đó. Nhìn là một lối trao đi đổi lại giữa hai bên. Kết quả của sự trao đi đổi lại đó chính là sự đổi thay của cả hai bên. Cứ lấy con lạch đây, đường chân trời đây, con mương đây, cây phi yến đây; đúng vào giây phút ta thâu tóm được chúng, chúng mới thâu tóm được ta. Thâu tóm lẫn nhau, thừa nhận lẫn nhau. Cho nên nhìn cũng có nghĩa là tiến lại gần nhau, sáp vào nhau. Đúng không nào? Thằng cha Balthasar cho như thế còn ít quá, gã đòi nhìn cũng có nghĩa là bóc trần ra kia. Như thế thì một cái gì đó sẽ được lột trần ra, để ở đời không ai dám bảo mình không thấy gì hiểu gì cả nữa. Ta chả biết nói thế nào bây giờ, đúng ra thì ta không ưa cái trò thoát y như thế. Một củ hành đem bóc hết lớp này đến lớp khác ra thì chẳng còn gì nữa hết. Ta nói cháu nghe, ta bắt đầu biết cách nhìn, khi ta không còn đóng vai kẻ quan sát đứng ngoài cuộc nữa, ta chỉ bắt đầu biết cách nhìn khi ta hư cấu ra, bày đặt ra những gì ta muốn có; đây, như cái cây này, con sóng này, bãi biển này, chẳng hạn.

Còn bây giờ hãy nhìn đây: bức tranh này cho ta thấy cái gì nào? Ta phải chia đôi gương mặt ra, bên này hung xám, bên kia vàng xanh; ta không biết, nếu không làm như vậy thì ta phải nói thế nào, nhưng ở đây chẳng có gì hợp nhau cả. Đứng trước bức chân dung này, ta có thể quả quyết, nó chẳng can hệ gì đến ta, bởi còn thiếu nhiều thứ quá. Nó không bộc lộ thứ tiềm năng nào của nó cả. Mà mấu chốt lại chính là ở chỗ: nếu ta muốn tạo ra một cái gì dó, một gương mặt, hay một vật thể cũng vậy thôi, ta cũng phải cấp thêm cho nó các tiềm năng vốn ẩn chứa ở bên trong nó. Một vài người đã vẽ thành công “chân dung tự họa” của họ là vì thế: ta nhìn vào gương mặt họ trong tranh và ta có thể nhận ra các căn bệnh họ từng mắc chẳng hạn, thậm chí còn nhận ra cả tình cảnh tiền nong của họ thế nào cũng nên. Tranh của ta còn thiếu nhiều quá. Không nhìn thấy được gì, cũng có nghĩa là không làm chủ, không chiếm hữu. Và chính sự làm chủ, sự chiếm hữu đó cũng có thể coi là cách nhìn vậy. Ta khắc vẽ lại, ta sẽ vẽ khác đi. Hả, cháu nghĩ thế nào?

Vâng, bác Max Ludwig Nansen cũng có thể nói tràng giang đại hải như thế, vào những lúc nhất định, vào những thời khắc bác tìm kiếm gì đó và nghĩ to thành lời. Vào những lúc đó, không ai phải trả lời các câu hỏi của bác cả, bởi đó là các câu hỏi bác tự hỏi bác nhiều hơn, chứ không phải hỏi ai đó đang có mặt. Nghĩa là, bác hỏi như thế không phải là hỏi tôi đâu. Mà thực ra, sở dĩ hôm nay bác nói nhiều như thế, có lẽ là do thứ rượu trắng bác uống pha loãng với nước khoáng hoặc nước bí ngô ép: Nào, bôi trơn lời lẽ đi, bác vẫn nói, làm một ly nào. Chai rượu cùng bình đựng nước bí ngô ép không đặt bên trong, mà trên nóc tủ, giống như chai rượu gin dạo nào; đặt như thế, có lẽ bác cố tình làm khó cho việc rót thêm rượu. Hoặc bác cố tình bắt mình phải mất công mới được uống thêm. Hoặc bác muốn, bằng cách như thế, tự ngăn mình uống quá nhiều. Do mỗi lần lôi chai rượu và bình nước ép xuống, là một lần có nguy cơ bác sẽ làm đổ nước bí ngô ép lên đầu; và tất nhiên, uống càng nhiều, thì nguy cơ đó càng lớn. Cứ mỗi lần bác rót thêm cho mình một ly, bác lại có vẻ buồn rầu, ra hiệu cho tôi, tỏ ý tiếc rằng bác không mời tôi cũng làm một ly được.

Bởi ai muốn đến chuyện trò với bác, thì trước hết phải chạm ly với bác đã, kể cả ông Teo Busbeck, ông Okko Brodersen, hay hai viên sĩ quan Anh - mấy vị khách thường đi xe mang biển số nước ngoài đến thăm bác. Nào, bôi trơn lời lẽ đã nào.

Duy có một người bác không mời gì hết, là ông Bernt Maltzahn.

Lần ấy, lúc ông ta - một người đàn ông cao lớn, má hóp, mặt sưng sỉa, đóng bộ đồ nhàu nát, vâng, rộng thùng thình - bước vào xưởng vẽ, thì tôi đang ngồi trên cái thùng gỗ phủ vải. Bác họa sĩ đang thử làm nhạt mảng màu xanh lơ, mảng màu chia gương mặt bác trong bức tranh tự họa thành hai phần. Ông Maltzahn nói ông có việc ở Hamburg, nên nhân thể ông ta vọt lên đây; ông ta kẹp quyển sách Màu sắc và đối kháng dưới nách. À, thế à, bác họa sĩ nói, tay vẫn không ngừng vẽ, nhưng cũng không mời ông khách ngồi. Ông Maltzahn nói, ông ta phải cân nhắc khá lâu trước khi tìm đường đến đây, ông ta cũng đã định viết thư trước, từ lâu rồi, bởi có nhiều chuyện ông ta muốn được giãi bày, muốn trao đổi, muốn giới thiệu với họa sĩ.

Ông ta đứng sau lưng bác họa sĩ, ngón tay trỏ cọ cọ lên cằm, thỉnh thoảng lại xoạc cẳng bước sang bên này hoặc bên kia. Ông ta bảo, trước hết ông ta xin có lời thỉnh cầu. Ông ta hỏi, không biết bác họa sĩ đã nghe nói đến tờ tạp chí mới xuất bản ở München chưa. Tờ “Nghệ thuật và nhân dân” phải không? - bác họa sĩ hỏi lạnh lùng. Không chút bối rối, vị khách đáp: Không ạ, tạp chí Giá trị trường tồn, vâng, tờ Giá trị trường tồn ạ. Tuy không nằm trong ban biên tập, thế nhưng ông ta có triển vọng sẽ được nhận làm cộng tác viên tự do của tạp chí. Ông ta thông báo thêm: Tạp chí ra mỗi tháng một lần.

Thế à, tôi chưa biết! Tôi không biết tạp chí nào như thế, bác họa sĩ nói, vẫn không ngừng tay vẽ. Ông Maltzahn liếc nhìn ra phía cửa; hẳn ông ta đã thầm nghĩ, lẽ ra không nên đến đây thì hơn. Nhưng, lỡ đến đây rồi, đã vòng vo bắt chuyện thế rồi thì biết làm sao được, tốt nhất là nói toạc mình muốn gì ra cho nhanh. Vâng, tạp chí ra mỗi tháng một lần, và chắc chắn sẽ là tạp chí cao cấp. Ông Maltzahn không những biết rõ ông ta nói gì, ông ta còn có vẻ biết nhiều hơn thế. Ông ta có nghe phong thanh về một loạt tranh, một bộ tranh liên hoàn thì đúng hơn, mang cái tên rất đáng chú ý là “các bức tranh vô hình”, và ông ta sẽ rất mang ơn ông họa sĩ, nếu họa sĩ cho phép ông ta được ngó qua bộ tranh đó một lần. Và, liệu tạp chí ông ta vừa nhắc tới đó, tất nhiên, với những điều kiện nhất định, có được phép đăng một hay vài bức tranh trong bộ không. Tạp chí quả sẽ rất lấy làm hân hạnh, vân vân và vân vân.

Ông ta nhìn ông họa sĩ bằng cặp mắt ti hí, đảo đi đảo lại, không yên, có lẽ vì câu trả lời được hay không được của họa sĩ sẽ rất quan trọng đối với ông ta. Ông họa sĩ lắc đầu. Bộ tranh không hoàn chỉnh; nó bị tịch thu, qua tay không biết bao nhiêu người, hơn nữa, một vài bức đã bị thất thoát - mà lại đúng những bức quan trọng nhất trong bộ. Tuy hiện giờ ông đã nhận lại bộ tranh rồi, nhưng ai lại đi trưng bộ tranh không hoàn chỉnh cho thiên hạ xem bao giờ. Có lẽ câu trả lời của họa sĩ không đến nỗi tệ như ông Maltzahn tưởng, ông ta bước mấy bước lên phía trước, cốt để lọt vào mắt ông họa sĩ; nhưng họa sĩ vẫn chỉ hướng mắt vào bức chân dung tự họa, rồi cất tiếng nói tiếp.

Để tâm chú ý nhiều đến ông như thế, thì chả biết ban biên tập tạp chí Nhân dân và nghệ thuật có nhầm lẫn thế nào không. Chắc có sự sơ sẩy thế nào ấy chứ. Ông Maltzahn lùi lại, đáp với nụ cười thiểu não trên môi: Thưa ông, đây là tạp chí mới ra đời, mang tên Giá trị trường tồn ạ; tạp chí này cởi mở đối với mọi xu hướng nghệ thuật; và dù sao, tạp chí cũng mong muốn bù gỡ lại những gì đã bỏ lỡ trong thời kỳ mù quáng vừa qua, vâng, hiện thời chúng tôi xem đó là nhiệm vụ cấp bách nhất ạ. Vâng, ông ta cứ ào ào một thôi, đại loại kiểu như thế. Ông họa sĩ gật gật đầu, vâng, nói chung, ông cũng không có cớ gì để phản đối những chuyện đó cả, nhưng, riêng phần ông, ông nghi ngại bởi ông thấy cái góc mà tạp chí Giá trị trường tồn đang dừng chân, không đủ ấm cúng, không đủ thoải mái cho ông; ở đó sáng sủa quá, cho nên ông thích ở lại trong “góc tối khiếp đảm” của ông hơn, cái góc mà có dạo, chính ban biên tập tạp chí Nhân dân và nghệ thuật từng đày ông vào; ở đó, trong góc tối khiếp đảm ấy, ông cảm thấy ông ở nhà mình, và ở đó ông không thiếu bạn thiếu bè, vả lại, đó cũng là cái chốn nương thân ông vẫn ước ao cho mình và cho các bức tranh ông vẽ ra. Gì thì gì, nỗi khiếp đảm chắc chắn không phải là thứ đáng đem khoe với đời, và do ông đã khá nhiều lần thử tái hiện nỗi khiếp đảm đó theo cách của ông, cho nên ông rất hợp với một góc không gian tối tăm như thế. Và, nếu ông ta, ông Maltzahn, cho phép ông nói thêm đôi lời rất riêng tư nữa, thì ông xin nói rằng ông thật mang ơn ông ta đã ban góc tối đó cho ông, một việc từng làm ông sung sướng suốt bấy nhiêu năm qua. Cho nên, ông xin ông ta hãy để ông được yên trong góc tối khiếp đảm đó.

Đến lúc này thì ông Maltzahn thở dài, người uốn éo, đầu gật gật khổ sở, nhưng chưa ra vẻ tuyệt vọng. Vâng, vâng, ông ta nói, chuyện như thế đã từng xảy ra ạ, và hiện giờ quả là không ai hiểu nổi, tại sao lại có thể như thế, song, cũng thật là may mắn khi bây giờ ta có thể thẳng thắn nói với nhau về những chuyện như vậy. Và, ông ta, ông Maltzahn, thậm chí đã hy vọng được giãi bày về những chuyện này, và đó cũng là một lý do, tại sao hôm nay ông ta đến thăm họa sĩ; vâng, từ lâu ông ta đã muốn làm rõ đôi chuyện, ông ta muốn góp phần, để sao cho “sự việc được nhìn nhận đúng đắn hơn”. Nhìn nhận đúng đắn hơn ư? Bác họa sĩ hỏi lại. Ông Maltzahn sốt sắng: Vâng, nhìn nhận đúng hơn; vì quả là rất ít người biết nhìn mọi sự cho đúng ạ.

Ông ta đã toan nói tiếp, có lẽ đã định lôi hết những lời lẽ ông ta nhẩm sẵn từ trước ra, nhưng bác họa sĩ lại lên tiếng, vẫn một giọng như lúc nãy: Bác lấy làm tiếc vì bác không biết làm sao khác đi được, nhưng bác tự thấy mình - đúng như ông Maltzahn từng thấy vậy - là một thứ ma quỷ trên tranh, là hiện thân của sự thoái hóa, biến chất; đó chẳng phải là quan điểm của ông Maltzahn là gì? Ông ta đã từng nói như thế; nếu bây giờ nhìn nhận lại cho “đúng” thì bác sẽ là gì đây. Đối với bác, trên đời này quả là lắm ma nhiều quỷ thật, và một khi người họa sĩ vẽ tranh muốn mở rộng các giới hạn của mình, thì ông ta phải khác người, phải biến chất vậy. Ông họa sĩ Adolf Ziegler ở Ngôi nhà Nghệ thuật Đức không bao giờ hiểu được điều đó, cho nên ông ta mãi mãi sẽ chỉ là họa sĩ vẽ lông mu đàn bà Đức thôi, tất nhiên, một họa sĩ chân chính, không biến chất. Không, ông Maltzahn từng gọi ông thế nào, thì bác họa sĩ xin ông tiếp tục gọi bác như thế, bởi ngay từ đầu ông ta đã “nhìn thấy đúng” chân tướng bác.

Ông Maltzahn thoáng một nụ cười nhợt nhạt. Ông ta có vẻ như đã lường trước một phản ứng như thế của họa sĩ. Ông ta nói, ông ta rất mừng thấy họa sĩ chọn đúng cách nói nước đôi như thế, bởi qua đó, có thể thấy rõ một sự thực mà, thật đáng tiếc, chỉ rất ít người thấu hiểu. Vâng, ma quỷ trên tranh, dạ vâng, đó là lời lẽ ông ta đã dùng để nói, để viết bình luận về tranh của họa sĩ Max Ludwig Nansen; ông ta không hề có ý định chối bỏ điều đó. Song, không phải hiện nay ẩn ý của ông ta đã trở nên rõ ràng lắm sao? Ông ta đã phê phán ai kia chứ? Nguyên văn cái câu ông ta đã viết là “Chúng ta bị ma quỷ trên tranh bao vây”. Phải không ạ? Chúng ta bị bao vây - như thế là rõ rồi ạ. Đối với ông ta, ma quỷ vốn là những gì hồi đó diễn ra ở xung quanh, và họa sĩ đã diễn đạt các trò ma quỷ chính trị đó theo cách của mình lên tranh, còn ông ta, ông Maltzahn, ông ta thấy cần phải chỉ ra mối quan hệ đó giữa thế giới ngoài đời với thế giới trong tranh một cách kín đáo, bằng một cách nói nước đôi khéo léo như thế. Cho đến tận giờ, ông ta vẫn lấy làm lạ, sao nhiều người lại không nhận ra điều đó. Ông Maltzahn tiếp tục nói, hấp tấp, say sưa, cố chứng minh bằng được, rằng có nhiều cách nhìn khác nhau - thậm chí nhiều đến mức ta khó mà lường được là đằng khác. Và, đang lúc say sưa chứng minh biện luận như thế, ông ta có vẻ hơi khó chịu khi thấy cánh cửa bỗng bật mở ra.

Anh Teo đấy à, bác họa sĩ nói to. Ông Busbeck không đáp, chậm rãi bước đến gần; thấy có khách lạ, ông hơi lúng túng, toan bỏ đi ngay, chỉ nói nhanh - như muốn xin lỗi cho sự đường đột của mình: Ông Max, tôi gói ghém xong rồi. Tôi chỉ muốn nói để ông biết thế thôi.

Tôi đang có khách đây, bác họa sĩ nói, rồi quay người lại. Lúc này, ông Busbeck mới ngước mắt nhìn chằm chặp người đàn ông cao lớn trong bộ quần áo tồi tàn nọ một lúc. Ông có vẻ khó nhọc lắm mới nhận ra đấy là ai. Ông hỏi: Ông Bernt Maltzahn phải không? - Ông Maltzahn hơi cúi gập người chào ông. - Ông Bernt Maltzahn ở tạp chí Nhân dân và nghệ thuật thật à? - Ông Teo Busbeck có vẻ không muốn tin vào mắt mình. - Đúng đấy, bác họa sĩ đáp, người đỡ đầu tôi, người đã âm thầm bảo vệ tôi; nếu anh chưa biết, thì bây giờ tôi nói để anh biết. Bây giờ tôi cũng mới biết, ông ấy đã phải liều mình bảo vệ ta mà ta không nhìn ra. Anh với tôi đã nhìn nhận sai toét cả, anh Teo ạ.

Ông Maltzahn nhe răng trắng nhởn, giơ tay, như thể xin được nói, vừa lúc lắc cái đầu, vừa húng hắng ho lấy giọng. Đoạn, ông ta đảo mắt nhìn người này, người kia, rồi dang hai tay ra nói: Xin các ông cho tôi được nói hết. Nhưng bác họa sĩ không còn muốn nghe ông ta nói nữa, bác thản nhiên tiến về phía ông Maltzahn, gương mặt lạnh lùng, không mang chút giận dữ hay khinh miệt nào, bác chí chỉ tay ra cửa và nói, không lên giọng: Cút! Và, do ông Maltzahn vẫn ngơ ngác nhìn bác, bác nhắc lại lần nữa: Cút.

Tôi không biết, rồi tôi sẽ cuốn xéo thế nào nếu tôi bị đuổi bằng mỗi một tiếng cộc lốc như thế, nhưng ông Maltzahn thì hơi lảo đảo, rồi đột nhiên vươn thẳng người, và trước khi rời đi, cố nói sao cho thật rành rọt: Xin chào ông.

Tay Maltzahn thật đấy à? Ông Busbeckhỏi. Phải, nhanh thế đấy, bác họa sĩ nói, chúng chui từ các hang hốc của chúng ra nhanh như thế đấy. Ta cứ tưởng, chúng sẽ còn lẩn trốn ít lâu, sẽ còn nằm im đâu đó, chết gí một xó, chui lủi một thân một mình trong hang hốc, trong xó xỉnh tối om nào đó cùng nỗi tủi thẹn tột cùng; thế nhưng mình chưa kịp thở phào, thì chúng đã lại thò đầu ra rồi. Thì tôi vẫn biết, rồi một ngày nào đó chúng sẽ quay lại thôi, thế nhưng, chúng quay lại nhanh như thế, anh Teo ạ, thì tôi không thể ngờ. Anh chỉ còn biết tự hỏi xem cái gì trong con người chúng lớn hơn thôi, khả năng chóng quên mọi chuyện hay sự vô liêm sỉ.

Bác đặt tay lên vai ông Busbeck, kéo ông này đến trước bức Chân dung tự họa. Tôi cũng lần đến đứng cạnh hai người. Hai ông đứng ngắm bức tranh còn dở dang, ngắm khác mọi khi, yên lặng hơn, ít lời hơn. Nhưng đến khi hai người cảm thấy mình đã im lặng quá lâu, bác họa sĩ mới nói: Phòng của anh ở nhà này, anh cứ giữ; tôi không để ai vào đấy cả; nó thế nào, tôi cứ để nguyên thế. - Tôi gửi lại đây một thùng các tông, ông Busbeck nói, tôi mong nó sẽ không làm vướng chân ai. Ông không rời mắt khỏi bức tranh, cũng không quay mặt về phía bác họa sĩ, lúc bác này - với giọng thân mật - nhắc lại thỏa thuận giữa hai người, và nói tiếp: về sau này cũng thế thôi; nếu anh muốn đến đây nghỉ ngơi ít lâu, anh cứ việc đến, đến như báo tin trước cho tôi, anh cũng không cần. Đằng nào thì tôi cũng không hiểu, tại sao anh lại bỏ đi.

Bây giờ mọi sự qua rồi, ông Busbeck đáp. Giờ ông không cần đến tôi nữa, còn tôi, tôi định thử bắt đầu lại từ đầu xem sao. Thì ông cũng biết đấy. - Tất nhiên rồi. Bọn ta, ai chả vậy. Vâng, anh Teo, thế nhưng, anh sẽ về thăm tôi đều chứ? - Cứ đến hè là tôi lại về, ông Max ạ, ông cứ chắc như thế cho tôi. - Thế còn bức tranh này thì sao? Sao? Bức tự họa này này, anh thấy nó thế nào? - Tôi chưa biết, ông Max ạ, tôi còn phải ngấm cái đã. - Thế tức là nó chẳng ra sao chứ gì? - Tôi không nói thế; trước hết, tôi phải hiểu câu chuyện ông muốn kể ở đây là gì đã. Bây giờ chắc tôi phải đi. - Bác cháu tôi đi với anh, anh Teo ạ. Chúng tôi đưa anh đến Glüserup, chứ còn gì, Siggi với tôi sẽ đi tiễn anh lên tàu. Anh không ngăn chúng tôi được đâu, đúng không, Witt-Witt? - Vâng, đúng thế ạ!

Bây giờ ta tìm đâu ra cây gậy nhỉ. Tôi với anh dùng cây gậy để khênh hành lý. Nếu thêm Siggi xách giúp cái vali bà đỡ này, thì ta làm một mạch là tới ga Glüserup chứ không cần nghỉ.

Tôi xách cái túi da có khóa cài mà bác họa sĩ gọi là vali bà đỡ, còn hai ông dùng cây gậy khênh hành lý lên vai; hành lý đung đưa, trượt đầu này sang đầu kia mất một lúc, rồi mới chịu nằm yên. Chúng tôi lần theo lối đi quanh co dẫn về phía con đê, dọc theo những con mương lầy lội, bèo tấm phủ kín mặt. Không thấy bóng dáng ông Maltzahn đâu nữa. Một ngày thật đẹp, ấm áp, khô ráo, trong xanh; hôm nay mà kéo nhau ra đồng cắt cỏ khô thì tuyệt. Nhìn về hướng Timmenstedt, quả nhiên, có người đang cắt cỏ thật, những tấm lưng để trần của họ cúi xuống, ngẩng lên, những cái xiên cỏ răng dài ngoằng lấp loáng. Chúng tôi ì ạch trèo lên mặt đê, mang theo cả đống hành lý. Bác họa sĩ hỏi gặng lần nữa: Thế nào nào, hay anh ở lại hả, anh Teo? Và, ông Busbeck, mắt hướng ra biển, đáp nhỏ nhẹ: Rồi tôi khắc quay lại, ông Max ạ, nhưng hiện giờ, tôi đi thì tốt hơn. Ông cứ tin tôi.

Tôi chạy lên trước hai ông. Hôm nay cũng đúng là ngày chim nhạn, những con chim chắp cánh bổ nhào như mũi tên bắn xuống bãi cát nóng, kêu lên khe khẽ khi nhiều con như lao đầu đâm vào nhau, đến sát thật gần mới tõe ra mỗi con một ngả. Chúng bay từ đồng cỏ tới, sà xuống sát sàn sạt mặt đê, nhưng chốc chốc lại bị luồng gió bất ngờ nào đó hất lên cao, đẩy ra biển, trước khi nhào quay lại.

Anh không phải xem đồng hồ mãi thế, anh Teo ạ, bác họa sĩ nói, mình sẽ kịp tàu thôi.

Hai người chợt đứng dừng lại, đặt hành lý xuống đất. Hai ông nói gì đó với nhau, cùng nhìn ra ngoài bán đảo. Anh không thấy à? Phía bên trái kia kìa, chỗ cát trũng xuống ấy. Vẫn chưa nhìn ra à? - Phải Jutta không? - Phải rồi, Jutta, thế anh có biết, ai đang nằm cạnh nó không? - Klaas, hả? - Chứ ai vào đấy nữa.

Hóa ra, anh Klaas rốt cuộc đã hết buồn ngủ; rốt cuộc anh ấy đã đủ tỉnh táo để đi khỏi Bleekenwarf ra ngoài rồi đấy. Anh ấy nằm sấp xuống cát, còn Jutta - trong bộ áo tắm cũ, vá chằng chịt ở vai và mông - quỳ xuống bên cạnh anh. Áo sơ mi anh Klaas đã cởi ra, quần xắn cao, từ xa trông anh cứ như mang ghệt cao đến bắp chân. Mái tóc ngắn bờm xờm của anh thò ra khỏi trũng cát, còn đôi giày lính cao cổ để phía trước, đổ nghiêng, trông như hai con thú lạ mệt mỏi đứng chầu bên cạnh. Jutta đang xoa lưng cho anh ấy bằng cái gì đó trên tay, vươn ra trước, thụt lại sau, thỉnh thoảng lại vỗ vỗ lên bả vai anh ấy. Anh ấy mà đưa một chân lên cao, nó lại đè ngay xuống cát, nếu anh ấy định ngẩng đầu lên, nó lại vít cổ đè xuống, vẻ đùa cợt.

Cháu đi gọi Jutta với anh Klaas đến đây nhé? - tôi hỏi. - Thôi không cần, ông Busbeck ngăn, bác chia tay chúng nó lúc ở trong vườn rồi. Để yên cho chúng nó ở đấy.

Bây giờ đến lượt Jutta nằm sấp xuống cát, khéo léo tháo quai áo tắm xuống, còn anh Klaas ngồi dậy, có vẻ vẫn còn bơ phờ lắm, và mất một lúc mới vớ được cái lọ đựng dầu xoa. Anh Klaas đổ dầu xoa lên khắp lưng Jutta, phủi phủi tay, đã định xoa lưng cho nó, nhưng anh lại chợt sững lại, nghiêng đầu nhìn xuống mặt Jutta lúc ấy ngoan ngoãn nằm yên, và chắc là đang sốt ruột hỏi: Sao thế? Sao không xoa lưng cho em? Thế là anh ấy xoa dầu lên lưng nó, trông cứ như cái máy, vô tình, hờ hững, trong lúc xoa lưng cho Jutta, anh lại ngẩng đầu nhìn ra biển, rồi ngoảnh đầu nhìn dọc theo bãi cát nóng. Chả mấy chốc, anh ấy nhìn thấy chúng tôi.

Anh vẫy tay về phía chúng tôi. Anh ẩy vào vai Jutta, chỉ tay về phía chúng tôi. Hai người vẫy tay, chúng tôi vẫy lại, nhưng ai ở đâu, vẫn ở đó. Lát sau, chúng tôi ai nấy lại nhấc hành lý lên, đi tiếp. Nhưng bây giờ tôi để hai ông đi trước; chốc chốc họ lại phải sửa nhịp chân để chỗ hành lý chịu nằm yên, không đột nhiên như lồng lên, lắc bên này, bên kia.

May nhờ ơn Chúa mà thằng bé qua khỏi. - Vâng, đúng là nhờ ơn Chúa.

Glüserup đã hiện ra trước mặt, thậm chí, trong những ngày nắng lung linh như thế này, còn thấy những hai Glüserup cơ; Glüserup thứ hai trông như thể ảnh trong gương của Glüserup dưới đất, lơ lửng trên không cùng bấy nhiêu kho tàng đầy bụi bặm của nhà máy xi măng, cùng tháp nước cũng như bồn khí đốt han gỉ.

Nó không đùa đâu, ông Max ạ. - Anh nói vậy là thế nào? - Vùng đất ở đây này, vùng đất quê ông đấy, nó không biết đùa cợt, đến như một ngày hôm nay, một ngày như thế này, nó cũng không chịu đùa. Lúc nào cũng nghiêm trang, ngay cả dưới nắng mặt trời cũng thế, cũng chỉ nghiêm nghị như thế thôi. - Nặng nề quá đối với anh, phải không? - Ông Max ạ, ở đây ông cứ nghĩ, ông luôn luôn có nghĩa vụ với một cái gì đó. - Thế à? Vậy anh bảo đó là cái gì? - Tôi không biết. Có lẽ đấy là cái nghiêm túc, vâng, sự nghiêm túc và sự câm lặng, ít lời. Đến cả các buổi trưa ở đây cũng bí hiểm thế nào ấy. Đôi lúc tôi đã nghĩ, vùng đất này không có bề nổi, nó chỉ có… Chỉ có gì ư? Tôi biết nói thế nào nhỉ. Chỉ có bề sâu. Nó chỉ có một bề sâu ghê gớm, và tất tật, những gì nằm dưới ấy đều hằm hè đe dọa. - Và anh cho như thế là dở à, anh Teo? - Thì tôi chỉ nghĩ, bề nổi chứa biết bao nhiêu là nhân tính. - Tôi hiểu rồi, anh Teo, thế nhưng, nếu đã vậy, thì ta không nên cố làm cho mảnh đất này cũng đáng sống hay sao? - Vâng, tôi biết, điều đó làm ta lo ngại, song điều làm ta lo lắng, bất yên, nói cho cùng, cũng chỉ là tính khí khác đời mà thôi, và một khi anh đã hiểu được tính khí đó, thì anh khắc đỡ lúng túng bối rối hơn cũng nên. - Cũng có thể, anh ạ. Có lẽ ta cần học cách nhìn nó đúng hơn.

Thế đấy, hai ông nói với nhau như thế để chia tay nhau lúc đứng trên mặt đê; nghe hai ông nói chuyện, người ta có thể có cảm giác, họ muốn nói cho bằng hết những gì cần nói với nhau, không sót tí gì. Hai ông mải nói chuyện, và hình như không để ý đến ông Hinnerk Timmsen đang hai tay chống nạnh, doạng chân đứng trước quán Wattblick nhìn về phía chúng tôi. Tất cả các cánh cửa sổ quán Wattblick đều mở toang, cài chốt chắc chắn; trên cột cờ phất phới lá cờ hiệu của quán ông Timmsen, lá cờ in hai chìa khóa bắt chéo nhau ở giữa, những chìa khóa nghe đâu không nhét vừa ổ khóa nào cả. Các bậc thang và lối đi bằng gỗ được lau sạch, thậm chí bóng loáng dưới ánh nắng. Các vị đừng có tưởng ông chủ quán sẽ bước về phía chúng tôi đâu nhé! Ông ta nhăn nhở cười, chờ chúng tôi bước đến gần, rồi ngăn chúng tôi lại; không, đúng ra là ông ta muốn bắt chúng tôi chuyển hướng, đi vào trong quán Wattblick; song hai ông kia chỉ đặt hành lý xuống đất, rồi đứng nguyên tại chỗ. Ông Busbeck lôi đồng hồ ra xem, rồi nói: Chúng tôi phải bắt kịp tàu, ông Hinnerk ạ, từ đây có mỗi một chuyến tàu suốt về Hamburg. - Làm một ngụm thôi, ông Timmsen nài, làm ngụm chia tay, sau bấy nhiêu năm quen nhau. Mọi thứ tôi cho dọn sẵn cả rồi. Ông ta thò hẳn nửa người qua cửa sổ vào trong, vỗ vỗ tay, và bà Johanna đeo tạp dề trắng trước bụng bước ra, tay đỡ chiếc khay đựng mấy ly rượu sóng sánh, ly nào cũng có một lát chanh. Rượu gì thế? - Thì cứ uống đi đã. - Thế không có gì cho Siggi à? - Ừ nhỉ. Bác Johanna đem cho cháu ly nước khoáng nào.

Chúng tôi chạm ly với nhau, chào tạm biệt, hẹn ngày gặp lại; cả hai vị khách đều thấy rượu ngon, cất tiếng hỏi, gần như đồng thanh: Ông lấy đâu ra thứ gin này thế, hả ông Hinnerk?

- Các ông không thấy chúng tôi cho thông gió trong quán như điên thế này sao, ông Hinnerk Timmsen nói. Bao nhiêu là lễ lạt mừng chiến thắng họ đều làm ở đây; họ đi xe từ Glüserup đến đây ăn mừng; chúng tôi chỉ cho thuê quán, dọn dẹp, thông gió, thông khí thôi. Các ông có thấy mới biết nó thế nào. Nói rồi, ông ta lại làm một ngụm, như thể muốn thưởng thức thay cho cả bọn chúng tôi. Sắp tới rồi tôi sẽ còn có thứ hay hơn mời các ông. Mà ông Max này, lại có mấy người đến đây hỏi ông; mới sáng nay thôi chứ đâu. Họ đi xe Jeep đến. Tiếng Đức họ không thạo, tôi không thạo tiếng Anh, thế nhưng tôi vẫn đoán được là họ tìm ông, để ông vẽ cho họ, chân dung chân diếc gì đó, như cho ông Thiếu tá dạo nọ ấy mà. Tôi còn biết làm thế nào hơn, chỉ biết chỉ đường cho họ đến Bleekenwarf thôi. - Rồi họ khắc tìm được đường, không lo, bác họa sĩ nói, rồi đặt ly rượu đã uống cạn lên bậu cửa sổ, và nhấm nháy ra hiệu bảo ông Busbeck và tôi cũng nhanh tay đặt ly lên đó, rồi bác vỗ vai ông Timmsen nhiều lần, thay cho lời cảm ơn. Đến lúc hai ông Busbeck và Timmsen bắt tay nhau, bác mới nói: Thôi nhanh lên nào, ông ấy có đi hẳn khỏi đây đâu mà bịn rịn thế. - Thế các ông không muốn ghé vào một lát thật hả? - ông chủ quán lại hỏi. Ông Busbeck đáp: Cứ thế này, tôi e không kịp tàu mất.

Lại thêm một lần chia tay tạm biệt, với những lời người ta vẫn nói khi đó: Đi nhanh về nhé! Cố giữ gìn sức khỏe nhé! Đừng có mà đi lâu quá đấy!

Chúng tôi lại xốc hành lý, lên đường đi tiếp. Ông Timmsen ngoài đường, bà Johanna trong sân, cả hai đều đứng vẫy tay theo. Này anh Teo, cứ vài câu chia tay như thế này nữa, bác họa sĩ nói, thì anh phải ở lại đấy. Chắc ta vẫn còn kịp, Tiến sĩ Busbeck đáp.

Tôi bàn hai ông đi tắt dọc theo đường tàu, qua cây cầu sắt; hai ông tán thành, và chúng tôi tụt khỏi đê, vượt cánh đồng ấm áp, cỏ mọc mượt mà. Ông đừng quên hoa vào ngày sinh nhật bà ấy nhé, Tiến sĩ Busbeck nhỏ nhẹ, ngày mồng tám tháng Chín đấy. - Gớm cái anh này, thì tôi cũng phải biết sinh nhật của bà Ditte nhà tôi vào ngày nào chứ, hả. - Thì tôi chỉ muốn nhắc thế thôi.

Chúng tôi trèo lên đường tàu đắp cao, rồi cứ dọc theo lối mòn cạnh đường ray mà đi - ở quê tôi, chẳng riêng gì các nhân viên gác đường ray, mà hầu như bất kỳ ai cần ra ga, đều theo đường mòn này cả. Tôi vừa đi, vừa thỉnh thoảng nhặt đá dăm ném xuống các con mương rộng, nước đen ngòm, nằm phơi dưới nắng. Tôi đập đập que gậy lên hàng lan can của cây cầu sắt. Từ đây, tôi đã nhìn thấy chiếc đồng hồ ở nhà ga rồi, mặt kính đồng hồ bị vỡ, được dán lại bằng băng dính bắt chéo.

Anh thấy chưa, bác họa sĩ nói, còn kịp chán. Có khi còn kịp mua cả vé cho anh ấy chứ. - Thế thì may, ông Busbeck đáp.

Đây, ga Glüserup đây rồi, bốn đường ray, hai sân ga hai bên, một xưởng sửa chữa đen sì muội than, ngôi nhà chính hình hộp, xây bằng gạch đỏ; trong ga có nhiều nhánh đường phụ, trên đó nhiều toa tàu hư hỏng, hoặc ít nhiều sém cháy đang đỗ; trên thành một số toa còn hiện rõ dòng khẩu hiệu: “Hãy để bánh xe lăn đều cho Ngày Toàn Thắng”. Quầy bán vé nằm trong gian nhà chính, ngoài ra là các loại văn phòng, phòng bảo quản hành lý, nhà vệ sinh và phòng đợi; phòng đợi khá rộng, nếu dẹp bàn ghế đi, thì lập tức có thể biến thành phòng thi đấu thể thao; nhờ trần nhà cao những mười hai mét, cho nên, nếu có chơi các môn bóng cũng vẫn được.

Lối vào sân ga được chắn bởi dây xích sắt bắc ngang đầu gối, và chỉ ai mang trang phục nhân viên hỏa xa mới được bước qua. Trèo qua đường ray bị cấm, cho nên muốn từ sân ga này sang sân ga kia, hành khách phải trèo qua cái cầu vượt được che chắn, bao bọc bằng gỗ ván; trên mặt tường bằng gỗ la liệt đủ loại hình vẽ tục tĩu cùng những ký tự khác nhau, do đám hành khách đợi tàu rỗi hơi khắc lên tự hồi nào đến giờ. Phía trong các cánh cửa kính, đám nhân viên mặc đồng phục đang ngồi bên bàn giấy và ai nấy đều có vẻ rất bận rộn với công việc của họ; nếu trước cửa kính đã treo tấm biển bằng bìa “Đóng cửa” thì có gõ cửa mấy cũng chẳng ăn thua gì. Tấm biển bằng kim loại tráng men mang dòng chữ: “Xin khạc nhổ vào các ống nhổ” không có ý nghĩa gì nữa, vì không thấy có ống nhổ nào ở đó cả - có lẽ do chẳng ai dùng, nên nhà ga đã cho dọn đi rồi. Sàn gian nhà chính lát bằng gạch tráng men, trên một tấm có ghi năm ngôi nhà này được xây cất, là năm 1904.

Lúc chúng tôi đến nhà ga, thì bắt đầu bán vé; hành khách cũng đã được vào sân ga; chúng tôi phải đến sân ga số 2, rồi đứng ngẩn ngơ dưới nắng, cùng với bấy nhiêu là dân chúng Glüserup, những người hôm nay dường như rủ nhau rời khỏi thành phố cùng một lúc. Người ta ngồi la liệt trên các loại thùng, loại sọt, trên balô, trên hộp các tông hay vali, mang theo nào túi, nào đồng hồ treo tường, nào chăn đệm, bàn giặt, nào sừng hươu, sừng nai; ai nấy cố kín đáo lết dần đến sát mép sân ga để chờ khi tàu đến, sẽ kịp xông lên, chen lấn chiếm cho bằng được một chỗ ngồi hay chỗ đứng ngon lành.

Anh thấy không, anh Teo, bác họa sĩ nói, anh không phải đi tàu một mình đâu nhé. - Có vẻ vậy thật, ông Busbeck gật gù đáp.

Đám hành khách đúng là kiên nhẫn, đôi người ngồi ngủ gà ngủ gật ngay trên đống hành lý lộn xộn của họ. Tôi thấy khá nhiều lính giải ngũ, trang bị duy nhất của họ là những cây gậy chạm trổ rất khéo tay; hành lý họ mang theo, đa phần chỉ là những túi đựng bánh mì to tướng. Một người đàn ông râu ria xồm xoàm làm tôi để ý; một mình ông ta chiếm vòi nước uống đã khá lâu, tay nắm chặt vòi, vươn cổ, nghiêng đầu gườm gườm giận dữ nhìn nhóm mấy đứa trẻ cũng đang muốn đến chỗ vòi để hứng nước. Tôi cũng để ý đến một người đàn bà mặc bộ quần áo bó sát người đang mạnh chân mạnh tay xô đẩy chen lấn vào giữa đám đông, và cứ người đàn ông nào đứng quay lưng về phía bà ta, bà ta lại dữ dằn giật vai, quay mặt ông ta lại về phía mình, nhưng lần nào cũng như lần nào, có vẻ thất vọng, thậm chí hờn dỗi, đẩy ông ta ra, khi thấy đó không phải người bà ta dường như đang muốn tìm. Tất nhiên tôi cũng phải để mắt đến người đàn bà xách một cái lồng chim sơn trắng, nhưng trong lồng không có con chim nào, mà chỉ là một chiếc đồng hồ báo thức kiểu cổ. Cô Hilde Isenbüttel, đương nhiên tôi cũng thấy, lúc cô ấy đứng lại trên bậc thang dẫn lên cầu vượt, nơi mà cô ấy có thể bao quát toàn bộ sân ga, nhưng đồng thời, cũng dễ được người khác nhìn thấy hơn cả.

Cô Hilde Isenbüttel đứng trên kia kìa, tôi nói. Bác họa sĩ liếc nhanh sang ông Teo Busbeck, rồi nói: Trông kìa, anh Teo, chỉ ai có chửa mới đứng như thế. Cái bụng chửa to thế kia! Chẳng cần bỏ công sức gì mà họ vẫn vượt trội hẳn lên. - Thế nào cô ta cũng tìm được chỗ ngồi, ông Busbeck đáp.

Một người đàn ông mặc trang phục nhân viên hỏa xa, tay cầm biển hiệu, bước từ phòng trực ra, vượt qua đường ray đến sân ga chúng tôi đang đứng; với lý do bảo đảm an toàn, ông ta đi dọc theo mép sân ga, ép hành khách lùi vào phía trong, tránh khỏi khu vực khi tàu xịch đến có thể gây nguy hiểm. Bằng một giọng ôn tồn đã luyện từ trước và cũng hay dùng, ông ta nói luôn mồm: Xin các ông, các bà lùi lại phía sau cho.

Tàu có vẻ sắp đến rồi, ông Max ạ. - Vâng, tôi cũng nghe thấy rồi. - Tôi biết cảm ơn ông thế nào bây giờ, ông Max? - Thôi, anh đừng nói thế. - Cảm ơn ông, vì bao nhiêu năm qua. - Anh Teo, anh đừng nói nữa. - Tôi có cảm giác, như tôi đang bỏ nhà mình mà đi vậy. - Thế thì tốt, tôi cũng chỉ mong sao anh nghĩ như vậy; bao giờ đến nơi, anh nhớ viết báo cho tôi biết ở Köln thế nào nhé. Kia rồi, tàu anh đến kia rồi.

Cùng tiếng ken két nghiến xuống đường ray, lẫn tiếng đập đều đều, mỗi lúc một chậm lại, đoàn tàu từ từ vào ga, đẩy ra phía trước một tấm màn khí nóng hổi, lung linh, và lùa theo một luồng khí gắt, nóng cháy da, phải, đoàn tàu chạy vào, dừng lại, rùng rùng, giần giật tại chỗ, tiếng kim khí cọ kim khí vang lên, hơi nước nóng hổi phì phì tìm lối thoát, các van khí phập lên phập xuống. Trên các chỗ nối toa, trên nóc toa hay trên bậc lên xuống, hành khách nhân cơ hội tàu đỗ được dãn gân dãn cốt, được buông lỏng tay, thả lỏng chân khỏi những chỗ bám vốn họ không những cố giữ để cho mình khỏi rơi xuống, mà - ít nhất cũng là dưới mắt tôi - còn níu chặt, khiến cả đoàn tàu chật người bên trong, bao chặt bên ngoài bằng các tấm thân người, phải ngoan ngoãn chạy theo ý của họ, cũng giống như rong biển bám vào thân tàu thủy, khiến con tàu phải giảm dần tốc độ. Vâng, đoàn tàu hỏa, quả thật, dường như đã bị phong tỏa bởi bấy nhiêu là con người, khiến ta có thể nghĩ, chỉ bằng số đông đầu người và bằng ý chí chung đòi đi tiếp của đám đông đó, mà họ đã chế ngự được đoàn tàu theo ý mình. Và, bởi vì họ đã đi được một đoạn xa như vậy rồi, họ không muốn tự nguyện nhường các chỗ ngồi họ mất bao nhiêu công sức mới chiếm được ấy cho những hành khách mới, từ sân ga chen lên; thế nhưng, dưới sức ép của đám đông dồn từ sân ga lên, họ vẫn phải lùi lại, dãn ra, nhường bớt chỗ cho hành khách mới chen lên. Thật lạ lùng là, tuy các tiếng kêu, tiếng thét, tiếng cãi vã đôi co ồn ào như thế, người ta vẫn nghe thấy giọng nhân viên nhà ga, tay cầm bảng hiệu, chốc chốc lại nói oang oang: Glü-se-rup đây! Glü-se-rup đây!

Chúng tôi làm sao đưa ông Busbeck lên tàu bây giờ? Bác họa sĩ ngăn chúng tôi lại: Cứ bình tĩnh, bình tĩnh, để mặc họ chen nhau. Đứng sau lưng chúng tôi, bác quan sát kỹ cả đoàn tàu một lúc, rồi chợt nói: Đằng kia, ra chỗ ca bin nhân viên gác phanh kia. Chúng tôi xông đến ca bin vốn dành riêng cho nhân viên gác phanh đoàn tàu. Trong đó đã có ba bà y tá ngồi sẵn; họ càu nhàu, rên rỉ, cản không cho chúng tôi nhét hành lý của ông Busbeck lên toa, và đến lúc chúng tôi đẩy cả ông Busbeck lên thì một bà y tá tóc bạc, vừa kêu cứu, vừa đưa hai tay che lấy bộ ngực to quá cỡ của mình; mặt bà ta tái nhợt.

Ông già này, bác họa sĩ nói vọng qua cửa sổ vào bên trong, dọc đường ông ấy sẽ chiêu đãi các bà thức ăn thức uống ngon lành. Chăm ông ấy cẩn thận giúp tôi nhá. Nói xong, bác lôi một sợi dây thừng buộc ngang nắm cửa với một thanh ngang ở cuối toa tàu. Đứng dưới sân ga, một lát sau, chúng tôi đã nghe thấy tiếng cười từ ca bin nhân viên gác phanh vọng ra. Thế là họ làm quen với nhau rồi đấy. Có điều ông Busbeck không thò tay ra vẫy được nữa, mà một bà y tá phải vẫy hộ ông, lúc đoàn tàu - sau nhiều lần huýt còi - rốt cuộc, tuy chậm hơn so với dự tính, cũng chuyển bánh, bu đầy những thân người - hoặc nằm bẹp trên nóc toa, hoặc bám chặt tại các mối nối toa tàu - lúc lắc đung đưa theo nhịp tàu chạy. Và, tôi vẫn còn nhớ, lúc đoàn tàu lăn bánh chạy qua, đôi nhóm người đang đứng túm tụm trên sân ga chợt tản ra, có người nhảy dựng dậy, vừa gọi vừa chạy theo đến mép ngoài của sân ga, rồi đứng lại ở đó, vẫy tay trông theo đoàn tàu đang rời xa.

Đến lúc này, lúc đoàn tàu đã biến mất sau một đoạn đường cong, nơi đường ray lóe lên dưới ánh nắng chói chang, sân ga vẫn không vắng người; mọi người lại ngồi lấp đầy các ghế băng, lại nằm vạ vật cùng đống hành lý, kiên nhẫn hy vọng, biết đầu chẳng có thêm chuyến tàu không định trước sẽ chạy qua.

Quá mệt mỏi vì buổi trưa nóng nực, ai nấy đều muốn tìm chỗ nghỉ. Bác cháu tôi đã định bỏ đi thì chợt nhìn thấy cô Hilde Isenbüttel hớt hải chạy trên sân ga tới chỗ lúc nãy các toa chở hàng hóa vừa đỗ. Cái gì thế nhỉ? Cô ấy định làm gì vậy? - hai bác cháu hỏi nhau gần như đồng thanh và cùng nhìn theo cô; nhiều người khác cũng nhìn theo - người đàn bà bao giờ cũng vui vẻ, cũng sẵn một nụ cười tươi tắn trên môi ấy - đang hớt hải chạy, lượn ngoằn ngoèo giữa các đống hành lý cũng như hành khách nằm ngồi la liệt, và, vừa chạy vừa vẫy tay rối rít.

Một người đàn ông mặc quân phục đang ngồi dưới đất, ở chỗ cô đang vội vàng chạy tới. Chú ngồi cạnh một chiếc xe kéo tự lắp, bánh xe vốn là bánh xe của một chiếc xe nôi trẻ con nào đó lắp vào. Chú ngồi thẳng. Cụt hẳn hai chân. Đầu để trần, gương mặt trẻ trung, nhưng cứng cỏi. Chú chăm chú nhìn về phía cô Hilde đang chạy tới, và lúc cô ấy đến gần, thận trọng đỡ cái bụng to, rồi quỳ xuống trước mặt chú, thì chú nắm chặt lấy hai cánh tay cô; lúc này, hai gương mặt của hai người ở ngang tầm nhau, nhưng không như người ta có thể tưởng, họ không sáp mặt vào nhau.

Đấy là Albrecht chứ ai, bác họa sĩ nói, Albrecht Isenbüttel. Chắc cậu ta thoát nạn ở Leningrad, về đây.

Người đàn bà gỡ tay người đàn ông ra, rồi đột nhiên ôm choàng lấy chú ấy, hai người khẽ đung đưa; lát sau, cô đứng dậy, cúi xuống, mới đầu còn thử, nhưng sau đó, dứt khoát bê xốc chú lên chiếc xe kéo. Cô nhìn đôi chân cụt của chú, ra chiều nghĩ ngợi, rồi sau đó, cô cuộn hai ống quần màu xám của chú lót xuống chỗ cụt. Cô ướm lại sợi dây kéo, quàng qua đầu lên vai, rồi kéo xe đi.

Một mình cô Hilde Isenbüttel kéo chiếc xe trên sân ga, còn người đàn ông ngồi thẳng, cứng đơ trên sàn xe lát gỗ, hai tay bám chặt thành xe, và mỗi lần xe xóc lên, trông chú cứ như muốn gật gật đầu. Chú không nhìn sang hai bên, không để ý đến tiếng ai gọi, và khi bác cháu tôi muốn giúp cô kéo xe, chú cũng không buồn để ý, vì thờ ơ hờ hững thì ít, mà đúng hơn là vì, lúc đó, dường như chú đã giao phó hết cho cô, để mặc cô thay mặt chú nhận lời hay từ chối mọi sự. Người đàn bà cảm ơn và nói: Cảm ơn bác, bác Max, nhưng bác cứ để mặc tôi kéo; có lẽ chỉ nhờ bác giúp qua chỗ bậc thang kia thôi…

Bác họa sĩ cùng cô Hilde Isenbüttel khênh người đàn ông cụt cả hai chân lên mấy bậc thang, tôi kéo xe theo sau; lên đến bên trên, hai người lại đặt chú ấy xuống lòng chiếc xe hẹp vừa đủ cho người đàn ông ngồi. Rốt cuộc, cô Hilde nói, rốt cuộc anh ấy cũng đã về. Phía ngoài, trên bãi đất gồ ghề trước mặt nhà ga, dưới bóng những ngọn cây bồ đề, bác cháu tôi lại xin giúp lần nữa, nhưng cô Hilde Isenbüttel vẫn không chịu. Bác họa sĩ chỉ vào cái bụng chửa của cô, nhưng cô hất đầu ra sau, đáp: Rồi sẽ ổn thôi, sẽ phải ổn thôi. Cô tháo khăn buộc trên đầu ra, lau mồ hôi trên cổ, rồi nhét nó xuống dưới chỗ cụt của đôi chân người đàn ông. Nhưng, dù sao, tôi vẫn xin cảm ơn bác, bác Max ạ.

Bác cháu tôi để hai người đi lên trước một lúc rồi mới đi theo, về hướng cảng, sau đó đi tiếp trên đoạn đường đất không lát đá chạy ven bờ biển; bánh cao su đặc của chiếc xe kéo làm bụi bay lên, và hai bác cháu đi sau, chỉ biết nhìn theo mà không giúp gì được, khi thấy cô Hilde chốc chốc lại dừng lại, để lau mồ hôi trên mặt hoặc để đỡ đau vai một lúc. Những lúc như thế, chúng tôi cũng đi chậm lại. Rồi bác họa sĩ bỗng nói: Hai người mãi vẫn chưa nói tiếng nào với nhau. - Tại sao thế hả bác? - Bởi họ chỉ cần nhìn nhau là đủ rồi, bác đáp.

Trên quãng đường ven biển này, bánh chiếc xe kéo rít kèn kẹt, chao bên này, đảo bên kia, nhưng cô Hilde Isenbüttel không để ý; cô cứ con đường quanh co dẫn tới bờ đê mà đi, còn chúng tôi bám theo sau. Không trung phảng phất mùi cát bụi và cỏ khô. Người đàn ông ngồi trên xe vẫn chỉ một mực nhìn ra phía trước, không một lần quay mặt nhìn ra Biển Bắc, hoặc đưa mắt nhìn ra vùng đất với các trang trại nằm rải rác, vùng đất mà trong những năm tháng đi xa, hẳn chú ấy phải thầm thương nhớ lắm; duy có một lần, lúc họ phải rời con đê đi xuống, khi người đàn bà phải khuỵu chân, còn chú phải chống tay xuống đất để hãm chiếc xe, chú mới liếc về phía bác cháu tôi, như thể muốn cầu cứu, song, do chú ấy không gọi, nên chúng tôi cũng không chạy đến giúp được. Thế rồi, tuy không có chúng tôi giúp một tay, hai người vẫn trượt theo sườn đê mọc dầy cỏ xuống được chân đê. Bây giờ thì chúng tôi dừng lại bên trên, nhìn theo người đàn bà mạnh mẽ kéo chiếc xe chạy trên con đường đất nhuốm màu than bùn nâu đen, con đường dẫn về phía hàng dương, mà ngọn cây nào cũng đen ngòm chim sáo đá đang đậu. Thật đáng nhìn lắm -ở quê tôi, bao giờ cũng đáng nhìn theo những ai đang rời xa, xa mãi dưới vòm trời mênh mông. Những lúc như thế, người ta đứng dừng lại, tập trung mọi chú ý vào mối tương quan giữa không gian và vận động, và bao giờ cũng vậy, ưu thế nặng trĩu của đường chân trời luôn luôn làm người ta phải kinh ngạc bàng hoàng.

Vâng, hai bác cháu tôi đứng rất lâu trên bờ đê, quay lưng ra biển, để mặc cho hai người kia bé dần, bé dần lại trước mắt, để yên cho hai người nhập lại làm một, một thân mình cứ nhỏ dần mãi, nhỏ dần mãi, để cuối cùng, không còn để lại gì khác nữa, ngoài một chấm đen - phải căng mắt mới nhận ra - đang di động.

Cháu có nghĩ ra bây giờ bác cháu mình phải làm gì không? - bác họa sĩ hỏi tôi.

Vâng ạ - Tôi đáp. Bác họa sĩ đặt bàn tay lên cổ tôi, bóp nhè nhẹ, rồi đẩy tôi dọc theo sườn đê đi xuống, nhưng sau đó, không đi ngang quán Wattblick, mà đi về hướng Đông, sang phía quốc lộ Husum. Có lẽ bác không hứng gặp lại ông Hinnerk Timmsen làm gì. Ngay cả khi bác chỉ im lặng, trầm ngâm, thả mình trong suy nghĩ riêng, tôi vẫn muốn được đi cạnh bác, không phải để đi cùng một nhịp chân bước với bác đâu, mà chỉ là để ở bên bác, hưởng sự có mặt của bác, một sự có mặt thân mật, mà cũng khó lường, bởi vì ai đi cạnh bác đều phải sẵn sàng chờ đợi, đáp lại một câu hỏi hay một ánh nhìn bất ngờ nào đó của bác. Đi cạnh bác, cũng còn có nghĩa là luôn luôn bận rộn đầu óc, luôn luôn căng thẳng chờ đợi, chứ niềm vui, thì bao giờ cũng rộn rã trong lòng, khỏi cần phải nhắc đến nữa.

Hoàng Đăng Lãnh (dịch).
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.