Giờ Đức văn

Lượt đọc: 151 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 10
NỬA GIỜ ĐỂ SỬA SOẠN

❊ ❊ ❊

Chuyện gì tôi nhớ, tôi đều muốn kể. Đến cả những kỷ niệm thoáng qua, chỉ cần một cơn mưa là trôi sạch cũng vậy. Nên bây giờ tôi muốn kể về cái chuồng bò quét vôi trắng ố vàng, bị bỏ hoang từ lâu ở Bleekenwarf, về buổi sáng tinh mơ, sương mù dày đặc là là mặt đất ấy, và - trong trí nhớ - thì tôi phải mở toang cửa chuồng bò để ai nấy đều có thể nhìn thấy con thú bị trọng thương cùng tất cả những người tề tựu hôm đó dưới ánh sáng ban mai mờ ảo, hoặc để tự tay hóa kiếp cho con bò, hay chỉ ngồi xem. Cảnh tượng tôi muốn tả ngay từ đầu là cảnh cái chuồng gia súc thoáng gió, vâng, chính cái chuồng bỏ hoang từ lâu ở Bleekenwarf tôi nói lúc nãy đấy, với các ngăn chuồng lợn bỏ không, các vòng sắt hoen gỉ, vốn dùng để buộc chân bò, một thanh xà ngang dính đầy phân gà nằm đổ nghiêng - vốn dùng cho gà đậu - và ông già Holmsen, vợ ông ấy, cái Jutta, bác họa sĩ với tôi, đều đang ngồi trên chồng gỗ ván chông chênh; còn tựa vào tường, một chân trước khuỵu xuống, hổn hển, mõm sùi bọt mép, là con thú bị thương, máu trào ri rỉ từ cổ và sống lưng ra ngoài.

Nếu bây giờ tôi bảo, từ trên cao, máy bay đã trút vội hai quả bom xuống Rugbüll, thì chắc chắn sẽ có người vặn vẹo, hỏi làm sao tôi lại biết là nó trút vội. Vâng, cũng phải thôi, nhưng nếu không tính đến chuyện tôi không tưởng tượng nổi, liệu có viên phi công nào đang bay, nhất là tít trên trời cao, lại bị mây che khuất mắt như thế, mà vẫn thấy đáng phải cho Rugbüll nếm vài quả bom, thì câu hỏi “làm sao thằng nhỏ lại biết?”, quả thực, cũng chẳng có ý nghĩa gì lắm. Thôi, nói gì thì nói, chiếc máy bay trút vội hai quả bom để chuồn, một quả rơi xuống biển, quả thứ hai cắm sâu xuống đồng cỏ lầy lội cạnh Bleekenwarf, nổ tung thành hố bom to tướng; mảnh bom tóe ra, trúng vào cổ và sống lưng con bò này. Con bò cái nhà Holmsen.

Chúng tôi ngồi trên chồng gỗ ván trong chuồng bò, thẫn thờ nhìn con thú bị thương không đứng lên được nữa, nhưng vết thương cũng chưa đủ nặng cho nó chết ngay. Một túi đựng khoai tây trải rộng, trên đó để sẵn một cái rìu, con dao và cái cưa - không phải loại cưa xương thông thường, mà cưa tay có bôi mỡ - bên cạnh đó là các loại nồi chậu, một cái thùng gỗ, một thùng đựng sữa méo mó và một cái tạp dề bằng da to trải sẵn dưới đất; đúng thế, mọi thứ đã sẵn sàng để hóa kiếp cho con bò. Chúng tôi không rời mắt khỏi con thú. Lúc này, nó đã phủ phục, bệt xuống hai chân sau, bầu vú vấy bẩn cùng các đầu vú căng xù xì nằm sõng soài trên mặt đất rắn; bầu vú phập phồng, co giật. Đuôi con bò, với núm lông rối tít ở cuối, quệt qua quệt lại trên mặt đất, chốc chốc lại khẽ quật lên tường. Giống như những lúc nó uống nước, con bò vươn đầu ra phía trước, khịt khịt mũi, thè lưỡi liếm từ mõm lên hốc mũi, phì phì phun bọt ra đằng mõm. Thỉnh thoảng nó lại đập đập chân trước, toan gượng dậy mà không nổi, lại đành buông mình xuống, gây ra tiếng sột soạt. Máu không ngừng rỉ từ vết thương ra ngoài, chảy thành vệt lung linh trên lớp lông lốm đốm trắng đen của nó và nhỏ giọt xuống nền nhà. Một mảnh bom đã làm gãy cẳng chân bên trái ở phía sau, toạc da, lòi cả xương.

Bị bà vợ ông Holmsen - một bà già kỳ quái, chân khoèo, đầu mang lưới đỡ tóc màu xám, một người đàn bà mà đôi lúc, chắc phải gây cho ông cảm giác ông lấy nhầm phải con chó dachshund[1], chứ không phải người, làm vợ ấy - vâng, bị bà ấy ráo riết thúc giục, ông Holmsen già đã hai lần toan ra tay hóa kiếp cho con bò; ông đã đưa cái rìu lên cao, bước đến trước con thú, trong tiếng thúc giục không ngớt của bà già nhà ông, và, như mọi người đều thấy, ông đã nhắm trên trán phủ lông xoăn xoăn của con thú một điểm nào đó để giáng rìu xuống, ông đã đưa cái rìu lên cao ở tư thế sẵn sàng rồi, thế mà - bất chấp lời thôi thúc của bà vợ mỗi lúc một hối hả, mỗi lúc một giận dữ - ông không giáng rìu xuống được; cả hai lần, ông đều nhún vai, quay trở lại chồng gỗ ván và ngồi xuống cùng với mọi người.

Mụ già tru lên, lên tiếng châm chọc, chế nhạo ông chồng, bà ta không ngớt dọa ông già Holmsen - lần này bà ta cũng dọa dẫm như thế - rằng bà ta sẽ đi ngay bây giờ đến Glüserup tìm gã Sven Pfrüm, cái gã làm nghề đao phủ tại gia, từ thuở nào đến giờ vẫn lang thang hành nghề từ chỗ này sang chỗ khác ấy, và nếu lão, không tự tay mổ nổi con bò, thì chính lão, lão Holmsen, lão sẽ phải trả tiền thuê gã mổ. Trong lúc bác họa sĩ trân trân nhìn con bò, mụ lại nhai nhải: Làm đi, ông ơi, gớm cái ông này, ra tay đi, kẻo nó chết mất bây giờ, nó mà chết thì nhà mình chỉ gặp hạn thôi. Nói rồi, để kéo ông chồng vào việc, mụ vớ ngay thùng sữa méo tiến về phía con bò, ra điều, rằng mụ sẽ tự tay hứng huyết nó đổ ra, rằng chính mụ cũng nhập cuộc hóa kiếp cho con thú đây.

Chẳng ăn thua; làm thế cũng không khiến ông Holmsen mạnh bạo hay tự tin hơn; ông nhờ bác họa sĩ châm thuốc hút, rồi phà khói mạnh sang một bên. Bà già bảo, ông chẳng bao lần mổ vịt, cắt cổ chim bồ cầu, cắt tiết gà đấy thôi. Bà ta nhấc cái rìu lên tay, ấn cán rìu vào tay ông, và nhắc ông nên nhớ, nếu ông ra tay thì sẽ đỡ được bao nhiêu tiền phải trả cho gã Sven Pfrüm. Chuyện đó thì ông biết thừa. Ông gật đầu, thở dài, rồi đứng dậy, nhưng chỉ nhìn con thú bị thương, ông có vẻ lại hiểu ngay đây là việc quá sức, nên lại buông cái rìu rơi xuống đất. Con khác, thì có lẽ tôi sẽ ra tay được, ông nói, nhưng con Thea này thì tôi chịu. Con Thea thì tôi chịu. Nó là con bò sữa tốt nhất nhì của tôi, tôi nói gì, nó cũng hiểu hết. - Nhưng bây giờ, bà già lồng lên, bây giờ nó có nghe gì được nữa đâu, nó sắp chết đến nơi rồi. Bây giờ ông chỉ còn cách gia ơn giải thoát cho nó khỏi đau đớn thôi, ông phải hóa kiếp ngay cho nó, ông hiểu chưa?

Đến lúc này thì Jutta quả thật muốn biết xem, liệu băng bó vết thương cho con bò có được không, biết đâu nó sẽ khỏi. Đáp lại, mụ Holmsen cáu tiết, nói không buồn che giấu cả nỗi khinh bỉ đang dâng lên trong lòng mụ: Có mà băng bó cho mày ấy! Như thế đấy, đôi lúc, chỉ một câu hỏi ngớ ngẩn thôi đã đủ làm người ta nổi đóa lên rồi.

Lúc con thú bắt đầu cào chân, thân gục về phía trước và duỗi thẳng cổ trên nền đất, bà già lại nhấc cái rìu lên, nhấc lên không phải để trao nó cho ông chồng mụ, mà dường như chỉ muốn nhắc ông ta, bây giờ đã đến lúc phải làm gì vậy. Với cây rìu trên tay, mụ tiến gần tới bên con thú, nó có vẻ chẳng nhìn thấy mụ, chỉ vật đầu bên này sang bên kia, và nhiều lần định liếm lên vết thương trên sống lưng - nhưng cố mãi không được - nó hổn hển thở phì xuống đất, khiến rơm rạ, lá khô bay tứ tung. Con thú bỗng ép mình vào tường, toan gượng dậy, song, sau một khoảnh khắc toan dốc hết sức tàn, nó lại gục xuống. Nó thở phì phò, hổn hển. Nó chẳng buồn liếm bọt phòi ở mõm ra nữa. Thân mình nó nãy căng thẳng, giờ nhũn hẳn ra. Đuôi nó không còn ngoe nguẩy dưới đất nữa. Bà già xòe cả bàn tay chỉ vào con thú. Cử chỉ đó của mụ, một cử chỉ rõ ràng chứa đựng bao nhiêu trách móc, là cử chỉ dành cho tất cả những ai có mặt, chứ không phải chỉ dành riêng cho ông già Holmsen - người đàn ông mảnh khảnh, tóc hoa râm xám xịt đang ngồi hút thuốc ở mép chồng gỗ ván, ngoảnh mặt phà khói đi nơi khác, và đầu óc rõ ràng đang nghĩ ngợi rất lung ấy.

Bác họa sĩ chợt lặng lẽ tụt khỏi chồng gỗ ván xuống đất, đẩy mũ ra sau gáy, gõ gõ tẩu thuốc lên gióng cửa, rồi không nói không rằng, không một chút lưỡng lự, bác bước đến bên bà già. Bác phẩy tay nhẹ về phía chúng tôi - Jutta với tôi - ra hiệu bảo chúng tôi đi ra, nhưng không đợi xem chúng tôi có nghe lời không, bác đã nắm, hay đúng hơn là gỡ cán rìu khỏi tay bà già, đẩy bà về tận chồng gỗ ván, rồi mới quay lại chỗ con thú đang nằm; nó chẳng buồn để ý đến bác, nó nằm vươn cổ, đau đớn cựa quậy trên mặt đất, nặng nhọc cố nâng đầu lên. Bác họa sĩ ướm ướm thử cái rìu trên tay. Bác hơi xoạc hai chân ra, ấn thử đế giày, rồi xoay xoay lấy thế đúng. Lúc đưa mắt nhìn xuống con thú, xuống cái đầu với hộp sọ to bè và rắn chắc, cùng cặp mắt đen hờ hững ngước lên nhìn bác, gương mặt bác họa sĩ trơ trơ bất động, không để lộ bất cứ tình cảm nào. Trên trán con thú, lông bết vào nhau, xoắn thành những vòng đen đen trắng trắng. Rớt dãi chảy ra thành dòng bên mép nó, đôi tai lông lá của nó hơi vểnh lên, hướng về phía người đàn ông đứng cạnh, nghe ngóng. Bác họa sĩ, có thể thấy rõ như thế, đã nhắm một chỗ nằm giữa hai con mắt nó để bổ rìu vào. Rồi, bác quay mặt nhìn qua vai ra sau, giơ rìu lên cao, giáng xuống, trong khi hai đứa chúng tôi ngồi chết sững như trời trồng nguyên một chỗ. Và, trong trí nhớ của tôi, tôi vẫn còn nhìn thấy bác ấy đứng ở tư thế như thế trong chuồng bò nhà bác, cái rìu giơ cao, đầu hơi ngửa ra sau, mắt nhìn xuống con thú, còn chính nó, vào giây khắc đó, vẫn chẳng thèm để tâm đến bác, người đàn ông đang phải rướn cao để nện cái rìu xuống đầu nó ấy - rướn đến mức gấu áo của cái áo choàng vốn rất dài của ông ta co lên đến tận đầu gối.

Cái rìu vừa giáng xuống đích, thì bác họa sĩ cũng rên lên một tiếng đầy đau xót. Lợi dụng đà văng của chiếc rìu ra sau, bác thu nó lại, vác lên vai, lùi lại một bước, trở lưỡi rìu lên trên, rồi giáng xuống lần nữa, và cùng với lưỡi rìu gieo xuống, bác mất đà, chồm người lên phía trước. Mũ bác rơi ra. Sau khi giáng nhát rìu thứ hai, bác hấp tấp lấy tay lau miệng, vừa lẩm bẩm gì đó, nhưng không ai nghe ra bác nói gì, rồi đưa mắt nhìn về phía chúng tôi, Jutta và tôi, và tôi có ngay cảm giác, bác không nhận ra chúng tôi, hay ít ra, bác không tỏ vẻ ngạc nhiên vì chúng tôi vẫn còn ngồi đó. Giữ cán rìu thẳng góc với mặt đất, bác kéo chiếc rìu trượt theo giữa hai chân. Một lát sau, dường như bác thấy cần giáng nhát thứ ba nữa, nhưng lần này nhanh hơn, nhẹ hơn, hơi lưỡng lự là khác; xong xuôi đâu đấy, bác quay người, trao rìu vào tay ông già Holmsen, rồi buông người ngồi xuống chồng gỗ ván, tự xoa bóp những ngón tay có vẻ như đã tê dại.

Song, đó không phải là tất cả những gì mà trí nhớ tôi ghi lại về buổi sáng hôm ấy trong chuồng bò: tôi còn nghe tiếng đầu tầy của chiếc rìu đập trúng vào đầu con bò thế nào, tôi còn thấy đầu nó vật xuống đất ra sao sau nhát rìu giáng xuống, tôi còn cảm thấy các đầu ngón tay của Jutta bám đau nhói vào cánh tay tôi. Lưỡi rìu giáng xuống đúng khoảng giữa hai mắt con bò, vang lên như tiếng bổ mạnh vào thân cây rỗng ruột. Lưỡi rìu xé toạc trán con thú. Trong giây lát, toàn thân nó như thể giãn phẳng ra, nhưng rồi đôi chân trước bắt đầu giãy giụa, như muốn tìm chỗ dựa, tìm chỗ chống chân để gượng dậy, cái cổ giật giật mạnh, sống lưng cứng lại, đôi chân sau giãy giãy, như thể nhát rìu đã nhắc nó phải cưỡng lại hay mau mau tháo chạy, nhát rìu giáng xuống dường như đã một lần nữa đánh thức các giác quan của con thú bị thương, nhưng sức mạnh, mà lúc này nó đang cần, nó đang muốn gom góp lại, không còn đủ nữa rồi, cùng lắm chỉ còn đủ cho nó giãy giụa hay co giật, và qua đó, cho thấy nó đang muốn gì mà thôi. Đầu nó nâng lên, hạ xuống, nặng nề đập đập xuống đất, và mỗi lần như thế, lại nghe như có tiếng xương nứt rạn. Mạng sườn nó run lên, sau nhát rìu thứ hai thì bắt đầu co giật liên hồi, giống như nó vẫn thường co giật mạnh liên hồi để xua côn trùng vẫn bâu vào châm đốt nó.

Bây giờ, tôi nghĩ bụng, đã đến lúc tôi để cho con thú đổ vật ra, và - ngoài các phản xạ không đáng kể - để yên cho nó nằm, hầu như hoàn toàn bất động, sóng sượt và mềm nhũn trước bức tường quét vôi được rồi. Và, bây giờ, lúc nó chết rồi, tôi lại có cảm giác con thú bỗng dưng còn mạnh mẽ hơn là đằng khác, tôi cũng có cảm giác như nó đang không ngừng phình ra hay phồng to lên thành con thú khổng lồ trước mắt tôi. Tôi cũng còn nhớ, sao tôi tức mụ già ấy thế, đến chờ cho con thú nằm yên hẳn cũng không chịu chờ, chưa gì đã vớ vội cái tạp dề bằng da to tướng chìa ra cho ông chồng; rồi một tay cầm con dao dúi vào tay chồng, khó chịu chỉ vào xác con thú nằm chình ình sát tường, một tay đã đung đưa sẵn cái xô đựng sữa. Tôi thấy tức mỗi mụ thôi - chứ không tức tối gì ông già Holmsen hay bác họa sĩ; nỗi tức tối ấy càng khiến tôi để ý đến mụ; lúc này mụ đã ngồi xổm xuống trước cổ con thú chết và đặt cái xô xuống đất, chìa hơi nghiêng về phía cuống họng nó, rồi - không thúc giục ông chồng quá đỗi nữa, mà chỉ trân trân nhìn vào cái xô - như thể huyết bò đã bắt đầu chảy ra vậy. Ông già Holmsen hiểu ý mụ ngay. Ông lấy ngón tay sờ lưỡi dao, xem nó sắc thế nào, khẽ chạm ngón tay vào mũi dao, xem nó nhọn ra sao, ông cũng sờ sờ cổ con thú, kẹp đầu nó vào hai ống chân, rồi chậm rãi cúi xuống, chậm rãi chứ cũng không gượng gạo nữa. Ông kề lưỡi dao vào cổ con thú, thọc nhẹ từng nấc vào sâu bên trong, rồi trước khi rút dao ra, ông ngước mắt nhìn vợ, và có vẻ như ông đã hướng tia máu phọt ra đúng vào cái xô mụ giữ trên tay.

Đúng lúc này không biết ai tóm chặt cổ tôi từ sau gáy, tôi muốn quay đầu lại lắm, nhưng các ngón tay như gọng kìm càng siết chặt lại, và tôi chỉ còn cảm giác bị ấn đầu dúi ra cửa, đồng thời, liếc sang, tôi thấy Jutta ngay bên cạnh cũng bị ấn đầu dúi ra cửa, và nó cũng đang lặp lại y sì các cử chỉ của tôi, như thể hai đứa bị buộc liền vào nhau vậy. Vâng, bác họa sĩ đẩy hai chúng tôi đi cạnh nhau ra sân, đóng cửa chuồng bò sau lưng chúng tôi lại, nhưng lại mở nó ra ngay, có lẽ vì bác nhận ra bác gái Ditte đang hớt hải chạy từ ngôi nhà chính về phía chúng tôi, và từ bên kia cái ao đã huơ tay ra hiệu, vâng, huơ tay ra hiệu, nhưng không phải cho hai đứa chúng tôi, mà cho bác họa sĩ.

Chúng mày đi vào đi nào, bác họa sĩ nói. Đi vào nhà ngay, đây không phải chỗ cho các cháu chơi. Nói rồi, bác lại đẩy hai chúng tôi ra xa chuồng bò, nơi cuộc mổ nóng, nhằm hóa kiếp cho con bò vẫn tiếp tục diễn ra. Bác đẩy chúng tôi đến chỗ các thân cây gỗ đen sì, chất đống lên nhau. Sao, chuyện gì thế bà? Bác sốt ruột hỏi, và, như thể muốn thanh mình cho sự sốt ruột của mình, bác nói tiếp: Bọn tôi đang dở tay. Bác gái thì thầm gì đó vào tai bác. Bác nhìn đôi tay mình, rồi ngước mắt lên, nhìn về phía Rugbüll, xong lại cúi xuống nhìn đôi tay và vạt áo khoác còn vương vết máu. Cái gì chúng nó cũng biết, bác nói, ở đây không có cái gì qua được mắt chúng nó, thế nhưng họ muốn đến thì cứ việc đến, có sao đâu. Ông Holmsen không chờ con thú chết đi được, ông ấy phải mổ nóng, phải hóa kiếp cho nó ngay chứ. Chờ được giấy phép thì nó ngoẻo mất từ lâu rồi còn gì.

Bác gái lại thì thầm, còn bác họa sĩ lại lớn tiếng đáp: Sao lại thế? Ông bà ấy cứ việc ở trong chuồng bò làm cho xong việc; có cái gì mà phải sợ, cứ việc chỉ cho người ta thấy con thú bị mảnh bom cắm đầy mình là được chứ gì. Ai nhìn mà chả thấy. Bao giờ xe họ đến, bà cứ bảo chúng tôi đang ở trong này. À, bà nó này, bà pha cho chúng tôi ấm trà nhá, bọn tôi ai cũng phải làm một hớp. Nói xong bác quay đi, bước về phía cửa chuồng bò, rồi, tay đã vươn ra phía cánh cửa, bác còn quay lại nhìn lần nữa về hướng Rugbüll, khiến cả chúng tôi cũng hướng nhìn cả về phía đó, thành ra tất cả mọi người dường như đồng thời phát hiện ra chiếc xe hơi đang từ từ vượt qua cánh đồng dày đặc sương mù bay là là mặt đất để tiến lại gần; thỉnh thoảng nó biến mất vào khối sương mù, nhưng rồi lại thò đầu ra ngay ở chỗ khác, chạy đều đều, không tăng, không giảm tốc độ, thẳng đến lối vào với hai hàng dương liễu hai bên thì dừng lại; chiếc xe dừng lại ở đó, dừng một lúc khá lâu, nhưng không ai xuống, mấy bóng người ngồi nguyên trong xe, không cựa quậy, tiếng động cơ nổ đều đều.

Bác họa sĩ buông tay xuống, bước mấy bước ngắn về phía chiếc xe đang đỗ - không, có lẽ không phải vậy, mà có lẽ, chỉ vì chiếc xe dừng lại nhưng không ai bước xuống, nên bác bước tới cánh cổng gỗ có bản lề xoay, từ từ kéo nó ra, và khoát tay, với ý mời chào; chiếc xe chạy vào, lăn bánh về phía chúng tôi. Chờ cho chiếc xe chạy qua, bác họa sĩ lại buông cánh cổng khỏi tay. Chiếc xe chạy vào sân, vòng quanh cái ao, và lăn tiếp, không về phía chúng tôi đang đứng nữa, mà về phía gian nhà chính, trước khi dừng hẳn lại ở ngay cửa ra vào.

Hai cái áo choàng da xuống xe trước tiên, mỗi cái vòng một bên hông xe, không vội vàng, không giật cục - trông như cảnh trong phim quay chậm - đi ngược chiều nhau bao quanh chiếc xe sơn màu lục sẫm và gặp nhau tại bộ làm lạnh ở đầu xe, rồi - không cần ra hiệu cho nhau - cả hai cùng đứng lại ở đó, đưa mắt lườm lườm nhìn về phía chúng tôi. Đó là những chiếc áo choàng bằng da, dài, phẳng phiu, túi gá bên ngoài, chỉ thoáng trông cũng biết là áo rất nặng, và tôi nghĩ, các điệu bộ khệnh khạng, ít nhiều ra oai kia chắc chắn cần phải có thêm các đôi ủng miền núi và mũ vải rộng vành che gần khuất mặt mới đủ bộ. Lúc chúng đã đứng giạng chân trước bộ làm lạnh ở mũi xe rồi, thì viên cảnh sát Rugbüll mới từ trên xe bước xuống, người thẳng đơ, miệng lầu bầu rủa cái áo mưa đang không biết vướng vào chỗ nào trong xe; vâng, bố tôi loay hoay mãi một lúc với cái áo mưa bị vướng, bị móc, bị kẹt chỗ nào đó trong xe, nhưng rồi ông cũng dứt mạnh nó ra được và bước đến đứng trước mũi xe cùng hai chiếc áo choàng da kia. Cả ba đều không ai buồn cất công đi về phía chúng tôi. Chỉ đứng một chỗ để chờ. Cả ba. Đứng nguyên một chỗ. Chờ. Ngay cả khi bác họa sĩ vẫy vẫy tay, chỉ vào cửa chuồng bò, họ cũng không nhúc nhích rời khỏi chỗ.

Đến nước này, thì bác họa sĩ đành tiến về phía họ, chỉ ngón tay cái ngược ra sau lưng, rồi nói: Nó ở trong kia, mời các ông sang đấy. Song mấy chiếc áo choàng da đều có vẻ khồng màng đến lời bác mời mọc, họ vẫn đứng nguyên một chỗ, khiến bác họa sĩ phải sáp tới gần hơn nữa. Tôi nghe bác nhắc lại: Đằng kia kìa, nó ở đằng kia kìa. Đáp lại, bố tôi chỉ lắc đầu, rồi phẩy tay. Ông tỏ ý không quan tâm đến chuyện gì đang diễn ra trong chuồng bò, hay ít ra chuyện đó có vẻ không quan trọng so với chuyện vì sao ông đến đây, và ông phẩy phẩy tay, như muốn nói: Cứ để đấy đã, đang có việc khác đây.

Viên cảnh sát Rugbüll lùi lại nửa bước ra sau lưng hai cái áo choàng da kia, và đứng từ đó đưa mắt dò xét bác họa sĩ, nhìn rất lâu, vâng, rất lâu, gần như không chớp mắt. Jutta nhân cơ hội lẻn vào phía trong chuồng bò, đóng cửa lại; Tôi đứng ngang một hàng với bác Max Ludwig Nansen lúc này đang hơi lưỡng lự, so vai và lẩm bẩm tự hỏi thành lời: Trò gì thế này nhỉ? Đoạn, bác bước về phía nhóm người đang đứng bất động trước mặt, hỏi to: Các ông đến tôi có việc gì đấy, ông Jens?

Ông sửa soạn đi với chúng tôi, một trong hai áo choàng da bỗng cất tiếng. Bác họa sĩ hỏi lại: Để làm gì? Có chuyện gì thế này, các ông?

Chúng tôi để cho ông nửa giờ để sửa soạn, đến lượt chiếc áo choàng da thứ hai nói. Bác họa sĩ nhún vai, nhìn thẳng vào họ, rồi hỏi: Các ông đến bắt tôi hả? Không ai trong bọn họ thấy cần đáp lại bác. Ông được nửa giờ để sửa soạn, bố tôi - viên cảnh sát chốt Rugbüll - nói, và tôi cũng không lấy làm ngạc nhiên lắm, khi thấy ông lôi đồng hồ quả quýt của ông ra, sụp mắt nhìn xuống mặt đồng hồ: Phải, nửa giờ. Ông gẩy ngón tay một cái, một cử chỉ nhằm giải thích rõ thêm lời mình nói, đoạn ông gật đầu, nhét đồng hồ trở lại vào túi.

Dạo ấy, đúng là họ chỉ cần rất ít lời, cũng chẳng cần hỏi han dài dòng, là đủ hiểu được nhau, và họ nhận ra ngay, người ta cần gì ở mình; tôi thật tình không nhớ sau khi mấy người kia cho bác nửa giờ để gói ghém đồ đạc và chia tay người nhà, thì bác Max Ludwig Nansen có gặng hỏi thêm gì nữa không; không, bác không hỏi han gì thêm để câu giờ hay để biết cho chắc vì sao họ đến đây. Bác chỉ hỏi độc một câu: Mấy trò này còn được bao lâu nữa, các ông? Và, khi thấy một chiếc áo choàng da nhún vai, còn bố tôi lẳng lặng gục mặt nhìn xuống đất, thì bác họa sĩ chậm rãi tránh họ sang một bên để đi vào nhà, và lúc đi ngang chỗ mấy vị kia, bác nói: Tôi xong ngay bây giờ, tôi chẳng cần đến nửa giờ đâu.

Chẳng ai trong số họ buồn đi vào chuồng bò. Người này đặt chân lên thanh ngang chống sốc ở mũi xe, người kia gác chân lên bậc cửa xe, họ đứng hút thuốc, người hơi gập về phía trước, trong tư thế có vẻ thoải mái, hay ít ra cũng không lên gân lên cốt; họ lặng lẽ chờ, vẻ hết sức tự tin, trong đầu có lẽ chẳng nghĩ ngợi gì, cũng chẳng bận tâm đến chuyện gì đang diễn ra trong chuồng bò; họ chờ, hết sức bình thản, không lo lắng, bởi hẳn họ cũng thấy, một người như ông Max Ludwig Nansen chắc chắn sẽ biết dùng khoảng thời gian dành cho mình để sửa soạn đồ đạc thật, chứ không lợi dụng nó làm việc gì khác. Đến liếc mắt về phía chuồng bò họ cũng chẳng buồn liếc. Họ đứng chờ, trong lúc bác họa sĩ bước vào nhà, và hình như bác đã tính trước rồi, nên bác dùng một ít thời gian họ dành cho mình để đứng thẳng người ngoài hành lang, dựa lưng vào cửa và dỏng tai nghe ngóng. Từ bên ngoài, tôi có thể tưởng tượng ra như thế lắm chứ.

Nếu bây giờ tôi chỉ chọn các chi tiết chính, lược bỏ hết râu ria, nếu tôi nhớ lại mọi chuyện lúc đó, thì tôi chỉ có thể hình dung tiếp câu chuyện thế này: trong lúc bố tôi, viên cảnh sát chốt Rugbüll, cùng hai chiếc áo choàng da bình thản đứng phía ngoài sân chờ bác, thì bác họa sĩ bước vào nhà. Bác dừng lại sau cánh cửa, dựa lưng vào đó, đứng yên một hồi trong bóng tối ngoài hành lang, đứng một hồi khá lâu, chí ít cũng đến lúc bác Ditte mở cửa phòng khách và trông thấy bác. Lúc đó bác mới tiến về phía bác gái. Nhưng bác không muốn nói chuyện ngoài hành lang, bác nắm tay bác Ditte kéo về phía mình, rồi dẫn bác quay trở lại vào phòng khách. Bác gái chắc sẽ cảm thấy ngay, qua thái độ bác trai, có chuyện gì đó đã xảy ra, hoặc sắp xảy ra, nên cứ lẳng lặng để bác trai dẫn đi qua một dãy dài những sáu mươi hai tủ đồng hồ quả lắc oai nghiêm, cái nào cái nấy chỉ cùng một khắc; Tiến sĩ Busbeck nhổm dậy từ ghế sofa, tiến về phía hai người.

Tôi phải.., bác họa sĩ nói, rồi ngừng một lát mới nói tiếp: Tôi phải theo họ. Họ đến bắt tôi đi với họ. - Chứ không phải vì chuyện mổ bò à? - ông Busbeck hỏi, còn bác họa sĩ chỉ nói khẽ: Họ cho tôi nửa giờ sửa soạn.

Mọi sự đều do một tay Jens hết, bác Ditte nói, mọi chuyện đều do hắn hết, chuyện gì hắn chả báo về Husum. - Bọn nó sẽ hỏi cung anh đấy, ông Busbeck gật gù, trò này tôi đã nếm rồi mà. - Cũng chưa biết thế nào mà đoán, bác họa sĩ đáp.

Nhưng bao nhiêu lâu chứ, bác Ditte hỏi, họ định giữ ông bao nhiêu lâu? - Thường thì một ngày, một đêm đấy, ông Busbeck lại nói. Thì tôi đã đi về đâu mà biết lâu hay mau thế nào, bác họa sĩ đáp; nói xong bác quay ra nhồi tẩu thuốc. Không nhìn bác gái, ông nói tiếp: Tôi lấy cái vali con màu nâu đi, hai cái tẩu, dao cạo râu, giấy viết thư. Bà biết rồi đấy. - Rồi anh khắc thấy, ông Busbeck lại nói, chúng nó sẽ thẩm vấn, sẽ cảnh cáo anh là cùng. Bọn nó phải làm vậy, vì cảnh sát Rugbüll tố cáo anh thôi. Chúng nó không dám làm gì anh hơn đâu. - Mình cứ tưởng thế, bác họa sĩ nói, mình cứ nghĩ chúng nó không dám chuyện này, chuyện nọ. Nhưng cứ nhìn quanh mà xem, bao nhiêu chuyện ta cứ tưởng không thể nào xảy ra được, thế mà chúng nó vẫn làm, vẫn dám làm đấy thôi. Sức mạnh của chúng nó chính là ở chỗ đó, ở chỗ chúng nó không kiêng nể bất cứ thứ gì hết mà lại.

Bác xin lỗi ông Busbeck để cáo lui; bác hất đầu về dãy đồng hồ quả lắc, nói: Tôi được có nửa giờ! Tôi phải nhanh tay mới được. Nói xong, bác đi vào phòng ngủ, ngồi ghé xuống chiếc giường hẹp, cởi giày. Rồi lần lượt cởi áo choàng, áo vét, áo sơ mi, mở ngăn kéo tủ quần áo, thọc sâu tay vào bên trong, lôi tất chân, dây giày, khăn tay ra, và ném tất lên mặt giường, cuối cùng, quẳng thêm chiếc áo lót lên trên. Bác nhấc cái bình gốm có gắn vòi khỏi chậu nước, rót nước vào bình gốm, rồi cúi gập mình xuống chậu, giội nước, thong thả chứ không vội vàng, lần lượt rửa mặt, rửa cổ, lấy khăn thấm nước xát lên ngực. Hai tay bác kỳ cọ bằng đá bọt. Mái tóc thưa, bác chải đi chải lại hai lần.

Sau khi trút nước bẩn vào một cái xô, bác khua tay rửa chậu cho sạch, rồi đặt cái bình gốm vào trong chậu. Bác dùng khăn ướt lau sạch cái bàn dùng để kê chậu nước, rồi phơi khăn lên vành chậu. Bây giờ - có thể tưởng tượng ra như thế - bác chợt thấy dây đeo quần dính bẩn và hơi bị lỏng, cho nên phải thay ngay. Bác liền lục lọi trong tủ quần áo tìm dây đeo quần mới còn nằm nguyên trong túi, bác mở túi, lôi dây quần ra ướm thử lên vai xem nó co giãn thế nào và tỏ ra bằng lòng lắm.

Sau rồi sao? Vào những lúc thế này của bộ phim, có lẽ chưa nên chuyển cảnh ngay; nhưng chi tiết cần nhắc lại là chi tiết bác xỏ dây giày ra sao: đặt chiếc giày lên đùi, bác xỏ dây rất tỉ mỉ, lần lượt xong lỗ này sang lỗ khác. Bác xỏ giày vào chân, đi thử vài bước, lấy tay bóp bóp hai bên mắt cá chân. Bác tỏ ra mãn nguyện. Đoạn bác nâng chiếc áo sơ mi lên, đưa hai tay lên cao, mặc lồng qua đầu, nên trông bác như chìm nghỉm trong áo. Bác mặc áo vét, khoác áo choàng xanh ra ngoài, chụp mũ dạ lên đầu, rồi đi đi lại lại dọn dẹp các thứ bác vừa trút ra. Sau rốt, bác còn vuốt lại cái chăn trên mặt giường cho phẳng. Bác không bước đến bên cửa sổ. Bác không nhìn ra ngoài. Trước khi ra khỏi phòng ngủ, bác nghiêng cái bình sứ màu xanh, đổ chiếc đồng hồ quả quýt nằm trong đó ra, lên dây cót, rồi đút vào túi áo vét. Giờ giấc, bác khắc chỉnh sau.

Lúc quay trở lại phòng khách, bác nhận ra bác Ditte cùng Tiến sĩ Busbeck đang chờ bác. Bác Ditte nhấc chiếc vali con màu nâu lên tay, tiến về phía bác trai. Bác nói: Khoan đã, tôi phải ký xong ít giấy tờ đã, rồi bác bước đến bên chiếc bàn kê trong góc; bóc một chiếc phong bì dán kín ra, bác lôi ra hai tờ giấy, ký vào đó, rồi nhét trở lại vào một phong bì khác và cho cả vào ngăn kéo. Tôi đoán bác cố tình kéo dài khoảng thời gian còn lại dành cho bác sửa soạn như thế là để khỏi phải nghe những lời an ủi của ông Tiến sĩ Busbeck. Bác họa sĩ chỉnh lại đồng hồ quả quýt của bác theo giờ chỉ trên chiếc đồng hồ quả lắc lắp trong tủ cao ngang đầu người, phẩy tay với ý, tôi xong bây giờ đây, rồi tiến về phía tủ đồng hồ màu lông chuột, và mở cửa lôi hộp đựng xì gà trong đó ra, bước đến bên bàn, vốc một lúc mấy điếu xì gà, dùng một lưỡi dao cạo đã cùn cắt xì gà thành nhiều mẩu vừa nhét tẩu. Bác gom các mẩu xì gà vào cái hộp thiếc đã bong mất nhãn, đoạn bác nhét hộp xì gà trở lại vào tủ đồng hồ, còn hộp thiếc thì nhét vào túi áo khoác.

Còn chai rượu dẹt nhét túi đâu? Bác Ditte bảo, bác đã đổ đầy rượu trắng vào chai rượu dẹt bọc bao vải lanh và nhét túi quần sau rồi. Nghe vậy, bác bước đến bên cái bàn kê cạnh cửa sổ, nơi bác Ditte cùng ông Busbeck đang đứng chờ. Bác đặt tay lên chiếc vali, nhưng không mở ra, chỉ hỏi: Đủ cả chứ? Còn bác Ditte lại nói: Tất cả chỉ tại tay Jens báo lên trên thôi. Họ chẳng có gì để buộc tội ông đâu. - Đúng thế, bác họa sĩ đáp, rồi im, và mỉm cười với vẻ cam phận, lúc nghe các đồng hồ tủ ương ngạnh, mỗi cái một kiểu, đồng thanh đánh chuông báo hiệu mười lăm phút nữa đã trôi qua. Tiếng gõ cạch cạch, tiếng cồng rung rung, tiếng đập lên đập xuống, tiếng bánh xe quay rột roạt, mắt xích đồng thau kêu lạo xạo, các quả nặng tụt xuống nghe kèn kẹt; vâng, ở Bleekenwarf này, hễ đến giờ đồng hồ đánh chuông thì ai nấy chỉ còn biết chờ… Lúc đám đồng hồ đã im tiếng, bác họa sĩ chợt nói: Hai người cứ ngồi nguyên ở đây, tôi quay lại ngay. Nói rồi, bác để chiếc vali nằm trên bậu cửa sổ, rồi bỏ đi vào xưởng vẽ.

Đứng ngoài vườn, tôi nhìn thấy bác bước vào xưởng vẽ, đúng ra là tôi nhìn thấy bóng bác bước vào đó, và mành mành chợt buông xuống che kín khung cửa sổ. Hai áo choàng da vẫn đứng hút thuốc bên chiếc xe hơi. Bố tôi loay hoay tìm cái gì đó ông lại vừa đánh rơi, có lẽ cái khuy hay phù hiệu lúc nãy tôi đã tìm được giúp ông. Không ai nhìn thấy tôi lỉnh vào xưởng vẽ - hay có ai đấy đã nhìn thấy cánh cửa khép lại từ bên trong nhỉ? Thôi, có ai thấy hay không cũng mặc kệ, tôi chỉ biết tôi đã lẻn vào xưởng vẽ, thu mình nấp ra sau bao nhiêu là bình, chậu với lọ mà mùa hè vẫn dùng để cắm hoa, còn bây giờ nằm thu hết vào một góc; bình nào, lọ nào cũng bốc mùi nước thum thủm. Tôi ngước nhìn lên mấy bức tranh và giật mình: các nhà tiên tri cùng bọn chuyên nghề đổi tiền, lẫn tụi ma xó, bọn nhà buôn trí trá cùng đám dân đang còng lưng làm ruộng đều hiện lên trong một thứ ánh sáng màu lục, lung linh, âm ỉ, như thể có đốm lửa xanh lục bốc lên ở đâu đó và hắt bóng lên các bức tranh, và tôi vẫn còn nhớ, thoạt tiên tôi đã định kêu lên, định báo động, thế nhưng, lúc tôi tiến đến gần các bức tranh thì ánh lửa lung linh tắt ngấm và thứ ánh sáng màu lục nọ cũng bỗng nhiên biến mất.

Bác họa sĩ đi đi lại lại, kéo một cái thùng gỗ lê trên mặt đất, mở nắp ra rồi lại đóng vào. Bác mở vòi cho nước chảy, bác ném một vỏ đồ hộp lên mặt bàn vẫn dùng làm nơi nặn đồ gốm. Lần theo các ngóc ngách, các hốc tường, và nấp ra sau mấy cái ghế xếp bác dùng làm nơi tạm ngả lưng, tôi mò được đến sát chỗ bác. Tôi kéo tấm màn treo hờ sang một bên thì thấy bác đang đứng ngay trước mặt tôi. Bác khẽ khàng mở một bên cánh cửa tủ, dỏng tai nghe ngóng, mở nốt cánh cửa tủ bên kia, lại dỏng tai nghe ngóng, rồi bác cúi xuống, và bên trong tủ - tôi không quên tôi đã nhìn thấy những gì bên trong tủ lúc đó - bên trong mở ra một bức tranh ngồn ngộn màu nâu, bao hết cả chân trời, một màu nâu với các vệt màu đen và viền xám lan tới, loang ra, trùm lên vùng đất đang chìm dần vào đêm tối. Đó là bức Kẻ tạo mây. Bác họa sĩ nghiêng đầu ngắm bức tranh, lùi lại sau, đứng sát ngay trước mặt tôi, khiến tôi chỉ cần đưa tay ra là chạm người bác. Bác tỏ ra không bằng lòng với bức tranh trước mặt mình, có vẻ thất vọng là khác. Bác lắc lắc đầu, trầm ngâm bước tới, giơ tay lên, và ấn lòng bàn tay vào chỗ màu nâu xuất hiện: Đây, bác lẩm bẩm, chỗ này là nơi khởi đầu này. Rồi bác lại buông tay, nhún vai, như thể bị lạnh. Đừng tán nhăng tán cuội nữa, Balthasar ạ, bác nói. Tự ta, ta cũng thấy ở đây còn thiếu cái linh cảm báo trước cơn dông, cho nên màu sắc ở đây phải cho thấy rõ hơn về cuộc chạy trốn, cho thấy sự bồn chồn, sự thấp thỏm, của một ai đó trong cơn sợ hãi.

Cửa vào xưởng vẽ mở ra, nhưng bác họa sĩ không nghe thấy. Tôi cảm thấy gió lùa vào chân, và tôi còn nhớ, tôi đã chờ nghe tiếng cửa đóng lại, nhưng mãi chẳng nghe thấy gì, nên tôi bò lồm cồm chui khỏi chỗ nấp, đặt ngón tay trỏ lên miệng, rồi rón rén đến đập khe khẽ vào lưng bác họa sĩ. Bác giật mình, co người lại, miệng há ra. Bác định nói gì đó, nhưng bác cũng hiểu ngay ý tôi định nói gì khi tôi chỉ tay ra cửa; bác có vẻ đã đề phòng từ trước, nên cũng hiểu rất nhanh, rằng tôi muốn báo động cho bác, bác tháo nhanh bức tranh khỏi vách tủ, cuộn nó lại, đẩy nó xuống gầm, nhưng lại lôi ra ngay. Bác nhìn quanh. Có đến hàng trăm chỗ giấu, nhưng chẳng có chỗ nào hợp cho bức Kẻ tạo mây; nào góc, nào hộc, nào khe tủ, nào bình với lọ, nhưng lúc đó bác không thấy chỗ nào hợp cả. Bởi bác đã phát hiện ra tôi, bác ép tôi vào cạnh tủ, cúi người nhìn tôi, nhìn sát sạt và chăm chú chưa từng thấy; tôi còn ngửi thấy cả mùi xà phòng lẫn mùi thuốc lá trong hơi thở của bác, tôi cũng cảm thấy cả ánh mắt lạnh lùng toát ra từ đôi mắt xám của bác. Witt-Witt, bác bỗng thì thào, dừng lại để dỏng tai nghe về phía cửa, rồi lại thì thào tiếp: Bác nhờ cháu được không? Bác cháu mình là bạn, đúng không nào? Cháu giúp được bác chứ? - Vâng, tôi gật gật đầu đáp. Vâng, vâng ạ.

Tôi đoán được ngay bác muốn gì, nên tôi kéo cái áo len vá chằng vá đụp màu xanh lục của mình lên cao tận nách, hơi gập người xuống; bác họa sĩ liền nhanh tay quấn bức tranh vào người tôi, rồi kéo áo len xuống trùm lên, nhét vào trong quần. Cái áo len đâm ra hơi căng quá. Tôi kéo chỗ này, lôi chỗ kia để nói lỏng nó ra. Tôi bước thử vài bước. Cháu đem bức tranh ra ngoài cho an toàn, bác thì thầm, về sau đem cho bác Ditte cất đi. Sau này bác còn cần đến nó. Bác chìa tay ra bắt tay tôi. Tôi giật mình, bởi bác đứa tay ra bắt rất nghiêm trang, chứ không nháy nháy mắt như mọi lần. Bác không vuốt tóc, không xoa đầu, không bóp vai, cũng không nắm lấy cổ tôi như mọi khi. Bác muốn thế nào, tôi nói, cháu khắc làm thế. Bác gật đầu, dỏng tai nghe ngóng, rồi thì thầm: Được, Witt-Witt, bác sẽ không quên chuyện này đâu.

Bác đóng cửa tủ, ra hiệu bảo tôi biến đi, đúng hơn là bác nâng tấm chăn treo hờ làm màn lên, chờ cho tôi chui qua, rồi mới lên tiếng gọi: Anh Teo đấy à? Phải anh Teo đấy không? Không ai đáp, chỉ có tiếng bước chân nặng nề tiến lại mỗi lúc một gần, bước chân tôi nhận ra ngay là của ai. Anh Teo, tôi ra bây giờ đây, bác họa sĩ nói to, tôi xong rồi đây. Đoạn, bác phẩy tay bảo tôi quỳ mọp xuống bên giường, rồi bác hớp một hớp từ chai rượu dẹt giắt ở túi quần sau. Phía sau tấm màn bằng chăn treo lên, một bóng người xuất hiện; tôi cố thu người thật nhỏ, tờ giấy quấn quanh người tôi hơi sột soạt, nhưng lúc tôi ngẩng đầu lên, thì bóng người cũng lướt qua rồi. Tiếng chân bước dừng lại, có ai dùng mũi giày đá thử vào mấy cái bình lẫn mấy cái hộp rỗng. Có tiếng sột soạt trên mặt bàn. Lúc này, mặc dù bác họa sĩ chắc chắn phải biết người vừa bước vào xưởng vẽ không phải là Tiến sĩ Busbeck, bác vẫn gọi: Anh Teo, anh lại đây cái đã nào. Và, tôi lại thấy bác mở cửa tủ; mở ra, rồi đóng lại ngay, như thể muốn nhử cho bước chân ai đó bước đến gần hơn vậy.

Nghe tiếng chân, tôi đã nhận ra bố tôi từ lâu, cả bác họa sĩ chắc cũng nhận ra ông rồi, bởi bác không tỏ ra ngạc nhiên chút nào khi nhìn thấy bố tôi, bác chỉ bước một bước sang một bên, trong tư thế sẵn sàng đi ngay. Khuôn mặt bố tôi - khuôn mặt khô, nhọn, căng thẳng - ngẩng lên, trong khi trong đầu ông đang tính toán, cân nhắc chuyện gì đó. Trên mặt ông thoáng vẻ bề trên, thậm chí đắc thắng. Ông đút đồng hồ quả quýt vào túi. Ông bảo bác họa sĩ, thời gian dành cho bác chưa hết hẳn, vẫn còn đôi ba phút, tùy bác dùng làm gì cứ làm, vân vân. Cứ trông dáng bác họa sĩ đứng lúc đó, thẳng cao người, chân hơi doạng, hai tay chắp sau lưng, thì có thể đoán bác đã dứt khoát không để mình bị khiêu khích nữa. Lúc bố tôi hỏi, liệu ông có được nhấc mấy tờ vẽ nháp đã ố vàng trên giá vẽ xuống không, bác cũng không đáp. Bác lặng thinh nhìn bố tôi bước lên chiếc ghế đẩu để ngó lên nóc tủ, bác không hé răng, cũng chẳng làm gì, khi bố tôi mở cửa tủ, thò hẳn nửa người vào trong, rồi sau đó, ông cúi người nhặt một tập giấy vẽ cỡ nhỏ còn trắng nguyên lên, lần lượt soi từng tờ ra trước ánh sáng, và xoay xoay, lật lật trước khi cẩn thận đặt chúng lên mặt bàn.

Ông có vẻ định làm gì đó với tập giấy trắng; ông xếp chúng thành hai hàng trên mặt bàn, ông lại chui người vào trong tủ, lục lọi, xem xét, soi mói, nhưng rồi, ông cũng thôi không lục lọi nữa, quay trở lại bàn. Ông thu gom mấy tờ giấy trắng lại - vẻ hài lòng lắm - xốc xốc thành tập, và, vừa làm, ông vừa không rời mắt nhìn bác họa sĩ, nhìn theo một kiểu, như thể ông đang mong bác họa sĩ sẽ mỉm cười, bởi vì chính ông, ông cũng đang sẵn sàng mỉm cười đáp lại vậy. Nhưng bác họa sĩ không cười. Bố tôi xin bác cho ông được mang tập giấy trắng theo. Bác họa sĩ lặng thinh. Viên cảnh sát nói: Cho đến giờ ông vẫn gặp may, ông Max ạ; mọi chuyện xảy ra như thế đều do ông muốn thế. Nhưng tôi không nghĩ, bao giờ ông cũng sẽ lọt lưới do gặp may đâu; sẽ có lúc ông vướng, mà ông đã vướng thì sẽ chẳng có gì cứu được ông nữa cả, dù tranh ông vẽ có vô hình hay không cũng vậy thôi. Rồi tôi khắc moi ra hết cho ông xem. Còn bao nhiêu thứ khác muốn ẩn mình, mà chúng tôi vẫn tìm ra được nữa là.

Bố tôi vỗ vỗ lên tập giấy trắng khổ nhỏ, rồi ông bước về phía bác họa sĩ, trong khi bác này nãy giờ vẫn thẳng người, đứng nguyên một chỗ và chăm chú nhìn viên cảnh sát với ánh mắt khinh khi - không hằn học, không lo lắng, không bồn chồn - chỉ khinh khi. Tôi có thể hiểu được tại sao dạo đó bố tôi cố tìm mọi cách phá vỡ sự im lặng, tại sao ông muốn bác họa sĩ phải trả lời ông, nhưng ông Max Ludwig Nansen vẫn mặc kệ, không ngạc nhiên, không sợ hãi, cũng không giận dữ, khiến ông bố tôi chẳng biết nói gì hơn, ngoài lặp đi lặp lại với bác họa sĩ, rằng những gì lâu nay xảy ra với bác, và sắp tới sẽ còn xảy ra với bác nữa, đều là do bác tự gây ra cả. Ông muốn nó như thế, bố tôi nói, chính ông chứ chẳng ai khác. Phải, các người tự cho các người đặc biệt lắm, các người tự cho mình hơn người, các người tưởng luật lệ làm ra cho người khác theo, chứ các người không cần theo. Nhưng, ông bố tôi bỗng tỏ ra bối rối, khi bác họa sĩ đột nhiên cất tiếng nói - tự nói với mình thì đúng hơn là nói với bố tôi: Thôi, hết giờ rồi, phải đi thôi! Nói xong, bác cứ thế đi trước ra cửa, rồi một mình bước tiếp ra sân, chẳng thèm đợi viên cảnh sát; còn ông này lúc đó chắc phải khá chưng hửng, bởi vì ông đã nắm phần chắc, rằng ông, chứ không phải ông kia, mới là người sẽ quyết định lúc nào lên đường. Tức tối, bố tôi đành lẽo đẽo đi theo bác họa sĩ.

Hai áo choàng bằng da vẫn đứng hút thuốc trước mũi xe; bác Ditte và Tiến sĩ Busbeck cũng đang đứng ngay trước cửa nhà, mỗi người một bên chiếc vali con màu nâu đặt ở giữa; cả bốn người không nói gì, mỗi người mỗi cách, đều đang chờ hai ông kia. Tôi thật muốn chạy đuổi theo bác họa sĩ để được đi ngang một hàng với bác, tiến về phía nhóm mấy người kia, nhưng sợ bố sẽ phát hiện ra bức tranh dưới áo len tôi, nên tôi đành lẩn sang chuồng bò, và từ đó, đứng nhìn theo hai ông theo nhau bước đến bên chiếc xe hơi.

Vâng, phải công nhận là tôi đã rất ngạc nhiên thấy bác họa sĩ không tìm cách chạy trốn, ít ra thì cũng lúc đầu, lúc bác còn thừa đủ thời gian để làm một mạch đến bãi than bùn, có khi ra tận bán đảo; chỉ cần nhảy qua cửa sổ là được, rồi lẻn qua khu vườn mà không ai thấy; nhưng bác không muốn, không có ý định đó, trong đầu thậm chí cũng không lúc nào có ý nghĩ như thế thì phải. Như thể bác cố giữ đúng thời hạn dành cho mình, bác không chút chần chừ nhấc chiếc vali nâu lên, chìa tay về phía bác Ditte. Bác cũng bắt tay Tiến sĩ Busbeck. Rồi bác tiến tới chiếc xe, hướng về hai cái áo choàng bằng da và nói với giọng hơi gắt gỏng - vâng, đúng thế, tôi phải nói là hơi gắt gỏng: Tôi đây, lên đường thôi, chứ còn chờ gì nữa? Một trong hai áo choàng da mở cửa xe, toan đỡ chiếc vali trên tay bác, không, hắn ta đã giữ chiếc vali trên tay rồi, và đang định đẩy vào trong xe theo bác họa sĩ lúc này vừa khom người ngồi vào chỗ; đúng lúc đó thì Tiến sĩ Busbeck, nãy giờ vẫn chỉ đứng lẳng lặng nhìn, bỗng đưa một tay ra phía trước, rồi nói to: Khoan đã, xin các ông chờ cho một lát. Ông bước mấy bước về phía xe, hạ cánh tay gầy gò xuống, và nói với giọng run run: Xin các ông chờ cho một lát.

Chiếc áo choàng da đứng thẳng người; ông già bé nhỏ kia rõ ràng làm vướng chân gã, nhưng gã có vẻ không bận tâm xem ông ta muốn gì, gã đưa tay vẫy viên cảnh sát Rugbüll đến gần; bố tôi sốt sắng bước đến ngay. Bố tôi hỏi: Có chuyện gì thế? Rồi kéo ông Busbeck ra xa chiếc xe. Ông muốn gì thế, bố tôi hỏi lại. - Xin các ông nghe tôi, ông Busbeck nói, nhưng không hướng về phía bố tôi, mà về phía chiếc áo choàng da đang dửng dưng đứng đợi: Tại tôi cả, lỗi tại tôi dạo đó không che cửa sổ xưởng vẽ, tại một mình tôi thôi. Ông Nansen không có lỗi gì trong việc này đâu, các ông ạ.

Bố tôi giữ chặt tay áo người đàn ông bé nhỏ, ném vào mặt ông này một cái nhìn đầy trách móc, nhưng ông không dám nói gì, bởi vì lúc này, quyền nói năng, quyền phát ngôn những gì, rõ ràng, ông đã nhường hết cho hai chiếc áo choàng da mất rồi. Các ông cứ bắt tôi đây này - Tiến sĩ Busbeck nói - các ông bắt tôi đây này, còn ông Nansen thì xin các ông thả ra. Lỗi là lỗi tại tôi cả mà. Ông bước về phía chiếc xe, nhưng chỉ một bước thôi, bởi vì bố tôi đã lôi phắt ông trở lại. Hai áo choàng da ra hiệu cho nhau, một chiếc ngồi xuống trước tay lái, nổ máy, còn chiếc áo thứ hai hất hàm, chỉ vào Tiến sĩ Busbeck và hỏi viên cảnh sát: Ai đây thế này? Ông ta có quyền gì ở đây à? Bố tôi phẩy tay đáp: Tiến sĩ Busbeck ấy mà. Ông ấy cùng ở nhà đây. Chỉ bạn bè thôi.

Tôi xin các ông, Tiến sĩ Busbeck lại nói to, xin các ông hiểu cho tôi, ông Nansen, ông ấy không biết phải che tối… Ông im đi, chiếc áo choàng da nói, ông lùi ra, đừng cản trở chúng tôi nữa. Tôi khuyên ông nên thôi đi, rồi ra chỗ khác thì hơn. Hắn ngồi xuống hàng ghế sau, cạnh bác họa sĩ, và sập cửa lại. Bố tôi buông ông Busbeck ra, liếc nhìn bác Ditte lúc này đang đứng ở ngưỡng cửa. Ông cũng nhìn cả về phía tôi một cái thì phải, trước khi đi vòng quanh xe, trèo lên ngồi ghế phía trước. Tôi chạy vụt tới bên ông Tiến sĩ Busbeck, và trong lúc chiếc xe chậm rãi lăn bánh về phía cánh cổng đã mở toang, tôi đưa mắt tìm, và cũng tìm thấy ngay, bóng bác họa sĩ ngồi trong xe. Tôi lấy cùi tay thúc vào người ông Busbeck, rồi cũng như ông ấy, tôi thầm mong bác Max Ludwig Nansen sẽ quay đầu nhìn lại về phía chúng tôi. Nhưng bác ấy ngồi yên trong xe, bóng không động đậy.

Trong tâm trí, tôi vẫn mải mê nhìn theo chiếc xe đang xa dần, tôi vẫn liếc nhanh về phía chuồng bò, nơi họ vẫn đang bận hóa kiếp cho con bò gặp nạn, cho nên tôi không nghe thấy tiếng chìa đút vào ổ khóa phòng giam, tiếng chân lão Joswig bước - thậm chí cả tiếng lão chào sau lưng - tôi cũng không nghe thấy nốt.

Mãi đến lúc viên giám thị đáng mến của chúng tôi rụt rè đặt một tay lên vai tôi và nhỏ nhẹ nói lo xa: đừng giật mình nhá, Siggi, đừng giật mình nhá, ta đây mà, thì tôi mới giật bắn mình, nhảy bật dậy và lùi ngay ra cửa sổ. Lão Joswig vẫn đứng nguyên ở bàn, dáng điệu y hệt dáng một con chó săn đang cơn buồn bã. Lão nhấc cái gương con cầm tay của tôi lên, có vẻ như muốn soi mình vào đấy, nhưng hình như không thấy gì, ngoài ánh đèn từ bóng đèn trần trụi chiếu vào rồi hắt trở ra, nên lão lại đặt nó vào chỗ cũ, bên cạnh quyển vở của tôi, và lẳng lặng ngồi xuống chiếc ghế đẩu đầy vết dao khía.

Lão lại đến nhắc tôi phải tuân thủ nội quy ban đêm chắc? Lão định tính cho tôi xem mức tiêu thụ điện của tôi tăng vọt lên thế nào chắc? Hay, do lão mất ngủ vào đêm hè, nên mò đến đây, mong tôi sẽ đọc lão nghe - như lão vẫn nói - “một chương ra hồn” từ bài luận người ta bắt tôi viết? Lão cúi người nhìn xuống quyển vở của tôi, vừa đọc vừa lắc lắc đầu, và - trong lúc đọc - lão dùng ngón tay lôi từ trong túi trên của áo vét của lão ra hai điếu thuốc nhàu nát, thuốc lá Mỹ hẳn hoi - chắc do một tay tâm lý học người Mỹ nào đó biếu lão - rồi nhét vào quyển vở của tôi, như để làm dấu đánh dấu trang vậy, và quên đi. Tôi chẳng lấy thế làm điều mà bực bội với lão làm gì.

Nói cho đúng ra thì chẳng ai trong chúng tôi có thể bực bội lâu với lão được cả - với người đàn ông rụt rè, tốt bụng này - một người có vẻ cũng tự cảm thấy không may, nếu chúng tôi gặp chuyện không may, một người cũng đau buồn, khi chúng tôi đau buồn, một người tự cảm thấy chính mình bị phạt, khi chúng tôi bị phạt. Lão đọc, còn tôi ngước mắt nhìn ra mặt sông Elbe, lúc đó đang vắng tanh, ngoài độc một chiếc tàu kéo lừng lững, phun đầy khói, lừ lừ trôi qua, chậm chạp, mệt mỏi; khói tàu phun ra tụ lại trước mặt trăng, uốn éo, biến dạng dần thành một bầy ngựa lùn Shetland im lặng tụ tập trước mặt trăng như trước máng nước uống. Không một bóng hải âu. Không một dải mây đáng kể nào ở hướng Cuxhaven.

Mặt trăng cố hết sức tỏa sáng ra xung quanh. Đằng xa, bờ sông nổi lên tối om om, cùng một chuỗi đèn pha ôtô nối đuôi nhau chạy dài.

Trong vai người đọc, tôi phải nói ngay thế, lão Joswig chẳng khác gì so với những người đọc khác, bởi vì, vừa đọc lướt qua trang cuối cùng, vừa biết ông Max Ludwig Nansen bị xe cảnh sát bắt mang đi, lão đã đòi phải biết, liệu ông họa sĩ có quay về không, về lúc nào, và lúc về thì người ngợm ông ấy ra sao. Tại sao lão cứ phải hỏi đúng những câu như thế nhỉ? Tôi nhún vai, làm như thể chính tôi cũng chưa biết rồi chuyện sẽ thế nào. Lão Joswig trố mắt nhìn tôi, ngạc nhiên lắm, nhưng không hỏi gì thêm; lão đến đứng bên cạnh tôi, cũng nhìn qua khung cửa sổ bịt lưới sắt ra sông Elbe lúc trời tối, là lúc mà đôi chỗ, như ở phía sau những cái phao to tướng, dùng để đánh dấu đường sông chẳng hạn, lấp lánh ánh bạc. Các cột đèn hồ quang dựng bên xưởng của trại chúng tôi rọi sáng choang, không chừa chỗ nào tối trên sân. Rặng liễu dẻo dai rủ cành xuống sông Elbe, như để đo dòng nước mạnh yếu ra sao. Con chó của thầy Hiệu trưởng sục sạo trên bãi cát, xem có ai trong số vận động viên bơi thuyền náu mình ở đấy không. Còn tiếng còi tàu rền rĩ ở đâu ra? Vâng, từ bến cảng phía trên, một con tàu chiến nào đó đang rền rĩ rúc còi gọi tàu kéo dẫn vào cảng.

Lão Joswig để yên cho tôi nhìn ngắm những cảnh đó; lão đứng cạnh tôi và có vẻ do dự; rằng lão đến đây không phải do lão muốn tôi tắt đèn hay lên giường ngủ, thì tôi rõ rồi. Lão có chuyện gì bứt rứt à? Có lẽ đúng, nhưng cũng không ghê gớm lắm. Hay lão tìm kiếm cái gì? Lão tìm người để tâm tình trò chuyện. Lão Joswig muốn nhờ tôi cái gì đó, nhưng vẫn chưa dứt khoát, còn dùng dằng, đã định lại thôi, đã muốn bật nói ra lắm rồi nhưng vẫn chưa đủ tự tin. Vâng, chính trong tâm trạng rõ ràng là do dự đó, một tâm trạng khiến nhiều đứa trong bọn tôi đâm ra có cảm tình với lão, lão trân trân nhìn ra ngoài, ra mặt con sông Elbe đang bận rộn, nhưng êm đềm, mải mốt chảy đi. Lão mong tôi chia sẻ với lão, lão có việc muốn nhờ vả tôi.

Tôi quay người, rời khung cửa sổ trở lại bàn, và trong đầu tôi chợt nảy ra mẹo giúp lão hết chần chừ: tôi lấy một điếu thuốc lúc nãy lão nhét vào quyển vở của tôi, châm lửa hút. Lúc que diêm xòe cháy thì lão quay người lại, thấy tôi ngậm điếu thuốc đứng cạnh bàn, liền đưa tay lên cao ra chiều phản đối, rồi tiến về phía tôi, phe phẩy bàn tay như phẩy quạt, mặt lộ vẻ ngạc nhiên chứ không tức tối, và tôi nghe tiếng lão nói: Giời ơi là giời, đã bảo cấm hút thuốc trong phòng cơ mà. Cậu cũng biết không được hút thuốc trong phòng kia mà. Trước khi lão kịp nói gì thêm, tôi đã dụi ngay điếu thuốc. Cậu, lão nói, Siggi, ai đời chính cậu lại như thế, đúng lúc ta đang cần cậu giúp, thì cậu lại giở trò như thế. Lão thở dài. Tôi liền mời lão ngồi xuống giường tôi. Đầu lắc lắc, lão ngồi xuống, lẳng lặng nhìn tôi phủi tàn trên điếu thuốc cháy dở, và cũng không nói gì, khi tôi lại nhét điếu thuốc, như nhét dải đánh dấu trang, vào quyển vở. Tôi nghĩ bụng, bây giờ lão sẽ nói đây, không phải nói để nhờ vả gì mày, lão sẽ nhờ mày góp sức làm cái gì đó. Và, quả nhiên tôi đã không nhầm: lão Joswig đến tìm tôi, vì lão muốn tôi giúp lão một lời khuyên.

Tất nhiên, lão mào đầu theo kiểu của lão, để hé dần cho tôi biết lão đang mắc míu chuyện gì; lão nói vòng nói vo rất xa, hay như người ta vẫn bảo, lão loay hoay tìm cửa hậu để nhập chuyện. Cậu thuộc số lớn tuổi nhất ở đây, lão nói, đã thuộc vào số lớn tuổi nhất ở đây, cậu phải biết trên cù lao đây, cái gì được phép, cái gì không được chứ. Rồi lão kể lể dài dòng về nội quy, quanh đi quẩn lại cùng điều khoản “cấm hút thuốc tại các phòng giam và phòng họp chung”, tụt xuống hai điều khoản ở dưới để nhắc tôi, nếu ai vi phạm điều khoản đó thì sẽ bị làm sao, rồi lão lại dựa vào bản nội quy vô hình treo đâu đó trước mặt lão để quay lên điều khoản thứ hai, theo đó: “Giám thị có quyền bất khả xâm phạm; các mệnh lệnh của giám thị đều phải được tuyệt đối chấp hành”. Tôi vẫn chưa nhận ra lão dẫn dắt câu chuyện đến đâu. Làm ra vẻ dửng dưng, lão nhắc đến thằng Ole Plötz, đến vụ trốn trại xảy ra cách đây đã khá lâu của Ole; lão nhắc đi nhắc lại hơi nhiều điệp khúc “cậu còn nhớ chứ”. Cậu còn nhớ cái buổi tối mưa to hôm ấy chứ?

Chúng nó chuẩn bị, tính toán mọi chuyện kỹ càng lắm, chờ đúng lúc nước rút sẽ lên đường. Nhưng rồi bọn nó quyết định dùng chìa khóa thửa sẵn trong xưởng. Cậu còn nhớ sương mù từ ngoài biển kéo vào, dày đặc, đến nỗi tàu phải thả neo giữa dòng không? Cậu còn nhớ tiếng động ầm ầm cùng tiếng dây neo loảng xoảng không? Mấy đứa khác đã định thôi, nhưng thằng Ole bất chấp sương mù, vẫn muốn trốn trại cho bằng được, cho nên đã định thế nào thì chúng nó cứ thế nhắm mắt làm như thế. Chắc bây giờ cậu cũng tự thấy mừng, chứ nếu không, chắc cậu cũng đứng đấy mà kêu cứu như bọn kia. Thật đến khổ, làm sao có ai bơi vượt Elbe lúc sương mù được cơ chứ! Mà cậu còn nhớ, cả bọn chúng nó, đứa nào đứa nấy quần áo ướt như chuột, đứng run rẩy giữa cả một vòng người vào sáng sớm hôm ấy không?

Lão nói đều đều như cái đĩa hát đang quay, nhưng tôi không muốn nghe hết cả đĩa, cho nên tôi nói ngay, vâng, vâng, tôi vẫn còn nhớ, vẫn nhớ cái đêm ấy, cả sương mù, nhớ lúc chúng nó tìm cách trốn trại đã đánh giám thị ra sao, vân vân, vâng chuyện đã lâu rồi, nhưng cũng chưa phải đã quá lâu. Lão Joswig gật đầu, răng nghiến lại, rồi dang tay ra, vâng, có thể nói lão dang tay với vẻ hết sức tuyệt vọng vậy: Tại sao thế, hả Siggi? Những bài học kinh nghiệm ấy để làm gì cơ chứ? Cậu có hiểu, tại sao các bài học, các kinh nghiệm lại chẳng có ích gì như thế không? Các bài học ấy để dành cho ai mới được chứ?

Đến đây thì tôi giật thót mình; tôi lặng thinh, giương mắt chăm chú nhìn lão dò hỏi, vâng, tôi nhìn lâu đến lúc lão không nhịn được nữa. Cậu có hiểu tại sao sai không, hả Siggi? Sau bấy nhiêu chuyện? Lão nói tiếp: Chúng nó không biết, rằng ta đã biết tỏng hết cả rồi. Chúng nó bàn tính với nhau trong toilet, ai chả nghe thấy cơ chứ. Tôi phải làm gì bây giờ? Thằng Ole, phải rồi, thằng Ole Plötz bạn cậu, định thứ Sáu này sẽ gạt mứt từ bánh mì xuống, gom vào giấy đem về phòng nó. Đến tối, chúng nó tính sẵn như thế, lúc ta đi kiểm tra lượt cuối cùng, nó sẽ lừa ta, rồi trốn trại, trốn như lần trước. Tôi vội nói: Tôi không biết gì hết, thật mà! Còn lão, lão buồn bã đáp lại: Thằng Ole sẽ nằm lăn ra sàn, bôi mứt lên mặt, lên cổ, để ta tưởng nó bị đứa nào đánh, hay bị ngã giập mặt. Ta sẽ hốt hoảng mở cửa phòng giam, chạy vào cúi xuống xem; còn nó sẽ chờ đến lúc ta tìm cách đỡ nó dậy thì ra tay, đánh gục ta hay làm gì đó để lấy chìa khóa. Chúng nó lại định trốn trại, Siggi ạ. Cứ nghe đến chuyện đó, là ta lại phải hỏi, chả nhẽ các bài học chúng nó học được lần trước chẳng có ý nghĩa gì hay sao?

Còn những đứa nào nữa? Tôi hỏi. Lão không muốn nói, chỉ ậm ừ, chắc cũng lại những đứa lần trước thôi. - Thứ Sáu này à? - Phải, thứ Sáu này, lão Joswig nói, suốt mấy ngày nay, ta cứ nghĩ xem ta phải làm gì. Kể ra thì ta có nhiều cách. Rồi lão hỏi ý tôi thế nào. Chẳng hạn, lão sẽ không vào phòng thằng Ole nữa? Hay lão cứ vào, nhưng thay vì cúi xuống đỡ nó, lão sẽ cho nó một trận, gọi là tự vệ trước để phòng thân. Và, tất nhiên, lão cũng có thể làm toáng lên, lão chỉ cần nói với ông giám đốc một tiếng, thì ông ta chắc chắn sẽ xé to mọi chuyện cho mà xem.

Lão Joswig cụp mắt nhìn xuống, lặng thinh; đột nhiên, tôi sực hiểu lão muốn nhờ tôi cái gì, muốn dành cho tôi một cách nữa, cách thứ tư, để thu xếp việc này; tôi chưa kịp cất tiếng thì lão đã khấp khỏi ngẩng đầu lên nhìn. Tôi sẽ nói với thằng Ole, tôi nói, tôi sẽ bảo với nó, mọi chuyện đều vô ích, đều lộ hết rồi, và sẽ kết thúc khốn khổ như lần trước thôi. Tôi sẽ bảo nó, nếu nó nghe, nếu nó chịu nghe. - Nó khắc nghe cậu, lão Joswig nói chắc nịch. Nhưng tôi chợt nghĩ lại: À, nhưng như thế không được đâu. Tôi không báo trước như thế cho nó được. Tôi mà báo động cho nó, nó sẽ nghĩ ngay tôi làm tay chân cho giám thị. Ở đây không đứa nào dám bị mang tiếng như thế cả. - Thế thì ta phải làm gì bây giờ? Lão Joswig hỏi thẫn thờ. Mối lo của lão là mối lo thật lòng. Ta phải làm gì chứ, hả Siggi, sắp đến thứ Sáu rồi. Nếu cậu không muốn báo động cho nó, thì ta phải làm gì cơ chứ? - Phải có hộp mứt, tôi đáp. Bác lấy hộp mứt đặt lên bàn cho nó, gắn thêm mảnh giấy, viết dòng chữ vào đấy: muốn dùng bao nhiêu thì dùng, miễn sao các vết thương phải đỏ giống như thật là được!

Thoạt tiên, lão Joswig nhìn tôi với vẻ hoài nghi; lão có vẻ muốn gạt gợi ý của tôi đi rồi, nhưng lại thấy nó hay hay, thậm chí thú vị, rồi rốt cuộc, chắc lão cũng thừa nhận đây là cách duy nhất lão có thể làm. Lão đứng dậy khỏi giường tôi. Ta đã biết mà, lão nói, chìa tay ra bắt tay tôi, ta biết mà, Siggi, ta đến tìm cậu quả không uổng công tí nào.

❀ ❀ ❀

[1] Một giống chó Đức, ở ta còn gọi là chó lạp xưởng hay chó xúc xích, thân dài, ngực nở, bụng hóp, với tứ chi rất ngắn. (Gago)

Hoàng Đăng Lãnh (dịch).
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.