Vào học trường trung học phổ thông mang tên Theodor-Storm ở Glüserup, tôi được cái lợi là trường này có tiếng, ai nghe cũng nể; nhưng bị thiệt là đường đến trường xa thêm gấp ba lần. Cái lợi còn là ở chỗ, tôi không phải chạy trốn tụi Jobst và Heini Bunje nữa, nhưng thiệt ở chỗ, ở đó các thầy ra nhiều bài tập kinh khủng, đến mức tiêu hết cả buổi chiều. Ở đấy, tuy các thầy không được nện học sinh thật, nhưng tôi vẫn nhớ thầy Plönnies ở đây, cho dù thầy thường vẫn sẵn lòng ban phát cho bọn chúng tôi những cái bạt tai trời giáng. Một đường thì tôi cũng đồng ý với mẹ tôi khi bà cứ nhắc đi nhắc lại mãi cái câu bảo rằng “hiểu biết là sức mạnh”, và một trường học tốt bao giờ cũng tạo “bàn đạp tốt cho người ta vào đời”, nhưng đường khác, thì tôi cứ thắc mắc, việc gì tôi phải học tiếng Hy Lạp ở trường mới, trong khi tôi nào có định sang Hy Lạp làm gì đâu. Một mặt, thì tôi vẫn hiểu rằng một trường như trường này không đủ chỗ cho tất cả học sinh trong vùng vào học, nhưng mặt khác, tôi cũng lại không hiểu làm sao mà bố tôi có thể dai dẳng kể đi kể lại mãi chuyện tôi được vào đúng cái trường Storm này với mọi người như thế.
Tôi cân nhắc thiệt hơn, thua được như thế về trường trung học Storm cũng chẳng giúp được gì, bởi bố mẹ tôi trước sau vẫn bắt tôi phải nhận học bổng của trường cho bằng được; ông bà mua nhét vào tay tôi cái cặp da mới để đi học, ông bà lùng đâu ra cho tôi cả một chiếc xe đạp gần như mới toanh. Ông bà cũng tìm cách làm tăng thêm, hoặc đánh thức, lòng ham học mà ông bà nghi là còn tiềm ẩn đâu đó sâu thẳm trong người tôi, mua chuộc tôi bằng cách gói cho tôi thêm hai miếng bánh, nhiều hơn mọi khi để ăn trưa, và trước khi tôi ra khỏi nhà, ông bà kéo áo, xốc quần tôi mặc, sửa tất chỉnh giày tôi mang, xem móng tay tôi dài hay ngắn, bẩn hay sạch, rồi lúc tôi gò lưng, nằm bò trên tay lái, đạp xe đi, thì ông bà - vâng, cả mẹ tôi - còn đứng vẫy theo mãi. Lên bờ đê. Bên trái là Biển Bắc, bên phải là cánh đồng trống. Từ bờ đê lao xuống, thì bên phải là Biển Bắc, bên trái là cánh đồng. Đúng thế, lần theo tuyến đường quen thuộc mà viên cảnh sát Rugbüll đã bao lần đạp xe qua, và hiện giờ, thỉnh thoảng cũng cùng đạp xe đi với tôi, và mỗi lần như thế, ông lại bảo - đi nào, bố chạy trước, mày đạp theo. Về phần tôi, ông bà muốn thế nào, tôi vâng dạ hết, ông bà bảo tôi làm gì, tôi làm tuốt tuột, và để mặc ông bà thưởng công tôi biết ngoan ngoãn nghe lời bằng bánh kẹo, bằng bánh mì kẹp, hay bằng cách tăng khoản tiền bỏ túi ăn vặt hằng ngày lên, và, âu cũng là phần thưởng lớn nhất cho tôi vậy, ông bà để yên cho tôi được ngồi một mình, không bị quấy rầy hàng giờ liền trong phòng tôi. Tất nhiên, tôi không loại trừ lý do sở dĩ bố tôi bỗng dưng hào phóng ban cấp thêm cho tôi nhiều thứ như thế là vì ông đọc được đâu đó trong sổ tay cảnh sát, rằng ai có học vấn cao, khắc có cơ hội trèo lên cao trong ngành cảnh sát. Và, chính vì để tôi sau này có thể thành Tổng trưởng cảnh sát, hoặc ít ra cũng thành một viên cảnh sát trưởng một khu vực nào đó, chiều chiều chị Hilke không được to tiếng ca hát hay ầm ĩ nghe radio nữa, làm chị cáu tôi lắm. Thì cũng dễ hiểu thôi.
Cho dù đó là tuyến đường quen thuộc, cho dù có nhắm mắt tôi vẫn tìm được các đoạn đường và lối rẽ đi nữa, thì các chuyến đến trường tại Glüserup hay từ đó về nhà, không bao giờ làm tôi chán cả, ngay cả những khi phải đạp ngược gió, hết cả hơi, kiệt cả sức cũng vậy. Mọi thứ vẫn ở nguyên chỗ cũ, nhưng mỗi ngày trông một khác, dưới ánh sáng thay đổi hằng ngày, dưới bầu trời hôm nay khác bầu trời hôm trước; chỉ riêng một Biển Bắc thôi, đã chứa chấp không biết bao nhiêu là bất ngờ rồi! Lúc tôi đến trường, nó còn nằm êm ả, dềnh dàng trải rộng, và như thể còn ngái ngủ, chốc chốc lại thè lưỡi, uể oải liếm lên bãi cát ven biển vài cái, thế mà lúc tôi về, nó đã lại ầm ầm xô những ngọn sóng màu xanh lơ pha màu lục điên cuồng đập vào những hàng cột chắn sóng ở ven bờ. Hoặc các trang ấp, có lúc trông sao mà khốn khổ, như bị giam hãm tù đày dưới màn mưa dai dẳng buông hết giờ này sang giờ khác, và chìm nghỉm trong u ám ủ dột; thế mà, khi ánh sáng trắng sữa từ trên cao rọi xuống, hoặc khi các cánh đồng cỏ trải rộng cả phía trước lẫn đằng sau bỗng long lanh ánh nắng, thì chúng nổi lên, đẫy đà, kiêu hãnh cùng những ống khói nhả khói mỗi buổi trưa. Hay các ngọn gió, có lúc chúng chỉ huýt sáo khe khẽ và khoái chí qua vành nan hoa xe đạp, hay chỉ phá lên cười nhạo mỗi khi xe loạng choạng, nhưng có lúc, lại giận dữ ném mảnh áo mưa vào mặt người ta, hay bắt áo mưa phải bay phần phật mới chịu, hoặc cố tình đẩy người ta xuống khỏi bờ đê cho bằng được. Vạn vật ở đây biến đổi, thay hình đổi dạng mới thường xuyên làm sao! Từng ngày, từng giờ! Anh có thể thường xuyên thưởng thức và ngẫm nghĩ về những sự đổi thay ấy, và nếu anh muốn, anh cũng có thể phát sốt phát rét lên vì các đổi thay như thế.
Thôi được, bây giờ là lúc tôi đang trên đường về. Trời mùa thu. Xế trưa, khoảng hai giờ gì đó. Chim hải âu bay lượn. Bãi biển vắng vẻ. Gió Tây-Bắc, thổi chéo sau lưng, làm phồng áo choàng tôi mặc, khiến nó phần phật như cánh buồm sũng nước. Không biết ai vừa qua đây, dấu chân chạy dài trên mặt cát. Ngọn gió đến là ẩm ướt. Không trung đượm vị muối. Nồng hơi i ốt. Cái cặp đựng sách vở bằng da của tôi được cài chặt vào chỗ đèo hàng, nó bị ướt nước mưa phía ngoài, trông bóng loáng. Phía chân trời, một làn khói bốc lên cao, nhưng không thấy tàu thủy đâu. Chim bãi biển chạy đi chạy lại lăng xăng, liên hồi kêu: witt-witt. Đàn gia súc trên cánh đồng bên kia, con nào con nấy đã lại khoác áo bạt, để chống lạnh về đêm, mà cũng là để chống cả mưa lạnh nữa. Chỗ này chỗ kia, thấp thoáng đôi người đang đào mương, khơi rãnh. Đằng xa, tôi đã thấy bóng dáng quán Wattblick, sơn quét phía ngoài bong loang lổ, chẳng ai trông nom kể từ ngày ông chủ quán Hinnerk Timmsen bị mê hoặc, quyến rũ bởi cơ hội làm ăn mới là buôn chất đốt - do ông ta đọc được ở dự báo ở đâu đó, cho rằng mùa đông sẽ mỗi năm một lạnh thêm, nên đùng đùng đem bán quán này cho Nhà nước - và Nhà nước chỉ bỏ thêm một ít tiền, biến nó thành nhà nuôi dưỡng trẻ tâm thần. Cột cờ hồi xưa của quán này bây giờ gãy gục, chẳng ai buồn sửa. Và tôi cũng không biết lá cờ hiệu in hai chìa khóa bắt chéo biến đi đường nào.
Bốn bà bảo mẫu - không phải, năm bà mới đúng - đang đứng tụm lại với nhau trên mảnh sân thượng xây gác lên bờ đê trông ra biển, giữa trời lộng gió, và vung tay múa chân nói gì đó với bố tôi; lúc này ông đang đứng cùng với họ, mặt cúi xuống, lắng nghe họ nói theo kiểu riêng của ông. Ông canh chim Kohlschmidt; thêm ông kiểm đê Bultjohann nữa; ông này dạo này sính đeo trên ve áo khoác hình mẫu thu nhỏ huân chương đồng của hội thể thao Đức. Tôi nhổm mông khỏi yên xe, nhấn chân đạp thật lực lên pê đan, nhưng vẫn không kịp. Trước khi tôi kịp đến nơi, các bà các ông đã nối gót nhau lần theo cái cầu thang hẹp tụt từ trên sân thượng xuống phía bờ biển, rời xa nhau, giơ tay ra hiệu cho nhau, tạo thành một chuỗi người dài. Trông như một kiểu lưới quét vậy. Chuỗi người chia làm hai cánh di chuyển chéo về phía bán đảo, sau đó, một cánh lùi lại, vẫn giữ khoảng cách không đổi, quét xuống các lòng chảo, vượt qua các đỉnh gò, dọc theo bãi biển và trườn qua các cồn cát về phía mũi bán đảo, nơi các luồng sóng ngược nhau, đập vào nhau, làm nước biển bắn lên tung tóe và những thứ nổi lềnh bềnh trên mặt nước tưng tưng nhảy theo.
Họ đang tìm cái gì đó. Họ đang muốn bắt cái gì đó. Đã thế, thì ai chả muốn góp một tay. Tôi phải chạy theo mới được. Tôi đẩy xe đạp vào sân, dựng nó vào lan can ở đấy, rồi chạy theo họ, mới đầu chạy theo chuỗi người di động, sau đó, chỉ bám theo dấu chân ông canh chim Kohlschmidt, và trên đỉnh ngọn đồi, nơi gió thổi làm rối bời đám cỏ tóc tiên mới trồng, thì tôi đuổi kịp ông ấy, mỉm cười thay lời chào, và cố bước đều cùng với nhịp chân ông ấy. Tôi không muốn hỏi họ định tìm cái gì; mà thật ra tôi chẳng cần hỏi, bởi chỉ một lát sau, ông ấy đã nói ông đang lo ngại cái gì, và qua đó, tôi cũng biết được lý do cuộc tìm kiếm này.
Hóa ra là có hai đứa trẻ thuộc nhà nuôi dưỡng - một trai, một gái - tự dưng biến đâu mất, hình như ngay từ lúc mới rạng sáng đến giờ, trước cả lúc ăn sáng. Mới đầu, các bà bảo mẫu chỉ tìm chúng nó loanh quanh trong khu nhà. Theo ý ông Kohlschmidt, thì họ đã mất thời gian tìm trong ấy lâu quá. Lúc hai đứa biến mất là lúc thủy triều xuống, lẽ ra phải tìm chúng nó ngoài bãi triều mới đúng. Ông lo chúng nó chạy ra bãi triều, ông linh tính chuyện chẳng lành ở đây. Chốc chốc ông lại dừng chân, nhìn từ trên gò cao xuống bãi biển, đăm chiêu nhìn các đợt sóng thi nhau xô vào bờ, rồi lại phóng mắt ra ngoài khơi, như thể ông đang muốn tìm bóng dáng bọn trẻ ở ngoài đó, chứ không phải trên bán đảo này. Rặng liễu thưa thớt níu chân chúng tôi lại; chúng tôi tìm dấu vết bọn trẻ trong rặng liễu. Không một dấu vết, không một dấu hiệu nào lạ. Một bà bảo mẫu, người cao, xương xẩu, mặc áo choàng len, gọi bố tôi tới chỗ bà đang đứng, chỉ cho ông thấy cái gì đó dưới cát; bố tôi dùng chân gạt gạt cát ra. Thế thì không phải là dấu vết gì của bọn trẻ rồi, họ lại tách nhau ra, đi tiếp. Chúng tôi trèo lên một cồn cát, ở đây cũng không có dấu vết gì, chúng tôi làm một vòng quanh túp lều bác họa sĩ cũng không thấy gì nốt. Tôi chỉ chôn vội một mẩu giấy đã cháy sém thò dưới cát lên. Chuỗi người đi tìm trải ra khá dài; lúc đầu, người này còn nhìn thấy người kia, nhưng càng tiến sâu vào sau các gò đất và cồn cát, thì càng không chắc ai nhìn thấy ai, chẳng hạn, như khi vừa trèo từ dưới trũng giữa hai cồn cát lên, thì hoặc khuất hẳn cánh trái, hoặc thiếu hẳn cánh phải, có lúc những người ở giữa lại lặn đâu mất, lúc khác vài người lại biến khỏi tầm mắt, và cũng có những lúc tôi chỉ nhìn thấy hai người ở hai đầu chuỗi, ông kiểm đê Bultjohann đầu này, bà bảo mẫu trưởng đầu kia.
Tại sao viên cảnh sát Rugbüll bỗng dưng lại tách ra thế kia? Tại sao ông lại lùi lại phía sau. Ông Kohlschmidt nhìn thấy, liền phái tôi chạy đến lấp vào chỗ trống do bố tôi để lại trong chuỗi. Tôi tìm các vết chân của bố tôi, rồi cứ thế đi tiếp để chuỗi người không bị đứt quãng. Nhưng, cũng chỉ một lát thôi, bởi vì bà bảo mẫu trưởng bỗng đứng dừng lại, rối rít vẫy tay gọi mọi người về phía bà. Trong lúc chờ mọi người đến gần, bà ta không dừng đưa tay chỉ vào những dấu chân chạy dài cạnh nhau, từ phía biển lên rồi quành về phía mũi bán đảo. Mọi người xúm lại quanh bà, và ai cũng nhận ra đây là dấu chân hai đứa trẻ, hằn nhẹ xuống cát và sát vào nhau, có lẽ do chúng nó nắm tay nhau mà đi, mới đầu dưới bãi triều, sau đó trèo lên trên này.
Chúng nó đấy, bà bảo mẫu trưởng nói rồi không nói gì thêm, lẳng lặng lần theo các dấu chân mà đi. Chúng tôi bám sát theo bà. Sóng Biển Bắc đập vào thân một con tàu nhỏ đã hỏng và gần chìm hẳn, bắn nước lên cao, tung cả vào người chúng tôi. Mặt cát ở đây cũng gợn sóng, như thể tiếp nối sóng Biển Bắc vậy; làn sóng cát chạy cắt chéo mũi bán đảo, lan đến túp lều ông canh chim, đến tận chỗ các hàng cột chăng lưới bắt chim. Chúng tôi, ai nấy đều nhanh chân bước. Trong lều - cả dưới bàn lẫn dưới ghế băng - đều không bóng một ai, ở ngoài bãi biển cũng không, mặc dù các vết chân chạy dài trên cát. Nhưng ở đằng kia, chỗ hàng lưới chăng…
Vâng, trong các hàng lưới bắt chim chăng dài một đoạn, rồi chụm vào cái rọ được buộc chặt vào mấy cái cọc, chúng tôi tìm thấy bọn trẻ đang ngồi bên mấy con chim bị mắc lưới, giãy cánh phanh phạch. Chúng nó ngước mắt nhìn chúng tôi rất nhanh, chẳng ra sợ sệt mà cũng không ra mừng rỡ, thậm chí có vẻ thờ ơ là đằng khác. Hai đứa ngồi xổm dưới cát, quay lưng vào nhau trong bẫy bắt chim, tay con bé bóp chặt cổ một con búp bê mập mạp nhồi vải, thằng bé đang hà hơi cho một con chim đã chết. Đứa bé gái mặc váy kẻ ca rô, gương mặt mệt mỏi, lãnh đạm, bím tóc trông như đuôi chuột. Thằng bé đi chân đất, cái đầu to như muốn níu nó xuống, gáy nó vồng lên. Trong lúc hà hơi cho con chim chết, đầu nó đung đưa bên này bên kia; nó áp môi sát vào con chim và từ miệng nó phát ra những tiếng gì nghe không rõ, vừa có vẻ sốt ruột, vừa có vẻ khoái chí. Ngồi xổm, doạng hai chân rám nắng, con bé gí mặt con búp bê xuống cát, xoay đi xoay lại, như muốn làm cho nó chết ngạt.
Chim bay vù vù, hoảng loạn phía trên đầu con bé, nhưng nó chẳng để ý. Thằng bé nhét con chim chết vào cổ áo bằng vải lanh của nó, cười to, lắc lắc người, nước dãi, nước miếng chảy ròng ròng từ miệng ra; nó móc các ngón tay vào mắt lưới, toan đứng lên, nhưng không được. Con bé cất tiếng hát bằng giọng the thé, chói tai và quay mặt về phía chúng tôi. Lúc này bà bảo mẫu trưởng đã tìm được lối vào, bà chui vào trong bẫy chim, nắm lấy con bé, lôi nó ra ngoài, và bà bảo mẫu người gầy gò, xương xẩu với đôi mắt lạnh lùng ngồi xổm bên ngoài liền nắm lấy tay con bé, kéo nó sát vào người, trong khi con bé lại lấy con búp bê cứ thế đập lên đầu bà, khiến cái mũ trắng bà đội trên đầu cùng cái trâm cài tóc rơi xuống, làm tóc bà xõa bung cả ra. Ngay cả lúc bà bảo mẫu trưởng vỗ về ôm lấy nó, hôn lên má nó, con bé vẫn không chịu ngưng dùng con búp bê nó cầm trên tay đập tứ tung ra xung quanh.
Còn thằng bé? Phải hai bà bảo mẫu cùng ông Kohlschmidt mới chung nhau kéo được nó ra khỏi bẫy lưới; nó không cưỡng lại, nhưng cũng có vẻ không hiểu người ta muốn gì ở nó. Nó cúi đầu như muốn xông ra húc, uể oải, ngơ ngác, hoàn toàn không màng gì đến mọi sự xung quanh; nó mặc kệ cho người ta lôi nó ra, đứng thở hổn hển giữa vòng người bên ngoài.
Không có gì đâu, Jochen, một cô bảo mẫu nói, bây giờ ta về nhà; cháu đưa con chim cho cô, rồi cô cháu mình uống ca cao nhé. Nào, đưa con chim cho cô nào, cô bảo mẫu nói tiếp, rồi thọc tay qua cổ áo thằng bé, trong lúc nó chỉ càu nhàu, nhăn nhó; cô bảo mẫu thò tay sâu xuống phía bụng thằng bé, dừng lại trong giây lát, rồi nắm lông đuôi con chim chết lôi ra. Thắng bé lấy tay định giật con chim lại, nhưng giật trượt. Nào, bây giờ cô cháu ta về nhà, ăn cái gì đó cho ấm người rồi đi ngủ nhé. Thằng bé khum bàn tay lên tai nó; nó nghe ngóng cái gì đó mà có lẽ chỉ một mình nó nghe thấy; nó ngoan ngoãn cùng mọi người ra về, chỉ thỉnh thoảng lại dừng, chăm chú nghe ngóng cái gì đó.
Thế là mọi người lại kéo nhau về Wattblick. Các bà các cô bảo mẫu, cùng đám trẻ và bà quản gia, cả hai bà nấu bếp, đều chạy ra đứng ngoài sân để đón; tiếng gọi nhau ơi ới; mọi người ôm chầm lấy nhau, vuốt ve, thở phào nhẹ nhõm. Trời ơi, chúng nó kia kìa! Chà các cháu về đây rồi! Tôi liếc mắt qua cánh cửa để ngỏ, nhìn vào trong. Không thấy bóng dáng bố tôi đâu, nhưng tôi chợt nhìn thấy con bé sáng sáng vẫn khó nhọc vẫy tay chào tôi, khi tôi đạp xe qua đây, và thỉnh thoảng, về buổi chiều, nó mặc áo choàng xanh, vẫn thường ngồi trên bậu cửa sổ vẫy tôi. Tự tôi, tôi đặt cho nó cái tên là Nina. Nó bước ra cửa. Nó ra ngoài sân, dò dẫm, do dự.
Tôi ra hiệu cho nó, nhưng nó không nhận ra tôi. Tôi chào nó; nó nhìn thấy tôi chào, nhưng không đáp lại. Cố làm sao cho thật kín đáo, tôi tiến dần về phía nó, chen lại gần, mỉm cười, gật gật đầu với nó, và để cho nó nhận ra mình, tôi cũng làm bộ vẫy vẫy tay, như nó thường vẫn vẫy tôi. Nó không để ý đến tôi, hoặc, tuy nó nhìn thấy tôi thật, nhưng không nhớ, không nhận ra là ai, rồi, lúc tôi đã tiến đến gần nó, gần đến mức tôi có muốn chạm tay vào người nó cũng được, thì nó bỗng hốt hoảng hét toáng lên, ôm chầm lấy một cô bảo mẫu, như thể muốn được che chở. Đã thế, thì tôi chỉ biết lẳng lặng mà chuồn, chứ làm thế nào hơn được. Tôi len lách vào giữa đám đông để rời ra xa; cô bảo mẫu đang vuốt ve, an ủi con bé con nhìn theo tôi với ánh mắt đầy vẻ ngạc nhiên.
Xe đạp của tôi kia rồi. Tôi dắt nó ra mặt đê, lấy đà như bố tôi vẫn lấy đà, nhảy lên yên, đạp xe rời ra xa, về hướng Rugbüll.
Thế ra mày cũng biết đường mà về nhà đấy hả, chị Hilke đứng ở bậc thềm nói to. Chị không ngồi trông cháo cho mày mãi được đâu đấy. - À, thế là hôm nay có món cháo, ăn với đường và bột quế, có khi có cả mứt mận, tôi nghĩ bụng, rồi nói: Chị không phải giả vờ cáu em như thế đâu. Mới nói có thế, mà chị tôi đã đấu dịu: Chị phải hai lần hâm cháo cho mày rồi, nhóc ạ. Chứ mày đi đâu nãy giờ?
Theo lời bố mẹ dặn, tôi biết mà, chị phải chiều tôi; chị đỡ cặp giúp tôi, nháy mắt với tôi, lại còn vuốt sau gáy tôi một cái. Chị định nắm tay tôi, nhưng tôi thấy như thế hơi quá đáng, nên rụt tay lại, và nhún nhảy theo chị đi vào bếp.
Bố có nhà không? - Không! Bô không có nhà, người ta gọi bố đến đằng Wattblick làm gì ấy. Nghe đâu lại có chuyện! Hình như có đứa nào bỏ trốn, không khéo chết đuối rồi cũng nên. - Chị cho em ăn cái gì nào, tôi thủng thẳng nói. Chuyện gì chị không biết, thì chị đừng có xía vào.
Đúng là cháo đặc, ăn với mứt mận thật. Chị Hilke bê đĩa cháo đến cho tôi, đặt đánh xoạch xuống bàn. Chị tự ái rồi đây! Tôi nói dàn hòa: Hai đứa chúng nó chỉ đi chơi rồi lạc thôi. Em vừa ở ngoài ấy, giúp người ta đi tìm chúng nó. Chị biết không, chúng nó chui vào trong bẫy lưới của bác Kohlschmidt nhá. - Thế mà tao đã tưởng mày bị làm sao. Ở trường hôm nay thế nào? - Có gì đâu, vẫn thế. Không phải chị Hilke, mà là mẹ tôi, vừa hỏi tôi như thế; bà vào bếp lúc nào, chị em tôi cũng không biết; khăn vắt vai, tóc để xõa, bà chuẩn bị gội đầu. Không cần ngoái lại, tôi vẫn biết lúc này trông mẹ tôi thế nào, và bà sẽ làm gì bây giờ; chắc chắn bà đang mặc chiếc váy lót màu xanh lá cây đã phai màu, chân mang đôi dép da đã mòn; bây giờ bà sẽ lôi dầu gội đầu trong tủ ra, xả nước tráng sạch chậu rửa mặt, rồi bà dùng đôi tay đẫy đà, đầy tàn nhang và nốt ruồi tháo dây đeo váy lót ra. Rồi đổ nước nóng vào chậu.
Này, Siggi, mẹ không muốn mày bước chân vào cái trại Wattblick ấy đâu, hiểu không? - Thì con có vào trong ấy đâu.
Thoạt đầu nước gội có vẻ nóng quá, nên bà dùng hai tay khuấy lên cho chóng nguội.
Họ đưa bọn trẻ con ấy về đầy đã là quá quắt lắm rồi; mày đừng có mà chui vào đấy. - Có hai đứa đi lạc, tôi nói, con chỉ đi tìm giúp thôi.
Mẹ tôi đứng doạng chân, cúi đầu, xõa tóc ra phía trước, nhúng vào trong chậu nước, và gằn giọng nói: Từ giờ, bên ấy rồi ngày nào cũng có chuyện cho mà xem, không ai còn yên thân được với chúng nó đâu. Cái giống chết tiệt vô giá trị, không đáng nuôi! Tai ương, rồi chúng nó sẽ mang tai họa về đây cho mà xem. Giá chúng nó xéo đi có phải hơn không. - Nhưng bắt chúng nó phải đi đâu mới được chứ?
Mẹ tôi không đáp; bà vốc nước lên tóc cho ướt đã, rồi mới nhúng hết vào chậu; bà thở mạnh. Nếu chúng nó chỉ đau ốm thôi, thì không nói làm gì, đằng này chúng nó là hạng vô dụng, không đáng nuôi, chỉ đáng vứt đi thôi; để chúng nó sống, chúng nó chỉ tổ gây tai sinh họa cho người ta chứ lợi lộc gì. Không ai thương hại chúng nó được, bởi chính chúng nó có biết thương với xót là gì đâu. Mày hiểu không, Siggi? Tao không muốn mày ra đấy; chỉ nhìn chúng nó đã không được, chứ chưa nói chuyện mày chơi bời với chúng nó.
Nước chảy ròng ròng và nhỏ giọt trên tóc bà xuống; bà với tay, bôi một ít dầu gội đầu mịn màng, màu mật ong lên đỉnh đầu, rồi lấy tay hết xoa lại gãi, chà xát, rồi gạt bọt dầu gội đầu mỗi lúc một phồng lên, bám lên gáy, vướng vào tai, trôi xuống mặt - và cứ nghe tiếng bà xuýt xoa - chắc còn chui cả vào mắt. Bây giờ thì đến lúc chị Hilke phải giúp bà một tay. Bà nói tiếp: Mẹ nói mày nghe, Siggi ạ, chỉ cần nhìn chúng nó thôi, cũng đủ mang vạ vào thân rồi. Lúc đầu có thể chưa thấy gì đâu, nhưng, rồi đến lúc, nó sẽ phát ra. Mày phải biết, những gì mày nhìn thấy có thể sẽ ngấm sâu vào bên trong, làm mày mờ cả mắt.
Tôi cứ ngồi đấy, vừa múc cháo ăn, vừa nghe; tôi gắng ngồi thêm được một lát, rồi, trong lúc chị Hilke xối nước lên bộ tóc vàng hung hung của mẹ tôi, dùng tay bóp đụn tóc cho ráo nước, rồi lấy khăn lau khô qua phía ngoài, tôi hỏi, liệu tôi lên gác làm bài tập được chưa. Được. Nhưng mẹ dặn mày thế nào, mày phải nhớ đấy. - Vâng. - Thế bài tập hôm nay có gì? - Hôm nay ấy à? Toán, sử, làm văn. - Đề văn là gì? - Hãy viết về tấm gương sáng của em. - Thế à, đề văn như thế thì cũng không khó lắm, đúng không nào? - Vâng. - Mẹ chờ đọc bài làm văn của mày đấy.
Chiếc váy lót màu xanh lục đã bạc ôm chặt lấy mông bà. Cổ bà ửng đỏ. Bà úp mặt, thở mạnh vào tấm khăn lau. Trong chậu là một thứ nước đen đen, bọt dầu gội đầu nổi lềnh bềnh bên trên, xẹp dần, tan dần ra.
Rốt cuộc, được ra khỏi bếp, lên phòng làm bài tập, tôi mừng rơn.
Bởi tôi chẳng mê thích gì môn Sử, nên tôi bắt đầu với bài luận trước, và mọi khi thế nào thì lần này cũng vậy. Tức là lúc đầu, tôi thấy đề bài ngon ăn, dễ viết thôi, và có vẻ hợp sức tôi là khác. Tôi chưa bao giờ cảm thấy bí, chẳng hạn, nếu phải viết về “Chuyện đáng nhớ nhất trong kỳ nghỉ hè” hay về “Chuyến thăm Viện bảo tàng địa phương”, hay bây giờ, về “Tấm gương sáng”. Bao giờ cũng thế, cứ bắt tay vào viết, lúc nào tôi cũng thấy tự tin. Nhưng, tất cả các đề tài ngon ăn, dễ viết ấy, về sau đều quay ra hành hạ tôi, khi tôi phải bắt tay - theo yêu cầu của thầy giáo - lập dàn bài. Bài luận nào cũng phải có dàn bài. Mở bài, thân bài, biện luận, rồi đánh giá và rút ra bài học. Đứa học sinh nào cũng phải trèo cho hết các bậc thang đó, và, nếu đứa nào chệch ra khỏi thang, thằng đó sẽ lạc đề. Còn tôi, hầu như đề tài nào cũng có thể làm tôi náo nức, nhưng bao giờ tôi cũng bị lạc đề, chỉ vì một lẽ đơn giản, là tôi không sao tự kiềm chế được. Tôi không làm sao dứt khoát được, xem đâu là chủ đề, đâu là phụ đề, tôi không nỡ lòng xếp một số người này làm nhân vật chính, còn mấy người khác làm nhân vật phụ. Phép lịch sự, lòng thương hại, hay thậm chí mối hoài nghi nào đó trói tay tôi, cản trở tôi. Nhưng tệ nhất vẫn là tôi không sao đánh giá và rút ra bài học được, thế mà đó lại chính là những mục làm Tiến sĩ Treplin - thầy giáo dạy môn Đức văn của tôi ở Glüserup - say mê đắm đuối nhất. Bất cứ cái gì thầy cũng muốn đánh giá và rút ra bài học cho bằng được. Đánh giá và rút ra các bài học nào từ các mưu mẹo của Odysseus, đánh giá và rút ra bài học ra sao từ tính cách của Wallenstein, đánh giá và rút ra bài học gì từ giấc mơ của tên vô dụng Taugenichts, cũng như đánh giá và rút ra bài học thế nào từ thái độ của đám thị dân trong vụ cháy thành Magdeburg. Bài văn nào không đánh giá và không rút được bài học đều không đáng bàn đến. Trời ơi, các giá trị và bài học! Cho đến tận giờ, chỉ cần nghĩ đến thôi là tôi đã thấy khó thở rồi.
Vâng, lần này đề bài văn là “Một tấm gương sáng”. Tôi lấy ai làm tấm gương sáng cho mình bây giờ? Bố tôi, viên cảnh sát Rugbüll à? Hay họa sĩ Max Ludwig Nansen? Hoặc ông Tiến sĩ Busbeck, làm tấm gương cho lòng kiên nhẫn? Hay anh Klaas? Nhưng ở nhà này, đến tên anh ấy, còn chẳng được nhắc đến nữa là. Tôi phải chọn ai bây giờ, để noi gương, để nối gót, để so tài? Và nếu tôi không chọn bố tôi, thì tại sao? Nếu chọn bác họa sĩ, thì sao lại chọn đúng bác ấy? Linh tính cho tôi biết, rồi đề bài này cũng chỉ nhằm vào chuyện đánh giá cái này cái kia, sẽ thể nào cũng dẫn đến chuyện rút ra bài học này, bài học nọ. Và, do tôi không thể, tôi cũng sẽ không bao giờ đủ sức đánh giá những người tôi quen thân theo kiểu thầy Treplin mong muốn, cho nên tôi đành phải tìm tấm gương ở chỗ khác, vào một thời điểm khác vậy; tốt nhất, tôi thầm nghĩ, có lẽ nên bịa ra một nhân vật làm tấm gương như thế, một tấm gương do tôi nặn ra, thêu dệt ra, tức là một tấm gương không có thật bằng xương bằng thịt. Nhưng làm sao tạo ra được một tấm gương, để tôi còn noi theo? Tôi còn nhớ, dạo ấy tôi nghĩ ra một cái họ cho ông ta trước, là Martens, bịa ra cho ông ta một tên gọi, là Heinz, rồi tôi cho ông Heinz Martens của tôi cụt một tay, quàng lên cổ ông chiếc khăn quàng dài quá cỡ, xỏ vào chân ông ta đôi ủng dân miền biển, đẩy ông ra ở trên hòn đảo cát Kaage hoang sơ, một hòn đảo chẳng rõ vì lý do gì, không những là nơi làm tổ đẻ trứng của tụi ngỗng trời, mà từ dạo hết đánh nhau, còn trở thành nơi diễn tập ném bom cho các phi công trẻ mới nhập ngũ của Royal Air Force, RAF, tức là Không lực Hoàng gia Anh.
Tôi ấn vào tay ông Heinz Martens một cái xẻng cán ngắn, bắt ông ta phải đào hầm trú ẩn, cấp cho ông ta một ít thức ăn thức uống, quần áo để thay hằng ngày; đồng thời, tôi cũng trang bị thuốc lá và súng bắn pháo sáng, dùng để báo hiệu cả cho đám ngỗng đang nằm ấp trứng, lẫn cho đám phi công trẻ bay trên trời. Ông ta thoát chết sau nhiều trận ném bom mà không ai biết, mãi về sau thiên hạ mới phát hiện hóa ra có một người chồm hỗm trên đảo cát Kaage để canh giữ tổ cho ngỗng trời. Chuyện lan ra khắp nơi, đồn ầm lên ở Hamburg, đồn sang cả ở bên London, nhưng cũng chỉ đồn đại trong cánh những người bảo vệ động vật ở Anh quốc là chính thôi, chứ trong đám phi công của RAF mà ông Heinz Martens vẫn bắn pháo sáng lên trời để báo hiệu, thì chẳng mấy ai biết; cho nên, bắn thì cứ bắn, nhưng pháo sáng của ông vẫn không ngăn được việc là sau mỗi trận ném thử bom, ông lại phải cặm cụi đi nhặt vô số những con ngỗng bị bom rán vàng hay thui đen, thịt còn ăn được hoặc không ăn được nữa, nằm la liệt trên đảo.
Cứ nghe thấy tiếng máy bay nổ đều đều ở đằng xa, là ông ta lại nhảy bổ từ trong hầm trú ẩn ra ngoài, bắn vội vài quả pháo sáng bay là là trên khu vực khoanh lại cho ngỗng trời làm tổ; hằng hà sa số ngỗng trời, hốt hoảng bay lên như một đám mây dày đặc, lượn vòng vòng phía trên cao; tiếp theo, ông bắn pháo sáng thẳng đứng lên trời, ở phía máy bay đang bay đến, cho đến khi nghe thấy tiếng bom nổ mới đành dừng tay. Tiếng ngỗng kêu vang trời, tiếng cánh chim vỗ phành phạch. Tiếng vo vo của động cơ máy bay bay trên cao. Ánh sáng run rẩy của những quả pháo sáng lả tả rụng xuống.
Ánh sáng đỏ lừ phản chiếu trong cửa sổ phòng tôi, hắt lên tay tôi, lên cả quyển vở tập làm văn, lung lay, chập chờn trên vách tường phòng tôi. Rồi tiếp theo, bỗng nhiên là tiếng kêu hốt hoảng, là tiếng chân bước hớt hải, cả bên ngoài lẫn phía dưới nhà tôi; các cánh cửa bật toang ra. Sau nữa là tiếng chị Hilke gọi: Cháy, Siggi, cháy, nhanh lên! - Đâu? - Đằng kia kìa! Xuống đây nhanh lên.
Nơi ẩn náu của tôi đang cháy! Kho tàng của tôi đang cháy. Triển lãm tranh của tôi, bộ sưu tập chìa và ổ khóa của tôi đang cháy. Bức tranh các kỵ sĩ, cùng bức Người đàn ông mặc áo choàng đỏ đang cháy. Trên bệ đất cao, sừng sững ngay phía trên bờ ao, chỗ cối xay gió cũ, không còn cánh quạt nào nữa - cỗ cối xay gió yêu quý của tôi - đang bốc cháy. Có phải tiếng còi xe cứu hỏa không? Tôi nghe tiếng còi, nhưng không thấy xe đâu cả, chắc nó đang trên đường đến. Mái vòm phía trên của cối xay đang cháy. Ngọn lửa thò ra từ ô cửa tròn trổ trên cùng, cũng như qua các khung cửa sổ không còn kính, bốc thẳng đứng, phần phật vươn lên cao. Và, dưới mặt nước ao, bóng hình nó cũng đang cháy, có điều yên ả hơn. Cả trên, cả dưới, tàn lửa lả tả như mưa, một chùm pháo sáng màu vàng, màu đỏ, bị gió - gió do chính ngọn lửa sinh ra - đẩy bay ra cánh đồng, về phía Holmsenwarf, Cả hoàng tử Jussupow, cả Nữ hoàng Isabella xứ Bourbon lẫn Hoàng đế Karl V, trong lúc phi ngựa qua chiến trường Mühlberg, đều đang bốc cháy. Hai bức tranh vô hình, cùng bức Người hái táo, bức tranh của anh Klaas, đều đang cháy. Ngọn lửa bốc lên, chụm lại phía trên mái vòm, bị đẩy hơi lệch sang một bên. Ngọn lửa phần phật. Tro bụi rào rào, nền trời xám đục. Mái vòm cối xay gió chực sập, nhưng chưa chịu sập hẳn.
Tôi chạy, và thấy nhiều người khác cũng đang chạy. Từ các trang ấp xung quanh, tắt ngang các bãi cỏ, dọc chân đê, nhiều người đang nhằm đám cháy mà chạy tới, ai cũng muốn đến cho kịp. Họ mới hớt hải làm sao. Họ hối hả lách người qua các hàng rào dây thép gai, nhảy bừa qua mương rãnh, người sau vượt người trước, chỉ cốt sao chiếm được chỗ đứng ngon lành mà đung xem đám cháy.
Vâng, tôi nhớ tôi đã lao theo bậc thềm chạy xuống. Tôi nghe tiếng chị Hilke gọi sau lưng. Tiếng mẹ tôi gọi giật lại. Nhưng tôi đã vọt qua sân, lên con đường lát gạch, vượt ngang nhà kho; tôi chạy dọc theo con mương, mặt nước trong mương phản chiếu đám cháy, bập bùng. Tôi chạy tắt đường, chui qua bụi lau sậy mọc quanh ao cho nhanh, nhưng vừa kịp lên đến lối đi, thì mái vòm cối xay gió sập xuống. Mái vòm đùng đùng cháy, sập xuống, vào bên trong lòng tháp cối xay, đập vào bệ máy xay ở trong đó, hất một chùm sáng gồm vô vàn tia lửa lên cao. Từ lúc này, do gió lùa từ dưới, ngọn lửa bốc lên trên như ngọn lửa trong một ống khói lớn. Tôi đứng sững lại, nhìn ngọn lửa hoành hành, nhìn nó vòn, nó lượn, nó trườn lên cao; không trung tràn ngập một thứ tiếng động, nghe cứ phần phật, phần phật - phải rồi, phần phật, như một tấm vải lớn phần phật bay trong gió. Từ bên trong, một nắm lửa đỏ hồng bắn qua cánh cửa mở ra ngoài, rơi xuống vạt cỏ ướt trước mặt tôi, nghe xèo xèo. Tôi không dùng chân dập nắm lửa. Tôi đờ đẫn đứng dưới làn mưa bụi tro và tàn lửa. Tôi trân trân nhìn đám cháy. Hai người đàn ông định dùng một cây xà ngang đóng sập cánh cửa lại, nhưng không được. Rốt cuộc, cánh cửa bung ra khỏi bản lề, đổ ngang nằm chặn lối vào. Không thấy ai đưa nước đến dập lửa, mặc dù tiếng người gọi í ới khắp xung quanh. Bây giờ thì lửa đã thò ra từ khung cửa sổ phía dưới, và men theo mặt tường phía ngoài, leo lên cao.
Không biết tôi từng đứng nhìn một đám cháy như thế này hồi nào? Hình như lúc mới bắt đầu đánh nhau thì phải, lúc chuồng gia súc nhà ông Holmsen bị cháy và cánh đàn ông chỉ đúng ngoài sân nhìn chứ không làm gì được hơn, chỉ biết giữ làm sao cho đám gia súc vừa được cứu ra ngoài không cắm đầu lao trở lại vào lửa nữa mà thôi. Mải nhìn, tôi không biết vòng người bao quanh đám cháy vừa dãn ra để tránh hơi nóng phả ra từ lúc nào.
Đột nhiên, còn trơ lại mỗi mình tôi. Tôi nhắm mắt lại, không còn cảm thấy cái gì khác, ngoài cơn đau nhức mỗi lúc một tăng, nện mỗi lúc một nhanh trong đầu, cái gì đó lôi kéo, xô đẩy, hết chọc nhoi nhói, lại hắt, rồi đập vào người tôi những luồng gió, lúc nóng ran, khi mát lạnh. Nhưng tôi vẫn không muốn, chưa muốn bỏ cuộc, tôi cưỡng lại ý muốn bỏ chạy đang trỗi dậy, thôi thúc tôi, mỗi lúc một mạnh; mọi thứ đều chao đảo, cỗ cối xay gió bốc lửa, bóng những người hiếu kỳ, và tôi nhìn thấy nơi ẩn náu của tôi xoay tròn, cùng với kho tàng của tôi, với những cái hộp đựng bao nhiêu là ổ khóa, những bức tường treo các bức tranh… quay mỗi lúc một nhanh, quây lấy tôi, các bức tranh dính liền vào nhau thành một tập, tôi đưa hai tay ra phía trước, rồi tôi chạy về phía cửa ra vào, về phía bức tường lửa, về phía tấm màn lửa đang di động ấy. Tôi chui qua cánh cửa lơ lửng, trèo lên bậc thang rộng bằng gỗ, nơi các thùng bột đang cháy, cả cái thang, lẫn cây xà thô thiển cũng rừng rực cháy.
Chói quá, tôi không biết tả thế nào hơn, chỉ biết là chói quá, không nhìn thấy gì nữa; tôi phải lấy cùi tay che ra trước mặt, tôi không thở được nữa, và lúc tôi vừa kịp nghĩ đến cái ròng rọc thì họ, hai người đàn ông, tôi không biết ai với ai, tóm lấy tôi, kéo theo bậc thang xuống dưới, trước khi lôi hẳn tôi ra ngoài trời. Tôi có muốn vùng vằng, uốn éo, ngã lăn ra đất thế nào cũng không ăn thua, họ vẫn không chịu lỏng tay buông tôi ra. Một người nói: cẩn thận, kẻo nó lại chạy vào đấy lần nữa bây giờ, rồi họ ép chặt tôi vào giữa, làm tôi phải kiễng cả chân, há cả miệng. Vòng người hiếu kỳ miễn cưỡng mở ra cho họ xốc tôi lên lối đi dẫn tới bờ ao; đến đấy họ mới chịu buông tôi ra, và tôi nằm gục xuống, rồi theo lệnh của họ, vốc nước vã lên mặt, lên cổ, lên hai tay. Lúc tôi ngẩng mặt lên, họ bật cười, rồi một người nói: Thằng nhỏ cháy trụi hết cả thế kia kìa. Nói rồi, họ quay lưng về phía tôi, nhìn ra chỗ đám cháy.
Cả tôi cũng nhìn đám cháy, hay đúng hơn, tôi nhìn cái bóng rung rinh của đám cháy trên mặt nước, nhưng chẳng được bao lâu. Lúc lính cứu hỏa từ Glüserup kéo đến; lúc họ thả cuộn ống dẫn nước, bê máy bơm đến bên bờ ao, thì tôi đứng dậy bỏ đi, chẳng buồn quay lại nhìn nữa, để mặc cối xay gió lại cho họ, cùng đám cháy đang chặn không cho bóng tối từ ngoài cánh đồng lan tới. Tôi bỏ đi, vượt qua cái ao, băng qua rặng liễu, bỏ qua cả đàn gia súc đứng gần như bất động rồi, mà cái gì đau nhoi nhói vẫn không dứt, vẫn lan từ dưới lên, chạy theo sống lưng lên hai bên thái dương, xuyên vào người tôi, lúc nóng, lúc lạnh. Tôi chợt đứng sững lại, bởi văng vẳng đâu đó tiếng bố tôi. Ra là ông cũng đang ở đấy; tiếng ông ra lệnh cho ai làm gì đó. Chỉ thế thôi. Cả các cột hàng rào, cả đám gia súc, và chính cả tôi, đều ngả bóng, lung lay, lẩy bẩy. Tôi nhằm hướng Bleekenwarf mà đi, hoàn toàn tự nhiên, chẳng nghĩ ngợi gì, như thể mọi người ở đó đang chờ tôi. Gió mạnh dần. Có tiếng kêu ồ lên ở phía đám cháy, sau lưng tôi; không biết có chuyện gì vừa xảy ra, nhưng tôi không ngoái nhìn lại nữa. Trên đầu tôi, một làn khói bị gió ấn xuống, bay là là, khá thấp, trải dài ra, vương vào bờ giậu ấp Bleekenwarf. Hình như họ đã bắt đầu phun nước dập lửa. Mặt đất tôi đang đi bỗng nhô lên một ít. Thì ra, tôi đã đến chỗ cây cầu lát gỗ.
Tôi dừng lại, nhưng bác họa sĩ đã nhìn thấy tôi từ lâu. Bác lặng lẽ đứng ở đầu cầu bên kia, miệng vẫn ngậm cái tẩu thuốc đã tắt, thõng xuống trước cằm, hai tay đút sâu trong túi áo choàng, vạt áo khẽ phe phẩy theo gió dưới ống chân. Bác đứng im phăng phắc, trông như một phần của cái bờ giậu nhà bác.
Cháu cứ lại đây, bác nói, lại đây với bác.
Và tôi tiến về phía bác. Bác khẽ khàng đặt tay lên vai tôi, và hai bác cháu cùng nhìn về phía cối xay gió đang cháy.
Tháp cối xay sắp đổ chưa? Tôi nhớ đến Người Bạn Lớn của cối xay gió, đến ông già có các ngón tay sạm nâu, hung hung đỏ, ông già nhổm ngồi dậy, lừng lững bước ra từ bức tranh ấy. Không phải là trong một buổi chạng vạng tối như thế này, lão định búng một cái cho cỗ cối xay gió quay là gì? Một mặt của tháp cối xay rã ra, đổ gục xuống, làm tóe lên một đám tàn lửa lớn. Lúc này, sự thân thiết của bác, sự điềm tĩnh của bác họa sĩ mới đáng quý đối với tôi biết chừng nào.
Cháu cứ đứng yên đấy, Witt-Witt, bác họa sĩ nói. Hay cháu có chuyện gì? Cháu muốn nói gì với bác à? Cháu cứ đứng yên đấy đã.
Làm sao bác có thể đứng gần như bất động như thế mà nhìn cỗ cối xay gió cụt cánh đang cháy được, mặc dù chính bác cũng không hề dửng dưng với nó tí nào. Có lẽ phải đứng xa đám cháy, ở chỗ này, trên cây cầu gỗ này, bác mới chịu được, bác mới nén lòng chịu được. Biết đâu, lúc nãy bác đã chẳng chạy đến gần đám cháy, rồi sau đó, mới quay về đây. Tôi không biết. Nhưng, trong tưởng tượng của tôi, rất có thể đã như thế lắm.
Làn khói bay qua đầu bác cháu tôi trông giống như khói tàu thủy phun từ ống khói. Đôi lông mày bác họa sĩ nhíu lại, ánh mắt không nhìn đi đâu khác. Ông đứng như trời trồng trên cây cầu gỗ. Đến lúc này thì ngôi tháp cối xay gió sập hẳn xuống; nó gãy đôi ở giữa, nghiêng xuống, đổ về phía lối đi, và lúc đập xuống mặt đất thì tách ra, phần mái vòm lăn tròn, và phần còn lại là các cụm lửa nhảy tưng tưng trên mặt đất; các mảng lửa đỏ lừ lăn theo dốc xuống dưới, một số rơi xuống ao, xèo xèo trước khi tắt, những mảng khác lăn đi, mỗi lần đập vào đâu lại rũ tàn lửa ra tứ tung tới đó. Làn khói chuyển màu, sang màu lưu huỳnh, đổi cả mùi, thành mùi cay sè, làm ngạt thở. Bây giờ gió lại phả cả khói vào mặt bác cháu tôi. Một lát sau, bác họa sĩ bảo tôi: Tàn rồi, Witt-Witt ạ. Bác cháu mình vào nhà thôi. Rồi, bác đẩy tôi đi trước, bác theo sau, hai bác cháu chui hàng rào, xuyên khu vườn vào xưởng vẽ.
Bác bật đèn, mang kính, rồi nâng mặt tôi lên xem. Cháu nhảy vào lửa, phải không? Lông mày, tóc tai cháy sém hết thế này này, cứ như vừa nhảy vào lửa vậy. Cháu có bị sốt không? - Tôi nhún vai. Còn bác, cúi nhìn rất lâu vào mặt tôi một lúc, rồi nói với vẻ lo lắng:
Cháu nằm xuống đây một lúc, Siggi; chỉ một lúc thôi, bác đi lấy cái gì cho mà uống. Bây giờ được cốc sữa chua chắc là tốt. Rồi bác ân cần đưa tôi đến nằm xuống một trong năm mươi lăm bộ giường nằm kê trong xưởng vẽ, là những bộ giường nằm, mà suốt một dạo, tôi cứ đinh ninh là kê sẵn ở đó cho bao nhiêu là người vẽ trong các bức tranh của bác về đêm sẽ ra nằm nghỉ; nào người Slovene, nào các vũ công ngoài bãi biển, nào các nhà tiên tri da vàng, nào những người làm đồng bị gió thổi còng lưng, cũng như đám thương gia xảo quyệt màu xanh lá cây. Đúng như thế, bác họa sĩ đã có lần nửa đùa nửa thật, bảo tôi như thế, đám người phát huỳnh quang trong bóng tối mà bác đưa vào tranh, cứ về đêm lại ra đây ngủ. Ai nhăn mặt tỏ ý không tin những chuyện như thế, bác thường ít gần; ai biết tin, thì bác hay ưa.
Vâng, bác kéo tấm vải phủ giường nằm ra, dưới tấm vải che là một tấm bạt đã phai màu phủ bên trên đệm rơm. Tôi ngồi xuống giường, bác Max Ludwig Nansen nhẹ nhàng nhấc hai chân tôi lên giường, đắp chăn lên mình tôi, rồi nhìn tôi, và làm ra bộ nghiêm: Bây giờ có không muốn, mày cũng phải nằm yên ở đây. Nghe chưa? Nằm yên chờ bác.. Nghe không nào? Bác đi một lát thôi. - Nhưng bác để đèn sáng cho cháu nhá. Bác gật đầu: Được rồi, bác để đèn, kẻo mày lại trốn đi mất.
Thế là, nghe lời bác, tôi ngả lưng nằm hẳn xuống; bác ân cần kê dưới đầu tôi cái gối bọc vải gai. Lúc bác đi ra, trông vẻ mặt bác khá là nghiêm nghị; tôi lắng nghe tiếng bước chân bác do dự đi ra cửa; cửa vừa mở ra, thì một luồng gió ập vào, lật lật tập giấy ghi chép xếp hờ trên bàn làm việc, đôi tờ bị thổi bay là là xuống đất. Tôi không nhìn thấy bác, nhưng tôi cảm thấy hình như bác đứng lại ngoài cửa sổ, ngoái nhìn vào chỗ tôi đang nằm một lượt nữa, rồi mới đi hẳn sang căn nhà chính. Thế đấy.
Tôi phải định thần, sắp xếp lại mọi thứ trong đầu, thì mới nhớ được chuyện gì đã xảy ra sau đó, âu đó cũng là lần đầu, mà cũng khá lâu rồi. Thật ra, lúc đó tôi chỉ định nằm chờ thôi. Song, nằm trong chăn mà người tôi cứ run lên. Tôi chưa bao giờ bị như thế, nên tôi không rõ tại sao. Tôi còn nhớ, đèn trong phòng đủ sáng, căn phòng lại quen thuộc với tôi, và tôi biết thời gian tôi được nằm ở đây chỉ có hạn, tức là, cho đến lúc bác họa sĩ mang cốc sữa trở lại đây là cùng. Nằm ở đấy, tôi không có cảm giác mình là khách. Vâng, bây giờ nhớ lại, tôi thấy tôi đang nằm trên giường lót rơm, kéo tấm chăn màu nâu che kín đến tận cằm, và xung quanh tôi treo toàn những bức tranh quen thuộc đối với tôi. Rồi sao nữa? Tôi không rõ tôi mơ hay ngủ, tôi không nhớ đang tỉnh mà chuyển sang mơ thì như thế nào. Hay là ở tôi, đã không có bước chuyển từ tỉnh sang mơ đó?
Hình như mọi sự đã bắt đầu thế này: tự dưng, tôi cảm thấy như có người đang theo dõi tôi, không những họ theo dõi mà thôi, họ còn nhận ra tôi là ai nữa kia. Mấy người Slovene đang ngồi quanh cái bàn tròn, mắt ai nấy lờ đờ, mãn nguyện, họ có vẻ đã ngấm rượu rồi. Mấy tay nhà buôn chỉ nhăm nhăm để mắt đến một bà già đi ngang, nhưng không thèm nhìn đến họ, những người làm đồng bị gió thổi còng cả lưng thì đang hối hả làm, bởi cơn giông sắp kéo đến. Còn đám các vũ công ngoài bãi biển? Đám các nhà tiên tri? Đám này chỉ mải chuyện trò với nhau.
Chắc chắn phải là hai gã thương nhân đổi tiền, hai người có hai đôi bàn tay phơn phớt màu vàng pha màu lục và hai khuôn mặt trông như đeo mặt nạ của họ. Họ nhìn tôi. Họ không còn nhấm nháy cho nhau qua khóe mắt về người đàn ông đang ngồi gục đầu trước mặt họ nữa; vẻ thất vọng của ông này không làm họ động lòng, nỗi đau đớn của ông này chỉ có lợi cho họ. Tôi có cảm giác, họ ngước mắt nhìn lên, và trong đôi mắt xam xám nhạt của họ không còn chút cao ngạo nào nữa. Tôi không giải thích nổi điều đó, cũng chẳng muốn nghe ai giải thích; bức tranh dường như co rút lại; cơn đau khá rõ rệt và cái gì đó nhoi nhói kẹp hai bên thái dương tôi, một đốm sáng lắc lư di chuyển về phía bức tranh, nó xuất hiện từ đâu đó rất xa, rất sâu ở bên trong; mấy gã đổi tiền dường như nín thở; tôi nắm chặt mép chăn bằng hai tay, bởi vì bây giờ tôi đã rõ là một đốm lửa nhỏ, từ phía sau, đang tiến đến gần, mỗi lúc một gần, không gì ngăn được. Lúc đó, ở trong tôi còn cái gì lớn hơn cả mối khiếp sợ ấy nữa không? Nỗi kinh ngạc ư? Sự yếu đuối? Choáng váng? Mối sợ ấy bắt tôi nằm im, mở mắt ra mà nhìn thôi, ít ra cũng mất một lúc. Tôi chỉ còn biết mỗi một điều là bức tranh đang ở đó. Le lói một đốm lửa. Nó chính là nỗi khiếp đảm. Có lẽ đó cũng là tất cả rồi. Và tôi đã chẳng nghĩ xa xôi gì khi tôi tung chăn, vùng đứng dậy, bụng bảo dạ, tôi phải lôi bức tranh xuống, lật mặt sau lên, tháo tấm bìa, và lôi hai gã đổi tiền ra khỏi khung. Giấu họ vào đâu cho an toàn bây giờ? Nhét xuống dưới gối? Cho vào tủ?
Tôi kéo áo sơ mi ra khỏi quần, quấn bức tranh quanh người tôi - giống như tôi đã quấn bức tranh Người tạo mây dạo nào - thả áo xuống, rồi lại nằm xuống giường, và bụng bảo dạ, mình sẽ chẳng hé răng nói với ai, đến bác họa sĩ cũng không. Tôi chỉ muốn giấu bức tranh vào chỗ nào an toàn thôi, tôi muốn đưa nó đi xa, đến một nơi mà chính tôi cũng chưa biết là nơi nào, miễn là xa hẳn chỗ này, nơi mà nó có thể bốc cháy bất cứ lúc nào này. Bức tranh áp lành lạnh vào da tôi. Và ở đó, nó thật an toàn biết mấy, tôi nghĩ bụng, rồi nhắm mắt lại, để khỏi phải nhìn các bức tranh khác. Liệu tôi có nên nói với bác không? Liệu bác có tin những gì tôi sẽ nói với bác ấy không? Hay là tôi nên trốn đi? Nào tôi có muốn giữ bức tranh cho mình đâu, về sau này cũng vậy, nào tôi có muốn chiếm đoạt cho mình các bức tranh tôi giấu biến đi đâu, tôi đem chúng giấu đi, chỉ vì tôi biết chúng nó bị đe dọa mà thôi. Tôi chỉ muốn tự tay che chở chúng, chỉ tạm một ít lâu thôi. Sau bấy nhiêu chuyện tày trời như thế, tôi không thể chờ đến lúc các bức tranh, trong một tích tắc hớ hênh, không có ai canh giữ nào đó, sẽ bốc cháy. Tôi phải ra tay làm cái gì đó. Vả lại, tôi cũng phải nghe theo những gì mà mối sợ hãi trong lòng tôi mách bảo tôi chứ. Sai lầm của tôi có lẽ chỉ nằm ở chỗ, tôi nhìn ra quá sớm các mối nguy đe dọa bức tranh, và tôi cũng lo bảo vệ cho nó sớm quá.
Rốt cuộc, tôi không bỏ đi, tôi vẫn nằm nguyên một chỗ, chờ đến lúc bác họa sĩ quay lại. Bác loay hoay mãi mới đóng được cửa. Bác ngồi xuống bên giường tôi nằm. Đây, cháu uống đi. Tôi vừa uống vừa nhìn bác qua mép cốc. Có gì khác ở bác ấy không nhỉ? Nãy giờ bác còn làm gì nữa, hay chỉ đi lấy sữa thôi?
Trông bộ dạng cháu thật thảm hại, Siggi ạ, bác nói. Nhưng ở đây cháu không phải sợ gì nữa cả. Cháu có bị sốt không? Nằm nghỉ đi một lúc, rồi bác đưa cháu về bên ấy.
Bác lấy chai rượu từ trên nóc tủ xuống, dùng hàm răng rắn chắc, hơi ngả vành, cắn mở nút chai; bác rót ra ly, ngửa cổ làm một hơi, rồi, rót thêm ly nữa nhưng chưa uống ngay; đoạn, bác châm tẩu. Nhìn qua cửa sổ ra xa một lúc, bác nói: Lửa tắt rồi, Witt-Witt ạ; họ dập được lửa rồi. Sáng ra, sẽ không còn cái cối xay gió cũ của bác cháu mình nữa. Cháu vẫn hay ra đó, đúng không? Cháu còn hay trèo lên gác trên nữa mà. Sao cháu lại bỏ đám cháy mà đi?
Tôi buồn tiểu, nhưng cứ nằm cứng đờ ra đó, không dám cựa quậy, bởi bức tranh chợt đè lên tôi mỗi lúc một nặng, và nỗi sợ mới nổi lên không cho tôi nhúc nhích: Bây giờ bác ấy mà phát hiện ra bức tranh bị mất thì chết, nếu bác mà tìm thấy nó trong người tôi thì bác sẽ làm gì? Tôi thầm nghĩ và liếc mắt nhìn lên cái khung trống hoác, mà tôi chỉ vừa kịp treo lại chỗ cũ. Liệu bác có cấm tôi, không bao giờ được bước chân vào xưởng vẽ nữa không? Liệu mọi sự sẽ chấm dứt ở đây không? Cái khung treo hơi bị lệch, do lúc nãy tôi vội quá; tấm chăn màu nâu thô thiển đè nặng lên tôi, như thể muốn khai tôi ra với bác. Đột nhiên tôi cảm thấy nóng quá, cái nóng nổi từng con tràn qua người tôi, khiến tôi không thở đều được nữa. Và tôi buồn đi tiểu.
Hai vòi phun, bác đứng bên cửa sổ, nói với tôi: bây giờ họ dùng cả hai vòi phun nước, cứ làm như còn cứu được cái gì nữa không bằng. Đêm nay thể nào cũng mưa, họ cứ để mặc cho mưa dập nốt lửa cũng được chứ gì. Hả, cháu thấy đúng không nào? - Vâng.
Bác quay người lại, bước những bước ngắn từ cửa sổ về chỗ tôi, trong khi tôi chỉ ngửa mặt nhìn lên trần, và nghĩ bụng, bác đi gì mà lâu thế không biết. Nhưng, rốt cuộc, bác cũng đến sát bên tôi. Bác lại ngồi xuống bên mép giường, đặt ly rượu xuống đất, thở mạnh. Thôi bác biết gì, bác cứ nói, tôi nghĩ thầm, bác phát hiện ra cái gì rồi nào.
Bác lôi chiếc khăn tay to đùng, sặc mùi thuốc lá trong túi ra, chấm khô mồ hôi trên trán và hai bên thái dương cho tôi: Witt-Witt, bây giờ cháu cứ yên tâm, bác nói. Sau này, rồi cháu khắc thấy, những gì bác cháu mình đã làm ra, đã thu gom được, sẽ không biến nhanh khỏi đời này đâu. Các dấu vết của bác cháu mình, chúng sẽ lưu lại rất lâu, lâu hơn là ta tưởng. Mọi thứ sẽ không dễ gì mà biến nhanh đi được. Cháu cứ nghĩ mà xem nhá. Ông già Frederiksen, hồi xưa sống ở đây này, bác không biết gì mấy về ông ấy. Thế nhưng, bác biết là cứ nửa năm, ông ấy lại đo xem con trai ông ấy lớn lên bao nhiêu, ông ấy đo, rồi lấy dao khắc lên khung cửa đây này; chỉ ít thế thôi, nhưng dấu vết ông ấy vẫn còn để lại ở đây. Bác gõ gõ ngón tay lên đùi tôi, rồi nói tiếp: Không phải cứ phải nhìn thấy lại cái gì đó, thì cái đó mới còn đâu; có những thứ, có lẽ người ta phải mất đi, rồi sau đó mới sở hữu chúng được, sở hữu mà không phải lo lắng gì nữa. Bác cứ nhớ lại… thì phải bảy trăm bức tranh cả thảy, cũng có thế tám trăm. Từng ấy bức tranh sẽ vẫn mãi mãi là tranh của bác, dù cho bác không còn nhìn thấy chúng tận mắt nữa. Thế còn cháu? À, bác biết, cháu có cũng khá nhiều, chứ không ít.
Bác nói vậy là thế nào, tôi giật mình hỏi. Còn bác, không chút trách cứ tôi về câu hỏi giả vờ giả vịt của tôi, bác cứ thủng thẳng nói tiếp: Đấy là chỗ giấu khá tốt của cháu. Cháu cũng giấu được nhiều thứ quý ở trên đó. Đôi lúc, bác rất ngạc nhiên; cũng có lúc bác rất vui, chỉ muốn cho cháu thêm vài thứ!
Bác lên trên đó rồi à? Bác biết à? - Bác biết. Bác cũng lên đó rồi, nhiều lần là khác. - Người đàn ông khoác áo choàng đỏ? - Phải, bác gặp lại cả Người đàn ông khoác áo choàng đỏ ở đấy, cùng nhiều thứ khác. - Làm sao bác lại biết được nhỉ? - Cháu cứ nằm yên đấy. Cháu thấy không, bác để hết cho cháu, cả hai bức tranh vô hình cháu lén lấy dạo nào. Bác đã định bụng, lúc nào đấy bác sẽ treo lên đấy cho cháu một hai bức. Treo lén thôi.
Bố cháu đốt đấy, bác ạ, tôi nói, bố cháu chứ không ai khác vào đấy cả. Rồi bố cháu sẽ còn làm mãi cho mà xem, bố cháu không nghĩ đến cái gì khác nữa, bố cháu chỉ chờ có dịp thôi.
Yên nào, cái thằng này! Cháu chỉ được cái nói nhăng nói cuội.
Bố cháu đấy. Ở sau nhà kho. Ngoài bãi biển. Rồi bây giờ nữa. Cháu biết mà, giấu ở đâu, bố cháu cũng tìm được, cái gì bố cháu cũng tìm được. Bố cháu không để yên đâu.
Rồi bác cháu mình sẽ tìm chỗ giấu mới cho cháu.
Nhưng bố cháu vẫn tìm được cho mà xem.
Thì ta tìm nhiều chỗ để giấu. Lại thay đổi, lúc chỗ này, lúc chỗ khác. Nào, bây giờ cháu phải nằm yên đã. Mà thả tay bác ra đã nào.
Bác Nansen, bác phải làm gì đó mới được, tôi nói. Chỉ có bác mới làm được thôi. Bố cháu dạo này hơi thế nào ấy, hoặc có thứ bố cháu không biết. Cứ thấy bố cháu đứng yên, không nói gì, là cháu lại lo rồi.
Bác biết bố cháu lâu hơn là cháu, bác họa sĩ đáp nhẹ nhàng. Chắc chắn không phải bố cháu châm lửa đốt cối xay gió đâu. Cháu không được nghĩ như thế. Bây giờ cháu muốn uống thêm gì không nào?
Nhưng cháu vẫn nói với bác là phải giấu hết mọi thứ, không cho bố cháu biết.
Bác họa sĩ ấn tôi nằm xuống, và lúc này, qua ánh mắt bác nhìn tôi, tôi biết, bác còn biết nhiều hơn tôi tưởng. Lúc bác nói, trong giọng bác không thoáng chút vẻ thất vọng, hay buồn rầu nào, giận dữ lại càng không: Tự bác, bác sẽ canh chừng cho mấy gã đổi tiền; cháu bỏ họ ra đây cho bác.
Mới đầu, bác tưởng bức tranh nằm dưới giường, nên bác cúi người nhìn xuống, sau đó bác nhìn tôi với vẻ lo lắng: Nào, để bác giữ, thì bức tranh sẽ an toàn hơn. - Có đốm lửa, tôi đáp, có đốm lửa đang đến gần bức tranh đấy, bác ạ. - Được rồi. - Cháu nhìn thấy rất rõ mà. Cháu nhận ra ngay mà. - Được, bác tin cháu, nhưng bây giờ cứ bỏ bức tranh ra đây cho bác cái đã.
Bác dùng hai tay kéo tấm chăn trên người tôi ra, nắn bóp khắp người tôi, rồi lôi áo tôi nhét trong quần ra, và không cho tôi làm gì, bác bảo tôi: Buông tay ra nào, để đấy mình bác làm được rồi. Và, như tôi đã nói, trong giọng bác, không gợn tí thất vọng nào, không một thoáng bực bội nào.
Lúc bác với tay lấy khung bức tranh xuống, hai cổ tay bác - thò ra từ tay áo rộng - trông đến gầy gò và nhợt nhạt. Bác không nói gì, lồng bức tranh vào khung, rồi treo nó vào chỗ cũ.
Cháu có đói bụng không? - Không ạ. - Nếu thế thì đúng là cháu bị làm sao rồi, bác mỉm cười nói. Một lát sau, bác nói tiếp: Witt-Witt ạ, cháu phải quen dần với chuyện là ở đời, đôi khi ta cũng phải chịu tổn thất. Có thể như thế lại tốt cũng nên. Ta không được phép thỏa mãn, hài lòng với cái ta đã có. Ta phải biết cách luôn luôn bắt đầu lại từ đầu. Ta mà làm được như thế, thì ta còn có hy vọng đi được xa hơn nữa. Bác chưa bao giờ hài lòng với mình cả, Siggi ạ. Và, bác cũng khuyên cháu, nếu được, thì đừng hài lòng, đừng thỏa mãn với mình bao giờ, cháu ạ.
Bác chợt giật mình. Bác đắp chăn cho tôi: Lạy Chúa, cái thằng nhỏ này, trông mặt mũi mày thế kia kìa. Hay để bác đưa cháu về bây giờ. - Nhưng cháu muốn ở lại đây cơ, tôi đáp. - Không ở lại đây được. - Cháu vẫn muốn thế cơ. - Thôi được rồi, cháu ăn tối với bác, rồi bác đưa cháu về nhà.