Giờ Đức văn

Lượt đọc: 151 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 4
LỄ SINH NHẬT

❊ ❊ ❊

Mỗi lúc một cao hơn, nhanh hơn, dốc ngược hơn lên. Mỗi lần đẩy lại mạnh hơn. Mỗi lúc một tới gần tán cây rộng và rối bù của cây táo già ông Frederiksen trồng từ hồi ông ấy còn trẻ. Gió rít vù vù đến ghê, khi cái đu, dây treo căng rung bần bật, quăng trở lại từ trong tán cây xanh rậm rạp cùng tiếng kêu ken két phát ra từ vòng treo; bóng cành cây cũng loang loáng lướt nhanh trên tấm thân vươn ra phía trước của Jutta đang cô ngồi giữ thăng bằng trên tấm ván của cái đu dây. Cái đu đưa Jutta bay lên cao, thật cao, dừng lại trên không giây lát, rồi đổ xuống, văng về phía ngược lại. Và trong lúc cái đu văng ngược lại, thì tôi dùng tay, nhanh như chớp, hoặc chạm vào tấm ván, hoặc vào eo hoặc vào mông Jutta mà đẩy thật mạnh - lúc theo chiều xuôi, lúc theo chiều ngược lại - về phía tán cây táo bên trên. Như được phóng lên từ bệ phóng, Jutta bay vụt lên cao, hai chân dạng ra, váy áo phần phật và gió ôm lấy nó, hất tóc nó bay ra sau, làm gương mặt vốn đã gầy gò và nghịch ngợm của nó càng thêm gầy gò và nghịch ngợm hơn. Nó muốn lấy đà làm sao để cái đu quay hẳn được một vòng kia, tôi cũng ra sức đẩy tới, giúp nó tăng đà - nhưng không được. Vâng, hôm ấy - vào buổi lễ sinh nhật sáu mươi của ông Tiến sĩ Busbeck trong vườn nhà bác họa sĩ - ngay cả lúc Jutta nhổm dậy, đứng nhún hai chân trên tấm ván của cái đu dây, hai chúng tôi vẫn không làm cho cái đu quay trọn vòng, chả biết do cành cây cong quá hay do đà quay không đủ mạnh. Đến lúc Jutta nhận ra tôi không đủ sức đẩy thêm đà cho nó, nó lại ngồi xuống và vừa mỉm cười với vẻ bất cần, vừa nhẹ chao qua chao lại cùng cái đu. Trong lúc chao qua chao lại như thế, nó chằm chằm nhìn tôi một lúc lâu, theo một lối chẳng ai dạy, rồi đột nhiên quặp tôi vào giữa hai cẳng chân khẳng khiu và rám nắng của nó. Tôi không còn cảm giác nào khác ngoài cảm giác gần gụi của Jutta. Vâng, tôi cảm thấy sự gần gụi của nó và nó cũng biết tôi đang cảm nhận điều đó; tôi dám chắc như vậy, nên bụng bảo dạ, cứ để yên xem sao. Nhưng, rồi chẳng có gì thêm nữa cả: Jutta hôn tôi, một cái hôn hờ hững, đôi môi khô không khốc, rồi buông chân khỏi người tôi, tuột khỏi cái đu và chạy về phía ngôi nhà, nơi bác Ditte đang nhô hẳn người ra từ một trong số bốn trăm khung cửa sổ và ngửa tay chìa mấy miếng bánh bơ ra ngoài, như thể chìa cho chim ăn vậy.

Tôi vớ cây gậy của tôi rồi chạy theo Jutta. Chọn đường tắt cho nhanh, tôi tìm cách nhảy qua các luống hoa và mấy lùm cây thấp. Nhưng xem chừng, hai đứa tôi có vội cũng vô ích thôi, bởi trước khi Jutta hay tôi kịp đến bên cửa sổ, đã thấy thằng Jobst nhanh như chớp từ căn nhà vườn mái rạ vọt ra, hay đúng ra là lăn ra; cái thằng quỷ sứ, ngón tay cũn cỡn, môi trề, thân hình béo mập nhưng không kém nhanh nhẹn ấy, sỗ sàng giẫm đạp lên đám hoa anh túc và hoa cúc nở muôn màu muôn sắc để chạy đến cửa sổ trước chúng tôi, giật mấy miếng bánh từ tay bác Ditte rồi nhét ngay hai miếng vào túi, miếng còn lại cho vào mồm, nhắm mắt nhai ngon lành. Cứ trông bộ dạng nó là đủ biết: nó sẽ không đời nào nhả mấy miếng bánh vừa giành được ra nữa đâu. Bao giờ cũng vậy, cái gì đã lọt vào tay nó thì chẳng bao giờ nó nhả ra. Bởi thế, bác Ditte không buồn đe nó làm gì cho tốn công, bác ngoắc ngoắc tay gọi chúng tôi vào trong nhà.

Tôi cũng muốn đuổi kịp Jutta trong hành lang tối om om cơ đấy, nhưng nó đã chạy lên trước mất rồi, tôi gọi, nó cũng chẳng thèm thưa và cứ thế mở cửa, trong khi tôi vẫn còn mò mẫm giữa lối đi, hai bên xếp nào chổi, nào xô cùng chậu, chưa kể ngổn ngang rương với thùng. Nó để cửa mở. Quay người lại, dù chỉ một lần, nó cũng chẳng buồn quay. Sự yên ắng ở xung quanh khiến tôi đâm nghi ngại; tôi lặng lẽ tiến về phía ngưỡng cửa, và, bởi trong đầu cứ tưởng phòng khách đang trống trải, chẳng có ai ở đó nên tôi đâm hoang mang, trong bụng đã nghĩ thầm, mọi người không ăn sinh nhật chỗ này thì ăn ở đâu mới được chứ; thế nhưng, lúc rụt rè bước vào trọng và quay người nhìn ra xung quanh thì tôi giật mình, mà chắc rồi ai, cũng như tôi, tưởng trong phòng không có ai, hẳn cũng sẽ phải giật mình thôi, bởi vì ngồi bên chiếc bàn hẹp và dài dằng dặc bày tiệc sinh nhật là một lô sinh vật biển già nua đang lặng lẽ ngồi uống cà phê và trang nghiêm tọng vào miệng, rồi gắng gượng nuốt cho trôi vào bụng nào bánh ga- tô khô không khốc, nào bánh hạnh nhân đến bánh nướng màu vàng nhạt. Tôm hùm, cua bể, tôm he đủ cả, đều đang chồm hỗm trên những chiếc ghế kiêu căng, mang đầy nét chạm trổ của trang trại Bleekenwarf này, chốc chốc lại nghe tiếng vỏ giáp va chạm nhau khô khốc, tiếng lách cách vang lên mỗi khi đôi càng cua xương xẩu nào đấy đặt ly tách xuống đĩa đặt trên bàn, và đôi con cũng lướt nhìn tôi bằng những cặp mắt thô lố, lờ đờ, bất động và hờ hững, vâng - tôi phải nói trắng ra như thế - sự hờ hững bất hủ của các bậc thần linh. Có điều đám sinh vật biển im lặng đang tụ tập ở đây trông sao thật giống những người tôi quen: hai con trông giống ông bà Holmsen ở Holmsenwarf, một con khác tôi cầm chắc là mục sư Treplin và thầy giáo Plönnies, rồi tôi nhận ra bố tôi và thậm chí cả chị Hilke cùng anh Addi nữa, và người ngồi bên con cá hồi dịu dàng trông rất giống ông Tiến sĩ Busbeck lại chính là mẹ tôi - với gương mặt dửng dưng và búi tóc cao nghiêm nghị, trông bà hệt như một con cá mú vậy. Duy chỉ có một người, vui vẻ hoạt bát, sinh động như chú cá đèn lồng - là bác họa sĩ mà thôi.

Cũng chính bác họa sĩ là người bỗng ới to: Có ai dọn chỗ cho bọn trẻ ngồi ăn bên chiếc bàn con với nào; bác ấy vừa nói thế thì bác Ditte đã từ đâu ra đứng ngay bên tôi rồi; bác kéo tôi đến chiếc bàn con và dịu dàng ấn tôi ngồi xuống một chiếc ghế kiểu cổ; chiếc ghế bắt tôi phải ngồi yên và thẳng người, bởi nếu không, mặt ghế hơi nghiêng nghiêng sẽ làm tôi trôi tuột xuống đất ngay. Bác Ditte đón cây gậy gắn đầy đinh ghim từ tay tôi đặt lên bậu cửa sổ, rồi bảo Jutta rót sữa cho tôi; đoạn bác quay đĩa bánh, vừa khéo một góc về phía tôi. Thế nhé, cháu tự lấy bánh mà ăn nhé, bác dịu dàng nói rồi xoa xoa gáy tôi, trước khi bác quay lại cái bàn dài, ngồi xuống và biến ngay thành một con cá thờn bơn giữa bầy sinh vật biển do tôi tưởng tượng ra đằng kia.

Tôi chẳng thiết gì đến bánh với sữa. Tôi nhìn không chớp mắt vào Jutta lúc này đang ngồi đối diện với tôi và bỗng dưng tôi muốn nó để ý đến tôi tới mức tôi thầm ra lệnh cho nó phải nhìn sang tôi, nhưng thấy âm thầm ra lệnh như thế chẳng ăn thua gì, tôi bèn đá vào chân nó dưới gậm bàn, đá một lần, hai lần; nó rụt chân lại - không phải vì trách cứ gì tôi, mà với vẻ bất cần vì dửng dưng, chẳng màng gì đến tôi. Tôi không rõ nó đang nghĩ gì, mơ gì hay cân nhắc những gì trong đầu, tôi chỉ nhìn sâu vào đôi mắt màu sẫm, hờ hững xa xôi lấp lánh những tia nắng của mặt trời đang lặn xiên xiên chiếu vào; tôi lẳng lặng nhìn theo đôi răng nanh chắc nịch của nó cắn sâu vào miếng bánh, trong khi ánh mắt lại trượt qua người tôi hướng vào phòng khách, nơi mà - ngay cả lúc này - sự yên tĩnh tích tụ từ nhiều năm và nỗi cô đơn của mùa đông vừa qua vẫn còn ngự trị.

Cái váy kẻ ca rô sọc trắng sọc đỏ của Jutta, cánh tay gầy gò cùng mái tóc rối của nó, đôi môi nhợt nhạt, mà bất cứ lúc nào cũng có thể cất tiếng bác lại những lời vừa thốt ra - làm sao mà tôi có thể dễ dàng nhớ lại những kỷ niệm đó đến thế, cũng như tôi bây giờ chẳng phải gắng sức mấy để nhớ lại cảnh nó ngồi trước mặt tôi bên chiếc bàn con và, kể cũng lạ, làm sao tôi có thể nhớ lại nỗi ngạc nhiên của tôi lúc ấy dễ dàng đến thế - nỗi ngạc nhiên làm sao Jutta lại có thể quên cái đoạn hai đứa chơi đu cũng như đoạn tôi gắng sức giúp nó đu lên cao nhanh đến vậy. Song, Jutta là đứa như thế: nó vừa chơi với mình đấy, vừa cùng bè cùng cánh với mình đấy, vừa vào hùa với mình đấy, nhưng ngay lát sau nó đã lại trở nên lạnh lùng với mình rồi. Dù biết nó như thế, tôi vẫn không thể ngờ nó - răng vẫn còn cắn hờ vào miếng bánh nướng - bỗng nhiên đứng dậy rồi cứ thế đi xuyên qua gian phòng rộng đến bên bàn tiệc sinh nhật và ghé vào tai anh Addi Skowronnek thì thầm cái gì đó rất nhanh - nhanh đến mức anh ấy cùng lắm chỉ kịp ngạc nhiên chứ không kịp phản đối gì được hết - rồi lại cúi người đi về phía cửa và mất hút, đến vẫy tay cho tôi, nó cũng chẳng thèm vẫy.

Đã thế thì tôi không buồn bám theo nó nữa. Tôi lấy phần bánh của tôi vào đĩa của nó, rót sữa vào ly của nó. Tôi chuyển sang ngồi vào ghế của nó và cũng chẳng thèm ngó qua cửa sổ nữa kia, mặc dù nhìn qua cửa sổ tôi chắc chắn sẽ phát hiện ra nó ngoài ấy, trong vườn, trước bờ giậu, trên chiếc cầu gỗ không tay vịn. Phải, thế là bởi cả đám người trước mặt đang say sưa đánh chén, tôi cũng quay lại với món bánh. Và, do trên chiếc bàn con tôi thấy còn một cái đĩa và một cái ly thứ ba nữa, cho nên tôi làm gọn cả cái bánh cho chắc phần, cả sữa tôi cũng uống sạch, à không - chuyện chỗ này, kể như thế ai mà tin - vâng, tôi đổ phần sữa còn thừa vào một cái đĩa sâu, xong đâu đấy tôi đánh thức con mèo đang cong lưng, thu chân nằm ngủ trên chiếc ghế thứ ba dậy - chiếc ghế này hẳn là dành cho thằng Jobst - nhử nhử cho nó liếc mắt sáng quắc nhìn sang chỗ sữa ngon lành; con mèo liền thè lưỡi, mới đầu còn rụt rè, sau thì liếm hấp tấp thật nhanh, khoái trá lắm. Chờ nó liếm sạch bong cái đĩa, tôi mới điềm nhiên đặt nó vào chỗ cũ trên bàn, còn chú mèo thì vươn mình, uốn lưng, quay đầu tự liếm liếm lông trên cặp đùi nó, rồi chậm rãi và thận trọng trèo lên lòng tôi, xoay xoay mấy vòng rồi thả mình nằm vật xuống. Nó co móng, đặt một chân trước vào tay tôi, khẽ gừ gừ trong cổ.

Tôi nhìn đám người ít nói trước mặt, ai nấy cho đến giờ vẫn chưa ngừng ngồm ngoàm, chóp chép, ừng ực, chốc chốc ai đó lại trịnh trọng húng hắng ho cho thông họng bên cái bàn dài vô tận, dài đến tận nơi mờ ảo đằng xa, không khéo ra tít tận nơi mờ ảo, u ám của bãi cát lầy ven biển và các con mương tự nhiên ngoài đó cũng nên. Đến giờ tôi mới nhận ra ông ngoại tôi, ông Per Arne Schessel - nhà địa phương học sành ăn - ngồi cạnh bác canh đê Bultjohann cùng cụ Andersen từ Glüserup đến - viên cựu thuyền trưởng đã chín hai tuổi - một cụ già phải phô mặt ra đóng vai thuyền trưởng ít nhất cũng trong năm mươi lăm bộ phim tài liệu và phổ biến khoa học thường thức khác nhau chứ không ít, chỉ vì cụ có bộ râu bạc đều đặn cực kỳ hiếm cũng như ánh mắt hoang sơ ướt át của cụ chẳng cần làm bộ làm tịch gì thêm cũng đủ diễn tả nỗi hoài nhớ các phương trời xa xăm rồi. Thôi, tôi mà kể hết xem có những ai ngồi bên bàn đây thì không khéo qua hết mùa đông và sông Elbe sẽ tan băng mất rồi, cho nên tôi chỉ muốn nhắc đến cô Hilde Isenbüttel và ông Kohlschmidt vốn là người canh chim trước đây; hai người nổi hẳn lên giữa đám khách khứa mũi khoằm, nói năng khụt khịt ở xung quanh, và tôi cũng để mắt tới một con tôm hùm phát quang đang không ngừng múa đôi càng mập mạp ra hiệu cho tôi: muốn ăn bánh ngọt nữa thì lại đây.

Tôi chẳng thiết bánh ngọt. Tôi chỉ mong sao lễ sinh nhật bắt đầu; thế nhưng đám người ngồi đây không tỏ ra có vẻ gì muốn ngừng ăn bánh cả, bởi chẳng thấy ai thở dài chán ngán, kêu ca rên rỉ hay đưa tay đầu hàng trước bấy nhiêu đĩa bánh gatô, bánh ngọt đầy ụ cứ không ngừng quay tròn hết vòng này sang vòng khác, nhất là ông tôi - nhà địa phương học - ngồi giống như một con tôm hùm thông thái, lưng bám đầy hào biển, đang chậm rãi, nhưng không ngừng tay tọng cả đĩa bánh vào người và như thế, cũng thách thức viên thuyền trưởng về hưu và diễn viên phim thường thức khoa học nọ phải làm theo. Ở quê tôi, đã ăn là ăn no nê, chỉ vì, nói như ông tôi vẫn nói, khi ăn, thời gian trôi đi trơn tru đều đặn hơn, và mọi người ở đây đều có vẻ tán thành với ông tôi lắm, cho nên ai nấy - kể cả con cá tuyết chấm đen đóng sắc phục trông rất giống bố tôi kia - sở dĩ say sưa như thế với mấy miếng bánh hạnh nhân và bánh mật ong to tướng như những chiếc giày đó, cũng chỉ vì muốn giúp cho thời gian trôi qua trơn tru đều đặn hơn mà thôi vậy.

Cánh đàn bà cũng đều đồng tâm góp sức chống lại sức ì của thời gian; trong lúc họ có vẻ như uể oải đánh chén miếng bánh này thì mắt họ đã nhắm ngay miếng bánh khác, và khi họ bắt đầu thấy nghèn nghẹn ở cổ hay quai hàm tê mỏi, thì họ uống hớp cà phê bốc hơi nghi ngút cho nó trôi gọn xuống.

Ôi giờ, các chi tiết ở một bữa tiệc cà phê bánh ngọt ở Glüserup quê tôi cũng thú vị lắm: không kể đến thói tham ăn phơi rành rành ra đó, cốt chỉ để thừa nhận rằng ở đây đã là khách thì phải làm hại chủ, thì phải kể đến bảy thứ bánh nướng mà chủ nhà phải bắt buộc đem ra mời theo trình tự định sẵn, hay đến những cái bát đựng đường viên để khách cầm nhúng vào cà phê trước khi bỏ vào miệng nhai, và thêm nữa là những cái tô đựng kem để khách xúc lên trên lớp cà phê, sau khi đã rót chút rượu mạnh vào đó.

Thế nhưng tôi không muốn đi thêm vào các chi tiết như thế, những chi tiết có thể kết thành câu chuyện khá dài ấy, cũng như không muốn đoán già đoán non vì sao mọi người ngồi bên bàn đều nín thinh, đúng hơn là tôi muốn, cũng với một chút sốt ruột thật, để bác họa sĩ đứng dậy, rời chiếc ghế đầy vết chạm trổ bác vừa ngồi, để ra đầu bàn, đến thẳng chỗ ông Tiến sĩ Busbeck đang ngồi, bởi gì thì gì, hôm nay cũng là sinh nhật sáu mươi tuổi của ông ấy.

Vâng, bác họa sĩ càng bước đến gần, ông Busbeck càng có vẻ nhút nhát, lúng túng, giống như con sò co lại khi bị ai động vào, trở nên xám xịt và bé nhỏ; ông ta ngoái cổ lại phía sau, như thể muốn tìm phía sau ông một ông Busbeck khác, một người sẽ không khó nhọc lắm khi phải đối mặt với sự chú ý của mọi người mà lúc này chính ông đang phải đối phó. Bác họa sĩ hơi cúi mình xuống phía ông với vẻ đầy tin cậy, lấy tay xoa xoa lên lưng ông, như để động viên ông ta mạnh dạn lên, rồi bác cất tiếng nói: Anh Teo yêu quý, thưa bà con yêu quý. Anh Teo yêu quý rúm cả người lại, trong khi các bà con yêu quý khác ai nấy đều tủm tỉm nhìn lên, khiến người đàn ông bé nhỏ kia càng thêm ngượng nghịu lúng túng.

Tôi không phải hạng thích đao to búa lớn, bác họa sĩ nói tiếp, và khác với mọi lần, lần này bác quả không đao to búa lớn thật, chỉ nhăm nhăm mỗi chuyện nhắc ông Busbeck nhớ lại cái buổi tối ba mươi năm về trước ở Köln: Nếu tôi hiểu đúng câu chuyện bác ấy kể thì dạo đó bác gái Ditte ốm nặng, phải nằm bẹp trong một căn phòng tuy không quá lạnh giá, nhưng tồi tàn, của một căn nhà trọ cũng tồi tàn nốt; ngang trong phòng hình như có chăng sợi dây phơi quần áo thì phải, và bóng đèn điện đã bị mụ chủ nhà trọ đích thân tháo cất biến đi rồi. Chi tiết tiền nhà hàng tháng rồi chưa trả được khiến bức tranh về tình cảnh bi đát của hai bác lúc đó càng hoàn thiện hơn. Phải, lúc đó bác Ditte đang nằm trên giường, hơi thở khò khè khó nhọc, còn bác họa sĩ - dạo bấy giờ đang chạy chọt xin làm chân giáo viên ở một trường nghệ thuật mà chưa thành - đang rửa bát chén mượn tạm của nhà người ta, thì ông Tiến sĩ Busbeck lần theo chiếc cầu thang gỗ tối om lên tìm họ và hỏi bằng một lối hỏi rụt rè đáng kinh ngạc, liệu ông ấy có được phép xem vài bức tranh của bác họa sĩ không. Đã vậy thì làm sao từ chối ông ấy được. Ông được mời đến ngồi trong một góc nhà bên cửa sổ - như tôi hiểu là thế - rồi bác họa sĩ đưa vài tập tranh cho ông ta tự giở ra xem. Và, bởi sự có mặt của ông chẳng làm phiền ai, chẳng thấy ông động đậy, không nghe ông ho he gì, nên bác họa sĩ - tôi nghe ra là như vậy - gần như quên khuấy ông ta và quay ra bận tâm với chuyện khác, chứ không ngờ ông khách đột nhiên bước đến bên cái bàn bọc vải dầu và cầm trên tay mười tờ tranh do ông ta chọn ra. Không nói không rằng, ông ta đặt bốn trăm đồng Mark bằng vàng lên bàn rồi từ tốn hỏi, liệu ông ấy còn được phép quay lại đây không. Bởi câu hỏi đượm vẻ van lơn, xin xỏ, cho nên, nói theo lời bác họa sĩ, bác ấy cũng không nỡ khước từ.

Vâng, chuyện như thế có thể xảy ra lắm và bác họa sĩ vui vẻ nhắc Tiến sĩ Busbeck nhớ lại cái ngày đó ở Köln, một ngày trong tháng Ba mà bác còn nhớ như in, rồi không ngớt cảm ơn ông bạn mình về tình bạn luôn luôn ấm áp suốt ba chục năm qua. Còn bây giờ, anh Teo, anh ở Bleekenwarf đây với chúng tôi. Chúng tôi không bao giờ quên những gì anh đã cho chúng tôi. Ở Köln, ở Luzern, cả Amsterdam. Anh còn nhớ những trận chung tay chống Schalberg chứ. Bởi thế chúng tôi muốn… anh nhân dịp tuổi sáu mươi của anh… Cứ nhìn quanh bạn bè ở đây thì tôi biết ai cũng đồng tình với tôi. Đúng thế đấy, anh Teo ạ.

Khách khứa ngồi bên cái bàn tiệc sinh nhật dài vô tận kia ồn ào đứng dậy nâng cốc mừng sức khỏe ông Tiến sĩ Busbeck, khiến con mèo đang nằm yên trên đùi tôi giật mình, hoảng hốt nhảy vọt đi; mọi người run run tay đưa ly rượu trắng lên, rồi trước khi dốc tuột hết rượu vào miệng mình, ai nấy đều có vẻ như phải do dự miễn cưỡng lắm không bằng. Đoạn, họ ồn ào đặt các ly rượu xuống bàn rồi loay hoay khó nhọc kéo ghế phía sau lưng họ lên trước để ngồi xuống, riêng có mình ông, ông Tiến sĩ Busbeck, vẫn đứng, dáng vẻ lúng túng ngượng ngùng nhưng đầy xúc động; ông có vẻ như muốn xin lỗi mọi người do họ đã vì ông mà phải mất công tốn sức đứng dậy vậy. Ông bước lùi ra sau ghế, đưa mắt nhìn xuống đôi tay mình đang xoa xoa lên lưng ghế hằn các vết chạm trổ. Đoạn ông cất tiếng nói lên những lời hẳn đã cân nhắc từ lâu, để cảm ơn bác họa sĩ và bác Ditte cùng tất cả mọi người khác quanh đây, rồi ông cũng xin lỗi mọi người vì đã thành gánh nặng cho họ lâu như thế. Rồi ông bảo, giai đoạn ông sống ở đây chỉ tạm thời thôi, và đối với ông, giá trị nhân phẩm hôm xưa không mang nhiều ý nghĩa hơn giá trị nhân phẩm hôm nay. Tôi nghĩ, ông ấy còn mạnh mồm nói về hy vọng, một ngày nào đó sẽ được quay về vị trí cũ của ông, nơi ông có thể có ích hơn cho đời. Trong lúc nói, ông không lần nào nhìn về phía đám khách khứa ngồi đông đúc trước mặt mình, và trong tư thế nghiêng đầu lệch cổ sang một bên, thỉnh thoảng ông mới liếc nhìn về phía bác Ditte, vợ bác họa sĩ, và bác Ditte, về phần mình, bao giờ cũng mỉm cười đáp lại. Rồi ông lại cảm ơn. Ông lại nói ở đây ông cảm thấy ấm cúng, được che chở, được đề cao, vâng, được đề cao bởi tình bạn với một người mà ở bên ngoài - ông thản nhiên nói “ở bên ngoài” mà hình như không ẩn ý gì thêm - phải, một người ở bên ngoài được thiên hạ đánh giá là một trong những nhà biên kịch vĩ đại nhất của ánh sáng, vân vân và vân vân. Sau cùng, ông cúi người trước mặt bác Ditte cùng cả đám khách khứa, rồi vội vàng vớ chiếc ly và nâng nó lên, uống đánh ực chỗ rượu trắng bác họa sĩ vừa rót đầy. Xong xuôi đâu đấy, trông ông nhẹ nhõm hẳn người. Ông vui vẻ gật đầu với người này, người nọ ở bên kia bàn. Nhiều lần ông kiên nhẫn đẩy tay áo sơ mi hồ bột thụt gọn vào tay áo vét tông. Ông xin rót đầy rượu trắng vào ly cho ông lần nữa. Ông lấy tay lau mồ hôi trán và tỏ ra rất hài lòng.

Ông Tiến sĩ Busbeck có thể hài lòng thật, bởi dù sao ông cũng thấy ai nấy đều quý mến ông, và lúc bác Max Ludwig Nansen nói to: Nào bây giờ ta đi ngó xem quà sinh nhật có những gì nào, thì Tiến sĩ Busbeck ngẩng gương mặt nhợt nhạt và không một nếp nhăn lên, rồi cứ ngồi đờ ra đó chứ không chịu đứng dậy; mãi đến lúc có hai vị khách cứ thế kéo ông khỏi chiếc ghế đang ngồi, ông mới chịu đứng lên, để mặc cho người ta đẩy mình vào xưởng vẽ, nơi mà bác họa sĩ hay bác Ditte, hoặc cả hai cũng nên, kê và trang trí riêng hẳn một cái bàn để bày các món quà sinh nhật người ta đem đến tặng ông Tiến sĩ. Lúc mọi người đứng cả lên thì tôi lập tức tuột khỏi ghế và chui ngay vào hành lang tối om dẫn đến cánh cửa xưởng vẽ, đều có cái lườm giận dữ của bố tôi khiến tôi không dám thành người đầu tiên xông đến bên bàn bày quà sinh nhật; nhưng dù sao, tôi cũng là người thứ tư đến đó trước. Trên mặt bàn có những gì nào? Chà, đối với một người chẳng họ chẳng hàng cũng không đồng hương đồng khói gì với họ như ông Tiến sĩ đây, một người bị các sự kiện - mà chính họ cũng chỉ hiểu lơ mơ - xô đẩy đến đây chung sống với họ, thì không biết dân tình sống ở vùng đất nằm giữa Rugbül và Glüserup nằy sẽ mừng sinh nhật ông ấy như thế nào nhỉ? Tôi vẫn còn nhớ trên bàn có cái kẹp cravát. Tôi vẫn nhớ trên bàn có chai rượu trắng, cỗ bánh hoa quả, chiếc giỏ giữ nóng cà phê, lại thêm mấy đôi tất và quyển sách - mà tác giả là Per Arne Schessel, ông tôi, vừa giữ chân tác giả lẫn chân người xuất bản - và hộp nến. Tôi cũng nhớ trên bàn còn có cả một túi thuốc lá sợi và chiếc khăn quàng cổ và đương nhiên, chai rượu Kosakenkaffe của bố mẹ tôi. Song, nhớ nhất vẫn là bức tranh Cánh buồm tan trong nắng.

Bức tranh dựng vào mặt tường phía sau chiếc bàn bày quà sinh nhật, bên cạnh là mấy chai rượu, mấy đôi tất nhẫn nhục nằm cuộn tròn phía trước, ấm cà phê kềnh càng, trịnh trọng, ổ bánh hoa quả thơm tho hấp dẫn, chiếc khăn quàng quấn quanh cây nến như muốn nhẹ nhàng dập tắt nó vậy, vâng, món quà nào cũng muốn nổi trội lên, nhưng không món nào sánh nổi với bức tranh được cả.

Tôi bước lên phía trước và trông thấy Tiến sĩ Busbeck như đang bị bức tranh thôi miên, rụt rè, hai tay đưa ra trước, với dáng vẻ, vâng, với dáng vẻ nghi hoặc - tiến lại gần bức tranh, và - tôi nhìn thấy rõ ràng - chạm khẽ đầu ngón tay vào bức tranh rồi rụt ngay lại; ông nheo mắt rồi chợt so vai, như thể đang rùng mình vì bị lạnh. Trong bức tranh, trời mây và biển cả hòa làm một. Trong đó, một áng màu vàng nhàn nhạt như màu vỏ chanh tây đang khuyên nhủ màu xanh da trời hãy tự đầu hàng mà lùi bước. Những cánh buồm bồng bềnh gây cảm giác xa khơi và gợi nên một câu chuyện đang đến hồi kết rồi nhạt dần thành màu trắng để cuộc hòa đồng giữa trời mây và biển cả đi dần đến hồi trọn vẹn. Cánh buồm tan ra và sự hòa tan ấy khiến cho không còn cái gì khác, ngoài ánh sáng, lưu lại nữa, và tôi có cảm tưởng ánh sáng ấy chan hòa như một bản thánh ca vậy. Tiến sĩ Busbeck dang rộng tay tiến về phía bức tranh. Đúng lúc đó bác họa sĩ bảo: Anh Teo, anh thấy đấy, tôi còn phải chỉnh thêm đôi chút nữa. Ông Busbeck đáp: Như thế này được rồi! Song, bác họa sĩ vẫn một mực: Cái màu trắng kia, nó vẫn còn hơi ồn ào quá. Nhưng bác Teo khẽ bảo: Quà như thế này thật quá lớn, ông Max ạ, quà thế này của ông, tôi không dám nhận đâu. Bác họa sĩ nháy mắt với ông rồi nói: Thì cũng phải xong anh mới được nhận cơ mà.

Lúc này khách khứa ai nấy đều đứng quây lấy cái bàn bầy các món quà sinh nhật. Họ thi nhau bình phẩm, so sánh, xem xét, ước chừng giá trị các món quà xem được bao nhiêu đồng Mark, rồi lướt nhìn một lượt và phỏng đoán xem quà nào của nhà nào… bởi chắc hẳn đó sẽ là đề tài cho người ta bàn tán với nhau trên đường về. Người ta cầm các món quà lên tay, lớn tiếng trầm trồ khen ngợi rồi chuyền sang tay người khác, vâng, không có thứ nào mà họ không sờ vào, không có món nào họ không nắn nắn bóp bóp. Không một ai dám bỏ sót món quà nào mà không bình phẩm. Người ta chậc chậc lưỡi nhấc mấy chai rượu, người ta thọc tay vào giỏ giữ ấm bình cà phê, người ta đưa chiếc cài cravát lên cài thử; còn ông Per Arne Schessel thì tìm mọi cách khoe quyển sách địa phương học vẫn bị chê là dở của mình với mọi người. Mọi người tỏ vẻ ngạc nhiên, thán phục và khen ngợi; mọi người gật gù, xuýt xoa, sờ nắn, hỏi han, còn ông Andersen - viên thuyền trưởng trong các bộ phim truyền bá khoa học - dùng cây gậy màu nâu và khẳng khiu của mình chỉ vào bức tranh rồi nói: Chắc đây là eo biển Manche chứ gì? Ở eo biển Manche, thời tiết lúc nào cũng thế này thật. - Ở Glüserup đấy, ông Bultjohann lớn tiếng nói, ở vùng tôi ấy mà. Bác họa sĩ không nói gì, chỉ đưa tay vỗ vai hai người, như muốn tán thành, phải, hai ông đều đúng cả.

Mọi người thôi không xem xét các món quà nữa, chen nhau đến bên bức tranh và mạnh ai nấy nói; tôi để mặc mọi người nói gì thì nói, tôi chẳng buồn để ý nữa, bởi nhìn qua cửa sổ tôi thấy Jutta, đi chân đất, đang chạy qua chiếc cầu gỗ không có lan can trong vườn hoa; còn nhìn thấy nó đeo trên lưng vật gì đen đen rồi biến nhanh vào khu nhà vườn. Lách người ra khỏi đám khách khứa đang đứng thành vòng quanh bức tranh, và gật gật gù gù ngắm nghía nó với vẻ suy tư sâu lắng, tôi vớ cây gậy tôi dựng ở phòng khách, rồi trèo cửa sổ nhảy ra vườn. Đúng lúc đó, tôi thấy anh Addi cũng trèo cửa sổ theo sau tôi ra ngoài và nhảy qua các luống hoa để tiến nhanh về phía khu nhà vườn. Có vẻ như anh ấy cũng nhìn thấy Jutta, hay có khi nó ra hiệu gọi anh ấy cũng nên, tôi chỉ biết anh ấy vượt vội lên trước tôi và lúc vượt lên còn thúc nhẹ vào sườn tôi một cái.

Chiếc đàn phong cầm của anh Addi nằm chình ình trên nền đất nhấp nhô và xám xịt của căn nhà vườn. Jutta đứng dạng chân phía sau chiếc đàn, ở tư thế chờ đợi ranh mãnh, sẵn sàng cãi nhau ngay, nhưng anh Addi không nói không rằng, cũng chẳng la lối gì, chỉ chằm chằm nhìn vào nó với vẻ mặt bối rối và lắc lắc đầu. Anh chơi đàn đi, Jutta nói, nhưng anh Addi vẫn đứng nguyên, không động đậy. Anh kéo đi chứ, Jutta lại nói. Hôm nay lễ sinh nhật kia mà. Anh Addi vẫn chỉ nhún vai. Thì chơi khẽ thôi vậy, Jutta nói, và tôi liền phụ họa theo: Đúng rồi, chơi khẽ thôi, đủ cho bọn em nghe thôi. Nhưng anh Addi vẫn lắc đầu. Hồi trước em cũng có đàn accordeon, Jutta nói: Đúng ra là hai cái cơ. Mà em cũng biết chơi đấy. - Thế thì mày kéo đi, tôi bảo, nhưng Jutta chỉ vào anh Addi và nói:

Anh ấy phải kéo, đàn anh ấy cơ mà. - Mẹ em không muốn anh kéo đàn đâu, anh Addi nói với tôi. - Nhưng mọi người khác, ai cũng muốn anh chơi cơ mà, tôi đáp, rồi cả anh Addi lẫn tôi đều quay nhìn ra cửa vì thoáng thấy bóng ai thấp thoáng ở đó. Hóa ra thằng Jobst béo; nó cười nhăn nhở, cứ như vừa bắt quả tang chúng tôi vụng trộm chuyện gì không bằng. Nó nhìn hộp đàn, ngước nhìn chúng tôi rồi lại nhìn hộp đàn, rồi huỳnh huỵch bước vào và mở hộp đàn ra, lôi đàn và mở bung quai đeo bằng da ra, mà thôi, việc gì tôi cứ nhùng nhằng không kể ngay chuyện gì xảy ra ngay sau đó nhỉ? Anh Addi đeo đàn lên vai, gật đầu ra hiệu cho ba đứa chúng tôi, và thế là, chúng tôi xếp thành hàng sau lưng anh ấy, rồi cứ thế nối đuôi nhau, hai tay đứa đi sau bám vào hông đứa đi trước, bước đi theo nhịp đàn “Alo- Ahe” ra khỏi căn nhà vườn mái rạ.

Jutta bám hai tay vào hai bên hông anh Addi, tôi bám tay vào hai bên hông gầy gò, xương xẩu của Jutta, còn cảm giác âm ấm hai bên hông tôi là do các ngón tay mũm mĩm của thằng Jobst bám vào. Dọc theo lối đi đến xưởng vẽ, chúng tôi cứ thế nối đuôi nhau uốn bên này, lượn bên kia, cúi xuống, ngẩng lên; anh Addi không ngừng kéo đàn, và trong tiếng gió thổi, ở Bleekenwarf cứ thế vang lên những bài hát Hawaii tuyệt vời nhất.

Từ bên trong nhà, mọi người gõ gõ ngón tay lên cửa kính, vẫy tay gọi chúng tôi và đoàn rồng rắn của mấy đứa chúng tôi - dù còn rất ngắn - lượn qua trước xưởng vẽ, rồi đến bốn trăm khung cửa sổ của căn nhà chính, chốc chốc vòng lại lối đi trong vườn, mời chào, hấp dẫn người khác tham gia, và tôi vẫn còn nhớ, chị Hilke là người đầu tiên bám vào đuôi đoàn rồng rắn chúng tôi, sau chị Hilke là ông mục sư Treplin, rồi đến ông Holmsen, ông canh chim Kohlschmidt và bác Ditte; lúc đoàn rồng rắn lượn ngang bố tôi, bác Ditte nắm lấy tay bố tôi đặt lên hông bác để kéo bố tôi theo, và bỗng nhiên đoàn rồng rắn có sức hút, sức hút không cưỡng lại được, kéo theo, hút theo tất cả những gì nằm dọc đường nó lượn qua, một sức hấp dẫn tràn đầy niềm vui, không cho ai thoát ra ngoài cuộc, khiến đoàn rồng rắn mỗi lúc một dài ra, đôi chỗ đã phải cuộn lại thành vòng. Hết bác họa sĩ, đến ông canh đê Bultjohann, rồi cả cô Hilde Isenbüttel đều đã nhập cuộc, chỉ có mẹ tôi là không thấy đâu, và tôi biết, sẽ chẳng có gì khiến bà nhập cuộc cả, vâng, riêng bóng dáng nghiêm nghị của bà trong góc xưởng vẽ cũng đủ cho thấy thái độ chê bai đầy kênh kiệu của mẹ tôi rồi - tức là bà Gudrun Jepsen, con gái dòng họ Schessel hôm xưa vậy. Thế mà, nhẽ ra mẹ tôi cũng nên theo gương viên thuyền trưởng Andersen mà nhập cuộc vui với chúng tôi thì hơn; ít gì, viên thuyền trưởng đã chín mươi hai tuổi ấy cũng còn gắng nhập đoàn rồng rắn, toan cùng chúng tôi vượt qua bãi cát tuyệt đẹp ở cánh đồng Lüneburger mênh mông nữa kia; vâng, cụ già mặt mày ăn ảnh nọ cố chen bằng được vào giữa Jutta và anh Addi, rồi cúi người kêu răng rắc về phía trước - và tôi tưởng tôi nghe thấy tiếng gì lạo xạo như thể có quả anh túc khô nằm đâu đó trong người cụ bị bóp vỡ và hạt anh túc cứ vậy theo ống quần cụ mà tuôn ra ngoài; ấy vậy, nhưng cụ cũng theo đoàn rồng rắn được vài thước, cho đến khi cụ hết hơi - vâng, đến lúc cụ rải hết hạt anh túc khô rồi - cụ mới tách khỏi đoàn. Anh Addi dẫn đầu đoàn người rồng rắn, Jutta bám vào hông và lái anh ấy đi theo hướng nó muốn, và sau khi cả đoàn đã xuyên hết vườn hoa, lượn quanh hàng rào, vượt qua chiếc cầu gỗ, cắt ngang bãi cỏ trèo lên đê thì đoàn rồng rắn này không chừng còn lội nốt cả Biển Bắc sang đến nước Anh rồi cũng nên, nếu anh Addi không đổi ý, dẫn đoàn sang hướng khác. Anh Addi ngoặt gấp, dẫn đoàn rồng rắn đi xuống, và đoàn người rồng rắn tuột từ trên mặt đê xuống cứ ép vào dãn ra, trông khá giống như các múi đàn accordeon anh ấy đang kéo ra khép vào vậy. Đoàn rồng rắn chúng tôi xô nhau về hướng Bleekenwarf, lượn ngang qua hàng cây trăn đang hắt bóng xuống kênh nước; hàng cây chắc không thể bằng lòng với bóng mình soi xuống nước, bởi các cơn gió thổi qua làm lăn tăn mặt nước khiến bóng hàng thân cây lung lay như thể dưới đáy kênh đang nổi sóng ngầm. Cố để đoàn rồng rắn không bị vì tôi mà đứt đoạn, tôi dùng cả hai tay ôm ngang hông Jutta, còn nó ôm ngang hông anh Addi; đôi người khác cũng ôm lưng nhau như thế.

Tôi vẫn còn nhớ, khi đoàn rồng rắn đến gần cái cổng có cánh cửa đung đưa thì thấy ông Okko Brodersen, người đưa thư cụt tay, đang đứng chờ ở đó. Xe đạp ông dựng ở cây cột phía ngoài và ông cầm trên tay tờ giấy gì đó giơ cao lên, ra hiệu, ông có quyền được đến đây.

Bác nhập cuộc đi, Jutta nói to và tôi cũng vào hùa: Bác nhập cuộc đi, rồi đoàn người rồng rắn cứ thế cuốn hút ông theo, cùng với bao thư từ báo chí ông mang trên người. Đoàn người kéo qua chuồng gia súc bỏ hoang, qua cái ao, vòng quanh cái kho, và đến khi sắp quành lại xưởng vẽ thì tôi ngoảnh lại nhìn về phía sau và nhìn thấy đoàn người rồng rắn đang tan dần ra, và mọi người, ai nấy đều mệt lử nhưng đầy hứng thú, đúng thế, hứng thú lắm lắm - một không khí mà chắc chắn mẹ tôi cũng phải nhận thấy. Thế nhưng, ngay cả trong lúc dần dần rã ra, đoàn người rồng rắn vẫn còn nối gót anh Addi, lúc này vừa đi vào vườn vừa chuyển sang chơi bài “Khí trời Berlin”, một số người, sau khi ngẩng đầu xem xét bầu trời treo trên Biển Bắc cho chắc ăn, đã bắt tay khênh bàn khênh ghế ra ngoài vườn. Những khe hở chói chang giữa các đám mây đen, cũng như những khoảng trống trong xanh và nhiều đốm mây trắng bay nhanh qua bầu trời, khiến ai nấy an lòng. Như thế là bữa tiệc sinh nhật được chuyển từ trong nhà ra ngoài vườn.

Thôi, đến lúc này thì tôi không kể tiếp nữa, mặc ai muốn tưởng tượng thế nào thì tưởng tượng về cảnh chuyển bàn chuyển ghê diễn ra nhanh chóng, người nâng kẻ đỡ, người này lôi người khác kéo bàn ghế qua cửa sổ ra ngoài, vâng, cảnh tượng thật náo nhiệt, vui vẻ, trong tiếng nhạc “La Paloma” và “Rolling home” anh Addi chơi đệm thêm vào. Tôi không mô tả thêm ở đây, bởi tôi phải tìm cây gậy của tôi, cây gậy gắn đinh rệp mà lúc nãy, khi nhập đoàn người rồng rắn tôi dựng hay quẳng ở đâu đó. Nhưng nó nằm đâu mới được chứ? Trong phòng khách? Hay trong xưởng vẽ? Tôi đảo lại dọc các lối đi. Tôi vạch hết bụi cây này sang bụi cây khác. Tôi tìm ngoài sân, ngó nghiêng trong kho. Tôi không thấy cây gậy trên các bậu cửa sổ, cũng không thấy nó nổi trên mặt ao. Bố thấy cây gậy của con đâu không? Bác có thấy nó đâu không ạ? tôi hỏi cả bố tôi lẫn bác họa sĩ đang đứng với nhau bên bờ ao. Cả bố tôi lẫn bác Max Ludwig Nansen đều không đáp. Hai ông không đáp lại tôi, đến lắc đầu hai ông cũng chẳng lắc, chỉ lặng im một cách thật căng thẳng, và tôi đành lảng ra chỗ khác để tìm cây gậy của tôi, nhưng loanh quanh được một lúc thì tôi chợt thấy có gì đáng ngờ, nên lẳng lặng quay trở lại phía bờ ao; trong ao có cặp vịt lông trắng đang dạy bốn chú vịt con cách bơi đội hình. Nấp sau đống thân cây dương liễu bị đốn xếp chồng lên nhau, tôi rón rén đi về phía hai ông đồng hương Glüserup đang đứng, chui vào một khoảng trống giữa các thân cây, và qua khe hở giữa các thân cây nằm ngang tôi nhìn thấy một đoạn mông của bác họa sĩ và bố tôi, gần đến nỗi tôi còn nhìn rõ cả túi quần sau của hai ông phồng lên và đoán được trong túi có gì. Nền đất nơi tôi ẩn náu đây khá trơn và lạnh, gió lại thổi mạnh, nghe ù ù qua những khe hở giữa các thân cây chồng lên nhau. Lúc đứng lom khom, lúc ngồi xổm, tôi có thể thấy hai ông cao lên hay thấp xuống, nhưng gương mặt hai ông thế nào thì tôi không thấy được, vâng, gương mặt hai ông nằm ngoài tầm mắt tôi.

Thoạt tiên tôi thấy bác họa sĩ cầm một lá thư trên tay, thư khẩn, vì tôi thấy rành rành một vạch màu đỏ gạch chéo hiện ra trên mặt giấy; bác họa sĩ rõ ràng đã đọc xong thư và đang đưa trả lại bố tôi, bằng một cử chỉ rất bề trên và giận dữ. Nhìn thấy thế là tôi biết được ngay - bố tôi, đứng trước sự lựa chọn, hoặc đích thân đọc to nội dung bức thư, hoặc trao thư cho “đối tượng” đọc - bố tôi đã như mọi khi chọn cách ít làm ông mệt thân nhất; tức là, ông cứ thế đưa thư cho bác họa sĩ tự đọc, và bây giờ bình thản nhận lại lá thư bằng cả hai cánh tay lông mọc hung hung đỏ của ông, rồi cẩn thận gấp nó lại, trong khi bác họa sĩ dằn giọng: Nghe đây, các người điên cả rồi, các người không thể lộng hành như thế được.

Tôi nhận ra ngay rằng bác ấy nói các người, và bác xếp bố tôi vào số đông các người đó. Các người không có quyền làm như thế, bác họa sĩ nói, còn bố tôi đáp lại: Lệnh này không phải do tôi ban ra, ông Max ạ, thì làm sao ông bảo tôi lộng hành được, rồi không đừng được, ông dang tay ra với vẻ bất lực. Không phải ông, bác họa sĩ nói, không phải ông lộng hành, nhưng có ông giúp, thì chúng nó mới lộng hành được.

Chứ ông bảo tôi phải làm gì bây giờ, bố tôi hỏi lạnh lùng, và bác họa sĩ bảo: Các bức tranh của hai năm qua, ông có biết, như thế nghĩa là bao nhiêu công sức không? Các người đã cấm ta hành nghề. Như thế chưa đủ cho các người sao? Rồi các người sẽ còn nghĩ ra những trò gì nữa chứ? Các người không thể tịch thu những hình họa chưa ai thấy bao giờ cả. Chỉ bà Ditte nhà tôi, cùng lắm anh Teo nữa thôi. - Ông đã đọc lệnh rồi đấy, bố tôi nói. Phải, bác họa sĩ đáp, tôi đọc rồi. - Vậy ông biết đấy, bố tôi tiếp, lệnh ghi rõ tôi phải tịch thu tất cả các bức tranh ông vẽ hai năm qua; rồi tôi còn có nghĩa vụ ngày mai cho đóng gói và niêm phong số tranh đó đem đến nộp ở trạm Husum nữa cơ.

Hai ông lại lặng im. Liếc nhìn qua khe hở sang một bên, tôi nhìn thấy một đôi chân mảnh mai mặc quần, ống tròn trùng trục như hai ống thông hơi bếp lò bước từ trong nhà ra, rồi tôi nghe tiếng ai gọi: Các ông đâu rồi, bao giờ các ông quay vào đấy? Bác họa sĩ cùng bố tôi gần như đồng thanh đáp, chúng tôi vào bây giờ đây. Hai ống thông hơi tỏ ra yên tâm và cứ thế thẳng đơ bước trở lại vào phía trong. Một lát sau, tôi nghe tiếng bố tôi nói: Ông Max ạ, biết đâu vài bữa họ lại gửi trả tranh về hả ông? Có lẽ ở Hội đồng người ta chỉ xem xét qua loa rồi gửi trả tranh về cho ông cũng nên, ông ạ. Ông nói nghe có vẻ xuôi tai. Bố tôi, viên cảnh sát Glüserup, đã nói gì, hỏi gì, thì thường thường, ít ai muốn bác lại. Bác họa sĩ có vẻ sững người, bởi mãi một lúc lâu, tôi mới nghe tiếng bác đáp lại. Này, ông Jens ạ, bác nói với giọng pha nửa chua chát, nửa thương hại. Lạy Chúa, đến bao giờ ông mới mở mắt ra mà nhìn hả, bọn chúng nó sợ, và chúng nó hành động thế nào, đều do sợ hãi sai khiến cả: hết cấm hành nghề lại tịch thu tranh! Ông bảo chúng nó gửi tranh trả về ư? Có mà ống đựng tro đốt tranh thì có. Hiện giờ bọn châm diêm đốt tranh là bọn đang làm phê bình nghệ thuật mà lại, hay nói như chúng nó nói, đang có quyền đánh giá nghệ thuật đấy, ông ạ.

Bố tôi quay người đứng đối diện với bác họa sĩ mà không tỏ chút bối rối nào, thậm chí tư thế ông còn cho thấy rõ ông đang sốt ruột lắm, chỉ nhìn thoáng qua là tôi đoán được ngay, cho nên tôi cũng không ngạc nhiên, khi nghe ông nói: Tôi chả cần biết gì hết, có lệnh ở Berlin là đủ. Ông Max, chính ông, ông cũng đọc lệnh rồi đấy. Giờ tôi phải yêu cầu ông có mặt khi tôi thẩm tra các bức tranh của ông. - Ông định bắt giam tranh của tôi hẳn? bác họa sĩ hỏi vặn, nhưng bố tôi đáp khô khan và không khoan nhượng: Ông với tôi sẽ phải chọn ra những bức nào cần phải nộp lên trên, rồi tôi đánh dấu lại để ngày mai cho người đến chở đi.

Tôi còn phải chùi mắt tôi cho tinh đã, bác họa sĩ mỉa mai. Thì ông cứ việc chùi cho kỹ đi, bố tôi đáp, cũng chẳng thay đổi được gì đâu ông ạ. - Đúng là các người không còn biết các người đang làm gì thật, bác họa sĩ nói, và thế là, từ miệng bố tôi buột ra câu: Tôi chỉ thi hành nghĩa vụ của tôi thôi, ông Max ạ. Tôi nhìn đôi bàn tay bác họa sĩ, đôi bàn tay khỏe khoắn và dày dạn trường đời; bác nhẹ nhàng đưa hai bàn tay lên phía trước và tôi thấy, mới đầu bác xòe các ngón tay ra, sau đó nắm lại thành hai nắm đấm, tỏ ý cương quyết. Còn hai bàn tay bố tôi, ngược lại, trông đến là ẻo lả, buông thõng dọc hai bên sọc quần, hai sinh vật ngoan ngoãn chờ lệnh, vâng, tôi phải nói thẳng ra như thế, hai bàn tay chẳng có gì đáng để để ý cả. Ta đi chứ, ông Max? bố tôi hỏi. Bác họa sĩ vẫn đứng lặng. Thì cũng để ở trên họ thấy tôi đã làm tròn nghĩa vụ của tôi, bố tôi vừa kịp phân bua thì bác họa sĩ chợt lớn tiếng nói: Sẽ chẳng ích gì cho các người đâu. Chưa bao giờ có ích gì cho kẻ nào hết cả. Các người cứ việc tịch thu những gì làm các người hoảng sợ. Cứ việc mang chúng đi, cứ việc bằm nát chúng ra, cứ việc thiêu trụi chúng đi. Song những gì đã được sáng tạo thành công thì những thứ đó sẽ tồn tại mãi mãi.

Ông không nói với tôi như thế được, bố tôi nói. Sao? Nói với ông hả? bác họa sĩ cao giọng, với ông tôi còn nói khác thế nữa kia: hồi ấy tôi mà không vớt ông lên, thì bây giờ ông có mà vẫn còn nằm trong bụng mấy con cá bơi ngoài biển kia kìa.

Món nợ đó, rồi có ngày tôi khắc trả, bố tôi đáp, nhưng bác họa sĩ vẫn không dứt lời: Ông nghe đây, ông Jens, có những việc người ta không bỏ giữa chừng được. Hồi đó, lúc tôi lặn xuống vớt ông lên, tôi đã không bỏ giữa chừng, thì nay tôi cũng không bỏ cuộc giữa chừng cho ông xem. Tôi nói ông biết, tôi sẽ tiếp tục vẽ. Tôi sẽ vẽ các bức tranh vô hình, những bức tranh ngập ánh sáng, ngập đến mức các người không còn nhận ra gì nữa cả. Đúng vậy, tranh vô hình.

Bố tôi đưa tay lên, chậm rãi lần lần theo thắt lưng rồi nói với giọng hăm dọa: Ông Max, ông biết nghĩa vụ tôi phải làm gì đấy nhá. - Phải, bác họa sĩ đáp, phải, tôi biết lắm và tôi nói để ông biết: cứ nghe các người nói đến nghĩa vụ là ta lại buồn nôn. Các người cứ nói đến nghĩa vụ thì y như rằng người khác lại phải dè chừng đón tai họa. Bố tôi bước lên một bước về phía bác họa sĩ, hai ngón tay cái nhét vào sau thắt lưng rồi ưỡn ngực ra nói: Đấy là tôi chưa hỏi ông về bức tranh hải âu đấy nhé - như thế, coi như là tôi với ông hết nợ. Nhưng từ hôm nay trở đi, ông Max ạ, hãy dè chừng đấy. Ngoài ra tôi không còn gì để khuyên ông nữa đâu: hãy coi chừng. - Tôi sẵn sàng rồi đây, bác họa sĩ đáp, còn bố tôi, một lát sau, mới hỏi tiếp: Ta vào trong kia chú, ông Max? - Ông muốn vào thì vào, bác họa sĩ nói. Nhưng trước khi cất bước, bác còn nói, với giọng hơi ngập ngừng: Này ông Jens, nhưng đừng để ai ở đây biết có chuyện gì nhé; nhất là anh Teo. Viên cảnh sát Rugbüll im không đáp, và tôi nghĩ, hẳn là ông đồng ý với đề nghị đó của bác họa sĩ.

Hai ông theo nhau lần lượt đi ngang khe hở giữa các thân cây của tôi rồi băng qua cái sân lộng gió; nếu muốn, tôi đã có thể chạm vào người hai ông, có thể sờ một cái vào quần áo hai ông hay có thể hù một cái làm hai ông giật mình, nhưng tôi không làm, mà ngồi xổm xuống khiến trông hai ông ngoài kia cao vổng lên, và chờ hai người biến vào phía trong nhà, tôi xoay sang ngắm nghía nơi ẩn náu mới phát hiện ra này, ước lượng rộng hẹp và nghĩ thầm, chỗ này ít nhất cũng hai đứa chui được vào, như tôi với Jutta chẳng hạn. Rồi tôi lách ra ngoài, đứng một mình bên bờ ao và cho đàn vịt một trận Skagerrak tơi bời, bằng cách ném đá cho nước ao bắn tung lên tuyệt đẹp như có vòi phun ở phía trước, phía sau và ngay giữa đội hình chúng nó. Tôi phải chọn mấy hòn đá cỡ to nhỏ khác nhau làm đạn pháo bắn cầu vồng xuống ao; nước ao tung tóe, mặt ao nổi sóng, vổng lên, đổ xuống, khiến mấy con vịt phải liên tục thay đổi đội hình mới tránh được đạn pháo tôi giội xuống, và trước khi quay vào phía trong vườn, tôi còn cho chúng nó một trận bắn tới tấp, làm một con trong số vịt con hoảng quá, đập đập cánh hớt hải tách khỏi đội hình và rơi ngay vào tầm pháo của tôi: khổ thân nó, giá cứ bám sát bố mẹ, thì có phải đã tránh được đòn không.

Giội pháo chán rồi, tôi liền nhanh chân chạy vào trong vườn, chỗ anh Addi vẫn chưa ngừng chơi đàn, đúng hơn là chơi bài hát về một nàng con gái bất chấp sóng biển gầm gào vẫn xông pha đến với người yêu là chàng thủy thủ ngoài biển khơi, bởi nàng không thể sống thiếu chàng như biển cả không thể thiếu gió trời vậy. Vâng, đại khái thế. Trên bãi cỏ rộng, mọi người đang nhảy theo giai điệu bài hát; à không, không phải nhảy: không những cô Hilde Isenbüttel hay thầy Plönnies mà cả vợ chồng ông bà Holmsen đều đang vung tay giậm chân, đá bên này bên kia, xoay xoay vòng vòng, nhẹ nhàng đưa đẩy nhau, như cốt giúp nhau làm nhẹ bụng trước bữa tối vậy. Tôi chẳng để ý xem trong đám ông bà đang nhảy nhót ấy có những ai, tôi cũng không nhìn quanh xem thấp thoáng trong những bóng người nhảy nhót đảo qua đảo lại kia là những ai đang ngồi bất động trên hàng ghế băng, bất động nhưng rất chăm chú đề phòng - như các quái vật dưới đáy biển sâu đang rình mò. Bởi vì loáng một cái tôi đã nhìn thấy ngay hai người đàn ông - bố tôi cùng bác họa sĩ - đang đứng ở cuối xưởng vẽ, người sau sát người trước, người này so vai, người kia cúi gằm mặt. Tôi áp sát mặt vào mặt kính cửa sổ nhìn vào trong. Trong xưởng vẽ chỉ còn mỗi hai ông đang đứng trước bàn xếp quà sinh nhật của Tiến sĩ Busbeck. Tôi lấy hai bàn tay che hai bên thái dương để nhìn cho rõ hơn, và do không bị lóa nữa, tôi thấy rõ hai ông đang đứng trước bức tranh mà trong đó cánh buồm tan ra trong nắng, và tôi cũng đoán ra ngay rằng đang có cuộc giằng co quyết liệt giữa hai ông: bố tôi dùng ngón tay chỉ vào bức tranh với vẻ đòi hỏi, còn bác họa sĩ ưỡn người đứng chắn trước bức tranh đó, tức là, người này đòi hỏi, người kia khước từ, người này muốn chiếm đoạt, người kia cưỡng lại - cảnh tượng diễn ra trước mắt tôi trong im lặng, như cảnh im lặng kích thích trong bể cá vậy; không nghe thấy gì, nhưng tôi nhìn thấy rõ ràng hai ông đang đôi co, lời qua tiếng lại, rồi đột nhiên, bác họa sĩ cầm một ống màu lên tay, bóp ra một đoạn thuốc vẽ ngoằn ngoèo rồi cúi xuống bức tranh, và mới đầu chỉ miết miết bằng đầu ngón tay, sau đó dùng một bên ngón, và rốt cuộc, như mọi khi bác vẫn làm, dùng lòng bàn tay để chỉnh sửa hay hoàn thiện chi tiết nào đó trên bức tranh, trong khi bố tôi vẫn đứng ngay đơ, vẻ hăm dọa, như cây cột cắm xuống báo hiệu dòng nước ngầm nguy hiểm. Bác họa sĩ đứng thẳng người, lau sạch chỗ màu nước dính trên tay. Trên mặt bác lộ rõ vẻ khinh thường pha lẫn dè chừng. Bác nháy mắt với bố tôi, còn bố tôi thoáng lưỡng lự trong giây khắc rồi gật đầu, trông có vẻ như không biết đối đáp ngay như thế nào. Bác họa sĩ lợi dụng lúc bố tôi còn lưỡng lự liền kéo bố tôi lui vào góc xưởng vẽ khuất khỏi tầm mắt tôi, và tôi không còn nhìn thấy hai người đâu nữa. Tôi cũng đoán được kết cục cuộc đôi co thế nào nên quay người, đưa mắt tìm xem Tiến sĩ Busbeck đang ở đâu, thì nhìn thấy ông ta nắm tay bác Ditte đứng dưới cây táo già, bóng cây cài chồng lên bóng người.

Tôi đang tính, không biết có nên trèo qua cánh cửa sổ mở vào phòng khách, rồi từ đó thử tìm cách lẩn sang xưởng vẽ xem có được không, thì anh Addi đang dở câu hát, bỗng dưng ngã vật ra nền đất, chân tay co giật, người quằn quại, răng nghiến kèn kẹt, y hệt như có lần tôi đã chứng kiến. Tôi chạy vụt đến bên anh ấy, nhưng chị Hilke đã kịp đến trước tôi, và cũng như lần trước ở ngoài cồn cát, chị quỳ xuống bên anh ấy, rồi tháo cái đàn nặng trịch lúc ấy đang xòe ra, đè ngang lên người anh, bao lấy ngực anh Addi như chiếc áo bơi.

Tránh cả ra, chị Hilke nói hướng về phía mọi người, tránh ra, nhưng mọi người vẫn đổ xô lại từ bốn phía, chen đến gần, hốt hoảng đứng thành vòng bao quanh, với vẻ vừa kinh ngạc vừa sợ hãi; không ai nói năng gì, thậm chí không xô lấn, chỉ nhìn nhau, trong khi anh Addi vẫn nằm, mặt mày thất sắc, hai môi mím chặt. Mọi người nghểnh cổ đứng như ngẩn ra cả lượt, từ ông bà Holmsen - mới đó còn say sưa nhảy - đến ông mục sư Treplin cũng như ông gác sân chim Kohlschmidt lẫn bác canh đê Bultjohann. Ông tôi đứng lặng thinh, cả ông Plönnies và ông thuyền trưởng Andersen cũng lặng thinh. Còn mẹ tôi, dáng người thẳng đuột, với vẻ chẳng những không thèm bận tâm, mà còn dửng dưng kẻ cả, bà đứng ra ngoài vòng người vây quanh anh Addi và nhìn chằm chằm, không phải vào anh Addi, mà vào chị Hilke.

Chỉ có một người, với giọng nói nhỏ nhẹ và khẩn khoản tìm cách lách qua vòng người là Tiến sĩ Busbeck. Ông không chờ. Ông không hỏi xem có chuyện gì. Ông chỉ bảo người ta tránh ra cho ông bước vào trong và quỳ xuống trước mặt chị Hilke, rồi lôi khăn tay lau gương mặt anh đầm đìa mồ hôi. Vừa lúc đó, anh Addi mở mắt, ngơ ngác nhìn quanh, ánh mắt còn thoáng vẻ vui vui là khác.

Phải cho cậu ta ăn cái gì vào bụng mới được, viên thuyền trưởng trong các phim tài liệu nói to bằng phương ngữ Platt, nhưng chẳng ai đồng tình. Qua cơn rồi, hết rồi đấy, chị Hilke cất tiếng nói, trong khi anh Addi khó nhọc chống tay nhổm dậy, rồi vịn vào ông Tiến sĩ Busbeck để đứng lên, mắt vẫn chưa hết ngơ ngác nhìn mọi người đứng bao quanh. Chị Hilke chẳng còn cách nào hay hơn là vừa mỉm cười, vừa nắm tay anh ấy kéo đi, mới đầu đến chỗ cái đụ treo, sau ra con đường vòng phía ngoài sang khu nhà vườn, khiến đám đông đứng tụm nhau một lúc rồi cũng chán, đành tản ra mỗi người một ngả, duy còn đôi ba người, nhất lạ ông Per Arne Schessel, ông tôi, vẫn nhíu đôi lông mày rậm, nhìn chưa dứt vào chỗ anh Addi vừa nằm. Từ đằng xa, tôi thấy anh Addi nhấc cây gậy của tôi lên, chìa nó cho chị Hilke xem và chắc chắn đã nói với chị ấy: Đây là cây gậy của thằng Siggi chứ còn gì; tôi liền vung hai tay quá đầu, nhảy cẫng lên và gọi to: Đây, em đây, cho đến khi anh Addi nhìn thấy tôi và ném cây gậy qua khu vườn đến chỗ cái đu cho tôi chạy tới nhặt lên.

Tôi đã định vẫy tay gọi anh ấy, nhưng lại thôi, khi nhìn thấy mẹ tôi đang vội vàng đi chéo sang cắt đường hai anh chị, định gặp hai người ở chỗ cái giếng nước cũ nằm dưới lùm cây tử đinh hương. Tôi ngồi bệt xuống dưới cái đu, căng chiếc khăn tay màu xanh da trời của mình ra và dùng đinh găm nó lên cây gậy, rồi giương cao ngọn cờ màu xanh da trời bay phần phật ấy, tôi quay lại, đâm thẳng vào lễ sinh nhật, dọc theo các hàng ghế băng, len lỏi giữa bàn với ghế, nơi cả đống người đang ngồi, hút thuốc, chuyện trò rì rầm. Tôi vung ngọn cờ sang bên này bên kia, cả tung nó lên cao, mặc dù ở Rugbüll chắc chắn chẳng ai biết tôi đang làm gì đâu.

Vâng, viết đến đây thôi, tôi đành tạm dừng, bởi tôi không thể bỏ qua chuyện đúng lúc tôi giương ngọn cờ xanh lên vẫy thì có tiếng gõ ngoài cửa phòng giam, gõ tuy rụt rè thôi, nhẹ nhàng thận trọng thôi, nhưng cũng đủ to để lôi tôi ra khỏi dòng hồi tưởng và buộc tôi phải gấp quyển vở lại, bực dọc quay người nhìn ra phía cửa. Đằng sau lỗ nhòm có cái gì chuyển động, có cái gì chuyển từ trắng sang nâu. Núm cửa sáng loáng xoay xoay. Nhanh như chớp, các tia nắng len vào phòng. Cánh cửa chậm rãi mở ra, chậm đến mức phát khó chịu, ken két, ken két, đều đều - chỉ còn thiếu cảnh rèm cửa động đậy và quyển sách tự bật mở ra như trong một bộ phim hình sự nào đấy - nhưng do dự, báo hiệu một cuộc viếng thăm chẳng tốt lành gì; tôi miễn cưỡng nhổm dậy, và, do không muốn rời khỏi lễ mừng sinh nhật ở Bleekenwarf quá lâu, tôi cất tiếng nói rất lễ phép: Xin mời vào, kẻo gió lùa.

Anh ta bước nhanh vào trong, bước vội sang một bên, để lão Karl Joswig - bây giờ tôi mới nhìn thấy lão - đứng ngoài hành lang kéo cửa đóng lại sau lưng anh ta. Anh chàng rõ ràng đang lúng túng, hai bên mép khẽ giật giật; bây giờ nhớ lại, tôi có cảm giác anh ta giống như một nhân viên sở thú mới vào nghề, hôm nay lần đầu tiên dám liều chui vào chuồng cho thú ăn vậy. Anh chàng thực tập sinh tâm lý học trẻ tuổi mỉm cười, nụ cười rụt rè, nhưng thân thiện, và đứng tại chỗ, anh ta hơi nhún nhảy. Anh ta định khẽ gập người chào, nhưng do đứng quá sát cửa, nên gập không thành. Trông anh ta hơn tôi áng chừng ba hay năm tuổi gì đó, dáng người mảnh khảnh, gương mặt nhợt nhạt. Bộ quần áo anh ta mặc trên người rất vừa mắt tôi, có vẻ xuề xòa, trẻ trung. Tôi không rõ vì sao anh ta nắm chặt bàn tay trái, khư khư, như thể đang nắm chặt viên đường cho thú ăn không bằng, hay không biết chừng có thể là vũ khí phòng thân cũng nên. Bởi tôi không mời anh ta đến đây, cho nên tôi cứ lặng thinh nhìn ngắm, dò xét anh ta, và trong ánh mắt, tôi cũng chẳng buồn giấu giếm vẻ ngạc nhiên bực bội của mình; đoạn, tôi đưa mắt yêu cầu anh ta sớm vào việc.

Anh là anh Jepsen, phải không ạ? anh ta hỏi với giọng nhẹ nhàng, còn tôi, sau giây lát do dự, đáp lại với vẻ không mấy cởi mở: Phải. Câu trả lời cộc lốc đó cố vẻ không làm anh ta nản lòng. Ẩy mông vào cánh cửa lấy đà, anh ta bước vào phòng, rồi vừa chìa bàn tay yếu ớt ra cho tôi bắt, vừa nói: Tôi là Mackenroth, Wolfgang Mackenroth. Tôi rất vui được gặp anh. Anh ta mỉm cười niềm nở, cởi áo khoác ngoài đặt lên bàn, và với một vẻ thân mật đến lạ lùng, mặc dù chẳng hề có cớ gì để anh ta thân mật như thế với tôi cả, anh ta nắm khuỷu tay tôi, nhìn tôi đầy tự tin và ra hiệu hỏi tôi xem anh ta ngồi lên ghế của tôi được không. Không, anh không ngồi lên ghế ấy được. Cũng phải nói để anh biết, tôi nói, tôi đang bận việc, tôi đang làm bài luận, tôi bị phạt.

Anh ta bảo anh ta biết chuyện đó. Nhà tâm lý học trẻ tuổi biết chuyện của tôi, không tiếc lời bày tỏ lòng khâm phục ý định của tôi; anh ta cũng xin lỗi đã đến quấy rầy tôi, nhưng anh ta bào chữa, lấy cớ ông giám đốc Himpel cho phép anh ta đặc biệt đến gặp tôi. Anh Jepsen ạ, anh ta nói, xin anh giúp tôi, có một số việc tôi phải nhờ anh.

Tôi nhún vai, lầu bầu đáp lại một cách nhã nhặn: Thôi đi, ông bạn ơi, tôi đây thì có ai giúp đâu? rồi để ra hiệu cho anh ta biết, tôi không có thời gian tán gẫu, tôi liền ngồi phịch xuống cái ghế duy nhất trong phòng giam và lôi chiếc đèn pin của tôi ra nghịch. Cái đèn của tôi mượn ánh sáng từ bóng đèn điện, tạo thành một chùm sáng lướt ngang lò sưởi, trườn qua chậu rửa mặt, leo lên cửa sổ, nhảy qua nhảy lại, trò chuyện với lỗ nhòm ở cửa ra vào một lúc - phía ngoài lão Joswig đang ghé mắt canh chừng - vẽ lên trần nhà đôi phù điêu hoa bằng ánh sáng trước khi lặng lẽ cưa cắt ngang cửa phòng giam thành từng miếng mỏng. Bởi anh chàng tâm lý học vẫn đứng lì ra đó chứ chưa chịu rời đi, tôi bèn dùng tia đèn lau giày của tôi, rồi làm mọi thứ người ta thường vẫn làm mỗi khi tự cảm thấy cô đơn. Tôi không để ý gì đến vị khách của tôi, tôi mở quyển vở của tôi ra và đọc những dòng chữ tôi đã viết trong đó, những dòng chữ dẫn tôi trở lại khu vườn ở Bleekenwarf.

Anh chàng Wolfgang Mackenroth vẫn đứng nguyên tại chỗ. Anh ta đứng đó và quan sát tôi, tò mò và thân thiện, như quan sát một thứ của cải mới tậu - tôi phải nói thẳng ra thế - thứ của cải mà lúc đầu, lúc mới thuộc về mình, người ta thường vẫn xem xét, đánh giá kỹ càng; còn tôi, dù chẳng muốn, nhưng mỗi lúc một cảm thấy có thiện cảm với nhà khoa học trẻ tuổi có thái độ thân mật này; tôi bèn lên tiếng hỏi, không biết anh ta có vì nhầm cửa mà đến đây không.

Anh Jepsen ạ, anh ta nói, anh với tôi, ta phải liên minh với nhau, rồi anh ta nói rõ ý định của anh ta với tôi. Số là, anh chàng tâm lý học trẻ tuổi này bị buộc phải viết luận văn tốt nghiệp. Công việc mà anh ta gọi là hình phạt tự nguyện này sẽ giúp anh ta tiến xa hơn về mặt khoa học. Cuốn xong hai điếu thuốc lá, một cho mình và một cho tôi một cách thành thạo, anh ta xoa xoa tay lên cổ rồi đề nghị tôi đồng ý làm đối tượng nghiên cứu cho luận án tốt nghiệp của anh ta. Anh ta sẽ đưa tôi vào luận văn của mình, theo như lời anh ta nói, và sẽ phân tích kỹ càng mọi mặt về tôi. Nói cách khác, tôi sẽ được chôn cất về mặt khoa học, với nghi thức hạng nhất. Toàn bộ vụ của tôi, anh ta nói với giọng tự nhạo báng rất đáng mến, sẽ được anh ta nghiên cứu, xem xét ở mọi góc độ cao thấp, vân vân và vân vân. Tựa đề cho luận văn anh ta đã có sẵn trong tay rồi, vâng, đầu đề luận văn sẽ là “Nghệ thuật và tội phạm - xem xét qua trường hợp Siggi J.” Thế nhưng, muốn cho luận văn tốt nghiệp của anh ta không những thành công, mà còn được giới khoa học đánh giá - vâng, anh ta nhấn mạnh như thế, đánh giá thật xứng đáng - thì không thể thiếu sự đóng góp của tôi. Để đền bù cho sự hợp tác của tôi, anh ta nháy mắt bảo với tôi vẻ dí dỏm, anh ta sẽ đặt danh pháp khoa học cho cảm giác sợ hãi rất hiếm gặp đó - một cảm giác mà theo anh ta, chính là động cơ thật sự từng chi phối mọi hành vi của tôi từ trước đến giờ - là hội chứng Jepsenphobia, một danh pháp khoa học sẽ giúp tên tuổi tôi có cơ hội, đến một ngày không xa nào đó, được ghi vào từ điển tâm lý học.

Sau khi nhà khoa học trẻ mà ông giám đốc Himpel cấp phép đặc biệt cho đến gặp tôi thành thật chia sẻ với tôi các kế hoạch riêng của mình như thế xong, anh ta vẫn đứng nguyên bên bàn như cũ, đặt một tay lên vai tôi, hơi cúi xuống nhìn vào mặt tôi, rồi cố rặn một nụ cười, một nụ cười có lẽ hợp với những kẻ đồng mưu mô gì đó thầm kín hơn, chứ với một nhà tâm lý học và một gã phạm nhân trẻ tuổi đang bị giam cầm như tôi thì chưa hẳn đã hợp lắm. Vâng, nụ cười của anh ta làm tôi lúng túng, và tôi không đủ sức lẳng lặng cho anh ta im miệng, ấy là chưa kể anh ta còn thì thào nói tiếp, lầm rầm giải thích cho tôi hiểu mục tiêu của luận án tốt nghiệp anh ta chuẩn bị là gì: anh ta muốn bào chữa cho tôi, đòi thừa nhận sự đúng đắn của các hành động của tôi và đòi người ta tha bổng cho tôi; anh ta định sẽ bào chữa hành động ăn cắp tranh của tôi và đòi thừa nhận công lao của tôi trong việc gây dựng phòng tranh trong cối xay gió cũ; nói cách khác, anh ta hứa hẹn biến vụ của tôi thành một vụ đặc biệt và đòi lập cho tôi một phiên tòa vô tiền khoáng hậu. Vẻ cuồng nhiệt không ồn ào và chân thật của anh ta để lộ ra lúc trình bày các ý đồ đó với tôi làm tôi thấy anh ta có vẻ đáng tin cậy. Và, tôi cũng phải thú nhận như thế, rằng trong số một ngàn hai trăm nhà tâm lý học cuồng nhiệt, nói năng, nhảy nhót như những người dạy thú làm trò xiếc, những người biến đảo chúng tôi thành một thứ sân khấu xiếc của khoa học dạy thú, thì chính anh chàng Wolfgang Mackenroth này là người duy nhất mà tôi thấy có thể gửi gắm lòng tin được, mặc dù ít nhiều cũng phải dè chừng.

Duy có một điều anh ta làm tôi hơi khó chịu là anh ta biết về tôi nhiều quá. Anh ta đọc kỹ toàn bộ hồ sơ về tôi, anh ta tỏ tường mọi chuyện về tôi. Thoạt đầu tôi đã nảy ý định, hay là cứ nhận giúp anh ta hoàn thành luận văn mình buộc phải làm, để cầm chắc rằng anh ta sẽ giúp tôi xong bài luận tôi phải viết, với điều kiện anh ta sẽ lo việc tiếp tế thuốc lá cho tôi; nhưng đến lúc nghe thấy anh ta ngầm khoe anh ta thân thiết với giám đốc Himpel lắm, thì tôi đành gạt ý định đó đi. Tôi ngắm nghía anh ta kỹ lưỡng: khuôn mặt nhỏ, nhợt nhạt, cái cổ thanh mảnh, đôi bàn tay mềm mại; tôi cũng lắng nghe giọng anh ta nói một cách nghiêm khắc, và mặc dù anh ta càng đứng đây lâu thì mối thiện cảm của tôi đối với anh ta đã chẳng mất đi mà lại còn tăng lên, tôi vẫn bảo với anh ta, lời đề nghị của anh ta bất ngờ đối với tôi quá. Vâng, tôi nói, tôi xin lỗi, tôi phải nghĩ xem thế nào đã.

Thế nhưng, anh ta hỏi tôi, thỉnh thoảng tôi vẫn được đến thăm anh chứ. Được thôi, tôi cho phép anh ta, rồi để tống khứ anh ta đi, tôi cũng gật đầu, khi nghe anh ta khẩn khoản xin, thỉnh thoảng thôi, không đều đặn, được chọn đôi đoạn quan trọng trong luận văn của anh ta nộp cho tôi đọc. Vâng, đúng lời anh ta nói như thế: nộp cho tôi đọc! Anh ta cảm ơn. Rồi vội vàng, như thể sợ tôi có thể đổi ý bất cứ lúc nào không biết, anh ta vớ vội áo khoác và nói: tôi sẽ không làm anh thất vọng đâu anh Jepsen ạ; đoạn, anh ta thân thiện bắt tay tôi, tiến đến cửa ra vào và gõ gõ lên đó từ bên trong; lão Karl Joswig - tôi vẫn không thấy bóng dáng lão ta đâu - mở cửa cho nhà tâm lý học tập sự bước ra ngoài. Tôi dỏng tai nghe tiếng bước chân anh ta rời xa dần, vẻ vội vàng lắm.

Từ lúc đó, tôi ngồi bên cái bàn mặt đầy vết dao khắc và thử quay lại với lễ mừng sinh nhật, thử mò mẫm lần theo chuỗi hồi tưởng, thử ngồi ở đây nhưng lại có mặt ở đó, ở Bleekenwarf, trong vườn nhà bác họa sĩ, giữa đám sinh vật dưới đáy đại dương đang hau háu chờ bữa tối. Lẽ ra tôi có thể cho dọn bữa ăn tối lên bàn, hoặc cũng là để tôn vinh Tiến sĩ Busbeck, tôi có thể phác thảo một buổi hoàng hôn, trong đó các áng màu đỏ và màu vàng thắm thiết quấn vào nhau, hay rốt cuộc, tôi cũng có thể tả cuộc không chiến diễn ra trên độ cao khoảng tám ngàn thước gì đó, cuộc không chiến dạo ấy đã lôi cuốn tất cả chúng tôi suốt mấy phút liền; thế nhưng tất cả những cái đó đều không làm thay đổi được sự thật là tôi đã rời buổi lễ sinh nhật trước tiên. Buộc phải rời khỏi buổi lễ thì đúng hơn.

Tôi không nhớ rõ, lúc đó tôi đang ở đâu. Cũng không nhớ mẹ tôi tóm được tôi ở chỗ nào. Chỗ cái đu, trong nhà vườn, dưới lùm cây hay lúc tôi đang đứng trên chiếc cầu bằng gỗ? Lá cờ màu xanh, tôi còn nhớ, tôi vẫn đang cầm trên tay và tôi đang loay hoay tìm cái gì đó mà tôi không nhớ nữa, chỉ nhớ lúc đó gió đã lặng bớt. Đột nhiên mẹ tôi xuất hiện ngay trước mặt tôi, hằm hằm, hùng hổ; bà định nói cái gì đó, nhưng cất không nổi tiếng, chỉ phát ra một hơi rít cụt lủn, rồi bà nhe răng, nhe hàm răng giả vàng khè ra, như mọi khi vẫn vậy, mỗi khi bà nổi cơn lôi đình, mỗi khi bà đùng đùng tự ái, hay thất vọng bởi điều gì đó. Bà tóm lấy tay tôi. Bà ép chặt tay tôi vào mông bà. Rồi bà quay ngoắt người, hất đầu, ngửa ra sau, ngửa hẳn ra sau, ở mức mà búi tóc to và rắn chắc của bà không làm bà vướng - chả gì thì búi tóc được cài chặt bằng vô số cặp tóc và nằm gọn trong một túi lưới trông cũng giống như một khối u bóng bẩy mọc to ụ sau cổ bà vậy - rồi bà kéo xềnh xệch tôi ra khỏi khu vườn, bắt tôi rời xa buổi lễ mừng sinh nhật đang diễn ra. Mẹ tôi - dáng người to khỏe và cao lớn - bước những bước đi thảng thốt, thậm chí hoảng loạn, kéo tôi băng thật nhanh qua bãi cỏ, đi ngang xưởng vẽ sang sân nhà và suốt cả đoạn đường, mẹ tôi vẫn không nói lấy một lời, cũng chẳng buồn để ý đến ông Andersen - vị thuyền trưởng trong phim tài liệu - đang không có gì khác để thông báo với chúng tôi hơn ngoài thông báo: sắp có ăn rồi đấy! Mẹ tôi kéo tôi theo sau, đẩy toang cánh cửa treo bằng gỗ, rồi đâm bổ ra con đường dài có trồng dương liễu hai bên dẫn tới chân đê; tới đó, mẹ trước con sau, chúng tôi gập người trèo lên mặt đê, rồi không ngoảnh lại nhìn về Bleekenwarf lấy một lần, hai mẹ con chúng tôi lại lập cập theo nhau, tụt xuống dọc theo phía sườn đê trông ra biển.

Tôi nghĩ bụng, trông từ xa, không khéo sẽ có người tưởng bà Gudrun Jepsen, mẹ tôi, giữa cơn cùng đường tuyệt vọng đang khăng khăng kéo con trai bà ra Biển Bắc trẫm mình cũng nên. Đến như tôi, tôi cũng bắt đầu tính xem tôi sẽ phải làm gì, xem nghĩa vụ của tôi lớn đến cỡ nào, liệu tôi có phải ngoan ngoãn theo chân mẹ ngược sóng ra chỗ cái phao nổi được thả xuống nhằm đánh dấu nơi tàu đắm ngoài biển kia để cùng bà chết chìm hay không, thì mẹ tôi đã lại đột ngột đổi hướng, đi dọc chân đê, khiến cho ở Bleekenwarf, nếu có ai muốn nhìn theo hai mẹ con tôi cũng chịu, không thể thấy được nữa. Mẹ bỏ tay tôi ra, bắt tôi đi lên phía trước. Tôi không quay người lại, vừa đi vừa hỏi, sao mình tự dưng lại bỏ đi như thế. Mẹ tôi không đáp. Tôi lại hỏi tiếp xem bố tôi đã bỏ buổi lễ sinh nhật về nhà chưa hay sắp bỏ về, nhưng mẹ tôi chỉ khịt khịt mũi chứ không chịu nói năng gì. Mẹ tôi lặng im, mãi đến lúc hai mẹ con đến chân cột hải đăng tự động có nóc màu đỏ ối, bà mới nói: Nhanh lên, đi nhanh lên, để tao còn kịp uống ít thuốc an thần rồi ngả lưng một lát. Nói xong, mẹ tôi vượt lên trước và không thèm để ý xem tôi có còn bám theo bà hay không nữa.

Nhưng tôi, tôi vẫn bám sát theo bà, rồi vượt lên ngang với bà để lên cầu thang và cùng với bà xông vào bếp; ở trong bếp, mẹ tôi với tay lên cái giá có một loạt lọ màu trắng xếp thành hàng, ngay ngắn đến phát ngượng, tiếng là dùng để đựng gạo, hạt kê, bột ngô xay, bột sago, bột mì, nhưng thực ra là đựng đủ thứ bà rằn, chẳng đúng tí nào với những gì ghi trên những miếng nhãn màu vàng dán bên ngoài lọ. Mẹ tôi dốc ngược một cái lọ trong số đó, rồi từ đống những ống, hộp giấy, hộp kim loại con con dốc ra đó, bà nhặt lấy một túi giấy nhỏ, đổ tuột thứ bột gì đó đựng trong túi vào cốc nước, khuấy cho tan ra, rồi ngồi xuống ghế, đưa cốc nước lên miệng, nhắm mắt uống ừng ực. Tôi đứng lặng bên mẹ tôi, trong tư thế ngoan ngoãn đầy sợ hãi mà bà đẩy tôi vào, và quan sát bà với vẻ vừa thú vị, vừa trách móc: tôi nhìn cái cằm nhọn, đôi lông mày hung hung đỏ, hai lỗ mũi, đôi môi cong xuống của mẹ tôi, nhưng không dám chạm vào người bà. Mẹ tôi ngồi chống thẳng hai tay vào mép ghế. Bà ưỡn thẳng người. Rồi bà nín thở trong giây lát. Tôi hỏi mẹ tôi xem thuốc mẹ uống thế có đỡ không, rồi tiếp luôn, liệu tôi có được quay lại lễ sinh nhật ở Bleekenwarf không. Nhưng, vì bà không đáp lại tôi, tôi lại hỏi tiếp, tại sao hai mẹ con mình lúc nãy dưới chân đê phải đi nhanh như thế. Bấy giờ bà mới nheo mắt nhìn tôi, rồi bà đứng dậy, bảo tôi đi theo.

Hai mẹ con leo cầu thang lên tầng trên, đi qua phòng tôi, lên tầng áp mái rồi mở cánh cửa dẫn vào nơi anh Addi ngủ ở gian gác xép. Cái vali bằng giấy bồi của anh ấy nằm giữa phòng. Bộ dao cạo râu của anh ấy lấp lánh trên bậu cửa sổ. Một chiếc áo len cũng để nằm vắt vẻo ở đó. Dưới chân ghế đẩu, đôi giày vải bạt còn mới đang chực sẵn, chờ buổi đẹp trời. Trên chiếc tủ quần áo con con kê cạnh giường có một cái mũ lưỡi trai, khăn quàng và một xấp khăn tay, còn trên chiếc gối ở đầu giường là quyển sách có nhan đề Đánh chiếm Narvik.

Xếp tất cả vào, mẹ tôi bảo. Rồi, vì thấy tôi vẫn đứng ngây ra, bà lại nói: Xếp tất cả vào vali kia, mau lên. Bà còn phải gắt lên mấy lần nữa, bắt tôi phải xếp đồ đạc của anh Addi vào vali của anh ấy, rồi trong lúc tôi làm dưới ánh mắt dò xét của bà, bà mới nói nhỏ: Không được quên thứ gì cả, nó phải mang đi cho bằng hết. Mang bằng hết. Bà chìa cho tôi chiếc máy ảnh rẻ tiền, chắc chắn còn mới, chưa dùng đến rồi nói: Nhét vào giữa mấy đôi tất cho tao. Tự tay bà, bà gập cái cravát rồi xếp nó vào cùng với áo sơ mi. Hai mẹ con xếp xếp, gập gập, đè lên, ấn xuống, cho đến lúc trong phòng, ngoài chiếc vali, không còn dấu vết gì của anh Addi nữa cả. Và, lúc mẹ tôi nhấc chiếc vali lên xách ra ngoài thì khó có ai không thấy bà phải miễn cưỡng đến thế nào, miễn cưỡng đến mức tay bà trông cứ cứng đơ ra. Còn tôi, lúc ấy tôi lại nghĩ những gì à? Mới đầu tôi tưởng mẹ tôi định thưởng cho anh Addi, bằng cách xếp cho anh ấy ngủ ở căn phòng nào tốt hơn và trong bụng tôi, tôi đã thầm mong, anh ấy sẽ được ngủ cùng phòng với tôi; thế nhưng hai mẹ con tôi xuống tận tầng dưới, và ở đó, bên cạnh phòng làm việc của bố tôi, mẹ tôi cứ thế thả cái vali rơi đánh bộp xuống nền nhà, đoạn, bà đẩy nó vào sát tường và đập đập hai tay vào nhau.

Anh ấy lại đi, hả mẹ? tôi hỏi, còn mẹ tôi, lúc này đã trấn tĩnh trở lại, thủng thẳng đáp: Nó không phải người nhà này, thì nó phải đi. Tao đã bảo nó rồi. - Sao thế hả mẹ, sao anh ấy phải đi? - Chuyện mày không hiểu được, mẹ tôi nói, và ngước mắt nhìn qua cửa sổ ra ngoài vùng đất phẳng lặng về phía Bleekenwarf, rồi bỗng dưng bà nói, không động đậy người, cũng không lên giọng: Nhà này không chứa hạng ốm đau như thế. - Chị Hilke cũng đi à, tôi vội hỏi thì mẹ tôi đáp: Để xem thế nào; rồi ta khắc biết bè đảng nào mạnh hơn, vâng, đúng là mẹ tôi nói nguyên văn đến bè đảng như thế.

Chỉ cần nhìn gương mặt nghiêm nghị và ửng đỏ của mẹ là tôi biết, lễ mừng sinh nhật thế là chấm dứt, ít nhất là mẹ tôi sẽ chẳng cho phép tôi lần nữa quay lại Bleekenwarf. Bởi thế, lúc mẹ tôi làm cho tôi miếng bánh mì kẹp xúc xích rồi đuổi tôi về phòng đi ngủ thì tôi đành ngoan ngoãn nghe lời. Tôi che tối cửa sổ phòng tôi lại. Tôi cởi quần áo ra rồi xếp lại ngay ngắn trên mặt ghế kê cạnh giường đúng như lời bố mẹ đã dạy tôi: cái quần vuốt thẳng ống, nằm bên trên là áo len gập lại thành khối vuông, trên áo len là áo sơ mi cũng phải gập lại theo nếp, mép sát mép với áo len, ngay ngắn ghê người và sau rốt là áo lót - đó là thứ tự mà sáng ra, tôi sẽ lại lần lượt, từ trên xuống dưới, mặc lên người. Tôi dỏng tai lắng nghe. Trong nhà, mọi thứ lặng như tờ.

Hoàng Đăng Lãnh (dịch).
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.