Giờ Đức văn

Lượt đọc: 151 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 18
THĂM NHÀ TRƯNG BÀY TRANH

❊ ❊ ❊

Cả lần này tôi cũng đến sớm quá. Không bao giờ tôi có thể đến một nơi nào đúng giờ đã hẹn hay đã định trước cả, dù đấy là giờ đi học, đi ăn, đến Bleekenwarf, hay đến ga tàu; đi đâu tôi cũng đều không đúng giờ, bao giờ tôi cũng đến sớm. Bởi thế, nên tôi cũng chẳng ngạc nhiên thấy cửa nhà trưng bày tranh Schondorff ở Hamburg vẫn còn đóng và mấy người bảo vệ, trông cứ như mấy con tinh tinh - khoác quần áo màu xám trên người và đeo găng trên tay - mấy người sẽ có nhiệm vụ chỉ dẫn cũng như phục vụ khách tham quan chẳng buồn nhìn sang tôi; họ đứng khá xa nhau trong gian tiền sảnh sàn bóng nhoáng, và rời rạc chuyện trò với nhau; ngay cả khi tôi rất lễ độ, thì cứ nói vậy, thử lay lay cánh cửa giữa xem sao, họ cũng không thèm để ý. Thế đấy, bất kỳ đi đâu, bất kỳ lúc nào, tôi cũng đều đến sớm. Thôi thì, đành để anh chàng Wolfgang Mackenroth đánh giá xem triệu chứng đó là thế nào.

Tôi nhìn vào bên trong qua cánh cửa ra vào bằng kính. Tôi cố tình đi lên đi xuống ở phía ngoài giữa trời đang mưa phùn, thỉnh thoảng lại thử kéo tay nắm cửa xem sao. Tôi đọc đã không biết bao nhiêu lần tấm áp phích thông báo ngày khai mạc và cho biết cuộc triển lãm lớn tranh Nansen sẽ kéo dài bao lâu. Mấy ông bảo vệ không nhìn thấy tôi, hoặc ra vẻ không nhìn thấy tôi. Đến lúc các vận động viên tham gia cuộc chạy tiếp sức quanh hồ Alster - cuộc thi khai mạc Chủ nhật này - quần áo người nào người nấy ướt đẫm nước mưa và bê bết bùn đất chạy qua giữa hai đường ray tàu điện nằm phía dưới kia, mấy người bảo vệ cũng bước đến cửa kính, đứng nhìn họ với vẻ không phải là không ái ngại, trong khi họ, đám lực sĩ chạy đua, miệng há hốc, tay khuỳnh ra, lạch bạch chạy nốt quãng đường còn lại tới chợ Gänsemarkt. Tôi ra hiệu với mấy người bảo vệ, nhưng họ không để ý; chắp tay sau lưng, họ hết sức chậm rãi quay lại giữa gian tiền sảnh, rồi đứng dưới ngọn đèn chiếu sáng choang, như thể muốn trưng bày chính họ. Ai mà biết được, lúc ấy họ nói gì với nhau. Có thể họ đang nhìn ngắm lẫn nhau, kiểm tra lại giúp nhau mức nghiêm trang, vẻ cảnh giác cũng như quyền uy họ phải toát ra, hay sẽ phải toát ra trong vai trò bảo vệ của mình. Chà, không biết phải có bao nhiêu người tụ tập ngoài này họ mới chịu mở cửa trước giờ nhỉ?

Người khách tham quan thứ hai là một ông già lưng còng; ông ta chống gậy theo các bậc thang ốp bằng các tấm đá cẩm thạch tối màu và bóng nhẫy nước mưa dẫn lên thềm trước cửa ra vào; đến đây, ông dùng vai định mở cánh cửa bằng kính, nhưng, do không mở được cửa, ông giương đôi mắt dưới bộ lông mày rậm rì nhìn mấy người bảo vệ, rồi lấy cán gậy gõ gõ vào cửa. Không ăn thua. Ông ta đến bên tấm áp phích, ngẩng phắt đầu lên nhìn bức tranh tự họa mang hai phần mặt khác nhau của họa sĩ Max Ludwig Hansen với vẻ trách móc, như thể muốn than phiền với họa sĩ về chuyện người ta ngăn, chưa cho ông vào phòng tranh. Ông ta lấy đầu gậy có bọc sắt chỉ vào sống mũi màu xanh lam trên bức chân dung, rồi đưa mắt chậm rãi đọc dòng thông báo giờ mở cửa và khoảng thời gian của triển lãm tranh Nansen, đoạn, ông ta nhìn lên đồng hồ điện ở bến tàu điện nằm dưới kia. Mới mười một giờ kém mười lăm. Ông già đành chịu, và sau khi liếc nhanh sang tôi một cái, ông ta rụt cổ lại, cam phận đứng chờ, trông như một con chim to, ủ rũ, coi thời gian trôi đi khi chờ đợi không mang nhiều ý nghĩa lắm.

Tiếp theo ông già là ai ư? Đến sau ông là một cặp thanh niên nam nữ; họ đi dọc theo con phố chạy ngang trước mặt nhà triển lãm tranh; chàng thanh niên trông dáng mập mạp, mặt mày quàu quạu, chân mang ủng cao su vá chằng chịt, đầu để trần, râu chưa cạo, và mặc trên người chiếc áo len cổ lọ đan bằng len lông cừu mộc, không màu; cái áo len rộng thùng thình, dài đến tận đầu gối, và chắc chắn khi đi ngủ anh ta cũng mặc nguyên trên người. Mái tóc anh ta mỏng, màu vàng tro, rủ xuống trán, trên môi - đôi môi trề ra như thể sẵn sàng muốn giễu cợt - anh ta ngậm một điếu thuốc cháy dở, đã tắt ngấm tự lúc nào. Dáng điệu anh ta cho người ta thấy, anh ta chẳng thích thú gì đến đây, vì miễn cưỡng mà phải có mặt ở đây thôi; có lẽ do cô bạn gái chân dài, tóc dài, mặc áo mưa đen bóng nhoáng van nài nên anh mới đến đấy thôi. Cô này, một tay khoác ngang lưng anh bạn trai, tay kia cầm con búp bê khâu từ các mảnh vải vụn - chắc chắn tự tay cô làm - trông có vẻ giống cô, không phải chỉ giống ở cái áo mưa màu đen khoác bên ngoài con búp bê mà thôi. Cô gái đi xăng đan, không mang tất. Đôi mắt sáng, đỏ hoe và sưng mọng do khóc nhiều. Gương mặc hơi bè. Vẻ âu yếm của cô dường như chia đều, một nửa cho anh bạn, một nửa kia cho con búp bê. Cô có vẻ đang bị lạnh.

Hai người tiến tới tấm áp phích, cùng đứng ngắm nghía nó khá lâu, lâu quá mức thời gian, mà nói chung, thiên hạ thường vẫn dành để xem áp phích. Chàng trai nhún vai, hỏi cô bạn, liệu cô có còn thấy cô gọi anh ta dậy sớm vào một ngày Chủ nhật ngớ ngẩn, chẳng có gì đặc biệt như hôm nay, để ra đây là ổn nữa không; nhưng khi cô bạn anh ta có vẻ không biết nói gì hơn, ngoài bẽn lẽn ôm chặt thêm tấm lưng chẳng ra hình thù gì của anh ta vào mình, thì anh ta hất đầu về phía bức tranh tự họa của họa sĩ Nansen rồi nói bâng quơ gì đó về ông thợ vẽ… Cái ông thợ độc vẽ mây với gió… và đòi phác dựng cả vũ trụ ấy. Thôi, đã mất công dậy sớm, thì đành chịu khó vậy.

Đấy, em cứ xem bức tranh tự họa kia là đủ biết chứ gì. Một tay thợ nhuộm có cỡ! Anh ta cứ một giọng như thế mà càu nhàu, còn cô gái chỉ lẩm nhẩm hát bản “Lullaby of Birdland”, lúc lắc con búp bê trên tay theo nhịp.

Cánh cửa kính ở giữa mở ra; chúng tôi ai nấy đều cố nhanh chân bước tới, tưởng đã đến lúc khách được vào, nhưng hai người bảo vệ đầu tóc chải mượt ngăn chúng tôi lại, chỉ cho mấy gã bên đài truyền hình và phát thanh vào trước; đám người dường như ở đâu cũng không phải chờ đợi này áp đến, mang theo nào thùng, nào hộp kim loại, nào máy quay, với máy ghi âm. Mà không phải chỉ có thế. Vừa vào được gian tiền sảnh, họ đã kéo cả chục nhân viên phòng tranh phục vụ họ nữa chứ, người kéo dây điện, người tìm ổ cắm, người kê đèn chiếu, vân vân. Đứng ngoài, áp mặt vào kính, chúng tôi quan sát cảnh tượng lăng xăng chộn rộn ở bên trong. Thỉnh thoảng ngửa mặt ra sau, tôi lại nhìn thấy cảnh tượng phản chiếu mờ mờ qua kính cho thấy khách tham quan mỗi lúc một đông, mỗi người một kiểu, bước theo các bậc thang ốp đá cẩm thạch lên bậc thềm, và, nếu không áp mặt vào kính để nhìn vào bên trong như chúng tôi, thì họ lại nhìn sang cột đồng hồ điện, hoặc đứng tán gẫu với nhau, hay ngán ngẩm đứng chờ.

Càng gần đến mười một giờ trưa, khách đến càng đông, bằng taxi, tàu điện, bằng xe riêng hay cuốc bộ; ai nấy bước theo các bậc thang ốp cẩm thạch lên bậc thềm, chào hỏi nhau với đủ các nghi thức, từ khẽ gật đầu, khẽ đến mức khó nhận ra, đến hôn qua hôn lại má nhau không biết bao nhiêu lần, hoặc dang rộng tay, ôm nhau thật là lâu. Nhìn cảnh tượng này, chắc ai cũng phải nghĩ những người trong đám này, nếu không cùng chung một nhà, thì chắc họ cũng phải là những người đã thân quen nhau ở đâu đó từ lâu. Bắt tay lia lịa. Vỗ vai liên tục. Hôn tay chùn chụt. Các ánh mắt ân cần, săn đón. Đám người này dường như không mất hứng chào hỏi nhau thì phải. Các khuôn mặt đều nở những nụ cười, từ mủm mỉm, ngọt ngào đến tươi rói. Bao nhiêu là người vẫy tay. Và lặp đi lặp lại các cử chỉ làm hiệu cho nhau: Lát nữa nhé; lát nữa gặp nhau nhé; lát nữa ta phải gặp nhau đấy! Khói thuốc lá, khói thuốc tẩu bay lên. Tiếng gọi ới lên, à xuống. Và, mặc dù họ bận chuyện trò, vài câu bên này, đôi câu bên kia như thế, mắt ai nấy vẫn không quên đảo lên đảo xuống, liếc ngang liếc dọc, xem ai đã có mặt, ai vừa đến, ai còn vắng mặt.

Cả tôi cũng phát hiện ra người quen: ông Bernt Maltzahn khoác áo mưa này, cả nhà phê bình nghệ thuật Hans-Dieter Hübscher nữa này, là người từng đến thăm bác họa sĩ ở Bleekenwarf đôi lần - một người tóc quăn mềm mại, đeo kính gọng sừng, da vàng bung bủng - vâng, trông như một con sâu mắt lồi.

Ai trong số những người đứng trên bậc thềm nhà trưng bày tranh Schondorff này cũng đều đáng được để ý cả, tùy mức độ thích hợp cho từng người, dù đấy là người đàn bà có bộ mặt ngựa, mặc tuyền đồ đen, mũ đội rộng vành, cũng màu đen, và đeo đôi khuyên tai to rộng đến nỗi, mỗi bên có vài ba chú khỉ con đánh đu cũng còn thừa khối chỗ, hay người đàn ông mặc quần ống xẻ có gương mặt giống mặt trẻ sơ sinh đến mức kỳ lạ; dù đấy là người đàn ông có gương mặt đỏ gay ngậm cái tẩu thuốc ngắn chủn và không ngớt nhìn theo các đụn khói thuốc do ông ta nhả ra - một người mà tôi cầm chắc có tài vẽ chân dung người nói chuyện với mình qua làn khói, hay đôi vợ chồng già mặc áo măng tô lông lạc đà, và đều có ánh màu hoa cà trên mái tóc; dù đấy là người đàn ông bị nấm ngoài da ở cằm khiến râu ông lởm chởm và cầm trên tay cây gậy khảm ngà voi, hay cô gái mặc váy da và áo len xanh đang kiên nhẫn xoa lưng cho anh bạn lùn tịt đứng cạnh cô, và thêm vào đó, là người đàn bà dáng người mảnh dẻ, tóc hung, hai chân nổi mẩn, đầy nốt đỏ. Vâng, ai trong số họ cũng đáng được để ý cả, và ai cũng nhắc nhở ta - tôi cứ nghĩ sao nói vậy - phải nhớ đến sự đa dạng của các loại tài năng mà con người chúng ta vốn mang theo mình.

Song các vị đừng tưởng cánh bảo vệ sẽ nhìn thấy cảnh tượng này và làm ơn làm phúc mở cửa trước giờ đã định đâu nhé; họ chờ đến lúc chiếc đồng hồ điện chỉ đúng mười một giờ mới mở cửa, đã thế, họ lại còn ra đứng trước quầy gửi áo khoác mà cười nhăn nhở, như thể họ còn mong thiên hạ phải cảm ơn họ đã mở cửa ra không bằng; nhưng cũng có thể họ nhăn nhở cười như thế, chỉ vì nhận ra hai phóng viên truyền hình, vốn đến đây để quay phiên khai mạc, đang chiếu cả hai ống kính về phía họ. Vâng, mọi người chen nhau, đẩy nhau, lách qua nhau trước mặt mấy gã bảo vệ - tôi không kịp lọt vào số những người đầu tiên len được vào trong - để tiến sâu vào gian phòng sáng choang, sàn bóng lộn, phía bên trong phòng tranh Schondorff, gian phòng được chia bởi các bức tường các tông mỏng thành các lối đi hẹp và ngõ cụt, và, nếu nhìn từ trên cao xuống, người ta sẽ phải có cảm giác đang nhìn một thứ mê cung, một thứ trận đồ bát quái thu nhỏ cho trẻ con chơi. Dòng khách tham quan chảy vào các lối đi lẫn ngõ cụt đó, nhưng không dừng lại, mà lần theo những lối đi được tính toán khéo léo từ trước, họ lại cứ thế mà đâm trở lại gian tiền sảnh, rồi đứng lại bên lề, ai nấy quay lưng về phía các khung cửa sổ lớn, và hướng ánh nhìn về phía cửa ra vào. Họ đứng đó, thì thầm với nhau, quan sát, ngắm nghía lẫn nhau mới tự nhiên làm sao! Họ kìm nén mong muốn của họ mới dễ làm sao, mong muốn được ngắm các bức tranh được treo theo thứ tự của các giai đoạn tiếp nhau trong cuộc đời nhà họa sĩ trước khi nghe diễn văn khai mạc; vâng, đúng thế, cứ nhìn kiểu cách khách tham quan đứng chờ thôi là đủ biết sẽ có ai đó đọc lời khai mạc.

Tiếng nói chuyện, tiếng cười khe khẽ vang lên mỗi lúc một nhiều, và thỉnh thoảng lại chen vào đôi lời chào hỏi. A, lại gặp các vị ở đây. Ta phải gặp nhau nhiều hơn, hay ta hẹn ngay vào tuần sau đi, thôi được, ta gọi điện cho nhau nhá… Vâng, ông già sẽ có mặt, trên báo viết rành rành thế mà… Không phải ở nhà hát Thalia, mà ở nhà hát nhỏ Kammerspiele… các ông các bà phải lấy làm mừng, vì không phải dự buổi khai trương mới đúng… Đôi khi tôi cử tưởng ông ấy là bức tượng cho chính mình vậy… Chà, cái cách ông ấy khống chế sức bật của màu sắc mới ghê chứ… Thống thiết quá, đúng không, nhiều nét thống thiết quá… Tay Schondorff làm thế nào mà rủ rê được ông già ra thành phố được thế không biết… Chính trong các ẩn dụ màu sắc, em ạ, chứa đựng các nét tượng trưng mà ông ấy dựng nên… Tôi vẫn cứ xem ông ấy cùng lắm chỉ là nhà trang trí… Ông Balduin chỉ còn làm truyền hình nữa thôi, chứ thời buổi này dùng sâu khấu anh không thể tác động vào các vấn đề cấp thiết được nữa rồi… Ta đang sống trong thời đại của thị giác, các thứ giác quan khác đều không còn… Ở ông ấy, màu sắc không những chỉ có ý nghĩa thi ca, mà còn cả ý nghĩa ẩn dụ nữa… Ông ấy còn Đức hơn cả sáu ông lính phóng lựu người Phổ gộp lại ấy chứ… Sau cái trò diễn này, mình kéo nhau đi ăn nhá… Xét về sức gợi cảm của màu sắc thì không ai bằng ông ấy thật… Kia không phải ông Thomas Stackelberg à? Phải rồi, Thomas Stackelberg chứ còn ai nữa! Đúng Stackelberg rồi. Đúng là ông Thomas Stackelberg thật, một người vừa là ca sĩ vừa là diễn viên - đầu để tóc dài bờm xờm, miệng nở nụ cười dùng cho màn ảnh, lạnh như băng, yếu ớt, trang phục hệt như trang phục của Nhà vua Edward; ông ta xuất hiện và gật gật đầu liên tục chào ai đó, như thể có ai đó chào ông ta thật, rồi trong tư thế một người đã quá đỗi quen thuộc với những ánh mắt hâm mộ và tò mò dồn vào mình, ông ta lấy dáng điệu cẩu thả, bất cần - một dáng điệu chắc chắn phải khổ công luyện tập mãi mới có được ấy - khoác tay một người đàn bà trông bộ dễ thương, miệng rộng, bước xuyên qua vòng người mở ra trước mặt để tiến tới nhóm khách có vẻ là bạn bè với hai người… Giống bố như đúc… Kìa, trông ông ta mới giống ông thân sinh chưa kìa… Hiện nay ông đang bận với vai gì ạ?… Ô, tôi phải nói thật là tôi rất bất ngờ gặp ông ở triển lãm Nansen này đấy ạ. - Tại sao lại bất ngờ chứ? Ông Stackelberg hỏi. Cứ mỗi lần Gabriele nhà tôi sinh con, cô ấy lại ao ước một bức. Nansen thuốc nước. Cô ấy đã ước là phải được thôi, đúng không nào?

Hai người đàn ông, một già một trẻ, khoác áo choàng không cài khuy, nhìn sang phía tôi, dò xét tôi. Không ai chào hỏi họ, họ cũng không chào hỏi ai. Nói chuyện với nhau, họ cũng không nốt. Rõ ràng họ không thuộc vào giới những người đến xem tranh ở đây; lúc ống kính truyền hình lia về phía họ, không ai bảo ai, họ đều lẳng lặng cùng quay mặt đi, rồi lui ra phía sau. Không phải họ bỏ đi, họ vẫn ở đó và không rời mắt theo dõi, dò xét tôi; thậm chí tôi có cảm giác họ còn để ý quan tâm đến tôi nhiều hơn là quan tâm để ý đến ông Rudolf Schondorff, người đang vác bộ mặt nhẵn nhụi và kiêu căng đi xuyên qua vòng người để tiến về phía cầu thang, rồi đứng lại đó, lấy dáng trịnh trọng, ra oai.

Ai nấy đều nhìn ông Rudolf Schondorff. Ông này có vẻ cảm thấy các ánh mắt đều đang dồn về phía mình, liền xoa xoa các ngón tay ra trước ngực, như thể định xoa cho chúng mềm mại, chuẩn bị sẵn sàng đưa ra bắt một cái bắt tay đặc biệt. Đoạn, ông ta quay người, ra hiệu cho một tay bảo vệ nào đó. Trong gian tiền sảnh không còn tiếng rì rầm nào nữa, tiếng cười nhỏ hẳn đi, ai nấy đều đứng yên. Ông chủ phòng tranh đứng thẳng người, hai tay buông xuống, một chân hơi bước lên trước, ở tư thế chuẩn bị cúi chào. Chả là họa sĩ Max Ludwig Nansen đang đến.

Kéo theo ông Teo Busbeck đi cùng, ông đến trong bộ trang phục tôi chưa thấy ông mặc bao giờ để dự các cuộc triển lãm tranh Nansen long trọng khai mạc ở Hamburg: giầy ghệt, quần ống kẻ sọc, áo măng tô cũ đã bạc màu, cà vạt lụa gắn kim gài, vòng cổ áo cao, và trên cái đầu to và chắc của ông, ông đội một cái mũ kiểu cổ xưa, trông cứng đơ đơ. Ăn mặc kiểu này, giá ông có đứng làm mẫu cho bảo tàng địa phương Altonar, và vào ở trong ngôi nhà của miền Friesen vừa được xây lại theo mẫu nhà từ năm 1810 cũng được. Gương mặt ông lộ vẻ bề trên, trịch thượng, đôi môi ông hơi bĩu ra, biểu lộ ít nhiều vẻ khinh khỉnh. Và cái lối ông bước đi mới lạ chứ! Ông có vẻ cố tình bước thế nào cho hợp với trang phục ông mang trên người! Vâng, với dáng uy nghiêm, ông bước những bước đi chắc nịch - bước đi của một ông chủ biết chắc lối đi đã được dọn sẵn cho mình - tay khoác tay ông Teo Busbeck, ông bạn của ông, theo các bậc thang bước lên phía trên. Lúc ông Schondorff cất tiếng chào mừng ông, ông không cười, không tỏ một cử chỉ thân thiện nào; ông lơ đãng nghe ông kia nói, hơi gật đầu, và khi khách khứa vỗ tay, thì ông cũng chỉ gật gật đầu cho qua chuyện. Trong tiếng vỗ tay thưa thớt, ông bước ra giữa vòng khách tham quan, tay vẫn giữ chặt tay Tiến sĩ Busbeck lúc đó đang tính lảng ra chỗ khác. Đến lúc này ông mới ngẩng đầu lên, khó chịu nhìn mấy cái đèn chiếu và ống kính đang ro ro quay. Quả là một bóng hình ngạo nghễ và ương ngạnh! Lúc ông Schondorff chìa tay toan bắt tay ông lần nữa, ông cũng chẳng nhìn, và lúc tay đạo diễn đội quay truyền hình tiến đến gần ông, xin ông bắt tay vị giám đốc phòng trưng bày tranh lần nữa cho họ quay phim rồi chiếu lên truyền hình, ông xua tay đuổi tay này đi. Ông cúi mặt xuống, ra hiệu ông đã sẵn sàng nghe lời khai mạc, kiểu như muốn nói: Thôi, làm gì thì làm đi!

Thế là, ông Schondorff, với tư cách chủ nhà, bắt đầu nói, mềm mỏng, chốc chốc lại xoay xoay mảnh giấy nhắc lời ông ta kẹp vào giữa các ngón tay, trong khi đó, ông họa sĩ trầm ngâm, nhưng cũng lắng nghe với vẻ phê phán, như thể ông chỉ chờ dịp là sẽ lên tiếng phản đối, hay ít ra, để chỉnh lại lời người nói. Một lần nữa xin kính chào họa sĩ! Tất nhiên, niềm vinh hạnh lớn lao được đón họa sĩ ở đây… Đôi lời nhắc lại những năm tháng nhọc nhằn, những năm tháng phải đấu tranh… Đôi lời chỉ rõ niềm vinh hạnh của khách khứa ở đây được đón tiếp họa sĩ Max Ludwig Nansen - người đại diện đương thời lớn nhất của nền… Đôi lời trích dẫn từ bức điện gửi Reichskammer phụ trách nghệ thuật tạo hình ở Berlin, bức điện đã đi vào lịch sử nền nghệ thuật đất nước. Đôi lời nhắc tới các tác phẩm vô giá đã mãi mãi mất đi. Rồi quay sang, hướng thẳng đến ông họa sĩ, ông ta nói tiếp, rằng mặc dù thế, ông vẫn nhận lời mời… Xin nhấn mạnh lòng biết ơn của tất cả mọi người đối với họa sĩ. Cảnh bắt tay. Rồi tiếng vỗ tay rộ lên.

Sau đó đến lượt ông Hans-Dieter Hübscher. Nhà phê bình người Hamburg nói không cần giấy nhắc lời, mắt nhắm lại, ông nói rất tự nhiên, thành những câu ngắn gọn; thỉnh thoảng liếm môi, rồi mỉm cười yếu ớt và buồn bã, như thể những lời ông nói chưa được ông cân nhắc kỹ mà chỉ tuôn ra nhằm lấp chỗ trống; ông nói, trải rộng lan man, bao trùm tất cả những gì ông muốn nói, từ “sức mạnh hoảng loạn của thiên nhiên đóng vai trò trung tâm trong các tác phẩm” cho tới “các nguồn cảm hứng nghệ thuật dồi dào” của họa sĩ Nansen.

Ông họa sĩ nhìn nhà phê bình với vẻ ngạc nhiên, nhưng tán đồng; ông gật đầu khi ông kia nói về hình thức biểu cảm tượng hình và về một khái niệm mới về mặt bằng; ông cũng có vẻ tán thành khi ông kia nói về quá trình họa sĩ tìm về trạng thái nguyên sơ của con người.

Họa sĩ nghiêng người thì thầm gì đó vào tai ông Teo Busbeck, nhưng rồi lại quay phắt về phía nhà phê bình ngay, để nghe ông này chuyển sang nói về các phạm trù trường tồn của hội họa, tức là các phạm trù về mặt bằng, màu sắc, ánh sáng và trang trí; họa sĩ Max Ludwig Nansen lại gật đầu, và tôi nhận ra là thứ làm ông ngạc nhiên nhất chính là sự đồng tình của ông với những lời nhà phê bình cất lên. Bất giác, ông xích lại gần ông Hans-Dieter Hübscher hơn, trong lúc ông này đã chuyển sang nói về những dải màu sắc mà ông Nansen luôn luôn thử nghiệm ở mọi nơi, nhằm thống nhất chúng lại thành một thứ gọi là “hợp âm phổ quát”, một dải tầng âm thanh bao trùm tất thảy vạn vật trong vũ trụ… vân vân. Họa sĩ không vặn vẹo gì về nhận định này, ông cũng không phản đối gì khi ông kia cho rằng các thử nghiệm nhằm đạt tới hợp âm phổ quát đó của ông cũng là các thử nghiệm từng lôi cuốn Rembrandt. Vâng, tôi có thể nói ông, tức ông họa sĩ, gây cho tôi cảm giác ông đang rất ngạc nhiên và xúc động. Rồi, để kết thúc, ông Hübscher nói: Các công trình này là những bằng chứng cho thấy, một hợp âm màu sắc có thể được chuyển thành nội dung mang tính cảm xúc thuần túy của hội họa như thế nào.

Nói xong, ông mở mắt, hơi nghiêng người về phía ông họa sĩ, rồi sau đó, nghiêng người lần nữa về phía đám khách khứa đang tụ tập; ông đã toan bước đi, thì họa sĩ Max Ludwig Nansen nắm chặt lấy tay áo ông. Trong tiếng vỗ tay mỗi lúc một to, ông bắt tay nhà phê bình, kéo ông này về phía mình và nhìn người đàn ông đã chiếm được nhiều sự đồng tình của ông khá lâu. Ông cũng nói cái gì đó, nhưng tôi không còn nghe ra là gì nữa; bởi vì, cuộc triển lãm như thế được coi là đã khai mạc, và cả ở phía sau lẫn bên cạnh họ, khách khứa lục tục rời gian tiền sảnh, vòng người dãn ra, tiếng cười nói lại rộn lên chỗ này chỗ khác, nhất là ở quanh ông Thomas Stackelberg. Vâng, khách tham quan tản vào các ngõ lẫn ngách hẹp của phòng trưng bày, tản ra, hay đúng hơn, họ đẩy nhau, từng người một hay thành từng nhóm, đi ngang qua các bức tranh; họ nhanh chóng chiếm các ghế bành được kê ra mời mọc những ai muốn ngắm tranh lâu hãy ghé ngồi.

Nhóm dẫn đầu - vâng, tất nhiên cũng hình thành một nhóm dẫn đầu như thế - gồm các ông Schondorff, ông họa sĩ, Tiến sĩ Busbeck và ông Hans-Dieter Hübscher đi bên nhau. Họ có vẻ vội. Vừa đi, ông Schondorff vừa giải thích cái này, cái nọ; đôi lúc ông ta cũng muốn dừng lại nói đôi điều gì đó, nhưng không ai muốn nghe ông ta; nhất là ông họa sĩ, ông có vẻ không muốn nghe thêm gì cả, ông cứ thế cắm đầu bước đi, kéo cả những người khác đi theo. Chốc chốc, ông lại ra hiệu bảo nhà phê bình chớ tụt lại sau; ông có vẻ còn muốn bàn bạc thêm với ông này. Tôi không biết được, không chừng ông muốn nghe ông kia nói thêm về mình cũng nên. Thế nhưng, có lẽ điều làm ông ít ngờ nhất là bắt gặp ở đây một người nói về ông bằng những lời mà ông cũng tán thành, và đó chính là điều khiến ông phải ngạc nhiên, lúng túng, thậm chí còn hốt hoảng.

Ai mà biết được, bác ấy sẽ xử sự thế nào, nếu bác nhìn thấy tôi ở đây. Nhưng tôi luôn đề phòng, luôn tìm cách lùi lại sau, bao giờ cũng cố đứng khuất sau lưng một ai đó. Lần cuối cùng tôi gặp bác, là lần bác đuổi tôi khỏi Bleekenwarf, kèm theo lời cảnh cáo thẳng thừng, rằng bác không tin tôi nữa. Bác không thể trông cậy vào cháu được nữa, bác ấy nói vậy, bác không tin cháu nữa, Witt-Witt ạ, rồi bác nhìn về phía Rugbüll, bắt tôi phải đi về bên ấy. Cho nên, bây giờ tôi chỉ theo dõi bác là đủ, bám theo bác ấy, càng lâu càng tốt là tôi vui rồi. Chỉ có Tiến sĩ Busbeck, vâng, hình như ông đã nhìn thấy và nhận ra tôi, hay ít nhất, ông ấy có vẻ hơi ngờ ngợ nhận ra khi nhìn thấy tôi, nhưng vì tôi không nhìn đáp lại cái nhìn của ông, ông ấy lại đâm ra bán tín bán nghi. Kể ra thì cũng chẳng lạ, sau những bấy nhiêu năm ông khó mà nhận ra tôi được.

Ông Teo Busbeck cũng là người duy nhất nhận ra vẻ nhạo báng mà đôi người dành cho trang phục của họa sĩ; những cái lắc đầu, những cái nhếch mép, những nụ cười mỉm xỏ xiên, ông nhận thấy hết, và lần nào ông cũng quay phắt đi. Có tiếng ai đó: Thật không tưởng tượng được, trông ông ta giống như đúc bức tranh của chính ông ấy.

Nhưng tôi không muốn kể lại ở đây tất cả các chi tiết đó, trước hết là vì bây giờ đã đến lúc phải kể về một bức tranh tôi chưa nhìn thấy bao giờ và, ở đây, một mình nó chiếm hẳn một bức tường cho riêng nó.

Vâng, bức tranh Vườn mặt nạ đột nhiên xuất hiện ở đó, làm tôi không thể bước đi tiếp được nữa. Khu vườn sáng lên như một xưởng vẽ đầy màu sắc, trông như một buổi khai hoa rực rỡ, dư thừa cả hình tượng lẫn bóng hình, nhưng cái nào riêng cái đó, cái nào cũng đòi quyền được tách riêng ra. Và, từ một thân cây, đúng hơn là từ một nhánh cây dài như vô tận, ròng xuống ba cái mặt nạ, hai mặt nạ đàn ông, một mặt nạ đàn bà, treo lủng lẳng bằng những sợi dây thừng màu xanh lục. Ánh nắng chiếu xiên từ bên hông vào các mặt nạ này, làm một nửa mặt nạ bừng sáng lên. Chúng toát ra một vẻ điềm tĩnh đáng sợ, một nét tự tin đến là khó hiểu. Những hố mắt khoét trên số mặt nạ này đều có màu đất nâu nâu, mặc dù nền trời phía sau lại trong xanh, không một gợn mây.

Tôi chợt tưởng tượng ra các cơn gió, mới đầu là một cơn gió êm ái, nhẹ nhàng làm lay lay số mặt nạ treo lơ lửng, tiếp theo là ngọn gió mạnh hơn, làm các mặt nạ lúc thì văng bên này, lẳng bên kia, lúc thì xoay tít. Các mặt nạ có giống ai không à? Có, tôi thấy chúng đều quen quen, có cảm giác dường như chúng là bản sao của nhiều khuôn mặt người tôi từng gặp, nhưng họ là ai, tên gì, thì tôi không nhớ ra. Tôi hình dung ra cảnh tượng, đêm đêm, các mặt nạ này sinh sôi nảy nở thêm ra, sẽ treo khắp các cành, các bụi cây, sẽ gắn lên đầu các cuống hoa khô cắm trên những luống hoa, và tôi tiến đến gần bức tranh, đến gần khu vườn đầy mặt nạ, và tôi cũng còn nhớ, tôi muốn có một cây gậy, mảnh thôi, nhưng phải chắc chắn, để đập nát số mặt nạ kia ra khỏi các nhánh hoa, khỏi các nhánh cây hay bụi rậm, vâng tôi muốn phạt văng chúng đi, như người ta phạt hoa, rồi sau đó, có đem đổ xuống hố phân xanh cũng được.

Thế là họ đến bên tôi. Họ dùng tay xốc nách tôi. Tuy tôi vẫn không rời mắt khỏi khu vườn mặt nạ, nhưng tôi đã nhận ra mấy cái áo khoác sáng màu và được phết sơn chống thấm nước. Khu vườn lẩn đi; và mãi bây giờ tôi mới nhận ra bao nhiêu thứ đang tìm cách lẩn trốn khi đối diện với các mặt nạ bồng bềnh nọ. Họ không dùng vũ lực, không cục cằn, nhưng dùng sức ép tôi sang một bên và đẩy tôi ra xa bức tranh. Dường như chỉ cần có sự hiện diện của các mặt nạ trong khu vườn là đủ làm mọi thứ sai lệch đi: các bông hoa bừng nở hay co lại, làm màu sắc rực rỡ thêm hay lụi đi. Cả bên trái lẫn bên phải của tôi, tôi đều nhận ra hai khuôn mặt thoáng vẻ quen quen; và, ngay cả trong giây phút này, trên các gương mặt nọ vẫn lộ rõ vẻ tự tin, pha lẫn vẻ đề phòng đầy tính nghiệp vụ.

Một khuỷu tay và một nắm đấm khẽ khàng xông vào làm quen với mạng sườn tôi, nhưng vẫn ở mức thân thiện vừa phải để không gây đau đớn gì nhiều. Lúc quay người sang một bên, tôi nhận ra một đôi mắt, ẩn nấp sau các bông hoa, đang say đắm nhìn các mặt nạ đung đưa lủng lẳng. Việc gì tôi phải quay người, phải lên tiếng phản đối, khi tôi biết thừa họ là ai, và vì sao họ lại xốc nách tôi thế này. Họ buông tôi ra, song tiếng sột soạt phát ra từ áo choàng của họ mỗi khi họ cử động, vẫn ở đâu đó sát sàn sạt bên tai tôi. Ba chúng tôi không cần đôi co qua lại nhiều lời với nhau mà vẫn hiểu rằng mọi sự phải diễn ra thế nào, để không ai để ý. Đừng có mà om sòm lên, hay làm cái gì tương tự, đừng có mà chống cự, cãi vã ồn ào. Vâng, tôi đã xử sự giống như nhiều người khác vẫn xử sự vào các tình huống tương tự, những tình huống tôi thường vẫn thấy chiếu trong phim ảnh, tức là tự nguyện, bình tĩnh, kín đáo. Thái độ đó của tôi khiến họ có vẻ yên trí.

Tôi từ từ tiến về phía lối đi, chậm rãi như đi dạo, dừng lại ngắm bức tranh này, ngó bức tranh khác, hai tay để thõng xuống. Chỉ có một lần, ngay trước cầu thang, tôi dừng lại, để cho hai chiếc áo khoác tiến đến gần, rồi hỏi: Có ai ở Rugbüll mách cho các ông phỏng? Một người đáp: Không nói năng lôi thôi! Còn người kia chỉ nói: Đi tiếp đi!

Thì tôi cũng hiểu rồi, họ không cần phải ẩy tôi như thế, và cũng chẳng cần phải ẩy thêm cái nữa, mạnh hơn, khi tôi đã bắt đầu xuống bậc thang, và chỉ hơi lần chần trong giây lát, vì tôi không biết họ định đẩy tôi ra cửa nào thôi.

Bị ẩy như thế, đâm ra tôi hơi bị mất thăng bằng, loạng choạng mấy bước để khỏi ngã, rồi bất thình lình, tôi phóng bước chạy, nhảy qua các bậc thang bên ngoài, rồi nhân đà cú hích bất nhã của họ mà chạy tới, mỗi lúc một khoái chạy hơn, không buồn nghe tiếng gọi ới theo, tiếng đe dọa ném theo tôi, mà chỉ còn nghe thấy tiếng bước chân của chính mình nện xuống rồi vang lên từ mặt đường, những tiếng động càng thôi thúc tôi chạy nhanh thêm, đến cái cầu, băng qua phố, vượt sát bên sườn toa tàu điện đang lắc lư chạy qua, khiến hai người đàn ông - hai người mặc áo choàng ấy - phải đứng lại chờ, hai người cũng chạy theo tôi và càng chạy thì càng ít gọi, chốc chốc lại dừng lại, nhưng vẫn gan lì bám theo tôi, chạy vào một bãi công trường, luồn lách giữa các túp lều, các xe chở vật liệu lẫn máy móc xây dựng sơn màu vàng, cũng theo nhau chạy qua tấm ván rung rinh tôi vừa chạy qua để xuôi xuống phố, đến chỗ cột đèn tín hiệu giao thông vẫn còn xanh cho riêng tôi, rồi băng tiếp đoạn đường có mái che của hàng loạt các nhà hàng bách hóa, là nơi lần đầu tiên họ để mất tôi khỏi tầm mắt, nhưng cũng là nơi mà nhiều người khác - đám dân dạo phố Chủ nhật, ngắm nghía hàng hóa bày trong các khung cửa kính - chỉ cho nhau nhìn về phía tôi và chưa kịp tỏ vẻ ngạc nhiên và lạ lẫm thì tôi đã vụt qua, vọt tới cây cầu bắc qua đường xe lửa; ở đây, tôi nhìn thấy tấm biển “Cẩn thận khói!” và nghĩ đến khói, mong cầu có khói sẽ bốc lên dày đặc che kín tôi, thế nhưng trạm xăng bên kia cầu thì vẫn phơi ra lồ lộ, một cánh tay thò ra từ cánh cửa xe để mở và chìa tiền ra, còn người bán xăng thì vừa gác vòi đổ xăng lên giá - họ đã nhìn thấy tôi, tôi không biến đi đâu được - nên đành chạy tiếp vào bãi đỗ xe đầy ắp xe trước cửa nhà ga trung tâm, cúi người luồn lách vào các khe hở giữa các xe, về phía các khách sạn, là nơi tôi không thể trốn vào đâu được, kể cả vào nhà hát Deutsches Schauspielerhaus cũng không, mặc dù trong buổi diễn trưa nay - như lúc sáng tôi đã đọc thấy trên tờ quảng cáo - một tay diễn viên nổi tiếng sẽ ngâm thơ Hölderlin, Storm và Goethe, vả lại mấy người đuổi theo tôi cũng đã đến đầu cầu, tay chủ cây xăng đã đưa tay, hất đầu chỉ về phía tôi rồi, cho nên rốt cuộc tôi chỉ còn biết chui vào nhà ga trung tâm, trong đó rất nhiều các phòng chờ, nhà vệ sinh, quầy vé hay ki ốt bán hàng cùng bao nhiêu là người, đang đứng, đang đi qua, đang lấn tới, và tôi cứ thế lách vào gian đại sảnh của nhà ga, rộng rãi, mát mẻ, thoáng đãng, nhìn quanh và tính toán các khả năng có thể giúp mình trốn tránh, nhưng rồi tôi lại chẳng ở lại đó mà xuyên qua gian đại sảnh, đến bến tàu điện và nhảy ngay lên một toa tàu điện vừa chạy tới - đúng là vừa may một chuyến tàu điện vừa đến thật - và, lúc tôi ngoảnh đầu nhìn một lúc khá lâu về phía nhà ga đang lùi dần về phía sau, tôi không thấy hai người mặc áo choàng kia đâu nữa.

Họ có nhìn tôi không? Trên mặt họ có nét gì nghi ngờ không nhỉ? Liệu họ có thấy tôi thở gấp thế này là đáng ngờ không? Không! Hành khách không ai buồn để mắt đến tôi. Ai nấy, mỗi người một kiểu, đều để ý đến người soát vé, lúc này đang kiểm tra vé một bà, đã lớn tuổi, vóc dáng trông khá là khỏe mạnh. Người soát vé nói: Vé bà không hợp lệ, vậy bà nói thế nào bây giờ đây? Bà già bỏ tấm khăn ướt buộc trên đầu xuống, đáp: Chưa có ai nói năng như thế với tôi bao giờ nhé! Nói xong, bà nhấc một cái túi nặng từ dưới sàn lên - từ trong túi, một bó hoa thò ra ngoài - đặt lên chỗ ngồi bên cạnh với vẻ thách thức. Ông soát vé xoa xoa tấm vé giữa hai ngón tay, đưa lên soi soi. Rồi, ông ta lại nói: Không ăn thua. Vé của bà không hợp lệ. Bà già quay người, chua chát nói nhỏ với cái túi: Ta nuôi bao nhiêu lâu mới được bốn đứa con khôn lớn, mà chưa có đứa nào dám ăn nói với ta như thế. Ông soát vé - mặc áo măng tô dài của nhân viên soát vé tàu điện ở Hamburg - bước đến gần bà, vịn tay vào vai bà đúng lúc tàu vừa chạy vào đoạn đường vòng, rồi dứ dứ tấm vé ra trước mặt bà già. Ông ta nói: Ai sử dụng phương tiện giao thông công cộng đều phải có vé hợp lệ, bà hiểu không. Bà già lấy tấm khăn ướt lau lên cửa kính bám đầy hơi nước, rồi nói: Ông bỏ ngay cái tay bẩn của ông ra khỏi người tôi cái đã, rồi hẵng nói gì thì nói! Làm sao tôi biết được vé của tôi hợp lệ hay không hợp lệ nào? Ông soát vé đáp: Bà vừa chuyển tàu, nhưng bà không đóng dấu. Theo luật chuyên chở hành khách, bao giờ chuyển tàu bà cũng phải đóng dấu chuyển tàu. Bà già nhún vai: Chưa có ai nói với tôi về cái luật chuyên chở khách ấy của ông cả.

Hai người cứ đôi co qua lại, không ai chịu ai như thế mãi. Và tôi cũng không biết về sau rồi sẽ thế nào, không rõ ông soát vé rồi sẽ đuổi bà già xuống, hay bà già sẽ đập cái túi vào mặt ông soát vé, bởi vì đúng lúc này, tôi chợt nhận ra khu nhà máy giấm, là nơi tôi phải xuống tàu.

Băng qua mảnh sân hiu quạnh, vắng tanh, và đi ngang qua chồng thùng phuy, tôi đi thẳng đến ngôi nhà hành chính cũ kỹ. Cánh cửa vào nhà này mở thông thống suốt ngày đêm, các bậc thềm rạn nứt, trên trần nhà có đèn treo, nhưng bóng bị ai tháo mất rồi, trên tường đầy vết rạch, chi chít vết bẩn cùng những dòng chữ nguệch ngoạc. Anh Klaas tôi ở trên tầng hai của khu nhà này. Mặc dù anh ấy không ở đây một mình, nhưng ngoài cửa chỉ có tên anh, in trên tấm danh thiếp gắn vào cửa bằng đinh găm: K. Jepsen, nhiếp ảnh gia. Ngoài cửa không có chuông, nên tôi gõ cửa, gõ một lúc lâu thì anh tôi hiện ra ở ngưỡng cửa, quần ngủ nhàu nhò, đi chân đất, giương mắt buồn bã nhìn tôi, rồi nói: Vào đây! Hai bên dãy hành lang dài được dùng làm nơi trưng bày ảnh anh tôi chụp, số ảnh nằm trong bộ Xác dân Hamburg. Đó là ảnh chụp xác người chết, người chết đuối, người bị đánh, người bị đâm, người bị bóp cổ, người bị bắn hay bị xe chẹt, cả những người chết hiền lành trên giường ngủ cũng có ảnh chụp ở đây.

Anh đẩy cánh cửa chỉ khép hờ ra. Trong phòng, một chiếc máy đĩa hát đang quay suông, không có đĩa; trên bàn có vài ba chai rượu vang đỏ, và năm cái ly; trên cái đi văng rộng dùng làm giường ngủ là đống chăn, gối; trên chiếc ghế bành bọc nhung, quần áo đàn ông đàn bà xếp chồng lên nhau. Jutta ơi! Anh Klaas gọi to, hướng vào một cánh cửa đang đóng. Jutta ơi, nghe thấy anh gọi không?

Chỉ một lát sau, Jutta xuất hiện, mặc quần jeans bó sát cặp mông nhỏ nhắn, áo len mỏng, hơi ngắn, để hở một ít da ở quanh bụng ra ngoài. Jutta với anh Klaas thoáng đưa mắt cho nhau, rồi Jutta mới quay ra chào tôi, hôn lên má tôi; anh Klaas ném đống quần áo sang đi văng rồi đẩy ghế bành cho tôi: Ngồi xuống đây, chị Jutta khắc pha cà phê rồi đem bánh mì kẹp giăm bông ra cho mày. Hai người, mỗi người châm một điếu thuốc; anh Klaas hớp một hớp rượu vang đỏ.

Khỏe không, chú em Siggi? Jutta hỏi. Còn tôi lại đáp: Chả biết sao ở Hamburg họ không ưa em. Em phải chạy thục mạng, mãi mới thoát hai lão mặc áo choàng đuổi theo; đến tận ga trung tâm, các lão mới chịu thôi. Trong lúc tôi kể, anh trai tôi nâng ly rượu lên, nheo mắt ngắm qua mép ly vào những cái đích nào đó trên tường và trần nhà; anh ấy có vẻ không chú ý nghe tôi kể lắm, không ngắt lời tôi lần nào, mãi đến cuối mới nói: Mọi việc nghe có vẻ không hay đâu, chú em ạ. Ngừng một lúc, anh nói tiếp: Mày ở đây đến sáng mai, sau đó mày phải tính thế nào khác mới được. Siggi ngủ trong phòng tối rửa ảnh cũng được chứ gì, Jutta nói, có cái ghế dài kê trong ấy. Anh Klaas đáp lại ngay: Siggi muốn ngủ chỗ nào chả được, có điều sáng mai mấy anh em mình phải tính cách khác xem thế nào. Bọn nó không chịu yên đâu.

Jutta đem cà phê và bánh mì kẹp giăm bông cho tôi, rồi đặt đĩa hát lên máy quay - tôi nghe mang máng, hình như đĩa nhạc của nhóm Andrew-Sisters thì phải - rồi trong lúc lẩm nhẩm hát và thỉnh thoảng hít một vài hơi thuốc lá, Jutta dùng kim băng xâu dây chun cho một chiếc quần lót nhàu nhò. Anh Klaas ra đứng bên cửa sổ nhìn xuống sân một lúc, rồi ngẩng lên nhìn ra xa hơn, ra ngoài phố; đứng ở đó, anh cũng ngắm qua ly rượu vang đỏ đến một cái đích vô hình nào đấy, cửa sổ, mái nhà, và có lẽ cả hàng chữ màu xanh lục quảng cáo giấm. Anh chợt hỏi: Sao bọn nó lại đuổi theo mày hả? Sao tự dưng lại thế? - Em không biết, tôi đáp, còn anh Klaas lại nói tiếp: Ông già lại gây chuyện lôi thôi cho mày phải không? Ông già nhà mình ở Rugbüll ấy? - Có lẽ thế, tôi đáp: Vâng, chắc chỉ bố thôi, chứ ai vào đây; không khéo bố lại tìm ra cái gì đấy. - Tìm ra chỗ cất giấu của chú mày à? - Vâng, chắc thế. - Từ đây chú mày có chuồn ra ngoài cũng dễ thôi, anh tôi nói: Nếu họ có mò đến, thì chú mày biến sang phòng thằng Hansi. Ở đó có cầu thang dẫn lên trên. Chốc nữa, tao chỉ cho. - Vâng, chốc nữa hẵng hay. Bây giờ em ở đây rồi. - Phải rồi, bây giờ chú mày ở đây với anh. Anh dúi ly rượu vang đỏ vào tay tôi, bắt tôi uống, rồi anh đi vào bếp, và cứ để cửa bếp mở toang như thế, mở vòi cho nước chảy thật mạnh để rửa ráy.

Ta nhảy nhé? Jutta hỏi tôi. Tôi lắc đầu. Thế thì uống đi, Jutta nói tiếp. Tôi uống cạn ly; Jutta lại tự tay rót đầy ly thứ hai cho tôi, và bắt tay dọn dẹp trong phòng, miệng lầm rầm hát, điếu thuốc lá vẫn còn cháy trên tay, tàn thuốc chốc chốc lại rơi ngay chỗ Jutta vừa đứng.

Rồi sau đó… cả hai chúng tôi giật bắn mình, đến cả anh Klaas trong bếp có lẽ cũng giật mình, khi nghe thấy ngoài hành lang có tiếng ai quát to, giọng rất trầm, rung chuyển, chứa cả vẻ đòi hỏi lẫn đắc thắng, báo hiệu điều gì đó; tiếng bước chân tiến đến gần, rồi dừng lại trước cửa phòng. Cả ba chúng tôi đứng bất động, đưa mắt nhìn nhau, đến lúc anh Klaas vừa kịp ra hiệu cho tôi đi nhanh vào bếp thì cánh cửa bật ra, và anh chàng mặc áo len lông cừu mộc, không màu và mang đôi ủng cao su vá xuất hiện ở cửa, hai tay ôm cả nửa tá chai rượu vang đỏ ở trước ngực. Anh ta lại gào lên, nhưng nhỏ hơn, giữ ý hơn, rồi tiếp theo là mấy tiếng càu nhàu trong miệng và hất đầu chỉ về phía căn phòng của Hansi. À, ra đây là Hansi đấy! Rồi, lúc anh ta không nói thêm một lời nào nữa và biến vào phòng mình mà không buồn đóng cửa lại, thì cô gái tóc dài mặc áo mưa bóng nhoáng ló mặt ra ở cửa ra vào, tay vẫn giữ con búp bê vải ở trên đầu; cô ta mỉm cười vẫy vẫy tay khi đi ngang qua chúng tôi để vào phòng của Hansi.

Chúng tớ sang bây giờ đây, anh Klaas nói to.

Tôi biết mô tả căn phòng của Hansi thế nào bây giờ? Đó là một căn phòng tối om, vừa dài vừa hẹp như cái ống, với hai cửa đằng trước và đằng sau - cửa phía sau dẫn thẳng ra đầu cầu thang hậu - ba cánh cửa sổ cao trổ ra bãi chứa thùng phuy đã mục nát của nhà máy; dọc theo bức tường có kê mấy cái thùng - thứ thùng to vẫn gọi là thùng thủy thủ - sơn màu xanh da trời, phủ mấy tấm lông thú bốc mùi chua chua lên trên, và dùng làm chỗ ngồi hoặc nằm ngủ; một lô một lốc các hộp đồ hộp cũ dùng làm gạt tàn thuốc lá; một giá vẽ, một cái giá hẹp chứa đầy búp bê vải ở đủ các tư thế - ngồi ghế, ngồi xổm, đứng, nằm lên nhau hoặc bên nhau - và dưới bậu cửa sổ, gắn lên tấm các tông xam xám, là bộ tranh Búp bê nổi loạn, vẽ bằng bút chì, bút bạc, bằng cả màu nước, bày tỏ lòng trung thành của Hansi. Sau tấm rèm là cái bếp ga, chậu rửa, bát đĩa, và một hàng hộp thiếc đủ loại, đủ cỡ khác nhau. Đằng sau giá vẽ, phía góc phòng, có kê một cái ghế nửa nằm nửa ngồi, trên đó một người đàn ông còn trẻ, hói đầu, mặc áo vét bằng da đang nằm ngủ, hình như đã nằm ngủ từ rất lâu ở đó, và có vẻ sẽ còn tiếp tục ngủ nhiều ngày, nếu không nói là nhiều tuần ở đó. Phải rồi, tôi không được quên mấy cái bàn; hai cái bàn tròn, loại dùng trong vườn, chân bị cưa ngắn, và tất nhiên cũng không được quên hộp các tông đựng các loại bơm xe đạp. Chắc là Hansi sưu tầm bơm xe đạp, gom lại, sơn màu rồi đánh số cẩn thận.

Đến lượt Hansi cũng uống rượu. Doris - tên cô gái mặc áo mưa - mở chai, ai chìa ly ra để cô rót rượu đều được cô hôn một cái lên má, kêu to đánh chụt, nhất là lúc hôn vào má Jutta, khiến Hansi lúc đó đang xoạc chân nằm ngửa kêu ầm lên: Nào, hai con lươn đồng tính kia mở nhạc to lên nào. Nào, mở thì mở, nhạc ghi ta nhé; máy quay đĩa hát để ngay cạnh cái giường anh chàng hói đầu đang nằm ngủ. Anh Klaas ngồi bệt ra nền nhà, chống cùi tay lên một thùng thủy thủ, tay kia đung đưa ly rượu; cả Doris cũng nằm ra sàn nhà, trên một tấm lông thú mùi chua chua trải xuống dưới. Ca sĩ giọng nam hát cùng tiếng đàn ghi ta đệm, anh ta hát về mặt trời đen, dòng sông đen, dưới đó - tôi nghe không thật rõ lời - hình như có người, một đứa trẻ thì phải, chết trôi. Hansi hút thuốc, gật gật đầu, rồi bỗng nhiên đứng bật dậy, gãi gãi đầu gối, rồi dúi ly rượu của gã vào tay tôi. Gã định làm cái gì đây không biết?

Thưa các vị, gã nói, nãy giờ tôi vướng cái gì vào kẽ răng, rất khó chịu, lại có vị như vị hồ dán; suốt buổi cứ nghĩ mãi, không biết ở đâu ra; bây giờ thì tôi biết nó ở đâu ra rồi; hóa ra là từ mấy thứ dùng để trang trí vũ trụ trong cái gian triển lãm ấy chứ ở đâu. Các cậu phải biết, bọn tớ đã gặp đích thân lão thợ sơn chứ không phải vừa nhá; đích thân cái lão vẽ mây vẽ gió đã có mặt ở đó mà lại.

Gã đi ra chỗ giá vẽ, gắn một tờ giấy vẽ lên đó, lục lọi tìm hộp phấn màu, mất một lúc thì tìm thấy cái hộp nằm phía sau lưng người đang nằm ngủ; Doris cười khanh khách, rồi khép hai chân lại. Bây giờ trông đây này. Ta hãy cùng nhau lên đường tìm cái nguyên sơ của con người, cái nguyên sơ rất Đức, rất giàu cảm xúc, tôi xin phép nói như thế. Doris, ngồi yên nào! Mà các vị cũng đừng có cười nữa, cho tôi nhờ!

Gã ta phác lên mặt giấy một dải màu vàng vàng trăng trắng, thêm viền gạn sóng màu đồng, rồi nói: Đây, trước hết ta có bãi biển, một đoạn ven Biển Bắc, đúng không nào, là nơi biển cả láy đi láy lại các điệp âm của nó. Cái lớn lao câm lặng của thiên nhiên mà lại! Hay cái gì đại loại kiểu như thế; một nơi chỉ cần hôm nay ỉa một bãi ra đấy, hôm sau đã có cái gì mọc lên rồi. Đoạn hắn lấy thêm ít màu đen, ít màu trắng, vẽ thành một cái góc trên bãi biển; à, không phải cái góc, mà gã vẽ một người đàn ông đứng gập người, trang phục tuyền đen, quần ống hẹp, áo choàng, tất cả đều đen, tay cầm một quyển sách, vừa đi vừa đọc trên bãi biển. Sách gì chắc phải quan trọng lắm.

Vào lúc vẽ như thế này, Hansi nói, phấn màu phải rên rỉ, màu sắc phải hưng phấn, giống như thiên nhiên đã thuyết phục các loài hoa phải lớn nhanh lên vậy; tớ nói thế, các cậu muốn hiểu thế nào thì hiểu. Màu sắc, đã bảo chính nó phải đưa ra lời đáp cho những nỗi xúc động của con người ta trước thế giới mà lại, chính từ màu sắc sẽ hình thành cách nhìn về cái nguyên sơ còn gì.

Gã vẽ bằng những nét vẽ mạnh bạo, môi mím chặt, các cử chỉ độc đoán, cho màu vàng đè lên màu xanh da trời, để màu trắng nổ bung ra trong mảng màu lục lung linh, biến màu sắc thành một thứ chủ đề trực quan và - tôi phải thừa nhận như thế - nỗi niềm bỗng dưng nổi lên rõ mồn một chính là nỗi sợ hãi. Phải rồi, gương mặt màu lục của người đàn ông đang đi trên bãi biển với quyển sách mở trên tay ấy bộc lộ nỗi sợ hãi và kinh ngạc, mặc dù chưa thể nhận ra nỗi sợ hãi ấy bắt nguồn từ đâu ra. Bây giờ thêm màu nâu, một thứ màu nâu sẫm cùng những vệt đen đầy kịch tính, mỗi lúc một phình ra, rồi vồng lên trùm xuống bãi cát, chỗ này dàn mỏng, chỗ khác co lại: Thế nhé, thế là ta có con chim vĩ đại của vũ trụ, rõ quá đi chứ. Hai bên nhận ra nhau. Nhà tiên tri miền Bắc nước Đức hoảng sợ, và đó chính là trạng thái nguyên sơ. Thế nhưng, bây giờ ta phải cho các mặt phẳng cũng tác động vào, phải có thêm mây, nếu không cuộc chạm trán này sẽ không đủ hoang đường; ta phải tạo thêm ít gió thổi, mây bay ở chân trời, đúng rồi, đêm buông xuống đến nơi. À, còn thiếu tiếng muông thú kêu hoảng loạn nữa. Làm sao vẽ được tiếng muông thú kêu hoản loạn nhỉ?

Trong lúc Hansi hì hục phác vẽ các đám mây, rải chúng ra, đẩy về chỗ này, kéo đến chỗ khác, thì có thêm mấy người bước vào phòng, không buồn gõ cửa; hai cậu thanh niên, một cô gái tóc đen, người thấp lùn; họ yên lặng cởi bỏ áo ngoài, tự rót rượu vang vào ly, rồi không nói không rằng, tìm được chỗ trống nào thì ngồi xuống đó; họ giương mắt nhìn Hansi, còn gã, sau khi đã sắp xếp các đám mây đúng theo ý mình muốn, đang nghĩ xem nên đặt tên cho bức tranh thế nào: Cuộc đối đầu trên bãi biển giữa nhà tiên tri với một đại điểu siêu tự nhiên. Nghe được đấy nhỉ. Và bây giờ ta hãy cùng nhau làm sáng tỏ trạng thái nguyên sơ của con người, làm sáng tỏ đúng theo lối như lão chuyên nghề phối trí vũ trụ Nansen đã làm xem sao nào.

Gã đã định huênh hoang nói tiếp, nhưng gã không ngờ đến phản ứng của tôi, mà đến cả tôi, tôi cũng chẳng ngờ phản ứng của mình sẽ như thế; đột nhiên tôi nghe tiếng tôi cất lên nói: Hay lắm, mọi thứ anh nói nghe có vẻ hay và thú vị đấy, có điều anh phối cảnh không đúng, và lúc Hansi vẫn còn ngơ ngác nhìn tôi, thì tôi đã đứng dậy, đến trước giá vẽ và chỉ cho gã thấy phối cảnh sai chỗ nào. Hansi nín thinh, mắt nheo lại; gã có vẻ lưỡng lự, kìm lòng, chưa văng ngay ra điều gã muốn văng, gã chìa ly xin rót thêm cho gã một ly, rồi làm một hớp. Cái ông thợ muốn trang hoàng vũ trụ anh nhắc đến ấy, tôi nói, bao giờ cũng vẽ với phối cảnh đúng. Bao giờ ông ấy vẽ cũng đúng. - Mày còn gì để nói nữa không nào? - Con chim kia kìa, tôi nói tiếp, anh vẽ nó không đúng, trong khi cái ông mà anh gọi là thợ sơn ấy, bất cứ cái gì ông ấy vẽ, bao giờ ông cũng vẽ đúng cả. Tôi chỉ muốn nói là, thế giới ông ta tưởng tượng ra, tuy hoang đường thế mà lại là thế giới có thật, và hợp lý; chứ con chim anh vẽ, cứ nhìn là biết ngay, nó không đẻ nổi cả trứng ấy chứ. - Thế à, mày còn gì để chê nữa không? - Phân giải màu của cái ông trang trí sân khấu ấy không bao giờ ngẫu nhiên cả, bao giờ cũng khớp nhau, bao giờ cũng hợp lý và đúng chỗ. Chứ ở đây, tôi thấy thiếu hẳn cái hợp lý. - Được rồi, thế nhưng mày nói tất cả những cái đó với ý gì nào? Nói nhanh lên.

Tôi nhìn quanh tìm anh Klaas; anh Klaas cúi nhìn xuống sàn; tôi quay sang nhìn Jutta, Jutta cũng lảng, nhìn ra chỗ khác, tránh ánh mắt của tôi. Tôi quen ông ấy. - Quen ai? - Quen ông Nansen, nhà phối trí phong cảnh lớn nhất mọi thời, hầu hết tranh ông ấy vẽ tôi đều biết, tôi còn được chứng kiến chúng ra đời như thế nào nữa cơ; ông ấy chắc chẳng bao giờ hoàn thành nổi bộ tranh búp bê như của anh đâu, thế nhưng ông ấy vẽ những thứ riêng của ông ấy, và chính ông ấy cũng rất hòa đồng cùng chúng. - Thôi, đừng lảm nhảm loanh quanh, cạnh khóe nữa, Hansi nói, rồi làm một hơi cạn ly rượu.

Tất nhiên anh hơn ông ấy rồi, tôi nói, nhưng có điều, nếu anh muốn chê bai, muốn khai tử cho ông ấy như thế, thì anh cũng phải vẽ cho đúng cái đã, phải không nào? - A, anh chàng này đến lạ, Doris nói to, quay quay con búp bê trên đầu.

Hình như mày tưởng mày ghê lắm, hả? Hansi nói: Chắc lão già đã có lần mua kem cây cho mày chứ gì, hay lão ấy cho mày được xách cặp? Trông tướng mày đúng như thế thật. Lúc nãy tao thấy mày ở buổi triển lãm còn gì. Mà mày có biết lúc nhìn thấy mày là tao nghĩ ngay đến cái gì không? Tao đã nghĩ bụng, thằng này mà đứng làm mẫu cho lão Nansen thì tuyệt vời, làm mẫu cho một vài bức tranh, kiểu như: Anh thanh niên cắt cỏ khô chẳng hạn.

Đến lúc này thì anh Klaas lên tiếng; anh ấy bảo tôi: Lại đây Siggi, ngồi xuống đây. Nhưng tôi không thể cứ thế quay đi mà không nói gì được. Tôi nói: Anh cứ việc cười nhạo, nhưng đúng là tôi đã có lần đứng làm mẫu cho ông ấy thật, cho nên tôi biết các phương pháp của ông ấy; và nếu bây giờ anh muốn khai tử cho ông ấy bằng chính các phương pháp của ông ấy, thì trước hết anh cũng phải biết sử dụng các phương pháp đó cho thành thạo đã. Tôi chỉ nghĩ có vậy thôi. - Này, tao không ưa thằng nào cứ nói đi nói lại mãi một chuyện như thế đâu nhá, Hansi nói, còn Doris lại nói tướng lên với giọng khoái chí: Em thấy anh chàng hay đấy, có lẽ ta nên cùng anh ấy ngắm tranh trong bóng tối xem sao.

Tôi không nói gì, lẳng lặng đi ngang qua Hansi, và trước mắt mọi người, tôi ngồi xổm xuống trước bộ tranh Búp bê nổi loạn rồi thong thả ngắm nghía từng bức tranh một rất lâu. Vâng, đây là đám búp bê; búp bê mặt hình tam giác, búp bê mặt tròn bị bẹp rúm, búp bê có bộ mặt vẽ mắt mũi, miệng theo kiểu chấm-gạch chéo- chấm-gạch dưới. Cẳng tay mềm, muốn bẻ thế nào cũng được, cẳng chân dài, đàn hồi, lấm bẩn, thân mình thì nguyên vẹn. Bọn búp bê trèo lên cao, chiếm giữ ống khói nhà máy. Chúng làm nổ tung tháp nước, lật đổ một cây cầu, xô một đoàn tàu chệch khỏi đường ray, hạ lá cờ cắm trên một ngôi nhà xuống. Búp bê đào mồ chôn búp bê K. A. Búp bê khi ngược gió, búp bê trên bãi tập quân sự Munsterlager. Búp bê xúm nhau trói một cô gái đang ngủ, vâng, tất nhiên cô gái đó là Doris. Chúng nó cưỡi lên một con gà trống, chạy trốn con quay; chúng nó dùng một lúc mười hai cái kéo cắt nát cái ghế bành.

Suốt cả lúc tôi lần lượt ngắm nghía từng bức tranh, mọi người chỉ nhìn theo tôi mà không nói gì; tôi nghe thấy cả hơi thở của họ, và tiếng mút mút mỗi khi họ kéo hơi thuốc lá. Rồi tôi đứng thẳng người, quay về phía gã Hansi; lúc này gã lấy tay gạt mớ tóc rủ xuống trán và chuẩn bị nói gì đó khiêu khích giễu cợt tôi. Siggi, ngồi xuống đây đi nào, anh Klaas gọi to. Còn Hansi thì hỏi: Thế nào, mày thấy tranh thế nào? - Đáng nể đấy, tôi nói, bức nào cũng đáng nể. - Ôi giời, tao chả nghĩ thế. - Tôi chỉ thấy lạ có mỗi một điều, tôi nói tiếp, đối với ông già ấy, có vẻ các anh chỉ biết hoặc hạ cố vỗ vai, hoặc miệt thị, khinh thường ông ấy thôi. Các anh tưởng anh ghê lắm, nhưng cứ nhìn kỹ mà xem, tất cả những thứ đó, hồi trước ông ấy đã biết, ông ấy đã thấy, đã thành thạo từ lâu rồi. - Mày khỏi phải nói với tao lão Nansen là người thế nào nhé. - Nhưng tôi có cảm giác anh chưa biết hết về ông ấy đâu. - Chú mày nghe tao nói đây này, Hansi nói. Lão Nansen của mày thuộc hạng người tao liệt vào hạng chuyên gây tai họa, hạng người chủ trương gắn bó quê hương xứ sở, phải không nào, hạng muốn nhìn xa trông rộng, lại có chính kiến nữa chứ.

Ông ấy bị cấm vẽ, tôi nói, hẳn anh không biết người ta từng cấm ông ấy vẽ; hàng trăm bức tranh của ông ấy bị tiêu hủy. - Chính đó là điều khó hiểu ở lão Nansen, Hansi nói, còn tôi lại nói tiếp: Không phải chính điều đó tôn ông ấy lên hay sao? Nhưng anh, chắc chuyện gì anh cũng hiểu được hết. - Dĩ nhiên rồi, Hansi nói, cái gì quan trọng là tao biết ngay; ví dụ tao biết ngay là tao không ưa mày ở chỗ nào. - Thì tôi cũng thế thôi, tôi đáp. Duy có một điều tôi không hiểu là làm sao các anh có thể khơi khơi ra như thế được. Các anh phê phán, các anh chê bai, bài bác ông ấy, nhưng các anh chẳng chịu bỏ công để hiểu ông ấy.

Tôi còn nhiều chuyện để nói; tôi còn muốn nói nhiều hơn, nhưng không kịp nữa. Thoắt một cái, còn nhanh hơn tôi kịp hiểu ra xem có chuyện gì, Hansi đã nâng đầu gối lên, thúc một cái vào bụng tôi, làm tôi đau nhói và phải cúi gập ngay người lại như nhà tiên tri trên bãi biển trong tranh gã vừa vẽ; vì bị đau, tôi cúi gập người trước mặt gã, khiến gã có cơ giáng thêm hai đòn liên tiếp, hai miếng đòn vừa phải thôi, chưa đến mức quá dữ dội, nhưng có tính toán - một đòn đánh móc từ dưới lên trúng vào hàm, và một cú nện từ trên xuống vào gáy tôi, vâng, miếng đòn làm tôi ngã gục ra sàn.

Trong lúc ngã xuống, tôi vẫn còn nhớ, những vết chấm màu đỏ nhảy múa bay về phía tôi, những mảnh vá cao su màu đỏ cắt từ ruột xe đạp dán lên ủng của gã Hansi, như thể bị bong khỏi nền ủng màu đen để bay lên, quay vòng quanh đầu tôi; lúc ngã xuống, tôi cũng nghe thấy tiếng kêu thét lên, nhưng không còn biết ai vừa kêu lên như thế. Trước hết, buổi tọa đàm như thế là chấm dứt, cuộn phim bị đứt quãng, cả lòng hiếu khách của Hansi cũng coi như tiêu tan, bởi vì lúc tôi mở mắt ra, thì tôi không còn thấy lớp giấy dán tường trong phòng Hansi đâu nữa cả - loại giấy dán tường vẽ cảnh đi săn, vịt trời trúng đạn rơi xuống bãi lau sậy - mà xung quanh tôi tối om, và có mùi gì, mà tôi nghi là mùi nước clo.

Tôi đang nằm dài trên cái ghế đi văng, hai chân quấn trong chăn. Tôi nghe tiếng anh Klaas nói: Nó ngủ rồi; tiếp theo là tiếng Jutta: Thế thì cứ để yên cho nó ngủ. Rồi lại tiếng anh Klaas: Ta lại sang bên ấy đi. Hai người đi ra, gắng khép cửa thật khẽ, nhưng tôi vẫn nghe thấy, và tôi nằm im trong phòng tối rửa ảnh, rồi nghĩ đến chuyện bỏ đi, không phải chào ai nữa. Lúc này là buổi chiều à? Hay buổi tối rồi? Bây giờ đi đâu nhỉ? Quay về Rugbüll ư? Theo thuyền đánh cá đến Grönland chăng? Hay chuồn sang Straßburg, đầu quân vào đội lê dương? Hay là tôi nên tự mình đi tìm hai gã khoác áo choàng lúc nãy, tự thú, trước hết là để biết xem họ đã biết những gì, và họ định làm gì tôi.

Tôi cứ nằm như thế, suy tính, cân nhắc trước sau xem bây giờ tôi có thể làm những gì. Tôi tính toán trước sau mãi về ý đồ trốn lên tàu thủy đi lậu vé sang Mỹ; sang đến đó thì đổi tên, ví dụ đổi thành Sig O’Jepsen chẳng hạn, kiếm thật nhiều tiền, mở phòng triển lãm tranh, thu hút, lôi kéo cánh họa sĩ Mỹ quây lại quanh mình, cùng với họ tổ chức các tuần nghệ thuật quốc gia, và tại các buổi khai mạc này, bao giờ sau Tổng thống cũng đến lượt tôi đọc diễn văn! Nhờ ơn Chúa mà về sau, may không có đoạn nào trích từ giấc mơ này thành sự thật cả!

Tôi cân nhắc, tính toán, rồi loại bỏ, hết ý định này đến kế hoạch khác như thế mất một lúc khá lâu; tôi không trở dậy, không ra khỏi phòng tối, cũng không rời phòng anh Klaas, tôi chỉ cố làm sao không nghe cái vòi nước bị hở, nhỏ từng giọt nước, không ngừng, không nao núng, cố đánh lạc hướng mình bằng cách nhẩm đếm, từng giọt, từng giọt - những giọt nước rơi xuống như muốn đâm thủng các chương trình kế hoạch của tôi, như muốn chọc xuyên qua cả đầu tôi; đếm đến giọt thứ tám mươi thì tôi ngủ thiếp đi, mơ màng, giấc ngủ không sâu mà nông choèn, chỉ chờ anh Klaas, Jutta hay thậm chí cả Hansi sẽ đến lay tôi dậy bất cứ lúc nào.

Và tôi không thể quên giấc mơ tôi mơ lúc đó, lúc nằm trong phòng tối ấy. Vâng, tôi mơ tôi ngồi trong một con thuyền rộng bằng gỗ, bơi một mình đến dải cát nổi phía ngoài khơi, nằm cách xa bán đảo quê tôi; tôi ngồi khuất sau cánh buồm phụ, và con thuyền cứ thế lướt tới dải cát màu xanh da trời nâng lên giữa biển. Trên đó là nơi ẩn nấp và cất giấu mới của tôi, do tôi xây lên từ đống đổ nát của ngôi nhà thờ đá, là thứ duy nhất tôi tìm thấy trên dải cát không người ở nơi này. Nơi ẩn náu này lạnh lẽo và rộng rãi, các khe hở đều được bịt kín. Tôi cho thuyền áp vào bờ, kéo lên bãi cát, rồi chôn mỏ neo xuống cát cho an toàn; sau đó, tôi nhìn về chỗ ẩn nấp của tôi thì thấy nó đang bị bọn hải cẩu quây kín. Bầy hải cẩu nằm thành một vòng cung dưới ánh nắng, trông bóng nhẫy; cả bầy, kể cả mấy con hải cẩu con, con nào con nấy đều ngẩng lên nhìn tôi. Tôi nằm xuống cát, trườn về phía bầy thú, và chúng vẫn nằm yên, không chạy ra chỗ khác; tôi trườn qua vòng vây của bầy thú, chui vào chỗ nấp, vừa thở phào được một cái thì tôi nghe tiếng súng đầu tiên; tiếng nổ vọng từ ngoài biển vào, viên đạn đập vào đống gạch vụn, rồi bật ra, nghe vèo một cái.

Từ xa, hai con thuyền - thuyền nhỏ thôi, không buồm, không động cơ lẫn mái chèo - đang tiến thẳng, không ngoằn ngoèo, tới dải cát, như thể được kéo bằng ròng rọc, trượt đi trên đường ray. Trên mỗi chiếc thuyền là một người đàn ông đứng thẳng lưng, cứng đơ trông đến lạ, và tay lăm lăm súng; trên chiếc thuyền này là bố tôi, viên cảnh sát Rugbüll; trên thuyền kia là ông Max Ludwig Nansen, nhà họa sĩ. Tôi mơ thấy hai ông đang săn hải cẩu, giương súng bắn ngay trong lúc thuyền đang bơi, khói trắng vẫn còn vương đầu họng súng. Khi tiếng súng đầu vang lên, đàn hải cẩu hớt hải tìm cách bỏ chạy xuống nước; mới đầu bầy thú tản ra, nhưng lại hốt hoảng tụm lại ngay, lắc lư kéo nhau về mũi phía Nam; chúng ì ạch trườn ngang qua ô cửa dẫn vào chỗ nấp của tôi, vây của chúng quật xuống cát; mấy con đầu đàn sủa nhặng xị, gầm gừ báo nguy. Tôi nhảy bổ ra ngoài, nhưng một phát súng nữa vang lên, buộc tôi nằm mọp ngay xuống, cùng trườn lẫn trong bầy thú về mũi phía Nam. Chúng trườn thậm chí nhanh hơn tôi, ngay cả bọn thú con cũng nhanh hơn, vượt cả tôi, nhưng tôi không chịu thua, tôi bám theo chúng vượt bãi cát, lách qua đám cỏ dại, trườn qua đôi con thú vướng đạn; và tôi thấy mấy con đầu đàn đã trườn đến mép nước, bơi nhanh ra xa, lặn sâu xuống biển.

Tôi cố trườn cùng bầy thú về phía Nam, nhưng tôi chậm chạp, vụng về quá, tôi tụt lại mỗi lúc một xa ở phía sau, sức mỗi lúc một cạn, và tôi không đứng dậy nổi, ngay cả khi thuyền chở hai người đàn ông đã chồm lên bãi cát rồi, tôi vẫn không nhổm dậy được. Cả hai người nhảy xuống, nói gì đó với nhau, thả cho cuộn lưới lăn ra, rồi mỗi người một đầu, họ vừa kéo lưới sát trên mặt đất vừa đi về phía tôi. Cả hai đều mặc áo choàng sáng màu.

Tôi bò, tôi trườn, tôi lăn người trên cát, dấu vết tôi để lại trên cát chẳng khác dấu vết hải cẩu là bao. Gắng thêm một ít, dấn lên vài bước là đủ, họ quây lưới lại thành một vòng xung quanh tôi, vừa cười, họ vừa thu nhỏ vòng vây lại, và họ cũng vừa cười, vừa đi quanh người tôi, đi quanh để làm sao miệng giỏ chụp ngay lấy mặt tôi; cái vành giỏ bằng gỗ như mớm gọi, rủ rê, kêu gọi tôi đầu hàng: vào đây, chui vào đây nào, cái vành quay quay, nhảy tâng tâng trước mắt tôi, và bây giờ đến lượt họ cúi người, đập đập lên vai tôi - cũng không có vẻ gì là không thân thiện - và, với điệu bộ của các nhà dạy thú kiên nhẫn, họ chỉ vào cái giỏ mỗi lúc một thót lại phía sau và gọi tôi: Allez, allez hopp!

Tuy tôi không nhảy vào ngay, nhưng tôi cũng lách người qua cái vành ở miệng giỏ, bò lồm cồm đến cuối cái bẫy, và cảm thấy ngay là họ đang nhấc tôi lên, mắt lưới khía vào da thịt, mặt cát chao đi chao lại trước mắt tôi.

Phải anh là Siggi Jepsen không? - Vâng, tôi đáp.

Mời anh đi theo chúng tôi.

Mặt trời hạ thấp, làm chói mắt tôi. Bật đèn lên đi nào. Một dải ánh sáng hẹp, màu xanh tràn vào, tấm rèm được kéo sang một bên, và giọng ai đó nói: Chú chàng chưa tỉnh ngủ. Ai đó đỡ tôi dậy, bỏ chăn ra khỏi chân tôi. Tôi đưa tay ra và chạm ngay vào một cái áo choàng. Gọi đây là phòng tối quả không sai thật, một giọng ai đó lại nói. Và, một giọng khác đáp: Thế thì càng phải coi chừng, kẻo ông tướng lại bị quá sáng như phim ảnh thì hỏng bét cả.

Hoàng Đăng Lãnh (dịch).
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.