Cơ mà tôi phải tả buổi sáng hôm ấy đã. Cho dù cứ mỗi lần nhớ lại một kỷ niệm nào đó, ta lại nhìn thấy một ý nghĩa mới của kỷ niệm ấy: tôi vẫn phải để buổi bình minh chậm rãi rạng dần lên, lúc áng vàng đang lan tới không gì cưỡng nổi và giành giật, chen lấn dần màu xám lẫn màu nâu, tôi vẫn phải đưa vào một mùa hè với chân trời dài vô tận, với những con kênh đào, những đàn chim te te bay lượn, tôi phải vạch những dải mây lên trời, phải làm rõ tiếng nổ bình bịch ồn ào của một chiếc xuồng máy nào đó bên kia bờ đê, và, để dựng lại cái buổi sáng đó, tôi phải trồng cây chỗ này, dựng hàng giậu chỗ khác cho các trang trại thấp tè và vào buổi sáng sớm chưa có khói từ các ống khói bốc lên, rồi phóng tay vãi đàn bò lông lốm đốm trắng đen lên các cánh đồng cỏ. Vào một buổi sáng như thế, tôi thức dậy, hay phải thức dậy thì đúng hơn, vì có tiếng gõ, tiếng đập khe khẽ vào cửa sổ phòng tôi, gõ gõ, đập đập mãi và mỗi lúc một khẩn khoản, nhưng mới đầu, tôi vẫn nằm nguyên trên giường và lắng nghe tiếng gõ gõ ấy vào mặt kính; chắc có con chim sẻ, tôi nghĩ bụng. Rồi một trận mưa ào trút xuống. Mà mưa cát nhá! Những hạt cát li ti quất mạnh vào mặt kính cửa sổ. Tôi nhổm ngồi dậy trên giường, nhìn ra cửa sổ, mặc dù cát quất mạnh thế, kính vẫn còn nguyên. Rồi, sau vài cú cát quất vào kính như thế, những cú quất tôi chỉ nghe, chứ không nhìn thấy, tôi chợt nhận ra những vốc cát bay đến đập rào rào vào mặt kính, thế là tôi nhảy khỏi giường, chạy đến bên cửa sổ, trố mắt nhìn ra ngoài, vào buổi rạng đông lặng gió ấy. Bởi phía xa xa đều không có gì động đậy cả, cho nên cái gì động đậy ở phía trước liền đập ngay vào mắt, các cử động của một cánh tay giơ lên cao đòi tôi phải để ý, ở dưới kia, trong căn nhà kho nằm giữa giá xẻ gỗ và đống gỗ đã cưa thành khúc, nhưng cũng phải mất một lúc tôi mới nhận ra, hay đúng hơn là lại nhận ra, đấy là anh Klaas tôi, đang đứng dưới ấy, trong bộ quân phục và quấn dải băng trắng - tôi phải nói ngay - quấn vụng quấn về. Không ai có thể ngờ anh ấy ló mặt ra ở đây vào lúc sáng tinh mơ thế này mà không báo trước cả; bởi vì ở nhà, ai cũng chỉ biết sau khi tự gây thương tích cho chính mình, anh ấy bị giữ lại để chữa trị trong quân y trạm dành cho phạm nhân tại Hamburg thôi, chứ có ai được đến thăm nom anh ấy đâu. Ở nhà, không ai được phép nhắc đến anh ấy, cả hai tấm bưu thiếp anh ấy gửi từ trạm xá về cũng nằm nguyên đó, không ai trả lời.
Anh Klaas bước ra khỏi nhà kho, vẫy vẫy về phía tôi, rồi lại lùi vào ngay, còn tôi vụt quay về giường, lao ra cửa, áp tai nghe ngóng, rồi lại quay về giường, mặc áo, xỏ quần, và trước khi bước ra hành lang, tôi còn quay lại cửa sổ, ra hiệu cho anh tôi biết, tôi khắc xuống ngay. Ngoài hành lang, lặng như tờ. Bố mẹ tôi vẫn còn ngủ yên. Ông bà ngủ trong những bộ áo ngủ dài, may bằng vải thô. Đắp tấm chăn nặng trình trịch, ông bà ngủ ngon lành trên tấm vải trải giường tự dệt tự may, màu xám xịt, thô kệch, và phía trên chỗ ông bà nằm, thi sĩ Theodor Storm và lão tướng Lettow-Vorbeck từ hai bức chân dung treo đối diện nhau trên hai bức tường, đang người này gườm gườm nhìn người kia, và hai vị, cả nhà thơ xứ Husum lẫn vị lão tướng ấy, không ai muốn vứt bỏ vẻ nghi ngờ họ mãi mãi dành cho nhau trong ánh mắt. Cúi người áp sát tường, tôi rón rén đi qua cửa phòng bố mẹ tôi ngủ, rồi lần theo cầu thang xuống tầng dưới, đi ngang viên cảnh sát Rugbüll treo trên mắc áo trong giá treo áo khoác ở hành lang tầng dưới: căn nhà sao mà yên ắng thế. Chùm chìa khóa treo ở cửa ra vào sao mà lạnh thế! Tôi khẽ khàng quay một vòng chìa khóa, cảm thấy sức ì trong ổ nhưng tôi vẫn quay được chìa mà không gây ra tiếng động nào, song sau đó, cánh cửa bật ra cùng tiếng kêu rin rít khiến tôi giật mình, nghĩ ngay rằng bố tôi sẽ lập tức ló ra ở tầng trên, rồi mọi chuyện sẽ… vân vân và vân vân. Nhưng không, tầng trên, tầng dưới vẫn lặng như tờ. Tôi nghiêng người, lách qua cửa ra ngoài, rồi nhẹ nhàng khép nó lại và chạy vụt qua sân đến chỗ nhà kho; quả là anh Klaas tôi đang ngồi xổm thu lu ở đó thật: đôi mắt sáng, khuôn mặt tròn bầu bầu, mái tóc vàng cắt ngắn, dính bết vào nhau. Cánh tay bị thương, anh gác lên khúc gỗ dựng đứng, quân phục để mở khuy cổ. Anh Klaas tôi ngồi đó, dáng vẻ đầy sợ hãi, và chính dáng vẻ sợ hãi đó không những làm mọi câu tôi muốn hỏi đều thừa, dáng vẻ đó phơi ngay ra trước mắt mọi sự về chuyện anh tôi trốn khỏi trạm quân y của phạm nhân, về chuyến đi vòng vèo, trốn tránh các toán lính tuần tra, lẩn lút qua các trạm kiểm soát, bám xe hay cuốc bộ trong đêm, nghe ngóng, đề phòng, lom khom hết đi lại chạy - vâng, dáng vẻ sợ hãi của anh đã đủ nói rõ hết mọi điều.
Anh tôi không thốt ra nổi một lời chào hỏi, lẳng lặng níu tôi ngồi xuống cạnh anh bên khúc gỗ, và từ chỗ này anh em chúng tôi nhìn lên cửa sổ phòng ngủ của bố mẹ tôi, đúng hơn là anh ấy nhìn không rời mắt lên trên đó, còn tôi thì ngắm nghía gương mặt mệt mỏi, đờ đẫn của anh, nhìn bộ quân phục bê bết bùn đất và cánh tay bó bột vụng về không biết ai, có lẽ chính anh cũng nên, đã dụi đầu thuốc lá lên đấy. Chắc hẳn anh sợ trong nhà bố mẹ tôi nghe tôi lục đục dậy, và khi đã phát hiện ra giường tôi trống trơn, thì thể nào ông bà cũng ngó qua cửa sổ tìm tôi; thế nhưng rèm cửa vẫn yên, không động đậy, cũng không thấy bóng ai đứng bên trong cả, cho nên một lúc sau anh ấn tôi ngồi bệt xuống đất, rồi vừa thở dốc, anh vừa ngồi xuống bên tôi, dựa lưng vào tường nhà kho, hai chân ngả sang hai bên. Hai môi anh run run, toàn thân co ro vì kiệt sức. Trên cằm lởm chởm râu màu hung hung đỏ. Không biết mũ anh ấy đâu, tôi nghĩ bụng, và do nhìn quanh không thấy nó đâu, tôi tưởng tượng ngay ra cảnh anh tôi nhảy từ trên một toa tàu chở hàng đang chạy xuống đất, hay cảnh anh nhảy qua con hào, con mương nào đó, khiến mũ bay đi mà không hay biết. Tôi lết ra phía trước, nhổm dậy, quỳ gối xuống đất và nhìn sát thật lâu vào mặt anh, cho đến khi anh mở mắt ra nói, chú mày phải giấu anh vào đâu đó, cu con ạ.
Tôi đỡ anh đứng dậy, anh bám chặt vào người tôi, loạng choạng, suýt ngã gục xuống, nhưng rồi lấy lại được thăng bằng ngay, nhoẻn miệng mỉm cười có vẻ rụt rè rồi hỏi: Thế nào chú mày cũng có chỗ để trốn, đúng không? - Có, tôi đáp, và từ lúc đó trở đi, anh nghe lời tôi răm rắp, gật đầu đồng ý để tôi ra khỏi kho lắng nghe động tĩnh. Không những thế, từ lúc ấy, anh chỉ còn nhìn vào tôi, sẵn sàng làm tất cả những gì tôi dặn, lặp lại mọi động tác tôi bảo anh làm theo. Tôi chạy đến nấp ra sau chiếc xe thùng cũ. Anh cũng chạy theo đến nấp ra sau chiếc xe thùng cũ. Tôi nhảy qua lối đi lát gạch, theo sườn dốc tuột xuống dưới, đến tận cửa cống. Anh cũng nhảy qua lối đi lát gạch, theo sườn dốc tuột xuống dưới, đến tận cửa cống. Tôi bảo: Mình phải vượt bãi cỏ rồi chui ngay vào đám lau sậy kia, thì anh liền nhắc lại: Được, chui ngay vào đám lau sậy kia.
Anh tôi không hỏi mình đi đâu, hay đi bao xa; anh theo tôi, không tỏ chút tò mò, cũng không ra vẻ sốt ruột, còn tôi chụm hai tay vào, chĩa thẳng ra phía trước, mở lối đi xuyên qua lớp lau sậy, nhằm về hướng cái ao trước cối xay gió cụt cánh quạt, khiến gió có thổi qua cũng chẳng để làm gì. Bề mặt đầm lầy rung rinh, nhún nhảy. Đôi chỗ, mặt đầm êm êm chợt thụt xuống dưới chân thành lỗ, và một thứ nước màu than bùn nâu nâu liền phun lên, tràn ngay vào. Hai anh em chúng tôi đánh động bọn vịt trời, tôi thấy mắt chúng khắp chung quanh. Sau lưng chúng tôi, lau sậy vừa bị rẽ ra liền lào xào khép thẳng lại. Lũ vịt trời bay lên cao lượn một vòng rồi lại hạ xuống phía sau. Giữa buổi rạng đông đượm màu lá cây này tôi có cảm giác như mình đang lần theo đáy biển tiến về phía trước, xuyên qua rừng rong biển uể oải uốn lượn, xuyên cả khoảng không tĩnh mịch đang rình mò. Rồi dải lau sậy cũng thưa dần, và chúng tôi nhìn thấy cái ao, phía sau ao là cối xay gió, nằm trên bệ quay đã han gỉ. Lên đấy à? anh tôi hỏi, tôi gật đầu rồi đảo mắt nhìn ra xung quanh một vòng cho chắc, trước khi trèo qua hàng rào gỗ, và đặt chân lên lối đi đắp chắc chắn bằng đất dẫn lên cối xay gió.
Tôi nên tả cái cối xay gió thân thiết của tôi thế nào nhỉ? Nó được dựng trên một gò đất nhân tạo, đứng đó, trông về phương Bắc với vẻ đầy mong đợi - mặc dù các cánh quạt đều long hết, mái khum khum hình củ hành lợp bằng đá phiến, tháp cối xay hình bát giác, đóng ghép lại bằng gỗ ván, và đã hai lần bị sét đánh. Những cánh cửa sổ lắp kính, cao, khung màu trắng, đều vỡ toang, trục gỗ hình chữ thập, vốn dùng để gắn cánh quạt cối xay gió, đã bị gãy vụn, nằm lăn lóc, mục nát dần trên bãi cỏ phía Đông, giữa đống các hòn đá cối xay đã mòn vẹt cùng những bánh xe gãy nan hoa và móng ngựa hoen gỉ. Cánh cửa rách bươm một dạo lâu không đóng lại được, phải chờ đến lúc tôi hớt bớt một lớp nền nhà và nắn bản lề thì cánh cửa mới lại mở ra, đóng vào đàng hoàng. Những mưa cùng gió, thêm năm thêm tháng đã khiến bệ đất trước cối xay đổ sập từ bao giờ. Trong cối xay của tôi, gió lùa hun hút, chỗ nào cũng nghe thấy tiếng răng rắc, kèn kẹt, rin rít, cành cạch, và mỗi khi gió đổi chiều từ Tây sang Đông là lập tức lại có tiếng rù rù trên mái vòm, và chiếc ròng rọc ken két hạ từ trên cao xuống, nhưng không có gì để móc kéo lên. Chỗ này la liệt mảnh kính vỡ, chỗ kia mấy con dơi, nhác trông như bằng giấy bồi, lượn qua lượn lại trong lòng cối xay mà không hề gây tiếng động, và chỉ cần chạm nhẹ vào là các tấm tôn lợp rung lên loảng xoảng. Cối xay gió của tôi đã bị thiên hạ bỏ cho số phận, nó đứng đó - thương tích đầy mình, nhếch nhác, tiều tụy, phủ đầy cứt chim khô - đen ngòm và bất lực giữa tầm nhìn từ Rugbüll sang Bleekenwarf, và nếu nó quả còn có ích cho một việc gì đó, thì chính là ở chỗ, sau mỗi trận bão nổi đầu năm hay sau mỗi cơn dông tố mùa thu, nó lại buộc chúng tôi ngạc nhiên tự hỏi, làm sao mà nó vẫn đứng vững được.
Nhưng anh em tôi không được lưu lại bên ngoài này lâu quá, mặc dù còn khối thứ để kể về vẻ bên ngoài của cối xay gió, chẳng hạn về bóng nó soi xuống ao, hay những chữ cái, những mũi tên và hình trái tim trên cửa, bởi chúng tôi chẳng còn thì giờ đâu để ngắm nghía xem xét mà phải lom khom theo con đường đất leo lên phía trên, đi ngang qua cái bệ đã bị đổ để đến bên lối vào khoét sâu ở sườn ngọn đồi nhân tạo. Tôi nghĩ anh Klaas chắc cũng chẳng để tâm lắm đến cối xay gió của tôi, cùng lắm anh ấy cũng chỉ thoáng nhìn thấy bóng dáng đen sì và cứng đơ của nó, và thật ra, anh cũng chả cần nhìn ngó xung quanh, bởi anh hoàn toàn tin ở tôi, hổn hển, thất thểu bám theo tôi, áp chặt cánh tay bị thương vào người, và cúi gằm mặt, thấp đến mức có lẽ anh ấy chỉ còn nhìn thấy đồi chân trần của tôi là cùng.
Tôi mở toang cửa, chờ anh đến gần, đẩy anh vào gian phòng lành lạnh nằm dưới chân cầu thang, rồi đóng cửa. Hai anh em tôi đứng lặng bên nhau, cùng lắng nghe động tĩnh phía trên; nhưng ngoài tiếng bình bịch vang vang của chiếc xuồng máy chạy bên kia bờ đê thì không còn tiếng động nào khác, đến cả tiếng bay vùn vụt của mấy con dơi cũng chẳng thấy đâu, mặc dù trước đây vẫn vậy, cứ bước vào kho là nghe thấy chúng bay. Những tia sáng sắc mảnh xuyên qua các kẽ hở trên thành cối xay, run rẩy chiếu vào cảnh tranh tối tranh sáng bên trong. Gió lùa, và cầu thang gỗ chao đảo, nhưng có lẽ tôi chỉ tưởng tượng nó đang đung đưa, chao đảo thôi. Anh tôi sờ soạng trong bóng tối, nắm lấy tay tôi, hỏi: Ở đây à? Tôi đáp, ở trên kia, trên ấy mới là phòng em. Rồi tôi dẫn anh leo cầu thang đi lên, vào gian xay bột, ở đây tôi lôi cái thang giấu phía sau thùng gỗ đựng bột đã cũ ra, hai anh em leo cầu thang lên phía trên, lách người chui qua khung cửa nhỏ, kéo cái thang lên dựng vào vách để trèo lần nữa lên đến tận khoang trống nằm ngay dưới mái vòm. Tôi bảo đây là phòng tôi.
Anh Klaas gạt tôi sang một bên, rồi bước vào phía trong, nhìn thấy ngay ổ nằm cạnh cửa sổ, xếp bằng bao bì và lát thân lau sậy, nhưng anh không nằm xuống ổ mà đến ngồi tạm lên cái thùng trước đây vốn dùng để đựng cám, rồi anh cũng không ngồi, mặc dù cú leo trèo lên cao vừa qua đã làm anh mất khá nhiều sức; anh vừa cười vừa nhìn chằm chằm đầy ngạc nhiên lên các bức tranh của tôi, rồi đưa tay lên vuốt vuốt mái tóc dính bết, hình như còn dụi mắt nhìn cho kỹ, nhưng anh có dụi mắt thì số tranh vẫn không tăng lên hay giảm đi chút nào. Đấy phần lớn là tranh các kỵ sĩ, tôi lấy dán lên tường bên trong chỗ ẩn náu của tôi trong cối xay. Sau lễ sinh nhật sáu mươi của Tiến sĩ Busbeck ít lâu, tôi bắt đầu cắt tranh ảnh các kỵ sĩ từ các bìa lịch, các tạp chí hay sách này sách nọ ra; mới đầu tôi chỉ dán bịt các khe hở, về sau dán kín hết các mặt tường: chỗ này các kỵ sĩ khoác áo giáp của Napoleon xông từ trên tường xuống, chỗ kia Hoàng đê Karl V đang cưỡi ngựa thị sát bãi chiến trường Mühlberg, nơi này Hoàng tử Jussupow trong bộ cánh Tartar chễm chệ trên lưng con tuấn mã Ả Rập, và đằng kia, Nữ hoàng Isabella xứ Bourbon trên mình con ngựa Andalusian màu xám nhỏ nhắn đang lững thững đi xa dần vào ánh hoàng hôn khi sẩm tối. Vâng, trên tường còn hàng loạt các lính kỵ binh, các nghệ sĩ trên lưng ngựa, thợ săn, hiệp sĩ ngồi ngất ngưởng trên yên, đưa mắt ngắm nghía, bình phẩm nhau, và nếu chịu khó lắng nghe, ta còn có thể nghe thấy tiếng vó ngựa rầm rập lẫn trong tiếng ngựa hí vang trời. Cái gì đây thế này? anh tôi hỏi. Triển lãm, tôi đáp, ở đây đang triển lãm tranh.
Anh Klaas gật gật đầu, vừa có vẻ thích thú, vừa có vẻ khổ sở, rồi lết đến ổ buông người nằm xuống; tôi cũng ngồi xuống ngay đầu ổ nằm rồi đưa mắt, hết ngắm mấy bức tranh của mình, lại chuyển sang nhìn anh tôi đang nằm nhắm mắt, và có vẻ như đang lắng nghe cái gì đó, một cái gì đó vô hình vẫn bám theo anh đến tận đây và không để anh yên thân. Hình như anh không sao thư giãn được, không thả lỏng người cho dãn gân dãn cốt được; lúc nào anh cũng như đề phòng, như đang tìm chỗ ẩn náu, như đang khom người chực chạy, che giấu không cho ai thấy cánh tay bó bột vụng về của mình. Tôi đặt tay lên ngực anh, anh liền co rúm người lại. Tôi chỉ toan lau mồ hôi trên mặt cho anh, anh cũng giật bắn mình. Mãi đến khi tôi châm cho anh điếu thuốc, anh mới bình tĩnh lại, gác hai chân lên ổ nằm xếp bằng bao bì cùng lau sậy; ổ nằm, tất nhiên, hơi ngắn với anh.
Anh thấy nấp chỗ này được không? - tôi hỏi. Anh nhìn tôi một lúc khá lâu, rồi cất tiếng: Chú mày mà hở ra là tiêu đời tao. Không cho ai biết cả, nhất là người nhà mình. Chỗ này được đấy, chú em ạ. - Chưa ai biết chỗ này đâu, tôi nói thêm. Thế thì tốt, anh tôi nói, không ai được biết anh ở đây cả. - Cơ mà bố, tôi nói hấp tấp, bố được biết chứ, bố mà biết, bố khắc giúp anh ngay. Nhưng anh tôi dằn giọng, nói gần như muốn đe tôi: Mày mà mách bố thì tao đập mày chết, hiểu chưa? Anh nheo mắt nhìn tôi một lúc, như thể muốn chờ xem tôi có nói thêm gì nữa không, rồi bất ngờ ôm lấy tôi, vật tôi nằm xuống bên cạnh ổ nằm và đè gí tôi xuống nền nhà với tất cả sức nặng của nỗi sợ hãi đang xâm chiếm lòng anh; bây giờ tôi mới chợt hiểu anh muốn gì ở tôi, tôi liền hứa không hé một lời với ai cả, và anh tôi - mệt hết hơi, nhưng có vẻ yên lòng - ngả người ra sau rồi bảo tôi gỡ một mảnh bìa bịt cửa sổ bị vỡ ra.
Hai anh em má sát má, cùng nhìn qua cửa sổ ra ngoài vùng đất trải phẳng lì dưới nắng sớm mai; hai anh em nhìn ra ngoài, chăm chú dò xét ra tận phía xa, nơi bờ đê lượn cong, ra tận ngọn hải đăng mái đỏ; và cùng một lúc, cả hai anh em phát hiện thấy chiếc xe hơi. Từ phía quốc lộ Husum, chiếc xe lăn tới gần, nắng chiếu lên tấm kính đằng trước, bị hất ngược lại, loang loáng đằng xa; đấy là một chiếc xe con, sơn màu xanh lá cây sẫm, từ từ chạy bên con mương lóng lánh nước, rồi đột nhiên ngoặt vào con đường lát gạch dẫn về Rugbüll, chạy chầm chậm, nhưng không dừng lại, mất hút sau những bờ giậu bờm xờm bao quanh ấp Holmsenwarf một lát, rồi, đúng lúc tôi đã tưởng nó biến mất, thì nó lại thò đầu xe ra. Ánh nắng lại bị hất ngược trở lại từ tấm kính đằng trước xe. Những con bò sữa tò mò, tập tễnh lần đến bên hàng rào như để chờ đón chiếc xe, nhưng đến phút chót lại hoảng hốt, vụng về văng mình sang một bên, trong khi chiếc xe hơi vẫn lẳng lặng lăn bánh tiếp, đến dưới tấm biển “Chốt cảnh sát Rugbüll” mới dừng lại. Cửa xe hạ xuống và một cái đầu ló ra, cùng đôi vai mặc áo da bóng nhẫy. Nếu người đàn ông thò người ra ngoài cửa xe kia chỉ muốn đọc xem dòng chữ trên tấm biển là gì, thì chắc chắn ông ta phải mất khá lâu mới đọc nổi dòng chữ đã bị mưa gió làm mờ đi những hai lần ấy.
Anh tôi nắm cánh tay tôi, và do hồi hộp, vô tình bóp chặt lại, lúc chúng tôi nhìn thấy cửa xe hai bên mở toang, và bốn người đàn ông mặc măng tô đen đồng loạt bước xuống, răm rắp và thành thạo cùng tiến về phía nhà chúng tôi, tuy không có vẻ gắt gao gì lắm, nhưng bao bọc gọn ngôi nhà chúng tôi vào giữa; cả bốn người đều khoác măng tô như nhau, đội mũ y hệt nhau và cả bốn đều đút hai tay vào túi áo măng tô. Vâng, ý tôi muốn nói, có lẽ họ đã luyện rất kĩ mọi động tác rồi, họ tản ra, tụm vào mà không gây náo động. Một người trong số đó vượt qua hàng rào không chút khó khăn gì.
Bây giờ thì tôi biết tại sao lúc ấy anh Klaas bỗng nói, bàn tay vẫn nắm và bóp chặt cánh tay tôi: Chạy đi, nhóc, chạy về nhà ngay, mau lên, và giờ thì tôi cũng hiểu, vì sao anh ấy không để tôi kịp nghĩ ngợi gì nữa, mà đẩy tôi ra ngoài, hối hả, dứt khoát. Chạy về đi! Anh chỉ nói có thế; nhưng đến lúc tôi đã tụt xuống đến chân thang, anh gọi với theo: Có gì ăn được… bao giờ quay lại thì mang cái gì ăn đến đây.
Bởi tôi bao giờ cũng nghe lời anh Klaas, nên tôi nhanh nhẹn tụt cầu thang xuống dưới, và đúng như anh ấy bảo, giấu cái thang ra sau mấy thùng bột, nhảy xuống bờ đê, xuyên qua bãi lau sậy và chạy đến chỗ miệng cống, rồi lom khom men tiếp theo bờ mương. Đến chỗ thùng xe cũ thì tôi có thể đứng thẳng người, chẳng lo gì nữa, bởi từ đây, không ai bảo tôi vừa đi đâu xa về được nữa. Tôi lững thững đến bên chiếc xe hơi lúc ấy vẫn đang đỗ dưới tấm biển chốt cảnh sát, làm một vòng quanh xe, tò mò ngó vào đồng hồ đo tốc độ xem xe chạy tối đa được bao nhiêu, rồi thò tay ấn một phát lên còi xe, kết cục là một gã trẻ măng, thấp lùn, mập mạp, mặc áo măng tô da xông từ trong nhà ra, túm chặt cổ áo tôi. Con cái nhà ai, gã hỏi. Vừa sáng sớm đã lảng vảng ở đây làm gì? Để trả lời luôn một lúc bấy nhiêu câu hỏi, tôi xưng tên, trỏ tay lên cửa sổ phòng mình, rồi nói: Nhà cháu ở đây. Gã đàn ông vạm vỡ tỏ vẻ không tin; vẫn nắm chặt cổ áo tôi, gã đẩy tôi vào nhà, đến thẳng văn phòng bố tôi.
Bọn họ ngồi cả ở đấy. Ba người đàn ông mặc áo choàng da ngồi sấp bóng, và trước mặt họ là viên cảnh sát Rugbüll; ông chỉ mặc quần và áo lót, dây đeo quần xoắn lại trên vai, râu chưa kịp cạo, tóc chưa kịp chải, hay nói ngắn gọn, ngồi trước hình bóng cứng đơ của bốn người đàn ông mặc áo choàng da là bố tôi - viên cảnh sát Rugbüll - ở tư thế bối rối, chắc vì vừa bị dựng dậy khỏi giấc nồng, mắt nhắm mắt mở, và tôi có cảm giác, trông ông lúc này ít nhất cũng phải già đến chín lăm tuổi chứ không ít. Lúc người ta hỏi ông, tôi có phải con ông ở nhà này không, thì ông nhìn tôi rất lâu và dường như phải vất vả lắm mới nhận ra, mãi đến khi người ta hỏi lại lần nữa, thì ông mới gật đầu; may quá, chỉ khẽ thôi, nhưng cũng là gật, cho nên bàn tay nắm cổ áo tôi cũng buông ra. Gã đàn ông thấp lùn mà mập mạp nọ thả tôi ra, bước đến trước mặt bố tôi, chắp hai tay ra sau lưng, rồi lắc lư, nghiêng bên này ngả bên kia, thỉnh thoảng lại nhún nhẩy trên đôi ủng đế cao su, và giương đôi mắt thao láo và ngớ ngẩn như mắt bò đọc câu châm ngôn đóng trong khung treo phía trên bàn giấy của bố tôi: Giờ buổi sáng, giờ vàng giờ ngọc. Vì không ai đuổi tôi đi cả, nên tôi cứ ở lại đó, đưa mắt nhìn quanh phòng giấy của bố tôi, là nơi lâu nay bố tôi vẫn cấm tôi bước vào; nhưng chả có gì hay ho đối với tôi cả, trừ cái giá đỡ con dấu treo một lúc bốn con dấu và núm tua rua ở đuôi thanh đoản kiếm cảnh sát ánh bạc xin xỉn. Bố tôi chỉ ngồi yên, vẻ ngái ngủ và cam chịu, như thể ông chẳng được nói năng gì, hai tay để thõng thượt trên đùi, lưng thẳng đuỗn dựa vào lưng ghế, cằm rụt lại và đôi môi hơi hé mở. Ông không giấu được vẻ mặt để lộ ông đang nghĩ gì đó lung lắm, mặc dù qua khóe mắt ông vẫn không ngớt dõi theo gã đàn ông béo lùn lúc này đang chậm rãi - chậm rãi như muốn trêu ngươi, giễu cợt ông - ngắm nghía kỹ các bức ảnh treo đầy bức tường phía sau bàn giấy.
Những bức ảnh ấy nói lên điều gì nhỉ? Chúng cho thấy một gian hàng tối tăm chật chội, là nơi một ông Peter Paul Jepsen nào đấy dùng làm chỗ bán cá biển tươi, chúng cho biết ông hàng cá Jepsen có năm đứa con, trong đó có một cậu gầy gò mảnh khảnh; ảnh nào cũng thấy cậu nhìn thẳng vào ống kính với vẻ lạnh lùng nghi kỵ, và trông cậu rất giống viên cảnh sát chốt Rugbüll hiện nay. Các bức ảnh cho người xem biết về cuộc thi vặt đuôi - ngắt đầu tôm giữa hai gia đình, chúng cho người xem thấy dàn đồng ca của tụi trẻ thị trấn Glüserup - đúng giữa lúc cả bọn đang say sưa hát, thành ra trong ảnh, mồm đứa nào cũng mãi mãi ngoác ra không ngậm lại; tiếp theo là ảnh cậu học trò Jens Ole Jepsen lần đầu tiên đến trường, tay cầm túi quà nhập trường to tướng, những bức ảnh khác lại chụp cậu sau lễ kiên tín, hay trong vai hậu vệ trái đội bóng đá TuS Glüserup. Một tấm ảnh hình bầu dục cho biết, trên đời này, một thời từng có chàng pháo thủ trẻ tuổi Jepsen trong tư thế quỳ bên khẩu lựu pháo như quỳ bên bàn thờ, và trên một tấm ảnh khác, người xem lại thấy cũng tay pháo thủ đó ở Galizien, khoác áo choàng lính, đang đứng hát cùng nhiều pháo thủ khác bên cây thông ngày Lễ Giáng sinh. Còn tấm ảnh nữa chụp anh học viên trường cảnh sát Jens Ole Jepsen đang nằm chéo trước đội hình đội thể thao gồm toàn những chàng trai để ria mép, và đằng sau họ, trại lính xây bằng gạch nung ở Hamburg nổi lên sừng sững, đầy vẻ hăm dọa. Tiếp đến là các bức ảnh chụp chị Gudrun Schessel, bức nào bức nấy đều cho biết chị ưa mặc váy màu trắng, thích đeo tất cũng màu trắng nốt, các tấm ảnh còn làm chứng cho đuôi tóc dài khủng khiếp, dài quá mông và cũng cho biết chị biết đọc, bởi trong ảnh nào cũng thấy chị giữ quyển sách nào đó trên tay. Bức ảnh chụp đám cưới, trong đó ai nấy mắt trợn tròn đờ đẫn, đứng thẳng đơ, cứng nhắc nâng ly đứng quanh hai anh chị và có vẻ đang chúc mừng hai người một cách rất chi là có kỷ luật, cũng chính là bức ghi nhận anh Jens Ole Jepsen và chị Gudrun Schessel một ngày nào đó đã thành vợ thành chồng. Các bức ảnh trên tường còn kể hai vợ chồng từng có lần đi du lịch đến Paris, lần khác đi từ Bingen đến Köln bằng tàu thủy chạy hơi nước trên sông Rhein, và một bức ảnh khác khăng khăng quả quyết hai vợ chồng có ba đứa con, bởi vì trên đó, chị Hilke và anh Klaas chỉ nhác trông là người xem nhận ra ngay, còn con ngáo ộp đầu chưa mọc tóc nằm trong chiếc xe nôi cao lênh khênh kia, chắc chắn chỉ là cái thằng tôi, chứ không phải ai khác.
Người đàn ông mập lùn khoác áo măng tô da nọ dửng đỉnh ngắm hết các tấm ảnh một lượt, trong khi bố tôi vẫn nhẫn nhục ngồi trơ ra đó, và ngay cả lúc vị khách kia cầm quyển sổ trực ban lên đọc xem những dòng ghi cuối cùng bằng thứ chữ ngoằn ngoèo trong đó là gì, bố tôi vẫn ngồi yên không động đậy. Ngồi chắn ánh sáng từ bên ngoài chiếu vào, ba người đàn ông kia trông như những bóng người bất động; một người trong số họ hút thuốc, nhưng ông ta không bỏ điếu thuốc khỏi môi lúc nào. Trông bộ dạng họ, có thể đoán rằng những gì cần nói, họ đã nói hết. Tôi thu người vào một góc, định chờ xem chuyện gì sẽ còn diễn ra tiếp, nhưng mẹ tôi bất chợt bước vào phòng, lẳng lặng vẫy vẫy ra hiệu gọi tôi rồi nắm tay tôi, lôi vào bếp; bữa sáng của tôi đã dọn sẵn trên bàn: cháo yến mạch đặc sệt, có đường bên trên và một khoanh bánh mì phết mứt đại hoàng. Ăn đi, mẹ tôi nói khô khan, và tôi ngồi ăn sáng trước mặt bà, song tôi biết, bà đang để tâm nghe ngóng xem trong phòng giấy kia người ta nói những gì. Họ đến tìm cái gì ấy, mẹ ạ, tôi nói. Mẹ tôi đáp nhát gừng: Ngồi im. Ăn đi. - Họ từ Husum đến đây, chắc thế, mẹ nhỉ. Tao không hỏi mày, mẹ tôi nói, đoạn bà đóng cửa bếp lại, rồi rót một tách nước trà và cứ thế đứng uống. Tôi lại hỏi: Rồi họ đưa bố lên xe ôtô mang đi hả mẹ. Mẹ tôi nhún vai. Tao không biết, bà nói chậm rãi, đặt tách nước lên bàn rồi bước ra ngoài hành lang.
Tôi liếc nhanh một cái về phía cối xay gió, nơi anh Klaas đang nằm chờ tôi, rồi kéo cánh cửa bị vênh của tủ đựng thức ăn ra: trong đó có một bình sứ đựng dưa chuột muối, nửa cái bánh mì, miếng thịt muối, một xâu hành củ, một cái tô đựng đầy mứt đại hoàng chưa trộn đường, một miếng bơ margarine, một khúc xúc xích, bốn quả trứng gà tươi, một gói bột và một túi yến mạch, ngoài ra tôi không phát hiện được gì thêm. Tôi liếm vội lớp mứt trên khoanh bánh của mình, bẻ nó làm đôi rồi đút cả vào túi quần. Trong phòng giấy tiếng người nói bỗng ồn ào nổi lên. Mới đầu, tôi nghe người đàn ông lùn mập cất tiếng nói, sau đó đôi người khác cũng chêm vào, riêng có bố tôi vẫn lặng thinh, không nghe ông hé răng nói câu nào. Rồi mẹ tôi đột nhiên lẻn vào bếp trở lại, vội vàng nhấc tách trà uống dở đưa lên miệng; đúng lúc đó thì mấy người đàn ông đã bước từ phòng giấy bố tôi ra ngoài hành lang, ai nấy đều chìa tay chào tạm biệt viên cảnh sát chốt Rugbüll, họ cũng giương mắt nhìn vào mẹ con tôi trong bếp và mở miệng chúc ăn ngon này nọ, trước khi ngập ngừng bước ra khỏi nhà; nhưng họ không ra xe ngay mà tản ra mỗi người một góc sân, ngắm nghía cảnh vật xung quanh, đảo nhìn một lượt các con mương, bãi cỏ, soát lại một mạch từ chỗ hàng giậu ra tận bờ đê bằng con mắt nhà nghề. Chỗ này chỗ kia không có gì động đậy, cũng không có gì nổi lên hay co ro né tránh khiến họ phải nghi ngờ cả. Một ông lục lọi trong kho, một ông khác tụt xuống tận cửa cống xem xét, nhưng chẳng ai tìm thấy gì. Họ còn kiểm tra xem có đúng thùng xe mục nát kia vô hại không, rồi cái ông trẻ tuổi, lùn và mập mạp nọ còn lôi ống nhòm trong xe ra nhìn rất lâu về phía ao than bùn đằng xa. Lúc họ quay lại xe, không một ai trong số họ tỏ vẻ bằng lòng cả. Đánh xe chạy đi, bọn họ ai nấy đều có vẻ hậm hực.
Bố tôi đứng ở bậc thang nhìn theo xe họ rời xa, chầm chậm chạy dọc theo các bờ mương; ông đứng như thế rất lâu, cho đến khi chiếc xe bò lên quốc lộ Husum rồi, ông mới quay vào trong, và cứ thế ngồi phịch xuống bên bàn ăn trong bếp, đặt hai tay trên mặt bàn, bàn tay này gác trên bàn tay kia. Ông ngồi đờ đẫn, trong chiếc áo lót may bằng vải thô, dây đeo quần bị xoắn, mắt ngấn lệ, hai hàm răng nghiến chặt vào nhau, đưa đi đưa lại, và ông không hề để ý đến tách nước trà mẹ tôi đẩy tới trước mặt ông, cũng chẳng để tâm đến tôi - nhưng tuyệt nhiên không phải vì ông thất thần, hoang mang mất trí: cứ nhìn nét mặt ông là đủ biết ông không những hiểu rõ lý do, mà còn lường hết cả hậu quả của chuyến viếng thăm bất ngờ vào buổi sáng hôm nay ra sao. Ông tính toán. Ông cân nhắc, ông nghĩ tới nghĩ lui, ông suy đi, tính lại. Đôi lông mày ông động đậy. Hơi thở ông căng thẳng. Và đột nhiên ông giơ cánh tay phải lên, nhưng rồi lại mệt mỏi thả nó xuống bàn ngay, và cất tiếng nói với mẹ tôi: Chả biết thế nào, không khéo nó vác mặt về đây lúc nào cũng nên. - Họ đến tìm nó à? mẹ tôi hỏi. Bố tôi đáp: Nó đang nằm ở trạm quân y dành cho phạm nhân, rồi từ đấy bỏ trốn. Họ đang lùng nó khắp nơi. - Nó bỏ trốn lúc nào? mẹ tôi lại hỏi. Hôm qua, bố tôi đáp, tối hôm qua, và thế là nó làm hỏng hết mọi việc. Tôi đã dò la biết trước rồi. Giá thằng Klaas không bỏ trốn như thế, thì cùng lắm, nó chỉ bị tống giam hay vào trại cải tạo là cùng - bây giờ thì chịu rồi, chẳng trông mong gì nữa. - Sao nó lại làm thế, mẹ tôi hỏi, sao nó lại bỏ trốn như thế? - Bà đi mà hỏi nó ấy, bố tôi gắt: Rồi lúc nào đấy nó khắc gõ cửa nhà này rồi đứng lù lù trước mặt bà cho mà xem, lúc ấy bà cứ việc tóm lấy nó mà hỏi. - Nó sẽ không thò mặt về đây, mẹ tôi đáp; sau bấy nhiêu tai họa nó gây cho nhà này, chắc chắn nó chẳng dám thò mặt về đây đâu. - Nó sẽ về, rồi bà xem, bố tôi nói. Mọi sự bắt đầu từ đây thì cũng sẽ kết thúc ở đây: thể nào nó cũng sa vào tay bọn họ cho mà xem. - Ông định báo trước cho nó biết để nó đừng mò về đây chắc? mẹ tôi hỏi; hay ông còn định cho nó trốn ở nhà đây, nếu nó thò mặt về? - Tôi chả biết, bố tôi đáp, tôi chưa biết tôi phải làm gì sất; nhưng mẹ tôi đốp luôn: Tôi nghĩ ông phải biết người ta đang mong đợi những gì ở ông đấy.
Mẹ tôi dọn bữa sáng cho bố tôi; bà lấy bánh mì, bơ margarine, tô mứt bày ra bàn, ngay trước mặt ông, và sau khi hoàn thành xong cái nghĩa vụ khó chịu đó, bà tỏ vẻ hài lòng lắm. Bà không ngồi xuống. Bà rót đầy tách nước trà, tựa lưng vào cửa tủ đựng thức ăn, rồi nói: Gì thì gì, tôi chẳng muốn dính dáng đến cái thằng ấy. Tôi với nó, thế là hết tội, hết nợ, nó mà thò mặt về đây, thì đừng có hòng nói năng gì với tôi. Bố tôi chỉ trân trân nhìn, chứ không động vào bữa ăn sáng trước mặt. Có dạo bà đã nói khác về nó, ông nói, ấy là chưa kể nó đang bị thương. - Nó bị què, mẹ tôi nói to, thằng Klaas bị què, chứ không phải bị thương, nó tự làm nó què, chứ chẳng ai gây thương gây tật cho nó cả. - Phải, bố tôi cao giọng, phải, phải, nó tự làm nó què, nhưng phải thế nào nó mới dám làm được như thế, còn mẹ tôi, bà nín lặng một lát, rồi nói: Đúng đấy, nó hèn, nó sợ, cho nên nó mới làm thế. - Thằng Klaas nó hơn cả tôi lẫn bà một bậc, bố tôi đáp, tương lai thằng nhỏ còn khá hơn gấp mấy lần tôi ấy chứ, bà đừng tưởng. - Ông với tôi đều chăm lo cho nó, mẹ tôi vặc lại, ông với tôi lúc nào cũng chỉ lo toan cho nó. Thế còn nó thì sao? Nếu nó hơn cả ông lẫn tôi thì sao nó không tính trước đi xem những việc nó làm sẽ dẫn đến đâu. Bây giờ nó mới tính thì muộn hết rồi.
Bố tôi chẳng ăn, chẳng uống gì. Ông đưa tay vuốt vuốt lên mái tóc lơ thơ của mình, rồi chợt ông ôm lấy bả vai bên trái, như thể chỗ đau cũ lại tái phát vậy. Ôi giời, thì đến giờ này đã thấy mặt mũi thằng Klaas ở đâu đâu; mà chả biết liệu rồi nó đi có lọt không. - Thế nhỡ nó đi lọt thì sao? Mẹ tôi hỏi vặn. Thì tôi khắc biết tôi phải làm gì chứ sao, bố tôi nói, với một giọng ẩn sâu ý trách móc. Ông ngoảnh gương mặt lởm chởm râu chưa cạo về phía mẹ tôi, chậm rãi nhìn như thể muốn đánh giá xem phản ứng của bà sẽ thế nào, rồi nói tiếp: Chuyện có thế nào, thì cũng sẽ đâu vào đấy thôi, bà khỏi phải lo. Đoạn ông đứng dậy, đưa hai tay ra phía trước rồi bước về phía bà, nhưng không chờ ông chạm vào người, bà đặt phắt tách nước trà xuống bàn, bước lùi lại tránh ông, và cứ thế đi giật lùi một vòng quanh bàn ra đến cửa, rồi không nói không rằng, theo cầu thang lên tầng trên, bước nhanh vào phòng ngủ, và tôi cầm chắc, bà khóa ngay cửa lại.
Bố tôi nhún vai. Ông bỏ dây đeo quần khỏi vai, tiến tới bên chậu rửa bát, với tay lấy bàn chải và xà phòng cạo râu trên chiếc kệ nhỏ kê ở góc, rồi, đứng hơi doạng chân bên chậu rửa, ông xoa xà phòng lên mặt, trong khi mắt vẫn không rời tôi. Chắc mày cũng nghe rồi đấy, ông chợt cất tiếng nói, anh Klaas mày trốn trại; không biết chừng anh mày sắp vác mặt về đây cũng nên. Tôi không nói gì, lấy thìa múc mứt đại hoàng cho vào bát cháo yến mạch. Thể nào nó cũng mò về đây, bố tôi nói tiếp, nó sẽ bất chợt về đây, sẽ xin cái này cái nọ, nó sẽ xin ăn, sẽ tìm nơi ẩn náu; bố dặn trước để mày làm gì cũng phải hỏi bố. Bất kỳ ai, kể cả mày, bao che cho nó đều phạm tội, cả mày cũng vậy. Tôi hỏi: Nếu bắt được anh Klaas, thì bố làm gì anh ấy hở bố? Để phòi ít bọt xà phòng qua kẽ ngón tay, bố tôi chẳng biết nói gì hơn, chỉ dửng dưng buông thõng một câu: Tội nó đáng thế nào, người ta khắc xử nó như thế. Nói rồi, ông đưa dao cạo râu lên cao, méo mặt sang một bên, cạo từ mang tai xuống và chúm môi lại như định thổi sáo, trong khi tôi lơ đãng ăn cháo, chầm chậm múc thứ cháo nâu nâu trắng trắng đưa lên miệng, cố ăn thật chậm, để chờ đến lúc bố tôi cạo râu xong. Cạo râu xong rồi nhưng ông vẫn không muốn ăn, muốn uống gì. Ông rửa bộ dao lẫn bàn chải cạo râu, rồi khoác dây đeo quần lên vai; ông làm mọi việc một cách hết sức chậm rãi và đầy vẻ cân nhắc, loay hoay tìm một chiếc nút bấm đã long đi tự bao giờ, xì mũi ầm ầm xong lại còn đủ thì giờ để trầm ngâm ngắm chiếc khăn tay một lúc lâu, rồi còn bước đến bên cửa sổ nhìn mãi ra ngoài về hướng quốc lộ Husum; ở đó mọi sự yên ắng, không chút động tĩnh, chỉ có mặt trời đang chiếu xuống làm mềm cả mặt đường nhựa.
Sau khi làm xong một loạt những việc cốt chỉ để câu giờ như đánh giày, rửa tẩu thuốc, lên dây cót đồng hồ báo thức - rốt cuộc ông rời khỏi bếp và tập tễnh bước về phòng giấy của mình, tôi mới vội uống hết nước chè ông để lại còn nguyên trên bàn, rồi đem bánh mì, bơ margarine và tô đựng mứt đại hoàng xanh xanh đỏ đỏ cho vào tủ đựng thức ăn, đoạn tôi dỏng tai nghe ngóng; không nghe thấy tiếng động nào đáng ngờ, tôi liền cắt vài khoanh bánh mì dày nhét vào cổ áo sơ mi, sau lại nhét thêm vào đó miếng xúc xích và hai quả trứng, khiến áo tôi mặc phồng lên ở chỗ thắt lưng tôi đeo. Tôi nhẹ nhàng đẩy mấy thứ đó ra sau lưng, khiến hai quả trứng chạm vào sống lưng tôi man mát, còn mấy khoanh bánh mì lại gây cảm giác bèo nhèo. Tôi lôi mẩu xúc xích ra, nhét lại vào túi quần. Tôi cắt thêm một lớp thịt muối màu bạc thếch và nhợt nhạt rồi cho nó tuột theo sống lưng ra phía sau. Áo sơ mi tôi mặc bây giờ phồng lên phía trên thắt lưng quần, trễ xuống như cái ba- lô nhỏ sau lưng, nhưng tôi thấy vẫn chưa đủ. Còn táo nữa, tôi sực nhớ đến mấy quả táo Gravensteinr trên nóc tủ ở phòng mình, nên tôi nghĩ, nhất định phải lên phòng nhón vài quả đem theo. Tôi bèn rời khỏi bếp, lần cầu thang đi lên, mỗi bước lại cảm thấy trứng, bánh mì, và thịt đung đưa, ươn ướt man mát sau lưng. Tôi đi sát vào tường, kín đáo lên tầng trên, vượt qua phòng ngủ đáng sợ của bố mẹ và mở cửa phòng; tôi giật bắn mình, vì mẹ tôi, mắt mở thao láo, đang ngả lưng nằm trên giường tôi. Hóa ra bà không ở trong phòng ngủ của bà như tôi tưởng, bà không đứng, như tôi tưởng, sau tấm rèm cửa sổ, với cặp môi trễ xuống đầy kiêu ngạo, đưa mắt nhìn ra bờ đê, về phía chân trời hay mặt biển lóng lánh như thể tìm kiếm đâu đó một niềm an ủi cho mình; không, mẹ tôi nằm ở kia, trên giường tôi, người hơi co ro, chăn kéo đắp ngang ngực, hai cánh tay để trần, da trắng, lấm tấm tàn nhang và nốt ruồi, thõng thượt trên chăn. Sau này, những cảnh tượng như thế xảy ra thường xuyên hơn, nên nó cũng chẳng làm tôi phải để ý mấy nữa, nhưng vào ngày hôm ấy, nó đủ khiến tôi phải đứng ngây ra đó mất một lúc. Tôi trân trân nhìn mẹ tôi, đến tự hỏi, tôi cũng không tự hỏi nốt: thế này là thế nào, sao mẹ lại nằm ở đây. Tóc mẹ tôi xòa ra trên gối. Mẹ tôi vóc người vốn mảnh khảnh, nhưng trong chăn trông bà lại có vẻ đầy đặn khác thường. Hay bà định đuổi tôi khỏi phòng? Trông bà nằm như thế, tôi lại nhớ đến chị Hilke tôi. Nhìn thẳng vào mắt bà, tôi cũng không hiểu gì, bà cũng không nói lấy một lời. Cảm giác man mát ở sống lưng như muốn nhắc nhở tôi, và tôi tính toán làm sao thoát khỏi tầm mắt bà: như con mèo muốn trườn khỏi nơi hiểm nguy, tôi cũng muốn chuồn khỏi đây; tôi lùi dần lùi dần ra đến cửa và tay tôi đã nắm được nắm đấm, thì mẹ tôi cất tiếng: Lại đây! Lại gần đây. Tôi nghe lời bà, bước đến gần. Quay lưng lại, mẹ tôi nói tiếp. Tôi quay lưng về phía bà, cố ép sát hai chân vào nhau và tin chắc mẹ sẽ không nhìn thấy chỗ áo tôi phồng ra sau lưng; nhưng mẹ tôi đã bảo: Bỏ hết các thứ ra; và tôi đành dồn các thứ từ phía sau lưng ra trước bụng, thò tay qua cổ áo, và lần lượt kéo các thứ tôi giấu trong đó ra, đặt hết xuống nền nhà: mấy miếng bánh mì, mấy quả trứng, miếng thịt muối nhọt nhợt màu. Nếu mẹ tôi có hỏi, thì tôi đã kể bà nghe về nơi trú ẩn của tôi rồi - không phải chỗ trú ẩn trong cối xay gió mà ngoài bán đảo, trong lều bác canh chim - tôi cũng sẽ lấy cớ tôi phải dự trữ lương thực, phòng lúc khó khăn, nhưng mẹ tôi không muốn nghe, bà chỉ bảo: Đem hết về tủ thức ăn cho tao. Lúc lệnh cho tôi phải mang các thứ tôi toan đem cho anh Klaas như thế, bà nói với giọng không có vẻ răn đe hăm dọa gì, cũng không có vẻ thất vọng, mà thoáng chút buồn phiền là đằng khác, và tôi nhìn bà rất lâu, ngạc nhiên và chờ đợi, chờ bà sẽ tuyên phạt, nhưng hóa ra tôi đã quá lo xa, vì mẹ tôi thậm chí còn mỉm cười và hất hất đầu về phía tôi bảo đi đi; tôi đành kéo áo sơ mi nhét trong quần ra, thu mọi thứ lên tay rồi đem xuống tủ thức ăn kê dưới bếp ở tầng dưới.
Mẹ tôi làm sao thế không biết? Sao bà không mắng, không phạt tôi? Sao bà không bắt tôi ngồi trong phòng rồi khóa trái cửa như mọi khi? Tôi xếp trứng vào với trứng, thịt muối với thịt muối, xúc xích với xúc xích, riêng miếng bánh lúc nãy tôi bẻ đôi, tôi vẫn để nguyên trong túi quần, lấy bàn tay đè lên đó mấy lần liền cho bẹp gí xuống, khỏi nổi cộm lên nữa.
Qua cửa sổ bếp, tôi nhìn ra phía cối xay gió, cố nheo mắt ngó xem từ ô cửa tròn ở đó có tín hiệu nào cho mình không, trong khi bố tôi ở phòng giấy phía trong đang nói điện thoại theo kiểu của riêng ông, nghĩa là ông gào nhát gừng từng câu ngắn vào máy và lặp đi lặp lại tiếng cuối nhiều lần. Bố tôi chẳng bao giờ nói chuyện gì kín đáo qua điện thoại được, và tôi đã nghĩ, thể nào mẹ tôi - cũng như bao nhiêu lần trước đây rồi - sẽ sầm sầm đi xuống đóng cửa phòng giấy của bố tôi lại, khiến câu chuyện bố tôi nói qua điện thoại - tuy nghe vẫn rõ mồn một - nhưng không làm chói tai lắm nữa; nhưng tầng trên vẫn không thấy có động tĩnh gì. Từ khung cửa sổ tròn tròn của cối xay gió, là nơi anh Klaas đang nằm chờ tôi, cũng không thấy có tín hiệu nào. Có công văn ở Husum gửi về, bố tôi gào vào máy. Tôi hình dung ra trước mắt cảnh anh Klaas tôi nằm ngủ trên ổ xếp bằng bao bì cùng thân với lá lau sậy phơi khô, và ngay trong lúc ngủ anh ấy vẫn cảnh giác, người co lại, chực vùng dậy ngay.
Không có sự cố gì đặc biệt cả, - bố tôi lại gào, - đặc… biệt… cả!
Tôi cân nhắc, tính toán xem bây giờ tôi nên theo đường nào đến cối xay gió mà không bị phát hiện, rồi trong đầu tôi, tôi tưởng tượng mình đang lần theo bờ mương, nhìn qua nhìn lại quan sát con đê, rồi tôi chợt nghĩ, ước gì có lối đi ngầm dưới đất thì hay quá, và trong khi thử nhắm trước trong đầu một đoạn đường ngầm như thế, tôi nhận ra ông đưa thư Okko Brodersen đang đeo túi đựng thư từ báo chí từ xóm Holmsenwarf đạp xe sang xóm nhà chúng tôi. Ông ta lạng qua lạng lại trên yên xe. Cái túi da xây xước ngang dọc đeo bên người có vẻ vướng víu, làm ông khó giữ được thăng bằng trên xe thì phải.
Vâng, sẽ báo cáo ngay ạ, bố tôi gào.
Ông Okko Brodersen đạp xe hướng về phía chúng tôi, bần bật chạy qua cái cầu nhỏ lát bằng các đoạn thân cây cưa ngắn, vừa đạp vừa lầu bầu nói một mình, xe ông chạy như muốn đâm sầm vào cột chỉ đường, nhưng kịp lượn tránh sang một bên, rồi bám làm một vòng rộng trước khi dừng lại trước bậc thềm nhà tôi. Ông lầu bầu rủa, rồi xuống xe, cánh tay áo rỗng và gấp lại của chiếc áo khoác nhà binh giật giật như chạm điện. Ông kéo chiếc túi đựng thư báo ra trước bụng rồi cứ thế trèo lên bậc thềm lên nhà, không buồn cả gõ cửa, mà đi thẳng vào bếp rồi nói gọn lỏn: Chào nhá, nói xong ông Okko ngồi xuống bên bàn, lôi chiếc đồng hồ quả quýt của mình ra và đặt nó lên bàn, ngay trước mặt mình. Ông lẳng lặng nhìn chiếc đồng hồ. Ông ta có vẻ bằng lòng với nó lắm, bởi tôi thấy ông cứ gật gật đầu mãi, nhưng lúc tôi cũng định nhìn vào đồng hồ của ông, thì ông ngăn tôi lại, chìa một tấm bưu ảnh gửi từ Hamburg về cho tôi xem, rồi nói: Mày biết đọc thì đọc đi. - Chị Hilke mày sắp về đấy, về hẳn luôn.
Báo cáo sẽ gửi ngay ạ, không chậm trễ ạ, tiếng bố tôi ầm ầm trong phòng giấy.
Chủ nhật này mày ra ga đón chị mày được rồi đấy, ông đưa thư nói, rồi quay lại ngắm nghía chiếc đồng hồ quả quýt, với vẻ phấn khích và mãn nguyện - ông ta quen như thế từ lâu rồi, cứ ngồi xuống là ông lại ngắm nghía chiếc đồng hồ quả quýt đó, và đôi khi, tôi có cảm giác, dường như giờ giấc, ngày tháng trên chiếc đồng hồ của ông lệch hẳn so mọi chiếc đồng hồ khác thì phải, nên ông phải nhìn biểu hiện cho bằng được sự khác nhau đó.
Ông đưa thư già, cụt một tay ấy, chẳng hề để tâm đến tiếng bố tôi gào to trong phòng giấy. Ông vừa thở phì phò, vừa chăm chú theo dõi chiếc đồng hồ, và kiên nhẫn chờ đến lúc bố tôi gác ống nghe rồi bước vào bếp với hai bác cháu tôi; ông mới đứng dậy và hai vị bắt tay nhau, cao giọng gọi tên nhau thay cho lời chào hỏi: Ông Jens? Ông Okko? Ông đưa thư lấy tấm bưu ảnh từ tay tôi, đặt nó lên một tờ báo rồi đưa cả cho bố tôi, xong xuôi đâu đấy, ông lại ngồi xuống. Ông nhìn quanh trong bếp như muốn tìm cái gì đó. Trà nhé? bố tôi hỏi, ông uống với tôi chén trà nhá? - Phải rồi, ông đưa thư đáp, phải rồi, tôi phải làm chén trà mới được; rồi họ ngồi uống trà với nhau, gật gù, tấm tắc khen thứ trà đen này pha nhiều đường thật là ngon, và trong khi uống, hai người lặng lẽ quan sát nhau qua mép chén. Ngoài ra họ chẳng làm gì nữa cả - nhưng, nói cho đúng, thì cả hai vị đều đang nghĩ ngợi rất lung trong đầu, ai nấy đều chờ một giây khắc thích hợp để mở đầu câu chuyện họ muốn nói với nhau; vâng, ở quê tôi ai cũng giữ cái lệ đó, cái lệ cố làm sao cho mọi chuyện, bất kể chuyện gì, đều mở đầu một cách vô thưởng vô phạt, không phải lên giọng nghiêm trang hay đao to búa lớn làm gì cả.
Thành ra tôi không thể để ông Okko Brodersen bắt đầu ngay câu chuyện của ông ấy được, để cho đúng với tính cách ông, tôi phải hườm hượm, tôi phải nhắc đến câu chuyện mào đầu mà hai vị - kiên nhẫn đến phát kinh ngạc - con cà con kê với nhau bên bàn ăn trong bếp, nào chuyện các vụ máy bay bay thấp, nào chuyện săm lốp xe đạp; vâng, tôi phải thuật lại các chi tiết nhỏ nhặt lúc hai vị hỏi thăm sức khỏe người thân trong gia đình hai bên, tôi cũng phải nhắc đến các cử chỉ chậm rãi và đầy cân nhắc của hai vị trước mặt nhau. Tay áo rỗng của áo choàng nhà binh ông Okko đang mặc quét đi quét lại trên mặt bàn, còn bố tôi loay hoay tìm cách gập tờ báo lại. Lúc ông Okko than phiền hiện giờ khó đào đâu ra được săm lốp xe đạp, ông liếc nhanh sang chiếc đồng hồ quả quýt nằm trên bàn. Còn viên cảnh sát Rugbüll chốc chốc lại ngẩng đầu lên, như thể vừa nghe thấy tiếng động khả nghi nào đó trong nhà vậy.
Hai vị cứ thế dần dà sáp lại với nhau, người này mớm trước cho người kia, đã lâu la lại vòng vo, rắc rối, mãi đến lúc ông đưa thư già tự thấy mình được quyền nói lộ lý do khiến ông hôm nay có mặt ở đây. Ông nói: Để ông ấy yên, ông Jens ạ, và bố tôi - như thể nãy giờ chỉ chờ có thế - liền đáp ngay: Bây giờ lại đến lượt ông đấy phỏng, bây giờ ông cũng lại một giọng y như ông già Holmsen tối hôm qua ghé vào đây chẳng để làm gì mà chỉ để nói độc mỗi một câu: Để ông ấy yên. Mà nào đã có chuyện gì to tát đâu cơ chứ? Lệnh cấm vẽ là lệnh từ Berlin lệnh lên, chứ phải lệnh tôi nghĩ ra đâu, cả lệnh tịch thu tranh cũng từ Berlin lên. Việc nào việc nấy đều có lệnh, có chỉ thị hẳn hoi, và tôi chưa làm cái gì vượt hơn lệnh tôi phải làm cả.
Dân tình đồn ông bám theo ông ấy, ông đưa thư nói. Bám theo ông ấy à, bố tôi đáp, bám theo ông ấy nghĩa là thế nào? Thì cũng phải có người báo cho ông ấy biết lệnh cấm nó ra làm sao chứ, và đấy là việc của tôi chứ của ai vào đây nào. - Người ta kháo nhau, ông đưa thư tiếp, ông rình rập ông ấy tối ngày, cả ban đêm ông cũng rình. - Tôi được lệnh phải giám sát, sao cho lệnh cấm vẽ được thi hành, bố tôi đáp nhát gừng, và ông Okko Brodersen - như đoán trước câu trả lời đó của bố tôi - liền nói: Người ta bảo ông năng nổ hơn những gì ông phải làm, tức là nhiều hơn cả những gì nghĩa vụ đòi ông phải làm. - Thế các người có biết, họ giao những việc gì cho tôi không, bố tôi gắt. Đúng rồi, ông đưa thư từ tốn, cái đó thì chẳng ai biết thật, thế nhưng dân tình họ vẫn biết ông tự đặt cho ông những việc như thế nào; người ta kháo nhau, trong vụ này ông có mục đích riêng tư thế nào đấy.
Viên cảnh sát Rugbüll nhún vai, bình tĩnh nhìn kỹ vào mặt người đàn ông đang ngồi trước mặt mình - cũng là người có mặt bên cạnh ông trên rất nhiều tấm ảnh treo trong phòng giấy của ông - đến cả tấm ảnh hình bầu dục chụp các pháo thủ đang quỳ trước khẩu lựu pháo cũng có mặt ông ta - rồi ông cảnh sát nhắm mắt lại, ngẫm nghĩ rất lâu rồi mới cất tiếng, nói đại loại như sau: Tôi có nhiệm vụ của tôi, còn ông ấy cũng tự đặt nhiệm vụ ra cho mình. Tôi đã nói rõ để ông ấy biết về những gì ông ấy không được phép làm, còn ông ấy lại nói với tôi, những gì ông ấy vẫn tiếp tục làm. Tôi không thể chiếu cố ngoại lệ được, còn ông ấy lại muốn tôi cho ông ấy hưởng ngoại lệ cơ. Đấy, ông cứ việc nói cho những ai hay hóng chuyện biết rằng tôi với ông ấy, việc người nào người ấy chịu - tôi với ông ấy đã nói hết với nhau những gì cần nói; cả tôi, cả ông ấy đều biết rõ rồi hậu quả sẽ thế nào.
Ông đưa thư gật gật đầu; phần ông, ông có vẻ không muốn phản bác lại bố tôi, nhưng ông cũng không để lộ xem chính ông nghĩ thế nào. Nhiều người họ lo cho ông đấy, ông nói, họ bảo thời thế sẽ có ngày thay đổi. Thì chính ông, ông cũng biết thừa, ông ấy nhiều bạn bè lắm. - Phải, tôi biết, bố tôi đáp; tôi biết ở nước ngoài người ta đề cao ông ấy, thậm chí còn tôn sùng hâm mộ ông ấy, tôi cũng biết ở xứ mình khối người tự hào về ông ấy - ông già Holmsen nói với tôi mà - người ta tự hào vì ông ấy vẽ phong cảnh quê mình, ông ấy làm xứ này thơm danh nổi tiếng. Tôi còn nghe đâu như ở bên Tây hay ở dưới miền Nam, cứ nói đến xứ mình là người ta nghĩ đến ông ấy trước… Phải, tôi nghe khá nhiều chuyện, bà con cứ tin tôi đi. Nhưng sao lại lo cho tôi? Ai làm tròn nghĩa vụ của mình thì chẳng phải lo lắng gì hết - thời thế có thay đổi thì cũng thế thôi.
Thấy bảo, ông đưa thư lại thủng thẳng, đến cả tranh vẽ từ nhiều năm về trước, ông cũng đem tịch thu của ông ấy.
Thì đã có lệnh từ Berlin, bố tôi đáp, nên tôi phải lo liệu sao cho tranh ông ấy được đóng gói cẩn thận rồi cho chuyển về Husum, số tranh ấy về sau thế nào, thì tôi không biết được.
Thấy bảo họ đưa về Berlin, ông đưa thư nói, một nửa đem đốt, một nửa đem bán. - Tôi không biết được, bố tôi nói, tôi không nghe gì về chuyện đó, vì không thuộc quyền hạn của tôi, tôi chỉ chịu trách nhiệm ở Rugbüll đây thôi.
Thế nhưng tại sao họ lại cấm ông ấy vẽ, bác đưa thư hỏi, tại sao họ lại tịch thu tất tật tranh ông ấy vẽ mấy năm trở lại đây, thì ông phải biết chứ, hả? - Trong lệnh gửi về, người ta ghi rõ ông ấy trở nên xa lạ với văn hóa cộng đồng dân tộc, bố tôi đáp, tranh ông ấy gây hại cho Quốc gia, nên phải loại trừ; nói cho gọn thì ông ấy là phần tử biến chất, nói vậy, tùy ông muốn hiểu thế nào thì hiểu.
Đằng nào thì người ta vẫn lo ngại cho ông, ông đưa thư nói tiếp, nhất là hai người còn nhớ dạo trước ông ấy cứu ông ở cảng Glüserup lên. - Thì đến lúc nào đó, người ta cũng phải hết nợ với nhau chứ, bố tôi đáp, và tôi với ông ấy, thế là hết nợ rồi; tôi nói ông biết, để ông nói lại với đám người chuyện gì cũng xía vào ấy. Đúng thế thật, tôi với ông ấy đều cùng một lò Glüserup mà ra, chuyện xưa thế nào, tôi với ông ấy đã sòng phẳng với nhau rồi, vụ này bây giờ to ra hay nhỏ lại là tùy ở mình ông ấy thôi.
Gì thì gì, ông Okko Brodersen nói, ông vẫn nên để ông ấy yên thì hơn, ông Jens ạ. Nói xong, trong lúc bố tôi vẫn đăm đăm nhìn ông, như muốn cố hiểu xem ông vừa nói gì, thì ông đưa thư đã nhấc chiếc đồng hồ quả quýt đưa lên, ghé tai lắng nghe, rồi nhanh tay lên dây cót cho nó và nhét trở lại vào túi áo. Ông uống nốt tách trà đã nguội, rồi ồn ào đứng dậy. Trông ông có vẻ vội vàng - có lẽ ông hơi lúng túng vì trót nhiều lời quá cũng nên. Tôi giúp ông đeo túi thư báo lên người. Ông nói nhanh đôi lời từ giã bố tôi, rồi không đợi bố tôi đáp lại nữa, ông đi vội ra ngoài, để mặc viên cảnh sát còn lại một mình, với vẻ mặt không ra bực bội, cũng chẳng ra buồn phiền; ông không đứng bật dậy, ông không hăm dọa ai, ông ngồi lặng yên tại chỗ, không chút bồn chồn, lo lắng nào, chỉ ngây ngây nghĩ ngợi theo kiểu của mình ông - ù lì, chậm chạp.
Mà đúng, người ta có thể nhìn thấy rõ bố tôi nghĩ ngợi thật! Nhác trông cứ tưởng ông đang chăm chú ngắm nghía chậu rửa bát, chằm chặp dõi theo những giọt nước từ từ nhỏ xuống từ cái vòi bằng đồng thau ngả sang xám tự lúc nào thật, nhưng thật ra ánh mắt ông đang hướng vào nội tâm ông, hơi ông thở không thành tiếng, nhịp tim ông có vẻ chậm hẳn xuống, và thân hình ông như móp lại, trong khi hai bàn tay ông nắm chặt nhau, căng thẳng, còn mũi giày ông mang chốc chốc lại động đậy. Ông mà nghĩ ngợi, thì dù người ta có múa may, có trò chuyện hay làm lụng trước mặt ông, ông cũng mặc.
Tôi liếc một cái về phía cối xay gió, nơi có người đang mong mình. Miếng bánh nhét trong túi quần mỗi lúc một nặng thêm, hay, nói đúng hơn, nó trĩu hẳn xuống trong túi quần tôi. Tôi vớ ngọn cờ con con màu xanh da trời tự làm đang nằm vạ vật trên bậu cửa sổ rồi phe phẩy, vẫy qua vẫy lại như phẩy quạt trước mặt bố tôi. Có lẽ do làn gió nhẹ, cũng có thể, do tôi phe phẩy khá lâu, nên bố tôi ngẩng đầu nhìn lên, và tôi hiểu ngay, trong lúc nghĩ chìm nghĩ đắm như thế, bố tôi vẫn không quên nghĩ đến tôi. Ông châm một mồi thuốc trên cái tẩu ngắn ngủn của mình, đưa ngón tay xoa mụt lẹo đang to dần bên mắt phải, rồi ông bập bập môi hút từng hơi ngắn từ cái tẩu và lấy vẻ ngồi trịnh trọng. Tôi rất ghét kiểu ngồi ta đây ấy của bố tôi, tôi sợ cái lối không nói không rằng, im im ra điều trịnh trọng ấy của ông, tôi ghét cái lối lầm lì ra oai, ghét cả lối nhìn xa xăm lẫn những cử chỉ khó đoán, khó lường, vâng, tôi thấy ghê hãi thói quen đó của dân xứ tôi - thói quen chỉ ngậm tăm lắng nghe tiếng thì thầm nào đó vọng lên tự đáy lòng mình, chứ cấm mở miệng nói thành lời.
Qua làn khói thuốc, viên cảnh sát Rugbüll nhìn chằm chằm lên bức tường trước mặt, cái nhìn kín đáo nhưng sắc sảo, và có lẽ, nếu bây giờ trên bức tường tự dưng có rám đen đi một mảng hay từ đó một hòn gạch bị bong ra mà rơi xuống, thì tôi cũng chẳng lấy làm lạ.
Tôi định xin bố cho tôi ra khỏi nhà, nhưng lại không dám, tôi không dám cất tiếng nói với ông, không khéo lại kéo ánh mắt nhìn của ông về phía mình, nên cứ lẳng lặng phất cờ thành một lô hình số tám đem vung vãi ra khắp phòng và tưởng như đã sắp quét sạch dãy chai lọ đựng gạo, hạt kê, ngũ cốc, bột sago trên giá xuống, thì đột nhiên, bố tôi tóm lấy tôi từ sau lưng, kéo ra trước mặt ông và nói: Mày đừng quên hai bố con mình phải hợp tác với nhau, tức là, nếu mày thấy có gì khả nghi là phải báo cho bố biết ngay. Phất cờ làm hiệu à, bố? tôi hỏi. Bố tôi đáp: Thế nào cũng được, miễn là mày phải cho bố biết. Họ muốn làm gì thì làm, Siggi ạ, cũng chẳng ai đọ nổi bố con mình đâu.
Trước đây, đã có lần tôi nghe bố tôi bảo vậy. Tôi hỏi nhanh: Con đi chơi được chưa ạ? - Ừ, muốn đi thì đi đi, bố tôi đáp, sang Bleekenwarf cũng được, có điều phải để mắt canh chừng. Bố tôi còn định nói gì thêm, nhưng chuông điện thoại bỗng đổ dồn trong phòng giấy. Ông bật dậy, hốt hoảng bỏ tẩu thuốc xuống cái đĩa con trên bàn, dùng hai tay vuốt lại mái tóc rẽ ngôi cho ngay ngắn, rồi, vừa vội vàng cài cổ áo vừa hấp tấp bước vào phòng giấy. Ra đến ngoài thềm, tôi vẫn còn nghe tiếng ông nói vào ống điện thoại: Chốt cảnh sát Rugbüll đây, tôi, cảnh sát viên Jepsen xin nghe.
Tôi nhảy ào từ trên bậc thềm nhà xuống đất, chạy ra đến lối đi lát gạch, tụt xuống cửa cống mà không ai thấy - hay ít ra cũng không có tiếng bố mẹ tôi gọi giật lại - rồi ngồi thụp xuống, và để cho chắc ăn, tôi cứ ngồi nguyên như thế, nhìn dòng nước đùng đục chảy từ miệng cống một lúc khá lâu, trước khi vòng một vòng ra phía bờ đê trước rồi mới lại ngoặt sang bãi lau sậy về hướng cối xay gió. Tôi không xuyên qua bãi lau sậy đến chỗ cái ao nữa, mà tiến về cối xay gió từ mặt hậu, khuất sau ngọn đồi nhân tạo; tôi dừng khá lâu ở bậc thềm bị sập, để cầm chắc hai người đàn ông đang loay hoay trên bãi cỏ trong nghĩa địa kia đúng là đang khơi rãnh thoát nước, chứ không nhằm việc gì khác, lúc ấy tôi mới tụt xuống lối vào và kéo cánh cửa ra.
Tôi không nhìn thấy anh tôi ngay. Tôi đứng lặng im trong bóng tối nhá nhem và lạnh lẽo, dỏng tai nghe ngóng phía bên trên. Có tiếng lạch cạch phía sau mấy cái thùng gỗ đựng bột đã cũ - tức là nơi tôi giấu cái thang; tôi chợt cảm thấy có làn gió thổi qua và tiếng gọi trách móc - không, cũng không phải tiếng gọi, chỉ là một tiếng động nghe như tiếng gọi, và cũng như mọi khi, có cái gì đang lượn chấp chới giữa khoảng không cao ngất ngưởng trong lòng cối xay gió, bay bay giữa bóng tối bị vây hãm. Không phải hải âu. Rồi, lúc định lôi cái thang ra để dựng nó lên thì tôi nhìn thấy anh Klaas tôi. Anh ấy nằm sóng soài bên mấy cái thùng gỗ đựng bột đã cũ nọ, ngay dưới vòm cửa tò vò. Trong bàn tay của cánh tay còn lành lặn, anh ấy nắm một đầu mẩu dây thừng, còn ngay phía trên chỗ anh nằm là đoạn xích của bộ ròng rọc cũ đang văng qua văng lại, lặng lẽ, vô can; hẳn anh tôi định theo ròng rọc để tụt từ trên cao xuống. Anh toan dùng sợi dây thừng để nối dài đoạn dây xích; nhưng chỉ có dây xích chịu được sức nặng toàn thân anh thôi. Tôi hạ cái thang, quỳ xuống bên anh Klaas, đỡ đầu mẩu sợi dây thừng từ tay anh ấy rồi kéo về phía mình; đó là sợi dây thừng tôi vẫn để dưới ổ nằm, phòng nhỡ khi cần dùng để tụt từ tầng trên xuống đất. Sợi dây không bị đứt, chỉ tuột khỏi mắt xích cuối, và một đầu dây bị xám đen. Thế nhưng, lý do nào thì lý do, anh tôi vẫn không đứng lên được. Tôi đã đỡ sợi dây từ tay anh ấy rồi mà anh ấy vẫn nằm co ro, hay đúng hơn - nếu bây giờ có ai nhìn từ trên cao xuống, hẳn sẽ thấy anh đang nằm ở tư thế chuẩn bị vùng chạy; vâng, anh tôi không hề động đậy, và khi tôi thử lay lay nhẹ người anh ấy, anh ấy chỉ khẽ rên đáp lại.
Tôi lôi miếng bánh đã sắp vỡ vụn trong túi ra, chìa nó ra trước mặt anh ấy, gí sát sàn sạt, rồi nài nỉ anh hãy cố ăn một miếng, hay ít ra cũng mở mắt ra nhìn tôi, nhưng anh chỉ rên rỉ, gắng gượng đưa cánh tay bị bó bột lên cao, rồi lại buông ngay nó xuống. Tôi bẻ miếng bánh ra thành nhiều mẩu, gí sát vào môi anh tôi, mới đầu chỉ ấn nhè nhẹ, sau đó nhấn mạnh thêm, cho đến khi tôi chạm hẳn vào hàm răng nghiến chặt của anh. Loay hoay mãi mà tôi vẫn không nhét được mẩu bánh nào vào miệng anh tôi. Tôi cũng không làm sao kéo lê anh ấy đến bên cây cột gỗ rồi dựng cho anh ngồi tựa lưng vào đó được, chỉ vì anh ấy nặng quá. Và, chẳng biết xoay xở thế nào hơn, tôi ngồi xuống bên anh ấy, và kể cho anh nghe những chuyện vừa xảy ra ở nhà.
Tôi cúi xuống gương mặt bầu bầu của anh tôi và cứ thế kiên nhẫn kể hết chuyện này sang chuyện khác mà chẳng biết anh có nghe và hiểu tôi nói gì không, và, nếu anh ấy hiểu, thì tôi cũng không biết, những chuyện tôi kể tác động đến anh ấy thế nào, tôi thấy anh tôi vẫn nằm co ro trước mắt tôi. Chẳng biết làm thế nào hơn, chốc chốc tôi lại rời cối xay gió ra ngoài, trèo lên cái bệ đã sập chỉ còn trơ lại bộ khung gỗ, rồi không những chỉ không rời mắt theo dõi mấy ông thợ đang khơi rãnh thoát nước, mà còn chăm chú nhìn theo một chiếc xe hơi đang chạy về hướng Glüserup, tôi cũng để ý đến người đàn ông đơn độc ngồi gần như bất động trên sân thượng quán “Wattblick” và chốc chốc tôi lại trông về ngôi nhà chúng tôi, cùng nhà kho của chốt cảnh sát Rugbüll. Thế nhưng tôi còn đi ra đi vào, ngó nghiêng quan sát xung quanh như thế đến bao giờ?
Tôi phải thú thật, lúc quay trở lại lòng cối xay gió sau một lần ra ngoài nghe ngóng, ngó nghiêng mà không phát hiện thấy có gì khả nghi như thế, tôi giật mình không thấy anh Klaas nằm ở chỗ các thùng đựng bột nữa, mà đã tự ngồi dậy từ lúc nào không biết, dựa lưng vào một cái cột gỗ đã được đẽo khá nhẵn nhụi bằng rìu. Một mình anh ấy gượng dậy, chẳng cần tôi đỡ, nhưng hơi thở gấp; anh đưa mắt nhìn tôi với vẻ bồn chồn, rồi gật gật đầu với tôi, như thể muốn thừa nhận mọi sự đã xảy ra: ngay sau lúc tôi để anh nằm lại đây một mình rồi quay về nhà, anh tôi bỗng cảm thấy hốt hoảng, một nỗi hốt hoảng khiến anh chỉ còn muốn thoát khỏi nơi ẩn náu mà anh đột nhiên có cảm giác giống như cạm bẫy sập xuống giam giữ anh; anh thử nối dài ròng rọc bằng sợi dây thừng; anh tụt xuống bằng một tay, rồi rơi bịch xuống; anh tôi thú nhận mọi sự đều đã diễn ra đúng như tôi mường tượng, anh cũng không giấu anh đang bị đau dưới vùng bụng mà dùng cánh tay còn lành lặn ấn mạnh vào bụng, đầu ngửa ra sau, hai mắt nhắm nghiền. Cả đến bây giờ anh tôi vẫn không muốn ăn. Tôi ngửa lòng bàn tay, chìa bánh cho anh, nhưng anh cứ gạt đi.
Đi khỏi đây, chú mày đưa anh đi khỏi đây thôi, anh nói khó nhọc. Còn tôi lại láu táu: về nhà đi, anh Klaas; anh cứ về đấy thì thể nào bố mẹ cũng lo cho anh. - Đau quá, anh tôi nói, đau dưới này này. - Em đỡ anh về nhà nhé, tôi lại vội nói, nhưng anh tôi đáp: Không về nhà được, không, về đấy là tao tong đời. - Nếu không về nhà thì đi đâu bây giờ? Em phải đưa anh đến nhà ai nào? Anh Klaas chắc phải tính kỹ trong đầu rồi, cho nên không phải vô cớ mà anh ấy đáp ngay: Đến nhà bác họa sĩ, đưa anh đến chỗ bác ấy. Tôi liền nói: Anh không biết đang có chuyện gì với bác ấy đâu. - Chỉ có bác ấy thôi, anh tôi nói, bác ấy sẽ giấu anh vào đâu đấy, anh biết thế. - Tôi lại nói, anh không biết đang có chuyện gì với bác ấy đâu. - Chắc chắn bác ấy sẽ giúp anh, anh tôi nói, rồi gượng đứng dậy, và ở tư thế đúng dựa lưng vào cây cột anh vẫy tay gọi tôi đến gần. Anh vẫy tôi đến gần bằng cánh tay bị thương, và ra lệnh cho tôi, với giọng đã ít nhiều chuyển sang vẻ hăm dọa. Phải rồi, đến nhà bác họa sĩ - anh nói - lẽ ra tao phải đến ngay chỗ bác ấy mới phải, lúc sáng nay lẽ ra tao phải đến gõ cửa nhà bác ấy ngay mới đúng.
Anh Klaas rời khỏi cây cột gỗ, tựa vào vai tôi, anh ướm ướm thử xem tựa thế nào thì vừa, không đè quá nặng lên vai tôi; nhưng sức nặng thật ra không lớn lắm, và cứ bước một bước là lại nhẹ thêm một tí, và khi hai anh em ra đến ngoài, đứng dưới ánh nắng chói chang rồi, thì anh buông tay khỏi vai tôi để ngồi xuống bên vũng nước; anh vốc bùn bôi lên vỏ lớp bột bó chặt cánh tay. Anh bôi rất kỹ, và tôi cũng giúp vào một tay; hai anh em tôi bết bùn, rồi nhúng hẳn cánh tay bó bột xuống vũng bùn; rốt cuộc cánh tay bó bột trông giống như thỏi than bùn dài quá cỡ. Xong xuôi đâu đấy, hai anh em chúng tôi lên đường, mới đầu bước thật nhanh, vòng qua cái ao trước cối xay gió, rồi lom khom tiến về phía bờ mương; càng gần đến Bleekenwarf, tôi càng cố thuyết phục anh tôi nên quay về nhà; anh nghe tôi nói với vẻ thờ ơ, không buồn đáp lại. Sự yên ắng xung quanh khiến hai anh em nghi ngại, chúng tôi cũng nghi ngờ cả bầu không khí mùa hè oi bức bao trùm lên các con mương nước đen ngòm và âm ấm; ở xứ tôi, ai bước ra khỏi nhà đều bị phát hiện ngay, và cả hai anh em tôi đều biết thế, cho nên, khoảng không từ đây ra tận chân trời dù có vắng tanh vắng ngắt vẫn không đánh lừa chúng tôi được. Cả hai anh em đều biết, ở quê tôi bao giờ cũng sẽ có một ai đó - đang đứng bất động, bên bờ rào, trước cánh cổng mở toang, hay từ bên trong một cánh cửa sổ nào đó và phóng tầm mắt bao quát các con mương lẫn vùng đất phẳng lì trải ra phía trước, cho nên chúng tôi chạy về phía Bleekenwarf như thể người ta đã phát hiện ra chúng tôi từ lâu, và thậm chí còn đang đuổi theo chúng tôi nữa kia. Chúng tôi nhảy từng bước ngắn qua cửa cống, đạp bừa lên lau sậy mọc bên bờ mương, lội qua các rãnh nước dẫn nước cho gia súc uống, trượt lên trượt xuống ở những chỗ nền đất đã bị móng chân bò - khi bò bị dồn lại để vắt sữa - giẫm nhão nhoẹt ra. Và, tôi vẫn còn nhớ các sợi dây thép chăng ra ở hàng rào đã rung bần bật, kêu ken két thế nào khi hai anh em tôi vội vã kéo dây thép sang hai bên để chui lọt người qua, cũng như trước mắt tôi, tôi còn thấy rõ mồn một cảnh hai anh em nằm dán người xuống đất và nghe ngóng động tĩnh xung quanh. Tôi cùng chạy với anh Klaas, bởi bao giờ tôi cũng làm tất cả những gì anh tôi bảo tôi làm, chứ chưa cần nói đến chuyện anh tôi đang hốt hoảng, đang đau đớn, khiến mỗi lần nằm xoài ra đất, anh tôi lại đau, đến mức phải rên lên. Vâng, tôi kèm anh tôi trong cuộc chạy chui lủi này, mặc dù tôi cầm chắc trong bụng, thể nào bác Max Ludwig Nansen cũng đuổi chúng tôi - không phải đuổi về nhà chúng tôi, mà đuổi quay lại cối xay gió. Đoạn đường cuối cùng chúng tôi có thể thẳng người mà đi, vì nó khuất đằng sau hàng giậu của ấp Bleekenwarf. Qua khỏi cái cầu gỗ không có tay vịn, anh Klaas ngã, nằm gục xuống đất. Anh gắng gượng, quỳ gối toan đứng dậy nhưng không nổi nữa. Anh lại khuỵu xuống, áp mặt xuống đất. Tôi chạy vụt đến tới lỗ hổng bên hàng giậu, nhìn vào trong vườn, trông sang phía ngôi nhà chính, nhưng không thấy ai; tôi bèn quay lại chỗ anh nằm, gắng kéo rồi xoay người anh ấy sang một bên. Tôi đặt đầu anh tôi gối lên một mô đất cỏ mọc dày, rồi hỏi: Em đi gọi bác ấy nhé?, nhưng, vì anh tôi chỉ đờ đẫn nhìn tôi mà không nói gì, tôi lại khẩn thiết hỏi thêm lần nữa: Em đi gọi bác ấy đến đây nhé? - Ừ, anh tôi đáp thều thào, ừ đi đi.
Trước khi chạy đi, tôi ngồi xổm xuống, gắng phủi cỏ, gỡ bùn, gạt đất khô bám trên bộ quân phục anh tôi mặc, lau sạch đôi ủng anh ấy mang. Tôi sửa cổ áo cho anh, cài khuy lại cẩn thận, và dặn: Anh nằm yên ở đây, đừng đi đâu cả; nói rồi, tôi vội vàng rời đi, để anh tôi nằm lại một mình.
Từ lỗ hổng bên hàng giậu, tôi thoải mái đứng thẳng người, và, mỗi tay gạt một nhánh cây sang hai bên, tôi quan sát khu vườn, căn nhà chính và xưởng vẽ một lúc lâu, bởi lúc này tôi không muốn bị ai trông thấy, càng không muốn chạm trán với Jutta hay thằng quỷ sứ Jobst béo ục béo ịch ấy. Mấy con gà đang kiếm mồi bên các luống hoa trong vườn, tụi gà trống Hamburg cùng gà Lơgo Bỉ cào bới lăng xăng giữa những luống đậu và hoa cúc, bắt sâu mổ bọ trên các nhánh hoa loa kèn, vân vân. Không thấy bóng một ai, căn nhà vườn cũng trống không. Bốn trăm khung cửa sổ đều im ỉm. Không biết ai vừa đẩy cái đu mắc dưới cây táo nhỉ? Tại sao mấy cây đại anh túc chợt động đậy thế kia? Phải đến chỗ xưởng vẽ mới được, tôi nghĩ bụng, phải tìm bác ấy trong xưởng vẽ. Tôi liền chui vào vườn, và trong khi không rời mắt khỏi các luống hoa và ngôi nhà chính, tôi men theo bờ giậu đến lối đi gập ghềnh dẫn đến mặt sau của xưởng vẽ. Tôi nghe loáng thoáng như có tiếng nhiều người nói cùng một lúc, nhưng lắng nghe kỹ thì không phải, đó chỉ là tiếng nói của một người, cáu kính cao giọng hỏi rồi lại tự trả lời, với vẻ chê nhạo. Vì cánh cửa chỉ khép hờ nên tôi lách người chui vào trong mà không gây tiếng động nào; vào đến bên trong, tôi nghe thấy ngay tiếng bác họa sĩ cất lên từ trong góc. Chà chà, đúng là cãi nhau thật, và nếu tôi nhớ không nhầm, thì tôi nghe bác họa sĩ nói: Này, Balthasar, đừng có mà vớ vẩn. Bức tranh nào cũng chỉ chứa một thứ hoạt động duy nhất là hoạt động của ánh sáng thôi.
Chân để trần, tôi len lén tiến đến gần chỗ bác họa sĩ đang đứng. Đến giờ tôi vẫn nhớ cảnh tôi rón rén trên mấy đầu ngón chân tiến đến gần, chui vào góc bác vẫn dùng làm nơi ngả lưng rồi kéo tấm chăn mỏng treo làm rèm sang một bên, và tôi nhìn thấy bác ngay trước mặt, khoác áo choàng xanh đã cũ, đầu chụp mũ. Bác đang vẽ. Bác đang vừa vặc nhau với người bạn già Balthasar vô hình của bác, vừa cặm cụi bên bức tranh Phong cảnh cùng những người lạ mặt.
Bức tranh được gắn vào mặt trong cánh cửa tủ bên phải, còn trong các ngăn tủ bên trái, bác họa sĩ để các hộp màu bác vẫn gọi là dụng cụ đồ nghề… Nếu có động, bác chỉ cần đóng hai bên cửa tủ là giấu được cả tranh lẫn màu vẽ. Nhưng, đúng lúc này, nếu có tiếng người nói, tiếng chân ai bước hay tiếng động nào khác khả nghi, thì cũng khó mà đoán trước được liệu bác có đóng cửa tủ hay không; bởi vì tôi có cảm tưởng bác đang bị lôi cuốn vào cuộc tranh cãi với lão Balthasar - người bạn đồng nghiệp mặc áo lông chồn màu tím của bác - và bác đang cố chứng minh với lão ta rằng bức tranh phong cảnh - trong đó những người khổng lồ lạ mặt đứng thành từng nhóm có tính toán từ trước - diễn tả các hành động bạo lực, cũng như sự diệt vong sắp diễn ra đây không phải thông qua các màu sắc ảm đạm, đang chết ngắc ngoải hay đang dần dần lịm tắt, mà chính là thông qua các màu sắc rực rỡ đáng sợ, thông qua áng da cam khủng khiếp chẳng hạn, hoặc thông qua các đốm trắng vung vẩy khắp nơi. Ném vào nền đen xám một tiếng kêu gắt gỏng gồm màu vàng, màu nâu, màu trắng, thì sự câm lặng, sự kiềm chế, sự nhẫn nhục khắc tiêu tan và tấn bi kịch sẽ khai màn. Và, vẫn như mọi khi, bác trải màu lục pha nâu đất xuống dưới làm nền, bởi bác cần màu nâu lục ấy, bởi ở bác mọi thứ đều mọc trên nền nâu lục ấy, nhưng lão Balthasar của bác không bao giờ chịu, hay không bao giờ muốn hiểu điều đó.
Tôi nhìn bác một lát, đoạn chuyển sang nhìn những hình người lạ mặt của bác, rồi lại quay về nhìn bác; bây giờ bác họa sĩ đứng dỏng tai nghe, bắt chước bộ dạng các nhân vật bác vừa vẽ ra, những người rõ ràng có cảm giác đang bị đe dọa, đang tự cảm thấy mình xa lạ, bị bỏ rơi giữa một vùng không phải do người ta đi dạo vô tình lọt vào, mà bị cuốn hút, bị xô đẩy vào; chỉ cần bấy nhiêu thôi là đủ khiếp. Dạo ấy, và đến tận giờ vẫn vậy, điều làm tôi băn khoăn, bối rối là các loại mũ mà những người lạ mặt trong tranh kia chụp trên đầu. Đó là thứ mũ pha trộn giữa khăn đóng với mũ tròn kiểu Thổ và hình như bắt nguồn từ các cuộc chiến bên Thổ Nhĩ Kỳ thì phải. Thế nhưng, chẳng cần nói gì thêm, cảnh trí xung quanh đã làm tôn thêm dáng vẻ lạ lẫm, sợ hãi và lẻ loi đơn độc của họ.
Có điều bây giờ tôi muốn nhẹ nhàng hạ tấm chăn treo làm màn che chỗ nằm nghỉ tạm này xuống, tôi muốn quay lại cửa chính để đánh tiếng, chính thức ồn ào bước vào lần nữa. Tôi rón rén trên đầu ngón chân quay trở ra, mở cửa rồi lại đóng lại, gõ gõ vào cửa rồi mới cất tiếng gọi: Bác Nansen ơi! Bác ở đâu đấy, bác Nansen ơi?
Bác không đáp lại ngay. Bác đóng cửa tủ, khóa lại đàng hoàng, xong xuôi đâu đấy mới lớn tiếng hỏi: Ai đấy? Có việc gì vậy? - Bác bước từ góc sâu đầy bí hiểm của xưởng vẽ ra, chậm chạp, điềm tĩnh, chứ không ra vẻ bực bội, cũng không tỏ thái độ miễn cưỡng như những ai đang dở công dở việc tự dưng bị phá rối giữa chừng… Tôi chờ bác ra đến cửa. Witt-Witt, vừa trông thấy tôi, bác liền gọi, rồi nói tiếp, không ra thở phào nhẹ nhõm mà cũng không ra ngạc nhiên: Witt-Witt, cháu đấy à? Bác ngoái đầu lại phía sau, nghe ngóng, như thể muốn dè chừng xem lão Balthasar có thừa lúc bác vắng mặt để mở tủ rồi tự sửa phong cảnh theo ý lão không, đoạn hỏi: Có chuyện gì thế hả cháu? - Tôi không đáp ngay, chỉ chỉ tay về phía bờ giậu rồi mới nói: Anh Klaas cháu. Nhưng, do bác không hiểu ngay tôi nói gì, đôi mắt xám của bác ngước nhìn qua đầu tôi về phía trước, nên tôi lại nói tiếp: Anh Klaas cháu về, anh ấy muốn nhờ bác giúp anh ấy.
Anh cháu đang ở tận đẩu tận đâu kia mà, bác nói. Anh cháu bị thương nằm quân y viện chứ hả. - Anh ấy đang nằm đằng kia kìa, cạnh chỗ cây cầu, tôi nói, anh ấy muốn đến tìm bác, chỉ muốn đến nhà bác thôi. Đến lúc này thì bác họa sĩ vội khép áo choàng, dụi tẩu thuốc đang cháy rồi nhét ngay vào túi áo; bác ngoảnh lại về phía lão Balthasar, nghe ngóng thêm lần nữa rồi quay người, rời khỏi xưởng vẽ. Tôi đóng cửa, lon ton chạy theo bác.
Chết thật thôi, chúng mày chỉ độc gây chuyện rắc rối, bác vừa lầu bầu trong miệng, vừa bước thoăn thoắt qua khu vườn, còn tôi, tôi nói với theo tấm lưng rộng, hơi còng xuống của bác: Họ đến tìm anh ấy, bác ạ, họ đến tận đằng nhà chúng cháu rồi. - Chúng mày chỉ toàn gây chuyện rắc rối, bác vẫn lầu bầu, chẳng bao giờ chúng mày để tao yên cả. Do áo choàng bác mặc dài tận mắt cá chân, cho nên tôi có cảm tưởng như bác đang lướt sóng trước mặt tôi - lướt tới nhờ cơn tức tối, hay ít ra, cũng là nhờ cơn chua chát, bực bội đang bốc lên trong lòng. Tôi lại nghe bác nói, với giọng đầy trách móc: Chúng mày toàn gây chuyện rắc rối cho bác thế này này! Hai bác cháu tôi chọn đường tắt, đi nhanh dọc theo hàng rào đến chỗ có lỗ hổng chui ra ngoài thì nhìn thấy anh Klaas tôi đang nằm đó, nguyên chỗ lúc nãy tôi đặt anh nằm, đầu vẫn gối lên mô đất.
Bác họa sĩ cúi người xuống chỗ anh tôi nằm, áo choàng rộng phủ lên người anh, và có lẽ, cũng làm anh dễ chịu hơn. Đến đây thì tôi buộc phải nói ngay rằng bức tranh hai người tạo nên trước mắt tôi, một người nằm, một người quỳ xuống bên cạnh, trong tư thế kẻ nhân từ đang lựa lời an ủi, dỗ dành - giống hệt như trong bức tranh Sau trận đánh mà Quốc trưởng vẫn ưa thích - chỉ khác ở chỗ, trong bức tranh đó, kẻ nhân từ đang quỳ xuống an ủi kẻ bị thương là một người đàn bà mà thôi. Song, bác họa sĩ không có ý định an ủi dỗ dành anh tôi, bác có vẻ chỉ muốn xem xem anh Klaas bị làm sao, và tại sao anh ấy lại nằm sau hàng giậu vườn nhà bác, mà trên đầu không đội vòng nguyệt quế vương vết máu, và đến giờ vẫn chưa chịu đứng dậy vậy.
Klaas, - bác họa sĩ gọi, - Klaas, chết thật thôi, mày làm sao thế này hả cháu? - Bác nâng cánh tay đã thành vô dụng của anh tôi lên, cánh tay mà anh ấy đã gí súng bóp cò, bắn liền hai phát; nhưng rồi bác lại bỏ tay anh tôi xuống. Bác dùng tay nắn vai, ấn ấn từ ngực, rồi xuống đến bụng, anh Klaas chợt co rúm người lại, khẽ rên: Đừng, bác đừng ấn vào bụng. - Cháu có đi được không? - bác họa sĩ hỏi, và anh Klaas đáp: Được, bây giờ cháu đứng dậy được. Nhờ bác họa sĩ đỡ, anh tôi ngồi dậy, lắc lắc người, rồi nói: Cháu phải biến khỏi đây ngay, bác ạ! Đoạn, anh gắng gượng đứng thẳng dậy. Lạy Chúa, bác họa sĩ thốt lên, chúng mày toàn gây những chuyện tày đình thế này này! Chúng mày làm người ta phát sốt lên thế này! - Cháu không về nhà được, anh tôi nói. Họ mò đến nhà cháu một lần rồi; thể nào họ cũng còn đến lần nữa. - Chúng mày chỉ giỏi làm chúng tao lo lắng khổ sở thôi, bác họa sĩ vừa đỡ anh tôi vừa nói, còn anh Klaas thì rên rỉ: Bây giờ họ mà tóm được cháu, thì coi như tong. - Đúng là chúng mày không để tao yên thân bao giờ, bác họa sĩ càu nhàu, rồi kéo anh tôi sát vào người bác, bước thử một bước, rồi vừa lắc đầu, vừa không ngớt lầm bầm mắng mỏ, bác dìu anh Klaas tôi đến lỗ hổng bên bờ giậu, rồi vượt qua một đoạn trong vườn hoa để chui vào trong căn nhà vườn. Ở đây, trong cảnh tranh tối tranh sáng, bác đỡ cho anh Klaas ngồi xuống chiếc ghế rộng, ghép từ các cành cây đã được bào nhẵn. Bác nâng mặt anh tôi lên nhìn kỹ, nhưng bác không có vẻ muốn nói chuyện mặt đối mặt với anh, nói đúng hơn, bác chỉ có vẻ như muốn tìm lại cái vẻ mặt mà suốt một thời gian dài từng thôi thúc bác phải đưa vào một số bức tranh của bác - bởi vì, từ gương mặt anh Klaas đôi khi toát ra nỗi xúc động, không chủ ý mà thật chân thành, cho nên bác Max Ludwig Nansen vẫn lấy anh làm mẫu cho các bức tranh của bác, như bức Tiệc Ly chẳng hạn, trong đó anh được dùng làm mẫu cho một nhân vật gầy gò, xương xẩu, đang ghé nhìn vào ly rượu lễ với vẻ mặt đầy thèm thuồng, trông đợi; khuôn mặt anh Klaas, được vẽ phóng lên cho bầu bĩnh, còn hiện ra trên bức Tĩnh vật cùng con ngựa tía, còn trong bức tranh Thomas đa nghi, bác vẽ anh đứng chéo người, như thể muốn đưa chân ngáng Tông đồ Thomas, và trên bức Vũ nữ trên bãi tắm cùng khách du lịch mùa hè thì anh Klaas - mắt sáng, mặt xanh - đang đứng ngơ ngác nhìn và có vẻ đang cố vắt óc nghĩ xem cảnh tượng đang diễn ra trước mặt mình là gì.
Nét xúc động trên gương mặt anh Klaas xuất hiện trong hơn một chục bức tranh của bác chứ không ít, và trong căn nhà vườn lúc đó, khi bác họa sĩ nâng mặt anh tôi lên và xoay về phía sáng, thì vâng, tôi quả đã nghĩ bụng, bác đang tìm lại nét xúc động ấy thật, nhưng không phải, bởi đột nhiên bác cất tiếng hỏi: Mày có biết, mày có hiểu, mày đang đòi bác phải làm gì không hả, Klaas? Anh Klaas không đáp, đôi mắt đờ đẫn nhìn bác. Nào, thế thì đi tiếp nào, - bác họa sĩ nói. - Đứng dậy, đi tiếp nào.
Bác lại kéo sát anh Klaas vào người, rồi ba bác cháu ra khỏi căn nhà vườn, lần phía dưới hàng cửa sổ vào hẳn trong sân, và suốt cả đoạn đường, bác họa sĩ vẫn không ngớt lầu bầu mắng mỏ, mắng cả tôi, về tội chúng tôi toàn gây những chuyện làm điên đầu bác. Mãi đến khi vào trong gian tiền sảnh của ngồi nhà chính, bác mới thôi không nói gì nữa. Bác mở cánh cửa dẫn vào cánh phía Đông ngôi nhà, trong đó có một hành lang hẹp chạy dài, bên này hành lang là hàng cửa sổ, bên kia cơ man nào là cửa, phải đến một trăm mười cánh chứ không ít, cửa nào cửa nấy đều nặng trình trịch, sơn màu lục xám và ổ khóa nào cũng có cắm chìa rất to, thoáng trông cũng biết ngay toàn chìa tự đúc, tự giũa lấy cả. Bác họa sĩ dìu anh tôi đi dọc hành lang, qua hết các cửa; đằng sau các cánh cửa đó, tôi đoán có lẽ không có người, chỉ có chim: nào chim kền kền trụi lông cổ, nào chim ưng khổng lồ, nào đại bàng dũng mãnh đang nheo mắt đậu trên các cột giường trầy xước vết móng chim; tôi nào có dám áp tai vào cửa để nghe ngóng đâu. Trên nền hành lang bằng đá tảng ghép lại có khắc số năm: 1683, 1912, và dưới đó là hàng các chữ cái: A. J. F.; F. W. F.; các mép chữ đều đã sờn cũ, một số tảng đá đã nứt nẻ.
Chả biết bác họa sĩ có chọn đúng cửa không nhỉ? Có đúng đây là căn phòng bác chọn trong đầu cho anh Klaas không nhỉ? Dù sao thì bác cũng bỗng nhiên dừng phắt lại, mở khóa cửa, thoáng biến vào trong, nhưng rồi quay ra ngay, gật gật đầu, và thận trọng đưa anh Klaas vào bên trong. Đây là gian buồng tắm, hay đúng hơn, gần đúng là buồng tắm; chả biết ai, có lẽ là ông lão Frederiksen, đã chọn nơi này làm buồng tắm, cho gắn vòi hoa sen và bồn tắm vào đây - cái bồn trông như một con quái vật màu trắng đùng đục nằm phủ phục trên bốn chân chìa móng chìa vuốt - có điều, cả vòi hoa sen lẫn bồn tắm chả thấy gắn vào đâu, không thấy vòi dẫn nước vào, lẫn nơi thoát nước ra, cả ống dẫn nước cũng không thấy nốt, khiến người ta phải đoán mò, có lẽ do lão Frederiksen chán nản, nên bỏ dở công việc giữa chừng, hoặc do ông lão không nhớ căn buồng lão chọn làm buồng tắm nằm đâu nữa, nên lâu ngày rồi cũng quên khuấy đi. Thế nhưng, tại sao trong buồng tắm rộng rãi và dở dang này lại có một lô những đệm giường đã cũ xếp lên nhau thì cũng khó mà đoán được, chỉ biết đệm giường đã có sẵn ở đó, và bác họa sĩ lật đôi tấm xuống nền, xếp lại thành chỗ nằm ngay ngắn, và mỗi lần lật như thế, bác để mặc cho bụi bặm bay lên, mù mịt tỏa ra xung quanh dưới vệt nắng mỏng manh chiếu xiên từ ngoài vào. Xong xuôi đâu đấy, bác bảo anh Klaas ngả lưng nằm xuống.
Anh tôi bò cả chân cả tay lên tấm đệm, nằm ngả sang một bên, rồi duỗi thẳng người. Anh ấy run vì lạnh. Anh ấy hỏi: Chăn, bác có cái chăn nào không ạ? - Rồi khắc có chăn cho cháu, bác họa sĩ đáp, đoạn bắt tay dọn dẹp phía dưới khung cửa sổ cao ở phía trên chỗ anh Klaas nằm. Bác gập cái thang gấp lại rồi đẩy nó sang một bên, thu một lô những ống chì, van nước, cưa sắt cùng các loại vật liệu linh tinh khác lại với nhau rồi ném hết cả vào một thùng các tông, bác dùng chân dồn đất cát, vữa, giấy vụn vào một góc, đỡ chiếc áo khoác có in hình xương cá treo trên tường xuống, phủi bụi bặm, và gấp lại, đẩy xuống dưới đầu anh tôi cho anh ấy làm gối.
Anh Klaas thở khò khè, khó nhọc. Anh thoáng nhìn tôi với ánh mắt đầy vẻ bất hạnh. Bây giờ, xuyên qua bấy nhiêu bụi bặm thời gian, xuyên qua màn sương mờ ảo của ký ức để nhớ lại cảnh anh tôi ngày ấy nằm như thế, tôi nhớ dường như anh kín đáo ra hiệu cho tôi thì phải, ra hiệu bảo tôi ở lại đó với anh. Bụi bặm phủ trên mặt, trên lông mày anh tôi. Và tôi không hiểu tín hiệu của anh. Còn bác họa sĩ lắc lắc đầu, đi đi lại lại trong phòng, nhìn chỗ này, ngó chỗ nọ, xem cần phải làm gì nữa không. Anh tôi quay người nằm sang một bên, lấy tay che lên mặt. Anh ấy chưa ăn gì đâu bác ạ, tôi nói, rồi đặt mẩu bánh lên đầu tấm đệm. Cứ từ từ, rồi đâu sẽ có đó, bác họa sĩ bảo tôi, chuyện chúng mày đã gây ra thế này, thì phải gỡ từ từ mới được. Cứ từ từ rồi anh cháu sẽ có những thứ anh cháu cần. Bây giờ bác cháu mình ra ngoài, cho anh cháu nghỉ; bác phải tính xem, rồi mọi sự ở đây sẽ thế nào.