Giờ Đức văn

Lượt đọc: 151 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 20
CHIA TAY

❊ ❊ ❊

Trước hết, tôi cứ khóa bài luận của tôi vào tủ cái đã. Đã năm ngày nay, mấy quyển vở bìa xám đen đã nằm gọn, xếp thành chồng ngay ngắn trong ngăn trái chiếc tủ sắt. Cửa tủ khóa chặt, chìa khóa nằm lọt trong cái ví nhỏ và dẹt, may bằng da, gắn vào sợi dây quàng qua cổ tôi, lủng lẳng, đung đưa cọ vào ngực tôi, mỗi khi tôi động đậy. Lão Joswig thôi, không còn hỏi thăm về công việc của tôi nữa; lão không rõ, liệu tôi đã viết xong, hay chỉ dừng nghỉ tay ít hôm; cũng có thể lão không muốn biết, bởi buổi sáng hôm ấy, sau khi ngó vào lỗ nhòm thấy tôi không viết lách gì, mặt bàn dọn sạch sẽ, và cái ghế đẩu mang đầy vết khía dọc ngang được đẩy sâu xuống dưới bàn, thì lão - ưỡn người ra sau, lấy cằm ấn xuống ở phía trên - bê một chồng hộp các tông trăng trắng vốn dùng để đựng giày vào phòng giam của tôi, đặt hết cả chồng hộp lên bàn, rồi lão nhắc tôi nhớ lại lời hứa dạo nào tôi hứa giúp lão phân loại các loại tiền cũ trong bộ sưu tập của lão.

Thế là tôi cùng với lão bắt tay phân loại, vuốt thẳng thớm, dán các chỗ rách, và xếp các đồng tiền xu hay tiền giấy cũ của lão vào các hộp các tông mà chúng tôi dùng bút chì xanh đánh dấu bằng những mẫu tự họa mạnh mẽ, biến chúng thành nơi giam cầm, dành cho các thời đại, cho các giai đoạn mà các loại tiền đó lưu hành, cho các bậc chúa tể và thống đốc ngân hàng mà gương mặt họ - phần lớn đều rậm râu - khắc trên các đồng tiền xu hay in trên tờ bạc giấy luôn luôn toát ra vẻ đáng tin cậy làm yên lòng kẻ cầm đồng tiền xu hay tờ giấy bạc ấy trên tay. Các thời còn Hoàng đế trị vì, thời Cộng hòa Weimar hay thời Mười hai năm vừa qua, thì mỗi thời chỉ cần một hộp là đủ cất giữ số tài sản của lão Joswig, riêng có thời tiền khủng hoảng, phải cần đến hai hộp rưỡi mới đựng được hết. Để cảm ơn tôi giúp lão, lão tặng tôi tờ bạc năm mươi triệu.

Năm ngày đã trôi qua mà tôi vẫn chưa nộp bài luận tôi viết. Một lần tôi mở tủ lôi các quyển vở ấy ra ngoài; đó là vào ngày vui tươi của trại, cũng là ngày đầu tiên tôi lại được phép đón người nhà đến thăm, và chị Hilke đã đến. Bây giờ chị tôi cắt tóc ngắn thế! Nét chua chát ở khóe miệng chị mới rõ làm sao! Ánh mắt chị mới hờ hững, mới mờ đục và buồn bã làm sao - buồn bã và mờ đục như ngày tháng trôi qua trên bãi biển vùng Rugbüll vậy. Chị bước vào, chìa bánh kẹo ngọt cho tôi, bắt tay tôi với bàn tay mềm nhũn, rồi ngồi xuống chiếc ghế đẩu và thở dài đánh sượt - hệt như tiếng thở dài mẹ tôi vẫn thở, mỗi khi bà buông người ngồi xuống ghế - sau đó chị mới từ từ đưa mắt thám thính phòng giam của tôi, và quả thực, còn lên tiếng hỏi tôi, xem có phải không có gì thay đổi ở đây không, chị có cảm giác thế. Do tôi không nói gì, chị ngẩng mặt lên, và dường như đánh hơi thấy vẻ thất vọng hay lảng tránh của tôi, chị liền hỏi tôi đã viết bài luận tôi bị phạt đến đâu, hay là tôi đã nộp bài và nhận được điểm rồi.

Tôi bèn mở tủ, lôi mấy quyển vở xếp ra trước mặt chị. Chị tôi gác cùi tay lên mấy quyển vở. Chị sửa lại đôi góc vở bị quăn, dùng mấy ngón tay mập mạp của chị vuốt vuốt lên nhãn vở, mỉm cười, rồi mất một lúc lâu nghĩ ngợi, chị mới chọn bừa một quyển - dĩ nhiên không phải quyển nằm trên cùng - mở ra, và bắt đầu đọc, ngồi ở tư thế khá căng thẳng, chứ không thoải mái, như thể chị chỉ muốn chiều lòng tôi, đọc lướt qua đôi dòng vậy. Chị đọc, trán nhăn lại, và đột nhiên, dường như chị nhận ra cái gì đó, dường như vừa đọc thấy chuyện gì đó mà chị cũng còn nhớ, chị lên tiếng, lộn xộn thêm thắt hay tán đồng, hay chỉ là để lặp lại, chi tiết này chi tiết khác chị vừa đọc. A, phải rồi, đám hải âu… rồi cơn giông, bữa tiệc sinh nhật dọn cho Tiến sĩ Busbeck, đúng rồi; ông bà Holmsen, cả hai đều mất rồi; người đàn ông mặc áo choàng đỏ, phải rồi; mà sao mày giỏi nhớ tên bao nhiêu người thế này này; ừ, bác họa sĩ trên mặt đê lúc gió thổi, ông Asmus Asmussen hiện giờ về sống ở Glüserup; ừ, thì ra căn bệnh của anh Addi mày cũng còn nhớ; cả buổi chiều hôm ấy ngoài bãi triều; chỗ nấp của mày trong cối xay gió; ừ, cái xe thùng không bánh, nó không còn nữa rồi; còn thằng Heini Bunje thì ra nước ngoài sinh sống từ lâu; này, bắp chân của chị thế nào mà mày cứ chê mãi thế; à, còn ông đưa thư cụt tay Okko Brodersen, ông ấy về hưu rồi; ừ, còn viên cảnh sát Rugbüll; sao mày biết lắm chuyện về bố thế… Này, mà có đúng bố là người như thế không? Không phải đôi lúc bố cũng kể chuyện cho chị em mình nghe à? ừ, thì cũng thỉnh thoảng thôi. Mày cứ nhớ đến các mùa hè khô ráo và nhiều nắng mà xem. Mày còn nhớ chuyện mẹ chở bọn mình ra bãi biển chơi bằng xe chở sữa không. Đôi lúc, mẹ cũng có khác đấy. Rồi bác họa sĩ, khiếp, có những dạo, suốt mấy ngày liền, bác ấy cậy răng chẳng nói lấy một lời. Rồi Rugbüll về mùa đông nữa chứ, lúc kênh mương đóng băng sạch một lượt, rồi sương giá phủ đầy đồng cỏ; hay về mùa thu, bọn mình vào vườn táo nằm nghe táo rụng; à, mày còn nhớ các buổi tối trời ấm bọn mình lên mặt đê không, lúc bọ rầy râm ran… Nhưng Siggi ạ, rồi chị sẽ đọc hết, hôm nay thì không kịp, nhưng chị sẽ sớm đọc.

Chị đưa trả chồng vở lại cho tôi, và trong lúc tôi cho chồng vở vào tủ khóa lại, chị hứa không những sẽ sớm quay lại, mà còn quay lại thăm tôi thường xuyên hơn. Chị bảo bây giờ dễ hơn, vì chị đã mãi mãi bỏ đi khỏi Rugbüll và định bụng, ngay hôm nay sẽ đến trình diện ở “Haus Vaterland” để nhận làm nữ tiếp viên cửa hàng ăn; hiện giờ ban nhạc ba nhạc công, “Alster- Trio”, tối tối vẫn chơi ở đấy; ban nhạc của anh Addi. Chị Hilke đang vội!

Vâng, đã năm ngày trôi qua, mà tôi vẫn chưa dứt được khỏi bài luận tôi bị phạt. Đôi khi, vào những tuần lễ yên ắng, mưa dầm mưa dề, những lúc không nghe thấy tiếng ồn từ các công xưởng vọng tới, những lúc xuồng máy không chở nhà tâm lý học nào sang đây, những lúc không một tiếng còi, hay không một tiếng hô phát lệnh cũng như không nghe tiếng bước chân rầm rập chạy đều theo lịch công việc trên cù lao - là những lúc tôi tưởng họ đã quên tôi; họ đã bỏ cù lao này mà đi sạch hết rồi, tôi nghĩ vậy, để cù lao lại cho độc hải âu với chim quạ sinh sống mà thôi; thế nhưng, rồi đến một ngày, họ nhắc tôi rằng tôi không một mình ở đây, từ xa, họ vẫn không hề rời mắt để ý đến tôi bao giờ.

Đúng thế, sáng nay, chuyện gì tôi cũng có thể tính đến được, riêng chuyện ông giám đốc Himpel cho gọi tôi lên gặp, thì tôi không ngờ đến thật.

Đi đi nào, lão Joswig nói, đứng dậy, chải đầu, chải tóc, rồi mặc quần áo điểm danh vào. Trên Ban Giám đốc họ nhớ cậu lắm rồi thì phải. Nhớ mang theo cả công trình chứng minh độ siêng năng của cậu nữa nhé.

Lão kèm tôi đến phòng giám thị; từ đó, lão để tôi một mình đi tiếp; và tôi cũng chẳng vội đem số vở tôi đã buộc thành một tập đến Ban Giám đốc làm gì; tôi còn xoa xoa bức tượng bán thân của Thượng nghị sĩ Riebensahm chán đã, tôi còn ghé mắt nhìn rất lâu vào cánh cửa sổ nhà bếp - cánh cửa trổ rất thấp và có lưới bọc - lâu cho đến lúc bà nấu bếp, một người chuyên bày tỏ tình cảm âu yếm bà dành cho chúng tôi qua các món đáng đổ cho thú dữ ăn ấy, quầy quậy đuổi tôi đi, tôi mới đi, và lúc tôi nhìn thấy con chó của ông giám đốc đang hiền lành, cùng một con chó lạ tôi chưa thấy bao giờ, tha thẩn, lững thững chạy ra phía bãi cát - hai con tha thẩn, lững thững, nhàn hạ, như thể đang cùng bị cuốn hút vào một cuộc đàm luận mang tính triết học thú vị nào đó - thì tôi liền nhặt các mảnh ngói vỡ nằm rải rác quanh đây nã tới tấp vào chúng nó, khiến chúng hoạt bát hẳn lên, cong đuôi cuống quýt chạy.

Tôi không đi qua mảnh sân đất nện chặt, mà vòng ra phía sau khu xưởng, rồi băng qua các luống bắp cải xanh, bắp cải đỏ, bắp cải trắng, cải Brussel sang đoạn đường vòng dẫn tới ngôi nhà Ban Giám đốc, nhưng cũng vòng cả xuống bến tàu nổi. Đang lúc nước lên; tôi bước lên cầu nổi kêu ken két ở các mạch nối. Cầu nổi bồng bềnh lên xuống, dường như nó không những chỉ phập phồng theo nhịp thở của dòng sông, mà tự nó cũng thở phập phồng; cầu tàu gắn lỏng lẻo với phao, chà bên này, cọ bên kia. Sóng nước nhỏ, vỗ óc ách. Gió thổi làm đám lau sậy nghiêng ngả, xơ xác. Trên cánh đồng cát khá rộng, chúng nó đang đốt thân khoai tây, và gió thổi đè làn khói xám pha lẫn khói xanh xanh, vàng vàng ấy là là bay ra phía sông Elbe, và đứng trên cầu tàu, trông cứ như thể chúng tôi đang dùng sức đẩy toàn bộ cù lao bơi xuôi dòng, dọc theo hai bờ sông đang đượm vẻ mùa thu, đẩy bằng lửa đốt thân khoai tây và bằng niềm mong ước tìm được miền nào ấm áp hơn, nhiều hy vọng hơn, làm nơi neo đậu mới cho cù lao này.

Cô thư ký của giám đốc Himpel nhìn thấy tôi; cô ta mở cửa sổ, huýt sáo và vẫy tay gọi tôi; tôi vẫy tay đáp lại và đi về khu nhà Ban Giám đốc. Khu cầu thang, các hành lang, các nhà tiêu trong đó đều đang nằm trong tay cánh thợ sơn. Chỗ này họ cọ rửa, chỗ kia họ dùng đèn xì đốt các lớp sơn dầu, chỗ khác họ đóng ván lát chân tường. Họ đu trên giàn giáo, ngồi chồm hỗm trước các ngưỡng cửa, đứng vơ vẩn bên các bậu cửa sổ; vâng, họ chính là hơn bốn chục đứa thuộc hạng khó dạy bị Ban Giám đốc thuyết phục, đâm đầu chịu học làm thợ sơn, thợ quét vôi. Thằng Eddi Sillus tôi quen, nằm trong số đó, chứ bọn khác tôi chả biết đứa nào với đứa nào; thế nhưng, tuy tôi hầu như không quen đứa nào ở đây, chúng nó có vẻ đều biết tôi; chúng nó rỉ tai nhau, huýt sáo, gõ gõ ra hiệu cho nhau, tiếng gõ kèm theo tôi, lúc tôi lên cầu thang, tiếng bay dùng để cạo lớp vôi cũ, tiếng cán chổi quét sơn, chổi quét vôi, tạo thành một thứ âm thanh chào đón tôi, vâng đó là tiếng chào, tiếng chào danh dự dành cho tôi, nhìn gương mặt của chúng nó, tôi hiểu như thế.

Nhưng chúng nó chào ai mới được chứ? Một thằng bạn tù ư? Thằng bị phạt, phải viết bài luận ư? Hay tấm gương cho chúng nó về độ bướng bỉnh, mức gan lì? Đối với bọn ngoài kia, có lần lão Joswig đã bảo tôi, cậu đã trở thành một thứ động vật tiền sử, một huyền thoại, thậm chí có thể là biểu tượng rồi cũng nên. Bao giờ buồn lòng, chán nản, chúng nó lại noi gương cậu để vượt qua. Vâng, bọn thợ sơn gõ một hồi để đón chào tôi, rồi đến lượt tôi gõ cửa phòng ông Himpel; và đúng vào giây phút tôi bước vào phòng giám đốc, thì tôi cũng nghe tiếng bay, tiếng chổi quay trở lại với công việc của mình ra sao.

Ông Himpel đứng chờ tôi trong bộ áo sơ mi và quần ống chẽn; hai cô thư ký đang loay hoay lau chùi áo gió của ông ta, lau chỗ này, cọ chỗ khác bằng nhựa thông: Một tay này ông ta chỉ ra ngoài hành lang; tay kia ông ta buồn rầu chỉ vào áo gió: Thợ sơn, phải, cậu thấy đấy, chúng tôi đang có thợ sơn làm trong nhà đây.

Trên ve áo vét, ông ta đeo tấm biển nhỏ ghi, Gđ. Himpel; qua đó tôi đoán, nếu không phải ngay bây giờ, thì lát nữa, ông sẽ phải sang bên kia sông dự một hội nghị nào đó ở Hamburg. Ông ta hỏi, liệu tôi có hứng ngồi xuống đây, uống với ông ta cốc nước chè và, coi như ngoại lệ, hút với ông điếu thuốc không. Vâng, tôi có hứng. Tôi đặt xấp vở của tôi lên bàn giấy của ông, rồi ngồi xuống và theo dõi cảnh tượng ông, bằng những cử chỉ ở tay, nhưng rõ hơn nữa là tiếng chặc lưỡi khe khẽ phát ra ở miệng, hối thúc hai cô thư ký nhanh tay, ông cũng gõ gõ đều mũi giày xuống sàn, ngầm ra hiệu cho hai cô biết ông đang vội, trong khi hai cô kia vẫn chưa muốn rời cái áo gió, vẫn muốn nhẹ nhàng tẩy hết các vết bẩn, dù rất nhỏ và rất khó thấy, còn vương trên áo; rồi, sau rốt, cảnh ông dữ dằn giật phăng cái áo khỏi tay hai cô và vùng vằng khoác ngay nó lên người.

Nào Siggi! À cậu đã ngồi sẵn đấy rồi; trà sẽ có ngay đây, đã rót sẵn cả rồi mà. Bây giờ ta nói chuyện với nhau một lát.

Chúng tôi nhìn sâu vào mắt nhau rất lâu. Rồi ông ta đảo mắt quanh khắp người tôi, trước khi chuyển sang bàn làm việc. Một cú mổ nhanh và mạnh xuống phím đàn dương cầm: Tim- ta- ta. Ông ta hỏi, liệu tôi có nhận thấy hết mọi sự không, liệu tôi có rõ vì sao Ban Giám đốc đồng ý để cho tôi viết bài luận tôi bị phạt lâu như thế không. Không à? Nếu không thì ông ta sẽ nói tôi nghe.

Ban Giám đốc muốn đưa ra một tấm gương, một bằng chứng, cho thấy Ban Giám đốc thừa nhận và ủng hộ, đến một giới hạn nhất định nào đó, sự giác ngộ và suy tư của thanh niên như thế nào. Vâng, người ta đã để cho tôi thả sức viết, bởi vì người ta nhận ra rằng tôi muốn biện minh, muốn khai thác hết các cơ hội chứa đựng trong đề tài được nêu ra. Ông ta, tức là ông Himpel, còn nhận thấy một điều khác nữa; ông ta nhận thấy ký ức đã trở thành cái bẫy đối với tôi như thế nào, và ông ta muốn để tự tôi thoát khỏi cái bẫy đó. Đúng thế, ông ta cũng phát hiện ra rằng hình phạt ông ta đặt ra cho tôi thật ra rất nhẹ nhàng, khiêm tốn hơn nhiều so với hình phạt tôi tự đặt ra cho mình, khi tôi khăng khăng đòi viết cho kỳ xong bài luận. Song, đến đây là đủ rồi. Không được phép đi xa hơn nữa. Ta đã chạm đến cái giới hạn được phép ấy rồi. Rồi ông lại hỏi tôi có muốn nói gì không. Không à? Thế là ông ta hỏi tôi, tôi nghĩ thế nào, nếu mười ngày nữa tôi sẽ mãi mãi rời khỏi cù lao này. Ông lại gõ lên phím đàn: Tim- ta- ta. Đối với trường hợp của tôi, đã có một quyết định đặc biệt, cho phép tôi muốn đi đâu thì đi, và mặc dù tôi chưa học được nghề gì - là điều ông rất lấy làm tiếc - nhưng các thành tích tôi lập được tại cả xưởng làm chổi lẫn thư viện của cù lao đều là các thành tích nổi bật, cho nên ông không thấy có khó khăn gì khi cấp các giấy tờ chứng nhận cần thiết cho tôi.

Tôi hỏi, có phải mọi việc đã được quyết định dứt khoát rồi hay không. Ông đáp, phải, mọi sự đã dứt khoát rồi, không trì hoãn gì nữa. Chậm thêm một vài tuần cũng không được ạ? Một vài tuần cũng không được. Thế nhưng việc vẫn chưa xong ạ. Thì cũng mặc thôi, vả lại, một việc như thế sẽ không bao giờ xong, chỉ có thể tạm dừng ở một đoạn nào đó thôi; ta tạm xem như thế là đủ cái đã. Tôi hỏi, bao giờ tôi phải nộp bài. Sáng mai. Và như thế là dứt khoát phải không ạ? Dứt khoát. Ông ta sẽ đợi tôi vào khoảng tám giờ. Tim- ta- ta! Rồi ông hỏi, đây đã hết số vở tôi viết chưa. Vâng, nhưng tôi xin được mang về phòng lần nữa, chắc ông sẽ cho phép. Tất nhiên rồi. Thôi nhé, sáng mai đúng tám giờ; và cậu cần suy nghĩ xem, cậu sẽ trả lời hội đồng thế nào. - Trả lời gì ạ? - Thì người ta sẽ hỏi cậu, cậu định làm gì khi được thả khỏi đây mà lại. Đoạn ông hỏi tôi, liệu tôi có thể tha lỗi cho ông nếu ông phải dừng câu chuyện ở đây không, vì bây giờ ông phải sang bên thành phố dự Hội nghị - thì tất nhiên rồi - Hội nghị quốc tế.

Đã thế thì còn ai dám nhắc đến tách trà, đến điếu thuốc ông hứa nữa cơ chứ; tôi đành ôm tập vở lên tay, hơi cúi người chào ông giám đốc rồi rút lui ra ngoài, và lần này - với vẻ bàng quan và, tôi phải thú nhận như thế, âu cũng là vô ơn nữa - tôi đi nhanh qua hai hàng danh dự mà bốn chục thợ sơn khó dạy lại mở ra chào mừng tôi bằng đủ thứ tiếng gõ.

Vâng, như thế là tôi được thả rồi đây. Phải nộp bài. Còn gì nữa không? Cái gì sẽ đến với tôi? Liệu tôi còn trông chờ cái gì được nữa? Tôi nhanh chóng rời khỏi khu nhà Ban Giám đốc, nhưng không đi ngay về phòng giam, mà lại băng qua cái sân có nền đất được nện chặt, ngang qua cả xưởng sửa khóa và khu giam cách ly - lúc ngang qua đây, tôi còn kịp nhìn thấy cả gương mặt đờ đẫn của thằng Ole Plötz ở trong đó; nó bị giam cách ly không những chỉ tám ngày theo lệ vẫn áp dụng cho mỗi lần trốn trại, mà bị nhốt những hai mươi mốt ngày cả thảy, bởi nó còn dám nẫng và làm rỗng ruột túi xách tay của một nhà nữ tâm lý học, lúc bà này sang cù lao làm công tác nghiên cứu khoa học; vâng, tôi băng qua những nơi đó sang xưởng làm chổi, rồi mở cửa bước vào, mặc dù tôi biết hành động này có thể khiến người ta phải xét lại việc thả tôi trước thời hạn như chơi.

Đang giờ nghỉ trưa, máy móc trong xưởng đều đứng yên, không chạy. Mùi gỗ thông, mùi hồ dán xông lên mũi. Kia là máy cưa vòng nâng lên hạ xuống được, kia là máy đục lỗ, máy xát, máy khoan. Trong đầu tôi chợt lóe lên một ý: sau khi vỗ cẩn thận cho đều các cạnh, tôi đặt tập vở xuống dưới máy đục lỗ, bật máy phát điện, kéo cái đòn an toàn xuống và đục một cái lỗ to bằng đường lánh cán chổi, xuyên suốt cả tập vở ở góc trên, mép trái, rồi xỏ một sợi dây thừng qua cái lỗ đó, buộc hai đầu dây với nhau, khiến cho mấy quyển vở bây giờ trông giống như dăm con gà gô bị bắn hạ và xâu vào với nhau vậy. Tôi quàng sợi dây lên vai, và rời khỏi xưởng làm chổi, rồi như một gã thợ săn lang thang vô định, tôi lần theo mép ngoài cánh đồng cát trồng khoai tây để xuống bãi cát ven sông; đến đây, tôi ngồi xuống dưới chân cái cột gỗ bạc thếch vì lâu ngày nắng chiếu, trên đỉnh có gắn tấm biển cấm đặt chân lên cù lao, do Sở Thanh Thiếu niên cho cắm ở đây.

Tôi ngồi ở đấy, châm thuốc hút và nhìn một con tàu chuyên dụng - con tàu mũi dẹt, chuyên đặt đường dây cáp điện thoại - đang từ hướng Hamburg đâm thẳng về phía tôi. Tôi biết làm gì bây giờ, nếu họ thả tôi ra? Đi đâu, tìm nơi ẩn náu ở đâu bây giờ? Anh Klaas bỏ đi rồi, chị Hilke cũng bỏ đi nốt - thì liệu tôi còn quay lại Rugbüll được nữa không? Mà ngay cả khi tôi có ở lại Hamburg đi nữa, liệu tôi đã thoát được Rugbüll chưa?

Đó là tàu đặt dây cáp điện thoại của Anh, lòng tàu ngập sâu xuống nước, trên tàu chất đầy các cuộn cáp màu đen, cuộn này chồng lên cuộn khác. Con tàu sẽ ném hàng của nó xuống những vùng biển nào, nó sẽ nối những đất nước nào với nhau đây? Đường cáp điện thoại của tôi, tôi cầm chắc như thế, sẽ chẳng bao giờ bắc vòng, tránh qua Rugbüll được cả; ít nhất là một đầu dây cáp bao giờ cũng sẽ chạy về ngôi nhà gạch không quét vôi ấy, ngôi nhà mà trong đó, nếu tôi có lúc nào đó nhấc máy gọi, chắc chắn sẽ nghe thấy tiếng gào “Chốt cảnh sát Rugbüll nghe đây!” Sẽ chẳng hề có biến cố nào, con sóng to biển động nào, hay trận động đất nào có thể làm đứt mối liên hệ đó; tôi đã mãi mãi bị nối chặt vào chốn ấy rồi. Có ngoảnh mặt nhìn ra chỗ khác, có bịt tai không nghe đi nữa cũng chẳng ích gì, bỏ đi lại càng không. Tôi chỉ cần lắng nghe thôi, là đã có tiếng vo vo, tiếng lạch cạch, và khi giọng nói đầu kia vang lên, thì đồng thời tôi cũng nghe thấy tiếng hải âu kêu thê thảm ở phía sau; không gian mở ra và trải rộng, mọi người có mặt đã tụ tập ở đây dưới luồng gió thổi, và tôi nghe thấy cả tiếng sóng Biển Bắc, sủi bọt, vỗ ì oạp vào hàng cột chắn sóng bên bờ. Rugbüll hiển nhiên nằm đó, Rugbüll, cái chốn mà tôi đã vặn hỏi đủ đường đủ chuyện, mà vẫn còn nợ tôi biết bao nhiêu là lời đáp ấy. Thì làm sao mà bỏ đi được. Và, mang theo tiếng kêu điên dại của hải âu văng vẳng trong tai, mang theo tiếng sóng vỗ dài miên man và tiếng lao xao đọng lại trong tai mỗi khi các ngọn gió lục lọi, lần mò trong bờ giậu nhà tôi, tôi sẽ không ngừng, sẽ còn hỏi mãi về mọi chuyện.

Và tôi hỏi, ai giữa cơn giông gõ cửa nhà tôi, hay bập bập nhả khói trong lò ra ngoài; và tôi hỏi, tại sao họ coi thường kẻ đau người ốm, nhưng lại run rẩy, thậm chí khiếp sợ trước một người “biết nhìn xa” hay có tài tiên tri đến thế. Ai là kẻ đem bóng tối đêm đêm và khung cảnh ủ dột ngày ngày đến chỗ chúng tôi, ai đun nóng dưới đầm lầy làm bong bong nổi lục bục, ai kéo sương mù xuống khoác lên vai, ai rên rỉ trên xà nhà, ai thổi sáo cùng bình với chậu, ai níu đàn quạ đang bay phải sà xuống cánh đồng. Đó là những điều tôi muốn hỏi. Và tôi tự hỏi, tại sao họ để mặc người lạ ở ngoài, không thèm màng đến sự trợ giúp của họ. Và tôi cũng tự hỏi, cớ sao họ không thể nửa đường quay lại chọn lối đi khác đẹp hơn. Ai bôi đen rặng liễu về đêm, ai đạp sầm sầm vào cửa cống? Tôi tự hỏi do đâu mà ở chỗ chúng tôi, ban tối họ nhìn sâu hơn, xa hơn là ban ngày, và vì sao họ lại có thể liều lĩnh một cách kỳ quặc đến thế khi phải thực thi một nhiệm vụ họ được trao vào tay. Tật phàm ăn, thói lầm lì, tính tự mãn của họ, vốn hiểu biết rộng lớn về quê hương xứ sở mà ai nấy đều có trong đầu, tôi sẽ hỏi hết. Tôi sẽ hỏi về cách họ đi, lối họ đứng, về ánh mắt họ nhìn, lời họ nói, nhưng tôi vẫn không thể nào hài lòng với tất cả những gì tôi nghe được.

Thôi, gì thì gì, tôi hút trọn một điếu thuốc ở đó, dưới cây cột, chôn đầu mẩu xuống cát và trước khi bỏ đi, tôi dùng mũi giày viết lên mặt cát ướt một chữ “CỨT”. Đi dọc theo bãi cát, qua rặng lau sậy mà chim di cư đêm đêm vẫn ghé xuống nghỉ, là tôi đã đi được nửa vòng quanh cù lao mà không bị ai nhìn thấy, không bị ai gọi giật lại, đến cả hai con chó cũng chẳng nhìn thấy tôi: chúng đang ngồi chồm hỗm trên hai chân sau, hiền lành ở bên nhau.

Quay lại, vâng, tôi lững thững quay lại khu trại giam của tôi; phòng giám thị bỏ không, chắc lão Joswig đang ăn trưa. Các ngăn bàn của lão không phô ra cái gì mới mẻ cả; khúc bánh mì cong cong và đã kịp hóa đá vẫn nằm đó, một cái phong bì đựng tiền cũ, chắc là để đem đi trao đổi trong giới sưu tầm tiền cũ; cái mới có lẽ là con cá thu - phải ngót nghét hai chục tuổi chứ không ít - đang lặng lẽ phát quang ươn thối dần, và làm cho căn buồng bốn bề bịt cửa kính của giám thị hôi hám đến mức khó ai chịu được, dù cho người ấy có quý viên giám thị đáng mến này đến thế nào đi nữa. Và, tôi không được quên kể về bức thư, một bức thư đang viết dở, và làm tôi ngạc nhiên, vì đó lạ lá thứ viết cho tôi, theo kiểu cách rất là Joswig: Siggi thân mến; Thế là cậu sắp rời cù lao chúng tôi, và ở bên kia, cuộc đời mới đang chờ đón cậu. Chúng tôi có thể nghĩ rằng cậu sẽ sớm quên chúng tôi thôi. Thế nhưng, để cậu ra đi thật là khó; khó, không phải vì chúng tôi không muốn cậu thoát khỏi đây, khó, vì trái tim chúng tôi yêu quý cậu. Thế nhưng, mọi sự thế nào thì phải như thế thôi. Tôi vẫn nói mãi đấy thôi, lòng dạ chúng tôi trên cù lao này cũng giống như tâm tư của các ông thầy: phải mất khá nhiều công sức họ mới làm quen và hiểu biết một người nào đó, thì chẳng mấy chốc, đã lại đến lúc phải chia tay rồi.

Có lẽ, lão không biết viết gì nhiều hơn. Nhưng dù sao, lão cũng biết tôi sắp được xuất trại. Việc ấy coi như đã quyết định rồi đấy. Tức là tôi phải nộp bài. Không biết rồi ông Himpel có đọc không? Liệu thầy Korbjuhn có đọc rồi cho điểm không? Và sau đó thì sao? Mấy quyển vở này sẽ trèo lên nằm trên một giá sách nào đó và lặng lẽ chết cái chết của tài liệu lưu trữ chăng? Hay người ta sẽ ném chúng vào máy nghiền giấy? Hay thầy Korbjuhn sẽ đưa chúng cho thằng cháu của thầy chơi, bởi thằng bé không đủ giấy nháp để nghịch bút màu? Hay người ta sẽ chuyển chúng sang bên Sở Thanh Thiếu niên nhỉ? Thì đã sao? Tôi chẳng còn gì để nói nữa cả, tôi chỉ còn các câu hỏi, những câu hỏi chẳng ai trả lời tôi, cả ông họa sĩ cũng không trả lời, vâng, cả bác ấy cũng không nốt.

Lần này lão Joswig lặng lẽ quay trở lại lúc nào, tôi không biết; tôi thấy lão chợt xuất hiện, đứng thẳng người trước khung cửa kính, đập đập lên mặt kính, cười nhăn nhở, ghé mặt vào cái lỗ, và nói to: Xin được về phòng giam ạ! Phòng số Hai ạ! Tôi bước ra ngoài hành lang với lão. Này Siggi, cậu thử nghĩ xem, nếu cậu làm giám thị ở đây, thì kể cũng hay đấy chứ. Cậu đóng trang phục giám thị nhá, cậu đeo chùm chìa khóa nhá, cậu được huấn luyện đặc biệt nhá. Bọn trẻ ở đây nghe lời cậu. Tương lai cậu được bảo đảm chắc chắn. Trong tình hình thiếu người đâm đơn như hiện nay, thế nào cậu cũng có cơ được nhận. Nghĩ kỹ xem, Siggi ạ. - Nghe cũng ngon đấy, tôi nói, rồi kéo lại sợi dây xâu mấy quyển vở trên vai, và không nói gì thêm, tôi vượt lên trước lão đi nhanh về phía phòng giam. Lão mở cửa cho tôi, để cho tôi vào trước, rồi theo tôi bước vào phòng. Lão kéo ghế ngồi, còn tôi đến đứng bên cửa sổ, nhìn ra ngoài thấy ông Himpel đang đứng trên cầu tàu nổi, đưa tay vẫy chiếc xuồng máy đang rì rì bơi chéo mặt sông, ngược dòng tiến về phía ông.

Thời gian thế là hết rồi nhỉ. - Thời gian gì ạ? - Thì thời gian cậu ở cù lao đây chứ thời gian nào. - Vâng, có vẻ thế. - Cậu có mừng không? - Mừng về chuyện gì ạ? - Thì mừng được đi khỏi đây, sang bờ bên kia, sang đấy bắt đầu cái gì đó mới mẻ. - Có cái gì mới được ạ? Cái gì được ạ? - Có thể một thứ việc gì đó để một mình mình làm thôi.

Làm gì có thứ việc nào như thế, tôi nghĩ thầm, làm gì có món canh nào mình ăn mà trước đó chưa ai nguấy thìa vào đâu. Lão Joswig tiến tới bên tôi cạnh cửa sổ, chân lê lệt sệt xuống sàn; tôi cảm thấy rất rõ lão muốn nói với tôi câu gì đó nhẹ nhàng, mơn trớn, hay cũng có thể nói là bay bổng, nhưng lão không tìm được lời; rốt cuộc, những gì lão thốt ra được chỉ là lời nhắc nhở: tôi được chọn món cho bữa ăn chia tay, và phải tay lão, lão sẽ đặt món cá bơn với thịt ba rọi, nấu theo kiểu Finkenwerder. Theo lời lão, đó là món “thực tế” nhất. Tôi hứa sẽ nghe lời lão. Lão rụt rè khẽ chạm vào vai tôi, ngỏ ý chia tay, rồi lão bỏ đi, để tôi lại một mình. Chà, một khi lão muốn, lão có thể khóa cửa phòng mới nhẹ nhàng, kín đáo làm sao, và một khi lòng lão đã vậy, thì lão cũng có thể rời đi tế nhị biết chừng nào.

Đã năm ngày rồi, bài luận đã được viết xong, ngày mai tôi phải nộp nó. Phải nộp ư? Quan trọng nhất không phải là kết quả, ông Himpel đã có lần nói vậy, quan trọng nhất là cách thức tiếp cận, là lòng kiên nhẫn đưa ta đạt tới các kết quả mong muốn. Vậy, khi ông ta đã hài lòng với thái độ kiên nhẫn của tôi rồi, thì liệu ông ấy có còn màng đến mấy quyển vở này của tôi nữa không? Tôi có thể đem tặng chị Hilke, hay tặng anh chàng Wolfgang Mackenroth, hay đem thả xuống sông Elbe hờ hững trôi. Tôi cũng có thể quẳng chúng vào đống lửa đốt thân khoai tây ngoài đồng kia, hoặc, sau khi xuất trại, đem bán đồng nát. Thiếu gì cách… vẫn còn khối cơ hội. Nhưng liệu rồi tôi có sử dụng cơ hội nào không?

Nằm chen chúc giữa bao nhiêu người thân, người quen, người đồng hương, đồng họ, bị bủa vây bởi bao nhiêu ký ức, bị chìm nghỉm giữa bao nhiêu sự kiện tại quê tôi, bị thuyết phục bởi nhận thức rằng thời gian không làm nguôi bất cứ nỗi niềm nào, đúng thế, tất tật các nỗi niềm, cho nên tôi biết tôi phải làm gì, và sáng mai tôi sẽ phải làm gì. Phải chăng chính Rugbüll là thất bại của tôi? Có lẽ, người ta có thể nói như vậy thật.

Gì thì gì, sáu giờ sáng tôi sẽ trở dậy, lúc tiếng còi điên cuồng của các giám thị vang lên ở hành lang, đèn trong các phòng giam sẽ bừng sáng, con mắt ai đó sẽ dán chặt vào lỗ nhòm ở cửa. Trước khi bước tới chậu rửa mặt để cạo râu và rửa ráy mặt mũi, thì cũng như mọi khi, tôi sẽ đưa mắt rà soát trên mặt sông Elbe, tôi cũng chả biết rà soát để tìm cái gì, tôi chỉ biết tôi sẽ quan sát các ngọn đèn nhấp nháy chỉ đường trong buổi rạng đông mới hung hửng sáng, dõi theo tuyến đường đều đặn và ít nhiều trang nghiêm của các ngọn đèn đó, và tôi sẽ hút điếu thuốc đầu tiên trong ngày, đầu tôi sẽ hơi ngây ngây hơi thuốc. Tôi sẽ đóng cái bộ quần áo điểm danh của nợ lên người và đón lão Joswig đem khay điểm tâm vào buồng giam cho tôi, gồm cà phê loãng và hai khoanh bánh mì phết thứ mứt hoa quả thu hoạch và chế biến ngay trên cù lao này; và như mọi khi, thoạt tiên tôi ăn một khoanh bánh thôi, khoanh kia tôi chỉ liếm lớp mứt phía trên. Trong lúc ăn, tôi sẽ nghe bài hát do bọn trẻ khó dạy đồng thanh hát dưới phòng ăn để chào buổi sáng - tất nhiên rồi, cả bài hát đó cũng được sáng tác trên cù lao này.

Rồi sau đó? Tôi sẽ bước ra sân điểm danh, nếu có điểm danh, rồi tôi, cũng như hàng trăm lần trước, xin lui về phòng giam để viết bài luận tôi bị phạt phải làm, và tôi quay về phòng giam, từ đó nhìn ra cột đồng hồ dựng bên nhà Ban Giám đốc. Các quyển vở của tôi! Vâng, tôi sẽ lôi chúng ra khỏi tủ sắt, ngồi xuống bàn, châm thuốc hút và mở một quyển ra đọc; nhưng cũng có thể tôi không làm thế, có thể tôi - trong lúc chờ lão Joswig đến đón - sẽ lôi bộ đồ chơi chị Hilke để lại cho tôi ra chơi, để giết thời gian, và có thể tôi sẽ đủ khôn khéo để lùa cả ba con chuột trong trò chơi chui vào bẫy cùng một lúc. Tôi sẽ không quyết định gì cả, không cân nhắc, không dự định, không chuẩn bị sẵn đôi lời thống thiết, không tập trước đôi cử chỉ đặc biệt nào hết; khi giây phút quyết định ấy đến, tôi sẽ cùng với xâu vở của tôi đi sang đó, lặng lẽ bên cạnh lão Joswig; lão - ngay bây giờ tôi đã biết rồi - sẽ sửa lại áo vét của tôi cho chỉnh tề, sẽ giúp tôi vuốt thẳng mớ tóc xoăn trên đỉnh đầu, trước khi lão dẫn tôi sang chỗ ông Himpel.

Còn ông Himpel? Ông ta sẽ vui vẻ, cởi mở, thoải mái, ông ta sẽ ra vẻ thân thiện, và sẽ đặt một tay lên vai tôi, nếu ông ta vừa may mắn sáng tác xong một ca khúc nào đấy, thì ông ta khắc mời tôi dùng trà. Tôi sẽ đặt toàn bộ bài luận của tôi lên bàn ông ta; ông ta sẽ trầm ngâm, gật gật đầu tỏ vẻ thán phục, và sẽ lật lật vài trang, nhưng ông sẽ không đọc. Ông sẽ đưa tay mời, rồi chúng tôi sẽ cùng ngồi xuống, đối mặt nhau, gần như bất động, ai cũng sẽ hài lòng, bởi ai cũng sẽ có cảm giác mình đã thắng.

Hoàng Đăng Lãnh (dịch).
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.