Cây thước của thầy Tetjus Prügel vụt bao giờ cũng nhanh hơn của các thầy khác, mà cũng ngấm hơn nữa. Bởi chúng tôi đều biết đứa nào lơ đễnh sẽ bị thầy vụt dữ dội nhất - chứ không phải đứa nào lười, ngốc nghếch hay chậm hiểu mới bị đâu - cho nên, hôm nay không đứa nào trong lớp dám nhìn lên các tấm kính cửa sổ suốt sáng nay cứ bị các tiếng nổ từ xa làm rung bần bật, và cũng không đứa nào dám liếc nhìn theo những chiếc phi cơ từ phía biển bay vào, rất thấp, vọt qua đê đến con đường lớn rải nhựa, và lượn gấp, làm lộ rõ biểu tượng Anh quốc ở bên hông, rồi bay tiếp về hướng Husum. Mỗi lần tiếng động cơ làm át tiếng thầy, thầy Prügel lại ngước mắt nhìn lên trần nhà với vẻ khinh khỉnh, kiên nhẫn chờ cho tiếng ồn bớt đi, rồi lại nói tiếp, câu cú, lời lẽ trước sau không bị lẫn lộn một tí nào. Người đàn ông to bè, hói đầu, vâng, một người đến khi nước sông đã có băng trôi vẫn xuống tắm, một người mặt có thể đỏ gay và tỏa hơi nóng ra xung quanh đến độ, nếu không đủ sưởi ấm cả trường, thì cũng đủ cho một lớp phải phát sốt lên ấy, không thấy có lý do gì để hủy tiết học giữa chừng cả, và vẫn khăng khăng dạy cho xong giờ sinh vật của ông, cho dù tiếng nổ cùng tiếng phi cơ bay qua chốc chốc lại buộc ông phải tạm dừng giữa chừng.
Vâng, chúng tôi đứa nào đứa nấy ngồi cứng đơ trên ghế băng, lưng thẳng, bụng ưỡn, hai tay để trên mặt bàn học trò nghiêng nghiêng, quay mặt hướng về phía thầy, mắt nhìn dán vào đôi môi thầy và khiếp đảm nuốt cả mớ kiến thức tuôn ra từ cặp môi ấy. Mớ kiến thức về loài cá, không, về sự hình thành cuộc sống loài cá - không, như thế cũng chưa hẳn là đúng - đúng hơn phải là kiến thức về phép lạ trong sự hình thành cuộc sống mới của loài cá. Vâng, thầy muốn chỉ cho chúng tôi xem phép lạ ấy, nhằm đúng cái ngày nóng nực này, vào cuối tháng Tư hay đầu tháng Năm gì đó, trong giờ học gọi là giờ sinh vật, bằng kính hiển vi, của riêng thầy, do thầy đích thân đem từ nhà đến lớp. Kính hiển vi đã lắp đặt xong xuôi trên bàn, hai cái hộp thiếc đựng thứ gì đó bí hiểm, dùng để minh họa phép lạ kia, cũng đã nằm ngay bên cạnh. Hai thằng Heini Bunje và Peter Paulsen đã bị lôi ra cảnh cáo trước để làm gương cho cả lớp, tức là mỗi đứa đã bị vụt ba vụt - ba vụt cực chuẩn, đúng chỗ và gọn gàng, không để lại dấu vết dễ nhận ra nào - bằng thước kẻ lên đầu ngón tay, và nhờ đó, sự chú ý của cả lớp vào bài giảng đã được thiết lập và bảo đảm sẽ kéo dài được một khoảng thời gian nhất định nào đấy.
Nếu có dừng lại một lúc để kể thêm về thầy Prügel, để tả các vết thương cũ của thầy, hay để nghe chính thầy tự kể về lai lịch từng vết thương đó - chả là đôi lúc hứng chí, thầy vẫn cho chúng tôi xem cả dấu vết cồm cộm của viên đạn súng lục chạy loăng quăng trong lồng ngực thầy mà - thì chắc cũng đáng lắm, hoặc hay hơn nữa, có lẽ là làm một chuyến viếng thăm gia đình thầy, một gia đình xuất xứ Mecklenburg mà thầy bao giờ cũng lôi đi dạo qua các bãi triều, bất kể thời tiết thế nào, và tất nhiên, cả nhà đều mặc đồng phục thể thao; thế nhưng, tôi không muốn mô tả nhiều quá, dễ sinh nhàm, khiến chẳng ai nhận ra thầy ra sao nữa, cho nên, ở đây tôi chỉ muốn nhắc lại ngắn gọn, rằng thầy dạy môn sinh vật ở lớp chúng tôi, và bài học hôm nay là bài về phép lạ trong sự hình thành cuộc sống mới của loài cá.
Vâng, thầy thao thao giảng, trong khi ở phía xa - xa đến mức có vẻ chẳng can hệ gì đến chúng tôi thật - một khẩu cao xạ tám tám ly lên tiếng, thỉnh thoảng bọn bốn nòng hai chục ly cũng phụ họa, pháo một trăm năm mươi ly thì họa hoằn mới khai hỏa. Chúng tôi nghe đã quen, cứ nghe tiếng súng nổ lẫn tiếng rền trong không trung là biết súng gì rồi. Còn ông thầy chúng tôi vẫn đứng, như mọi khi, gần như bất động một chỗ ở trước cái bảng - thầy mà đứng cho người ta diễn trò ném dao ở rạp xiếc chắc ngon lành lắm - dùng ánh mắt bao quát cả lớp và như thế, cũng như trói chặt chúng tôi vào một chỗ, rồi bằng một giọng nói nhỏ nhẹ, ông mời chúng tôi lặn với ông xuống thế giới các loài cá. Tất tật những giống, những loài ấy, thầy nói, tất cả những tên gọi đó, cả nhỏ lẫn lớn. Ngu si đần độn như các trò đây, cũng thử hình dung mà xem cuộc sống dưới đáy biển sâu mới rộn ràng làm sao. Cá mập, đúng không nào. Cá kiếm, cá thu, lươn biển hay cá vây tròn, cá tuyết, mà đừng quên cá trích đấy, giống này cũng như chim sẻ dưới biển vậy. Cái gì sẽ xảy ra nào, thầy hỏi như tự hỏi mình, nếu cá không đẻ, không sinh sôi nữa nào? Lần lượt, các loài cá sẽ thi nhau chết sạch chứ sao nữa. Và, thầy lại tự hỏi tiếp, biển sẽ thế nào nếu biển không còn cá nữa? Thì đương nhiên, biển sẽ là biển chết, phải không nào. Rồi thầy nhảy sang say sưa nói một hồi về chương trình tuyệt vời của thiên nhiên, một chương trình mà trong đó mọi thứ, phải, tất tần tật, không sót một tí gì, đã được tính toán, cân nhắc, và tiên liệu. Thầy lôi thí dụ về máy hơi nước, để thuyết phục chúng tôi rằng sự sống chính là quá trình đốt cháy, nhưng thầy cũng không quên nhắc đến chọn lọc tự nhiên, và, đột nhiên, thầy lại cắm đầu lao xuống nước, bơi lội cùng các loài cá.
Phải, cả bọn cá, tuy câm - mà thật ra, chúng có câm đâu - nhưng đều mang các đặc điểm giới tính, các khác biệt đực cái, có đủ các bộ phận của con đực, con cái. Con đực con cái tụ tập nhau, kéo đàn kéo lũ vào mùa sinh đẻ, rủ nhau tìm nơi làm tổ ở gần cửa sông hay bãi cát ven biển; có khi chúng bơi rất xa, chắc các trò cũng đã từng nghe thấy, rằng chúng còn ngược dòng lên cao, các trò biết cá hồi chứ gì, chúng còn vượt bao nhiêu là chướng ngại vật. Tìm được nơi an toàn, giàu dinh dưỡng rồi, lúc bấy giờ con cái mới đẻ trứng, thường kết thành từng đám hay từng khối lớn, còn con đực tưới tinh dịch lên trứng cho trứng thụ tinh. Thế nhưng loài cá có xương - thầy Prügel ngắt lời, với vẻ mặt muốn tỏ ra là khinh thường - chờ cho bóng chiếc máy bay vút qua sân thể thao của chúng tôi và tiếng gầm rú rời xa, rồi mới nói tiếp: phần lớn các loài cá mập đều đẻ ra con; nhưng đấy là nói ngoài lề thế thôi, chứ mấy cái đầu đần độn của các trò rồi sẽ quên ngay chứ gì. Trứng mới là quan trọng, sự sống nằm trong trứng ấy! Điều đáng ngạc nhiên là chỉ có rất ít loài cá chăm lo cho trứng chúng đẻ ra, chứ chưa nói đến ấp trứng. Phải rồi, ví dụ loài cá gai nhỏ con, là loài biết xây tổ và canh chừng trứng, thậm chí còn nuôi con suốt một thời gian; cũng có loài ngậm trứng vào miệng, rồi mang theo mình giữa các lớp mang cho đến khi trứng nở. Nhưng đa phần các loài cá lại để mặc trứng của chúng, chẳng màng đến chuyện ấp ủ hay nuôi nấng cá con về sau. Còn đám cá con thì sao? Cá con không lớn lên bên trong trứng, tụi đầu bò như các trò thật chẳng biết gì, nó nằm ra bên ngoài trứng rồi dần dần mới tách ra, giời ạ.
Nhưng các trò sẽ tận mắt chứng kiến cảnh tượng đó, thầy Prügel nói, hôm nay ta mang chất liệu - vâng, thầy nói nguyên văn như thế - hôm nay ta mang chất liệu tới đây, chất liệu để hình thành sự sống, và ta sẽ dùng kính hiển vi để xem xét mọi sự kỹ càng và rõ nét hơn.
Ở đâu đó phía đằng xa, khẩu bốn nòng lên tiếng, rồi gã anh cả trong số súng cao xạ, khẩu tám tám ly, phụ họa theo, khiến lớp mát tít gắn cửa sổ lớp chúng tôi vốn đã cũ và khô queo, rơi lả tả. Thế nhưng thầy Prügel tỏ ra không muốn nghe thấy có tiếng súng nổ, thầy thong thả bước lên bục giảng; trước hết thầy mở con dao gấp, sau đó mở hai hộp thiếc, đưa lên mũi ngửi ngửi, trước khi dùng mũi dao hớt một tí gì đó trông xanh xanh nâu nâu, phết nó xuống một tấm kính nhỏ và lấy ngón tay nhè nhẹ miết đều, vâng, tức là thầy bôi nó ra mặt kính. Sau đó, thầy đẩy tấm kính xuống dưới ống kính hiển vi, và cúi người, nheo một mắt lại, khiến mặt thầy đâm ra méo mó, nhăn nhở; thầy quờ tay mấy lần mới vớ được các đầu vít đen đen để quay quay, chỉnh cho rõ nét, rồi vươn người đứng thẳng dậy thật nhanh, nhanh đến nỗi nghe rắc một cái ở sống lưng. Thầy chăm chú nhìn chúng tôi. Vẻ đắc thắng. Như muốn nói, các trò hãy chờ đấy. Song, cũng đầy vẻ hoài nghi, như thể thầy đang tiếc rẻ những gì thầy sắp cho chúng tôi xem, những thứ này cho các trò xem thật phí của. Rồi thầy quát: Đứng lên! Ngồi xuống! Đứng lên! Bằng cách như thế thầy bắt chúng tôi xếp nối đuôi nhau thành một hàng. Lũ chúng bay ngu như bò cả một lượt thế này này. Thầy lôi, thầy kéo, thầy đẩy một lúc khá lâu, bắt chúng tôi đứng thành đội ngũ chỉnh tề, lần lượt bước tới để được sáng mắt nhìn lên phép lạ kỳ diệu ấy. Nhìn lên hạt trứng. Nhìn vào mấy hạt trứng cá.
May quá, đến lượt thằng Jobst trước; nó là đứa đầu tiên phải nói xem nó nhìn thấy cái gì, và cả lũ chúng tôi hồi hộp nhìn nó mới đầu gập người cúi xuống, sau đó lại len lét quay sang nhìn thầy Prügel, rồi mới đứng kiễng lên mấy đầu ngón chân, cúi người xuống ống kính hiển vi. Cúi nữa vào, thầy Prügel ra lệnh, thêm nữa. Và thằng quỷ sứ béo ục ịch dán mắt vào ống kính. Bộ mông đồ sộ của nó làm cái quần nhưng nó mặc căng ra, siết chặt lấy mông, trong khi nó vẫn căng mắt nhìn một lúc lâu, rồi đột nhiên kêu lên, giọng nghèn nghẹn: Trứng cá, hình như trứng cá trích thì phải. - Còn thấy gì nữa nào, thầy Prügel hỏi gặng thêm, và thằng Jobst, mãi một lúc sau mới đáp: Thưa thầy, trứng cá ạ. Nhiều lắm ạ.
Bởi sau đó, nó được về chỗ ngồi, nên chúng tôi dù sao cũng đã biết mình phải nói thế nào để được thầy cho về chỗ. Sau thằng Jobst, đến lượt thằng Heini Bunje giơ mấy ngón tay sưng vù, tím bầm và chắc là nhức lắm, nắm lấy ống kính hiển vi; và, trong lúc nó đang loay hoay, thầy Prügel nói: Tụi đầu óc ngu như bò như chúng bay đừng có mà mơ tưởng đến trứng cá rán, trứng cá xông khói, hay trứng cá muối làm gì cho mất công, đừng có mơ màng đến ăn uống gì cả, mà hãy để tâm đến phép lạ diệu kỳ chứa đựng trong mỗi hạt trứng tí hon đó. Mỗi hạt là một cuộc đời riêng, phải không nào. Vô khối cuộc đời như thế sẽ tàn rất sớm, làm mồi cho những cuộc đời khác. Chỉ những viên trứng nào khỏe nhất, tốt nhất, có sức đề kháng cao nhất, vân vân, mới sống sót để bảo toàn nòi giống mà thôi. Ở đâu cũng thế cả, chỉ trừ lũ chúng bay ra thôi. Các cuộc đời không đáng sống phải suy tàn, để cho những cuộc đời đáng sống hơn tiếp tục sống và tồn tại. Đó là điều thiên nhiên đã định sẵn rồi, ta chỉ có việc cứ thế mà tuân theo.
A, con nòng nọc, thằng Heini Bunje kêu lên, có con nòng nọc bé tí tẹo thầy ạ. - Thôi thì cũng tàm tạm vậy, thầy Prügel gật gù, rồi chữa lại cho nó: Cá con đấy, trước khi nở thì trông nó như con nòng nọc, trò cứ nhìn kỹ mà xem. - Nó chết rồi thầy ạ, thằng Heini Bunje lại kêu lên, còn thầy Prügel tiếp lời nó: Thật hoài của; đấy, các trò thấy tận mắt thiên nhiên thật lãng phí biết bao; ta đã bảo mà, mỗi con cá đẻ ra hàng ngàn, hàng trăm ngàn trứng con con, chỉ nhằm để vài con sống sót và duy trì nòi giống. Chọn lọc, phải không nào, và diễn đi diễn lại là cuộc tranh đấu. Trong cuộc tranh đấu đó, kẻ nào yếu sẽ tiêu vong, kẻ nào mạnh sẽ tồn tại. Ở loài cá là như thế; với con người ta cũng thế thôi. Các trò hãy nhớ, kẻ mạnh sống nhờ kẻ yếu. Mới đầu, ai nấy đều có cơ hội ngang nhau, mỗi hạt trứng nhỏ nhoi đều chứa đựng sự sống như nhau, nhưng sau đó, khi cuộc đấu tranh bắt đầu diễn ra, thì kẻ nào không đáng sống - vâng, nguyên văn lời thầy là như thế - kẻ nào không đáng sống, sẽ bị đào thải.
Sau khi phun ra một loạt các kiến thức loại như thế, thầy vẫy tôi đến chỗ kính hiển vi, tránh sang một bên, rồi nói: Nào, để xem anh bạn Jepsen của ta sẽ phát hiện ra cái gì mới nào, và thầy đến sát bên tôi, lăm lăm thước kẻ trên tay. Tôi chưa kịp cúi người xuống kính hiển vi, thì thầy đã muốn biết ngay: Thế nào? Tôi vội vàng ghé mắt nhìn xuống các mẫu hình nằm rải rác, tạo thành từ những quả cầu tí hon màu xanh xanh nâu nâu trong như thạch, và trong đầu tôi đã định nghĩ ngợi chút ít, nhưng tôi đã thấy thước kẻ thầy Prügel luồn vào đầu gối, trượt qua đầu gối nhưng chưa gây đau đớn gì mà lại leo lên, nằm sẵn phía trên đùi tôi; thế nhưng tôi vẫn không rời mắt khỏi ống kính, chịu đựng cuộc dạo chơi của thước kẻ, để tìm ra một dấu hiệu nào đó của phép lạ diệu kỳ mà thầy hứa hẹn với chúng tôi. Hình như tôi cũng nhìn thấy những cặp mắt nhồi tí teo thì phải, cả những con cá mỏng tanh, gần như trong suốt, lẫn các khúc ruột nối liền giữa lòng trứng với con cá con, nhưng tôi thấy có lẽ chưa đủ. Tôi còn muốn - thật ra tôi cũng không nhớ, lúc đó tôi muốn gì nữa - có lẽ tôi không nói gì, vì tôi khá thất vọng về những gì tôi nhìn thấy dưới kính hiển vi. Không thấy gì à? Thầy Prügel hỏi tôi, thế ra trò không thấy gì phỏng? - Thưa thầy, cá tuyết chấm đen, tôi nói bừa, trông như trứng cá tuyết chấm đen ạ. Thầy rút thước kẻ lại, và gật gù: Đúng là cá tuyết chấm đen thật, nhưng lời thầy nói không còn ai nghe nữa cả, bởi tiếng kêu: Quân Anh! Quân Anh kìa! - vang lên đã khiến cả bọn chúng tôi xô hết đến bên cửa sổ lớp học.
Mà đúng thật, ngoài sân trường lù lù một cỗ xe trinh sát bọc thép phủ đầy bụi bặm, cần ăng ten dài lắc lư, nòng đại bác trông có vẻ hiền lành chĩa thẳng vào khung thành bóng đá sơn trắng, và hai người đàn ông, trông giống như người Anh, trèo từ tháp xe ra; họ đỡ mỗi người một khẩu tiểu liên được chuyền từ trên xe xuống lên tay, nói vọng đôi tiếng vào trong xe, rồi tiến về phía ngôi nhà chính của trường, vừa đi vừa canh chừng bốn phía. Họ mặc quân phục kaki, mang giày ống cao, có dây buộc.
Hai người đi cạnh nhau về phía cửa ra vào, dưới ánh nắng chan hòa, vượt qua cột cờ, và tôi chỉ vừa kịp nghĩ bụng, không biết bao giờ họ mới nhìn lên phía chúng tôi, thì đúng lúc đó, họ nhìn lên, và đứng dừng ngay lại. Họ ra hiệu cho nhau nhìn lên lớp chúng tôi lúc đó đang nhất loạt dán mũi vào cửa kính. Sau đó, hai người bàn bạc gì đó, rồi thúc nhau tiến tới, và biến mất ở lối vào nằm ở tầng dưới. Lẽ ra, chúng tôi sẽ còn đứng cạnh cửa sổ đang rung bần bật lâu thêm nữa, nếu thầy Prügel không quát: xếp thành hàng! Và, bởi các trò xếp hàng không đủ nhanh như thầy muốn, thầy cho thước kẻ múa trên lưng chúng tôi, đập chỗ này, chọc chỗ khác, nhằm lùa chúng tôi ra xa cửa sổ cho bằng được, xếp lại thành hàng kéo từ bục giảng đến lối đi ở giữa lớp; riêng thằng Jobst, Heini Bunje với tôi là được về chỗ ngồi.
Ông thầy này không hỏi, chẳng hạn: Lúc nãy, ta dừng ở đâu?, mà - mặc dù một chiếc xe thiết giáp đang đỗ ngoài sân, và binh sĩ Anh quốc đang ở đâu đó ngay trong trường chúng tôi - ông ta lại nói tỉnh khô: Trò Jepsen nói rất đúng, ta đang thấy ở đây cá tuyết chấm đen. Trứng của loài cá này chính là thức ăn cho nhiều loài cá khác.
Tuy nhiên, ta còn thấy gì trong trứng? Trò Bertram! Thằng Kalle Bertram gạt mái tóc vàng sẫm phủ trên trán sang một bên, rồi cúi gập người nhìn qua kính hiển vi, trong khi cả bọn chúng tôi - tất nhiên, trừ thầy Prügel - đứa nào đứa nấy miệng há hốc để lắng nghe, và bằng mọi cách, không rời mắt khỏi nắm cửa. Không phải có tiếng bước chân à? Giọng ai đấy nói tiếng Anh phải không nhỉ? Không phải, đấy chỉ là tiếng động do thằng Kalle đang đứng trên bục giảng xoạc chân, vì quá hồi hộp mà thôi. Nắm cửa không động đậy à? Có, nó động đậy. Trước khi thằng Kalle Bertram kịp có hứng nói đôi lời về sự kỳ diệu nằm trong trứng cá, thì cánh cửa bật mở ra; thoạt tiên chưa thấy có ai xuất hiện và người ta có thể tưởng khóa bị lỏng khiến cánh cửa tự bật ra thôi; thế nhưng đúng lúc thầy Prügel có lẽ đã định nói to: Jepsen, đóng cửa lại, thì họ bước vào, cả hai đều tóc vàng, cả hai đều mắt sáng, cả hai má đều ửng đỏ.
Họ bước đến giữa lối đi sát tường, quay về phía chúng tôi, và chăm chú nhìn cả đám chúng tôi, như thể họ đang muốn tìm xem ở đây có ai họ từng quen biết từ xưa không vậy. Một lát sau, một người trong bọn họ nói: Không chiến tranh! Chiến tranh hết! Về nhà. Tôi còn nhớ, chúng tôi chỉ giương mắt nhìn họ, trong khi họ, ngược lại, chăm chú nhìn chúng tôi với vẻ dò xét, nhưng chỉ thoáng qua thôi, sau đó - chúng tôi nhận ra ngay - họ muốn đi về phía cái bảng, leo lên bục giảng. Một người cầm miếng bọt biển lau bảng lên tay, bóp mạnh, rồi ném nó trở lại vào hộp đựng; người kia chỉ quay qua quay lại trên bục giảng một lúc, rồi giơ tay ra hiệu yêu cầu thầy Prügel ngồi xuống. Thầy Prügel không ngồi, nhưng anh lính người Anh cũng chẳng buồn để ý xem ông thầy chúng tôi có tuân lệnh anh ta hay không, có lẽ, vì anh vừa phát hiện ra cái kính hiển vi. Anh ta bước đến gần, ngước mắt nhìn về phía chúng tôi với vẻ ngờ vực, rồi lại cúi mặt, lấy tư thế, và với vẻ ghê ghê - vâng, tôi phải nói thế - anh ta tỏ vẻ ghê ghê kinh kinh đưa tay ra hiệu gọi người kia lại gần. Anh này bước hai bước đến sát bên cạnh, vẻ dò hỏi, còn anh kia lấy tay chỉ vào kính hiển vi. Anh lính thứ hai cũng ghé mắt nhìn vào ống kính hiển vi, và đột nhiên, như thể anh ta đang nhìn thấy nàng tiên cá lột xác hay một loại bồ nông đã tuyệt giống nào đấy - hay nói cách khác - như thể anh ta vừa phát hiện ra cái gì đó, mà cả lũ chúng tôi, kể cả ông thầy dạy môn sinh vật Prügel, đều bỏ sót; anh ta dán mắt vào ống kính nhìn rất lâu. Anh ta đang quan sát cái gì thế nhỉ? Anh ta phát hiện cái gì ở đám trứng cá ấy mới được chứ?
Mãi đến lúc đồng đội anh ta gõ gõ vào gáy, anh ta mới buông kính hiển vi, và hai người gật gù, như thể nói với nhau, thôi, bọn ta xem thế đủ rồi. Họ theo nhau, đi men theo các cánh cửa sổ ra cuối lớp, chỗ dựng cái tủ đựng chim thú nhồi của lớp chúng tôi, một cái tủ có hai cửa kính chưa thấy mở ra bao giờ. Một chiếc chìa khóa của cái tủ này đã lọt vào bộ sưu tập chìa khóa của tôi từ lâu. Để nhìn cho rõ, hai người ghé sát mặt đến bên cửa kính. Các con thú nhồi đặt bên trong tủ đều nhe răng nhăn nhở chào họ. Con chim lặn há mỏ, con chim cuốc, lẫn con chồn đang vờn gốc cây đều nhăn nhở, rồi đến con thỏ nhồi bông, con quạ, lẫn cái đầu con cá chó trông như được bọc da, đến cả mấy con thằn lằn rắn ngâm trong lọ thủy tinh - dù cuộn tròn trong nhiều tư thế kỳ quặc - cũng nhăn nhở nhìn họ nốt. Hai anh chàng người Anh nọ lặng lẽ quan sát các hiện vật, thậm chí còn ngồi xổm xuống quan sát bộ xương hải cẩu dưới đáy tủ, một anh còn định mở tủ. Nhưng rốt cuộc, họ gật đầu với nhau rồi đi ra cửa; cả bọn chúng tôi đã tưởng họ sẽ không nói gì thêm để tạm biệt, thế nhưng, ra đến cửa, cả hai đều đứng dừng lại, quay người nhìn chúng tôi lần nữa, trước khi một người lại cất tiếng nói: Hết chiến tranh rồi. Nói xong, cả hai liền bỏ đi.
Còn thầy Prügel thì thế nào? Không lẽ thầy quên chúng tôi rồi? Quên cả kính hiển vi lẫn phép lạ trong trứng cá hay sao? Tại sao thước kẻ của thầy không vung lên bắt chúng tôi giữ kỷ luật nữa? Tại sao thầy để mặc cho một số nhảy bổ đến bên cửa sổ và dán mặt vào kính nhìn ra ngoài? Tôi còn nhớ hình ảnh thầy bóp nát viên phấn trong tay. Tôi cũng còn nhớ như in đôi môi thầy méo xệch, cũng như đầu thầy ngửa ra sau, đôi mắt nhắm nghiền, hơi thở ngắn và dồn dập, và tôi cũng nhớ gương mặt nhợt nhạt và tê cứng của thầy; phải, lúc đó trông thầy chợt giống một lực sĩ hoàn toàn kiệt sức. Tuyệt vọng, hoang mang và uất ức. Toàn thân thầy trông như muốn rũ ra, tiếng thầy thở nghe hổn hển. Vâng, tôi còn nhớ thầy lảo đảo tiến tới bên bục giảng ra sao, khó nhọc leo lên, rồi như thể may mắn vớ được cái ghế để buông người ngồi xuống, và cả lớp đều chứng kiến cảnh tượng thầy lấy tay ôm lấy mặt một lúc khá lâu, trước khi vừa thở phì phò, vừa xoa hai bàn tay lên mặt, xoa từ từ, thận trọng, như thể thầy muốn miết sao cho bong lớp da trên mặt thầy ra vậy. Cả cái giây khắc ấy tôi cũng còn nhớ, giây khắc thầy chống hai tay xuống mặt bàn, như thể chống lại một sức nặng ghê gớm nào đang trĩu xuống, để đứng dậy, đóng nắp hai hộp thiếc lại, rồi nhún vai, từ từ ngước mắt nhìn chúng tôi và rõ ràng muốn nói cái gì đó, nhưng không cất nổi thành lời. Vâng, thầy Prügel, thầy giáo bộ môn sinh vật của chúng tôi đấy!
Rốt cuộc, rồi thầy cũng thốt lên được đôi lời: Các trò đi về đi. Và, trong lúc cả bọn chúng tôi hối hả thu xếp sách vở, thì chính thầy lại có vẻ không muốn rời khỏi lớp; thầy vẫn đứng nguyên một chỗ bên kính hiển vi, do dự, hoang mang và bối rối; thầy lẳng lặng để chúng tôi ra khỏi lớp và cũng chẳng buồn chào đáp lại chúng tôi. Vâng, tôi nhìn thấy thầy Prügel lần cuối cùng như thế.
Sau khi thầy cho chúng tôi tan học, thì hành lang cùng cầu thang dẫn xuống tầng dưới rơi ngay vào cảnh hỗn độn, cả lũ chúng tôi nhảy tâng tâng, lăn lông lốc, chen nhau ra ngoài sân, nhưng sân trường đã vắng lặng, chiếc xe thiết giáp đã leo lên con đường rải nhựa, và chạy tiếp về hướng Bắc. Cả tụi chúng nó chạy dồn ra phố trông theo chiếc xe thiết giáp đang rời xa; vâng, chúng nó vẫn đứng túm tụm với nhau, trong khi tôi đã băng lên lối đi lát gạch, khiến thằng Jobst với thằng Heini Bunje có muốn cũng chẳng đuổi kịp. Song, hôm nay hai thằng ấy hình như cũng không để tâm đến tôi nữa. Tôi vượt lên trước chúng nó mỗi lúc một xa, và tôi cũng chẳng buồn nằm xuống bờ mương để nấp nữa, khi mấy chiếc phi cơ hạng nhẹ vút qua bờ đê; bóng chúng bay ngang qua ngay trên đầu tôi, cánh quạt máy bay sáng loáng, trông như lưỡi máy cưa đang cưa nghiến vào khoảng không trong xanh của một ngày tươi sáng. Ở quê tôi, chỉ vào mùa xuân mới thấy những ngày như thế: trong xanh, chỉ lác đác đôi đám mây treo lơ lửng - những ngày nắng gắt, những ngày gió Đông-Bắc cháy bỏng trên da thịt.
Cánh cửa vào nhà tôi mở toang. Xe đạp ông Hinnerk Timmsen dựa vào tường cạnh bậc thang dẫn lên nhà. Bố tôi đang nói chuyện điện thoại trong văn phòng, hét rất to, khiến tôi còn tận ngoài kho cũng nghe thấy. Báo cáo, đã nhận vũ khí rồi ạ! Báo cáo, tất cả đều đầy đủ ạ! Báo cáo, vâng, mọi người đã được thông báo ạ!
Tôi rảo bước, nhanh chân về nhà. Lại nghe tiếng bố tôi: Bảo vệ đoạn đường! Rõ! Lát sau, bố tôi lại hét tiếp: Xin tuân lệnh!
Tôi vượt nhanh qua bậc thềm, xộc vào hành lang.
Đeo băng tay, rõ! - bố tôi lại hét to; hẳn bố tôi nói đến số băng đeo tay, mà đứng từ ngoài hành lang tôi đã nhìn thấy đang nằm trên nóc chạn kê trong bếp nhà tôi. Ông Hinnerk Timmsen đứng trước cái bàn trong bếp; nhìn thấy tôi, ông ta nói: Bắt đầu rồi đấy. Rồi, như để giải thích thêm cho tôi rõ, ông chỉ vào đống vũ khí đang nằm đầy ra đó: lựu đạn trong các thùng đựng mới toanh, đôi khẩu bazoka chống tăng, dăm khẩu cacbin cùng đạn dược. Tôi hỏi ông, ai đem bấy nhiêu thứ này vào bếp nhà tôi, thì ông ấy lại đáp: Chẳng ma nào, Siggi ạ, chẳng ma nào nghĩ có ngày lại đến lượt bọn ta phải ra tay đâu. - Đem từ Husum về đây ạ? - tôi lại hỏi, nhưng ông vẫn không đáp, nhấc một khẩu bazoka lên, dựng kính ngắm, chĩa súng vào chiếc đồng hồ báo thức nhà tôi; sau đó, ông ta lại chĩa súng nhằm vào mấy cái thùng đựng gạo, bột mì, bột báng như chĩa vào kẻ địch và tiêu diệt chúng, mà không hề gây một tiếng động nào. Ông ta quay sang xem xét mấy khẩu cacbin, lướt đọc các dòng chữ khắc trên thân súng và phát hiện ra đây là chiến lợi phẩm thu được của quân Ý. Chỉ nghe thế thôi là đã thấy không đáng tin cậy rồi. Ông ta xếp mấy quả lựu đạn xuống gậm bàn, rồi loay hoay đếm số đạn cho đến khi bố tôi bước vào: Được khoảng sáu trăm viên cả thảy, ông ạ.
Mọi người đã lên đường rồi, bố tôi nói. Trên cũng giao địa điểm cho ta rồi. Ta phải cố thủ bảo vệ đoạn đường ở đây. - Ông với tôi thôi à? - Còn các ông Kohlschmidt và Nansen nữa, sẽ đến nhập bọn. - Sao, cả ông Nansen nữa à? - Phải, toàn thể dân quân ở đây sẽ ra vị trí chiến đấu.
Thế là ông Hinnerk quay sang loay hoay đeo băng lên cánh tay áo vét tông màu vàng nghệ; ông không tỏ ra cẩu thả hay bất cần chút nào, mà tận tụy đến mức phát ngượng, hết kéo băng đeo tay lên, lại lôi nó xuống, và đến lúc ông ta rốt cuộc vừa ý rồi, tôi mới dùng hai kim găm đính chặt cái băng đeo vào tay áo cho ông, để chứng minh với thiên hạ, từ nay ông cũng là lính ra trận. Người đàn ông to béo, nặng nề và dày dạn kinh nghiệm trong nhiều nghề nghiệp khác nhau này chưa chịu thôi, vẫn còn nhìn qua gương, ngắm nghía và kiểm tra lại băng đeo tay lần nữa, xem nó đã nằm ngay ngắn đúng chỗ ông mong muốn chưa, rồi mới quay sang cùng bố tôi chia súng ống, đạn dược thành bốn phần; trong lúc làm, chốc chốc ông lại hớp một hớp nước trà chị Hilke rót cho tự lúc nào. Trà có vẻ không hợp khẩu vị của ông lắm. Nghe tôi kể lại chuyện chiếc xe thiết giáp chạy nhầm vào sân trường, ông Hinnerk Timmsen lập tức vác một khẩu bazoka chống tăng ra trước cửa nhà nghe ngóng động tĩnh, nhưng lại quay lại ngay và đưa tay ra với vẻ vỗ về. Yên ổn cả, ông nói rồi ngồi xuống cạnh bố tôi. Hai ông ngồi chờ. Không ai nói gì. Mà cũng chẳng có gì nhiều để nói, bởi mọi sự đã thu xếp xong hết rồi, cũng không còn chuyện gì hai người phải nói với nhau nữa; riêng đơn tố giác ông Timmsen nghe đài địch, thì sau một buổi đối chất có mặt viên cảnh sát Rugbüll, ông kiểm đê Bultojohann cũng tự rút đơn lại rồi. Tôi đứng sát bên cửa sổ trông ra bãi cỏ, để xem rồi ai sẽ đến trước tiên. Vâng, dân quân quê tôi đang chuẩn bị dàn trận.
Bác họa sĩ đến trước; tôi nhìn thấy bác đi ngang qua bãi cỏ, áo choàng dài, màu xanh, đầu đội mũ dạ, hai tay đút túi. Bác Nansen đang đến đấy ạ, tôi nói to, còn bố tôi chỉ nói: Cũng đến giờ rồi đấy.
Tại sao hả ông, ông Timmsen hạ giọng hỏi, sao ông nhất định đòi ông ấy phải đến đây cho bằng được hả, ông Jens? Đúng vào lúc có lẽ mọi sự sẽ được quyết định như lúc này? - Thì chính vì thế, bố tôi đáp, chính lúc mọi sự được quyết định như thế này mà tôi muốn ông ấy ở gần tôi. Như thế chắc ăn hơn, ông cứ tin tôi.
Ông đừng có mà bảo, ông tin cậy ông ấy nhá. - Thì chính là vì thế, bố tôi đáp, nếu tin cậy ông ấy, tôi đã chả cần kéo ông đến đây với tôi làm gì; nói rồi, ông đứng dậy, nhìn qua cửa sổ về phía bác họa sĩ. Hóa ra bác ấy không đi một mình và cũng không phải là người đến trước như tôi tưởng; bác dừng lại dưới tấm biển “Chốt cảnh sát Rugbüll” và nhìn về hướng ấp Söllring, vẫy vẫy tay, dừng lại chờ một lúc, trước khi bước mấy bước về phía ông canh chim Kohlschmidt. Hai ông bắt tay nhau, hỏi thăm nhau qua loa mấy câu. Ông Kohlschmidt vừa nói vừa dang tay, như đang muốn thuyết phục, hay ít ra cũng muốn ông họa sĩ đồng tình với ông về một việc gì đó. Nhưng bác họa sĩ có vẻ không dứt khoát; vừa lắng nghe, bác vừa nắm tay ông Kohlschmidt kéo về phía nhà tôi, lát sau cả hai ông leo lên bậc thềm.
Chưa kịp nghe thấy tiếng bước chân hai ông ngoài hành lang đâu, viên cảnh sát Rugbüll đã chuẩn bị đón hai người, hay tôi cứ nói toạc ra là, bố tôi lấy thế đón hai ông. Ông đứng ra giữa bếp, vươn thẳng người, hai chân hơi giạng, vững chãi, có vẻ thoải mái, nhưng không quá lỏng lẻo, trong tư thế đó, ông muốn nhấn mạnh quyền hành của mình, quyền của người lâu nay vẫn giữ chân huấn luyện dân quân và bây giờ, giữ quyền chỉ huy nhóm người gọi là đội dân quân này. Thấy ông Timmsen định quấn thuốc hút, ông nghiêm mặt nói: Không hút thuốc ở đây!
Vâng, ông đứng chờ hai ông kia trong tư thế mà ông cho là hợp lý nhất ở giây khắc này, và ông cũng đáp lại lời chào hai ông theo một kiểu không người nào phải phân vân, xem ai phải chào ai trước. Ông bảo hai người đến ngồi trên ghế băng. Ông nói: Hai ông ngồi xuống cạnh ông Hinnerk kia. Đến khi họ ngồi xuống rồi, ông mới bớt nghiêm nghị, tiến tới đứng bên bàn và đặt tay lên thân một khẩu súng chiến lợi phẩm Ý. Ông vuốt ve khẩu súng, khiến cả mấy người đều im lặng, ngước mắt nhìn ông với vẻ chờ đợi. Thế nhưng, ông không phải là người cất tiếng trước. Cất tiếng trước lại là ông canh chim Kohlschmidt, một người xanh xao vì mắc bệnh thiếu máu; ông len ra trước, nói rành rọt: Trò khỉ gió, trò ta đang định làm đây đúng là trò khỉ gió, các ông ạ. Quân họ đã đến bờ sông Elbe rồi, họ đã chiếm cả Lauenburg, thậm chí còn vào đến Rendburg, không khéo quân xung kích của họ đến đây rồi cũng nên. Các nơi người ta đầu hàng hết rồi, chỉ có ta ở đây, ta lại định chống cự. Các ông định chặn họ bằng mấy cái kẹp hạt dẻ này chắc? Hay dùng kéo cắt tôn? Giá việc này có một tí ý nghĩa gì kia; nhưng nào còn ý nghĩa gì nữa đâu, hả các ông? Chỉ là trò thối thôi, các ông ạ!
Ông Kohlschmidt lại ngồi xuống, vẫn chưa hết xúc động, rồi ông lục lọi, lôi cái tẩu thuốc ngắn ngủn, dán chi chít băng keo màu đen từ trong túi áo ngực ra, đưa lên mồm. Không hút thuốc ở đây, ông nhá, bố tôi nói, rồi định tìm lời đáp lại ông kia. Song, ông Hinnerk Timmsen nhanh miệng hơn. Ông chủ quán Wattblick, con người dù nhiều ý tưởng làm ăn nhưng chẳng bao giờ thành đạt ấy, lại cho việc chiến đấu ở lúc chót này không phải không có ý nghĩa gì; chính lúc này ta cần tiếp tục chiến đấu, ta càng có nghĩa vụ phải chiến đấu, các ông ạ, bởi vì khi mọi sự thuận buồm xuôi gió, thì ai mà chả bạo mồm bạo miệng được; thế nhưng, theo như ông ta, điều ta cần phải làm là cho người ta thấy mình cũng kiên cường ngay cả khi hy vọng thành công còn lại rất mỏng manh; vả lại, cá nhân ông ta chưa bao giờ chịu bó tay đầu hàng trước bất cứ việc gì. Mà ai bảo mọi sự đều hỏng bét hết rồi nào? Gì thì gì, ta vẫn có thể nêu một tấm gương, có thể bắt kẻ địch phải nể nang mình, bằng một trận chống cự mạnh mẽ và bất ngờ; không cần lâu, nhưng chống trả chút đỉnh thì ta vẫn nên chống.
Bởi hai ông này bỗng dưng chẳng khảo mà xưng họ đang nghĩ gì như thế, bố tôi lặng im, và nhìn ông Max Ludwig Nansen theo một lối mà ông này hẳn phải hiểu, bây giờ đến lượt ông xưng nốt xem ông đang nghĩ gì đi chứ. Bác họa sĩ không chần chừ, nói luôn: Việc gì mà ngồi nhà? Ta ra ngoài đường chờ họ cũng được. Bác không nói gì thêm, ngay cả khi bố tôi gặng hỏi bác, xem bác nói thế nghĩa là thế nào, bác vẫn không thêm không bớt câu nào nữa. Thế còn viên cảnh sát Rugbüll thì sao? Dĩ nhiên ông cũng phải nói cái gì đó, bởi vì mọi chuyện - không phải tất cả, thì cũng khá nhiều chuyện - bây giờ đều phụ thuộc vào ông. Nhưng ông không vội vàng, hình như ông muốn lọc lựa cái hay cái dở trong những điều ông sắp nói ra, cân nhắc, so sánh xem hay dở nhiều ít thế nào. Mãi một lúc lâu, sau khi ông nghĩ ngợi chán chê rồi, ông mới nói, trên đã ban lệnh xuống, và lệnh không phải lệnh suông, mà lệnh ban xuống cho chúng ta thi hành, thi hành thật sự; và, lệnh lần này là: Cố thủ, bảo vệ đoạn đường chạy qua đây. Bởi vậy, bố tôi nói, ngay bây giờ chúng ta sẽ đảm nhận việc cố thủ và bảo vệ đoạn đường này, cho nên ai chưa đeo băng đeo tay thì phải đeo lên ngay, rồi ta sẽ ra chiếm lĩnh trận địa.
Với những lời lẽ như thế, đội dân quân quê tôi ra chiếm lĩnh trận địa. Và, bởi vì bác họa sĩ và bố tôi sẽ cùng nhau bảo vệ một đoạn đường chạy qua quê tôi - một đoạn đường tuy khuất nẻo và, tất nhiên, chẳng có ý nghĩa quan trọng sống còn nào thật, nhưng thỉnh thoảng vẫn có xe cộ qua lại - cho nên trong đầu tôi, không cưỡng được, tức khắc hiện ra bức tranh về một cái hố ẩm ướt, đào sâu ngang ngực, đủ rộng để chứa bốn người đàn ông - đúng thế - bờ phía Nam là bức tường thành bằng đất dựng lên chắn đạn, hay chắn đạn lúc ban đầu, bởi vì lúc sau, sau nhiều đợt tấn công bất thành, ở phía trước đã mọc lên một bức tường khác gồm các thân hình bất động, các cánh tay cứng nhắc giơ lên trời, và xa hơn nữa về phía sau là vô số xe tăng xích bị đứt tung, tháp xe bục vỡ, nằm rải rác trên bãi cỏ, một số còn bốc khói nghi ngút và, do đó, che khuất các mảnh vỡ ít ỏi đến kinh ngạc của những chiếc máy bay bị bắn rơi, cắm đầu xuống lớp đất mềm chứa nhiều than bùn sâu đến tận khoang người lái; tôi cũng thấy tôi trong vai người tiếp tế, đạn dược, thức ăn, nước uống, và giống như những người kia, đầu tôi cũng quấn băng trắng mới tinh, có lẽ do chị Hilke tự tay băng bó cho tôi. Vâng, các hình ảnh trong tưởng tượng mà lại! Các hình ảnh tưởng tượng, nảy ra trong đầu tôi từ một trò chơi khác, của các chiến binh da đỏ!
Các hình ảnh như thế càng không tan khỏi đầu óc tôi, khi tôi thấy các vị dân quân gắn băng đeo tay, chia nhau vũ khí, đạn dược và bàn bạc chọn nơi họ sẽ đào công sự để cố thủ và chặn đường tiến của các loại xe tăng, xe thiết giáp nặng nhẹ của quân Anh. Họ chọn một địa điểm nằm ngay dưới chân cối xay gió - vâng, ngay chân cối xay gió của tôi; vì từ trên ngọn đồi nhân tạo, nơi các vị toan tính đào đắp công sự này, các vị có thể nhìn bao quát một khoảng không gian lớn, bao gọn cả đoạn đường kéo đến quốc lộ Husum; đã thế, từ đây họ còn có thể bảo vệ luôn cả cửa cống cũ; vả lại, cánh đồng nhà ông Holmsen cũng đủ rộng để chứa cả xe tăng lẫn máy bay sẽ bị bắn hạ. Bàn tính xong, cả bốn ông, ai nấy đều quàng súng cacbin lên cổ, đeo súng chống tăng lên vai, khênh mấy thùng đựng đạn và lựu đạn lên tay, và theo thói quen, cất bước ì ạch, chân đã hơi khuỵu xuống vì mang nặng, đi qua bếp ra lối đi lát gạch. Tôi lon ton chạy theo, trong khi chị Hilke từ phòng chị, và mẹ tôi - từ phòng ngủ của bà - đứng nhìn theo, một cách thật hết đỗi thờ ơ. Bởi những người khác đều mang vác nặng, vướng chân, vướng tay, nên không ai vẫy tay chào hai người được, cho nên tôi bèn vẫy thay cho các vị; chị Hilke đáp lại tôi bằng cử chỉ dọa dẫm, rồi mày cứ liệu hồn, còn mẹ tôi thì chẳng buồn đáp. Vâng, đội dân quân chúng tôi ra chiếm lĩnh trận địa như vậy đó.
Không xa cối xay gió là bao - sau khi tôi vác hai cái xẻng đến cho họ - các vị bắt tay đào xới trận địa; mới đầu, họ đào một cái hố, sâu ngang ngực, nhưng chưa gặp nước ngầm - ở quê tôi, chỉ như thế thôi, đã là chuyện đáng kể lắm rồi - sau đó, họ khoét vào thành hố một loạt các hốc hình ống nằm đâm ngang chứa đạn dược và lựu đạn; một số khẩu chống tăng đã nằm lọt vào trong những hốc như thế. Quan sát bốn vị dân quân chuẩn bị dàn trận kể cũng thú vị. Ông Hinnerk Timmsen suốt buổi huýt sáo khe khẽ, miệng lúc nào cũng sẵn sàng nở cho người khác một nụ cười khích lệ; ông canh chim Kohlschmidt bực bội ra mặt, và trong lúc đào bới luôn mồm chửi rủa, bằng những lời chửi không phải là không vui tai; ông Max Ludwig Nansen - mặt lạnh như tiền và tập trung cao độ - ra tay làm tất cả những gì bố tôi bảo ông làm, và ông có vẻ như chỉ còn dùng tay ra hiệu, chứ không muốn mở miệng nói gì nữa. Vâng, sau rốt là viên cảnh sát Rugbüll, người mà ai đứng ngoài cuộc đều nhận ra ngay là nhân vật cầm đầu ở đây, thông qua các cử chỉ thận trọng, có tính toán và cân nhắc của ông, lúc ông chỉ huy mọi người đắp công sự, cũng như lúc ông xem xét, kiểm tra đi kiểm tra lại tầm hỏa lực; quả thật, bố tôi dường như bị thu hút hoàn toàn vào việc củng cố và ngụy trang cho công sự trước cối xay gió vậy.
Vâng, trong vòng ba, hay cùng lắm, bốn tiếng đồng hồ gì đó - bất chấp tính khí trái ngược nhau - bốn ông cũng đào đắp được một công sự ngụy trang kín đáo, chiếm lĩnh đoạn đường và dễ dàng phòng thủ ở ba mặt - công sự này chỉ hở ở hướng đâm ra Biển Bắc, nhưng ai nấy đều có thể vững tâm, bởi từ phía này, khó có cuộc đổ bộ nào xảy ra được. Còn từ trên không? Sau khi các mặt lũy thâm thấp được phủ kín cỏ, thì từ trên không nhìn xuống, có lẽ, ai đó sẽ tưởng đây là một đống phân bò khá lớn và hiền lành nằm khuất sau bóng của cối xay gió mà thôi. Sau khi xem xét, kiểm tra lại mọi thứ từ mặt ngoài, các vị dân quân, người này đỡ người kia, thay nhau tụt xuống công sự, đặt súng cacbin và ba khẩu chống tăng lên bờ công sự, và ai nấy thu người, hồi hộp quan sát đoạn đường trải từ đây đến quốc lộ Husum.
Đã hai lần các ông đuổi tôi về nhà, thì cũng hai lần tôi quay lại; song đến lần thứ ba, lúc bố tôi lên tiếng, nhỏ nhẹ và điềm tĩnh một cách đáng ngờ, bảo tôi phải về nhà ngay, thì tôi cũng hiểu cái gì sẽ chờ đợi tôi, nếu tôi liều quay lại đây lần thứ ba nữa, bởi vậy, tôi bèn ngoan ngoãn ra vẻ đi về phía bờ đê - vừa đi vừa quất gục mấy cây hoa dại - nhưng, nhân lúc các vị dân quân không để ý, tôi quay ngoắt một vòng, lẻn trở lại cối xay gió, trèo lên chỗ nấp của tôi dưới mái vòm và kéo cầu thang lên để không ai theo được tôi nữa.
Đã có động tĩnh gì chưa nhỉ? Từ nãy đến giờ, tôi đã bỏ lỡ những gì rồi? Tôi kéo mấy tấm bìa che cửa sổ sang một bên, thả người nằm xuống ổ rơm, rồi đưa mắt, mới đầu ngó xuống chỗ công sự ở dưới, và thấy đội dân quân vẫn đầy đủ quân số; sau đó tôi nhìn ra xa, phía quốc lộ Husum rải nhựa. Ở phía đó, tôi trông thấy một chiếc xe đẩy chất nặng hàng, bám xung quanh xe - như thể để bảo vệ nó - là một nhóm năm sáu người; họ vừa đẩy, vừa kéo cho chiếc xe lăn tới. Không thấy chiếc xe tăng hạng nặng nào. Cũng không một bóng xe bánh hơi bọc thép nào. Cả phía Glüserup cũng không thấy động tĩnh gì; để đề phòng, tôi đảo mắt nhìn một lượt ra ngoài biển. Biển Bắc yên ắng, vắng lặng đến tận chân trời. Không thấy chiếc phi cơ nào tưởng sân trường là bãi đậu xe. Phía nghĩa địa Riepen cũng hoàn toàn yên ắng. Vâng, có độc một chiếc xe đẩy, chiếc xe không đáng làm mục tiêu cho bốn dân quân đang nằm phục sẵn dưới kia, không đáng để họ làm ầm ĩ to chuyện lên.
Hồi ấy tôi đã lấy làm lạ, tại sao đội dân quân quê tôi không tính đến chuyện cử người trèo lên cối xay gió làm chân quan sát; nhưng thôi, vì họ quên, không tính đến một chuyện như thế, thì tuy chẳng ai bảo và cũng không ai cho phép, tôi tự nhận mình làm người canh chừng cho họ vậy; vâng, dù không được phép, người ta vẫn làm việc gì đó có ích chứ, và - bất chấp mọi hiểm nguy - lẽ ra tôi đã sẵn sàng hét to báo cho đội dân quân biết các chi tiết về một chiếc xe tăng hạng nặng hay một chiếc xe bánh hơi bọc thép nào đó đang tiến đến gần rồi đấy; thế nhưng, cả phía trước lẫn tít đằng xa, đều tuyệt nhiên không thấy có động tĩnh gì. Thật khó hiểu, tại sao lại yên ắng như thế, nhưng quả là không xuất hiện cái gì đáng để đội dân quân phải nâng súng bắn hạ cả. Đường chân trời hoàn toàn vắng lặng. Hình như các vị dân quân ở phía dưới cũng nghĩ như tôi thì phải, cho nên sau nửa tiếng căng thẳng trong tư thế sẵn sàng nổ súng nhưng vô ích như thế, họ bàn bạc và có vẻ nhất trí với nhau, rằng chân trời vắng lặng kia chẳng cần đến bốn người cùng gác một lúc, tốt nhất là chia nhau thành hai nhóm nhỏ; hai người canh chừng phía đường chân trời, còn hai người kia - tôi cứ gọi tạm là thủy thủ ngoài phiên trực - ngồi bệt xuống nền công sự, ngủ gà ngủ gật lấy sức. Tôi biết ngay là bố tôi cùng bác họa sĩ sẽ cùng một nhóm, nhóm kia là của các ông Timmsen và ông canh chim. Họ ngồi chờ: Ngồi chờ, đặt các khẩu cacbin và súng chống tăng trước mặt. Giá mà các bụi cây khum khum từ phía Söllring đột nhiên di chuyển về phía chúng tôi, thì tôi đã lên tiếng báo động ngay rồi. Thế nhưng, các bụi cây ấy nào có nhúc nhích gì đâu. Hay, giá như hàng cây sơn trà ở Riepen đột nhiên đổ xuống kia. Hoặc giá có loài thú lạ nào đó đội cành bạch dương đang xông về phía chúng tôi! Nhưng chẳng có gì; chúng tôi chỉ ngồi chờ. Tôi chả có việc gì để làm, và để cho đỡ chán, tôi xoay ra vun góp các mẩu mát tít vụn và khô cứng, cùng các mảnh kính vỡ nát nằm rải rác xung quanh. Được cả một vốc tướng; tôi bèn thả một mẩu mát tít từ chỗ tôi nấp trên cao xuống công sự của các vị dân quân, gọi là để thử xem sao thôi, không dè nó rơi đúng gáy ông Hinnerk Timmsen. Ông này giật mình, tuy chưa tin mình trúng đạn quân địch, nhưng lại tưởng ông Kohlschmidt cấu mình, liền thúc một cái thật mạnh vào sườn ông láng giềng ngơ ngơ ngác ngác không hiểu đầu đuôi thế nào, khiến ông này suýt ngã hẳn sang một bên. Tiếng hai ông vặc nhau vọng lên tận chỗ tôi nấp, mãi đến lúc bố tôi phải dàn hòa, có lẽ bằng cách nhắc hai ông về tình huống nghiêm trọng lúc này, họ mới chịu thôi; bây giờ hai ông đã lại mời nhau thuốc hút rồi.
Tôi thò nắm tay ra ngoài, mở ra, rồi thụt ngay vào, và nhìn theo các mảnh thủy tinh - tuân theo đúng định luật rơi của vật lý, lại còn lấp lánh nữa chứ, rơi xuống công sự, và - mặc dù tôi không cố ý chút nào - lọt ngay vào hộp thuốc lá rời ông Timmsen vừa mở ra cho ông Kohlschmidt lấy thuốc nhồi tẩu. Ông canh chim ngạc nhiên lấy mảnh thủy tinh ra, ngây người nhìn nó - giống như người ta nhìn một mẩu thiên thạch vừa rơi xuống - rồi đưa lên mắt, như đưa kính một mắt lên nhìn đám mây treo gần như bất động trên trời; sau đó ông chuyền nó sang tay ông Hinnerk; ông này lắc lắc đầu, ném mẩu kính ra khỏi công sự.
Tôi đã định thả hẳn một vốc vụn mát tít và thủy tinh xuống đầu các vị dân quân, xuống cả đầu bố tôi xem sao, nhưng tôi không kịp thực hiện ý định tinh nghịch ấy nữa, bởi vì phía xa, chợt có bóng người đang di chuyển.
Ai đó vừa nhảy qua cống, đi dọc con mương, rồi quay ngoắt và đi thẳng về phía công sự mà có vẻ không hay biết gì. Hóa ra là chị Hilke. Nhưng chị không hay biết gì ư? Chị mang theo một cái giỏ và một cái can đựng nước, cái giỏ bên tay phải, can nước bên tay trái, leo lên lối đi cây cỏ mọc rậm rạp dẫn đến cối xay gió, sau đó lên mô đất phủ cỏ xanh trước công sự. Phải tay tôi, tôi đã tiếp tế bữa ăn sớm hơn cho dân quân rồi, nhưng chị Hilke mãi giờ mới đến, chuyền giỏ đựng thức ăn và can nước xuống cho các vị dân quân; chị định trèo xuống công sự, nhưng bố tôi ngăn lại, chị đành ngồi lại trên thanh xà ngang đã mục và nhìn các vị ăn uống. Họ xơi bánh mì kẹp, uống trà; viên cảnh sát Rugbüll còn muốn biết xem bánh kẹp những gì, cho nên trước khi ăn, ông còn mở bánh mì ra xem xét rồi mới bắt đầu ăn, với vẻ không hứng thú lắm. Ông Hinnerk Timmsen ra hiệu gọi chị tôi xuống dưới công sự, nhưng chị tôi mỉm cười và phẩy tay từ chối; chị tôi có vẻ đoán được ông ta muốn gì. Bác họa sĩ không ăn, chỉ uống trà và hút thuốc, lưng dựa vào thành công sự, tư lự, trầm ngâm; ông Kohlschmidt ngồi ăn, miệng vừa nhai, vừa thỉnh thoảng lại càu nhàu bực bội về những trò người ta đòi ông phải làm ở đây. Suốt bữa ăn, chỉ còn duy nhất một người vẫn còn để mắt đến đường chân trời, người đó là bố tôi.
Tôi không thể ngồi yên một chỗ xem họ ăn uống được. Tôi phải xuống với họ thôi. Nghĩ vậy, tôi tụt xuống và bất ngờ xuất hiện, làm chị tôi giật bắn cả mình, phù phù thổi luôn ba lần giải hạn. Còn ông chủ quán Timmsen nói to: Các ông xem thằng nhóc ghê không này, cứ có gì ăn là nó thò mặt ra ngay. À, mà mày ở đâu ra thế? - Cháu ở đằng kia, tôi đáp, quay đầu chỉ về hướng con đê. - Mày có cánh chắc? - Vâng! Họ đưa trà cho tôi uống bằng nắp can; tôi được ăn miếng bánh kẹp của bác họa sĩ; tôi cũng chén ngon lành miếng bánh phết patê bác canh chim không ăn hết. Bố tôi để mặc tôi ngồi ăn chung với các bác dân quân, và hóng chuyện họ nói với nhau. Vâng, các bác dân quân bàn tán về một thứ xe tăng mà, nếu muốn diệt được nó, phải để nó đến thật gần, rồi bắn vào chỗ thép mềm ở cạnh ống xả; họ bàn với nhau về đêm nay, về sương mù cùng cái lạnh của đêm mùa xuân; họ cũng bàn đến đèn pin và cách dùng sao cho tiết kiệm pin. Chỉ có bác họa sĩ là không nói gì; bác tự động nhận phần canh gác, còn ba người kia ngồi bệt xuống nền công sự và suy tính xem họ còn thiếu gì nữa không. À, còn thiếu bộ bài. Không ai có bộ bài nào ở đây à? Ông Timmsen có một bộ bài cũ mèm trong túi áo khoác, bộ bài nằm trong số “dụng cụ” ông ta vẫn dùng để trộ khách ăn quán nhà ông. Đây, bài đây, ai chia bài nào?
Bác họa sĩ đứng canh chừng phía đường chân trời. Sau lưng ông, mấy ông kia chia bài chơi skat, mới đầu chưa hào hứng lắm, nhưng càng về sau càng hăng hái; chơi để giết thời gian mà lại. Họ than vãn, trách móc nhau, người tính điểm, kẻ phân trần: Nếu ông không… Thì tôi chắc sẽ… Giá như… Tôi biết mà. Bố tôi hai lần chơi quân bài Karo Hand liên tiếp, nhưng cả hai lần ông đều thua, trong khi ông Kohlschmidt - tuy có vẻ không muốn - hai lần đều thu được Grand, thậm chí khiến ông nổi cáu. Thật hiếm khi tôi thấy ai khổ sở như ông Kohlschmidt, đã không muốn mà lại cứ gặp may. Khỉ thật, ông ta rủa, rồi lật ngửa con bài ông thu được, đặt xuống đất. Còn ông Hinnerk Timmsen, là người nghe đồn có nhiều ngón chơi bài skat đến mức nhắm mắt vẫn trổ tài được, hóa ra chỉ là tay chơi hạng xoàng. Gì thì gì, ván bài hoàn toàn thu hút họ, có thể chưa đến mức làm họ quên kẻ địch đang kéo đến, nhưng cũng đủ mức khiến họ quên hẳn tôi. Chẳng ai bắt tôi ra chỗ khác cả, nên tôi cũng không còn dịp để thử xem một vốc mát tít và mảnh thủy tinh thả từ trên mái vòm cối xay gió xuống công sự sẽ gây ra chuyện gì.
Đến chiều tối, rốt cuộc, máy bay địch - gồm mấy chiếc Spitfire và Mustang - từ phía Flensburg hay Schleswig gì đó cũng kéo đến, sà thấp qua chỗ chúng tôi để vòng ra Biển Bắc. Chưa thấy chúng đâu mà ông Timmsen đã nổ súng - bắn như thế, nói theo lời ông ta thanh minh về sau, gọi là bắn phủ đầu - bằng khẩu cacbin chiến lợi phẩm chiếm được tự hồi nào của quân Ý. Vọt qua đầu các ngọn cây, máy bay gần như bổ nhào về phía chúng tôi, tiếng động cơ rồ lên mỗi lúc một gắt gao và quyết liệt, mỗi lúc một thách thức, rồi vút qua khu trường tôi, hạ thấp thêm nữa, trông cứ như sắp đâm vào hàng giậu bị gió thổi nghiêng của ấp Holmsenwarf đến nơi, nhưng lại không đâm vào đấy, vì chúng lại kịp ngóc đầu lên, và hình như định hạ cánh thì phải, bóng chúng mỗi lúc một to, mỗi lúc một chậm lại - rõ ràng chúng định hạ cánh - nhưng rồi lại thôi, có lẽ vì đội dân quân đồng loạt khai hỏa, cả ông canh chim Kohlschmidt cũng bắn - thậm chí ông bắn còn nhanh hơn mấy ông kia là đằng khác. Ai nấy nạp đạn, rồi nổ súng, đến ngắm vào các mục tiêu đang nhào tới như tên bắn các ông cũng chẳng kịp.
Cả bác họa sĩ cũng bắn à? Vâng, cả bác họa sĩ Max Ludwig Nansen cũng nổ súng, thỉnh thoảng cũng nhắm vào máy bay, song, do bác lên đạn và bóp cò vội quá, cho nên đôi lúc bắn chúc xuống cả ao trước mặt cối xay gió, làm nước bắn vọt lên, và khiến bọn vịt giời nấp trong các bụi lau sậy hốt hoảng vút lên cao rồi vươn cổ, chao đảo, bay qua khu công sự ra phía xa. Mấy chiếc máy bay không bắn trả, có lẽ bom chúng đã ném hết rồi, các băng đạn cũng đã xả hết, nhưng cũng có thể - tôi không dám chắc lắm - chúng chẳng buồn để ý gì đến đạn do dân quân quê tôi bắn lên, mặc dù ông Timmsen cam đoan ông đã nhiều lần “cho chúng ngấm đòn”. Tụi máy bay sà xuống, định đâm vỡ đê cho Biển Bắc tràn vào chắc? Không, chúng bay vọt qua đê, sát sàn sạt, bay ra biển, mới đầu biến thành những vệt đen lao về phía chân trời, rồi thu nhỏ dần thành các chấm đen, trước khi mất đi hẳn.
Lúc này, đội dân quân có thể hạ súng, cài chốt an toàn. Trong lúc các ông chuyển dần sang bàn tán về sự kiện các ông vừa trải qua, thì tôi lom khom đi nhặt vỏ đạn, đếm đi đếm lại số vỏ đạn và lấy làm lạ, không hiểu đâu ra lắm thế, bởi vì tôi cứ tưởng, tiếng súng tôi nghe ít hơn nhiều. Sau một hồi bàn bạc, các vị dân quân đều nhất trí ở một điểm: Lẽ ra ta nên tập trung hỏa lực vào một mục tiêu, hẹn nhau cùng nhắm vào một chiếc máy bay thôi. Lần sau, ta phải làm vậy mới được! Và, sau khi nhanh chóng thống nhất với nhau như thế, các ông còn tỏ ra cảnh giác, sẵn sàng nghênh chiến được một lúc, nhưng sau đó, họ đã lại sao nhãng, chểnh mảng ngay rồi; các ông gom quân bài, phủi sạch bụi bặm, và vuốt ve lại cho phẳng; ông Timmsen bảo: Tôi đang lúc lên tay; lần này tôi khắc xỏ mũi hết các ông cho mà xem. Nghe vậy, ngoài ông họa sĩ, hai ông kia nóng máu mặt, liền ngồi xổm xuống nền hố công sự, và cầm quân bài lên.
Ông thích đứng thôi hả? - bố tôi hỏi. Bác họa sĩ chỉ đưa tay ra hiệu: Các ông cứ ngồi đấy. Tôi đến ngồi xuống bên bác họa sĩ, cạnh thành công sự phủ cỏ xanh, nhưng không dám mở miệng bắt chuyện với bác ấy, chỉ nhìn theo ánh mắt của bác trông ra cánh đồng mà bác đã bao nhiêu lần vẽ lên tranh: màu xanh lá cây sẫm lẫn cùng màu đỏ nóng bỏng của các trang trại; hai bác cháu phóng tầm mắt cùng thị sát các lối đi cũng như đoạn đường chính có các loại cây hoa quả dại um tùm mọc hai bên, và cùng lúc phát hiện thấy một người cưỡi ngựa ở đằng xa - lúc tôi chỉ tay về hướng đó, bác ấy chỉ gật đầu - một chiếc xe tải đang chạy, kéo theo cả một đám bụi mù mịt, trên con đường rải cát dẫn về ấp Söllring cũng không thoát được tầm mắt hai bác cháu tôi. Tôi cố dõi theo hướng bác nhìn, nên hai bác cháu gần như quay bên này bên kia cùng một lúc, có lúc bác cũng chỉ cho tôi thấy cái gì đó mà tự tôi đã phát hiện ra, tôi liền gật gật đầu. Nhưng chị Hilke thì tôi nhìn thấy trước; chị ấy đi từ quán Wattblick dọc theo mặt đê về nhà, chốc chốc lại vung vẩy chiếc can rỗng trên tay. Ở ấp Bleekenwarf chẳng thấy có động tĩnh gì. Nhưng bên ấp Holmsenwarf thì ngược lại, ông già Holmsen đang hì hục không ngơi tay, tìm cách lôi những cuộn dây thép, chắc chắn là dây thép gai, từ trong kho ra ngoài sân, có lẽ là để rào khu ấp nhà lão lại, không cho bà già vợ lão thâm nhập. Họa hoằn lắm, bác họa sĩ mới đưa ống nhòm của viên cảnh sát lên mắt để nhìn ra xa hơn.
Chúng tôi chờ, chờ đến lúc hoàng hôn buông xuống. Mặt trời đã lặn xuống phía sau đê, đúng như bác họa sĩ đã dạy cho nó cách lặn trên mặt một thứ giấy cứng và không thấm nước; mặt trời lặn xuống hay đúng hơn là rơi xuống Biển Bắc, kéo theo những vệt nắng đỏ ối, cả màu vàng au lẫn màu vàng ánh diêm sinh, làm các đầu ngọn sóng như ửng lên trong bóng tối phía xa, nét màu thổ hoàng pha lẫn nét đỏ sơn loang rộng dần trên mảng trời treo trên biển, loang ra không thành các đường nét riêng rẽ và rõ ràng, mà pha trộn, hòa lẫn vào nhau, lộn xộn, không hoàn hảo, mà thậm chí còn hơi vụng về; song đó chính là sự vụng về bác muốn vẽ; bác đã có lần bảo: Khéo léo, tinh xảo chả dính dáng gì đến ta! Vâng, một buổi hoàng hôn kéo dài, vụng về, đôi lúc lóe lên chút ánh hào hùng, mới đầu còn giới hạn trong một khoảng nhất định trên nền trời, sau đó, nói như các họa sĩ tranh màu nước, màu đè lên màu; đó chính là buổi hoàng hôn trải ra hôm ấy phía sau bờ công sự, với một phong cách họa không chê vào đâu được.
Ở chỗ mấy vị chơi skat, người được kẻ thua có vẻ đã hòa, mọi người bàn nhau chấm dứt ván bài. Ông Hinnerk chốc chốc lại hỏi, đã thấy bóng dáng “nhân vật” của ông ta đâu chưa; ý ông ta muốn hỏi bóng dáng bà Johanna, vợ cũ của ông ta, có nhiệm vụ đem thức ăn đồ uống từ quán Wattblick đến đây. Ông cứ yên tâm, bác họa sĩ và tôi chắc chắn sẽ báo ngay để ông biết bao giờ bà ấy đến. Tuy màn sương mù, mà mùa này, thường cứ hoàng hôn là kéo đến, vẫn chưa thấy đâu, nhưng đã đến lúc đàn bò, như mọi khi, lên tiếng gọi nhau. Mới đầu là tiếng họ đùng đục, kéo dài của một con nào đó vọng tới từ phía xa, rồi ở bên kia, phía dưới công sự, đàn bò lông lốm đốm trắng đen bắt đầu nghếch mũi về phía tiếng gọi vọng tới, các cặp tai lông lá vểnh lên, phe phẩy, nhưng chưa rống lên đáp lại; mãi đến lúc, từ đằng xa, tiếng họ vang lên lần nữa, thì một con trong bầy mới cong mình, hất đầu lên cao, và vừa phả hơi trắng xóa, vừa rống lên đáp lại; từ xa, không nghe thấy tiếng rống trả lời đâu cả, bây giờ lại có tiếng một con khác rồ lên, khiến một con khác nữa ở phía Riepen không chịu yên, cất lên một tiếng kêu “mọ” rất trầm, một tiếng kêu mà có lẽ con thú ở đằng xa mong đợi, nên nó đáp lại ngay; thế nhưng, con bò giọng trầm chưa kịp đáp thì con ở gần công sự đã lại rống lên chen vào.
Tối tối, nghe tiếng bò gọi nhau từ góc trời này sang góc trời khác, tôi vẫn thấy hay hay, và buổi tối hôm ấy, tôi cũng mải dỏng tai nghe chúng nó trò chuyện qua lại như thế, nên không để ý bác họa sĩ đang làm gì trong bóng tối chạng vạng. Đột nhiên, tôi thấy bác trèo lên bờ công sự, phủi quần áo, rồi quay người nói về phía mấy người kia: sắp tối đến nơi rồi, cả các ông cũng chẳng nhìn thấy gì nữa đâu. Thôi, sáng mai gặp lại nhau nhé. Nói xong, bác bỏ đi.
Bố tôi vất quân bài xuống đất, gọi với theo: Đứng lại, ông Max! Bác họa sĩ vẫn chậm rãi bước đi. Viên cảnh sát nhờ ông Hinnerk Timmsen đỡ để trèo nhanh lên miệng hố công sự. Tay giữ chặt mũ, ông toan chạy chéo về phía cái ao chặn đường bác họa sĩ. Thế nhưng, bác họa sĩ chỉ đi chầm chậm nên bố tôi chẳng cần chạy mà vẫn đuổi kịp; bố tôi đặt tay lên vai bác họa sĩ, nói: Ông làm sao thế? Ông không thể cứ thế là bỏ đi được. - Trời tối rồi, bác họa sĩ đáp, thì cũng đến lúc phải về nhà chứ.
Bố tôi sáp tới trước mặt ông họa sĩ, gắng nhịn ánh mắt khinh khỉnh của ông này và chậm rãi nói: Hình như ông quên, ông đang đeo băng dân quân thì phải. Ông không nhớ như thế nghĩa là gì à? Không nói không rằng, bác họa sĩ tháo băng đeo tay đưa cho viên cảnh sát, nhưng ông này gạt đi. Rốt cuộc, bác đưa cho tôi, nói: Cháu giữ nó đến sáng mai cho bác. - Ông đeo băng tay vào, - bố tôi nói, với giọng ra lệnh, - trở về công sự ngay! Ông không được cứ muốn là bỏ trận địa, cứ muốn là về nhà như thế được.
Thì các ông cứ việc chơi bài tiếp, bác họa sĩ nói, các ông cứ việc đánh bài, tôi có nói gì đâu nào; tuy nhiên thái độ khinh khỉnh bác cố che giấu sau những lời lẽ như thế tỏ ra không có tác dụng như bác mong muốn, bởi bố tôi đã nổi cơn bực tức đến mức không nghe ra những gì ông nói nữa; nhưng có lẽ, trong giây phút đó, nếu ông có nghe ra, thì ông cũng chẳng còn tỉnh trí để nhận ra vẻ khinh bỉ đó trong giọng nói bác họa sĩ, lý do có lẽ nằm ở chỗ, lúc này đầu óc ông chỉ còn nhăm nhăm làm sao xử lý sự việc đang xảy ra ở đây cho đúng với các quy định mà thôi; bởi vì quả là có các quy định ban sẵn từ trên xuống cho những tình huống như thế này thật - các quy định ông từng thuộc lòng và lúc này đang cố nhẩm lại trình tự thực hiện trong trí nhớ. Ông dằn từng tiếng, nói nguyên văn: Tôi ra lệnh cho ông lần nữa: quay về công sự! Và, ông tin chắc ông chỉ cần ra lệnh như thế là đủ. Các ông Timmsen và Kohlschmidt - nãy giờ chỉ đứng dưới công sự nhìn cảnh tượng đang diễn ra - hẳn đều nhận thấy tình huống đang trở nên gay gắt, nên trèo khỏi hố công sự, cùng bước đến gần để khỏi để lỡ chuyện gì sắp xảy ra. Và hai ông quả không nhầm; họ nghe bố tôi lại nói: Người nào về vị trí người ấy ngay. - Đúng rồi, bác họa sĩ thủng thẳng nói, người nào về chỗ người ấy. Chỗ của tôi bây giờ là ở nhà tôi. Nói xong - như một người đã nói hết những gì cần nói - bác quay người, toan bước đi. Viên cảnh sát Rugbüll tỏ ra không đồng tình với ông, liền mở bao súng, lôi phắt khẩu súng lục công vụ ra, chĩa vào bác Max Ludwig Nansen - ở tầm ngang thắt lưng - nhưng không nhắc lại mệnh lệnh lần nữa. Ông đứng lù lù ở đó. Trời chạng vạng tối. Xung quanh không thấy động tĩnh gì. Tay ông nắm khẩu súng lục nòng cỡ lớn, hầu như chưa bắn bao giờ ấy, mới vững vàng làm sao! Lăm lăm khẩu súng trong tay, mà sao trông ông bình tĩnh thế! Khẩu súng này ông đã hai lần khai hỏa lúc thi hành công vụ, lần đầu, dạo con chồn điên cắn ngập răng vào cổ con bê, và lần sau, lúc con bò đực nhà ông Holmsen xông vào làm náo loạn cả sân ga xe lửa ở Glüserup.
Ông Kohlschmidt chợt lên tiếng: Thôi, tỉnh lại đi ông ơi! Thế nhưng, không rõ ông muốn nói với ai. Không biết hai ông kia sẽ đứng như thế được bao nhiêu lâu, mặt đối mặt, không nói không rằng; hai ông không có vẻ hằm hè nhau quá lắm, thậm chí cũng không ra vẻ thử nhau xem mỗi người có thể lấn thêm đến đâu, mà họ có vẻ bình thản, cứ như là đã biết trước rồi sự thể sẽ ra sao vậy, có thể là vì, hai ông đã nhiều lần đối đầu như thế này rồi cũng nên. Theo đúng như điều lệ đã quy định, khẩu súng công vụ nhắc đi nhắc lại đôi lần độc một câu: Tôi ra lệnh cho ông lần cuối…
Tôi vươn tay đưa băng đeo tay cho bác họa sĩ. Bác không để ý, bởi mắt bác nhìn bố tôi không rời; nhưng một lát sau, rốt cuộc, bác mới làm một cử chỉ như muốn trút bỏ thái độ cố tình tỏ ra điềm tĩnh nãy giờ của mình; bác hơi khom người, như muốn tránh mũi súng đang chĩa vào bụng mình. Do tôi biết rõ tính khí cả hai ông, nên tôi cũng sẽ chẳng ngạc nhiên, nếu bây giờ bác họa sĩ cứ thế lẳng lặng bỏ đi, và tôi cũng không hề nghi ngờ gì việc lúc đó bố tôi sẽ nổ súng; gì thì gì, cả hai ông đều dân gốc Glüserup! Đúng như tôi đoán, quả nhiên, bác họa sĩ nói: Ông Jens ạ, tôi về đây; không ai cản được tôi đâu, cả ông cũng không cản được. Bởi viên cảnh sát không nói gì, bác nói tiếp: Đúng là không có gì, ngay cả cái kết cục đã sờ sờ ra kia, có thể làm các người tỉnh ngộ ra được. Cứ phải chờ đến lúc các người chết sạch, không còn mống nào mới xong.
Bố tôi không đáp. Lúc này, tâm trí, đầu óc ông chỉ còn nhăm nhăm vào độc một việc là bắt ông kia phải chấp hành mệnh lệnh của ông; mọi chuyện khác, gác lại sau cũng được. Phải, mệnh lệnh ông đã ban, bây giờ ông chỉ còn chờ kẻ dưới quyền phải chấp hành nữa mà thôi.
Ông Max ạ, ông về, thì tôi cũng về, ông Kohlschmidt nói to, rồi đưa tay lên cài cúc áo khoác. Thế à, bác họa sĩ đáp, thì ông đi với tôi. - Này, ông Jens, ông Kohlschmidt quay sang nói với bố tôi, ông cũng thấy ta có nằm lại đây suốt đêm, ta cũng chẳng làm được cái việc gì có lợi cho ai. Ông cứ làm như bọn ta sẽ ngăn được họ không bằng! Rõ vớ vẩn!
Thêm một người nữa định bỏ công sự ra về, hình như, cũng không làm bố tôi bận tâm lắm thì phải; ông vẫn không rời mắt khỏi bác họa sĩ; ông này mới là người bố tôi phải đối đầu. Thôi đi nào, ông Jens, ông Kohlschmidt nói, đừng làm to chuyện như thế làm gì, ông cất cái của nợ kia đi ông ạ; nói rồi, ông đã toan đưa tay vỗ vai viên cảnh sát, nhưng chợt giật mình e sợ và từ từ rụt tay lại. Bố tôi mấp máy môi, như muốn nhẩm lại trước câu nói trong đầu, rồi quay về phía ông Kohlschmidt, ông nói: Các ông đào ngũ! Các ông không biết tội đào ngũ sẽ bị xử như thế nào chắc? - Gớm, hượm hượm đã nào! Ông canh chim nói, rồi đi vòng qua bố tôi, đến đứng sát cạnh ông họa sĩ, tạo thành với ông này một phe - phe những người cưỡng lệnh, hoặc ít ra, cũng là phe những người khước từ làm theo lệnh - rồi ông nói rất bình tĩnh: Làm gì mà ông đao to búa lớn thế, ông Jens! Có lẽ ông cũng nên mở mắt to ra mà nhìn cho kỹ, ông ạ. Bây giờ chúng tôi về nhà, sáng mai chúng tôi khắc quay lại.
Nếu ai nấy đều đánh bài chuồn cả, ông Hinnerk Timmsen nói, thì tôi cũng chuồn thôi. Ngồi cả đêm ở đây một mình chả để làm quái gì. Ông ta bước từ phía sau ra nhập vào nhóm ông họa sĩ và ông canh chim, và như thế, ai nấy đều rõ ông ta quyết định thế nào rồi. Thế nhưng, đứng với nhau thành, một nhóm rồi, vẫn không ai trong số họ liều bước bước đầu tiên; tuy nhiên, không phải vì họ e ngại cánh tay vẫn lăm lăm khẩu súng công vụ kia, mà vì ai nấy đều có vẻ đang hy vọng, rồi họ sẽ thuyết phục và kéo được viên cảnh sát về phe mình, và cả bốn ông sẽ cùng nhau bỏ công sự ra về.
Bố tôi vẫn không rời mắt khỏi ông họa sĩ; ông này có dịp để nói gì đó, nhưng rõ ràng là ông không muốn nói gì nữa, ngay cả khi ông Timmsen thúc vào lưng ông, giục ông nói đôi lời, ông cũng không nói năng gì - có lẽ vì ông là người duy nhất nhận ra rằng bố tôi đã bỏ cuộc đối đầu với ông, bỏ cuộc từ lúc cả mấy người kia cũng quyết định ra về. Ông để mặc cho viên cảnh sát tự xử trí thế nào thì xử trí. Ông thản nhiên đứng chờ, và như thế, cũng buộc hai người kia cùng chờ với ông; dường như ông biết, ngay bây giờ, phe ông sẽ đè bẹp phe bên kia vậy.
Tất nhiên, tôi có thể còn để các vị dân quân quê tôi đứng như thế một lúc nữa, trong bóng tối nhá nhem, trước cối xay gió cụt cánh. Ai đã kể lại chuyện xưa, thì người ấy - cũng giống như một nhà buôn nào đó lúc cân đong hàng hóa vậy - ắt phải tính đến các thất thoát; tôi cũng thế, tôi để thất thoát bớt các chi tiết, tôi để bố tôi thôi không nhìn thẳng vào mặt ông họa sĩ nữa, mà chỉ lướt ánh mắt lạ lẫm nhìn cả mấy ông một lượt rất nhanh, rồi từ từ quay người, bước đều đều về phía mô đất, leo lên nơi có công sự - là nơi ông đinh ninh, ông đã nhận lệnh phải có mặt đến cùng.
Tôi chẳng còn đường nào khác là nối gót bố tôi; ông đỡ tôi tụt xuống hố công sự, kéo cho tôi một cái thùng gỗ để tôi trèo lên đó, tôi trèo lên, đứng thẳng người và nhìn thấy ngay một khẩu súng nằm trước mặt. Nhưng tôi không chạm tay đến nó. Hai bố con tôi nhìn cả về phía mấy ông kia; các ông vẫn chưa rời đi, họ đứng sát vào nhau, xì xào bàn bạc gì đó; có thể, họ bỗng nhiên lại mỗi người mỗi ý chăng. Thế nhưng sau đó, họ cùng bỏ đi - đôi lúc chỉ nghe thấy tiếng chân họ bước - về phía cái cống, mặc dù chỉ có ông canh chim Kohlschmidt là phải đi về hướng đó thôi, và mãi họ vẫn chưa chia tay nhau. Rõ ràng là các ông dùng dằng, không chia tay nhau ngay được, và thậm chí, sau khi họ rốt cuộc tản ra mỗi người một hướng, biến khỏi tầm mắt bố con tôi rồi, tôi vẫn thầm mong, không khéo một ai đó trong số họ, như ông Hinnerk Timmsen chẳng hạn, sẽ lại ló mặt ra ở bờ công sự, tụt xuống hố, ôm lấy súng như không có chuyện gì xảy ra; song, chẳng ma nào quay lại.
Vâng, thế là tôi ở lại một mình trong công sự với viên cảnh sát Rugbüll; ông khum khum tay che gió châm tẩu thuốc, rồi đưa mắt lạnh lùng, không chút nao núng, quan sát các con đường và các cánh đồng cỏ, tức là nhìn bao quát toàn bộ vùng đất đang chìm dần vào bóng tối này để dè chừng kẻ địch vô hình nào đó, kẻ địch được cả sương mù che giấu, đang lần tới. Đàn bò im ắng. Chúng đã nằm xuống đâu đó. Đằng sau cái ao của cối xay gió gồ lên mấy cái bóng dài thuôn thuôn của đàn bò đang chen nhau nằm dài trên mặt đất. Sương mù tụ lại, mới đầu chỉ thành từng dải dài riêng rẽ, trước khi nhập vào nhau, bay lên cao và trải rộng ra, khiến cho nhiều khu nhà trong các trang ấp xung quanh như dập dềnh bay bổng lên, giống như nước triều dâng vẫn làm các con thuyền mắc cạn dập dềnh nổi lên. Từ đằng xa, thỉnh thoảng thôi, những tiếng nổ, nghe giống tiếng mìn hơn là tiếng súng lớn, ầm ì vọng tới.
Mày về nhà đi, bố tôi chợt nói. Thế còn bố? - tôi hỏi lại. Về đi ngủ, bố tôi lại nói. Tôi nhìn bố tôi, nghi hoặc, nhưng đúng là bố tôi bảo tôi về thật; ông hất đầu chỉ về hướng Rugbüll. Tôi trèo lên mép hố, để công sự lại cho một mình bố tôi canh. Thế còn bố? - tôi hỏi lại lần nữa. Tao ngồi đây một lúc, để nghĩ cho ra một cái tên gọi đã, bố tôi nói. Sao cơ ạ, tên gọi gì cơ? - Phải rồi, tên gọi cho cái thảm họa này. Ta phải đặt tên cho cái thảm họa này cùng tất tật những gì dính với nó. - Thế còn bữa ăn tối thì sao ạ? Tôi hỏi. Ông xua xua tay, trầm ngâm một lúc, rồi nhún vai, đáp: Nếu còn cá trích muối, thì để dành cho bố một ít cũng được. Bố còn dở chút việc ở đây.
Sao bây giờ nhỉ, tôi nghĩ bụng, đi một đoạn rồi tạt sang lối khác, lẻn quay lại đây như mấy lần trước hay sao. Thế nhưng tôi chẳng còn hứng thú gì nữa, nên cứ thế đi về nhà, không quay lại nhìn lần nào nhưng vẫn biết bố tôi đang nhìn theo. Vào đến sân tôi đã nghe tiếng điện thoại réo từng hồi ngắn - réo mãi, không chịu yên. Sao không ai nhấc máy nhỉ? Đèn trong bếp vẫn sáng; chị Hilke với mẹ tôi vừa ngồi ăn ở đây, chắc bây giờ đã lên gác, trong phòng ngủ. Hai người phải nghe thấy tiếng chuông chứ nhỉ? Thôi được, hai người làm ra vẻ đi vắng, thì chuông réo cứ việc réo. Có lẽ chị Hilke đang chải bộ tóc hung vàng cho mẹ, lúc này đang ngồi trên giường, sau đó quấn lại, bện thành đuôi sam lóng lánh cho mẹ, tôi nghĩ. Hoặc mẹ tôi đang cho bột thuốc an thần vào cốc nước, khuấy theo chiều kim đồng hồ cho thuốc tan ra. Hay chị tôi đang dùng các ngón tay khỏe mạnh và thành thạo xoa bóp cho mẹ tôi. Không có ai đi kèm, thì đằng nào tôi cũng không được phép vào phòng làm việc của bố tôi, cho nên chuông điện thoại réo như thế không dính dáng gì đến tôi. Thì cả tôi cũng không ở nhà nốt. Âu đựng cá trích muối nằm trong chạn thức ăn, tôi lôi nó ra bàn. Tôi chén gọn một con màu tro, ướp với hành và hoa cẩm chướng, làm thêm một con da khô nhăn nheo nữa, sau đó đậy hai con còn lại bằng tờ báo có in ảnh một ông Dönitz nào đấy đang giương đôi mắt lạnh lùng, khẩn khoản nhìn tôi. Tôi vớ một mảnh giấy, viết lên đó dòng chữ: Không ai được ăn, rồi đánh thêm cả dấu chấm than nữa! Và lôi một cái nĩa nặng chặn lên mảnh giấy. Còn bánh mì? Bánh mì bố khắc tự cắt miếng được, khỏi cần cắt sẵn cho ông. Tôi đem xương cá chừa lại lúc nãy, ném ra ngoài sân đã tối om, rồi lên gác, ghé tai nghe ngóng một lúc ở cửa phòng ngủ mẹ tôi mà chẳng thấy gì, nên tôi quay lại phòng tôi - không hạ mành che cửa sổ, cũng không cởi cả quần áo - cứ thế nằm dài ra giường chờ bố tôi về.
Tôi vẫn còn nhớ, tôi đang nằm, nhìn ra ngoài trời tối om và dỏng tai nghe ngóng, thì đột nhiên, tôi nghe tiếng chị Hilke chơi dương cầm; chị tôi chưa bao giờ học đánh dương cầm cả, nhưng vẫn dùng các ngón tay cẩn thận gõ lên bàn phím chiếc đàn dương cầm đặt đâu đó ngoài trời, cạnh cửa cống chặn ngang con mương; trong lúc chị đánh đàn, bọn hải âu lượn qua lại trên đầu chị; nhũ băng lớn nhỏ, dài ngắn khác nhau, hoặc rất nhỏ, tách khỏi mép mái nhà, rơi xuống mặt kính phía dưới, vỡ vụn ra, và có vỡ vụn ra, mới thấy nhũ băng nhuốm màu, nhiều nhất là màu đỏ và màu vàng; tiếp theo, một bóng đen chợt trùm lên chị Hilke, bóng đen của một chiếc máy bay không có động cơ đang lượn tới, chiếc máy bay khá to, sơn màu xám xịt, định tìm chỗ hạ cánh gần công sự của bố tôi, nó lượn nhiều vòng - làm gió lạnh nổi lên - rồi rốt cuộc, nó cũng hạ xuống được, nhẹ nhàng nghiêng một bên cánh và khung cửa hình bầu dục mở ra, để một lô đàn ông đàn bà nhảy xuống, toàn người quen, đi đầu là vị thuyền trưởng Andersen, tiếp đến là ông già Holmsen và thầy giáo Plönnies, ông Bultjohann và cô Hilde Isenbüttel; mỗi lần có ai nhảy xuống, chị Hilke lại dạo một khúc nhạc đệm trên chiếc đàn dương cầm, lúc này đã hắt bóng xuống làn nước đang dâng lên trong con mương trước cửa cống, và chính cũng điệu nhạc chị đánh lên ấy hối thúc mọi người nắm tay nhau, vừa nhảy múa, và tạo thành một vòng vây bao lấy công sự bố tôi, vòng vây mỗi lúc một thu nhỏ lại, mỗi lúc một thắt chặt, quần áo họ bay phần phật, nhưng không phải do gió thổi; rốt cuộc, họ leo lên, rồi đứng trên mép công sự, ai nấy xúm vào trói bố tôi, lôi ông ra khỏi hố, rồi vừa bước đi theo nhịp nhún nhảy, họ vừa công kênh ông dọc theo gò đất phủ cỏ xanh lên đến cối xay gió; cối xay gió bây giờ lại có cánh, căng bằng vải bạt lấm bẩn và rung bần bật với vẻ sốt ruột; họ trói bố tôi vào cánh quạt, và ai nấy vỗ tay bắt nhịp, trong lúc cánh quạt từ từ quay, lôi giật bố tôi lên cao, khiến ông treo lủng lẳng, chân thõng xuống đất; nhưng cánh quạt quay mỗi lúc một nhanh, nghe vù vù, thì lực ly tâm cũng ra tay, nên khi cánh quạt hất lên thì thân thể ông nằm ngang hẳn; bóng của cánh quạt lướt qua mặt mọi người, phía dưới ao, bóng cối xay gió in trên mặt nước cũng quay theo, quay mãi, đến lúc trên nóc hình củ hành của cối xay gió bốc lên một làn khói mỏng, phải, cối xay gió bốc khói, mùi cháy khen khét lan tỏa trong không trung.
Tôi giật mình tỉnh giấc, nhảy bổ ra cửa sổ, và nhìn thấy một cột khói từ dưới sân bốc lên cao. Dưới sân, trong ánh nắng sớm mai, bố tôi đang đứng trước đống lửa. Ông chậm rãi mồi cho ngọn lửa cháy đều bằng những tờ giấy lẻ có in chữ ông gỡ từ cặp hồ sơ ra; ông canh chừng, không cho các tờ giấy cháy đã hóa than bị hơi nóng từ ngọn lửa bốc lên mang ra xa. Tờ nào bốc lên ông đều thu lại, và ông cũng chỉ cho vừa đủ giấy vào lửa thôi, để ngọn lửa không bốc cao quá; nhỡ lửa bốc cao quá, ông lại dừng lại chờ, lật lật các tờ giấy, đưa lên đọc.
Tôi đứng bên cửa sổ nhìn bố tôi ở dưới, cho đến lúc ông nhìn thấy tôi; song, vì ông chẳng gọi, mà cũng chẳng ngăn, cho nên tôi xuống sân, và, tuy bố tôi chẳng bảo, tôi vẫn giúp ông thu các tờ giấy bị lửa thổi bay lên cao lại. Ông biết tôi chốc chốc lại liếc nhìn ông, nhưng ông không nói gì, mãi một lúc sau, ông mới hỏi: Sao? Lạ lắm à? - Tôi không kể gì với ông về chuyện tôi nằm mơ thấy cối xay gió, thấy chiếc máy bay hạ cánh trong tiếng nhạc của chị Hilke, tôi chỉ hỏi: Bao giờ ta quay lại đấy hả bố? - Đi tong hết rồi, ông nói, tong hết rồi. Đoạn, ông giật từng tờ giấy riêng lẻ ra khỏi cái cặp hồ sơ đang nằm trên tay ông, vo từng tờ lại, trước khi ném vào lửa. Mặt ông xám ngoét, râu không cạo, mũ đội lệch trên đầu, trên giày ông vẫn còn dính bùn ướt từ trong công sự. Tôi còn nhớ đôi vai ông buông thõng. Cử động khó nhọc. Giọng khàn khàn. Nhìn thấy một người đàn ông trong bộ dạng như thế, ai mà chả nghĩ ngay: ông này chịu thua, chịu bỏ cuộc rồi, ông ta không còn biết bấu víu vào đâu nữa rồi. Ai cũng sẽ ngại bắt chuyện với ông, bởi ai cũng biết điều, nể chừng, biết mực. Rồi ai cũng sẽ để yên cho ông ngồi một mình trên khúc gỗ ông vừa tự lăn đến, và đứng đằng sau lưng nhìn xuống gáy ông thôi.
Ông để một mình tôi canh chừng đống lửa. Còn ông, vẫn ngồi trên khúc gỗ sứt sẹo, ông chỉ bận tâm với các tờ tài liệu cũ, những tờ giấy có lẽ chẳng còn giá trị gì ấy, thỉnh thoảng lại dừng mắt đọc đôi dòng, rất hờ hững, như thể chứng chưa bao giờ có ý nghĩa gì đối với ông cả, và sau khi đốt hết tập tài liệu đầu tiên, ông quay về văn phòng, lôi tiếp những cặp giấy tờ khác ra sân; phải, giấy tờ dồn tích lại cùng năm tháng, và ông - một người vốn không vứt bỏ bất cứ thứ gì cả - đã thu gom, nhặt nhạnh, phân loại, tàng trữ cẩn thận như hồ sơ cuộc đời ông, một cuộc đời mà có lẽ ông đã dự liệu trước, rằng đến lúc nào đó ông sẽ phải rà soát, xem xét lại nó từ đầu vậy.
Ông tỏ ra bằng lòng với tôi, với cách tôi canh chừng ngọn lửa, không cho nó lụi đi, cũng không để nó bốc quá cao. Lần cuối cùng ông vào nhà, ngoài hai cặp tài liệu và đôi quyển sách, ông còn mang ra một quyển sổ tay cùng một tập giấy bọc giấy dầu được buộc dây lỏng lẻo. Hóa ra, cả các bức tranh vô hình dạo nào, cũng còn phải đốt đi. Đốt cả những thứ này hả bố? Tôi hỏi, còn ông thẫn thờ đáp: Đốt hết, đốt bằng hết. Rồi ông bắt đầu xé các trang giấy từ quyển sổ tay. Đúng lúc đó, bóng chị Hilke hiện ra ở bậc thềm; chị bước ra gọi bố con tôi vào nhà uống trà. Chị ấy nói, theo kiểu của chị: Bố với em không vào, thì trà có để đấy, cũng không tự nóng lên được đâu. Nói xong chị biến vào trong nhà. Lát sau, chị lại chạy ra, gọi hai bố con lần nữa, và, tuy có vẻ không hứng thú gì, chị vẫn đến gần đống lửa; nhưng chị không nhìn ngọn lửa mà nhìn tôi một lúc rồi nói: Mặt mũi mày làm sao mà già khọm đi thế hả, Siggi, trông mày cứ như hai tám, ba mươi tuổi rồi không bằng! Đấy chị tôi đấy, đôi khi chị ấy nói về ai đó chả khác gì như nói về một con ngựa vậy. Thôi chị đi đi! Lúc chị ấy định nâng một tờ giấy đã sạm đen lên đọc, thì tôi giật lại, ném ngay nó vào lửa. Chị ra chỗ khác mà chơi đàn, tôi nói. Sao lại chơi đàn? - chị chẳng hiểu đầu đuôi ra sao, ngơ ngác hỏi lại. Đàn dương cầm chứ đàn gì, tôi nói, còn chị quay ra nói với viên cảnh sát đang trầm ngâm đứng bên cạnh: Thằng nhỏ bị dở người hay sao ấy, bố ạ, sao mặt mày nó tự dưng già hẳn đi thế không biết.
Đến nước này mà tôi không nói câu gì làm chị nổi tự ái, thì khó lòng đuổi chị ấy ra chỗ khác được, cho nên tôi cau trán nghĩ xem, nên nói cái gì thật đau. Đang lúc như thế, chị Hilke bỗng kêu tướng lên: Trông kìa! Trông đằng kia kìa!
Hai bố con tôi quay người, nhìn ra con đường lát gạch, và trông thấy một chiếc xe bánh hơi bọc thép sơn màu xanh lục, xanh oliu thì đúng hơn. Nó đỗ ở đó. Lù lù tự lúc nào không hay. Máy vẫn nổ, nòng súng đại bác hạ thấp, và trên tháp xe, thò ra cái đầu một người lính đội mũ nồi đen. Chiếc xe lăn bánh, mũi xe góc cạnh, xiên chéo ở phía trước của nó từ từ lướt qua tấm biển “Chốt cảnh sát Rugbüll”, rồi quay về phía chúng tôi, quệt nhẹ vào cây cột, nhưng không làm nó đổ; đoạn, nó lượn sát cái thùng xe cũ kỹ và tiến tới bên đống lửa.
Bố tôi nhổm dậy khỏi khúc gỗ, hai tay vô tình xốc lại bộ sắc phục mặc trên người. Ông nhìn thẳng vào chiếc xe đang lăn tới với vẻ căng thẳng, không bồn chồn lo lắng, chỉ căng thẳng. Lúc chiếc xe bọc thép dừng lại ngay trước ngọn lửa đang cháy, bố tôi mím môi, nói khẽ qua kẽ răng, khẽ vừa đủ để tôi nghe ra: Mày phải đốt hết mấy thứ này, nhanh lên!
Nhưng đốt bằng cách nào mới được chứ? - tôi nghĩ thầm. Tôi dùng chân đẩy cái cặp hồ sơ sát vào tập giấy bọc trong giấy dầu, đẩy từ từ, từng phân từng phân, nghe lạo xạo, để lại một vệt dài trên cát, cứ như vừa có con gì, như con rùa chẳng hạn, vừa lết qua.
Một cái vai thò ra trên thùng xe, rồi đến lượt một cánh tay; người lính vẫy tay gọi bố tôi đến gần, hỏi cái gì đó, và bố tôi gật gật đầu đáp lại. Cái cặp hồ sơ đã chạm vào gói giấy dầu; đúng vào lúc người lính chui ra khỏi thùng xe và nhảy xuống đất, tôi nhấc cả cặp hồ sơ lẫn gói giấy dầu lên, rồi cứ thế đi giật lùi đến cửa nhà kho; ở đây, tôi thả cho gói giấy dầu rơi xuống, buông nó rơi xuống, trong khi vẫn giữ cặp giấy trên tay, sau đó, tôi lại tiến về phía đống lửa, chậm rãi vòng qua đống lửa đến sát bên bố tôi lúc này đang đứng trước mặt người lính nọ.
Người lính có mái tóc quăn, hung hung đỏ, và một chi tiết khác, chả biết có quan trọng hay không là hai ngôi sao trên cầu vai cũng hung hung đỏ; trên thắt lưng bằng vải bạt đã sờn cũ, anh ta đeo bao súng ngắn cũng sờn cũ, trong bao là khẩu súng ngắn có cỡ nòng giống với súng của bố tôi. Anh ta định dập ngọn lửa chăng? Anh định tịch thu đống giấy tờ còn đọc được, rồi đem về một nơi an toàn nào đó để điều tra chăng? Chốt cảnh sát Rugbüll quan trọng đến thế kia à?
Anh lính người Anh không để ý đến đống lửa. Anh ta cũng chẳng quan tâm đến lô cặp hồ sơ còn nguyên lẫn mấy tập hồ sơ cháy dở. Tuy hơi ngắc ngứ, nhưng anh ta nói tiếng Đức khá sõi; cúi nhìn vào một mảnh giấy lôi từ túi áo ngực ra, anh ta hỏi bố tôi, ông có phải là thượng sĩ cảnh sát Jepsen không. Bố tôi gật. Đây có phải Rugbüll không? Bố tôi gật. Nếu đúng thế, anh lính người Anh nói tiếp, thì anh ta phải bắt giam viên thượng sĩ cảnh sát Jepsen ở Rugbüll. Lệnh đây. Anh ta gập tờ giấy, nhét trở lại vào túi áo ngực. Anh ta ra hiệu cho chiếc xe bọc thép, đúng ra thì không phải ra hiệu cho xe, mà cho đôi mắt sáng phía sau khe nhìn ở mũi xe - đôi mắt nãy giờ nhìn chúng tôi không rời - đoạn, anh ra vẫy tay, gọi bố tôi lên xe.
Viên cảnh sát hơi lưỡng lự. Đồ đạc, ông nói, chắc tôi cũng được phép mang theo ít đồ đạc chứ ạ. Người lính không rõ, liệu anh ta có cho phép được hay không, anh ta phải hỏi lại, anh ta hỏi bằng cách nói gì đó vào khe nhìn của xe; đôi mắt sáng có vẻ đồng ý, nên anh ta quay lại phía bố tôi, rồi chỉ tay vào nhà. Thế là, bố tôi đi trước, người lính và tôi theo sau.
Biết diễn tả làm sao về nỗi kinh hoàng, về sự hồi hộp trong lòng tôi, khi bước vào nhà lúc đó! Tôi còn nhớ, tôi đã hình dung mọi chuyện kinh khủng nhất đều có thể sẽ xảy ra, nhưng hình dung bố tôi sẽ không hề tìm cách chạy trốn, sẽ không chống cự, sẽ không nói một lời, và lẳng lặng gói ghém đồ đạc rồi trèo lên xe để bị bắt mang đi đúng như họ đã lệnh cho ông, thì tôi không hình dung nổi. Vâng, chúng tôi theo ông vào bếp; bữa sáng đã dọn sẵn trên bàn, bình nước trà nổi lên, mời mọc. Viên cảnh sát thu gom bộ dụng cụ cạo râu của ông để trên bậu cửa sổ cạnh chậu nước. Sau đó, chúng tôi lại theo nhau vào phòng giấy, trong đó các giá để hồ sơ đã trống trơn, các ngăn kéo bàn giấy bị kéo hết ra, trống hoác, như thể chúng đã nôn thốc nôn tháo các thứ đựng trong đó ra ngoài tự lúc nào rồi vậy.
Viên cảnh sát nâng cái cặp giấy bằng da của ông lên, lôi một cái hộp thiếc con con ra, trong hộp không đựng cái gì khác, ngoài cái chìa khóa của chính cái hộp, rồi xếp bộ dao cạo râu vào đó. Chúng tôi theo nhau lên cầu thang, vào phòng ngủ, gõ cửa mấy lần, thì mẹ tôi, khoác áo tắm, tóc để xõa, mới hiện ra ở khe cửa mở hé, và không nói không rằng, bà thò tay ra trao cho ông hai đôi tất, một cái khăn lau và một chiếc áo sơ mi. Bà không nhìn thấy cả người lính lẫn tôi đang đứng ở ngoài. Sau đó, bố tôi lại đi trước, chúng tôi theo sau, cả ba bước vào phòng tôi, và thật tình, tôi không rõ ông định tìm cái gì ở đây, thế nhưng ông chỉ đưa tay vuốt một vòng quanh cái bàn, gõ gõ nhẹ lên tấm bản đồ hải dương học của tôi, gõ nhẹ lên khung giường của tôi, rồi bước ra ngoài, xuống gác, đi trở lại vào bếp. Anh lính đứng cách xa bố tôi vài bước, xỏ ngón tay vào thắt lưng bằng vải bạt đã sờn, và tuyệt nhiên không tỏ vẻ gì sốt ruột. Anh ta lặng lẽ nhìn bố tôi rót nước trà vào chiếc cốc bằng gốm, và sau khi đưa tay làm một cử chỉ như để xin phép, nâng cái cốc lên uống ngon lành, vừa uống vừa nhìn anh lính qua vành cốc, nhìn một cách dò xét, cố giấu vẻ hằn học. Trong lúc bố tôi uống, tôi giữ cái cặp của ông trên tay tôi. Sao mà ông uống lâu và thong thả thế chứ lại! Làm sao ông có thể bình thản rót thêm cốc nữa, trong khi anh lính đặt một chân lên ghế và bắt đầu rung rung đùi với vẻ sốt ruột rồi! Uống xong cốc thứ hai, ông mới đỡ cái cặp da trên tay tôi và đưa tay bắt tay tôi. Ông gọi chị Hilke đang đứng trong góc ra, bắt tay chị. Rồi ông bước ra hành lang, ngóng lên trên một lúc, và nửa muốn, nửa không muốn, ông mỉm cười chua chát với người lính. Anh ta không cười đáp lại. Rốt cuộc, bố tôi gọi ới lên phía trên: Tôi đi, hả! Và, ông vươn thẳng người: ông đã sẵn sàng.
Chị em chúng tôi theo ông ra ngoài, đứng trên bậc thềm bằng đá cao ngang với tháp chiếc xe bánh hơi bọc thép sơn màu xanh oliu, bên hông có vẽ hình con chuột ngồi trên hai chân sau.
Rồi bố sẽ sớm về thôi, ông nói với sang chị em tôi. Nhanh thôi.
Chị Hilke khóc thút thít. Chẳng cần quay lại, tôi vẫn biết chị khóc, bởi tiếng chị tôi khóc bao giờ cũng nghe như tiếng nấc. Bây giờ hai người đã đứng trước xe, anh lính đỡ cái cặp da từ tay bố tôi, rồi ra hiệu bằng ngón tay cái trỏ lên trên; đúng lúc đó, hai cánh tay để trần, phủ đầy tàn nhang, gạt hai chúng tôi - chị Hilke với tôi - sang hai bên.
Mẹ tôi từ trên nhà chạy xuống. Bà đi chen vào giữa hai chị em tôi ra phía trước, tóc xõa, trong chiếc áo khoác cộc tay dùng để mặc trong nhà, bước đi có vẻ loạng choạng, nhưng tấm thân to khỏe và cao lớn của bà ưỡn thẳng, đầu ngửa ra sau; dáng đi của bà làm tôi nhớ đến một nữ Chúa kiêu hãnh và độc ác nào đấy - có điều, nữ Chúa nào nhỉ? Dù sao, sự xuất hiện của bà khiến anh lính vỗ nhẹ lên vai bố tôi, rồi khẽ nói cái gì đó với ông. Đống lửa trong sân đã sắp tàn. Mẹ tôi dừng lại bên đống lửa, chờ bố tôi tiến đến gần, gần hơn, gần nữa, thật gần. Bà dang hai tay, như kiểu người ta vẫn dang để báo tin con cá câu được dài cỡ nào vậy. Bà ôm lấy ông. Bà ôm thật chặt, ôm vội vã, vụng về. Rồi bà thọc tay vào túi áo choàng, lấy ra cho ông cái gì đó nho nhỏ, lấp lánh; tôi đoán là con dao con bỏ túi. Ông cầm lấy con dao, vẫy vẫy nhẹ, như thể đáp lại ám hiệu nào đó không bằng.
Xong rồi nhỉ? - người lính hỏi. Viên cảnh sát Rugbüll trèo lên thùng xe bọc thép, mắt vẫn không thôi nhìn về phía chúng tôi đứng, trong khi chiếc xe bắt đầu chạy vòng quanh đống lửa, và khi khối thép màu xanh oliu ấy lướt sát qua trước mặt chúng tôi, bố tôi chợt ngồi thẳng lưng, vâng, cố tình ưỡn thẳng lưng; như thế, lúc chia tay bố tôi như vẫn còn muốn nói với tôi, tôi phải cứng rắn mới được. .