Nó, cái thằng Jobst ấy, nó ghét tôi. Tôi, Siggi, cũng chẳng ưa gì nó; nhưng nó nắm phần hơn. Thầy Plönnies chỉ vừa kịp trả lại tôi bức tranh tôi vẽ Tàu đánh cá bằng lưới, tôi chỉ vừa kịp ngay ngắn cất bức tranh vào cặp, bức tranh được vẽ ra cốt chỉ để cho bọn đần độn ấy biết mặt mũi chiếc tàu đánh cá bằng lưới nó ra làm sao, vâng, thầy Plönnies - ông thầy ít nói, hai lần bị vùi ngoài mặt trận ấy - chỉ vừa kịp báo hết giờ, là những trò đạp vào khuỷu chân nhau từ phía sau, bắn nhau bằng đạn giấy, giấu mặt chen lấn, xô đẩy nhau đã bắt đầu ngay rồi.
Chẳng cần quay đầu lại, tôi đã biết nó, thằng Jobst, đang bám sát sàn sạt tôi: cái thằng béo ục ịch nhưng nhanh nhẹn, to con, có đôi tai to đùng như hai cánh buồm - không chừng xoay đi xoay lại được cũng nên - có cái cổ ngồn ngộn thịt, hai cổ tay phì nộn thành ngấn, đôi môi trề ra, và đôi mắt màu nâu, cùng ánh nhìn dài dại và mãn nguyện. Cái thằng mặc quần nhưng kẻ dài ngang đầu gối, tay đeo chiếc đồng hồ rỗng ruột, kim lúc nào cũng độc năm giờ kém hai mươi mà chỉ thôi ấy! Cứ bắt đầu giải lao hay hết giờ học là thằng Jobst lại bám theo tôi, đến nỗi đôi lúc tôi đã phải nghĩ, không khéo thằng này đến trường chỉ cốt để bám lấy tôi cũng nên. Mỗi khi nó ngồi xuống, dường như cả người nó chỉ còn là các khoanh mỡ lớn nhỏ, bắt đầu xếp lên nhau từ cổ xuống đến khuỷu chân béo núc ních; mỗi khi nó cố vác cái mông tròn trịa, to bành bạnh đặt xuống ghế - cái mông lúc nào cũng chỉ chực làm quần nó mặc bục chỉ ra - và lắc lư lấy thăng bằng để ngồi cho thẳng, nó lại làm tôi nghĩ đến hình nộm thằng người bằng cao su thổi quá căng đang lắc lư bên này bên kia, và chỉ cần lấy kim chọc một cái là xì hết hơi, nằm bẹp rúm. Nó mà bám gót tôi, có thể là với cái thước kẻ trên tay hoặc dây cao su cùng kẹp giấy làm đạn bắn, thì thể nào tôi cũng chỉ còn nghe thấy tiếng nó thở hổn hển và hăm hở, cùng tiếng cười gằn khặc khặc như đứa hụt hơi, nhưng điều đó hoàn toàn không có nghĩa nó dễ bỏ cuộc.
Vâng, thầy Plönnies vừa thả cho chúng tôi ra về, là thằng Jobst đã lập tức bám lấy tôi, sấn đến sau lưng tôi, và - bằng cách thúc đầu gối nó thật nhanh vào khuỷu chân tôi - nó dồn tôi ra cửa lớp, rồi cứ thế suốt cả hành lang, nó đẩy tôi phải nhảy qua cầu thang xây bằng xi măng xuống sân trường, chốc chốc cho tôi nếm mùi cái thước kẻ của nó suốt đoạn sân trường rải sỏi, trống trải, không cây cối, nhưng hễ tôi quay lại nhìn, thì nó cũng giả vờ ngạc nhiên ngoái ra sau tìm thủ phạm; nó bám gót tôi vượt quốc lộ Husum, rồi khi tôi với nó đã rẽ vào lối đi lát gạch, nó lại rủ thằng Heini Bunje nhảy vào cuộc chơi, thằng này a dua với thằng Jobst ngay, và cả hai đứa chúng nó thi nhau tìm cách chèn lấn, xô đẩy tôi từ trên lối đi phải tụt xuống con mương sình lầy, nước nổi váng dầu, chạy dọc theo lối đi.
Chẳng cần dùng đến tay, hai đứa cứ lấy thịt đè người, gạt tôi sang một bên, đẩy tôi đến mép bờ mương, nhưng khi tôi men theo lưng chừng bờ mương khá dốc mà đi tiếp, thì chúng nó cũng tụt xuống, toan đẩy hẳn tôi xuống lòng mương. Tôi chờ chúng đến gần, định đẩy, nhưng rồi lại cúi người xuống tránh, khiến chúng nó toàn bị trượt. Thằng Jobst, vốn lắm trò, liền nhặt sỏi - không, không phải sỏi mà gạch vụn bên đường - ném xuống mương, vào những chỗ thật gần tôi, làm thứ nước màu than bùn bẩn thỉu bắn lên đùi tôi, cặp sách tôi, cả quần áo tôi. Thằng Heini Bunje cũng khoái trá nhặt gạch vụn ném cho nước bẩn dưới mương bắn lên như thế. Tôi nghe gạch bay vèo vèo, nhìn thấy chúng rơi xuống mặt nước đục ngầu, đồng thời cũng cảm thấy ngay, nước bắn lên quất mạnh vào da thịt tôi. Vì chúng nó mất thời gian cúi nhặt gạch vụn, tôi vượt lên trước được mươi mười lăm thước gì đó, nhưng tôi cũng thấy ngay, vượt lên trước chưa hẳn đã có lợi cho tôi, vì từ xa, chúng nó càng hay ném chệch: gạch bay vù qua đầu tôi, vèo qua đùi tôi, đến lúc một hòn trúng đánh bộp vào cặp sách của tôi, thì tôi không còn chịu làm bia cho chúng nó ném nữa; tôi lại trèo lên con đường lát gạch mà đi, đội cặp sách lên che đầu, đi thẳng người - tuy có hơi căng thẳng thật - về phía Rugbüll; nhưng loáng một cái, chúng nó đã chạy đến sau lưng tôi rồi. Trên mặt đường, bóng chúng nó hoa chân, múa tay ra hiệu với nhau. Phải, hai đứa ra hiệu với nhau, không nói thành tiếng. Tôi gồng mình chuẩn bị chống trả ngón đòn mới của chúng nó, nhưng nào có biết chúng nó giở trò gì; vâng, tuy chuẩn bị sẵn, tôi vẫn bị bất ngờ: thằng Jobst ra hiệu, rồi hai thằng kẹp tôi vào giữa, to tiếng đòi tôi nhường đường và xô đẩy tôi ra mép đường; bây giờ chúng nó không xô nữa, mà không ngừng đẩy tôi xuống bờ mương đổ dốc, cho đến lúc tôi không còn giữ thăng bằng được nữa, phải nhảy xuống lòng mương. Tôi nhảy có tính toán, phải nói thế, bởi tôi không ngã sóng soài xuống nước mà vẫn đứng thẳng trên hai chân, ngay giữa lòng mương, lún từ từ xuống lớp bùn lạnh giá, trong khi bọt nước sủi xộc từ dưới lên, vỡ bụp ở quanh tôi; làn nước màu than bùn nâu nâu, đen đen sâu đến bẹn; mùi hôi hám, xú uế xốc lên, trước mặt tôi, một chú ếch đạp chân rất thành thạo theo kiểu chúng tôi vẫn học trong giờ học bơi, cuống cuồng bơi về phía bờ mương rậm cỏ.
Hai thằng Jobst và Heini Bunje reo hò, nhưng không lâu, cảnh tôi đội cặp trên đầu, từ từ lún trước mặt chúng xuống lòng mương lầy lội vẫn chưa làm hai đứa mãn nguyện, cho nên, trong lúc thằng Heini Bunje chạy đi tìm gạch vụn, thì thằng Jobst lồng vòng dây cao su vào ngón tay trỏ và ngón tay cái, lôi ghim giấy bằng kim loại ra làm đạn, và nhắm vào tay tôi mà bắn. Ghim giấy bắn bay qua nghe như tiếng dế kêu, vo ve như tiếng muỗi, vù vù như đủ loại ong, ong mật, ong nghệ, ong bắp cày, ong rừng đang bay qua và đồng loạt mở máy may quay tay vậy. Đến lúc thằng Jobst nhắm hẳn vào người tôi mà bắn thì tôi, vẫn đội cặp sách che đầu, cố sức xoay người lội sang bờ mương bên kia, trườn lên tụt xuống đôi lần, dưới làn đạn bằng ghim kẹp giấy bay vo vo, chíu chíu; tôi nghe tiếng chúng nó khoái trá cười đôi chân lấm bùn, trông như phết sô cô la, ướt mèm và chảy ròng ròng bùn nâu của tôi. Tôi đã trèo lên nằm trên sườn mương đổ dốc thì bị một phát đạn ghim trúng vào cổ, tôi hét lên vì đau, đau cháy như bị ong đốt, và chẳng buồn che chắn gì nữa, tôi bò nhanh lên bờ mương - không thèm để ý mình vừa bị trúng thêm phát nữa đau điếng - trèo qua hàng rào dây thép gai có dính đôi nhúm lông cừu, và vừa chạy vừa nhảy ngoằn ngoèo hình chữ chi về phía ao than bùn.
Chúng nó bỏ cuộc chưa? Chưa, chúng nó chưa bỏ cuộc. Chúng nó có vẻ như đoán ngay ra ý định của tôi, nên rủ nhau chạy về hướng Rugbüll, vừa chạy vừa thỉnh thoảng cúi người nhặt gạch vụn; chúng nó chạy đến tận cái cống đầu tiên, rồi trèo lên ngồi vắt vẻo trên hàng rào bằng gỗ chắn cửa cống; chúng nó chắc khoái chí lắm, tưởng như thế là chặn được đường thoát của tôi.
Tôi vẫn còn nhớ, tôi đã cắm đầu mà chạy, chạy mãi. Tôi cũng còn nhớ vết đau rát bỏng ở cổ, còn nhớ vết đau rát bỏng ở đùi bên phải. Và, tôi cũng còn nhớ lúc đó tôi rất sợ, sợ đến mức tôi không dám dừng lại lấy hơi, buộc tôi chạy tới mãi, vượt qua cả bãi đất thả cừu, bởi tôi tự nhủ, phải chạy, phải bỏ chúng nó thật xa thì may ra chúng nó mới nản, không đuổi theo mình nữa. Nhưng chúng nó có vẻ tự tin lắm. Cứ nhìn hai đứa chúng nó ngồi vắt vẻo trên bức tường bằng gỗ, chân đánh qua đánh lại, tay lựa chọn, phân loại các mẩu gạch vỡ thì đủ biết chúng nó chưa chán trò chơi của chúng, một trò chơi chúng nó tưởng đã nắm chắc phần thắng trong tay. Tôi nhận rõ ra điều đó. Tôi cũng biết rõ như thế. Bởi vậy, tôi cứ hướng Tây Bắc, đúng hơn là hướng Bắc, mà chạy; nếu dọc đường có gặp dãy hàng rào nào, thì trước hết, tôi ném cặp sách của tôi qua trước, để sau đó tự mình buộc mình cũng phải trèo qua, càng nhanh, càng tốt. Chúng mày cứ việc ngồi đấy mà chờ!
Tôi không nhớ lúc đó mặt trời có đang chiếu sáng không? Nhưng trời thì lặng gió, cánh đồng ấm áp, và giá không phải đang tiết thu, mà tiết xuân, mọi thứ hẳn đang bừng tỉnh và cây cối đã lại đâm chồi nảy lộc. Không biết vịt trời lúc đó có bơi trong ao than bùn không nữa? Lúc tôi vượt gò đất bùn bùng nhùng bên cạnh ao than bùn, rồi quỳ xuống để rửa chỗ bùn bám ở chân tôi bây giờ đã khô và ngả sang màu hơi xanh, tôi không nghe cả tiếng chân chạy lạch bạch lẫn tiếng vỗ cánh của vịt trời trước lúc bay lên. Con thuyền chở than bùn còn ở đó không? Chỗ mương nước đâm vào ao, tôi tìm thấy nó ở đấy, con thuyền con cũ kỹ, đuôi thuyền ngập nước, mạn thuyền trát hắc ín đen, tấm ván bằng gỗ bắc ngang hai bên mạn thuyền làm chỗ ngồi đã bạc thếch, dính đầy phân chim hải âu. Tôi trèo lên thuyền, nhặt một cây gậy gạt mấy con nhện nước ngái ngủ ra chỗ khác, và đưa mắt nhìn theo lưng mấy con cá chép đang lừ lừ bơi bên đám lau sậy.
Tôi ngồi một mình trong con thuyền chở than bùn cũ kỹ, và từ đây, dù ngồi hay đứng tôi đều không nhìn thấy bức tường ngăn cửa cống; ở nhà mọi người hẳn đã ăn xong từ lâu rồi, chị Hilke chắc đã để phần cơm tôi lên lò, để giữ cho ấm; tôi chẳng có việc gì vội, chẳng có gì thúc giục tôi, chỗ đau ở cổ và ở đùi đã đỡ nhói; tôi đẩy cho thuyền nổi trên mặt nước, rồi dùng cái hộp đồ hộp cũ đã gỉ tôi nhặt được dưới tấm ván gỗ để tát nước trong lòng thuyền ra ngoài. Tôi làm gì khi chợt nghe tiếng người nói nhỉ? Đúng là đột nhiên tôi nghe tiếng người nói thật, tiếng một người đàn ông gọi to, tiếng một người đàn bà cười đáp lại. Tiếng họ vọng từ khu khai thác than bùn, nơi các tảng than bùn được đào lên, xếp thành từng khối ngay ngắn theo hàng để phơi khô. Không thấy bóng người nào, chỉ nghe tiếng người đàn ông gọi lần nữa, rồi tiếng người đàn bà cười đáp lại lần nữa. Tôi dùng cây gậy đẩy được con thuyền dạt sang một bên, nằm ngang mương nước để nối hai bờ với nhau. Tôi bước sang bờ bên kia; tôi lắng nghe xem tiếng người nói vọng từ đâu đến, nhưng bây giờ lại lặng im, chả thấy ai gọi, ai cười nữa. Nước trong mương không chảy, nên con thuyền nằm yên một chỗ; nó sẽ nằm đây chờ tôi, và nếu cần, tôi tự nhủ, nó khắc đưa tôi đi.
Tôi lần ngược lên khu khai thác than bùn, và trước khi tôi đến được mép hố, tôi đã nhìn thấy đầu một cái thuổng ướt, lấp lánh vung lên vung xuống theo hình bán nguyệt; nó nhô lên khỏi mặt đất, vẽ một đường vòng cung, rồi lại biến mất, trông giống như chiếc kim đồng hồ chỉ quay đi quay lại ở phần phía trên của mặt đồng hồ mà thôi vậy. Tôi đến bên mép hố nhìn xuống, dưới đó là một chiếc xe cút kít, một lối đi lót bằng gỗ ván, và các bậc thềm bằng than bùn tối om. Dưới hố, cô Hilde Isenbüttel cùng chú người Bỉ của cô đang xắn than bùn. Chú người Bỉ, chú León, mình trần, đang đứng ở bậc thang dưới cùng, dùng thuổng như dùng xẻng xắn xuống lớp đất ướt lóng lánh, sau đó nâng một tảng than bùn cỡ ngang hòn gạch, rồi khéo léo hất nó cho cô Hilde Isenbüttel bắt, bằng cách vung thuổng lên rồi rút ngay về - nên tôi mới thấy đầu thuổng xuất hiện ở miệng hố - để xắn tiếp xuống lớp than bùn mọng nước. Cô Hilde Isenbüttel hơi khuỵu chân xuống, dùng hai tay đón bắt tảng than bùn rồi xếp nó lên cái xe cút kít bê bết than, ướt át và đen ngòm. Cả hai, cả chú lẫn cô ấy, đều mặc quần; chú người Bỉ - quần đen ống chẽn, cô Hilde - quần vải xám ống rộng; chắc cả hai thứ quần này đều lấy từ trong tủ quần áo của ông chồng cô, Albrecht Isenbüttel, là người đang tham gia đội quân bao vây Leningrad suốt từ mấy năm nay.
Cả hai đều mang guốc gỗ, song có lẽ chỉ có chú tù binh León là mang đôi guốc của ông Albrecht Isenbüttel. Lúc xắn than bùn, chú León đánh trần thì tôi kể rồi; còn cô Hilde mặc chiếc áo đã bạc màu, nhét lỏng lẻo vào trong quần, ngoài ra, cô ấy trùm khăn vải, có in hình quả địa cầu, chiếc compa và thước tính. Tôi còn quên cái gì không? À, phải kể thêm cái giỏ đan, đậy bằng giấy báo, và nằm bên cạnh giỏ đan là cái áo sơ mi và áo khoác nhà binh quân đội Bỉ, cúc cài kín.
Bất kể gặp cô Hilde Isenbüttel ở đâu và bất kể nhìn cô từ hướng nào, bao giờ ta cũng có cảm giác - nếu không phải bắt gặp cô đang cười thì cũng sắp phá lên cười, và cảm giác đó không phải chỉ bắt nguồn từ hàm răng ngắn và thưa của cô, không phải chỉ vì đôi vai rất cao, chẳng cần đệm thêm độn vải của cô, và càng không phải duy nhất do đôi mắt của cô, một đôi mắt mà dường như con mắt này lúc nào cũng cãi lại và phản bác mọi điều con mắt kia quả quyết vậy. Cảm giác đó do toàn bộ diện mạo của cô tạo nên: đôi chân vạm vỡ, hơi vòng kiềng, cái bụng phình ra phía trước được chặn lại bằng dây thắt lưng thắt hơi chặt, bộ ngực nặng lặc lè nhưng ấm cúng, các nốt tàn nhang đầy mặt, lan ra cả sau tai. Vâng, mọi nét trên người cô Hilde Isenbüttel đều tạo ra cảm giác cô sắp cất tiếng cười thật. Cô bắt các tảng than bùn trơn ướt mới thành thạo làm sao! Cô xếp các tảng than bùn lên chiếc xe cút kít đen sì kia mới khéo léo làm sao; dưới tay cô, không tảng than bùn nào bị vỡ. Chú người Bỉ xắn than cho đến lúc đầy xe cút kít mới thôi, chú cắm cái thuổng xuống đất, nhảy từ trên bậc thang xuống, bế thốc cô Hilde Isenbüttel lên, đặt cô ngồi lên xe, rồi cúi người đẩy chiếc xe đi; trước hết qua một tấm ván rộng, rung rinh nằm vắt qua cái hố ngập đầy nước đục ngầu, vượt một con dốc con và sẵn đà, vọt luôn sang tấm ván khác, đoạn, để mặc cho xe lăn đến trước hàng các tảng than bùn xếp chồng lên nhau - thành khối hình tháp cao ngang lưng người và thóp dần từ chân lên đỉnh - để phơi khô; những tháp than bùn này được xếp thành hàng sáu, và nếu nhìn từ đằng xa, trong bóng tối hay trong sương mù, hình ảnh duy nhất người ta liên tưởng ngay đến là hình ảnh lính tráng đứng xếp thành hàng.
Cô Hilde Isenbüttel tụt khỏi mép xe cút kít, rồi hai người xếp tháp than bùn, bắt đầu từ chân tháp hình tròn, trong đó các tảng than bùn được xếp xen kẽ nhau nhằm chừa kẽ hở cho khí lưu thông; tháp than mỗi lúc một cao, và do khoảng cách đến các tháp lân cận cũng như khung cảnh lúc đó, lại làm liên tưởng đến một anh lính đang lớn dần lên. Hai cô chú cúi người, lặng lẽ dùng hai tay nhấc các tảng than bùn từ trên xe, đặt mạnh xuống. Chú León cắm lên tảng cuối cùng đặt trên đỉnh một cọng lông vịt - tôi đoán chắc chú nhặt được đâu đó cạnh đôi guốc của chú; xong đâu đấy, chú đưa tay lên chào tháp than bùn mới hình thành theo kiểu nhà binh, nhưng lại rụt tay về ngay, và xoa xoa sống lưng với vẻ mặt nhăn nhó. Chắc bị con gì đốt. Rồi chú ngồi lên cái xe cút kít lúc này đã dỡ hết than, khoanh tay trước ngực, và chờ cô Hilde Isenbüttel bây giờ đến lượt nâng xe lên rồi đẩy đi; và, trong lúc cô Hilde đẩy xe quay lại hố đào than, chú ấy đóng vai diễn viên kịch câm, vung tay hướng dẫn cho một người khách vô hình nào đó ngồi cạnh ngắm phong cảnh xung quanh, cúi người đáp lễ, đón nhận lời chào của khán giả vô hình đứng hai bên.
Nhìn lên miệng hố than bùn, chú nhìn thấy tôi, liền đưa tay vẫy, nhưng cô Hilde Isenbüttel không dừng lại để nhìn về phía tôi, chắc cô tưởng chú León đang vẫy chào khán giả hay khách qua đường chú tưởng tượng ra. Xuống đến đáy hố khai thác than, cô mới dừng lại bên cạnh cái giỏ nằm ở đó. Nhìn theo tay chú chỉ, cô nhìn lên phía trên và nhận ra tôi. Cô ấy gọi: Xuống đây, Siggi, cháu giúp một tay được đấy. Tôi liền nhảy từ bậc thang này sang bậc thang khác - làm thành hố than bùn rung rinh - xuống chỗ hai người. Cô chú nhìn cái quần ướt dính bùn khô, nhưng không ai hỏi gì, cả cô cả chú cũng không hỏi sao tôi lại mang cặp sách theo. Họ chỉ chào tôi thân mật. Chú người Bỉ nhấc cái giỏ lên, và cô Hilde bới bới trong đó, lôi một miếng bánh mì kẹp thịt và một miếng bánh nướng, rồi chìa ra cho tôi chọn; chà, bởi vì trong các tình huống như thế tôi rất khó xử, cho nên tôi chẳng ngần ngại gì mà cầm luôn cả hai, chẳng buồn để tâm hai người hóm hỉnh nháy mắt với nhau.
Hai người để tôi ăn xong mới giao việc cho tôi; tôi phải dọn sạch khoảnh than bùn mà sau đấy chú León sẽ dùng thuổng xắn tới. Nghĩa là tôi phải dọn trên mặt trước; trước hết tôi dùng xẻng gạt lớp cỏ bên trên và thêm một lớp mỏng bên dưới nữa, gồm toàn cây cỏ khô, đã hóa đen, nhưng chưa bị phân hủy, vì loại than bùn chúng tôi xắn thành tảng phải thật nhuyễn mới được. Lớp lớp những thân với lá cây phải nằm đè nặng lên nhau và chìm xuống đời này qua đời khác, phải phát ra đủ loại khí, dưới tác động của thán khí mà tan ra và phân hủy, để than bùn chín và cháy âm ỉ trong lò chứ không được cháy rụi quá nhanh. Tôi mắm môi mắm lợi kéo nào nhánh liễu, nào cành bạch dương lên khỏi mặt đất, tôi tìm thấy nhiều mẩu cây, trông giống như những thứ mà đám con cái của vua ma chúa quỷ vùng này vẫn dùng làm đồ chơi vậy. Vô số rễ cây tróc vỏ, trắng bệch, trông như bằng sáp nến. Thân lau sậy. Những thứ sợi, dây rợ, từ cây gì ra chẳng rõ. Đôi mẩu gỗ mục, có lẽ mảnh vỡ của một con thuyền nào đó. Tôi kéo, tôi đào, tôi bới hết cả lên, nhưng thứ mà trong lòng tôi thầm mong tìm được để đem về cất trong cối xay gió của tôi thì chẳng thấy đâu, tức là một xác người thượng cổ chìm dưới đầm lầy, khô đét, bẹp gí và dễ mang theo. Rõ chán, đến xác chim còn chẳng có, nói gì đến một thứ vũ khí thời xưa. Chỉ thấy nồng nặc mùi lưu huỳnh, amoniac và đủ mùi xú khí khác.
Chú người Bỉ không ngớt đào đào, xắn xắn, còn cô Hilde không ngừng xếp lớp than bùn này lên lớp khác. Đôi lúc, khi hai người leo lên đến dãy tháp than bùn, họ lại nói với nhau chuyện gì đó, nhưng chuyện gì tôi không nghe ra. Chú León tuy nói phương ngữ Platt của chúng tôi thật, nhưng lại pha giọng Pháp, thành một thứ tiếng nói lổn ngổn chẳng ai hiểu, trừ cô Hilde Isenbüttel. Chú người Bỉ này vốn là pháo thủ, và hình mấy quả lựu pháo có cánh mà chú đeo trên cầu vai, đã được treo từ lâu, trên tường, trong cối xay gió của tôi.
Vâng, tự nguyện quay về phía sau mạng lưới chằng chịt của quá khứ, tôi lại nhìn thấy chú León trước mắt tôi trong hố đào than bùn, và tôi cũng thấy lại cô Hilde hay cười - hoặc dễ cười thì đúng hơn - đội khăn trùm đầu có in các hình mẫu khác nhau, nghe tiếng cô thở dốc, mỗi lần đưa tay ra bắt một tảng than bùn ướt át bay tới. Thỉnh thoảng tôi lại liếc qua mặt ao về phía Rugbüll, nhưng từ phía đó không có ai tiến lại gần cả, chỉ thấy có đàn bò với cừu tha thẩn trên bãi cỏ. Phải, bò với cừu, bây giờ viết ra thì dễ thế, chứ thật ra tôi phải căng óc ra mà nhớ lại chúng ở phía xa - đốm đen, đốm trắng, xám xịt, lù xù, và hòa nhập vào nhau, khó mà tách biệt con cừu nào với con cừu nào - bởi vì tôi không muốn cánh đồng của tôi bị lẫn lộn với cánh đồng khác. Gì thì gì, không phải tôi muốn kể về một địa phương bất kỳ nào đó, mà tôi muốn kể về quê tôi, tôi không tìm lại một nỗi bất hạnh bất kỳ, mà tìm lại nỗi bất hạnh của riêng tôi; vâng, nói tóm lại, tôi không kể lại một câu chuyện bất kỳ, của ai đó bất kỳ, bởi vì, nếu câu chuyện đã bất kỳ, thì nó sẽ chẳng ràng buộc gì nữa cả.
Bởi thế, ở đây tôi phải nhấn đi nhấn lại, rằng hôm ấy bầu trời thật ngột ngạt, không trung mờ sương, nắng yếu, và cả ba chúng tôi làm cật lực trong tiếng rì rầm của sóng biển hiền hòa, trong tiếng lau sậy lao xao; trên trời cao một đàn chim tạo đội hình bay qua, còn bên dưới, bãi đầm lầy lục bục sủi bọt. Sình lầy, đất bùn, đất bùn nguyên thủy! Chẳng phải ông ngoại tôi, ông Per Arne Schessel, đã từng viết và quả quyết ở đâu đó, rằng, tuy không phải mọi cuộc đời, nhưng cuộc đời tốt đẹp nhất, bền chắc nhất, kiên cường nhất đã bắt nguồn từ đất bùn nguyên thủy này là gì? Không phải ông tôi vẫn rêu rao, rằng mọi sinh vật sống đều bắt nguồn từ giống nòng nọc, đuôi ngoe nguẩy như cái roi để ngoi từ bùn lầy nguyên thủy lên đón nắng mặt trời là gì? Vâng, chính ông ngoại Per Arne Schessel tôi, nhà địa phương học khó tính ấy quả quyết như vậy!
Tôi ngồi xuống nghỉ tay. Tai tôi nghe rõ dần tiếng động cơ máy bay rù rù từ phía Biển Bắc bay vào. Rất có thể hai cô chú đang đứng dưới đáy hố than bùn không nghe thấy tiếng động cơ rù rù đó. Cũng có thể họ nghe thấy, nhưng không coi đó là chuyện gì đáng để ý, bởi vì, ở vùng này, máy bay vẫn bay qua đầu chúng tôi về hướng Kiel, Lübeck hay Swinemünde như cơm bữa. Tiếng động cơ bay đến gần, nhanh đến nỗi, khi tôi nhìn sang phía bờ đê và nheo mắt, dựa vào bốn sợi dây điện thoại chăng dọc theo bờ đê và chia vùng chân trời, vâng, cứ tạm gọi như thế, thành bốn lớp làm mốc, tôi đã thu gọn mấy chiếc máy bay đang chực nhảy xổ qua ụ đất xanh nâu nhô lên ngay vào tầm ngắm của tôi. Tôi xoay khẩu cao xạ hai nòng bí mật do tôi tưởng tượng và chĩa về phía đê - chúng mày cứ việc bay đến đây! Chắc chúng phải bay rất thấp, chỉ là là mặt nước là cùng, để lợi dụng con đê mà áp đến thật gần, rồi bất thần - cánh quạt quay sáng loáng - chúng nhảy vọt qua ụ đất xanh nâu cùng loạt dây điện thoại, và lập tức lượn về phía chúng tôi. Hai chiếc cả thảy, hai chiếc Mustang lừng lững, chắc nịch.
Chúng chúc đầu bay đến mỗi lúc một gần, và tôi có thể nhận ra hình đầu trâu rừng vẽ trên mũi chiếc máy bay đầu tiên, một cái đầu bờm xờm, lông lá, gằm gằm trong tư thế điên cuồng tấn tới, hoàn toàn tự tin vào sức mạnh sấm sét của nó, thậm chí cả gương mặt viên phi công, phải, tôi cầm chắc như thế, đến cả mặt viên phi công trong buồng lái tôi cũng nhìn rõ: hắn bình thản điều khiển cái đầu trâu, ngắm mục tiêu, ấn đầu trâu chúc thêm xuống nữa, và hơi chếch sang một bên, bay sau chiếc thứ nhất là chiếc máy bay thứ hai, lặp lại y hệt mọi thao tác, mọi đường bay của chiếc thứ nhất, như thể cả hai được nối liền với nhau và cùng tuân theo một mệnh lệnh duy nhất vậy.
Tôi đưa tay lên cao, kéo cò. Chúng bắn trả ngay. Từ trên cao, lửa phun, lửa phụt, lửa phóng xuống, cắm những vệt - mảnh như những sợi chỉ - rừng rực, nóng bỏng xuống đất, xiên chíu chíu như chớp xuống mặt đầm lầy, từ đó chỉ còn vang lên tiếng ì oàm, lục bục. Còn những tháp than bùn! Những tháp than bùn màu nâu chú León và cô Hilde Isenbüttel dựng lên lúc nãy bắn ra tung tóe, nổ bục, nghiêng sang bên rồi thay nhau đổ gục. Các tảng than bùn vỡ bục, tan nát. Một con rắn lửa chạy ngoằn ngoèo trên lớp cỏ khô. Các mảnh than bùn vụn bỗng rơi như mưa lên đầu lên cổ chúng tôi, nhưng tôi đã nằm phủ phục, chả biết tự lúc nào, tôi nằm dán xuống nền hố ướt át, và không còn cảm thấy gì khác ngoài sức nặng toàn thân của chú León nằm đè lên tôi cũng như hơi thở của chú bên mang tai tôi, và vòng tay chú ghì chặt - nhưng cố nương nhẹ để không gây đau đớn - lấy người tôi. Chú che đạn cho tôi, trong khi những vòng lửa quay tròn, những làn đạn sáng lòa hình nan quạt vẫn lướt qua trước mắt tôi, tôi cũng nhìn thấy cả những loạt đạn cắm vào thành hố than bùn đối diện, những loạt đạn vô tích sự, tôi phải nói thế, bởi vì chúng chỉ để lại những lỗ thủng không đáng kể trên thành hố, phía trên màu nâu sáng, càng xuống dưới càng đen. Tôi có cảm giác chú León nằm đè lên tôi hơi lâu, nhưng lý do là vì hai chiếc máy bay vừa bay lướt qua đầu chúng tôi đã lại lượn vòng trở lại: từ trên cao, chúng bay chúc đầu, gần như vuông góc với mặt đất, bổ nhào xuống chỗ chúng tôi - mà nếu không xuống chỗ chúng tôi, thì xuống hàng các tháp than bùn, tuy đã thưa thớt, nhưng vẫn ngay ngắn, ngoan cường trong hàng ngũ. Những tháp than bùn ấy làm bọn phi công ngứa mắt; hàng ngũ ngay ngắn, nghiêm trang kỷ luật đó có vẻ làm chúng sôi máu; bởi các tháp hình người đó không chạy tản ra, không tìm nơi ẩn nấp, không thèm để ý đến cả những kẻ trúng đạn… Hóa ra, những dãy tháp than bùn lúc nhúc đông ngang cả tiểu đoàn lính, gan lì đứng xếp thành hàng ngũ ngay ngắn giứa đầm lầy ấy đã là mục tiêu của trận không kích vừa qua.
Chờ cho hai chiếc máy bay quay lại hướng Husum, nơi có đến hàng sư đoàn - có khi hàng quân đoàn cũng nên - những tháp than bùn xếp thẳng hàng thẳng lối như thế, chúng tôi mới trèo lên. Chú người Bỉ, chú ấy làm gì nhỉ? Chú León vừa dứ dứ nắm đấm về phía hai chiếc máy bay đang là là thấp cút đi xa, vừa cười ha hả. Chú hết lên “Bọn chó đẻ”, nhưng từ miệng chú nghe cứ như “bon cho đe”! Chú khoát tay chỉ ra bãi dựng các dãy than bùn bị phá hủy, nắm lấy chỏm khăn đội đầu của cô Hilde Isenbüttel kéo về phía mình, vẫn cười, rồi hôn cô ấy, hất đầu chỉ về phía các tháp than bùn, chỗ này đổ sập ít, chỗ kia đổ sập nhiều, và nói: Ta sẽ dựng lại hết, ta còn khối thời gian. Đoạn, chú León lại đặt tay lên vai tôi, nói tiếp: Ta sẽ dựng lại, chú nhỏ nhỉ, n ‘est pas[1]? Và, chú bắt tay ngay vào việc sắp xếp lại các dãy tháp than bùn, mới đầu chú nhặt các tảng than bùn còn nguyên, xếp chúng lại thành những ngọn tháp mới. Cô Hilde và tôi cũng giúp chú ấy, hai cô cháu tản ra tìm những tảng than bùn chưa bị vỡ, rồi chuyển chúng cho chú León - chú tù binh người Bỉ, một con người có vẻ không còn thiếu thốn thứ gì ở đời nữa cả, có đủ cả giá đỡ ba chân của một anh thợ đóng giày lẫn người tình.
Chú vừa làm vừa huýt sáo. Chú vừa thúc giục hai chúng tôi, vừa huýt sáo, có lẽ vì thế nên chú không nghe thấy tiếng rên, tiếng người rên chợt nổi lên giữa các tháp than bùn, hay phải nói cho đúng hơn, thì thật ra, tôi cũng không nghe thấy gì, chỉ có cô Hilde là nghe thấy trước, thoạt đầu, dừng tay lắng nghe, nhưng rồi lại làm tiếp, cho đến lúc cô bất chợt ra hiệu bảo chúng tôi dừng tay đứng im, và trong khi nhìn cô, hai chú cháu cũng nghe thấy tiếng rên đều đều, yếu ớt, từ phía dưới, giữa đống than bùn đổ sập, vọng lên. Chú León cất tiếng gọi. Không ai đáp lại. Chú León gọi lần nữa, rồi cả ba chúng tôi tụt xuống chỗ đống than đổ ngổn ngang, và tôi không hề biết cái gì đang chờ đợi chúng tôi, cái gì sẽ làm chúng tôi phải bất ngờ. Không nghe thấy tiếng rên nữa, chúng tôi chia nhau đi dọc xuống giữa các hàng tháp than bùn bị bắn tan nát, và, ở cuối hàng, chúng tôi nhìn thấy anh Klaas. Anh ấy nằm ngửa, bất động, cũng không ngước mắt nhìn chúng tôi. Nét mặt thanh thản, hai bàn tay mở ra. Anh nằm gối đầu lên một tảng than bùn khô. Anh bị thương, đạn bắn trúng bụng. Anh đeo thắt lưng, không, không phải thế, mà viên đạn xuyên vào bụng anh ngay ở chỗ khóa thắt lưng, vết máu loang ra to hơn một bông cúc đại đóa.
Đó là điều đập vào mắt tôi trước hết, và bây giờ nhớ lại, tôi nhớ trước tiên đến cảnh tượng yên ắng bao trùm lên xung quanh, khi chúng tôi đứng quây lấy anh ấy, không một tiếng kêu hoảng hốt, không một lời thốt “Chết, chết, làm sao thế này” bi ai đầy xúc động, không ai hấp tấp quỳ xuống, sờ nắn thân thể anh ấy, cũng không một tiếng nấc, không ai vội vã xem xét các vết thương; tôi chỉ nhớ, cả ba chúng tôi đứng ngây ra đó, như thể mọi sự đã quá muộn rồi vậy.
Chú León là người đầu tiên cúi xuống bên anh Klaas, lấy tay phủi các mảnh vụn than bùn phủ lên người anh. Chú phủi sạch cho anh ấy, có thế thôi. Tôi làm theo, rồi tôi cất tiếng gọi anh Klaas, nhưng anh không nghe thấy tôi. Cô Hilde Isenbüttel kéo tôi đứng lên, rồi ôm tôi sát vào người cô. Sau đó cô thì thầm với chú người Bỉ, giải thích ngắn gọn đầu đuôi cho chú ấy nghe, và bàn tính với chú nên làm gì bây giờ; chú León liền xuống dưới hố than bùn, mặc quần áo, rồi quay lại cùng chiếc xe cút kít. Chú đặt xe bên cạnh chỗ anh Klaas nằm, dọn sạch sàn xe, rồi trải áo khoác của chú lên đó. Chú thận trọng bế anh tôi lên và đặt anh nằm gối đầu lên thành xe phía sau.
Tôi nói: Mình phải đến chỗ bác họa sĩ, mình phải đưa anh ấy đến chỗ bác Nansen, anh ấy muốn thế. Cô Hilde lắc đầu, nói: Làm sao đến nông nỗi này cơ chứ. Phải đưa anh ấy về nhà, cháu ạ, không còn cách nào khác cả; cháu đứng yên nào, phải đưa anh ấy về nhà thôi. - Nhưng anh Klaas, tôi nói, anh ấy muốn mình đưa anh ấy đến chỗ bác họa sĩ. - Anh cháu phải đến trạm xá, cô Hilde nói, trước hết về nhà rồi đi trạm xá. Lạy Chúa, làm sao đến nông nỗi này cơ chứ!
Cô chỉ tay về phía Rugbüll, chú León gật đầu rồi nhấc càng xe cút kít lên, còn tôi xách cái giỏ. Chúng tôi bắt đầu rời khỏi bãi đất bùn. Xe chốc chốc lại lún xuống. Bánh xe bằng gỗ có đai sắt lúc ngập dưới bùn, lúc ngập ngừng vượt qua mô đất, hay nghiến trên nền đất mềm. Toàn thân anh tôi nẩy lên cùng mỗi rung chuyển nhỏ, rung lên, lắc bên này bên kia, co rúm lại, còn cái đầu anh, lúc thì nằm lệch sang một bên, lúc khác lại lắc qua lắc lại trên tấm chắn phía sau xe; hai tay anh ấy cũng buông thõng sang hai bên, lệt sệt kéo trên mặt đất. Máu rỉ từ khóe miệng anh, hai bên thái dương, các vết máu khô lại thành vệt hình chữ thập.
Chú người Bỉ hì hục đẩy xe, nâng lên, hạ xuống, toàn thân chú cũng rung lên, gân guốc nổi đầy trên cổ, lưng chú cứng đơ, mắt chỉ chằm chằm nhìn anh Klaas, và dường như mỗi lần xe xóc cũng làm chú đau đớn cùng anh ấy. Chúng tôi đi trên mặt đê, rồi tụt xuống lối đi dọc theo chân đê. Chốc chốc, chú León lại dừng lại, và cô Hilde Isenbüttel xốc anh Klaas nằm lại cho ngay ngắn, hoặc kéo thẳng chiếc áo khoác lót dưới lưng anh. Mỗi lần dừng lại, hai cô chú lại thì thầm nói chuyện với nhau. Này, hay cháu chạy về trước đi? Không! Cháu chạy về báo trước ở nhà đi? Không! Cháu về báo cho bố cháu chạy ra đón xem nào? Không. Tôi chỉ muốn nắm lấy sợi dây kéo xe, nãy giờ để không. Thế là cô chú đồng ý, quàng sợi dây kéo lên vai tôi, và tôi gò người ra phía trước, dùng toàn thân kéo xe theo, trong đầu vẫn còn nghĩ đến bức tường gỗ chắn ở cửa cống, nghĩ đến thằng Jobst và Heini Bunje tôi phải trốn tránh. Nhưng không thấy chúng nó đâu nữa.
Anh Klaas vẫn nằm yên. Trông anh nằm sao mà thanh thản! Cánh tay bị thương quấn băng thường xuyên tuột xuống và lệt sệt lê trên mặt đất; cô Hilde lại cúi xuống, đỡ cánh tay anh lên, ấn vào ngực anh ấy. Vâng, đó là cảnh tượng tôi còn nhớ, cũng như tôi còn nhớ cặp mắt đen của chú người Bỉ, cả gương mặt méo xệch vì gắng sức của chú ấy.
Nếu tôi buộc phải nhớ lại chuyến trở về nhà ấy của chúng tôi, thì chuyện thế nào tôi phải kể y như thế, hay kể bớt đi? Tôi vẫn nghe tiếng bánh xe ken két. Tôi vẫn nhớ cảm giác quai dây kéo xe nghiến vào vai tôi. Tôi nhìn thấy ấp Rugbüll đang tiến lại gần, ngôi nhà xây bằng gạch đỏ, nhà kho, cái thùng xe cũ, chĩa càng ngỏng lên trên. Vâng, Rugbüll của tôi. Của tôi thật, nhưng nào có ích gì; và, mặc dù tôi phải nhắc đến nhiều thứ khiến chúng tôi chậm bước - nào chú León mỗi lúc một kiệt sức, nào nỗi sợ hãi mỗi lúc một dâng lên như muốn níu chân tôi - chúng tôi vẫn đến mỗi lúc một gần Rugbüll hơn, xe chúng tội đã lăn trên mặt cầu lát gỗ; đứng từ đây, có thể nhìn rõ bức tường ngăn cửa cống, trên đó không có kẻ nào đang lăm lăm súng cao su chờ tôi. Chúng nó cuốn đi rồi; chúng tôi lăn xe qua cống, qua tấm biển chỉ đường và thùng xe; đến đây, tôi nghĩ bụng, hẳn anh Klaas sẽ vùng dậy, hẳn bây giờ anh ấy đã hiểu ra anh ấy đang ở đâu và chúng tôi định đưa anh ấy về đâu, tôi đã tính đến chuyện anh ấy lăn người khỏi xe, nhảy dựng dậy để chạy trở lại về đầm lầy than bùn, là nơi từ khi biến khỏi Bleekenwarf anh ấy lấy làm nơi ẩn náu ban ngày; nhưng anh tôi vẫn nằm yên trên xe, không ngồi dậy, đến chớp mắt cũng không, lúc chúng tôi dừng lại trước bậc thềm.
Cô Hilde Isenbüttel bước vào trong nhà. Chú người Bỉ ghé ngồi xuống bậc đá, lấy ngón tay trỏ đã tê dại lục tìm điếu xì gà trong túi, nhưng chẳng tìm được gì, rồi đột nhiên chỉ tay vào áo khoác lúc nãy chú trải ra cho anh Klaas nằm, a, phải rồi, điếu xì gà nằm trong túi áo kia cơ. Chú phẩy tay, ý nói không sao, lát nữa hút cũng được.
Chú ái ngại chỉ vào anh Klaas và xòe bàn tay ra ý muốn hỏi. Chú không nói một lời, chỉ câm lặng ra hiệu chuyện trò với tôi. Giá chú giúp được một tay, chú ra hiệu nói với tôi, thì chú giúp ngay rồi, nhưng ở đây, nhất là thân phận chú, chú chẳng biết làm gì; mang được anh Klaas về đây, chú đã làm, không ai muốn, mà cũng không ai có thể mong chờ thêm gì ở chú nữa, nhất là lúc chú đang ở tư thế một quân nhân địch bị bắt thế này. Chú không ngừng dỏng tai nghe các tiếng động trong nhà, nhác trông cũng biết chú sốt ruột, muốn biến thật nhanh khỏi chỗ này. Chú có vẻ muốn nâng cánh tay thõng xuống của anh Klaas lên lắm, nhưng chú không dám động vào người anh tôi ngay dưới khung cửa sổ từ nhà tôi trông ra. Còn tôi chỉ biết nhìn anh Klaas tôi. Tôi vẫn còn mong, vẫn chưa mất hy vọng, rằng anh tôi sẽ bỏ trốn đúng lúc. Anh ấy có động đậy không? Có phải anh đang co chân chuẩn bị nhảy bật dậy không? Không, anh tôi bị lạnh, anh rùng mình.
Đúng lúc này bố tôi xuất hiện ở đầu bậc thang bằng đá; ông bước ra khỏi nhà, áo choàng cảnh sát không cài cúc; ông không để ý đến lời chào của anh tù binh người Bỉ, ông chỉ đứng đực ra đó, trên gương mặt dài thuỗn của ông hiện dần một vẻ mặt mà tôi không biết dùng lời nào để tả, vẻ mặt pha lẫn cả oán trách lẫn hoang mang, tuyệt vọng, và ông không nhảy bổ xuống bên xe cút kít, chỉ đứng cao trên bậc thềm - một tư thế tôn ông cao hẳn lên - nhìn xuống anh Klaas nằm ở dưới bằng cặp mắt như thể trong đầu ông, ông đã biết trước anh tôi sẽ quay về nhà, như thể ông đã tính trước cả mọi sự. Ông lưỡng lự, có vẻ như ông đang phải suy tính lung lắm thì phải. Nhưng rồi ông cũng chậm rãi theo bậc thềm bước xuống, rất chậm là đằng khác, làm một vòng quanh chiếc xe, trước khi dừng lại ở phía sau xe và đưa tay chạm vào vai anh Klaas, chạm vào mà chẳng để làm gì, không hỏi han, không gọi ông anh tôi đang bất lực nằm lặng im trong xe. Nhưng rồi ông cũng nâng cách tay buông thõng của anh Klaas, nâng lên, gập lại và đặt nó lên ngực anh tôi. Cô Hilde Isenbüttel, từ lúc nãy đã theo ông từ trên bậc thang đi xuống, đưa tay lên tháo khăn trùm đầu, lắc lắc đầu cho tóc xõa ra, và xuýt xoa luôn mồm, làm sao lại đến nông nỗi này cơ chứ. Chú người Bỉ đứng yên, ở tư thế sẵn sàng chờ lệnh. Rốt cuộc, bố tôi bảo chú nắm lấy hai chân anh Klaas, còn ông thì luồn hai tay xuống đỡ hai vai anh Klaas. Và, cứ thế, hai người khênh anh tôi lên nhà, lặc lè đi tiếp vào phòng khách. Họ đặt anh Klaas nằm xuống chiếc sofa màu xám. Bố tôi không để ý thấy cô Hilde Isenbüttel nháy mắt với chú León, rồi hai người lẳng lặng, không nói lời cáo từ, bước ra ngoài; bố tôi đứng thẳng người, dò hỏi, trước mắt anh Klaas, lắng nghe, như thể ông đang mong được nghe thấy hơi thở nào đó của anh đáp lại ông. Trông ông có vẻ đơn độc, lẻ loi trước mặt anh Klaas, và ông muốn nói điều gì đó. Rõ ràng ông muốn nói điều gì đó rất hệ trọng. Nhưng đến cả mắt anh Klaas cũng không mở ra. Bố tôi cẩn thận bê một cái ghế đến gần, đặt xuống một đầu sofa, rồi ông ngồi lên ghế và cúi người xuống phía anh tôi; lát sau, ông nắm lấy cánh tay bị thương và bó băng của anh, xoay đi xoay lại, chăm chú ngắm nghía. Ông không buông tay anh Klaas ra. Đôi môi ông mấp máy. Ông vẫn chìm trong cơn im lặng; thế nhưng, ông chợt cất tiếng, nói bằng tiếng địa phương: Thật không may cho mày, nhưng chưa hết khổ đâu, con ạ. Ông nói rất khẽ, vội vàng, hướng xuống chỗ anh Klaas nằm, không buồn biết xem anh có hiểu ông nói gì hay không; ông nói, như thể muốn trút bỏ một nghĩa vụ đã cũ, một nghĩa vụ lẽ ra ông phải hoàn thành từ lâu, một nghĩa vụ mà kể từ ngày anh Klaas quay về, ông vẫn canh cánh mang theo mình đi khắp nơi. Thế nhưng, ông chưa kịp nói hết, thì cánh cửa bung ra, và ông đành ngừng lời, nhưng không ngẩng mặt lên, mà cũng không buông tay anh Klaas ra.
Ông lắng nghe tiếng chân mẹ tôi, lết lệt sệt từ cửa vào.
Ông khom người, nín thở, trong khi bà tiếp tục lết qua căn phòng khách ít khi dùng đến này, môi mím chặt, gương mặt không để lộ, hay chưa để lộ, bất cứ ý nghĩ nào khác tự lòng bà, ngoài vẻ tự chủ khiến bà đau đớn mà thôi. Đến đây thì bố tôi đứng dậy, cố kéo bà ngồi xuống ghế. Nhưng mẹ tôi lặng thinh cưỡng lại. Bà bước đến thật gần, đầu gối chạm vào sofa, rồi mới ngồi xuống, đưa hai tay lên, thoạt tiên định ôm lấy mặt anh Klaas, nhưng bà rụt tay lại ngay, đặt lên hai vai anh ấy - không, tôi không nhầm, bởi đó là những giây khắc tôi trở nên rất tỉnh táo, tai tôi nghe thính gấp bội và không bị bất cứ chi tiết lạc lõng nào khác làm sao nhãng, bởi đó là những giây khắc đặc biệt, toát lên những điều gì đó khiến người ta phải nhập tâm ngay, chứ không thể dùng lời lẽ dài dòng tả lại được. Mẹ tôi không đủ sức để kêu to thành tiếng. Bà cũng không ôm chầm lấy anh Klaas, không vuốt ve anh, không gọi tên anh, cũng không hôn lên má, lên trán anh, mà chỉ nắm chặt đôi vai anh; rồi bà rụt tay bên phải xuống, và chợt lặng người hoảng hốt, như thể bà cảm thấy cử chỉ đó của bà hơi lố, khiến bà thấy hối hận, hay chợt thấy hơi hối hận, nên bà lại đặt tay trở lại lên vai anh. Bà không xem xét vết thương của anh Klaas. Bà ngồi bất động như thế một lúc lâu, rồi người bà chợt run lên, bà nấc, bà khóc không thành tiếng, và cũng hầu như không một giọt nước mắt. Bố tôi đặt tay lên vai bà, nhưng mẹ tôi hình như không cảm thấy tay ông. Bố tôi ấn tay mạnh thêm lên vai bà, thì bà mới đứng dậy, vừa nấc lên khô khan, vừa quay người đi ra phía bậu cửa sổ có kê các chậu hoa, và hướng vào cửa sổ, bà hỏi bây giờ phải làm gì. Bố tôi đáp, trước hết, ông sẽ gọi điện ngay cho bác sĩ Gripp, mọi việc khác đều chưa gấp bằng.
Mẹ tôi chống tay xuống bậu cửa sổ, rồi hỏi, làm sao lại xảy ra chuyện thế này được. Viên cảnh sát bảo, ông không có mặt tại hiện trường, nhưng chuyện xảy ra đâu ngoài đầm lầy, trong một trận không kích bất ngờ, máy bay bay thấp, bắn xuống dãy tháp than bùn, nơi Hilde Isenbüttel cùng tay tù binh đang đào than, tay tù binh León, bà cũng biết nó đấy. Bố tôi nói tiếp, rằng cô Hilde Isenbüttel cùng tay tù binh của cô ấy đưa Klaas về Rugbüll, bằng xe đẩy; mẹ tôi không nói gì, bởi việc đó thì bà biết rồi, tận mắt bà thấy cảnh đó rồi. Ông gọi về Husum chứ? Phải, tôi khắc gọi. Ông cũng sẽ gọi cho trạm quân y Hamburg chứ? Không, việc đó trực ban ở Husum họ khắc làm. Bà bảo, bao giờ bác sĩ Gripp đến thì ông gọi tôi xuống chứ? Được rồi, ông khắc gọi bà, việc gì cần làm, ông sẽ bàn với bà ngay. Bà quay người, nghiêm nghị nhìn xuống chỗ anh Klaas nằm lần nữa; anh vẫn nằm nguyên như lúc đầu, rồi bà đưa mắt như muốn tìm cái gì đó, và tôi tự hỏi, không biết lúc này bà có ý định gì, vì lúc bà quay từ bậu cửa sổ trở lại ghế sofa, trông bà khó nhọc lắm - tôi phải nói thế - như thể bà đang phải cưỡng lại một lực cản vô hình nào đó vậy, và tôi cũng rất ngạc nhiên khi thấy bà - sau những bước đi khó nhọc như thế - không làm gì khác hơn là nhấc một tấm chăn gấp sẵn, dang tay mở nó ra và nhẹ nhàng đắp lên người anh Klaas; xong đâu đó, bà bỏ đi lên gác.
Tiếp theo là chuyện gì đây? Chi tiết nào nổi lên trước? Phải, cú điện thoại! Bao giờ gọi điện, bố tôi cũng phải mở cửa ra. Tôi nghe tiếng ông gọi bác sĩ, phải hai lần gào thật to cho ông bác sĩ biết có chuyện gì và tại sao phải mời ông ấy đến. Rồi tôi thấy ông quay lại sau cuộc nói chuyện, cúi khom người, nôn nóng, miệng lẩm bẩm nói gì không rõ, trên tay là cái giá đỡ của bộ lịch cài ông đem từ bàn giấy vào - bộ lịch mỗi ngày một tờ riêng rời nhau, cài vào giá đỡ. Ông đi vòng qua bàn ăn, cái bàn xưa nay chả dùng để dọn ăn bao giờ. Cái tủ búp phê màu nâu dễ thương rung lên theo bước chân ông. Ông đi vòng quanh, ngay dưới ngọn đèn, sát bên giá đỡ chậu hoa ba bậc, ông cứ đi vòng vòng mãi như thế, để khỏi phải nghe ngóng, để khỏi phải nghĩ ngợi gì hết, đến sợi dây giày ông cũng chẳng buồn buộc lại, cứ để mặc cho nó lết theo sau chân phải ông. Tôi không dám hỏi gì ông. Lúc nãy gọi điện, ông cài cúc áo cảnh sát của ông lại, bây giờ ông lại cởi cúc áo ra, để lộ dây đeo quần muôn đời bị xoắn của ông. Bất chợt, ông dừng lại trước tủ búp phê, đưa cái giá đỡ lịch cài lên nhìn, rồi quẳng ngay xuống đất. Các tờ lịch cài bay lả tả, vài tờ vướng nằm lại trên cành hoa. Rồi ông lại đi vòng vòng, nhưng lần này, vừa được hai vòng, ông đã rẽ ra phía cửa, bước ra hành lang đi về phòng làm việc của ông. Tôi nghe thấy một tiếng chuông, lúc ông nhấc ống nghe lên, rồi ngay sau đó, lại nghe thấy tiếng chuông lần nữa, lúc ông - không nói gì - lại đặt ống nghe xuống.
Anh Klaas chợt cựa quậy dưới chăn, tôi nhảy ngay đến bên anh, thì thầm gọi tên, xin anh mở mắt ra nghe tôi nói để biết đây chính là giây khắc, tôi đoán vậy, có lẽ anh ấy chờ đợi từ nãy đến giờ. Anh kéo chăn lên ngực. Tôi thì thầm: Cửa sổ, cửa ra vào, cửa xuống hầm nhà đều mở, không có ai ở đây cả. Anh mở miệng run rẩy cắn vào chăn, làm nó nhăn nhúm lại. Không có ai ở đây cả, tôi lại nói, rồi tiếp luôn: Nếu anh muốn, lúc này là lúc tốt nhất để chuồn đấy. Nhưng anh không nghe tôi, chẳng nhìn đến tôi, ngay cả khi tôi chạy tới bên cửa sổ, mở ra, và chỉ tay ra ngoài trời, anh cũng chẳng buồn ngoảnh mặt về phía tôi. Tôi lại đến bên anh ấy, thò tay xuống dưới chăn, sờ soạng tìm cánh tay bị thương của anh, cốt chỉ để anh để ý đến tôi, để anh biết tôi đang ở bên anh, sẵn sàng nghe lời anh. Anh để mặc tay anh cho tôi nắm; chỉ để mặc thế thôi.
Tôi đành thôi, quay ra đóng cửa sổ, nhặt nhạnh các tờ lịch rơi vung vãi, đem nhét trở lại vào giá đỡ, rồi đặt nó lên bàn. Tôi nhón tờ lịch ghi ngày hai mươi hai tháng Chín năm 1944, gài nó lên phía trước các tờ khác. Anh Klaas cất tiếng rên; cũng có thể anh muốn nói hay muốn xin cái gì đó, nhưng tôi không hiểu anh nói gì; cả bố tôi - lúc này vừa lặng lẽ bước vào, nghiêng người, cúi xuống nghe tiếng anh Klaas rên, chỉ nghiêng người cúi xuống thôi, bất lực, chứ chẳng biết phải làm gì hơn - cũng không nghe ra anh tôi muốn gì. Ông nhún vai, đứng thẳng người, đi đến bàn ăn, ngồi xuống cạnh tôi và trân trân nhìn bộ lịch cài; trông ông không còn vẻ bồn chồn nóng nảy nữa, không lầu bầu tức giận, mà cam chịu, thất thần và cam chịu. Hai bàn tay ông nắm vào nhau. Vai ông buông thõng, mặt cúi gằm, chờ đợi, hay nói đúng hơn, ông ngồi ở tư thế chờ đợi đó, sau khi - trước sự ngạc nhiên của tôi - ông mở ngăn kéo lôi khung ảnh lồng tấm ảnh chụp anh Klaas ra, và đặt nó lên mặt tủ búp phê - đó là bức ảnh chụp anh Klaas mặc quân phục đứng trước một bốt gác, bức ảnh từng bị nhét vào ngăn kéo, ngay sau khi có tin anh ấy tự bắn mình bị thương. Bố tôi dựng khung ảnh vào chỗ cũ, nằm giữa cái vỏ ốc óng ánh xà cừ và hộp gom tiền tiết kiệm bằng sứ có vẽ hình trang trí bên ngoài; ông dựng khung ảnh lên đó, rồi thôi, không để ý đến nữa.
Chúng tôi ngồi chờ, ai theo đuổi ý nghĩ của riêng người đó. Chúng tôi ngồi chờ, tôi nói vậy là vì chẳng còn gì để làm nữa. Cả hai bố con tôi, ai cũng đành cam phận người ấy. Cách hai bố con chúng tôi ngồi chờ thế này cũng là sự thừa nhận, rằng chúng tôi đã cam phận, đành chờ đợi một tình huống bất định, chẳng ai biết rồi sẽ ra sao. Cả hai đều mong đợi một cái gì đó, một cái gì đó ngoài tầm kiểm soát của chính mình, sẽ xảy ra. Bởi vì, những gì quan trọng nhất, quyết định nhất đều đã diễn ra rồi, chúng tôi đang chờ đợi đoạn hậu, chờ đợi những gì còn sót lại. Chờ cái kết cục của mọi sự. Mỗi lần tôi nhớ đến ông, nhớ đến kiểu cách ông ngồi bên tôi lúc đó, thì tôi phải thừa nhận, rằng ngay trong sự nhẫn nhục và cam chịu đáng sợ của ông lúc đó đã cho thấy một sự thật là, ông biết mọi sự đã an bài. Bố tôi, viên cảnh sát Rugbüll, hẳn đã biết tình thế lúc này đòi hỏi những gì ở ông. Đã vậy, thì ông còn đợi bác sĩ Gripp làm gì mới được chứ? Vâng, ông còn mong gì ở ông ta nữa?
Lúc bác sĩ Gripp đến, bố tôi đưa tay ra hiệu, bảo tôi mở cửa. Ông bác sĩ của chúng tôi là một ông già to béo ục ịch, chân què, tóc màu hung đỏ - một người khổng lồ, lúc nào cũng hổn hà hổn hển và thụt đầu, so vai rụt cổ, do quá thường xuyên bị cộc đầu vào các xà nhà quá thấp so với ông. Khi chẩn bệnh cho bệnh nhân, ông không bao giờ bằng lòng với lời chẩn đoán một thứ bệnh duy nhất, mà - do bản tính đa nghi - ông chẩn đoán luôn cho bệnh nhân của ông hai hay ba bệnh một lúc. Rồi ông để mặc bệnh nhân tự chọn lấy bệnh cho mình. Tôi đón túi xách từ tay ông, rồi đi lên trước, đi thật chậm, từng bước một, và tôi có cảm giác, như thể tôi phải nhử cho ông bước vào phòng khách. Chỉ một đoạn ngắn từ cửa ra vào đến phòng khách, bác sĩ Gripp phải dừng lại nghỉ hai lần, đứng dựa lưng vào tường, cúi sâu thêm đầu trên cái cổ to bành bạnh vốn đã gập xuống, và, búng búng ngón tay, phì phò thở. Mặc dù tôi đã chỉ tay vào bậc cửa để báo trước cho ông phải cẩn thận kẻo vấp lúc đến gần, ông vẫn suýt ngã, nếu bố tôi không kịp nắm tay đỡ ông. Đoạn bố tôi dìu ông khổng lồ đến bên chiếc ghế cạnh sofa, ấn ông ta ngồi xuống rồi mới cất tiếng chào. Bố tôi đuổi tôi ra ngoài, nhưng lại gọi lại ngay, bảo tôi đem túi xắc đặt xuống chân bác sĩ Gripp. Rồi ông lại lơ đãng ra hiệu cho tôi lui về phòng chị Hilke bên cạnh phòng khách. Sang đấy ngồi chờ bố, ông lệnh cho tôi, rồi kéo cửa, đóng lại sau lưng tôi.
Vào phòng chị Hilke, trước hết tôi chào một chàng diễn viên màn bạc treo trên tường, không những đang cúi xuống mỉm cười với tôi, mà còn nâng cốc rượu sâm banh mừng tôi nữa kia. Trông anh ta có vẻ thoải mái được treo giữa một vòng gồm tranh ảnh các bà các cô mặc quần áo thể dục thể thao đang vung chày, tung vòng, quay bánh xe nhào lộn vây quanh và tung hô quảng bá cho hội đoàn “Niềm tin và sắc đẹp”. Các bức tranh này đều cắt từ các loại tạp chí linh tinh nào đó ra; trên một bức tranh như thế là chị Hilke - rất dễ nhận qua bắp chân khít vào nhau - đang nhón chân, ưỡn ngực tung hai chày thể dục từ tay này sang tay kia. Hai cây chày thật thì dựng trong góc, bên cạnh tủ quần áo; tôi lôi chúng ra, ướm ướm trên tay xem nặng nhẹ thế nào, gõ gõ vào nhau vài cái rồi lại thờ ơ để vào chỗ cũ. Áo choàng may theo kiểu địa phương của chị khoác trên lưng chiếc ghế dựa duy nhất trong phòng, trên mặt ghế là chiếc váy màu đen, cùng chiếc thắt lưng giả da, cũng màu đen. Ở mép gương treo tường giắt tấm bưu thiếp quân bưu, phía dưới, trên mặt một chiếc đĩa thủy tinh, tôi thấy nào kéo cắt móng tay, nào kẹp tóc, lại thêm một lô lược chải đầu to nhỏ, một ống thuốc mỡ - thuốc chống ngứa - rồi bông, rồi vòng cao su, một ống thuốc viên, rồi lại bông. Một con gà trống to tướng may bằng vải màu vàng đậu chễm chệ trên giường, vẻ hờn dỗi, dưới chân giường là đôi giày của chị Hilke. À, còn trò chơi “rèn tính kiên nhẫn” của chị ấy đâu nhỉ? Kia, nằm trên chiếc bàn con kê cạnh giường, cả ba chú chuột con đều nằm lọt trong bẫy.
Tôi rón rén đến bên cửa phòng, nhìn qua lỗ khóa ra ngoài. Bác sĩ Gripp ngồi trên sofa, bố tôi đứng cạnh ông. Tấm chăn đắp cho anh Klaas nằm dưới đất tự lúc nào. Tôi thấy vẻ mặt bố tôi nhăn nhó, pha cả vẻ tò mò lẫn đau đớn, môi chúm lại. Lưng ông bác sĩ Gripp che khuất anh Klaas. Bố tôi hỏi cái gì đó, nhưng ông bác sĩ Gripp chỉ lắc lắc đầu. Bố tôi hỏi lại, đủ to cho cả tôi cũng nghe thấy: Sao lại không được? Ông bác sĩ to lớn, trong lúc vẫn cúi xuống anh tôi, cất tiếng đáp: Ở trạm quân y người ta mới làm được, phải đưa thằng nhỏ đến trạm quân y ngay mới được. Bàn tay ông mở ra, chìa về phía anh Klaas, như muốn lấy anh làm bằng chứng cho những lời ông vừa nói. Bố tôi lại hỏi câu gì không rõ, để đáp lại, ông bác sĩ chỉ đưa cánh tay vừa thõng xuống lên ngang vai, nhưng không nói thành tiếng. Túi thuốc của ông vẫn nằm nguyên giữa nền nhà, đến mở nó ra ông cũng chưa thèm mở. Bây giờ thì bố tôi bước lên đứng sát bên ông bác sĩ, khiến tôi chỉ còn trông thấy lưng hai ông. Có lẽ ông bác sĩ đang cố giải thích cái gì đó cho bố tôi nghe, nhưng bố tôi - dù cố sức lắm - có vẻ vẫn chưa hiểu ra. Đến cả lúc này mà ông bác sĩ Gripp vẫn không buồn mở túi thuốc đồ sộ của ông ra, cái túi bằng da, với hai ổ khóa cổ lỗ sĩ ở hai bên. Không ngoảnh mặt lại, ông bác sĩ thì thầm cái gì đó với bố tôi, và ông càng thì thầm - tôi có cảm giác vậy - dường như ông càng làm tiêu tan nốt chút hy vọng nãy giờ còn le lói trong lòng bố tôi. Tôi chắc thế, bởi tôi thấy bố tôi quay người, nhìn ra cửa sổ, và thôi, không hỏi han gì nữa.
Có tiếng cửa sập phía bên ngoài. Tôi chạy vội đến cửa sổ xem có ai đến, nhưng muộn mất rồi, nên tôi đành rón rén quay lại ghé mắt nhòm qua lỗ khóa. Bố tôi đứng yên, không nhìn ra cửa. Ông bác sĩ cài cúc áo cho anh Klaas. Lúc này bác họa sĩ vừa xuất hiện ở cửa vào phòng khách, mới đầu còn nhỏ - tôi có cảm giác vậy - nhưng vụt to lên ngay, một tay giữ cái tẩu thuốc, tay kia là cái mũ dạ, trên người mặc chiếc măng tô tồi tàn, và thở không ra hơi. Bác dừng lại ở ngưỡng cửa, vì bác lưỡng lự hay ngại ló mặt ra không đúng lúc thì ít, mà đúng hơn, là vì bác mải xốc xốc vai thật mạnh để lấy lại hơi. Còn bố tôi? Bố tôi không quay người lại, ông có vẻ chẳng muốn biết xem ai vừa bước vào nữa; bố tôi không còn gì để hỏi, bây giờ ông chỉ còn bận tâm với việc gì cần làm tiếp mà thôi.
Bác họa sĩ bước vào, tiến về phía sofa, và - không hướng riêng về phía ông bác sĩ, mà hướng đến cả hai người đàn ông trong phòng - cất tiếng hỏi: Nó chết rồi à? Người ta bảo nó chết rồi. Đoạn, bác bước nhanh thêm hai bước đến bên cạnh sofa, ánh mắt bác hết nhìn anh Klaas lại nhìn ông bác sĩ. Lát sau, tôi nghe ông bác sĩ nói: Đến quân y xá. Phải đưa nó đến quân y xá ngay. Tôi gọi điện được không, ông Jens? - Điện thoại ở bên kia, bố tôi đáp, trong phòng giấy. Bác họa sĩ đỡ viên bác sĩ đứng dậy. Bác hỏi: Liệu có được gì không? Nó sẽ qua khỏi chứ? - Ta cứ mong như thế đã, bác sĩ Gripp nói, có thể trông bên ngoài thì tệ hại thế thôi. Nói rồi, ông đưa hai tay ra trước và loạng choạng ra khỏi phòng khách, nhưng lần này không vấp ở ngưỡng cửa nữa. Bác họa sĩ cúi xuống bên anh Klaas. Bác nhìn chằm chặp vào anh, nhìn chăm chú, dò xét, như thể muốn tìm cái gì đó, và nếu không phải vậy, thì có lẽ bác đang tìm cách ghi sâu điều gì đó vào lòng. Môi bác động đậy, nuốt nước bọt, quai hàm đưa qua đưa lại. Phẫn nộ, trong lòng bác đang nổi cơn phẫn nộ, khiến bác chỉ còn biết lặng lẽ lắc đầu, đầy thất vọng, như không muốn tin vào mắt mình nữa. Đột nhiên bác quay người về phía bố tôi, định hỏi câu gì đó, song chững ngay lại, và chỉ nói khẽ, để xin lỗi về sự xuất hiện đường đột của mình mà thôi: Nghe người ta kháo nhau, cháu nó chết rồi, nên tôi mới vội đến đây.
Viên cảnh sát gật đầu, cái gật đầu không bộc lộ sự tán đồng, mà chỉ cho biết ông dửng dưng ghi nhận sự việc. Làm sao chuyện lại như thế được? Một cái nhún vai đáp lại: Ờ, chuyện nó vậy, biết làm sao được. - Ngoài đầm lầy à? - Phải, ngoài đầm lầy. - Thằng nhỏ có bao nhiêu là cơ hội cơ mà? -Phải, nó có nhiều cơ hội thật. Ai cũng mong nó sẽ tận dụng hết - nhưng có lẽ chưa đủ. Có vẻ chưa đủ thật. - Cái trò điên rồ, ông Jens ạ, cái trò điên rồ khốn nạn này. - Ông nói vậy, là ý làm sao? - Họ sẽ đến bắt nó đi, bọn họ chữa cho nó lành lặn, chỉ cốt để nó nghe lời tuyên án dành cho nó thôi chứ gì. Bọn nó sẽ thuốc thang, băng bó cho nó lành lặn, cốt chỉ để trói nó vào cột mà xử bắn thôi. Ông phải biết như thế chứ? - Tôi ấy à? Tôi chẳng biết gì hết. - Bọn họ chưa lên đường đến đây bắt nó chứ? - Chưa, chưa ai lên đường đến đây cả. - Được rồi, mọi sự bây giờ đều trong tay ông cả. - Phải, mọi sự trong tay tôi, cho nên mọi người cứ để yên đó cho tôi lo. - Tôi chỉ vì thằng nhỏ nên mới đến đây thôi. - Phải, tôi biết rồi. - Ông cũng biết tôi thương thằng Klaas, ông biết tôi quý nó. - Phải, tôi biết cả. - Tôi nói chuyện với bà Gudrun nhà ông được không? - Chắc không đâu, bà ấy ở trên gác. - Liệu tôi còn giúp được gì không? - Chắc chả cần đâu, chúng tôi phải tự liệu lấy mọi việc. - Thôi được, mong cho ông mọi sự tốt lành vậy. Bác họa sĩ đến bên sofa. Bác chạm khẽ vào người anh Klaas. Bác lại sờ lên vai anh thêm hai lần nữa, rồi lặng lẽ, bần thần đi ra, và trong lúc tôi chờ nghe tiếng cửa ra vào sập lại, thì bác đã bước xuống bậc thềm đến sát bên cây cột bác dựng xe đạp; nhìn qua cửa sổ, tôi thấy bác gài chiếc mũ dạ lên cái đèo hàng phía sau xe, đưa ngón tay cái lên miệng mút mút, rồi không nhảy ngồi lên yên, bác cứ thế dắt xe thất thểu bước đi.
Tôi nhìn theo, cho đến khi bác biến mất sau hàng giậu lởm chởm của ấp Holmsenwarf; sau đó tôi quay lại, nhưng không dán mắt qua lỗ khóa nữa, mà cứ thế đi thẳng vào phòng khách, mới đầu cũng hơi sờ sợ nên tôi dừng lại chờ, tay vẫn đặt ở nắm đấm cửa, nhưng vì chẳng ai lên tiếng mắng mỏ hay đuổi tôi đi ra, nên tôi lẳng lặng đóng cánh cửa sau lưng tôi lại. Bác sĩ Gripp đứng với bố tôi ngoài hành lang, phía trong phòng anh Klaas vẫn nằm yên dưới chăn. Ông bác sĩ đang muốn nhận cái gì đó về mình, một trách nhiệm hay nhiệm vụ gì đó của bố tôi giao, và ông nói đi nói lại: Việc ấy ông để tôi làm, tôi làm được, ông cứ để tôi lo. Ông đập đập nhẹ vào tay bố tôi, xoay người bố tôi, đẩy ông về phía tôi đang ở trong phòng khách, rồi tự mình khó nhọc đi về phía cầu thang, và ì ạch - tôi phải nói thẳng ra như thế - ì à ì ạch leo lên cao, khiến hai bố con tôi chẳng còn biết làm gì hơn là ngẩng đầu, lắng tai nghe những bước chân nặng nhọc đó lần theo cầu thang đi lên. Ơn giời, bố tôi lẩm bẩm, có vẻ nhẹ nhõm hẳn. Bấy giờ ông mới nhìn thấy tôi, ông liền đưa tay nắm lấy tôi, kéo về phía ông, rồi dùng toàn thân đẩy tôi về phía sofa, nhưng không sát quá. Chuyện đã đến nông nỗi thế này đây, ông nói, phải, đến nông nỗi thế này rồi đây, sau bấy nhiêu hy vọng, sau bao nhiêu điều tao dạy bảo nó. Thế mà nó để đến nông nỗi thế này đây. Nó biết, nó phải mang ơn tao thế nào, thế mà nó vẫn để mọi sự đến nỗi như thế này đây. Ông ngừng lời, lặng im, còn tôi lại hỏi: Bao giờ anh con khỏi hả bố? Đứng ngay cạnh tôi, bố tôi nói: Nó cũng biết thừa tao sẽ phải làm gì chứ; trách nhiệm của tao, nó biết quá đi chứ. Bây giờ chuyện xảy ra rồi. Bây giờ tao có muốn đảo ngược lại cũng chả được nữa rồi. Tao đã đặt ra hết các câu hỏi, đã xem xét mọi đường, và tao đã trả lời sao cho thỏa đáng nhất. Không phải hôm nay mới thế. Mà ngay từ ngày nó quay về đây rồi kia. Phải, tao đã cân nhắc hết mọi đường. Thôi, đi nào.
Ông kéo tôi theo ông; mặt ông xám ngoét. Hai bố con đi cạnh nhau qua đoạn hành lang dẫn vào phòng giấy. Ông nhấc ống nghe, chờ đến lúc có tiếng kêu đánh xạch một cái, rồi mới xưng danh cảnh sát Rugbüll xin gọi đồn cảnh sát Husum, giọng tuy không ồm ồm sang sảng như mọi ngày, nhưng cũng không hề mảy may do dự.
❀ ❀ ❀
[1] Phải không? (tiếng Pháp)