Trước hết, tôi cứ để cho khung cảnh xung quanh tối lại cái đã, rồi dồn hẳn phần đầu buổi tối hôm nay cho chiếc đèn chiếu, chiếc đèn vốn nằm trong số tài sản được đăng ký đàng hoàng của Hội đồng hương Glüserup và được vị Chủ tịch Hội - ông Per Ame Schessel - vị chủ tịch mà theo thói quen tôi vẫn chỉ gọi là ông ngoại thôi - đích thân mua lại ở cửa hàng đồ cũ, đích thân lau chùi, bảo quản và vận hành. Chiếc đèn chiếu đặt trên cái bàn kê ở lối đi giữa, hai bên lối đi là những hàng ghế băng nặng nề - mà thôi, cứ nói trắng ra là thô kệch đi - những chiếc ghế mà chả hiểu tại sao, khán giả chỉ ngồi một lúc là tê chân. Để chiếc đèn chiếu đúng khớp vào màn ảnh, người ta kê cao một đầu nó lên bằng hai quyển sách lúc nào cũng nằm sẵn ở đó, cuốn Các con trai Ngài nghị sĩ là một, và cuốn Messiah là hai; bề dày hai cuốn sách vừa đúng để chùm tia sáng chiếu từ đèn ra trùm khớp lên màn ảnh.
Màn ảnh - vâng, đúng vậy, màn ảnh là mặt sau tấm bản đồ lịch sử vùng Schleswig-Holstein, hình chữ nhật, màu trắng xam xám, góc trái phía trên hơi loang lổ, và dưới ánh đèn chiếu, hình bóng các hòn đảo, bờ biển, cửa sông hiện ra mờ mờ, khiến những ai còn ngờ vực rốt cuộc cũng phải tin rằng mảnh đất này, tuy không bị biển cả bao bọc, nhưng rõ ràng, bị nó dồn ép từ hai phía. Có tám khán giả cả thảy - không, tôi nói vớ vẩn gì thế nhỉ - phải mười hai, hay thậm chí mười sáu mống gì đó mới đúng, ngồi hai bên, cả bên trái lẫn bên phải của lối đi nằm ở giữa và chăm chú ngước nhìn lên màn ảnh; đôi người có vẻ bị chói mắt do ánh đèn chiếu lọt qua khe hở bên mép đèn, đập lên rồi hắt lại từ các cánh cửa kính của những chiếc tủ dựng sát tường, và vào giữa các khung cửa sổ đã được che cho tối lại. Bầy côn trùng vo vo rỉ rả lao qua lượn lại trong chùm tia đèn chiếu hình nón, một con bướm đêm to đùng chấp chới chao đảo nhiều lần giữa ống kính với màn ảnh, và mỗi lần đâm đầu vào đâu, nó lại làm bốc lên một đám bụi ánh kim nho nhỏ. Thính giả ngồi trên ghế băng chuyện trò khe khẽ, chỗ này chỗ nọ húng hắng tiếng ho, nhưng không ai hút thuốc. Không khí ấm áp.
Từ phía chuồng gia súc gần đó, chốc chốc lại vang lên tiếng dây xích loảng xoảng, tiếng loảng xoảng thường nghe thấy mỗi khi con bò hay con ngựa nào đấy hất đầu lên chẳng hạn; thỉnh thoảng có tiếng bò rống, hay tiếng cào sột soạt xuống mặt đất vẳng đến tận đây. Gió thổi từng cơn. Chó sủa xa xa. Từ trong bóng tranh tối tranh sáng, ông ngoại tôi thò mặt ra trước màn ảnh, gương mặt dài ngoằng, đỏ lừ và cau có; ngay nhìn cái bóng đầu ông tôi đã thấy ông cau có. Vâng, ông lão nông dân Per Arne Schessel không cười to, cười mỉm cũng không, ông chẳng nháy mắt với ai, đến vẫy tay ông cũng không nốt; ông cứ đứng ra đó, cao lều khều, trầm ngâm, lặng lẽ như con diệc, khiến mọi người im bặt, không ai thì thầm trò chuyện riêng nữa, chỉ đôi ba người vội húng hắng ho trước vài tiếng, rồi im. Tôi mong, bức tranh tôi tả như thế là đủ.
Thôi được, nhân lúc mọi người đều im lặng cả, tôi muốn chua thêm chút ít như sau: cho đến lúc này, nghĩa là cho đến lúc ông tôi bước ra trước tấm phông màn ảnh, thì mọi buổi tối ở Külkenwarf đều như nhau cả, đều dành trọn cho các câu chuyện về quê hương xứ sở chúng tôi, vùng đất kéo từ Husum đến Glüserup, về sự hình thành, rồi lớn mạnh của nó, về các trầm tích địa chất kỳ thú cùng các loại phù sa quý giá ở vùng này, về muông thú, chim chóc, cây cỏ, mương rãnh tự nhiên, nhưng trước hết, là những câu chuyện về các đặc điểm, về bản chất cốt lõi của vùng đất này. Nếu thật sự vắt óc, bới sâu mãi vào các kỷ niệm xưa, thì tôi phải nói, ghi sâu sắc nhất vào trí nhớ của tôi chính là bầu không khí ấm áp này, chính khung cảnh tranh tối tranh sáng này, chính chùm ánh sáng của chiếc đèn chiếu, chính bầy côn trùng bay bay chao đảo trước chùm ánh sáng đèn chiếu, cùng tiếng động từ chuồng gia súc nằm gần đó, cũng như chính tiếng rì rầm nói chuyện riêng của đám thính giả đang nóng lòng chờ đợi - vâng, của chính đám thính giả mà ông tôi, chủ tịch Per Arne Schessel, tận tay viết giấy mời đến tham dự cuộc họp mặt đồng hương - những cuộc hội họp thường diễn ra về mùa đông nhiều hơn mùa hạ - tại Külkenwarf, ở cái nơi vẫn được coi là tổng hành dinh của dòng họ Schessel này.
Thế nhưng, ngoài ra tôi cũng nhớ, rằng trong căn phòng nằm lọt giữa gian nhà chính và chuồng gia súc ông tôi dành riêng làm nơi hội họp cũng như bảo tàng địa phương này, còn trưng bày - hoặc khóa kỹ trong tủ, hoặc để bên ngoài - một lô một lốc các hiện vật dính dáng đến lịch sử, văn hóa, và tất nhiên, đến các đặc điểm thiên nhiên nổi bật của vùng này. Ta cứ lấy mấy cây lao xiên cá chế tạo từ sừng nai làm thí dụ chẳng hạn. Hay các dụng cụ nạo vét, những búa với rìu bằng đá. Hay các loại bình đựng di cốt, các loại vòng đeo tay từ thời đồ đồng, bao kiếm hay bình rượu trang trí sặc sỡ từ thời đồ đá mới mà tôi bao giờ cũng muốn lôi ra để cắm hoa. Tất nhiên cũng phải nhắc đến những chuôi kiếm, những đồ trang sức bằng gỗ hay chiếc đĩa Treenbarg bằng vàng nổi tiếng, cũng như không thể không kể đến một loạt những mẫu đất cát, mẫu đá sỏi, những mảnh tàu thuyền vỡ moi lên từ đầm lầy Norschlotter, các mảnh quần áo ngộ nghĩnh, khó lòng tưởng tượng nổi của thợ săn lẫn nông dân ở vùng đầm lầy thời xa xưa, và cuối cùng - hiện vật hấp dẫn nhất - là xác chết đã khô héo, co rúm, chỉ còn da bọc xương của một đứa con gái bị thắt cổ, tất nhiên, bằng sợi dây da tuần lộc cho đến giờ vẫn quàng trên cổ nó như một thứ vòng trang sức quái dị. Sau rốt, không thể không nhắc đến đống sách, trong tủ sách đặc biệt mà ông tôi, ông Per Arne Schessel, đã cất công thu thập được, nào Cuộc phiêu lưu địa chất học qua vùng Schleswig-Holstein, nào Sống và trưởng thành ở miền biển, Sống ở Schobüll, nào Tấm áo màu xanh lục của hòn đảo quê hương tôi, rồi Hơi thở buổi rạng đông, và hàng chồng sổ tay, tạp chí, sách tự in, do ông tôi tự in, tự xuất bản và phát hành, như Câu chuyện của các nấm mồ, Các di vật của đầm lầy và lễ lạt vùng Norschlotter cũng như Hậu quả của các trận nước triều dâng do bão, vân vân.
Ai cần tìm đọc cuốn sách nào đó, hay muốn xem xét tra cứu bất kỳ di vật nào, người đó chỉ cần ghi yêu cầu của mình vào một cuốn sổ; cơ mà, có lẽ tôi kể bấy nhiêu chuyện như thế là đủ, vì tôi không thể để ông tôi đứng nhìn quá lâu vào ống kính đèn chiếu được, mặc dù ông tôi - hẳn mọi người vẫn còn nhớ - có thể trân trân giương mắt nhìn rất lâu vào bóng tối hay vào một nguồn sáng nào đó, cũng thật lâu, mà chẳng bị làm sao. Vả lại, tôi tự thấy mình phải xua tan ý định, nếu buổi tối hôm ấy, một buổi tối cũng dành riêng cho các câu chuyện về lịch sử quê hương xứ sở, cũng được mở màn và diễn ra như thường lệ, thì thôi, tôi cũng có thể mô tả nó như bao nhiêu buổi tối khác vậy.
Vâng, như tôi đã kể, tính cho đến lúc vị Chủ tịch Hội Per Arne Schessel bước ra trước màn ảnh, thì tôi vẫn chỉ nghĩ, chắc tối nay cũng sẽ như mọi khi thôi, không có “sự cố” gì ghê gớm lắm; phần đông những người ngồi quanh đây chắc cũng đều nghĩ như tôi, nhưng khi ông tôi bỗng dưng đưa cả hai tay lên cao, mắt chăm chú nhìn ra phía cửa với vẻ ngóng đợi rất đáng ngờ, rồi cất tiếng đề nghị mọi người giữ im lặng, thì ai nấy bỗng đâm ra tò mò, hồi hộp chờ xem chuyện gì sẽ xảy ra. Mọi người, ai nấy đều im thin thít, đến như thuyền trưởng Andersen cũng còn nín cả ho. Phía sau cánh cửa vẫn không thấy có động tĩnh gì. Còn ông tôi - trong khi giữ vẻ mặt nghiêm nghị, miệng hơi há, phô cả hàm răng khấp khểnh xấu xí - vẫn không rời mắt khỏi cánh cửa. Đến lúc này thì mọi người đều quay nhìn ra đó, ngồi thẳng người, nín thở, nhưng chờ mãi mà chả thấy ai lạ, một ông thợ săn tuần lộc vạm vỡ hay bác nông dân thời thượng cổ chẳng hạn, hoặc đích thân Vua Sven - vị Hoàng đế xưa kia từng chinh phục nước Anh - đẩy cửa bước vào.
Tuy thế, nhìn mãi một lúc ra cửa thì rốt cuộc người trong phòng cũng nhận ra phía sau cánh cửa bắt đầu có gì đó rục rịch; thoạt đầu, qua tấm cửa kính hẹp và mờ đục người ta nhìn thấy đầu một điếu thuốc lá cháy đỏ, tiếp theo là tiếng ai ho hắng giọng, và ông tôi, ông Per Arne Schessel, vừa đưa tay ra hiệu - tuy rất kín đáo thôi - kính cẩn mời chào khách, thì ông Asmus Asmussen, tác giả cuốn truyện Biển khơi lấp lánh, đồng thời cũng là chủ tịch danh dự của Hội đồng hương Glüserup, bước vào. Mặc dù ông đóng bộ quân phục hải quân - đeo lon hạ sĩ tham mưu - mọi người vẫn nhận ra ông ngay, và vỗ tay, reo cười chào đón; ông chào đáp lại, theo lối quân nhân, nhưng không quá cường điệu, rồi dụi tắt điếu thuốc đang cầm trên tay. Đây chính là người sáng tạo ra hai nhân vật Timm và Tine, hai nhân vật trong truyện Biển khơi lấp lánh mà ở quê tôi hầu như ai cũng biết; nếu tôi nhớ không sai, thì hai nhân vật mới đầu làm quen nhau thông qua các tin nhắn viết lên giấy, bỏ vào chai rồi thả cho sóng biển mang đi, nhưng về sau, do thấy cách thư từ qua lại đó tiện lợi quá, cho nên khi hai người đã yêu nhau, thành vợ thành chồng rồi, họ vẫn tiếp tục trò chơi đó mãi và tận đến lúc già, họ vẫn coi đó là cách thức thư từ qua lại thú vị và tiết kiệm nhất, và, như thế, dù đã qua đời đã lâu, hai người vẫn tạo cơ hội cho tác giả từng sáng tạo ra họ, ông Asmus Asmussen, thỉnh thoảng lại có dịp thông báo cho người đọc về chuyện ông bắt gặp ở chỗ này chỗ nọ trên một bãi biển xa xôi hẻo lánh nào đấy những cái chai nút đậy kín, trong đó chứa các bức thư chi chít chữ mà Timm và Tine hồi nào từng gửi cho nhau.
Vâng, chính ông Asmus Asmussen ấy - dạo đó giữ chân hạ sĩ quan trên một chiếc tàu tuần duyên ở Biển Bắc - nhân dịp được lên bờ nghỉ ở Bremerhaven tạt về quê thăm nhà. Ông chân vòng kiềng, tóc mọc dày đỏ như lửa, bắp thịt ở cổ giống như cổ vận động viên cử tạ, nổi cuồn cuộn trông ghê người, ánh mắt ông chứa đủ cả vẻ lạnh lùng lẫn nhân từ, thân thiện, và người ta khó mà hình dung nổi ông chính là người sáng tạo ra các nhân vật Timm và Tine, nếu chưa thấy cái mồm của ông, cái mồm nhạy cảm, chúm chím, tròn như đồng xu - thì tôi cứ nói đại khái vậy - cái mồm để lộ ông là người thế nào. Ông khéo léo ngả chiếc mũ thủy thủ có gắn băng dài phía sau ra khỏi đầu, giữ nó trên tay đúng theo phép tắc nhà binh, tức là hướng huy hiệu và hình con đại bàng ra đằng trước, rồi quay ra đứng trước mặt ông tôi, để ông tôi được nói đôi lời chào mừng. Hầu như ông tôi nói xong câu nào, là ông lại gật gật đầu câu ấy, như thể ông tán thành với ông tôi vậy, khi ông tôi hết gọi ông là người thông hiểu quê hương xứ sở này nhất, lại tâng ông thành người xông pha đầu sóng ngọn gió bảo vệ quê nhà; ông cũng không phản đối, khi ông được ca ngại làm người quyết định số phận của quê hương, thậm chí, còn là người đại diện cho lương tâm của Glüserup nữa. Ông Asmus Asmussen vẫn chỉ một mực gật đầu, và cũng mỉm cười tán thưởng, lúc ông tôi thông báo đề tài tối nay là “Biển cả và Quê hương”, do một diễn giả duy nhất đủ khả năng và hiểu biết, tức là ông Asmus Asmussen, thuyết trình. Nói xong, ông tôi ngồi ngay xuống.
Đến đây, tác giả quyển Biển khơi lấp lánh đặt mũ xuống bàn, đặt rất cẩn thận, sao cho hai dải băng sau mũ rũ thẳng xuống, rồi thọc tay qua cổ áo, thọc thật sâu mà vẫn chưa tìm được thứ cần tìm; ông bèn so một bên vai, nghiêng một bên mông, ngừng lại trong giây lát, rồi, vừa nhăn nhở cười không ra tiếng, vừa từ từ, thận trọng lôi một cái phong bì đựng phim đèn chiếu ra và giơ lên trước chùm ánh sáng đèn. Ta bắt đầu được rồi. Tôi những muốn leo ngay lên hàng ghế đầu, nhưng bố tôi giữ chặt tôi, ấn tôi xuống ngồi yên một chỗ, cho nên tôi đành ngồi lại cùng ông bên cửa sổ và ngao ngán nhìn theo ông Asmus Asmussen đi dọc theo lối đi ở giữa đến bên chiếc đèn chiếu, cài tấm phim đầu tiên vào máy, nhưng chưa cho chiếu lên màn.
Nhưng có chuyện gì xảy ra với bố tôi thế không biết? Trong lúc ông Asmus Asmussen cất tiếng cảm ơn thính giả, chuyển lời chào thủy thủ tới quê hương đất liền và chuẩn bị mở đầu buổi thuyết trình, thì bố tôi rơi vào một trạng thái kích động tôi chưa thấy ở ông bao giờ. Ông ngồi không yên, nhấp nha nhấp nhổm. Ông lấy đầu ngón tay xoa xoa lên hai nhãn cầu. Ông vò nhàu chiếc khăn tay của ông, kéo ra, giật giật. Đôi lúc ông ngửa hẳn người ra sau, đến mức tôi đã lo ông sẽ ngã ngửa vào lòng ông gác sân chim Kohlschmidt ngồi ở hàng ghế sau. Môi trên của ông đổ mồ hôi lấm tấm. Chốc chốc ông lại lắc lắc người, như muốn xả bớt sức dồn ép trong lòng. Gương mặt ông để lộ vẻ ngạc nhiên, mà thoáng nhìn, có thể có cảm giác dường như chính ông, ông cũng không hiểu chuyện gì đang xảy ra với mình vậy. Thỉnh thoảng, ông đưa tay - sốt ruột và bực bội - vuốt mạnh lên trán.
Có điều, cần phải nói rõ, rằng bây giờ nhớ lại, tôi mới thấy rõ hình ảnh bố tôi ngồi bên cạnh tôi và bị kích động một cách lạ lùng như thế, chứ ngồi trong phòng họp lúc ấy, tất nhiên, tôi chỉ dỏng tai nghe ông Asmus Asmussen nói, và nóng lòng chờ được xem bức ảnh đầu tiên ông ta sẽ cho chiếu lên màn hình.
Thế nhưng ông Asmus Asmussen vẫn đủng đỉnh, cứ con cà con kê mãi với nhan đề “Biển cả và Quê hương”. Ông ta cân nhắc về tựa đề đó, thay đi đổi lại nhiều lần, gắn thêm ý này, gạt bớt nghĩa khác, chẳng hạn, ông ta thay “Biển cả và Quê hương” bằng “Biển cả là Quê hương” và đề nghị mọi người đang có mặt nghĩ thử xem, những gì rồi sẽ xảy ra, nếu bỗng dưng ta coi biển cả là quê hương. Ông ta cũng rút ngắn hẳn tựa đề thành “Quê hương biển”; nói như thế, ông ta bảo, nghe còn có vẻ bao quát và gần gũi hơn là đằng khác. Nhưng ông ta dừng lại tán lâu nhất về tựa đề “Biển quê hương”, một tựa đề nhiều ý nghĩa hơn cả; ông tán rộng sang khái niệm tình mẫu tử, nhưng cũng không bỏ qua bạo lực, thứ bạo lực giúp con người ta trở nên dũng mãnh, kiên cường hơn, coi khinh mọi hiểm nguy hơn, rồi ông quay ra nói vòng vo một hồi rất lâu trước khi xin mọi người hãy nghĩ xem, bao giờ ta mới gọi biển là “biển quê hương” được. Duy có một điều chắc chắn, ông nói, không phải vùng biển bất kỳ nào người ta cũng chiến đấu bảo vệ đâu, người ta chỉ chiến đấu bảo vệ vùng biển quê nhà thôi chứ.
Rốt cuộc, ông Asmus Asmussen cũng chiếu tấm hình đầu tiên lên màn. Trên đó, thoạt tiên, mọi người thấy một con thuyền tuần duyên treo lộn ngược trên bầu trời bồng bềnh sóng biển, còn phía dưới lại là đường chân trời u ám, cụt lủn ở hai đầu. Cử tọa cười ồ; ồn ã mất một lúc, mãi đến khi bóng những đầu ngón tay được phóng lên to đùng hiện ra, nắm lấy mép tấm hình rồi xoay ngược nó lại, tiếng cười mới dứt: Bây giờ thì con thuyền đã mãn nguyện, bơi ngửa bụng trên mặt biển. Và, không ai nghi ngờ rằng con thuyền đánh cá có vũ trang đang nghiêng ngả, mấp mé sóng biển trên tấm hình, vâng, con thuyền dường như đang co rúm lại chờ đón con sóng mới đổ xuống kia, chính là con thuyền tuần duyên ông Asmus Asmussen chèo lái bảo vệ biển quê hương ông. Bức hình có lẽ được chụp từ trên “tổ quạ” - chỗ đứng quan sát của thủy thủ được lắp gần đỉnh cột thuyền buồm thứ nhất - xuống thì phải, và thoạt trông thì không thấy bóng một ai trong đội thủy thủ cả, nhưng nhìn thật kỹ, có thể thấy khuất sau bọt sóng biển bắn lên cao, là bóng hai người đang ngồi chồm hỗm trên cỗ pháo cao xạ gắn ở mũi thuyền và đưa tay vẫy vẫy về phía ống kính. Cử tọa ai nấy thả hồn theo con thuyền tuần duyên ấy, con thuyền không mang tên, chỉ mang số hiệu, con thuyền dường như chỉ gây ra độc một ấn tượng tội nghiệp, hay, nếu không phải tội nghiệp, thì cũng là vô vọng vậy. Cử tọa, ai nấy như thể đều muốn tự mình trèo lên thuyền, mỗi người một ống nhòm nhìn ra xa, và cùng được xì xụp món mì xào thịt nướng cùng tốp thủy thủ chèo lái con thuyền. Hai vòng tròn trắng quanh khẩu cao xạ 3,7 hai nòng có nghĩa là gì, thì tôi biết rất rõ. Nhưng sức gió lúc ấy thế nào thì khó lòng mà ước lượng được.
Đây là thuyền chúng tôi, ông Asmus Asmussen nói -giọng đều đều nhưng dồn ép, như nước thủy triều dâng và dồn ép vào lạch sông - vâng, con thuyền trung thành của chúng tôi. Ông ta nói tiếp, xin bà con lưu tâm cho, nó chỉ là một trong vô số thuyền bè tham gia mạng lưới bảo vệ vùng biển quê nhà thôi ạ. Bất kể ngày hay đêm. Dẫu mưa bão hay băng giá. Trong một mạng lưới trùng điệp và chắc chắn. Không kẻ nào lọt qua nổi mạng lưới đó. Cá mú bơi còn chẳng lọt, nói gì bọn Anh. Quốc trưởng đã đặt thuyền chúng tôi cũng như vô vàn thuyền bè khác xuống vùng biển ngoài đó - vâng, nguyên lời ông ta nói là như thế: đặt xuống.
Bàn tay bố tôi bỗng giật giật. Ông giơ tay lên, trỏ vào con thuyền tuần duyên, ngắc ngứ muốn nói gì đó, nhưng rặn không ra lời, nên lúc ông Asmus Asmussen đẩy tấm ảnh tiếp theo vào đèn chiếu thì bố tôi lại từ từ rút tay xuống. Tấm hình mới chụp một góc biển vắng lặng, mặt trời trắng đục như sữa treo phía trên. Không còn nhận ra con thuyền lúc nãy nằm đâu, nhưng chẳng ai nghĩ nó đã bị đánh đắm, bởi trên mặt biển vẫn còn sót lại một cái gì đó trăng trắng sủi bọt - chỉ có chân vịt tàu thủy mới tạo ra vệt nước sủi bọt như thế, vâng, vệt nước sôi sủi bọt hai bên mạn thuyền khi thuyền rẽ nước tiến lên. Bức ảnh tiếp theo chỉ chụp vệt nước bị rẽ ra đó; vệt nước trông rất rõ, loang rộng ra và kéo dài mãi về phía chân trời - một vệt nước lung linh, tạo nên bởi muôn vàn bọt biển vừa hình thành đã vỡ tan ngay tại chỗ.
Cái đó nghe như đường rẽ nước hả, viên thuyền trưởng già Andersen kêu lên, còn ông Asmus Asmussen đáp, giọng vẫn mềm mỏng, nhắc nhở khán giả mơ mộng cùng ông: Ra khơi tuần tiễu không có nghĩa chỉ là đi thi hành công vụ đâu, bà con ạ. Ai bướng bỉnh dám cưỡng lại biển, biển lại yêu quý người đó và cởi lòng chia sẻ mọi uẩn khúc tâm tư lẫn các bí mật sâu thẳm của mình với anh ta.
Thế ông bảo đấy không phải đường rẽ nước hả? - viên thuyền trưởng già Andersen vẫn gặng cho bằng được, thế nhưng, ông Asmus Asmussen dường như đã bị lôi cuốn vào luồng ý nghĩ thi vị, nên vẫn nói tỉnh bơ: Với kẻ đứng ngoài cuộc, vâng, tức là với kẻ lạ, thế giới biển đa hình đa dạng sẽ chẳng trải lòng mình ra đâu; những ai suốt một đời chỉ bám đất liền sẽ không hiểu nổi các tín hiệu của biển cả. Xin bà con lưu ý cho, trên tấm ảnh này, một trận bắn pháo hoa đang diễn ra đấy ạ, tiếc rằng trên ảnh đây không thấy được rõ: Chúng tôi gọi là biển phát quang ạ. Nó bùng cháy, nó tỏa sáng, nó tung các tia chớp vàng tươi, hay xanh lục trên mặt biển: vào những giây phút như thế, các họng súng đều im tiếng. Toàn bộ đường rẽ nước biến thành một vệt sáng lung linh, nhất là về đêm, nom như một lời chào của biển cả gửi tới các chàng trai mà biển đã trao cho quyền được định cư trên mặt nước của nó vậy. Một thông điệp hoan hỉ đón chào con thuyền hiện mờ mờ trong bóng tối, trên đó các thủy thủ không một ai chợp mắt, một khi mũi thuyền và hai bên mạn vẫn chưa tắt các tia sáng lân tinh nhấp nháy. Ông ta dứt lời và đúng lặng nhìn lên bức ảnh, có lẽ ông cũng giống như tôi, đang chăm chú quan sát con bướm đêm mập mạp nhiều lần toan lao vào vệt đường rẽ nước, nhưng lần nào cũng như lần nào, chỉ uể oải đâm sầm vào tấm phông màn ảnh. Anh mắt ông Asmus Asmussen có vẻ không muốn rời khỏi bức ảnh, tôi nghĩ bụng, cho nên ông chợt tỏ ra khá bối rối, khi viên thuyền trưởng chín mươi hai tuổi và nổi tiếng ăn ảnh Andersen lên tiếng, hỏi cho bằng được: Chứ không phải vệt sáng là do tụi Noctiluca, sâu bọ biển hay tảo tiếc gì đó, gây ra à? Tụi tôi cũng nhiều lần thấy như thế rồi. - Tất nhiên, ông Asmus Asmussen đáp, sở dĩ biển tỏa sáng như thế là có lý do của nó đấy, ông ạ: tia sáng lấp lánh, nhấp nháy sinh ra là do thành thuyền cọ xát vào đám vi sinh nhỏ li ti sống trong nước biển, ông đã muốn biết kỹ thì tôi nói ông nghe, đám vi sinh vật nguyên sinh gọi là trùng roi - một loại nguyên sinh vật đơn bào ông ạ. Thế nhưng, chẳng phải chúng nó là một phần của biển cả hay sao hả ông? Không phải chúng nó làm biển phát sáng, và chúng nó, cũng nhờ có biển mới phát sáng được là gì?
Ông không trả lời thẳng vào câu hỏi, ông cũng không có vẻ mong ai trả lời giúp ông, ông chỉ dừng một lúc, thả lòng mình trôi vào ký ức, và đúng lúc ông đang dừng lại đó, bố tôi kêu tướng lên, mông hơi nhổm khỏi ghế băng: VP-22! VP-22!
Đôi người trong số khán giả - như ông ngoại tôi, cô Hilde Isenbüttel và bác gái Ditte chẳng hạn - ngạc nhiên quay người lại, nhìn về phía hai bố con tôi, còn ông Asmus Asmussen cũng không kém bất ngờ, lúc sau cất tiếng nói: Vâng, đấy là số hiệu thuyền chúng tôi, vâng ạ! Ấy thế, nhưng vào lúc mọi người có vẻ sốt ruột chờ xem bố tôi nói thêm điều nữa, thì ông lại mỉm cười bối rối, làm một cử chỉ vô định nhằm xin thiên hạ thứ lỗi - không, một cử chỉ đầy bất lực thì đúng hơn - rồi lại chậm rãi ngồi xuống. Ông đặt một tay lên đùi tôi, nhưng phải mất một lúc ông mới nhận ra đấy là đùi tôi chứ không phải đùi ông, ông liền rụt ngay tay lại. Trong cảnh tranh tối tranh sáng, thậm chí tôi vẫn có thể nhận thấy có cái gì đó đang xảy ra trong lòng ông, khiến ông xúc động, có phần hốt hoảng là đằng khác, hay, có lẽ còn đúng hơn nữa, ông như đang bị giày vò thế nào đó trong lòng. Thôi thì, nói gì thì nói, chính vào cái buổi tối hôm ấy, buổi tối dành trọn cho vùng biển quê nhà ấy, viên cảnh sát chốt Rugbüll bắt đầu hé lộ một căn bệnh kinh niên ông mắc tự bao giờ - một căn bệnh tuy không phải là hiếm gặp trong dân xứ tôi - nhưng sẽ ít nhiều tác động lên tất thảy các hoạt động nghiệp vụ cảnh sát trong vùng do bố tôi phụ trách.
Thế nhưng tôi chỉ muốn kể ra ở đây những gì cần kể thôi, hay nói như người ta, trong cuộc chơi chỉ tạm rút một con bài cái đã, bởi vì ông Asmus Asmussen vừa lúc đó đã lôi tấm ảnh chụp vệt nước rẽ xuống, rồi chiếu tiếp tấm khác lên màn cho chúng tôi xem. Tấm ảnh nào ấy à? Tấm ảnh hồi ấy ông ta chiếu lên là tấm chụp lúc xế chiều “ấm cúng” trên boong thuyền, lúc mọi người nghỉ tay - vâng, tối đến, trên Biển Bắc người ta cũng nghỉ tay - và một số thủy thủ đang đứng tựa lan can ở mép boong thuyền, nhưng họ không phóng tầm mắt ra khơi, mà ai nấy trông có vẻ như đang chăm chú nhìn một anh thủy thủ khác ngồi say sưa chơi phong cầm, lưng quay về phía những đám mây chiều buông rất thấp trên mặt biển, những đám mây, rất có thể, đang che giấu cả bầy máy bay ném bom Blenheim của quân Anh cũng nên.
Trên ảnh này, ông Asmus Asmussen nói, thật ra không có gì nhiều, phải không ạ? Một buổi tối bình thường như mọi buổi tối khác, không phải lúc trực chiến. Anh em thủy thủ đang lúc nghỉ ngơi, kéo đàn ca hát, trong lúc đó, chỉ riêng mấy người cầm lái chúng tôi là vẫn phải không rời mắt quan sát đường chân trời. Bà con chắc cũng thấy, lúc này tiếng súng đang tạm im. Anh em vừa ăn uống no nê. Đủ loại cá tuyết, cá tuyết chấm đen, cá tuyết Đại Tây Dương do anh em tự đánh bắt được, dồn vào bữa ăn tối cho dồi dào thêm. Biển cả nuôi ăn mọi người mà lại. Vâng, chính biển cả quê ta đấy ạ. Bên trái, phía trên cùng, bà con có thể thấy một phần khẩu cao xạ bốn nòng của chúng tôi. Đứng trên cầu tàu - nhìn từ đây tiếc rằng ta không nhận ra được - là thuyền trưởng của chúng tôi. Thế nhưng tấm ảnh này không nói lên được nhiều lắm. Vâng, đây, có lẽ tấm này thú vị hơn. Nói rồi, ông Asmus Asmussen - con người am hiểu tường tận biển cả đến nhường ấy - chiếu tấm ảnh tiếp theo lên màn.
Mặt trời ban mai treo trên biển; bầu trời trong xanh, bao la rộng lớn - một buổi sáng mai nắng mà trời lạnh đến run người. Một con sóng dài chồm tới. Con thuyền mang số hiệu VP-22 rõ ràng đang oằn mình, nghiêng bên này, ngả bên kia, trườn tới. Thủy thủ canh gác phía đuôi thuyền hình như vừa xua đôi con hải âu, bắt chúng cất cánh bay lên. Ống khói nhả ra làn khói mỏng, gọi nhớ bếp nấu ăn mọi nhà sớm ra vừa nhóm lửa. Ông đầu bếp chắc đang đun nước sửa soạn pha cà phê cho đồng đội. Các chú thủy thủ trên con thuyền VP-22 có lẽ vừa trở dậy, đang đánh những hàm răng hẳn đã chớm mắc bệnh skorbut do bị thiếu vitamin c trường. Và, cũng có lẽ, radio trên thuyền đang phát đôi bài hát êm ả buổi sáng mai, tiếng ca lan nhè nhẹ trên boong rồi len lỏi mọi khoang thuyền.
Xin bà con để ý, ông Asmus Asmussen thủng thẳng, bên phải, ở trên cùng kia, bốn quả bom treo lủng lẳng ạ. Vâng, bốn cả thảy. Lao xuống bất cứ lúc nào. Ngược nắng khó thấy. Nhưng nhìn kỹ khắc nhận ra. Tất cả đều trượt, rơi xuống nước, phía cầu tàu.
Tôi nhảy bật dậy. Những người ngồi trước hay bên cạnh tôi, thân thể ai nấy có lẽ đều đang ở tư thế nhẹ nhàng thư thái bỗng cứng đờ căng thẳng. Không ai nghĩ một tình huống như thế có thể xảy ra, ai nấy dường như đều bị bất ngờ: bầu không khí lâng lâng vui vẻ trong phòng họp không cho phép bom rơi lúc này; giữa một buổi ban mai như thế này trên thuyền tuần duyên, tôi phải nói cho rõ thế, người ta có thể nghĩ gì thì nghĩ chứ chẳng ai tính đến tình huống bom rơi ngoài mạn thuyền cả. Thế nhưng chúng tôi đều nhận ra chúng. Một thủy thủ chuyên phất cờ tín hiệu trên thuyền, hẳn phải thuộc loại không biết sợ là gì, đã thu được chúng vào ống kính, hai quả thậm chí còn hắt thứ ánh sáng nhờ nhờ về phía anh ta. Bom rơi xuống ở các độ cao khác nhau; bây giờ mà có ai vẽ đường nối các cánh bom với nhau thì chắc chắn nó sẽ thành một đường chéo. Vâng, bom sẽ rơi xuống ngay bây giờ, quả này nối quả kia đập xuống mặt nước biển, và, hoặc sẽ nổ tung lên ngay, hoặc lặn xuống đến độ sâu định từ trước mới nổ, và cảnh tượng đó chắc hẳn sẽ gây cảm hứng cho bất kỳ họa sĩ hải quân nào của hạm đội: bốn quả bom hạng trung - hay hạng nhẹ thì đúng hơn - được ném xuống từ một chiếc máy bay vô hình nào đó. Tất cả đều phải được tính toán từ trước: tốc độ máy bay bay, góc bom rơi, hướng con thuyền chạy. Thật may cho con thuyền VP-22, các phép tính lần ấy đều sai.
Một buổi sáng bình thường như mọi buổi thôi ạ, ông Asmus Asmussen nói, nhưng vẫn cứ là đặc biệt. Bao giờ cũng phải sẵn sàng đón nhận mọi bất ngờ. Biển bao giờ cũng câm lặng, bà con ạ. Hơi tiếc là không ai ghi được cảnh bom nổ dưới nước, vâng, như những vòi phun nước tráng lệ. Trong nhật ký của tôi, tôi gọi đó là khu vườn các vòi phun nước, trong đó con thuyền chúng tôi vẫn không nao núng lướt tới.
Viên thuyền trưởng Andersen chợt nói toáng lên bằng phương ngữ miền Bắc Đức đặc sệt: Thế từ dưới không có gì nổi lên à? - Thoạt đầu, ông Asmus Asmussen có vẻ không hiểu câu hỏi, nhưng đến khi ông hiểu ra, thì ông đáp với giọng mà ai cũng hiểu ông đã bắt đầu cáu.
Biển xóa dấu bom rất nhanh - ông ta nói. Tất nhiên rồi, mới đầu rong biển sẽ nổi lên, rong biển đỏ, rong biển nâu, chỉ rong biển xanh lục là không. Rong tảo cùng cá chết nổi đầy mặt biển, các loại cá bơn, đủ loại cá tuyết. Cá bống biển thì hiếm hơn. Hiếm hơn nữa là các loài cá sụn như cá đuối hay cá mập. Chả thấy tôm cua bao giờ. Các tổn thất kiểu như thế, biển cả thản nhiên phớt lờ, bà con ạ. Chỉ một loáng sau là mọi thứ, nào xác cá, nào rong, nào tảo, lại tản hết ra, chìm xuống rồi chả mấy chốc biến mất tăm ngay. Chỉ một lúc thôi, là chẳng ai dám quả quyết, vừa có quả bom rơi nổ ở chỗ đấy. Biển đã xóa hết mọi dấu vết rồi còn đâu. - Bom rơi không trúng bao giờ, hả? - ông Andersen lại lớn tiếng hỏi, vẫn bằng phương ngữ, còn ông kia đáp: Nếu ý ông muốn hỏi chúng tôi có bị thiệt hại gì hay không, thì tôi xin thưa với ông rằng, không, không bị thiệt hại gì.
Giữa lúc ông Asmus Asmussen bây giờ xoay ra xem xét, xếp đặt hay xếp đi xếp lại các tấm ảnh dưới ánh đèn hắt ra từ bên hông đèn chiếu, thì bố tôi lại loay hoay cùng chiếc khăn tay to đùng màu nửa trắng, nửa xanh da trời của ông; ông thắt cái khăn thành hình một con thỏ, một con nhím, rồi chỉ bằng một nút thắt ở giữa và kéo thật căng ra, thế là thành hình con rắn nuốt con thỏ, và bố tôi loay hoay như thế không phải vì ông biết trước các bức ảnh thế nào, hay vì ông chán xem ảnh. Mà vì ông phải cố nghĩ lảng sang chuyện khác. Ông muốn nhẹ lòng. Ông phải xả bớt sức ép vô hình dồn ứ trong lòng, bởi vì, chắc chắn thế, chẳng còn gì phải nghi ngờ nữa là, ngồi cạnh tôi, ông giọng như một loại hồ thủy điện, nhưng quá nhỏ so với lượng nước đang dâng. Không biết đến bao giờ con đập ngăn nước sẽ bục ra?
Nó bục ra, lúc ông Asmus Asmussen vừa tắc lưỡi, vừa đặt một tấm ảnh chụp cảnh đội thủy thủ thuyền VP-22 đang cọ boong lên đèn chiếu. Trên tấm ảnh này không thấy bom treo lủng lẳng bên mạn phải. Biển lặng. Ngay chính giữa bức ảnh, có cả thảy sáu chú thủy thủ - trong số họ có cả người sáng tạo ra các nhân vật Timm và Tine - đang đứng thành đội hình hàng ngang với khoảng cách rất đều đặn trên khoang giữa con thuyền, và kỳ cọ, tất nhiên kỳ cọ theo nhịp, cho sạch bong sạch bóng boong thuyền. Ai nấy đều cười. Rõ ràng các chú đang vui vẻ được cọ rửa boong thuyền của họ, và không ai để ý đến một cái xô bị đổ, làm nước xà phòng lênh láng. Bầu trời ảm đạm, tầm nhìn xa bị rút ngắn đáng kể. Nhìn khung cảnh đó trên ảnh, chắc người xem có thể tưởng tượng ra một ai đó khuất mặt đang kéo đàn phong cầm - cốt giúp các chú thủy thủ giữ được nhịp khi cọ boong.
Phải sạch sẽ, ông Asmus Asmussen bình luận, biển cả bao giờ cũng đòi hỏi sạch sẽ. Tôi xin lưu ý bà con đến cái xô đựng nước xà phòng bị đổ ra kia. Thưa bà con, chúng tôi cần cả thảy bốn thùng như thế cho một lần cọ boong thuyền đấy ạ! Ngay cả một mảnh quê hương, khi ra khơi trên biển cũng phải sạch bong. Vảy cá, hòn sỏi, hạt cát, dù li ti cũng phải dọn bằng sạch. Hiểm nguy rập rình kề cận cũng không phải là cớ để ăn ở bẩn thỉu đâu ạ. Xin bà con để ý đống bọt xà phòng xem.
Đúng lúc đó bố tôi kêu toáng lên: Không! Hượm đã ông Asmus ơi, rồi bố tôi nhổm dậy, chỉ tay vào con thuyền VP-22 trên ảnh, nghèn nghẹn trong cổ một lúc, rồi mới lại kêu tiếp: Không, khoan đã, khoan đã.
Bây giờ thì hầu như ai cũng quay nhìn về phía hai bố con tôi. Bố tôi lấy khăn tay lau trán, người hơi chao đảo, thử tìm cách quay người khỏi tấm ảnh, như thể ông không chịu được cảnh các chú thủy thủ cọ boong thuyền theo nhịp vậy. Ông Asmus Asmussen vẫn để tấm ảnh nằm nguyên đó, quay về phía bố tôi, nheo mắt nhìn ông một lúc, rồi hỏi: Ông bảo không, là ý thế nào? Bây giờ thì đến lượt mọi người, không trừ một ai đều ngoảnh nhìn về phía bố con tôi, và hồi hộp chờ câu trả lời mà viên cảnh sát Rugbüll phải đưa ra, nhưng vẫn chưa chịu đưa, bởi vì ông đang vội vàng mở hai khuy trên áo khoác cảnh sát, rồi xoa xoa hai bàn tay vào nhau, theo kiểu, như thể ông muốn rửa tay khô, không cần nước vậy. Và, ông vẫn cứ ngắc ngứ, lúng búng mãi. Rồi ông bước tới chỗ ông Asmus Asmussen. Mội tia sáng hắt từ hông đèn chiếu vào má ông như một vệt mổ bốc lửa. Ông đặt tay lên khuỷu tay ông Asmus Asmussen, có khi còn bóp chặt nó là khác. Một số người đang ngồi hai bên lối đi ở giữa vội nhổm dậy để nghe cho rõ xem bố tôi định nói gì. Thế nào, ông? - ông Asmus
Asmussen hỏi, rồi tay ông, theo một bản năng nào đấy, bất giác nắm lấy chiếc phong bì đựng số ảnh chưa chiếu kéo về phía mình.
Trong phòng bỗng lặng như tờ, khi viên cảnh sát đồn Rugbüll - mà bây giờ lại rất bình tĩnh mới lạ - bỗng cất tiếng nói: Đừng ra khơi nữa, ông Asmus ạ, đừng đi, hườm hượm đã, tôi đã từng thấy các anh mà; - Ông ấy nói cái gì thế? Viên thuyền trưởng Andersen lại hỏi to, và có tiếng ai đó đáp: ông ấy bảo ông ấy nhìn thấy cái gì đấy. - Tôi đã nhìn thấy các anh chìm trong khói lửa, bố tôi nói, nhưng lúc gió nổi lên xua khói đi, thì không thấy các anh đâu nữa cả.
Trong gian phòng chỉ còn nghe thấy tiếng rù rù đều đều phát ra chiếc đèn chiếu và tiếng xích xủng xoảng, tiếng gia súc chen lấn văng vẳng từ chuồng gia súc sang. Trên màn ảnh, sáu chàng thủy thủ vẫn không ngớt tươi cười, tay cọ boong thuyền cho sạch, đón chờ vụ đắm thuyền do bố tôi dự báo trước ấy.
Tôi thấy khối lửa trùm lên các anh thật, bố tôi lại nói, lúc khói tan rồi thì tôi chỉ thấy áo với phao bơi trên mặt biển thôi, chứ không thấy người nào trong các anh nữa cả. Lúc ấy, đúng là thuyền mang số hiệu VP-22 của các anh bị khói lửa che kín hết. Ông đưa mắt nhìn quanh, như thể tìm xem có ai trong số cử tọa ngồi trong cảnh nửa tối nửa sáng này đồng tình với ông hay khích lệ ông không, nhưng tất cả lặng người do sửng sốt - mà có lẽ họ không những chỉ sửng sốt, họ có vẻ hoảng hốt và luống cuống - nên không ai có thể cất tiếng đồng tình với bố tôi, không ai dám khẳng định những gì ông miễn cưỡng nhìn thấy trên một màn ảnh dường như được dựng cho riêng ông xem mà thôi ấy. Thành ra bố tôi cứ đứng đực ra đó, với dáng điệu và vẻ mặt khiến cử tọa có thể nghĩ, có lẽ ông đang muốn ngỏ lời xin lỗi vì những lời mình vừa nói ra. Hai vai buông thõng, mắt nhìn xuống, bây giờ bố tôi lại đứng ở tư thế rất thoải mái. Thế còn ông Asmus Asmussen thì sao? Ông ta có vỗ vai nhằm trấn an bố tôi không? Liệu ông ta, với vốn am hiểu của mình về biển cả, có tìm cách khích lệ bố tôi nhìn số phận con thuyền VP-22 ít nhiều sáng sủa hơn không? Hay ông ta sẽ không cho phép ai can thiệp vào số phận nay mai của con thuyền ông? Ông Asmus Asmussen chìa tay ra bắt tay bố tôi. Không nói không rằng, ông ta nắm tay bố tôi rất lâu với ý cảm tạ, rồi giữ chặt và ấn cánh tay đang chỉ chực giơ lên cao của bố tôi xuống. Mãi đến lúc viên thuyền trưởng Andersen kêu to lên: Ông này có tài tiên tri chắc?, thì ông Asmus Asmussen mới nói - mắt vẫn không rời bố tôi với vẻ không những chỉ ngạc nhiên không thôi, mà còn sợ sệt: Vâng, tôi sẽ tính đến chuyện đó, ông Jens ạ. Tôi cũng khắc nói cho anh em khác biết. Chúng tôi sẽ thận trọng.
Đoạn ông vỗ vỗ lên vai bố tôi như để trấn an, rồi xoay người bố tôi, và khẽ đẩy một cái, không quá mạnh, mà vừa khéo để bố tôi quay lại chỗ ngồi bên cạnh tôi. Không chút khó nhọc, ông tìm lại ghế ông ngồi lúc nãy, ngồi xuống, sức ép hồi nãy trong lòng dường như đã xả ra gần hết, và bây giờ trông dáng ông mệt lử. Dường như ông kiệt sức, buồn bã, thất vọng. Có điều không ai trong số cử tọa nhận ra điều đó cả, mặc dù trong cảnh tranh tối tranh sáng ai nấy vẫn nhìn chòng chọc về phía ông, đôi người còn có vẻ nghiêm khắc là đằng khác, có thể là do bối rối, hay lo lắng, không khéo bố tôi lại bắt đầu ganh đua với chiếc đèn chiếu cũng nên, và sẽ che khuất hay nghi ngờ tất cả những gì từ giờ sẽ được chiếu lên màn ảnh.
Bác Asmus ơi, bác chiếu tiếp đi, tôi vừa thầm mong như thế trong bụng thì ông Asmus Asmussen đặt một tấm ảnh mới lên đèn chiếu thật, và lập tức thu hút chú ý của mọi người trong Hội đồng hương quê tôi, khi ông cắt nghĩa, rằng hai người đàn ông ngồi trong chiếc xuồng cao su và đang chèo về phía thuyền tuần duyên chính là hai người Mỹ, hai phi công Mỹ thì đúng hơn. Bức ảnh được chụp chéo từ trên xuống. Hai viên phi công mặc áo bơi được thổi phồng lên, và ôm kín cổ, khiến trông họ như đang bị áo bơi bóp chặt lấy cổ vậy. Nhưng cả hai đều đang buông mái chèo xuống nước, và, dù không thật rõ, cả hai vẫn có vẻ khoan khoái lắm. Thế mà, họ đang chèo xuồng tự đưa mình đến chốn tù đày. Họ chèo chiếc xuồng cao su áp vào mạn thuyền tuần duyên VP-22, ở đó một chiếc thang dây vừa được thả xuống và từ phía trên boong, một sợi dây chão cũng được ném xuống chiếc xuồng phía dưới: những gì diễn ra sau đó, có lẽ cũng dễ dàng hình dung ra.
Nhờ khẩu cao xạ ba lẻ bảy của chúng tôi đấy, ông Asmus Asmussen nói. Chúng tôi hạ chúng nó ngay cú bổ nhào đầu tiên. Rơi. Kéo theo vệt khói rõ dài. Hạ cánh khẩn cấp xuống mặt nước. Vừa hạ xuống, chúng nó bắn pháo hiệu ngay. Từ lúc ấy trở đi, chúng nó được xem là người gặp nạn đắm tàu trên biển. Chúng nó thông thạo luật lệ lắm. Người Mỹ mà lại.
Mọi thứ chúng nó đều xem là công việc hết, kể cả đánh nhau ngoài trận mạc cũng là công việc, ông ngoại tôi cất tiếng nói chen vào. - Vâng, chúng nó chẳng biết thế nào là tình quê hương ràng buộc dây mơ rễ má đâu, ông Asmus Asmussen tiếp, chúng nó không biết thế nào là trách nhiệm của lương tâm, bất cứ chỗ nào chúng nó cũng có thể coi là nhà chúng nó. - Chúng nó chỉ ăn độc kẹo bông thôi, nước chanh để uống thì đem pha mầu vào, ông ngoại hay cau có của tôi nói, chính mắt tôi đã đọc như thế mà, đúng là người ngợm thế nào thì thức ăn thức uống như thế thật. - Bởi đi đến đâu chúng nó cũng coi nơi đấy là quê hương mình ngay, ông Asmus Asmussen nói, đâm ra chúng nó mới chẳng có quê hương ở đâu cả. Các bài hát chúng nó hát đều là bài hát của bọn lữ hành lang thang. Nhà chúng nó ở giống như lều dân du mục. Sách vở chúng nó xem là sách vở bọn suốt đời phiêu bạt. Lối sống Mỹ là lối sống tạm bợ, tạm thời, chẳng có nghĩa vụ ràng buộc lâu dài gì hết, vâng, lông nhông xe ngựa. - Thường dân cả một lũ ấy mà, ông tôi chen vào với vẻ coi thường, có khoác quân phục kiểu gì lên người, chúng nó vẫn là dân thường tuốt. - Vâng, đúng thế ạ, ông Asmus Asmussen phụ họa, rồi phán tiếp một câu xanh rờn: Chỉ những ai định cư chắc chắn mới chống chọi nổi bão táp mà thôi, bà con ạ.
Nói văn hoa như thế, ông ta ngụ ý muốn kết câu chuyện rồi đấy. Ông ta đã lôi một tấm ảnh khác từ trong phong bì ra và vừa định đặt nó lên đèn chiếu, thì bố tôi chen vào, không phải theo kiểu ta đây cảnh sát thì chẳng cần ai hỏi ta cứ nói, mà, người cứng đơ, ông tiến về phía ông Asmus Asmussen, môi mấp máy rất nhanh như muốn tìm đúng từ đúng ngữ để mô tả những gì ông còn tiên tri thêm về tai họa sẽ ập đến, và rốt cuộc lại tạo ra một đỉnh cao mới cho buổi tối hôm đó bằng những lời lẽ như sau: Ông Asmus, tôi thấy ông ngồi trên xuồng cao su. Ông ngồi không động đậy. Tay ông buông qua mép xuồng xuống nước. Không thấy ai cùng ở đó với ông cả, và ở quanh đấy trống trải lắm.
Ngoài ra bố tôi chẳng còn gì để nói thêm cả. Có lẽ đó là phần còn lại của những gì ông mơ thấy. Ông chẳng cần thêm thắt thêm gì nữa. Vị diễn giả đưa hai tay ra phía trước, không để bố tôi tiến sát đến mình: Khoan đã nào, đã bảo đừng đến gần tôi mà.
Thế nhưng ông ngồi trong xuồng mà chẳng động đậy gì cả, bố tôi khe khẽ nói như để xin lỗi, còn ông Asmus thì bốp luôn: Xin ông thôi cho, đừng phá ngang buổi thuyết trình như thế này mãi.
Viên cảnh sát chốt Rugbüll bối rối đưa mắt đảo một vòng. Ông tìm cái gì đó. Ông tìm màn ảnh chắc? Có phải ông đang muốn lôi những tấm ảnh ông đã rửa sẵn ở phòng tối nằm đâu đó trong đầu ông ra, rồi đặt lên đèn chiếu làm bằng chứng cho sự cấp bách của những điều ông tiên đoán không?
Thôi được, ông lầu bầu, thế thì thôi vậy. Ông vốn chậm hiểu, cân nhắc mọi thứ cũng chậm nốt, và đó chính là may mắn của ông, bởi điều đó cho phép ông chịu đựng được nhiều thứ, mà trước hết, là chịu đựng nổi chính mình. Ông so vai, thở dài, nhét chiếc khăn tay to vào túi, chiếc khăn đã thắt nút các xúc động của ông vào đó. Không tỏ chút ngạc nhiên, ông nhìn ông Hinnerk Timmsen, lúc đó, ông này - có lẽ do mọi người khác thúc giục - đang tiến lại gần ông, nắm tay ông, rồi nói: Ông Jens nhỉ, tôi với ông về nhà nhé?
Bố tôi cũng không tỏ ra ngạc nhiên thấy cử tọa đứng cả dậy, lúc ông cứng đơ người đi dọc theo lối đi ở giữa tiến dần ra cửa; ông nhẹ nhõm đi ra; ông chủ nhà trọ Hinnerk Timmsen đỡ tay ông dẫn đi, làm như thể buổi thuyết trình không mấy vui vẻ này vừa kết thúc vậy. Lúc hai người ra đến cửa, bố tôi cất tiếng: Tôi thế nào cũng được, ông Hinnerk ạ, ta về thôi. Ông chẳng để ý đến hai hàng người lặng im đứng hai bên lối ông đi, còn tôi, tôi lưỡng lự khá lâu - như định chờ cho vài người lại ngồi xuống đã - rồi mới chạy theo hai ông ra cái sân đầy vũng nước của ấp Külkenwarf; trước mặt tôi, hai ông khoác tay nhau - không, không phải khoác tay nhau, nói như thế không đúng - đúng ra là bác Timmsen nắm chặt tay bố tôi và dẫn ông đi qua buổi tối mùa hè còn sáng sủa để lên bờ đê.
Chả biết có đáng kể thêm đôi điều về ông Hinnerk Timmsen không nhỉ? Ông ta quàng trên cổ một chiếc khăn quàng dài, dài như chuỗi các nghề nghiệp từng qua tay ông, nghề nào ông cũng nhanh tay hăm hở bập vào, nhưng nghề nào cũng như nghề nào, rồi ông cũng sớm bỏ như thế vậy. Chiếc khăn quàng thả dài tận đầu gối của ông đúng như lá cờ ủ rũ của vận số đen đủi. Ông từng làm nghề thủy thủ đường biển, từng qua nghề buôn gia súc, từng thử sản xuất bao đựng các loại ngũ cốc, ông cũng từng giữ cả chân tá điền, lang thang đây đó làm thuê, ông từng làm nghề buôn đồ cổ, ông cũng từng thử cả nghề bán vé số, và trước khi ông được kế thừa quán trọ Wattblick từ tay một bà chị ruột, thì dân tình ở đây vẫn thường gặp ông đi bán sữa trên chiếc xe bánh hơi tự tay ông lái. Đúng với tính khí xưa nay của ông, lúc đầu ông định biến quán trọ Wattblick thành quán đặc biệt, tức là, thành quán số Một trong vùng này: buổi khai trương ông thuê hẳn dàn nhạc sống đến chơi, đích thân ông giữ luôn cả chân dẫn chương trình, diễn viên hài, lẫn diễn viên ảo thuật; nhưng, rốt cuộc, mọi khó nhọc của ông đều hóa ra công cốc, bởi vì giữa lúc ông đang thao thao bất tuyệt, thì nhiều khách khứa đã nhớn nhác trả tiền bỏ về, để nguyên cả các vại bia đầy tràn họ chưa kịp ghé môi lẫn các đĩa thức ăn đầy ắp họ chưa kịp đụng dao chạm nĩa; vâng, tham vọng của ông bị thiên hạ đánh giá sai, và nếu chiến tranh hồi ấy giữa chừng không nổ ra, thì chắc ông đã lại đi tìm vận may trong một nghề nào đó khác rồi.
Vâng, chính ông Hinnerk Timmsen, con người cao lớn mập mạp, và ưa thay đổi các ý đồ làm ăn nhanh như chong chóng ấy, dẫn bố tôi lên bờ đê. Tôi đi theo hai ông, lúc lẽo đẽo đằng sau, khi tót chạy lên phía trước. Hai ông chẳng để tâm đến tôi, họ còn khối chuyện với nhau. Bố tôi khổ tâm về những gì ông đã nói hay phơi lộ ra; dường như ông chẳng còn nhớ mấy về những gì vừa xảy ra, trong lòng ông, hình như ông chỉ có cảm giác bị ép buộc phải thừa nhận một lỗi lầm nào đó, một lỗi lầm khiến bà con bất bình với ông.
Như thế có gì là dở? Ông cứ hỏi đi hỏi lại. Hả, ông Hinnerk, ông nói tôi nghe, như thế có gì là sai, còn ông Hinnerk - người đàn ông cao mập và dày dạn kinh nghiệm với đủ loại ngành nghề ấy - lắc đầu không nói gì, nhưng vẫn không thôi liếc chéo sang, quan sát viên cảnh sát đang lúc rầu rĩ ăn năn hối lỗi; tôi phải nói rõ là ông quan sát bố tôi với vẻ hơi ái ngại, nhưng cũng pha chút cảm phục. Ông ta có vẻ tin chắc rằng ngoài những gì ông ta vừa chứng kiến tối nay, hẳn bố tôi còn có nhiều biệt tài khác.
Gì thì gì, nỗi bồn chồn trong lòng ông ta khiến ông vội vã, ông ta vừa lơ đãng an ủi, vừa hết đẩy, lại kéo bố tôi tiến lên trên mặt đê men theo bãi biển, nơi các đợt sóng Biển Bắc đang từ từ kéo vào, đập vào các hàng cột phá sóng, rồi kiệt hết sức, chỉ còn uể oải - như trong một đoạn phim chiếu chậm - chậm rãi liếm lên bờ. Không, tối nay không có tiếng sóng đổ ầm ầm, không có cảnh sóng thò ra rất nhanh, liếm cũng rất nhanh lên các tảng đá bên bờ, rồi oàm oạp, óc ách, luồn vào giữa các hộc đá lẫn các tảng xi măng đúc sẵn chất lên nhau. Rất cao, bay qua trên đầu chúng tôi là một phi đoàn máy bay đang nhắm hướng thành Kiel bay tới. Không gian đượm mùi iốt, những ngọn gió mằn mặn vị muối - chà, mọi thứ mới gần gũi làm sao, mọi thứ chờ chực sẵn để lặp lại từ đầu, nếu ta chọn đúng lúc, chọn đúng lời, ta chỉ cần chạm tới, hay chỉ cần dỏng tai lắng nghe, thì một giọng nói khắc vọng đến ta một lúc nào đó.
Nhưng với tôi, không nhẹ nhàng thanh thản thế, tôi không được đặt lòng tin vào cái giọng không biết ngờ vực bao giờ ấy: đây là con đê, đây là Biển Bắc, và trước mặt tôi là hai người đàn ông đang rảo bước.
Chúng tôi đi xuống quán Wattblick, rồi bước lên sân thượng bằng gỗ xây bắc qua mặt đê. Các khung cửa sổ rộng đều được che ánh sáng hắt ra ngoài. Cái túi khí con con dùng để chỉ hướng gió treo lủng lẳng, ỉu xìu trên cột. Bóng các đám mây màu xanh lơ trôi lững lờ trên mặt biển đang bị chia cắt bởi nhiều dải màu xam xám. Bố tôi vừa nhấc xe đạp của ông khỏi giá đỡ, thì ông Hinnerck Timmsen nói: Ông vào đây đã, một ly thôi. - Thôi ông ạ, hôm nay tôi không uống đâu, bố tôi đáp. Nhưng ông kia vẫn nài: Một ly thôi mà, hả?
Tiếp theo là mẩu đối thoại kéo dài, hầu như chỉ gồm “nhé nhá” với “không không, thôi thôi”, và rốt cuộc, bố tôi - vẫn còn trong trạng thái ăn năn hối lỗi - lại dựng xe vào giá đỡ, và cả ba chúng tôi lách người qua cánh cửa hông vào gian phòng chính; gian phòng vắng tanh, không một bóng khách ăn, độc có bà Johanne đang ngồi đan, và cũng không buồn ngừng tay đan lúc nhận ra người bước vào; bà Johanne - hồi trước từng là vợ ông Timmsen, nhưng hiện giờ chỉ làm công cho ông thôi - lặng lẽ gật đầu đáp lời chào của chúng tôi rồi lại tiếp tục công việc bà đang dở tay, còn ông Timmsen đích thân dẫn hai bố con tôi đến ngồi vào một cái bàn nhỏ, rồi quay ra loay hoay tìm cách “săn đón và chăm sóc” bố tôi.
Ông ta chăm sóc bố tôi khá ân cần, chu đáo: ông lau nhanh mặt bàn cho sạch, lôi mấy tấm đỡ dưới ly rượu ra, đặt lên bàn, rồi nhăn nhở cười cười lôi chai rượu Rhum ông vẫn dùng vào các dịp đặc biệt từ trong tủ, ra hiệu để bố tôi biết ông ta hào hiệp cỡ nào khi ông cố tình rót rượu đầy hơn thông lệ, vân vân và vân vân. Ông ta chưa bao giờ tiếp bố tôi vui vẻ nhiệt tình như thế. Ông ta cũng “vi phạm” thỏa thuận “chỉ một ly” ngay, vì ông cứ đặt nguyên chai rượu trên bàn, ngụ ý: bố tôi có muốn tự rót thêm, thì cứ việc. Lúc này, trên mặt ông hiện ra vẻ hớn hở, điên điên khùng khùng, bạt mạng bất cần - cái vẻ hoan hỉ đầy hăm dọa này trên mặt ông, có lẽ, chính là lý do khiến dạo này khách khứa bỏ ăn bỏ uống vội vàng cuốn chạy, và tôi còn nhớ, đến cả tôi, tôi cũng phải mất một lúc mới dám uống cốc nước chanh ông ta rót và đặt trên bàn cho tôi. Ông ta cân nhắc mọi thứ rất kỹ, rồi trước khi ông đến ngồi với chúng tôi, ông nhăn mặt, chụm môi suỵt soạt, như xuỵt xoạt xua gà, để đuổi bà Johame ra chỗ khác; kết cục là người đàn bà vai rộng bè, ăn mặc cẩu thả và mái tóc nâu cài cuộn lại trên đỉnh đầu ấy đứng dậy, ồn ào thu nhặt đồ nghề, rồi bỗng dưng biến mất. Ông ta chạm ly với bố tôi, nháy mắt chạm ly cả với tôi rồi mới nhắc lý do nâng ly: Nào, uống mừng ông, ông Jens, uống mừng buổi tối thú vị này.
Chúng tôi ngồi với nhau như thế ở quán Wattblick, trong khi tại Külkenwarf chắc hẳn người ta đang cố chứng minh bằng được, rằng biển quê hương thừa sức giải đáp mọi thách đố ở đời. Mọi thách đố ư? Nhưng tại sao, mà cũng chỉ ở quê tôi thôi, người ta mới ngại ngần như thế, khi thú nhận mình không biết gì về chuyện này chuyện nọ, hoặc mình mù tịt ở lĩnh vực này, địa hạt khác? Thói hẹp hòi nhỏ nhen - thói tật dễ nảy nở từ tình cảm quê hương xứ sở ấy - nói cho cùng, có lẽ chính là ở chỗ, người ta tự cho mình có trách nhiệm phải đối đáp mọi thách đố ở đời vậy. Vâng, càng tự cao tự đại, thì càng nhỏ nhen, hẹp hòi là thế…
Nhưng ta cứ ở lại trong quán Wattblick đã: trần quán thấp tè, quét sơn màu xanh lục, khung cửa nào trong quán cũng gắn vỏ sò vỏ hến, khá nhiều đèn tín hiệu định vị, cắm vô số lá cờ hiệu đuôi nheo con con của Hội tiết kiệm vùng Glüserup, trong quán có mô hình tí hon của bánh lái tàu thủy, chậu trồng hoa trống rỗng trên các bậu cửa sổ với lớp sơn trắng đã tróc, các gạt tàn thuốc bằng kim loại sẫm màu mang dòng chữ quảng cáo, bàn nào bàn nấy phủ khăn bằng vải dầu đã cũ, bên cạnh quầy rượu có kê một cái bàn tròn dành riêng cho khách quen, trên mặt quầy rượu có để hộp quyên tiền, hình một chiếc tàu thủy của Hiệp hội cứu trợ người bị đắm thuyền, trong quán còn cái kệ kê chậu hoa có ngăn xếp báo cũ, trên tường treo các tấm ảnh mờ mờ chụp cảnh bãi tắm từ nghìn năm… nhưng thôi, không phải nghìn năm, thì cũng phải từ ba trăm năm trước chứ không ít.
Bàn chúng tôi ngồi chính là bàn dành riêng cho khách quen. Tôi làm xong ly nước uống của tôi nhanh nhất. Bố tôi ngồi tí toáy sửa vết ướt tròn tròn dưới đáy bình nước thành hình tam giác của nước Ấn, chấm vài chấm ở một bên, tượng trưng cho mấy hòn đảo nằm ở phía Tây. Ông như hoàn toàn thu mình, khép kín lòng trong nỗi hối hận mà chính ông, không, hoặc không muốn, lý giải cho mình; ông hờ hững nhấp rượu. Sau hớp rượu đầu tiên, ông Hinnerk Timmsen không đụng tay vào ly rượu của mình nữa; chỉ chăm chú nhìn bố tôi, chăm chú và tò mò, đúng theo lối người ta vẫn nhìn một cái máy đánh bạc lúc vòng số của nó bắt đầu rùng rình quay, vâng, đúng vậy, ánh mắt ông ta chứa đựng một nỗi khát khao nào đấy, ánh mắt đầy tính toán của ông ta lướt qua ly rượu grog bốc hơi và đang nguội dần ra phía xa đã để lộ ra rằng ông đang chờ đợi một cái gì đó rất cụ thể ở bố tôi.
Nhưng mô tả nền cảnh trong quán Wattblick như thế đủ rồi, tôi có thể chuyển sang màn kịch tôi không bao giờ quên, là màn mở đầu với câu nói mà viên cảnh sát (mắt nhìn xuống) khẽ cất lên: Có lẽ bố con tôi phải về thôi.
Ông Timmsen (đứng phắt dậy): Khoan đã. Ông Jens ạ, còn có việc này, tôi phải phiền ông mới được. Ông cứ tự nhiên rót thêm mà uống.
Viên cảnh sát (mệt mỏi): Thôi, ông ạ, để hôm khác. Ông cạn ly với tôi, để tôi về.
Ông Timmsen (lúc này đã ra đứng sau ghế bố tôi ngồi): Ông Jens ạ, nếu chuyện này không làm phiền ông quá. Chỉ xin ông một lời khuyên thôi, tôi không xin gì hơn. Không có gì rủi ro, bất lợi cho ông cả. (Rồi ông ta nhanh tay rót thêm rượu cho bố tôi.) Mà cũng chẳng khó nhọc gì cho ông.
Viên cảnh sát (chán ngán): Hôm nay ông có nói chuyện gì với tôi, tôi cũng chẳng hiểu gì đâu ông ạ. Tôi không biết đầu óc tôi nó ra làm sao nữa cả. Ông cứ việc đầu gối ông mà nói có khi còn hơn.
Ông Timmsen (bước sang một bên, nhìn nghiêng về phía bố tôi): Không sao cả. Ông chỉ cần nói ông thấy thế nào; ý tứ thế nào tôi khắc suy ra được. (Có tiếng nổ phía xa vọng tới, kính cửa sổ rung bần bật.) Mìn. Tôi đoán thế. Hay thứ của nợ nào đấy ở ngoài kia. Có lẽ mìn tự kích nổ. Được rồi, bây giờ ông nghe tôi nói nhá.
Viên cảnh sát (xua tay): Tôi nói thật với ông, hôm nay tôi chẳng nghĩ ngợi được gì nữa đâu. Lại còn thằng nhỏ tôi đây. Nó phải về đi ngủ, còn tôi thì mắt nhức lắm rồi. (Ông đưa bàn tay lên bưng lấy mặt.)
Ông Timmsen (sốt sắng): Tôi tắt đèn nhá? (Rồi ông ta bước nhanh về phía công tắc tắt đèn đi.) Được, có tối thì nói chuyện vẫn được. Nếu mắt ông nhức.
Viên cảnh sát (bối rối): Ông bật đèn lên. Kẻo tôi lăn ra ngủ bây giờ.
Ông Timmsen (nói trong bóng tối, như thể bị ám): Ông không cần nói gì ngay, thong thả cũng được.
Viên cảnh sát: Tôi đã bảo ông cứ bật đèn lên mà lại.
Ông Timmsen (ngơ ngẩn như bị ma ám, tay vẫn đặt trên công tắc điện): Giá ông như tôi, thì ông sẽ làm gì nhá. Tôi có nguồn giao trứng, có cả nguồn giao rượu. Mọi thứ tôi tính hết rồi. Vì tôi muốn cho xây một cái xưởng nhỏ. Làm rượu trứng, ông ạ! Vừa ngon vừa bổ. Vừa ấm bụng. Tôi sẽ cung cấp nó cho quân đội.
Viên cảnh sát (mệt mỏi): Ôi giời, rượu trứng! Ông chỉ giơ nó ra thì chả cần đuổi, tôi đã biến rồi. Không biết ai bày đặt ra cái món của khỉ ấy chứ.
Ông Timmsen (vẫn không nao núng): Ông bảo liệu xưởng rượu trứng của tôi có được không? Tôi muốn biết trước xem nó thế nào. Giấy phép chắc xin được thôi. Sang thời bình, tôi có thể mở rộng ra.
Viên cảnh sát (cười): Rồi ông sẽ phá sản thôi, ông Hinnerk ạ.
Ông Timmsen (tay bật đèn, miệng hỏi, với vẻ tò mò): Tôi nghĩ bụng, không biết có cách gì nhìn thấy trước mọi thứ xem nó ra sao không. Gian xưởng cất rượu, sạch sẽ tinh tươm, chẳng hạn; ống khói cao, xây bằng gạch. Ngôi nhà ban quản đốc. Đàn ông đàn bà mặc áo choàng trắng tinh, ống nghiệm cầm tay, đứng ngồi lấp ló sau cửa sổ, ví dụ thế. Hàng loạt xe tải bóp còi ầm ĩ chạy qua cổng chính. Chai nào chai nấy dán nhãn: Rượu trứng Timmsen.
Viên cảnh sát (cười, nhấp rượu): Tôi chỉ khuyên ông thế này. Trứng ông cứ đường trứng mà xơi. Rượu ông cứ đường rượu mà uống. Mọi trò khác ông đừng có mà đụng vào.
Ông Timmsen (bán tín, bán nghi): Thế ông không thấy gì hơn nữa à?
Viên cảnh sát (thật thà): Chứ tôi còn phải thấy cái gì nữa? Ông cứ lấy một chai rượu trứng ra thử xem. Nghiêng chai, nó khắc mửa một đống lổn ngà lổn ngổn, vàng khè ra cho ông. Tôi hỏi ông, ai nhìn mà chả khiếp?
Ông Timmsen (quay trở lại bàn): Xuất khẩu để sau cũng được. Ở nhiều vùng, dân tình vẫn ưa dùng rượu trứng đấy thôi. Thì cũng phải có cách làm cho rượu lỏng ra chứ.
Viên cảnh sát (mệt mỏi, song khoái chí): Ông Hinnerk ạ, từ giờ tôi có đến thăm ông, xin ông cứ trứng riêng, rượu riêng mà mời cho tôi nhờ.
Ông Timmsen (nhấp rượu với vẻ thất vọng): Nếu ông cố thêm một tí cũng không được à? Nếu ông cố thêm một tí, thì cũng không nói được gì hay hơn à?
Viên cảnh sát (không hiểu gì): Ông bảo tôi cố thêm là cố thế nào chứ? Tôi đã uống thứ của nợ ấy một lần, từ hồi Lễ kiên tín của tôi, rồi cạch đến tận giờ. (Ông cạn ly, rồi đứng dậy. Nhưng lại ngồi xuống ngay, khi ông nhận ra người đàn ông bước từ bóng tối bên ngoài vào quán là ai. Ông Max Ludwig Nansen lưỡng lự dừng ở ngưỡng cửa. Trên vai đeo cặp đựng các bức phác thảo.)
Ông họa sĩ: Chào các ông. Còn trà nóng cho tôi một ly được không? Pha thêm chút gì vào được chứ? (Ngồi xuống một cái bàn kê cạnh cửa sổ.)
Ông Timmsen: Ông muốn uống grog cũng còn được. Nước vẫn còn nóng đây.
Ông họa sĩ (lau tẩu): Càng hay, ông Hinnerk ạ. Ra tôi cũng gặp may thế cơ à.
Viên cảnh sát (tựa lưng vào lưng ghế, lẳng lặng nhìn ông họa sĩ).
Ông Timmsen (đang pha rượu grog): Nãy giờ ông đi đâu vậy? Ông mà đến Külkenwarf hôm nay, hẳn ông phải ngạc nhiên lắm. Chắc ông chả ngờ ai ló mặt ra ở đó đâu - đích thân Asmus Asmussen nhá.
Ông họa sĩ: Tôi tưởng ông ta đang lênh đênh đâu đó ở Biển Bắc cơ mà. Tuần duyên tuần diếc gì đấy chứ, hả.
Ông Timmsen: Ông ta cho bà con xem ảnh. Chụp cảnh trên thuyền. Ông ấy cũng tự thuyết minh luôn.
Ông họa sĩ (cắt bỏ một đầu điếu thuốc): Câu cú chắc dài ngoằng chứ gì. Thế buổi thuyết trình qua rồi à?
Ông Timmsen (giơ ly rượu ra cho ông họa sĩ): Ông sang chỗ chúng tôi ngồi thì tôi đỡ phải chạy.
Ông họa sĩ: Thôi ông ạ, tôi không muốn quấy rầy cuộc vui của các ông. (Ông đứng dậy, đến đón ly rượu đem về bàn mình. Ông cúi người, vẻ thích thú.) Mời các ông đằng ấy nâng ly nhé.
Ông Timmsen: Chúng tôi phải về trước. Vì ông Jens không được thoải mái lắm.
Viên cảnh sát (miễn cưỡng): Ông bảo không thoải mái là nghĩa thế nào?
Ông Timmsen: Giữa buổi thuyết trình thì xảy ra chuyện. Ông ấy cứ thế nói tuôn hết ra. Phải nói thế mới đúng.
Ông họa sĩ (nhồi thuốc vào tẩu, châm lửa): Có giời mới hiểu ông nói gì.
Ông Timmsen: Thì ông cứ nhớ đến Heta Bantelmann khắc hiểu. Hay Dietrich Gripp. Họ tiên liệu trước chuyện gì, khắc đúng ngay chuyện đó.
Ông họa sĩ (ngạc nhiên): Ra ông Jens nhà mình có tài tiên tri à? Đúng ông Jens à? Từ xưa đến giờ có ai biết đâu nhỉ!
Ông Timmsen: Thì ông cứ hỏi ông Asmus Asmussen khắc biết. Bây giờ ông ấy đã biết cái gì sẽ đến rồi nhé. Ông ấy được báo trước rồi. Ông mà có mặt ở Külkenwarf hôm nay, chắc chắn ông phải ngạc nhiên lắm đấy.
Viên cảnh sát: Thôi, ông đừng nói chuyện ấy nữa. Xong rồi. Quên nó đi.
Ông Timmsen: Nó mà đã xuất thần! Thì nó sẽ tái phát thôi, như bệnh sốt rét ấy. Ông anh tôi không bao giờ dứt được bệnh ấy nữa. Ai đã có tài tiên tri, thì tài năng còn đấy mãi. Heta Bantelmann chả biết trước nhà nào sắp đến lượt bị cháy là gì.
Ông họa sĩ (ngồi khuất ở góc tối, chìm trong khói thuốc, khó ai nhận ra): Nghề ông Jens, cái đó chắc có ích lắm đấy. Có tài như thế, thể nào công việc cũng nhẹ nhàng hơn.
Ông Timmsen: Ông Jens, ông ấy thấy ông Asmus trôi lềnh bềnh trên biển nhá. Trong xuồng cao su, một tay nhúng xuống nước nhá.
Ông họa sĩ: Thế cơ đấy. Vậy ông ta cứ đất liền mà ở là khôn!
Viên cảnh sát (cáu kỉnh, gõ gõ hộp thuốc rỗng xuống mặt bàn): Tôi mà như ông thì tôi đã im miệng cho xong. Cứ nói kháy như ông chẳng được gì đâu.
Ông họa sĩ (kín đáo): Ông sẽ đỡ phải đi dò la chứ sao. Ấy là nếu ông biết tiên tri. Ý tôi chỉ có vậy, không có ý gì khác.
Ông Timmsen (lái sang chuyện khác): Tôi nghe ông Dietrich Gripp ông ấy bảo, không phải cứ muốn xuất thần tiên tri là được đâu. Phải chờ, bao giờ đến lúc xuất thần, tự nó khắc xuất. Và, một khi đã xuất thì tương lai cứ thế phơi ra trước mắt, rõ như trên lòng bàn tay vậy. Sau đấy bao giờ ông ấy cũng bị đau đớn, bị kiệt sức thế nào đó. Thấy bảo, hai bên thái dương như có kim châm.
Viên cảnh sát (uống cạn ly rượu): Tôi nói các ông biết, tôi chẳng bị kim nào châm sất. Xin ông đừng khơi ra nữa. Chuyện chỉ có thế. Mà cũng qua lâu rồi.
Ông Timmsen: Thế mắt ông thì sao? Ông chả bảo ông bị nhức mắt đấy thôi.
Ông họa sĩ: Mắt nhức thường là do nhìn xoáy sâu vào cái gì đấy.
Viên cảnh sát (đứng dậy, xốc quần, nhét hai ngón tay cái ra sau thắt lưng, rồi lững thững tiến đến bên bàn ông họa sĩ đang ngồi): Tôi xin hỏi ông, ông có gì trong cặp kia thế?
Ông họa sĩ (thản nhiên): Tôi vừa ra ngoài bán đảo về. Ngồi trong lều. Tôi ngắm xem mặt trời lặn thế nào. Màu đỏ với màu xanh lục. Đúng là màn bi kịch. Màu sắc hầu như không bị pha trộn chút nào. Giá các ông mà cũng thấy cảnh tượng ấy!
Viên cảnh sát (chỉ tay vào cặp giấy): Tôi hỏi ông, ông có cái gì trong cặp kia?
Ông họa sĩ (nghiêm nghị): Tôi đã bảo tôi vẽ cảnh mặt trời lặn mà lại. Vẽ tiếp thì đúng hơn.
Viên cảnh sát (giọng ra lệnh): Ông mở cặp giấy ra tôi xem! (Ông họa sĩ vẫn ngồi bất động; từ phía sau, ông Timmsen tò mò tiến đến gần.)
Viên cảnh sát (khăng khăng): Tôi có quyền đòi ông phải mở cặp giấy ra. Ông mở cặp ra cho tôi…
Ông họa sĩ (điềm tĩnh): Có điều, phối màu chưa ổn lắm. Thay vì da cam, có lẽ lấy đỏ tía thì hơn. (Ông chậm rãi, thậm chí trịnh trọng, mở cặp giấy, và lôi đôi tờ giấy trắng tinh ra, rồi cẩn thận trải hết ra mặt bàn.) Mọi thứ vẫn còn màu mè quá. Phải, phép ẩn dụ màu mè.
Ông Timmsen (lúng túng): Sao tôi chả nhìn thấy gì, hả các ông? Các ông làm gì tôi thì làm, nhưng đúng là tôi chả thấy gì cả.
Ông họa sĩ (hướng về phía tôi): Thế còn cháu, Witt-Witt. Cảnh mặt trời lặn thì thể nào cháu cũng nhận ra, đúng không nào.
Tôi (nhún vai): Cháu không biết. Cháu chưa biết thế nào ạ.
Viên cảnh sát (giữ tất cả số tờ giấy vẽ trên tay, xem xét, đưa từng tấm lên soi trước đèn, rồi rốt cuộc ném cả tập giấy lên bàn): Ông đừng có mà trêu ngươi tôi.
Ông họa sĩ: Chứ ông mong gì ở tôi? Tôi đã bảo ông tôi không dừng vẽ được. Tôi với ông, không ai dừng tay được cả. Các ông cấm tôi vẽ tranh nhìn thấy được, thì tôi vẽ tranh vô hình vậy. Ông cứ nhìn cho kỹ vào, có khi cả ông cũng nhận ra cảnh mặt trời lặn lúc nước lên của tôi cũng nên.
Viên cảnh sát (hờ hững đưa một tờ giấy trắng soi lên trước ánh đèn): Ông Max, ông phải nghĩ ra trò gì khác mới được.
Ông họa sĩ (giọng khinh rẻ): Cứ soi cho kỹ vào. Ông chả tinh tường lắm mà. Bây giờ lại thêm tài tiên tri nữa chứ.
Viên cảnh sát (bị kích động): Tôi buộc phải yêu cầu ông không được nói năng kiểu như thế với tôi. Tên ông có là Nansen thì ông vẫn phải nể tôi. Ông vênh váo hơi quá rồi đấy.
Ông Timmsen: Tôi xin hai ông bớt nóng đi nào. Hai ông có phải người lạ với nhau đâu.
Viên cảnh sát (vẫn chưa thôi đưa tờ giấy trắng soi lên trước ánh đèn): Tờ này… cùng tất cả các tờ giấy khác ở đây, từ giờ đều bị tịch thu.
Ông họa sĩ (nổi giận): Được thôi! Tịch thu thì tịch thu đi!
Viên cảnh sát: Nếu ông đòi, thì tôi viết giấy biên nhận cho ông.
Ông họa sĩ: Phải! Tôi phải đòi giấy biên nhận chứ.
Viên cảnh sát: Có điều tôi không cấp ngay cho ông được. Sổ giấy biên nhận tôi để ở văn phòng.
Ông họa sĩ: Thì tôi sẽ phải đợi vậy.
Ông Timmsen: Chuyện quái quỷ gì thế, ông Jens. Đây chỉ là xấp giấy trắng, chứ là cái gì đâu. Ông định tịch thu tập giấy trắng này chắc?
Viên cảnh sát: Việc của tôi, tôi lo. (Ông cẩn thận xếp các tờ giấy lên nhau, cho hết cả vào cặp, rồi khư khư giữ cái cặp trên tay.)
Ông Timmsen (nói với ông họa sĩ): Chính ông, ông phải nói gì đi chứ. Chỗ giấy vẽ này, ông đã vẽ gì đâu? Giấy này còn trinh nguyên, như tuyết trắng đầu mùa ấy mà.
Ông họa sĩ: Thì chính ông cũng nghe đấy thôi, trong đó có mấy tấm tranh vô hình. Có lẽ tranh vô hình bây giờ cũng không được phép nốt.
Viên cảnh sát (đe nẹt): Ông Max, ông biết sự thể thế nào rồi đấy. Ông cũng biết trách nhiệm của tôi là gì rồi. Mấy tờ giấy này sẽ được nghiên cứu cẩn thận.
Ông họa sĩ (tức giận): Phải, tôi biết. Thì các ông cứ đưa đi mà nghiên với cứu. Các ông cứ đem nghiền nát ra cũng còn được nữa là. Nhưng các ông không bao giờ hủy được chúng đâu. Còn có người vẽ, khắc còn có tranh.
Viên cảnh sát (ra vẻ bình tĩnh): Tôi khuyên ông đừng có mạnh mồm. Mạnh mồm rồi có ngày vạ miệng ông ạ.
Ông Timmsen: Các ông nói năng với nhau theo kiểu gì… đến lạ.
Ông họa sĩ: Gì thì gì, cũng không ai khám xét đầu óc người khác được. Tranh đã treo trong đó là an toàn. Cái gì đã nằm trong đầu óc người ta thì đố các ông tịch thu được.
Viên cảnh sát (nói với tôi): Đi thôi. (Hai bố con ra cửa.)
Ông họa sĩ: Ông mà phát hiện được gì, xin ông báo cho tôi biết với nhé. Không chừng ông soi mãi rồi giấy cũng đổi màu cũng nên.
Viên cảnh sát quay người lại, nhưng không nói gì nữa. (Bố con tôi ra về.)
Dù tôi vẫn còn muốn ở lại quán Wattblick lâu thêm nữa, uống thêm ly nước chanh và hóng nghe các ông cãi nhau về những tấm giấy trắng tinh - nhưng có thể không còn thật tinh khiết nữa ấy - tôi vẫn không nói không rằng, cun cút theo chân bố tôi ra ngoài, và trong lúc bố tôi loay hoay nhấc xe đạp từ trên giá xuống, tôi đỡ cặp giấy đựng những tờ giấy trắng vào tay tôi, và sau đó, lúc đã ngồi trên poóc ba ga rồi, tôi ghì chặt nó trước ngực. Lẳng lặng, không nói không rằng, hai bố con tôi thả xe chạy xuống chân đê - gió thổi xiên hông mạnh không đáng kể, bóng tối lan không đều, chỗ dày chỗ mỏng. Bố tôi không ngoảnh lại nhìn tôi lần nào, và tôi hoàn toàn có thể lôi dăm ba tờ giấy - không cần lôi hết - ra khỏi cặp, rồi thả cho bay lượn theo sườn đê. Tôi tưởng tượng trước mắt tôi cảnh tượng một vùng đất phẳng lì bỗng bị những tờ giấy trống không phủ lên, trông như những tấm khăn tay khổng lồ được đem ra phơi khô vậy: Không biết ông già Holmsen sẽ nhìn ra đâu trước, nếu ông trông thấy những mảnh giấy nằm rải rác khắp nơi nhỉ? Nhưng tôi không mở cặp giấy ra.
Không đèn không đóm, mái thấp tè, và nằm quây giữa các dãy hàng giậu bị gió thổi nghiêng ngả, các xóm ấp ẩn hiện chỗ này chỗ kia trong bóng tối. Bất chấp những quãng đường xa lắc xa lơ giữa các xóm ấp, đám chó nhà này vẫn sủa tâm tình với chó nhà khác, san sẻ cho nhau các câu chuyện thầm kín chúng từng trải qua. Từ ngoài biển, có tiếng rầm rầm vọng vào, như thể có con tàu nào đó rất lớn đang thả neo.
Bố biết tàu nào đấy không hả bố, tôi hỏi, và tôi quả thật đã đinh ninh rằng bố tôi sẽ xướng vanh vách cả tên tàu lẫn số hiệu của nó lên ngay cho tôi biết - như ông đã bất chợt xướng số hiệu con thuyền ông Asmussen vậy; nhưng không, ông chỉ nói gắt, làm tôi cụt hứng: Đừng hỏi gì tao lúc này cả, nghe không; đừng hỏi gì lúc này gì cả.
Thế nhưng tôi vẫn tin rằng, bố tôi, theo cách riêng của ông, vẫn nhìn thấy và nhận ra con tàu kia là tàu nào, và cho đến tận giờ này tôi vẫn còn nhớ, trên đường quay về nhà lần đó, tôi chợt lo sợ bố tôi còn thấy, còn nhận thấy được nhiều thứ hơn nữa, mối lo sợ bắt tôi phải cảnh giác, khiến tôi phải thận trọng, và có lẽ, cũng đeo đẳng bám lấy tâm trí tôi lâu hơn là tôi tưởng.
Nhưng tôi muốn kể, đúng hơn là tôi phải kể nỗi sợ hãi mơ hồ đó đã thôi thúc tôi thế nào, bởi vì, không phải chính nỗi sợ hãi đó đã buộc tôi phải ghé qua cỗ cối xay gió cụt cánh của tôi là gì? Vì sao tôi lại lảng đi, lại tránh không nghĩ đến nơi ẩn náu ấy của tôi trên đỉnh tháp cối xay? Tại sao lúc hai bố con chạy ngang qua Bleekenwarf, tôi đã chẳng để tâm gì đến xóm ấp ấy? Không liếc nhìn, cũng không nghĩ đến nó. Tại sao tôi cố tình xua bằng được hình ảnh cái buồng tắm bẩn thỉu, xây dở dang ấy ra khỏi đầu tôi, một hình ảnh không ngừng len lỏi vào đầu óc tôi? Tại sao tôi cứ buộc mình không được nghĩ đến tên một người, mặc dù tên người ấy lúc nào cũng chỉ chực buột ra khỏi miệng tôi?
Vâng, nếu bây giờ tôi phải tóm tắt nội dung buổi tối hôm ấy một cách ngắn gọn, khô khan và khách quan đúng mực, thì muốn hay không muốn, tôi vẫn phải thừa nhận thế này: Viên cảnh sát chốt Rugbüll, tức bố tôi, viên cảnh sát giữ chốt cảnh sát ở cực Bắc nước Đức này - một người dạo chiến tranh đã nhận được lệnh phải trao Lệnh cấm vẽ tới tay ông họa sĩ Max Ludwig Nansen và cũng là người được trao trách nhiệm phải giám sát việc thi hành Lệnh cấm vẽ đó - trong buổi thuyết trình bằng ảnh của Hội đồng hương Glüserup đã để lộ cho mọi người biết, rằng ông có tài tiên tri - một biệt tài tuy không hiếm, nhưng cũng không phải ai ở quê tôi đều có. Trước đó chưa hề có dấu hiệu nào cho thấy ông có biệt tài đó. Cũng không hề có dấu hiệu nào cho thấy tài năng của ông được cha truyền con nối trong gia đình. Thế nhưng tài năng đó vẫn bộc lộ, và ngay từ thời khắc đầu tiên đó, nó đã kéo theo các hậu quả rồi.