Giờ Đức văn

Lượt đọc: 151 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 11
NHỮNG BỨC TRANH VÔ HÌNH

❊ ❊ ❊

Hóa ra ở chỗ này, nơi chị Hilke với tôi đang giẫm chân dò bắt cá thờn bơn thân dẹt, là nơi bắt nguồn mọi sự: cuộc sống nói chung, lẫn mọi thứ khác ở đời. Các vị đã nghe nói như thế bao giờ chưa? Chính từ bãi triều, bãi bùn ven biển này, từ nơi hoang vu, độc một thứ bùn đất xám xịt lốm đốm pha màu đất sét, nơi lỗ chỗ những vũng nước, những bãi bùn lầy lội này, đã bắt đầu bộc phát mọi sự, vâng, theo lời ông ngoại tôi - nhà văn và nhà địa phương học Per Arne Schessel - thì vào một ngày nào đó, tất tật những sinh vật biết hít thở, đã chui từ đáy biển lên, rủ nhau lội qua vành đai nửa cạn nửa ngập để tót lên bãi biển khô ráo, gột rửa hết bùn hết đất bám trên mình, rồi điềm nhiên nổi lửa pha cà phê uống với nhau. Vâng, ông ngoại tôi, người mà dân quê tôi vẫn gọi là con cua ẩn sĩ ấy, từng quả quyết như vậy.

Thôi, gì thì gì, hôm ấy hai chị em chúng tôi ra ngoài bãi triều bắt cá bơn; chị Hilke luôn đi trước, kéo theo tôi ra bãi triều trơn như mỡ, nằm trải rộng trước bán đảo này. Bọn hải âu cũng ra bắt cá cùng với chúng tôi. Chị Hilke kéo váy cao thành một đùm ngang bụng, hai chân chị bê bết bùn đến tận đầu gối, mép quần lót của chị đen sì vì bị ướt. Tụi chim hải âu bắt cá bằng cách bay là là mặt nước, há mỏ ra đớp, nghe chát chát, cháp cháp. Nước thủy triều rút, bao giờ cũng để lại ở đây vô số những rãnh nước sâu, đâm nhánh chạy ngoằn ngoèo ra biển, và khối cá để bắt. Chị em tôi nắm tay nhau, bước vào một vũng nước đục hay bên mép một rãnh nước nông nào đấy, rồi cứ thế để chân mình lún xuống bùn, dùng ngón chân dò dẫm chỗ này một lúc, rồi - chị em vẫn dựa vào nhau - lại rút chân lên, đạp dò dẫm lên chỗ khác, lần lượt, lần lượt từng đoạn, qua lớp sình lầy, bùn đất, và lúc nào cũng nhăm nhăm để ý dưới lòng bàn chân có con gì ngọ nguậy không; hễ chúng tôi giẫm đúng một con cá thân dẹt nào đấy thuộc họ cá bơn, cá bơn đen hay cá bơn sao, là nó lại giãy giụa, vùng vẫy, vặn vẹo dưới chân, và lần nào cũng như lần nào, chị Hilke lại kêu hét lên, the thé, the thé: Quả thật tôi không biết ai bắt cá bằng chân lâu được như chị Hilke tôi. Mặc dù chị rất hay bị nhột, và cứ giẫm phải con cá thân dẹt nào là chị lại sợ cuống quýt, kêu lên the thé, nhưng bao giờ chị cũng dùng chân giữ chặt bằng được con cá, chờ tôi cúi xuống lấy tay bắt lấy nó lôi lên, mới thôi.

Có lúc chị thụt sâu xuống bùn đến tận đùi, khiến chị lại phải quấn váy cao lên tận ngực. Đôi lúc chị bị trượt trên lớp đất sét mỏng như trượt trên băng. Chị có vẻ khoái nghe tiếng ùng ục, lục bục trong lớp bùn lạnh lúc chính chị mềm mại và đều đều lún xuống tận đáy. Nhưng chị không bao giờ quên để ý dòng chảy trong vũng ra sao. Chỗ nào nền đất lượn sóng của bãi triều răn rắn một chút là chị lại nhảy lò cò một chân và bao giờ cũng nhảy đúng một đụn cát nào đấy do bọn giun biển đùn lên. Chỗ này chị nhặt con ốc mượn hồn, chỗ kia chị bắt mấy con sâu đo, hay con cua nhỏ bỏ vào lòng bàn tay, ngắm nghía một hồi, rồi lại thả chúng xuống nước. Chị cũng nhặt các loại vỏ ốc xoắn, con nào vừa ý là cho ngay vào quần lót dài; vòng cao su thắt ở ống chân sẽ ngăn không cho chúng tuột ra ngoài. Bao giờ đi bắt cá với chị cũng có cảnh này.

Rồi phong cảnh buồn thảm của bãi triều mở ra trước mắt, hướng Tây mây bay thấp là là, gió giật từng cơn, làm lăn tăn mặt nước trong vũng, trong mương, thổi tung lông hải âu; từ xa vọng lại tiếng động cơ của một chiếc máy bay đơn độc nào đó, mặt cát lung linh của bán đảo, hình bóng con đê cao, từ bãi triều nhìn vào trông nó càng có vẻ vững chãi và bất khả xâm phạm, và xa tít phía sau là túp lều của bác họa sĩ nằm trên cồn cát.

Tôi xách giỏ đựng cá, theo chị Hilke băng qua bãi triều đang rút, chốc chốc tôi lại nhặt hòn sỏi ném theo tụi hải âu đang bắt cá, hoặc bắt chước chúng đứng bằng một chân, nhảy lò cò một đoạn. Tôi đá phăng các đụn bọt biển bị gió dồn lại. Mấy con cá nằm trong giỏ giãy giụa, mang cá phập phồng. Gặp các rãnh có nước chảy, chị Hilke đã mấy lần nhờ tôi rửa đôi chân dính đầy bùn giúp chị; mỗi lần như thế chị lại đứng chống tay vào lưng tôi. Đám vỏ ốc bên trong quần lót dài của chị cọ vào nhau nghe lạo xạo. Tôi đạp chân lên các mô cát con con để cho bùn trào lên qua các kẽ ngón chân. Vòng cao su buộc quanh đùi chị Hilke làm thành một vòng tím bầm, nổi thành vạt như nổi mề đay, hay như bị con gì đốt. Gió thổi tóc chị bay bên này bên kia, đôi khi che kín cả mặt.

Vâng, hai chị em đang hướng bán đảo mà đi thì chị Hilke, lúc ấy đang nhảy lò cò trước mặt tôi, bỗng khẽ kêu lên, rồi ngồi bệt ngay xuống nền cát ướt, nâng bàn chân và xoay ra trước để nhìn vào gan bàn chân. Tôi chạy đến ngay, quỳ xuống bên chị. Một mảnh vỏ ốc vỡ, trắng như vôi cắm vào gan bàn chân chị, tóe máu. Đừng bẻ nó ra, chị nói, nhưng tự mình, chị dùng hai ngón tay nắm lấy mảnh ốc vỡ, và nhanh như chớp, rút phắt ra. Không có sẵn khăn tay, thoạt tiên chị toan lấy gấu váy của chị, nhưng lại bỏ ra, mà lôi áo tôi đang mặc ra khỏi quần và lấy gấu áo lau vết thương, vết thương trông có hình lưỡi liềm, máu cũng bắt đầu ngưng chảy.

Hết chảy máu rồi, tôi nói, nhưng chị Hilke lại bảo: Nó chưa được ngừng, nó phải chảy thêm một lúc nữa để rửa vết thương. Ngừng một lát, chị nói tiếp: Mày làm được không, Siggi? Mày dám hút máu ở chân giúp chị không?

Hút thế nào? Tôi ngơ ngác, còn chị Hilke thì vừa lắc lắc đầu, vừa nói có vẻ sốt ruột: Còn thế nào nữa, dùng mồm mút máu ra rồi nhổ đi chứ thế nào. Chị chống hai cùi tay xuống đất, duỗi thẳng chân, nhấc lên và hướng bàn chân về phía tôi: Đây, chân chị đây. Tôi nắm cổ chân chị, hai mắt nhắm tịt. Bàn chân chị thoang thoảng mùi bùn lẫn mùi muối i ốt; tôi kéo chân chị đến sát mặt, mở mắt nhìn vết thương, trước khi thè lưỡi chạm vào đó, rồi lại nhắm nghiền. Mới đầu chỉ thấy vị bùn; tôi nhổ phụt ra cái đã, xong mới mút, rồi lại nhổ ra, dần dần tôi chẳng còn có cảm giác mùi vị thế nào nữa, và tôi mở mắt ra, thấy chị Hilke nằm trước mặt tôi, gật gật đầu với tôi, tỏ vẻ kiêng nể lắm.

Rồi chị rút chân về, tự ngắm nghía vết thương lần nữa, và vươn hai tay về phía tôi. Tôi kéo chị đứng dậy. Chị khoác tay lên vai tôi, còn tôi dang tay ôm lấy eo chị, và hai chị em cứ thế dìu nhau đi về phía bãi biển ven bán đảo, là chỗ lúc nãy chúng tôi đã trút bỏ giày với tất ấm vào một chỗ. Chị Hilke khe khẽ rủa; hình như hôm nay chị còn định làm gì nữa, và đôi chân lẽ ra phải lành lặn mới phải, nên chị cứ luôn mồm lầu bầu, nhắc đi nhắc lại: Lại đứt chân đúng hôm nay nữa chứ. Khỉ thật. Sao không để đến mai? Tay chị bắt đầu bồn chồn, chốc chốc chị lại liếc nhìn đồng hồ đeo tay: Các trò này bao giờ cũng thế. Chị đi khập khà khập khiễng, mỗi bước chỉ đặt gót chân bên trái xuống đất, đầu gối khẽ xoay sang một bên. Cứ phải nhằm đúng hôm nay để đứt chân chứ lại - Hôm nay có gì thế? Tôi hỏi. Chị tôi đáp, nguyên văn nhá: Mày mà cứ ôm chị chặt thế này, không khéo chị gãy hết xương sườn mất!

Hai chị em cố tránh các rãnh nước sâu, đi vòng mấy vũng nước đáng ngờ, nhưng thỉnh thoảng vẫn không khỏi thụt xuống hố, ngập bùn tận đầu gối. Vịt giời bay sát sạt trên đầu chúng tôi về phía ao than bùn, còn hải âu cùng đám chim dẽ, chim mò sò cũng lăng xăng bận bịu ngoài bãi triều. Mãi vẫn chưa thấy mưa. Trên bãi cát khô ráo của bán đảo, tôi nằm xoài ra ngay, rồi nắm chân chị Hilke, toan làm sạch vết thương cho chị lần nữa. Nhưng chị không muốn. Trong lúc tôi đi lấy tất với giày mang đến cho chị, chị luồn mấy ngón tay qua vòng cao su ở quần lót dài, gạt vỏ ốc, vỏ sò rơi lộp bộp như mưa trên mặt cát, rồi ngồi xổm xuống đếm xem được bao nhiêu con. Không đủ, chị Hilke chợt nói, chị cần mươi, mười lăm con nữa. Siggi, mày nhặt giúp chị được không? - Chị chờ em ở đây chứ? - Không, chị đáp, chị phải về trước. Như thế đấy, đấy là cách chị rẫy tôi ra. Chị thu vỏ ốc, cứ thế cho chúng vào trong giỏ đựng cá. Chị lấy tất lau sạch vết thương ở gan bàn chân, đập đập cho rụng cát rồi mang tất vào; đoạn chị phủi váy áo, đứng xuôi hướng gió buộc lại tóc, và - sau khi lơ đễnh chào tôi - chị đi cà nhắc men theo bãi biển về nhà.

Tôi vẫn nửa nằm nửa ngồi trên mặt cát, chống hai khuỷu tay xuống đất và nhìn theo chị tôi đang xa dần - trên nền xanh lam pha xanh lục, hay xanh lam pha nâu sáng - mỗi lúc một nhỏ, mỗi lúc một mờ nhạt - nhỏ bé và mờ nhạt như bất cứ ai khác, bất kể đàn ông hay đàn bà, khi tiến đến gần con đê, nhất là khi tiến về chân đê; đúng thế, trước dáng dấp bề thế đồ sộ của nó, dường như ai cũng trở nên nhỏ bé, mờ nhạt vậy. Lúc lên đến mặt đê nhấp nhô, chị Hilke còn ngoảnh lại lần nữa nhìn về phía tôi, rồi từ xa, chị khoát tay chỉ ra bãi triều, ra hiệu bảo cho tôi: Đi ra đấy tìm vỏ ốc cho chị nhé!

Tôi vẫn nằm nguyên một chỗ, chờ chị tôi đi khuất, nhưng sau đó, tôi cũng không quay trở lại bãi triều, bởi vì, đúng vào giây khắc chị Hilke tụt xuống phía bên kia bờ đê, thì từ khoảng trống trước cồn cát - nơi các khóm cỏ lác đác mọc - một người đàn ông đứng ngay dậy, một người đàn ông mảnh khảnh, đúng ông Busbeck. Ông ta, rõ ràng, đã nằm phủ phục ở đó chờ chị tôi đi qua. Ông mang cái gì đó theo người. Đúng rồi, Tiến sĩ Busbeck dùng một tay ôm chặt cái gì đó vào người, thỉnh thoảng lại nhìn quanh, như thể ông sợ chị Hilke sẽ quay lại vậy. Người gập về phía trước, cánh tay còn rảnh khua lia lịa giữa khoảng không, ông ì à ì ạch tìm cách vượt cồn cát. Chỉ nhìn thế thôi là đủ đoán ông định băng qua bán đảo đến chỗ nào. Trong tay ông, chắc ông giữ chiếc khăn tay thì phải, bởi vì, chốc chốc tôi lại thấy ông lau gáy, rồi lau trán; trông ông có vẻ rất vội vã, ngay cả những lúc ông quay đầu nhìn ra sau hay quay ngang quay ngửa dò xét bãi cát, ông cũng không dừng chân. Nhìn điệu bộ ông, có thể đoán ông đang bực lắm, nhưng cũng không chịu bỏ cuộc, vẫn gắng leo lên, bất chấp tầng cát khô trên mặt cồn cát trượt lên trượt xuống, khiến ông chốc chốc mất đà, chới với không đứng được vững.

Nói cho đúng thì ông đã chọn lối đi gần nhất, nhưng cũng khó nhất, để ra chỗ túp lều bác họa sĩ; ông lần về phía túp lều, người cúi gập ra trước, chốc chốc lại đưa nhanh tay lên dụi mắt, đấy là những lúc ông chìm vào cơn lốc cát, những cơn lốc cát bay mà thỉnh thoảng một ngọn gió thổi cho bốc ngược lên đỉnh cồn, giận dữ xoáy vòng, ném vào đất liền. Lên đến ngọn, thì đi xuống cũng nhẹ nhàng hơn, nên trông Tiến sĩ Busbeck như thể đang khoái trá lắm, nhảy tưng tưng, tuột theo sườn cồn cát xuống, rồi vội vàng chạy về phía túp lều bác họa sĩ, dùng tay hất móc cửa ra; ông ngó nhanh vào bên trong, rồi nhìn ra xung quanh, bao quát cả bán đảo lẫn bãi cát và dải đất dưới chân đê với vẻ đầy ngờ vực, sau đó ông mới chui vào trong, khép cửa lại. Đến lúc này thì tôi quên hẳn chuyện nhặt vỏ sò, vỏ ốc; còn về phần ông Busbeck thì phải nói thật, nếu một ai đã có dáng điệu gây chú ý như ông, đã ngó nghiêng khả nghi như ông, thì chẳng có gì là lạ, nếu ai đó sẽ tò mò, sẽ đặt đủ loại dấu hỏi và bám theo. Ông ta vừa đóng cửa lại là tôi nhổm dậy ngay, chạy lom khom - và sẵn sàng nằm mọp xuống - vòng rộng một vòng về phía sau túp lều, tức là phía không có cửa sổ trông ra ngoài. Tôi chạy một mạch mà không phải dừng lại lúc nào. Càng đến gần túp lều, tôi càng chậm lại, rón rén trên đầu ngón chân, tiến đến túp lều từ phía khuất gió, áp tai vào bức tường bằng gỗ đã hoen bẩn để nghe ngóng, rồi lồm cồm bò quành ra phía có cửa sổ, và dừng lại chờ; bên trong có tiếng gõ, tiếng răng rắc, tiếng rin rít như ai đang nhổ đinh gỉ; tôi từ từ đứng dậy, áp lưng vào tường, men đến bên cánh cửa sổ rộng, nhìn vào trong, nhưng cố không chạm vào mặt kính; tôi nghĩ bụng, không biết ông ta đang làm gì dưới nền nhà lát gỗ thế kia; hình như ông ta đang tháo ván lát nền lên thì phải. Tôi cúi người, ghé mặt sát hơn vào cửa sổ.

Ông ta nhận ra tôi ngay. Nhưng hình như ông đã tính đến chuyện tôi sẽ ló mặt ra ở đây thì phải, bởi khi tôi đưa bàn tay lên trán che bớt sáng, cúi người nhìn qua cửa sổ vào trong, thì Tiến sĩ Busbeck đã nhìn ra phía tôi rồi, vẻ ngạc nhiên thì ít, bực bội thì nhiều. Ông đang quỳ dưới nền nhà lát ván gỗ, trên tay giữ chiếc búa dùng để nhổ đinh, mấy tấm ván đã tháo lỏng khỏi nền nhà nằm ngay trước mặt. Tất nhiên, tôi đã rất luống cuống thấy ông phát hiện ra tôi ngay như thế, nhưng điều còn làm tôi ngạc nhiên hơn nữa là đôi tay có vẻ mềm yếu, ẻo lả như thế của ông mà vẫn đủ sức dùng búa nhổ đinh, và tháo cả gỗ ván lát nền lên. Hai chúng tôi nhìn nhau. Ông dừng tay, ngồi nguyên một chỗ, trong khi tôi vẫn ở tư thế lom khom, ẩn ẩn nấp nấp khá bất tiện, như thể tôi chưa bị ông phát hiện. Mãi một lúc mà cả hai chúng tôi vẫn không biết phải xử trí ra sao, và càng lâu, tôi càng không nghĩ đến chuyện chuồn đi, còn ông càng không nghĩ đến chuyện làm tiếp việc ông đang dở tay. Ông vẫn không buông cái búa nhổ đinh, còn tôi không bỏ bàn tay che trên trán xuống.

Nhưng rồi ông cũng vẫy tay cho tôi, vâng, rốt cuộc ông cũng hờ hững vẫy tay về phía tôi, mặt ông không còn vẻ bực bội, tức tối nữa; ông vẫy tay gọi tôi vào bên trong, và lúc tôi đẩy cửa bước vào thì ông đã đứng chờ tôi bên cái bàn, búa nhổ đinh nằm dưới đất, bên cạnh là cặp giấy có dây buộc. Có lẽ bộ dạng tôi làm ông tưởng tôi hối lỗi, nên ông làm luôn một tràng: Sao mày lại lén lút bám theo bác như thế? Sao phải lén lút? Ai bảo mày bám theo bác? Theo làm gì?

Giá tôi bảo bố tôi là người phái tôi bám theo ông ấy, chắc là ông ấy sẽ hài lòng lắm. Nhưng Tiến sĩ Busbeck không muốn tin lời tôi nói, rằng tự tôi bám theo ông chứ không ai bảo tôi cả. Thế chứ mày theo bác làm gì? Ông ta hỏi. Mày muốn biết cái gì nào? Tôi nhìn vào cặp giấy buộc dây, nhún vai. Ông nhìn theo ánh mắt tôi, lặng im một lúc, rồi mới hỏi tiếp: Mà tại sao mới được chứ? Tôi đáp: Cháu không biết, vâng, cháu không biết thật mà. Đến lúc này thì ông ta không biết xử trí ra sao nữa; tôi có cảm giác ông lại hoang mang, lúng túng như mọi ngày, bộ điệu ông như muốn cầu cứu người khác giúp vậy. Ông nắm hai tay vào nhau, cho cổ tay áo trùm lên, sợ sệt ngước mắt nhìn qua cửa sổ xuống bãi biển, rồi lại bước đến bên cửa nhìn ra cồn cát.

Phải giấu cái này đi hả bác? Tôi hỏi, rồi nhấc cặp giấy lên. Ông ta giật phắt nó khỏi tay tôi, khá cục cằn, không đúng kiểu cách thường ngày của ông, nhưng rồi ông lại tỏ ra bối rối như muốn xin lỗi về hành động không phải đó của mình. Bức Kẻ tạo mây, đúng không ạ? Tôi hỏi, nhưng ông ta xua xua tay. Ông biết chuyện bác họa sĩ nhờ tôi giấu bức tranh mà sau đó tôi đã đưa lại cho bác gái Ditte cất đi, ngay sau khi chiếc xe hơi bữa ấy chạy vừa khuất khỏi tầm mắt. Mọi chuyện, ông ấy biết hết, có khi còn biết trước cả tôi cũng nên. Thôi, nói tóm lại là ông ấy đang tìm chỗ giấu cặp giấy. Chính bác Max Ludwig Nansen, ngay sau khi ở Husum về, đã nhờ ông ấy; không, không hẳn thế, mà sau cái buổi sáng bác họa sĩ quay về, mệt mỏi, thảng thốt và không muốn nói chuyện với bất cứ ai; bác chỉ gật đầu với bác Ditte, rồi lui về phòng khóa cửa lại, ngồi một mình trong đó mấy tiếng đồng hồ liền. Đến lúc quay ra phòng ngoài, bác không hé răng nói một lời nào về những gì đã xảy ra ở Husum, bác Ditte hỏi gì, bác cũng chỉ lắc đầu - có lẽ người ta cấm bác kể lại mọi chuyện. Bác lôi cặp giấy lâu nay bác vẫn giấu ở Bleekenwarf trao vào tay ông Teo Busbeck, nhờ ông này giấu nó đi, giấu vào nơi nào thật sự an toàn. Như ở đây, trong túp lều này, chẳng hạn. Đó là những gì tôi nghe được từ miệng ông Busbeck, và tôi cũng được nghe thêm, rằng những gì nằm trong cặp này đều là những thứ quý giá nhất mà bác họa sĩ còn giữ lại được. Chính bác họa sĩ đã nói đại loại như vậy. Nhưng giấu vào đâu trong túp lều này cơ chứ? Mà giấu bằng cách nào bây giờ?

Tiến sĩ Busbeck xoay ra tìm cuộn giấy dầu, mà theo ông biết, phải nằm đâu đó trong tủ, dưới tủ hay sau lưng tủ mới đúng. Tôi cũng tìm cùng ông, và trong lúc tìm tòi, lục lọi như thế, tôi thấy ông không ngừng để mắt đến tôi, thậm chí ông ta tìm quanh tìm quẩn mãi như thế chỉ vì ông không biết phải xử trí với tôi thế nào thôi. Chúng tôi không tìm thấy cuộn giấy dầu đâu cả. Có lẽ ai đó lấy mang đi từ lâu rồi, hay nó trôi dạt đâu đó ngoài biển cũng nên, hoặc chính bác họa sĩ đã dùng vào việc gì đó rồi quên đi; nói tóm lại, cuộn giấy có thể dùng để bao bọc tập giấy cùng các bức tranh trong đó đã biến đâu mất, khiến ông Busbeck có vẻ thở phào nhẹ nhõm hơn là thất vọng. Nó đi đằng nào mất rồi, ông nói, thì chịu thôi, không có giấy dầu thì không giấu cặp giấy xuống dưới nền nhà được. Với lại, ông nói tiếp, ai mà biết được có nên giấu ở đây không.

Nói rồi, như để tự trả lời, ông đạp chân lên mấy tấm ván đã tháo lỏng, ấn xuống, và thế là cả hai bác cháu lại xếp các tấm ván vào với nhau, để cuối cùng ông Tiến sĩ Busbeck dùng búa nện đinh xuống cho chắc như cũ. Cái lỗ hổng tối om, dưới đáy lấp lánh cát ướt, lộ ra lúc nãy và toan dùng làm nơi cất giấu bí mật, được bịt kín lại. Bác lại mang cặp giấy về à? Tôi hỏi, và ông ta đáp: Phải, bác đem nó về. Ở đây không có giấy dầu, với lại, chỗ này không ổn tí nào. Tôi xin ông cho tôi xem các bức tranh kẹp trong cặp giấy, nhưng ông không cho; lúc tôi định tháo dây buộc cặp giấy, ông đưa tay ra ngăn lại. Tôi hỏi: Tranh mới à bác? Tranh vô hình, ông ấy đáp.

Nghe vậy, tôi liền van nài, tôi hứa hẹn sẽ mang tập giấy về Bleekenwarf cho ông, ông chỉ cần cho tôi xem lướt qua thật nhanh, một bức thôi cũng được - nhưng ông không chịu, không muốn, mà cũng không thể, cho tôi xem; ông bảo: Thì cháu cũng có được lợi lộc gì đâu cơ chứ, đây là các bức tranh vô hình mà lại. Nhưng sờ vào được chứ ạ? Tất nhiên rồi, sờ được vào tranh chứ sao. Xách đi xách lại được chứ ạ? Phải, xách đi xách lại được. Treo lên thì sao ạ? Treo lên cũng được. Thế thì sao lại gọi là tranh vô hình? Tiến sĩ Busbeck nhìn quanh, xem xét mọi thứ rồi ôm cặp giấy sát vào người. Tôi lại hỏi: Sao hả bác, nếu các bức tranh là vô hình thì bác chả phải giấu làm gì, chả phải gói bằng giấy dầu, chẳng phải cho xuống dưới nền nhà làm gì; nếu đã vô hình, thì chẳng ai tìm được; bác chả bảo, cứ cái gì vô hình thì cái đó an toàn là gì. - Cháu nói như thế, ông ta nói đúng nguyên như vậy, cháu nói như thế rất có lý. Ông nói trong lúc đã quay người bước ra cửa, như thể nói cho qua chuyện. Thế nhưng, ông bỗng dừng lại, quay người về phía tôi, nói tiếp: Cháu phải hình dung là trên các bức tranh này không phải cái gì cũng vô hình; cũng có thể nhìn thấy các dấu hiệu, các chỉ dẫn nho nhỏ, như mũi tên chẳng hạn, nhưng các chi tiết quan trọng nhất, các chi tiết quyết định thì vô hình. Chúng đều ở trong tranh cả, nhưng vô hình, cháu hiểu không. Đến ngày nào đó, bác không biết chắc lúc nào, thời thế khác đi, thì mọi thứ khắc hiện lên. Còn bây giờ thì thôi, không hỏi, không nói gì nữa, cháu về nhà đi. - Còn bác đi đâu? - Ta cũng về thôi. Để chia tay, dù sao, ông cũng mỉm cười với tôi, rồi ép chặt cặp giấy vào người, ông ra khỏi lều. Tôi nhìn theo ông, thấy ông tiến về phía cồn cát dốc cao lên, mới đầu có vẻ hơi do dự, nhưng càng về sau càng hối hả, người gập hẳn ra phía trước.

Bên ngoài, tiếng rì rầm từ phía bãi triều vọng tới, ấy là thủy triều; bây giờ là lúc triều đang lên, sủi bọt, xô về hướng đất liền, xộc vào các dải cát ở cửa mương, thè lưỡi liếm lên bãi triều phẳng lặng, tràn vào các vũng nước, đầm lầy, xô đẩy cỏ, gỗ cây, vỏ sò, vỏ ốc, xóa cả các vết chân chim lẫn vết chân chị em tôi để lại trên đất, trên cát, xô đẩy, lấn về hướng Bắc, đến đất liền, nhanh chóng ngập cả một vùng rộng lớn màu đất sét xám và loang mãi tới bán đảo.

Nước này thì còn vỏ sò, vỏ ốc gì nữa, muộn mất rồi, tôi đành phải bỏ ý định nhặt vỏ sò vỏ ốc cho chị Hilke. Lúc tôi ra khỏi túp lều, thì không còn thấy bóng dáng Tiến sĩ Busbeck đâu nữa. Tôi đi chéo qua bán đảo, dọc theo bãi cát, vòng vòng tránh các con sóng tràn tới, cho đến khi chúng không đùa giỡn nữa, vượt qua khoảng đất trống đầy cát, sùi bọt xông vào tôi. Vâng, bãi cát. Biển cả trước mặt. Nhưng trước hết tôi phải tiến về phía ngọn hải đăng sơn đỏ, leo dốc lên mặt đê, rồi lại tụt xuống lối đi lát gạch, vượt qua cửa cống đến gần cây cột bạc thếch có gắn biển “Chốt cảnh sát Rugbüll”. Cái thùng xe cũ kỹ, long hết bánh - vốn là chỗ dạo nào tôi vẫn chui vào chơi trốn bắt - trông có vẻ như lún sâu thêm xuống đất, càng xe như muốn mục đến nơi, và giữa lòng xe nứt nẻ, một tấm gỗ đã gãy gục. Vâng, tôi vượt qua cả thùng xe lẫn nhà kho, và dừng lại dưới chân bậc thềm bằng đá; tôi buộc phải dừng lại, vì ở phía trên tôi, trong khung cửa ra vào, bố tôi đang đứng chờ, và từ dưới trông lên - hệt như dạo nào, lúc chúng tôi chở anh Klaas trên xe đẩy về nhà - trông ông cao vọt lên ít nhất phải bảy thước rưỡi chứ không vừa, và sừng sững chặn ở cửa, tôi không sao lách qua mà vào nhà được nữa. Trong lúc ông không động đậy đứng nhìn tôi từ trên xuống, không tránh sang bên, cũng không đưa tay ra đón, gương mặt khô khốc, nghiêm nghị, trông ông cao lên bội phần và đầy hăm dọa, khiến tôi chẳng dám nhìn lên, chỉ nhìn như dán mắt vào mũi giày nhợt nhạt vì bị ướt và đôi ghệt dính bùn của ông - tôi vẫn biết ông ưa, thậm chí khoái mang ghệt - và nghĩ bụng, làm thế nào mà bố tôi buộc dây giày đều đặn và gọn gàng đến thế. Ông khoái buộc dây giày như vậy. Ông cũng khoái làm cho người đứng trước mặt ông phải bồn chồn, phải cảm thấy bất ổn, bằng cách nhìn chằm chằm với vẻ chờ đợi như thế; chỉ thế thôi là đủ làm cho người đứng trước mặt ông mất hết tự tin, luống cuống chẳng biết nên xử trí thế nào cho phải.

Không biết lần này ông đã đánh hơi thấy chuyện gì? Tôi phải khai báo gì đây? Tôi vẫn nhìn không rời mắt khỏi mũi giày của ông, cứ để mặc sự im lặng dồn nặng lên người tôi, sự im lặng ông dùng để nén, để ép nhỏ tôi lại, cố tình ép, cồ tình nén, và sau khi ông quả thực đã nén tôi bẹp gí xuống ngang cỡ đồng năm xu, thì mũi giày ở khung cửa bắt đầu động đậy, chụm vào nhau, quay một góc bốn mươi lăm độ; trông nghiêng, bây giờ tôi thấy đôi giày ông sao thô kệch và buồn cười thế, gương mặt bố tôi lúc này tôi cũng nhìn nghiêng một phía; ông đứng tựa lưng vào gióng cửa bên phải, không những để ngỏ lối vào, mà dáng điệu còn có vẻ sốt ruột thúc giục tôi bước nhanh vào nhà. Tôi đi qua trước mặt ông vào trong, rồi dừng lại ở hành lang. Tôi nghe tiếng ông quay người. Vào trong văn phòng kia, ông ra lệnh cho tôi, và tôi đi trước, ông đi sau, vào phòng giấy. Chà, lại có chuyện để nói rồi đây.

Lúc đầu, ông chỉ nhìn thẳng vào mặt tôi, dùng ánh mắt trói chặt tôi lại, để dò xét, nhưng rồi ông cũng thấy như thế chưa đủ. Ông ngồi quay lưng ra cửa sổ, nói như trống không: Kể đi! Làm sao đáp lại một mệnh lệnh như thế nhỉ? Kể đi, ông nói, nào, kể đi, ta không nghe thấy gì cả. Tôi hiểu ý ông muốn gì rồi, nhưng tôi phải kể chuyện gì mới được chứ. Kể đi, đừng có mà giả ngây, giả ngô như thế, kể đi. Vâng, kể đi, theo ý ông, nghĩa là khai ra đấy. Mày biết nhiều, bố tôi nói, biết nhiều hơn những gì mày kể cho bố. Bố tưởng hai bố con đã bàn bạc thống nhất với nhau là bố con mình phải giúp nhau kia mà. Mày làm sao thế, hả?

Bố tôi đứng dậy, hai tay chắp sau lưng, rồi chậm rãi tiến về phía tôi; tôi đã đoán trước, cái gì sẽ xảy ra, nhưng do bố tôi cứ lần chần mãi, cho nên lúc ông bạt tai tôi - nhẹ thôi, nhằm giúp tôi tươi tỉnh thôi, chứ không phải để trừng phạt - tôi vẫn giật bắn mình. Quả thật, bố tôi tin chắc cái bạt tai của ông sẽ giúp tôi nhớ lại mọi chuyện, cho nên, bạt tai tôi xong, ông lại quay về chỗ ngồi cũ. Lúc nào mày cũng ở bên ấy, ông nói, suốt ngày mày loanh quanh luẩn quẩn bên Bleekenwarf, cái gì mày chả biết. Thôi, kể đi. Vâng, tại ông cứ đòi như thế, thì tôi kể: Hôm qua ở Bleekenwarf có bánh nướng, Tiến sĩ Busbeck ngồi sưởi nắng và đọc sách, con với Jutta chơi quanh quẩn ở chỗ cái xe ngựa hỏng, cái xe bố cũng biết ấy mà, để trong kho ấy, còn thằng Jobst ngồi làm người đánh xe ngựa, quất gãy cả roi. Tất tật những chuyện vớ vẩn tôi còn nhớ, tôi đều lôi ra kể cho ông nghe: nào bác đưa thư cụt tay Broder sen ghé vào uống trà, nào bác Ditte ăn xong đi ngủ, nào bọn tôi đuổi ngỗng từ ao chạy ra mương. Bố tôi ngồi nghe những chuyện chẳng ra đâu vào đâu ấy mới kiên nhẫn làm sao! Song, đột nhiên ông nói: Mày không quên gì chứ? - À, bố hỏi về trận mưa à? Tôi hỏi. Không, cái lão ốm nhom cơ, lão Busbeck ấy, lão ôm cái gì trông như cặp giấy. Lão mang từ nhà sang bên bán đảo, lúc mày đang ở đấy. Nếu mày có mắt, thể nào mày cũng nhìn thấy lão. - À, ông ấy, tôi nói, con có nhìn thấy ông ấy. Ông ấy trèo cồn cát, tôi nói tiếp, trông có vẻ vội vàng lắm; ông ấy đến chỗ túp lều rồi chui vào đấy, hình như ông ấy định cất cái gì vào đấy. - Thế à, mày nghĩ thế à? Bố tôi hỏi. Thì ông ấy ở trong đó mãi một lúc lâu mà, tôi đáp, chắc ông ấy giấu cái gì đó dưới sàn. - Dưới sàn nhà à? - Vâng, ở trong ấy, chỉ giấu dưới sàn chứ giấu vào đâu được ạ. Bố tôi im lặng một lúc lâu, rồi mới nói tiếp: Lệnh cấm, lão chẳng coi ra gì, từ dạo ấy đến giờ, lão vẫn tiếp tục vẽ, vẽ vụng, vẽ trộm. Nhưng thể nào ta cũng sẽ bắt quả tang lão, lần này ta sẽ tóm được lão cho mà xem. Ta mà tóm được lão hay tranh của lão, thì đến giời cũng chẳng cứu được lão. Ta phải cho lão ta biết, lệnh cấm ban ra cho tất cả mọi người, cả lão ta cũng phải tuân theo. Nghĩa vụ của ta bắt ta phải cho lão biết như thế. Mày bảo ở trong lều à, dưới sàn, hả? - Thì con đoán thế, tôi đáp, muốn giấu gì ở đấy thì chỉ giấu dưới sàn, chứ giấu vào đâu được. Bố tôi đứng dậy, đi ngang qua mặt tôi về phía cửa sổ rồi bắt tay làm gì đó sau lưng tôi mà tôi không quay lại nhìn cũng đoán ra được: ông dùng con dao con cạo bùn khô bám trên ghệt ông đang mang. Không dám quay lại nhìn, tôi đứng dậy, sau lưng tôi tiếng bố tôi cạo bùn bám trên ghệt vẫn còn lạo xạo, thì đúng lúc đó, có tiếng lạo xạo khác còn to hơn vọng từ trong bếp sang: đó là tiếng lạo xạo phát ra từ chiếc radio mẹ tôi vừa bật lên.

Mới đầu chỉ nghe như tiếng một bầy châu chấu nhảy trên mái tôn, sau đó chuyển thành tiếng rù rù, tiếng huýt, tiếp theo như có ai bật máy khoan điện, sau rốt mới nghe ra tiếng người nói, nhưng chưa rõ lời lẽ ra làm sao, phải chờ đến lúc mẹ tôi xoay xoay cái núm đỏ lọc thanh, thì một giọng nói rành rọt, nghe có vẻ tự tin, thậm chí hân hoan vui vẻ, mới lan ra khắp nhà. Vâng, giọng nói báo tin Ý đã tuyên chiến với ta, bởi vì một tên quốc vương bù nhìn mang tên Victor Emanuel và một gã hèn mạt mang tên Badoglio nào đó thấy cần phải hành động như thế. Thế nhưng chúng ta không nên vì thế mà lo lắng, giọng phát thanh viên quả quyết, thậm chí ta cũng chẳng cần thất vọng, vì chiến hữu của chúng ta thế này thế khác, bởi từ nay - theo lời phát thanh viên - khi chúng ta chỉ còn lại một mình, khi chúng ta chỉ còn biết dựa vào sức mình nữa mà thôi, ta có thể cho toàn thể thiên hạ biết về khả năng thật sự của chúng ta, bởi từ nay, khi ta không còn bị vướng víu bởi một đồng minh đáng ngờ và phản phúc nữa, ta có thể phát huy tất cả năng lực và mọi đức tính tuyệt vời chứa chất trong chúng ta. Tiếng nói quả quyết như thế. Giọng nghe đầy vẻ vỗ về. Có vẻ lạc quan, vẻ tự tin thì đằng nào cũng có thừa rồi.

Đấy, bọn Ý đấy, bố tôi nói. Tôi quay lại nhìn; bố tôi đứng bên cửa sổ, nhìn ra ngoài về phía hồ than bùn. Thế chiến I đã vậy, ông nói, bây giờ lại y như thế; phải, bọn Ý là thế đấy, chúng nó chỉ biết nhảy tarantella với bôi thuốc mỡ pomade lên tóc là hết nước. Lẽ ra quân ta phải biết trước như thế mới phải.

Ông vươn người, đứng thẳng đơ, hai bàn tay nắm lại, căng thẳng, rồi đột nhiên ông quay người, đi ngang trước mặt tôi, nhưng không nhìn tôi, ra ngoài hành lang, sửa sang sắc phục, đeo thắt lưng và súng ngắn - biến thành viên cảnh sát trang bị đúng theo điều lệnh quy định - rồi nói vọng vào trong bếp: Tôi đi, hả; đoạn, lại nói thêm, có lẽ do mẹ tôi hỏi bao giờ ông muốn dùng bữa tối: Để chốc nữa ăn cũng được, mọi chuyện cứ gác lại đã. Rồi ông kéo cửa, lấy xe đạp từ trong kho ra, dắt ra lối đi lát gạch, nhảy lên yên đạp về hướng con đê. Hành khúc Badenweiler vang lên trong máy phát thanh. Bố cứ việc đi đi, tôi nghĩ bụng, bố cứ đi mà tìm.

Tôi cũng không thấy đói bụng, tôi muốn chốc nữa mới ăn, như bố tôi, bởi tôi còn có việc phải làm trong cối xay gió; thế nhưng tôi vừa ra đến hành lang, đã thấy gọi: Siggi, ra ăn nào, nhanh lên.

Quý vị không phải lo hôm nay nhà tôi lại có món cá; không, hôm nay là món rau quả hầm - đậu cô ve, lê nguyên quả, khoai tây, không có thịt, mà bì lợn dính nhiều mỡ. Hai mẹ con tôi lặng lẽ ngồi đối diện nhau, chị Hilke đi đâu vẫn chưa về. Mẹ tôi trầm ngâm nhìn đi đâu đó phía trên đầu tôi, trong khi vẫn ăn, răng cắn ngập vào củ khoai tây hay quả lê nguyên quả mà không phải thổi phù phù cho nguội; thường vẫn vậy, chả có món nào nóng đến mức làm bà bỏng miệng. Bà nhai không chút hứng thú, mắt mở to, nuốt chầm chậm. Bà có thể dùng nĩa chọc một hạt đậu trong nồi lên nhìn trừng trừng rất lâu, lâu đến mức người ngoài có thể tưởng hạt đậu có gì ghê gớm lắm, hoặc ít ra có thể tưởng bà - sau khi đã kiểm tra kỹ càng hạt đậu như thế - sẽ bỏ nó xuống mép đĩa hoặc vất nó vào chậu nước, nhưng không, bà lại dùng răng gỡ hạt đậu ra khỏi đầu nĩa, không nhai, có lẽ chỉ dùng lưỡi ép nó nát bét ra trong vòm miệng trước khi nuốt, một cách thật lơ đãng. Trong lúc ăn, tôi có định kể gì cho bà nghe, thì bà lại nghiêm nghị chỉ tay vào đĩa ăn của tôi, và nói: Việc mày phải làm cho xong đang nằm kia, không nói nữa, ăn đi! Tôi mà ăn quá nhanh, thể nào bà cũng mắng, tôi mà không hứng thú ăn, thể nào bà cũng đe tôi phải thế này thế khác.

Tôi ăn xong trước bà rất lâu, nhưng bà không cho tôi đi đâu cả, mà phải có mặt ở đó, bên cạnh bà, bà bắt tôi dọn dẹp: cho bát đĩa, dao, thìa bẩn vào chậu rửa, cho cái nồi hoa quả hầm mới vơi non nửa vào thùng ủ ấm, đến bàn ăn bà cũng bắt tôi phải lau sạch, trong khi bà chỉ hờ hững ngồi nguyên một chỗ, thỉnh thoảng lại nghiến răng kèn kẹt. Nhưng thôi, tôi không muốn kể lể lâu về nỗi ấm ức của tôi nữa, cũng không muốn tả phía sau lưng mẹ tôi - với búi tóc to và chặt, cái cổ dài lấm tấm nốt ruồi, cái lưng thẳng đơ đơ, và eo lưng hách dịch của bà - có lẽ tôi nên cho lão kiểm đê Bultjohann xuất đầu lộ diện là vừa, lão già trông như con cá chào mào ấy, cái lão mà chính mắt tôi thấy đeo trên ngực không phải một, mà cùng một lúc ba huy hiệu Quốc xã, một cái trên áo sơ mi, cái thứ hai trên áo vét, và cái thứ ba trên áo choàng ngoài. Vào đến phòng trong rồi, lão mới gõ cửa. Bởi chín đứa con của lão, bao giờ lão cũng lẫn lộn tên đứa này với đứa khác, cho nên cũng chẳng lạ gì lắm, khi mỗi lần lão lại gọi tôi một khác, hết Hinrich lại Berthold hay Hermann, ngoài ra còn cả Asmus con nữa; lão cứ lẫn tên như vậy cũng chẳng sao, miễn lão không quên bảo tôi chào hộp tiền tiết kiệm của tôi là được. Nói vậy là vì bao giờ lão chào tôi, lão cũng đưa tôi một đồng xu, rồi bảo: Chào hộp tiết kiệm của cháu nhá.

Lần này, lão gọi tôi là Josef, lấy đồng xu vẫy vẫy tôi và buông lời khen tôi biết dọn dẹp trong bếp. Lão không ngồi xuống, mà lăn lên ghế thì đúng hơn, mặt ghế quá nhỏ, chỉ đỡ được một bên mông của lão. Lão vuốt vuốt nhẹ lên mu bàn tay mẹ tôi. Lão khó nhọc thở, như thể lão phải tống cho hết gió nãy giờ lùa đầy vào phổi lão vậy. Lão nháy mắt với tôi, và bằng cái nháy mắt ấy, lão tỏ ra chia sẻ và thông cảm với công việc tôi phải làm, công việc bắt tôi phải chạy đi chạy lại giữa chậu rửa, bàn và tủ đựng thức ăn.

Bây giờ nghĩ lại, tôi nhớ ra là mẹ tôi không bao giờ hỏi khách, xem họ đến có việc gì; ai đến nhà chúng tôi, thì cứ việc đến thôi. Nhìn lão cứ dỏng tai ngóng vào phía trong nhà, tôi đoán ra ngay là lão Bultjohann hôm nay đến không phải để tìm mẹ tôi. Quả nhiên, lão cất tiếng hỏi: Ông Jens có nhà không? Mẹ tôi lắc đầu, và lão kiểm đê chồm toàn tấm thân đồ sộ của lão qua bàn, thì thầm nói: Ông ấy phải ra tay thôi, phải can thiệp thôi. Lão thì thầm, theo kiểu chỉ một mình lão tưởng là thì thầm, chứ người khác, đứng tít trong góc kê chạn đựng thức ăn cũng còn nghe thấy rõ lão nói gì.

Lão đã nhìn thấy cái gì đó khiến lão phải đến báo cảnh sát, vì thế lão lao đến đây ngay. Lão muốn báo cảnh sát biết chuyện hôm nay, lúc lão ăn trưa ở quán Wattblick… vắng tanh, bà ạ, tôi ngồi một lúc bên cửa sổ, bà biết không, chờ mãi, chờ mãi. Tôi chả nghĩ ngợi gì, chỉ ngồi chờ tay Hinnerk, nhưng mãi vẫn không thấy hắn ta đâu… Tôi mới đứng dậy, đi loanh quanh trong quán, gọi to đôi ba lần; nói gì thì nói, chứ bà cũng biết đấy, ở trong quán ai lại tự rót rượu cho mình bao giờ. Tôi nghĩ bụng, không biết họ biến đi đâu cả; làm thế nào để họ nghe thấy mình bây giờ? Tôi thấy hơi sốt ruột. Không khéo họ rình xem tôi làm gì cũng nên, hay đại loại vậy. Cái radio trong quán Wattblick, bà cũng biết đấy, để cạnh quầy. Tôi mới bật nó lên, phải chờ một lúc cho nó nóng mới nghe được, thì tự dưng có tiếng đài London. Hóa ra bọn nó nghe đài rồi cứ để nguyên sóng như thế, bà hiểu chứ? Đài London hẳn hoi nhá.

Viên kiểm đê Bultjohann chăm chú nhìn mẹ tôi; hẳn lão mong nhìn thấy trên mặt bà vẻ khen ngợi, hay ít ra, cũng tìm được sự đồng tình của bà, rằng lão đem phát hiện của lão đến đây trình báo là đúng; nhưng mong gì thì mong, lão chỉ uổng công. Mẹ tôi không nói gì. Bà không quay mặt về phía lão. Mắt mở to, bà nhìn ra ngoài cửa sổ, như ngắm mùa thu đang khoe muôn màu rực rỡ vậy, và ngồi nguyên bên bàn trong bếp. Trong khi đó, lão Bultjohann có vẻ như đang tính toán xem nên làm thế nào lôi kéo được sự chú ý của bà. Cảnh tượng này phải thấy tận mắt, chứ thật khó tả bằng lời, cái cảnh lão cá chào mào - vẫn còn thở ào ào - vừa vuốt vuốt mu bàn tay mẹ tôi và xoa xoa vào cánh tay bà, vừa nhắc lại cho bà nghe câu chuyện, ngắn gọn hơn, sắc sảo hơn. Bà Gudrun ạ, chuyện này chắc chắn ông Jens nhà ta sẽ quan tâm: trong quán Wattblick, ở đó bọn nó nghe đài địch. Phải, đúng tay Hinnerk chứ không ai khác cả. Tôi có bằng chứng đây.

Mẹ tôi vẫn ngồi yên, không cựa quậy. Lão nói xong, thì dường như bà cũng choàng tỉnh khỏi cơn mê. Bà đưa tay lên nắn nắn lại búi tóc, rồi đột nhiên quay về phía tôi, ra lệnh: Siggi, đi lên phòng, nhanh lên, đến giờ đi ngủ rồi! Tôi miễn cưỡng bước từ góc kê chạn đựng thức ăn ra, chần chừ, vừa càu nhàu, vừa đến bên chậu rửa để vắt khô cái khăn lau còn ướt, nhưng mẹ tôi không chịu, sốt ruột nói: Đi đi, làm thế đủ rồi! Đáp lại, ngầm tỏ thái độ bất bình và hờn dỗi, tôi chỉ còn biết vùng vằng vắt cái khăn lau còn dính bẩn bê bết và ướt nhèm lên vòi nước. Tôi chẳng nói chẳng rằng, chìa tay cho mẹ tôi, chìa tay bắt tay lão Bultjohann để về phòng đi ngủ. Nhằm tỏ cho hai vị biết, hai vị cứ việc rì rầm chuyện riêng với nhau, tôi đóng cửa bếp lại, ở bên ngoài, chỗ treo áo khoác, tôi vớ luôn cái ống nhòm của bố tôi - chả biết do ông quên hay cố tình để ở nhà - rồi bước từng bậc thang lên phòng. Trên mặt bàn kéo ra kéo vào được, tức là trên mặt các đại dương của tôi, không xảy ra sự kiện nào đáng kể, ngoài tận số của chiến hạm “Graf Spee”; tôi gom nó cùng ba tàu tuần dương của Anh trước cửa sông La Plata, và quả thật, chiến hạm “Spee” không còn đường nào thoát thân cả, nên phải tự đánh đắm mình là đúng thôi. Trên mặt bàn này, tôi đã chứng minh không cãi vào đâu được về một tình huống như thế. Tôi đến bên cửa sổ, ngồi lên bậu cửa. Trời vừa lúc sâm sẩm tối.

Mùa thu dài lê thê ở quê tôi! Vâng, mùa xuân thì ngắn ngủi, nhưng mùa thu thì lại lê thê dài. Tôi lôi ống nhòm ra khỏi túi đựng bằng da nhăn nhúm, và - trước lúc hoàng hôn sập xuống - tôi kéo mùa thu lại gần, nằm gọn trong ống kính tròn vo và trong suốt này. Thì các vị cứ ngồi trong bếp mà nói chuyện riêng với nhau! Cánh rừng con ở phía bên phải Glüserup vốn đã thưa thớt, bị gió thổi càng thêm xơ xác, đã ngả màu nâu. Cánh đồng cỏ và lượn sóng chạy dài về phía Husum tuy trông vẫn còn xanh, nhưng đã pha áng nâu vàng. Các con mương mờ tối góp thêm màu xám chì vào phong cảnh. Màu ngói đỏ lọt mỗi lúc một nhiều vào tầm mắt. Ở quê tôi chẳng có núi non, cũng không sông nước, không bờ vực nào hết, chỉ một vùng phẳng lì, hòa trong những mảng màu xanh lục, màu vàng cùng những dải màu nâu này. Những hàng cây bạch dương đung đưa trong gió và làm rơi vãi các chùm quả đen đen xuống mương nước. Mọi thứ ở đây - mảnh đất này, cây cối, vườn tược này - đều sạm một màu nâu, phân thành những dải dài, và trông từ xa như bị mốc, như những đồ vật bị bỏ quên lâu ngày, sẩm tối, gia súc đều im ắng, chắc chỉ trừ hơi thở đều đều của chúng; đôi con đã khoác bạt để chống lạnh về đêm. Tôi quay ống nhòm men dọc theo đường chân trời. Ông già Holmsen đang trẩy táo trong vườn nhà ông ta - gần tối thế này mà ông ta vẫn chưa chịu ngơi tay. Ông đứng trên cái thang xếp - trông chênh vênh, rất chênh vênh là khác - khuất hẳn người trong tán cây táo vẫn còn khá sum suê rậm rạp, chỉ thò mỗi phần từ mông trở xuống ra ngoài. Trên đỉnh cột cờ dựng trước quán Wattblick phấp phới lá cờ hiệu - cờ hiệu riêng của ông Hinnerk Timmsen - nền trắng, với hai chìa khóa màu xanh bắt chéo nhau ở giữa. Chìa khóa hắn có rồi, ông tôi vẫn thường bảo, chỉ còn thiếu độc cánh cửa cho hắn mở ra thôi. Trên mặt hồ than bùn, gà nước bơi lăng xăng qua lại, trông như những chiếc nút bấc trôi dạt; mùa hè nhiều thức ăn, chúng đánh chén no nê, béo kềnh béo càng, nên bây giờ không cất cánh bay lên được. Rồi cối xay gió của tôi. Cái ống nhòm phóng to, kéo chỗ tôi ẩn náu đến gần chỗ tôi ngồi ở đây, giúp tôi nhìn rõ nóc cối xay hình củ hành lợp đá phiến, cái thân cối xay hình bát giác, các khung cửa sổ vẫn còn rõ màu sơn trắng, nhưng kính vỡ tan hoang, và các mảnh kính vỡ đã bị gió thổi văng tứ tung tự bao giờ. Tôi cũng nhìn thấy rõ tấm bìa dùng để che cánh cửa sổ, chỗ mà tôi với anh Klaas đã nấp để theo dõi đám áo choàng da tiến đến gần. Dưới bếp hai người đang cãi nhau hay sao thế? Không phải, hóa ra là tiếng radio, mẹ tôi vặn to lên. Tôi tạm buông ống nhòm xuống nghe ngóng, nhưng rồi tôi lại nhấc nó lên ngay, hướng về phía cối xay, và tôi nhìn thấy hai người vừa từ trong cối xay đi ra.

Tôi phải thú nhận ngay, rằng thoạt đầu tôi đã tưởng bác họa sĩ phát hiện ra chỗ tôi ẩn náu, chỗ nằm, các bức tranh kỵ sĩ cùng bộ sưu tập các ổ với chìa khóa, và tất nhiên, bức tranh Người đàn ông mặc áo choàng đỏ; bác ấy, tôi nghĩ vậy, do vô tình mà phát hiện ra mọi thứ đó dưới mái vòm và cùng chị tôi trèo lên đó để xem xét, kiểm chứng, và có lẽ, tuy miễn cưỡng, cũng sẽ ít nhiều khâm phục. Tôi cũng còn nhớ nỗi sợ hãi của tôi lúc ấy, sợ bác sẽ gỡ tấm mành phòng không có dán bức Người đàn ông mặc áo choàng đỏ treo trên tường xuống rồi mang đi; nhưng không, bác không mang bất cứ thứ gì trên tay cả. Bác chỉ nắm hờ cánh tay chị tôi, đẩy chị ấy đi lên trước. Hai người làm gì trong cối xay gió nhỉ? Lúc lặng lẽ đi xuống phía ao than bùn, chị Hilke vẫn hơi khập khiễng. Đến ngã tư hai người chia tay nhau. Chia tay theo kiểu thế này: cả hai người đều bước chậm lại, tiến sát lại gần nhau rồi cùng đứng lại, vai chạm vai, cũng có thể bác họa sĩ xoa vai chị Hilke, không cố ý, lúc bác vượt lên trước, rồi đột nhiên quay người lại, như thể định chắn đường chị, thế nhưng bác không dang tay ra, mà lại nắm lấy hai tay chị ấy, chắp lại ngang trước bụng, rồi đưa lên đưa xuống, có lẽ là theo nhịp những câu bác ấy nói, những câu tôi đoán là những câu khích lệ, những câu ngắn gọn, kiểu như: Nhớ nhé, hoặc: Rồi ta khắc làm, hay đại loại thế. Chị Hilke cúi mặt, không nói năng gì, nhưng qua cách chị để mặc hai tay cho bác ấy nâng lên hạ xuống như thế cũng đoán được rằng chị cũng đồng tình với bác.

Đột nhiên, vâng, dù sao cũng bất ngờ, khiến tôi phải ngạc nhiên, bác họa sĩ buông tay chị Hilke, hay đúng hơn là thả hai tay chị rơi thõng xuống, rồi quay người, lê bước, không, không phải lê bước mà, người cúi về phía trước - áo choàng phồng sau lưng, trông cứ như căng buồm - bác đi về hướng Bleekenwarf. Còn chị Hilke? Chị tôi cũng bước đi, rồi tự nhiên nhảy cẫng lên - không hiểu bị đứt chân như thế mà chị ấy vẫn bước được những bước dài và chốc chốc lại nhảy lên như thế được - đưa tay vẫy theo bác họa sĩ, nhưng tôi phải nói, chị có vẫy cũng vô ích, bởi bác ấy có quay lại nhìn, hay vẫy đáp lại chị tôi đâu. Được một đoạn, chị Hilke chợt dừng phắt lại, ra vẻ nghĩ ngợi - y hệt dáng điệu viên cảnh sát Rugbüll mỗi khi cần nghĩ ngợi, suy tính điều gì - rồi quay người, đi khập khiễng, vâng, bây giờ lại khập khiễng, quay trở lại cối xay gió, thoáng biến vào trong đó một lúc rồi quay ra ngay, tay khoác theo cái giỏ, và lập tức, không phút chần chừ - vui vẻ theo một cách tôi không ngờ - chị lại khập khiễng đi về phía Rugbüll, và vẫn không quên vẫy tay về phía bác họa sĩ. Đến chỗ cửa cống, chị lại vẫy tay lần nữa, vẫy lấy lệ lên trời thế thôi, rồi nhảy sang lối đi lát gạch. Đến đây, hình như chị mới lại cảm thấy gan bàn chân chị bị đứt một vệt khá sâu thì phải.

Từ dưới nhìn lên, chị phát hiện thấy tôi bên cửa sổ, liền giơ ngón tay trỏ lên đe tôi. Tôi ra hiệu báo cho chị: Nhà có khách đấy, ở trong bếp ấy; chị tôi mặc kệ, không để ý, cứ thế nhoẻn miệng cười bước lên bậc thang, trước khi vào nhà, chị hất mái tóc ra sau lưng. Lúc này, tôi đã đứng sát cửa phòng, dỏng tai nghe ngóng. Tôi nghe tiếng chị cười to, thế có nghĩa là lão Bultjohann, theo lề thói vùng này, đã vỗ vào mông chị thay cho lời chào. Chị Hilke không lấy đĩa trên chạn xuống, tức là chị cũng chưa đói bụng. Chị đem giỏ cá vào góc kê tủ thức ăn; như thế cũng có nghĩa là chị để cá cho bố tôi làm, róc vẩy, moi ruột gan, rồi ướp muối. Chị có vẻ muốn chuồn khỏi bếp cho nhanh, nhưng không phải để lên đi ngủ trên phòng chị.

Lúc tôi nghe chị lên phòng tôi, tôi liền nhảy tót đến bên bàn, cúi người xuống cảnh chiến hạm “Graf Spee” bị đánh chìm, chờ chị tôi. Bên nào thắng? Chị tôi bước vào phòng, cất tiếng hỏi. Tôi đáp: Tan mất chiếc thuyền rồi. Mặc dù chân đau, chị tôi vẫn bước đến gần, không gây tiếng động nào, đặt một tay lên vai tôi, rồi, vừa cúi người quan sát các sự kiện diễn ra ở cửa sông La Plata, vừa lấy ngón tay trỏ xoa xoa, cứa cứa lên cổ tôi. Chắc chị tôi đang thầm nghĩ, không rõ thằng nhỏ biết những gì, và nó không biết những gì. Cũng có thể, chị đang nghĩ: Tốt nhất là nên nịnh nó một tí, chẳng mất gì. Chị không hỏi gì đến vỏ sò vỏ ốc cả. Tôi chẳng khiến mà chị vẫn loay hoay bận bịu với cái cổ của tôi, xoa gáy tôi, rồi gác cằm lên vai tôi, một cử chỉ lẽ ra phải gây ấn tượng chị đang mơ màng mới phải, nhưng không thành, bởi vì trong gương, tôi lại thấy đôi mắt chị đầy vẻ dò xét, chỉ thoáng nhìn cũng thấy không phải lúc chị muốn mơ màng. Mày không đoán được lúc này chị đang muốn làm gì đâu, chị tôi nói. Làm gì? - Hút thuốc! - Hút thuốc á? - Chị muốn hút thử một lần xem sao, hút rồi mở cửa sổ thông gió ngay. Mẹ không biết được đâu.

Chị tôi - tôi không còn nhớ từ đâu - lôi một bao thuốc ra, thuộc loại bốn điếu một bao, đặt lên tấm hải đồ, phía Bắc quần đảo Azores. Tôi lắc đầu, đẩy bao thuốc về phía chị, nhưng chị tôi đã giơ tay chặn lại, bắt tôi giữ lấy, cho nên tôi bèn lấy ra một điếu, rồi châm lửa. Chị Hilke bước đến bên cửa phòng, dỏng tai nghe ngóng ở phía dưới, rồi cũng châm một điếu.

Hai chị em tôi ngồi xuống mép giường, cùng hút thuốc. Mới đầu cả hai đều hút rất vội vàng, để ý đến điếu thuốc nhiều hơn là đến đám khói màu trắng trắng xanh xanh; nhưng rồi chúng tôi bắt đầu phả khói vào mặt nhau, và bỗng nhìn thấy những hình thù khác nhau trong khói, chẳng hạn lợn biển, hay cừu lông xù, hoặc tán cây; hai làn khói chúng tôi nhả ra cuộn tròn, bay bay, mất một lúc mới tan ra, trộn lẫn vào nhau, xoắn lại với nhau, và trong khoảng không giữa tôi với chị Hilke, nào hươu lông trắng, nào những cái phao biết bay, nào cừu lần lượt bay lên. Cả một khuôn mặt say sưa, mơ màng, nhưng khó lường, hình thành từ khói thuốc cũng hiện ra, nhưng dạo ấy tôi nghĩ mãi mà không biết ví với gương mặt ai.

Hai chị em phả ra hết tán cây đến xà lan lên trời, có lúc nhờ hai luồng khói va vào nhau, tôi còn tưởng tượng ra cả một chiếc thuyền ba cột buồm; quả là rất hợp thời hợp cảnh, bởi hai chị em đang ngồi trên giường mà nhả khói.

Chúng tôi không ai bị ho vì khói thuốc, nhưng đến lúc tôi mở cửa sổ và dùng một chiếc tất dài quay quay trên đầu như cánh quạt để xua khói ra ngoài, thì chị Hilke chạy vội vào cầu tiêu nôn ọe mất một lúc mới quay ra. Chị ngồi xuống, lấy mu bàn tay chùi ngang miệng, từ từ kéo ra một dải nước bọt dài, mãi một lúc mới đứt. Tôi quẳng các đầu mẩu qua cửa sổ ra ngoài, đóng cửa lại, và rất đỗi ngạc nhiên thấy chị tôi khúc khích cười.

Sao chị cười? - tôi hỏi. Ôi giời, Siggi - chị nói - mày cứ nghĩ xem, nếu bố mẹ biết chị em mình hút thuốc, bố mẹ sẽ làm gì với bọn mình không? Làm dồi chắc? - Băm ra làm thịt băm vùng Thüringer thì có, chị nói, rồi tiếp luôn: Mày cứ coi như không biết gì hết nhá, nghe không, mày cứ bảo không biết gì cả. Chị nằm dài ra giường tôi, rồi quay người nằm sấp, thả lỏng thân mình dường như lúc nào cũng mệt mỏi của chị. Tôi để mặc chị tôi nằm thở, ườn người nghỉ ngơi một lúc trên giường, nhưng đến lúc chị có vẻ mơ màng muốn ngủ, thì tôi cất tiếng hỏi: Thế còn trong cối xay gió? Chị với bác ấy làm gì ở đấy? Mới đầu chị có vẻ không hiểu câu tôi hỏi, tôi đã định hỏi xoáy thêm, thì sống lưng chị - tôi phải nói thế - như bị điện giật, trong người chị như có tiếng gì lạo xạo, như có gì chợt bùng lên, giật mạnh, khiến chị choàng ngay dậy, cúi người về phía tôi, và trên mặt chị lộ cả vẻ bực tức lẫn hốt hoảng. Giữ mồm, giữ miệng, đừng có mà nói với ai đấy, chị tôi nói. Ai lại lấy ống nhòm theo dõi chị như thế bao giờ! Không làm gì cả, chị hơi cao giọng, không làm gì trong cối xay gió cả, mày hiểu không. Tao gặp bác họa sĩ ở đấy, có vậy thôi. - Lên cả bên trên à? Tôi hỏi, nhưng thấy chị tôi ngơ ngác nhìn tôi, thì tôi an tâm, quay ra nói cho chị yên lòng: Được rồi, chị đừng lo, em chẳng nhìn thấy gì sất.

Thở phào nhẹ nhõm, chị tôi lại buông mình nằm xuống giường của tôi, dụi mặt vào gối và như có ý định ôm hết cả tấm đệm vào lòng, trông đến buồn cười. Tôi tưởng tượng ra chị tôi chết và cứ đứng yên một chỗ ngắm chị; vòng đeo cổ, xâu từ những con súc sắc bằng gỗ nhẵn nhụi, trông có vẻ nặng, hốc xương đòn lạ lùng ở cổ, làn da sạm nắng và có nếp gấp ở khuỷu tay. Tay chị tôi không chê vào đâu được, hay nói cách khác, trông đôi tay chị cũng được đi, nhưng đôi tai chị thì bị nhàu làm sao ấy, và cột sống chị tôi có vẻ dài quá cỡ. Tôi khẽ chạm vào chỗ cái nịt ngực của chị nghiến vào lưng, chỉ thế thôi, mặc dù tôi rất muốn đếm từng đốt xương sống của chị và gõ gõ vào đấy xem nó phát ra âm thanh gì. Tôi chợt nhớ đến anh Addi, chàng nghệ sĩ chơi phong cầm kiên nhẫn nọ.

Tôi nhẹ nhàng đẩy chị tôi sang một bên, chị càu nhàu, miễn cưỡng lăn tấm thân ấm áp sang một mép giường chừa chỗ cho tôi; tôi vẫn thấy chậm quá, uể oải quá, gì thì gì cũng là giường tôi kia mà. Chị không chừa chỗ cho em thì đi chỗ khác, tôi cằn nhằn, nằm duỗi người bên cạnh chị tôi và bỗng cảm thấy mỗi lúc một thêm chóng mặt. Bọn lợn biển, mấy cái phao bơi, đám cừu tự dưng bay bay quây lấy tôi và lặp đi lặp lại mãi một nhịp đếm như nhau. Tôi bám chặt lấy chị tôi, vung gậy đánh mấy con cừu xù lông; đang lúc đó thì nghe có tiếng ai gọi tên tôi. Ai đó gọi tên tôi, khẽ thôi, tiếng vọng đến từ rất xa: Siggi! Xuống nhà ngay, Siggi. Chị Hilke nhổm người dậy, trông chị có vẻ lờ đờ thế nào đó, và ở tư thế ngồi như thế, đầu cúi xuống, tóc xõa xuống che cả mặt, trông chị như núm giẻ lau nhà.

Bố gọi, chị tôi nói khẽ, bố gọi mày kìa, bố vừa về thì phải, và tôi nghe tiếng bố tôi từ dưới vọng lên: Siggi, nhanh chân lên. Tôi cũng thừa hiểu, rằng tôi không nên chần chừ, khiến bố tôi - vào giờ này vốn đã hay cáu kỉnh - lại càng cáu kỉnh thêm nếu tôi dám lần chần không tuân lệnh ông ngay, nên đứng dậy, để chị Hilke giúp tôi đứng thẳng người và dắt tôi ra cửa, thậm chí dẫn ra tận cầu thang. Bố tôi lại gọi: Mày chờ bố phải lên đón hay sao đấy hả, Siggi? Tôi nhận ra ngay, giọng ông đầy vẻ giục giã, nhưng không tức tối. Tôi vội nói to, đáp lại: Con xuống rồi đây ạ, và khó nhọc theo cầu thang đi xuống, đâm thẳng vào nơi ông đang đứng ở chân cầu thang. Bố tôi đứng sẵn ở đó, chờ tôi với vẻ hơi không bằng lòng trên khóe miệng, giơ hẳn một tay về phía tôi; tôi bước chưa hết bậc thang cuối, ông đã kéo tôi xuống, ông cũng lôi tôi - theo cái lối quá ư quen thuộc của ông - đi ngay qua hành lang sang văn phòng rộng chỉ bằng cái khăn tắm của ông. Lại có công vụ gì quan trọng đây! Cơn chóng mặt của tôi giờ đã giảm, tôi không thấy gì quây quần bên mình hay bay lượn trên đầu nữa, và tôi có cảm giác - nếu có ai đòi - thì tôi có thể đi thẳng một đường theo mép ván lát sàn được rồi. Chả lẽ bố tôi đòi tôi làm như thế bây giờ sao?

Bố tôi lôi tôi đến bên bàn giấy, nhìn tôi rất lâu với vẻ khen ngợi làm tôi rất ngạc nhiên, ngoài ra, ông thấy cần vỗ vỗ lên vai tôi nhằm tỏ sự thán phục; đến mức này thì tôi phải dè chừng thật rồi. Và, đến lúc ông lại còn nói thêm: Khá lắm, Siggi, biết để mắt trông trước trông sau như thế giỏi lắm, thì trong lòng tôi, một mối nghi ngờ bỗng trỗi dậy, làm ngứa ngáy sau lưng như có cua bò, khiến tôi phải cựa quậy để rũ nó ra. Bởi tôi không làm sao đứng yên trước mặt bố tôi được, nên tôi quay sang một bên, vươn người ra phía trước, qua hình tam giác do tay bố tôi chống nạnh tạo thành, cố nhìn lên mặt bàn sau lưng ông. Đúng là giỏi thật, bố tôi nói, còn tôi phải hỏi lại, cũng thấy hơi hãi hãi: Giỏi cái gì hở bố? Bố tôi bước một bước về phía cửa sổ, để mặt bàn giấy phơi ra trước mặt tôi, rồi, mặc dù chẳng cần thiết nữa, ông vẫn hất đầu chỉ về phía bàn, nói: Mày thấy gì chưa? Tất nhiên là tôi nhìn thấy. Ông cũng chẳng cần phải nói cái gì nằm trong gói giấy dầu màu nâu xanh lá cây, óng ánh dầu mõ kia. Mà đúng ra, tôi nghĩ, ông chẳng cần nói thêm lời nào nữa. Tao tìm thấy nó trong lều, bố tôi nói, trên bán đảo ấy, đúng như mày dự đoán. Dưới ván lát sàn.

Tôi tiến tới bên bàn giấy, xoa xoa lên lớp giấy dầu lành lạnh, trơn trơn, rồi nâng gói giấy dầu lên bằng hai tay, làm bộ ướm xem nó nặng nhẹ thế nào cho vui vậy. Ta dùng búa nhổ đinh bóc ván lát sàn lên; búa nằm ngay đấy, bố tối nói. Không có ai ở đấy à bố? - Chả thấy ai. - Cả ông Busbeck cũng không à? - Cả Busbeck cũng không. - Còn chỗ giấu cũ hay mới hả bố? - Mới hay cũ thì cũng thế thôi chứ gì, bố tôi nói, tao tóm được chim nằm trong tổ là hay rồi. Ông đỡ gói giấy dầu từ tay tôi, đặt nó lên mặt bàn, chỉ tay vào đó và lệnh cho tôi mở tập giấy ra. Tôi chần chừ, nửa muốn nửa không. Mở ra đi, bố tôi nói, mày đã giúp một tay thì bây giờ mày được phép ở đây và tự tay mở nó ra. Nói rồi ông chìa cho tôi con dao gấp, cán bọc sừng, lưỡi dao đã mở sẵn và chĩa xuống sợi dây tẩm sáp. Tôi chẳng buồn cởi nút để thu sợi dây tẩm sáp cho mình, tôi ấn dao, sợi dây đứt nghe đánh phựt. Mở lớp giấy dầu ra, bố tôi bảo, lớp giấy trông ngon lành đấy.

Tôi luống cuống mở gói giấy dầu, bên trong là tập giấy, và tôi đọc thấy dòng chữ viết nắn nót: Tranh vô hình. Nào mở ra xem nào, bố tôi nói, tao muốn xem lão dám làm những gì nào. Ông châm tẩu thuốc, gác một chân lên ghế, chống khuỷu tay xuống đùi; vâng, như thể viên cảnh sát đã đứng vào tư thế thoải mái để ngắm tranh vậy. Tôi nghĩ đến Tiến sĩ Busbeck, đến cuộc gặp tay đôi với ông ta trong lều cùng những lời giải thích của ông mà tôi nghĩ là chưa đủ rõ về các bức tranh vô hình: Những cái gì quyết định nhất, ông ấy chả nói thế là gì, sẽ vô hình. Nhưng cái quyết định là cái gì mới được chứ?

Nào, bố tôi giục, lật hết ra xem nào.

Tôi biết mô tả những bức tranh vô hình như thế nào bây giờ? Những bức tranh mà bác Max Ludwig Nansen từng bảo, rằng chúng chứa đựng tất cả những gì ông muốn kể về thời đại này, bởi vì trong đó cũng bao gồm tất tật những gì ông đã chiêm nghiệm trong đời. Những điều chiêm nghiệm đó đã mang lại gì cho ông? Và ông thể hiện chúng như thế nào khi ông dừng tay, khi lo âu, không vẽ nữa? Phải mô tả, phải ngắm các bức tranh vô hình của ông như thế nào? Để ngắm các bức tranh hữu hình của ông, chỉ có thiện ý thôi còn chưa đủ nữa là. Mắt ông đã xem xét tất cả những gì cần xem xét, tay ông đã lược bỏ tất cả những gì phải lược bỏ, và làm như thế, tôi nghĩ, bác đều có chủ ý.

Bố tôi rung đùi: Lật tiếp đi! Ông thúc tôi, ông chậc lưỡi: Lật tiếp đi! Và, theo nhịp do bố tôi định ra, tôi nhấc từng tờ tranh lên, rồi lại theo hiệu lệnh kín đáo ở tay ông, lại úp từng tờ tranh ấy xuống. Tôi không biết vì lý do gì mà đôi bức tranh ông ngắm lâu hơn bức tranh khác. Bởi, như đã nói, trên các bức tranh chỉ có một phần rất nhỏ, cứ cho là một phần bảy đi, là có thể nhìn ra được, còn phần bị giấu đi - và hẳn là ai cũng thấy rằng phần giấu đi rất lớn ấy - thì vô hình. Liệu bố tôi có tưởng tượng ra cái gì không? Liệu các dấu hiệu, các chỉ dẫn ngầm - hay các mũi tên, nói như Tiến sĩ Busbeck - có đủ để cho ông phát hiện và tóm được cái bác họa sĩ muốn giấu không? Hay tài tiên tri của ông giúp ông thấy cả những khoảng bỏ trống trên các bức tranh? Không khéo để trống cũng không thoát khỏi mắt ông cũng nên. Phần tôi, tôi chỉ thấy cái gì tôi thấy, chứ không hề có ý định nhìn ra cái gì khác.

Vâng, tôi nhìn thấy một bánh quạt của tàu thủy, thấy nó ào ào quay tròn xuống nước trong một con sông đen ngòm, nước chảy về đâu không biết, phía trên không thấy bầu trời đâu; bây giờ cứ thử tìm mà xem, cái bị che giấu là cái gì nào. Trên một bức tranh khác, chỉ thấy độc đồi mắt của một ông già, một đôi mắt không chứa đựng chút niềm nở nào, không muốn nghe ai hỏi han. Đôi mắt đó cho kẻ đang bối rối đứng đối diện biết rằng, dẫu có thế nào, họ cũng không thể nhất trí với nhau được. Kẻ đứng đối diện vô hình nào đó có thể mong đợi nhiều thứ, thậm chí bất cứ thứ gì, trừ sự đồng tình nhất trí của người đàn ông trong tranh. Hay bức tranh phần phía trên cây hoa hướng dương, nhụy màu nâu xám, ủ rũ gục xuống, thân cây trụi lá, cong queo, nhưng vành hoa hướng dương, tuy đã úa vàng, rách nát nhưng vẫn long lanh dưới ánh nắng - nếu họa sĩ không để trắng năm phần sáu bức tranh, thì lẽ ra cũng có thể gọi tên bức tranh là Mùa thu hay Hoàng hôn. Hay cái thân cây, không phải thân cây mà cái chỗ phồng lên trên thân cây sau khi ghép cành, và tia nắng cảnh báo chiếu thẳng vào chỗ đó; vâng, tôi vẫn còn nhớ các tông màu nâu khác nhau, và có thể dễ dàng suy diễn về cái gì che lấp ở chỗ này.

Bố tôi không tỏ vẻ sốt ruột, ông không thúc tôi phải gấp gáp lên. Ông không nói gì, cũng không có cử chỉ nào, hay trên mặt ông không có nét nào để lộ xem các bức tranh vô hình này tác động đến ông ra sao. Thôi được, thì lật tiếp bức tranh khác vậy: cái lưng ghế chạm trổ theo kiểu vùng Bắc Đức, nhiều dấu thập hơn là sao, những bông hoa hồng thô thiển cùng các hình bán nguyệt, thêm vào đó là các vòng nguyệt quế lặp đi lặp lại, mọi thứ đều đeo vòng nguyệt quế, ngầm gợi ý, có lẽ bộ mông Bắc Đức ngồi mòn cái ghế này cũng đeo vòng nguyệt quế nốt. Rồi bức tranh vẽ cái áo vét - rõ ràng là chiếc áo vét nhà binh tơ tướp - móc trên một cái đinh, các lỗ thủng, vết bẩn, chỗ rách trên áo phơi rõ cả ra, hay ngược lại, các lỗ thủng, các chỗ rách trên áo lơ láo nhìn vào mặt người xem tranh, và như thế, tấm áo vô tình biến thành bằng chứng, thành trí nhớ của một ai đó; vâng, cái lỗ thủng kia là vết đạn xuyên khi chạy trốn, chỗ áo rách kia là vết tích dây thép gai cào. Vậy thì việc bỏ bớt chi tiết đi có còn giá trị gì nữa không? Hay con cá biết bay, trong suốt, cong cong như sợi dây buộc đầu roi; hay cột mốc trắc địa - một khung gỗ hình khối tam giác không hợp với nền đất; hay cái mỏ neo kiểu cổ nằm chổng lên trời, xích sắt gỉ thõng xuống đất, đung đưa theo gió; hay hai con chim nhạn bổ nhào, như hai mũi tên bốc lửa bay tìm về đích; hay đống rơm nổ tung, bay trong gió tới khu vườn tưởng tượng nào đó; hay các vết chân trong tuyết, đen ngòm, không biết từ đâu đến; hay các bình đựng nước đã rạn vỡ, buộc với nhau bằng một sợi dây thừng; hay cái đầu người đàn bà ngửa ra sau, há mồm kêu mà không ai nghe thấy; hay cái bóng cong queo từ các sợi dây căng buồm của một chiếc thuyền buồm rách nát, có lẽ bị mắc cạn, hoặc những sợi dây thòng xuống từ vành mặt trời, có thể thắt lại nhiều chỗ. Và tôi cũng không thể quên các tấm ván màu xanh lam tháo từ hàng rào ra, năm tấm, thậm chí chỉ còn ba tấm có thanh ngang, không có cái gì đằng sau hay đằng trước cả, không một bóng người, nền màu xanh ô liu ở phía sau và trên nền xanh ô liu đó lập lòe một điểm sáng con con, lóe đỏ.

Tôi nâng bức tranh vẽ các tấm ván hàng rào màu xanh lên, đang định úp nó xuống các bức tranh khác - những bức không có gì đặc biệt lắm để nhắc đến ấy - thì bố tôi đột nhiên, nhanh như chớp, nắm lấy cổ tay tôi, kéo về phía mình, và nói: Sao mà mày lại run lên thế, hả? Ở tuổi mày chẳng có lý do gì để run cả. - Con không biết, tôi đáp, con có run gì đâu. - Không khéo tại mấy bức tranh này cũng nên, bố tôi thủng thẳng. Ông bỏ chân trên ghế xuống, quay mặt ra phía cửa sổ. Ông nói: Thế mà cũng gọi là tranh đấy; những của nợ này mà có kẻ còn đem treo lên tường rồi suốt ngày ngồi ngắm nữa chứ. Tranh vô hình! Rõ nực cười!

Ông nhìn chằm chằm vào cặp giấy đựng tranh nằm trên bàn với ánh mắt ngờ vực, pha chút bực bội, nhưng không ra điều đắc thắng, mà lại mỗi lúc một thất vọng, rồi trên mặt ông dần dần lộ ra vẻ nghi ngờ, vâng một nghi vấn nào đó vừa nảy ra trong đầu ông, bắt ông phải đi đi lại lại một lúc trong phòng giấy, trước khi dừng lại trước các tấm chân dung treo trên tường, trân trân nhìn khá lâu lên đó, và sau đấy, như thể đã nhận được đủ các lời khuyên bảo và khích lệ từ các bức chân dung, ông mới bĩu môi ra chiều nhạo báng, vẫy tay gọi tôi đến gần, và giơ ngón tay trỏ thông thái của ông trước mặt tôi và nói: Này Siggi, bố con mình sẽ không rơi vào cái bẫy này; bẫy ai chứ bẫy bố con ta thì đừng hòng. Không rời mắt khỏi ngón tay trỏ của ông, tôi không giấu ông nỗi ngạc nhiên của tôi. Lão định đánh lừa ta, bố tôi nói, thì lão chỉ định dùng mấy bức tranh của nợ này gài bẫy ta thôi mà lại; chứ ta còn lạ gì tranh của lão. Đống giấy này lão dùng để nhử ta, đánh lạc hướng ta, ta biết thừa. Mớm mồi thế thôi, không có gì lạ đâu.

Ông mạnh tay đặt cặp giấy đựng tranh trở lại vào tờ giấy dầu, mở ngăn kéo bàn giấy ra, rồi cho hết cả vào ngăn. Bây giờ mà lão tưởng, ta sẽ bằng lòng ngồi yên, thì lão nhầm to, bố tôi nói. Lão định bày trò này ra với ta, thì ta càng phải ra tay cho lão biết mặt. Với một thằng quê Glüserup như ta, lão cũng phải biết nể mặt chứ, cái gì làm được, cái gì không, thì lão phải biết chứ. Những của nợ này không đáng để ta đem nộp lên Husum; rồi ở đấy họ sẽ chỉ lắc đầu ngao ngán là cùng chứ gì. - Con đem cất nó vào chỗ cũ nhé? Tôi nhanh nhẩu. Cứ để nó nằm yên trong ngăn bàn được rồi, vẫn còn khối chỗ ra đấy thôi. Nhưng sao mày cứ run bắn lên thế, hả? Run suốt từ nãy đến giờ. Mày có bị làm sao không đấy?

Hoàng Đăng Lãnh (dịch).
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.