Giờ Đức văn

Lượt đọc: 151 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 2
LỆNH CẤM VẼ

❊ ❊ ❊

Năm bốn ba, thôi thì cứ mở đầu như thế vậy, vào một ngày tháng Tư, sáng hay trưa gì đó, bố tôi là ông Jens Ole Jepsen - viên cảnh sát chốt Rugbüll, chốt ngoại biên, nằm ở cực Bắc bang Schleswig-Holstein - sửa soạn lên đường đến Bleekenwarf thi hành cái việc trao tận tay bác họa sĩ Max Ludwig Nansen, người mà xưa nay dân chỗ chúng tôi vẫn chỉ gọi là ông họa sĩ - và cũng chẳng bao giờ thôi không gọi bác ấy như thế - một cái lệnh gửi từ Berlin lên là lệnh cấm không cho bác ấy vẽ tranh nữa. Không vội vàng, bố tôi như thể cố lần lữa, hết tìm áo mưa đến ống nhòm, lại xem lại thắt lưng lính với đèn pin, cố tình loay hoay một lúc lâu bên bàn giấy, khuy bấm trên áo khoác cảnh sát ông cài vào cởi ra đến lần thứ hai rồi, và trong khi tôi đã trùm khăn kín mít, đứng nguyên một chỗ chờ ông, thì ông chốc chốc lại liếc ra ngoài nhìn cảnh ngày xuân ảm đạm và lắng nghe tiếng gió thổi. Mà nào có phải thứ gió thường đâu: gió Tây-Bắc ấy ào ào đổ tới, phong tỏa, các nông trại lẫn các bờ đất với hàng cây, rầm rầm tung hết đợt xoáy này lại ném cơn giật khác, cốt thử xem nhà cửa cây cối ở đây vững chãi đến mức nào, là thứ gió đã tạo ra khung cảnh này; một khung cảnh đen ngòm, lồng lộng gió, ngổn ngang, hỗn độn, bờm xờm và mênh mông vô bờ bến. Gió quê tôi, tôi nghĩ bụng, là thứ gió khiến các mái nhà trở nên thính tai, làm cây cối biết tiên tri, bắt cái cối xay gió cũ phải gồng mình, phình bụng; gió thổi sàn sạt qua các mương rãnh, buộc chúng phát cuồng lên, hoặc bổ nhào xuống những chiếc thuyền chở than bùn, thổi văng món hàng nhão nhoẹt chẳng ra hình thù gì đó đi tứ tung.

Gió quê tôi mà thổi như thế, thì người ta phải nhét thêm vật nặng gì đó vào túi áo, túi quần, như gói đựng đinh, một đoạn ống thiếc hay chiếc bàn là nặng chẳng hạn, may ra mới cự được với nó. Thứ gió ấy là gió quê tôi. Và, chúng tôi không thể bắt bẻ bác Max Ludwig Nansen chỗ nào, khi bác ấy đập ống thuốc vẽ, chọn thứ màu đỏ tía giận dữ và trắng lạnh lẽo để vẽ ngọn gió Tây-Bắc đó lên tranh, ngọn gió hết sức quen thuộc, ngọn gió gắn bó với chúng tôi, ngọn gió mà giờ đây bố tôi đang lắng nghe với vẻ mặt đầy nghi ngại ấy.

Một làn khói bay lơ lửng trong bếp. Ở phòng khách, mơn man run rẩy một làn khói khác đượm mùi than bùn. Ngọn gió náu trong lò, nhè nhẹ phun khói ra khắp nhà, trong lúc bố tôi cứ đi đi lại lại mãi, như thể tìm cớ trì hoãn chứ chưa chịu lên đường ngay. Ông hết đặt cái này xuống chỗ này, lại nhấc cái khác ở chỗ khác lên, hết xách đôi ghệt vào phòng làm việc lại mở rộng quyển sổ trực ban ra trên bàn ăn, ngó ngó nghiêng nghiêng và có vẻ như hết tìm cớ này lại viện đến cớ khác, cốt làm sao lần lữa, chưa phải lên đường thi hành nhiệm vụ ngay, rồi rốt cuộc, ông vừa ngạc nhiên vừa bực dọc nhận ra ông hình như đã thành một kẻ nào đó khác lạ vậy, rằng ông đã bất đắc dĩ biến thành một viên cảnh sát kiểu mẫu miền đồng quê và, để thi hành công vụ, ông chẳng cần gì hơn ngoài chiếc xe đạp công đang dựng bên bàn máy cưa kê trong nhà kho kia thôi.

Như thế, có lẽ chỉ là thói quen sẵn sàng thi hành công vụ, chứ không phải sự sốt sắng, hay niềm vui nghề nghiệp, càng không phải nhiệm vụ bỗng rơi vào tay ông buộc ông hôm ấy lên đường vậy. Như mọi lần, ông ra đi như thể chỉ vì ông đã trót đóng sắc phục, đã nhỡ nai nịt sẵn sàng rồi mà thôi. Trước khi ra đi, ông không đổi cách chào mọi khi ông vẫn chào, ông bước ra hành lang tối om, dỏng tai nghe ngóng, rồi ới gọi về phía mấy cánh cửa im ỉm đóng: Tôi đi, hả!; từ phía ấy chẳng nghe ai đáp lại, song, ông không vì thế mà ngạc nhiên hay thất vọng, ông vẫn làm như thể mọi người đã đáp lại cả rồi, ông gật gật đầu hài lòng, rồi hất hàm bảo tôi bước ra ngoài; bước đến ngưỡng cửa, ông ngoái lại, làm một cử chỉ vô định để tạm biệt, trước khi ngọn gió kịp kéo bật hai bố con chúng tôi khỏi khung cửa.

Ra đến ngoài, bố tôi nghiêng vai đón gió thốc ngược chiều, ông cúi mặt xuống - gương mặt khô khan, lạnh lùng mà mọi đường nét, mọi nụ cười, mọi vẻ nghi ngờ hay tán đồng đều hiện ra rất chậm và, do đó, bao giờ gương mặt ông cũng hết sức nghiêm nghị, khiến người ta có cảm tưởng cái gì ông cũng hiểu đến nơi đến chốn, có điều quá muộn mà thôi - rồi gập người đi qua sân, nơi ngọn gió đang thổi bụi quay tròn, vò nhàu một mảnh báo, trên đó đăng mẩu tin về một chiến thắng tận đẩu tận đâu bên châu Phi cùng một chiến thắng nào đấy khác ở Đại Tây Dương, tức là vò nát, giằng xé một chiến thắng quyết định tại mặt trận tạo ra sắt thép phế liệu và ấn chặt lên mặt lưới hàng rào nhà chúng tôi. Bố tôi vào nhà kho cửa mở. Ông rên rỉ bế tôi ngồi lên poóc ba ga. Một tay nắm vào mép sau yên xe, tay kia giữ ghi đông, ông nhấc xe quay một vòng. Rồi ông đẩy nó xuống lối đi lát gạch, dừng lại dưới tấm biển ghi dòng chữ “Chốt cảnh sát Rugbüll” chỉ về phía ngôi nhà gạch đỏ của chúng tôi, gạt bàn đạp vào đúng tư thế thuận lợi, lên xe, đạp về hướng Bleekenwarf. Kẹp giữa hai chân bằng chiếc kẹp, áo che mưa ông choàng bị gió thổi căng phồng lên như quả bóng.

Chạy xe như thế cũng lần đến được cối xay gió, thậm chí đến gần cả Holmsenwarf - là nơi có nhiều hàng giậu ngất ngưởng đung đưa theo gió - bởi suốt đoạn đường, nhờ chiếc áo mưa bố tôi choàng căng lên như buồm trước gió nên bố tôi cứ lựa chiều gió mà chạy. Nhưng đoạn sau, lúc ông quay về phía đê, gập người trèo lên đó, trông ông lập tức giống hình người đàn ông in trên tờ tranh quảng cáo “xuyên Schleswig-Holstein bằng xe đạp”, một kẻ lữ hành lì lợm mà cứ trông qua dáng vẻ căng thẳng và gắng sức cũng như mông đít nhấc khỏi yên xe, có thể đoán biết nỗi mệt nhọc mà ai cũng phải bỏ ra ở đây trên đường tìm thắng cảnh quê nhà. Tờ tranh quảng cáo đó không những phơi bày nỗi khó nhọc của người đạp xe, nó còn cho thấy rõ tài nghệ người này phải có, để đủ sức đạp xe trên mặt đê gồ ghề, giữa những cơn gió Tây-Bắc xiên hông, điên cuồng giật liên hồi. Không những, tờ tranh quảng cáo còn chỉ dẫn cho người xem nên giữ tư thế như thế nào khi đạp xe, nó cũng giúp người ta sớm có ấn tượng về chân trời phía Bắc nước Đức này, nó phác họa đường nét những ngọn gió tuyết trắng phau, và, cũng mượn bầy cừu ngớ ngẩn, bù xù lông, như bầy cừu đang nghếch mõm trông theo bố con tôi đây, để trang trí cho bờ đê.

Để mô tả cảnh bố tôi đạp xe trên đê về Bleekenwarf, tôi bắt buộc phải mô tả tờ tranh quảng cáo, cho nên, muốn cho bức tranh thật sự hoàn thiện, tôi phải nói thêm là trong bức tranh ấy còn vẽ cả một bầy hải âu, gồm nào hải âu lớn, hải âu nhỏ lưng đen, hải âu đầu đen lẫn chim hải âu băng tuyết, vốn là giống chim rất hiếm ở đây, đang bay tản mát phía trên đầu người đàn ông đạp xe đạp đã kiệt sức nọ. Nhưng do in ấn cẩu thả nên bức tranh bị nhòe, khiến đàn chim trông giống như những miếng giẻ lau, chăng ra hong gió giữa trời cho chóng khô vậy.

Cứ mải mốt đạp xe dọc theo bờ đê nhấp nhô như thế, bố tôi hướng cặp mắt xanh của ông xuống đất và, vừa cố chạy cho bánh xe lăn đúng vào lối đi hẹp hằn lên cỏ thành vệt màu nâu nâu, ông vừa tìm cách chống đỡ các cơn gió giật. Tờ lệnh ông đã gập lại, nhét vào túi áo ngực; ông thong thả, dáng vẻ hơi khó nhọc một chút, đạp nốt khúc quanh của bờ đê, khiến người ta có thể tưởng, hẳn ông đang định đến quán trọ “Wattblick” xây bằng gỗ ván sơn màu xám đằng trước kia để bắt tay ông chủ quán Hinnerk Timmsen và cùng uống ly rượu grog, hay thậm chí còn qua lại dăm ba câu chuyện với ông này cũng nên.

Nhưng bố con tôi không đi xa đến thế. Chưa đến quán trọ, cái quán được nối với con đê bằng hai cái cầu gỗ và bao giờ cũng làm tôi mường tượng đến một con chó đang chồm hai chân trước lên bức tường nào đó để nhìn ra ngoài, hai bố con tôi rời khỏi mặt đê, thả dốc thoai thoải xuống lối đi chạy dọc chân đê, rồi từ đó, rẽ vào con đường dài dẫn vào Bleekenwarf, con đường với hai hàng cây bạch dương mọc hai bên và đâm thẳng tới cánh cổng ngăn có cửa treo làm bằng hai tấm gỗ sơn trắng. Tình thế mỗi lúc một thêm căng thẳng, mỗi lúc một thêm hồi hộp, một tình thế bao giờ cũng nảy sinh ở quê tôi, mỗi khi có ai bất chấp các cơn gió Tây-Bắc cục cằn của tháng Tư để lên đường lặn lội giữa khoảng trời mênh mông trải rộng trước mắt, và chỉ nhằm hướng tới một mục tiêu định rõ từ trước như thế.

Cánh cổng gỗ kin kít, từ từ mở ra khi bố tôi đạp xe chầm chậm, dùng bánh xe trước ẩy nó ra. Một lát sau, xe bố tôi lăn ngang qua tàu ngựa hoen rỉ vì bị bỏ hoang đã từ lâu, tiếp đến là cái ao con và nhà kho. Bố tôi đạp xe chạy rất chậm, như thể ông muốn mọi người trong nhà sẽ nhìn thấy ông đang đến. Ông chạy sát sạt ngang các khung cửa sổ hẹp của gian nhà chính, rồi trước khi dừng lại, ông còn ném một cái nhìn về phía xưởng vẽ xây áp vào gian nhà chính. Ông bế xốc tôi, đặt xuống đất như đặt một kiện hàng, rồi đẩy xe tiến về phía lối vào nhà.

Ở quê tôi, không ai lần đến cửa nhà người khác mà không bị người trong nhà phát hiện từ xa, cho nên tôi khỏi cần phải kể bố tôi đã không gõ cửa, cũng không ới gọi vào trong hành lang tranh tối tranh sáng nữa, tôi cũng không phải tả tiếng chân ai bước đến gần hay tiếng ai kêu lên với vẻ ngạc nhiên làm gì nữa. Tôi chỉ cần thuật lại cảnh bố tôi đẩy cửa, dùng tay gạt tấm rèm sang một bên và chẳng cần nhìn cũng biết thể nào cũng có ai đó đưa bàn tay ấm áp nắm bắt tay ông. Đoạn, ông chỉ còn có việc nói: Chào chị, chị Ditte - nữa thôi, bởi bác Ditte, vợ bác họa sĩ, chắc chắn đã ra đứng đợi sẵn ở cửa, ngay từ lúc hai bố con tôi thả xe xuống dốc rời mặt đê rồi cơ.

Bác Ditte mặc trên người bộ váy liền áo may bằng vải thô khá dài, khiến bác trông giống như một bà thầy bói nghiêm trang ở xứ Holstein này vậy. Bác đi trước, hai bố con tôi theo sau. Hành lang tối om, nhưng bác vẫn nắm ngay được nắm đấm cánh cửa vào phòng khách, mở ra rồi mời bố tôi bước vào trong. Trước hết bố tôi phải loay hoay gỡ cho được cái kẹp kẹp áo choàng trùm đầu của ông ở giữa háng. Ông dang chân, khuỵu đầu gối xuống rồi dùng tay sờ soạng một lúc mới vớ được cái kẹp để nhả nó ra. Ông chui ra khỏi áo choàng từ phía dưới, đứng thẳng lên, vuốt vuốt lại chiếc áo vét cảnh sát trên người cho thẳng thớm rồi quay sang nới chiếc khăn quàng nãy giờ vẫn quấn kín cả cổ lẫn đầu tôi ra một chút, trước khi đẩy tôi đi trước ông bước vào phòng khách.

Ở Bleekenwarf đây, phòng khách rộng mênh mông. Tuy không cao lắm nhưng nó rộng rãi, lại vô số cửa sổ, và nếu cần, có khi chứa được cả đến chín trăm khách ngồi ăn đám cưới cũng nên; hay nếu không phải khách đám cưới thì cũng phải chứa được bảy lớp học, cả thầy lẫn trò chứ không phải vừa; ấy là chưa kể số bàn ghế kềnh càng, ngang nhiên khệnh khạng chiếm mất không biết bao nhiêu là chỗ trong phòng. Nào tủ, nào hòm, nào bàn, nào ghế, cái nào cái nấy nặng trình trịch và đều có khắc số năm bằng chữ rune cổ xưa; riêng cái kiểu đứng lù lù, hung tợn và hống hách của các thứ đồ gỗ này cũng đủ thấy tuổi thọ chúng nó phải cao lắm rồi; Lại thêm mấy cái ghế tựa nặng phát kinh lên được và cũng có vẻ rất ta đây, tôi phải nói thẳng ra thế, cứ làm như thể ai đặt đít lên đó đều phải ngồi thật yên, đến mặt mũi cũng cấm được động đậy chứ không phải vừa. Bộ ấm chén trà sẫm màu và trông thật xấu xí - thấy bảo làm bằng sứ Wittdün - đặt trên một cái giá gắn vào tường và, đã từ lâu, chắc chỉ dùng làm đích ném cho vui, chứ chẳng ai đem ra pha nước nữa. Thế nhưng tính tình hai vợ chồng bác họa sĩ vốn dễ dãi, cho nên hai bác chẳng xê xích gì mấy trong nhà này, từ khi hai bác mua lại căn nhà Bleekenwarf từ tay con gái ông lão Fredericksen, cái ông lão đa nghi đến mức, trước khi treo dây lên mép một trong số mấy cái tủ đứng cao kinh khủng kê trong phòng để tự vẫn, ông ấy còn cắt trước cả mạch máu ở cổ tay cho chắc ăn nữa.

Bàn ghế trong phòng hai bác để nguyên, chẳng kê lại, chỉ thay đổi chút ít trong bếp, nơi mà nồi niêu, xoong chảo, thùng chậu vốn bao giờ cũng ngăn nắp; mấy cái chạn bát đĩa cổ xưa dựng trong bếp, chất đầy những đĩa bằng sứ Wittdün vênh vang điệu bộ, những liễn cùng bát tô to đùng to đoàng ấy, hai bác đều cứ để trước nằm đâu, sau vẫn nằm nguyên đấy; ngay cả giường ngủ - thứ giường hẹp, cứng đơ, nằm qua đêm không mấy dễ chịu ấy - cũng kê y nguyên chỗ cũ.

Thôi, nhưng bây giờ đã đến lúc bố tôi vào đến phòng khách, kéo cánh cửa phía sau lưng, khép nó lại, rồi cất tiếng chào ông Tiến sĩ Theodor Busbeck. Ông này, như mọi khi, vẫn ngồi một mình trên chiếc ghế sofa quái đản, đệm cứng đơ đơ và dài phải đến ba chục thước chứ không vừa; ông không đọc, không viết lách gì, đóng bộ tươm tất, từ nhiều năm nay rồi, chỉ ngồi ngây ra đấy, thành tâm ngóng trông một tin hay sự kiện nào đó, trong một tư thế cam chịu đầy bí hiểm, như thể sự kiện hay tin tức ông đang trông chờ có thể ập đến bất cứ lúc nào vậy. Gương mặt nhợt nhạt của ông hầu như không để lộ cảm xúc nào hết, hay nói đúng hơn, mọi nét mặt có thể làm lộ cảm xúc đều bị ông thận trọng gột xóa đi ngay. Song, dù sao thì dân tình quanh vùng đều biết được đôi điều, rằng ông là người đầu tiên cho triển lãm tranh của bác họa sĩ và, từ ngày có lệnh dẹp bỏ, rồi đóng cửa phòng tranh của ông thì ông dọn về ở tại Bleekenwarf đây. Ông mỉm cười hiền lành, nhổm dậy tiến tới bắt tay bố tôi, hỏi thăm đôi ba câu xem gió bên ngoài mạnh yếu thế nào, rồi lại quay về ngồi vào chỗ cũ, sau khi cũng đã mỉm cười, cúi đầu gật gật về phía tôi. Chú Jens, chú dùng trà hay làm ly rượu mạnh - bác Ditte cất tiếng hỏi bố tôi, rồi nói tiếp: Chứ tôi, thì tôi chỉ muốn làm ngay một ly.

Bố tôi phẩy tay. Không, hôm nay tôi không uống gì đâu, bố tôi nói, rồi không ngồi xuống chiếc ghế kê cạnh cửa sổ như mọi khi, không uống gì cả như mọi lần, không phàn nàn như mọi bữa về chứng đau bả vai ông bị từ dạo ngã xe đạp và cũng bỏ qua, không thông báo gì về các tin tức hay sự cố xảy ra trong vùng mà ông, cảnh sát viên Rugbüll, phải tường tận, từ chuyện ai đó bị ngựa đá hậu mà chấn thương nặng đến chuyện nhà nào mổ lợn, hoặc mổ bò chui, hay chuyện kẻ này kẻ khác cố tình gây hỏa hoạn chỗ nọ chỗ kia. Đến một lời chào hỏi từ Rugbüll ông cũng chẳng mang theo, ông cũng quên cả hỏi thăm bọn trẻ bác họa sĩ đón về nuôi trong nhà đây. Không, chị ạ, hôm nay tôi không uống gì đâu, bố tôi nói. Độc có thế.

Bố tôi không chịu ngồi. Ông xoa xoa đầu ngón tay lên túi áo ngực. Ông nhìn qua cửa sổ về phía xưởng vẽ. Ông lặng lẽ chờ đợi và cả bác Ditte lẫn Tiến sĩ Busbeck đều ngầm hiểu, bố tôi đang chờ bác họa sĩ với vẻ mặt buồn rầu, thậm chí hơi bồn chồn là khác - mặc dù thông thường, bố tôi có bao giờ để lộ cho ai biết ông đang bồn chồn hay nóng ruột đâu. Nói cách khác, công việc ông đang phải thi hành không để ông yên. Ánh mắt ông không dừng lại ở đâu cả, như mọi khi, mỗi khi ông bối rối, hoang mang và xúc động theo kiểu dân vùng Friesen; những lúc như thế, tuy ông chăm chú nhìn vào một ai đó, nhưng lại chẳng thấy người đó đâu, ánh mắt ông hướng vào đâu cũng trượt ngay sang chỗ khác, ngước nhìn lên, rồi lại lảng ra, khiến ông trở nên lạ lẫm, xa vời, và lẩn tránh mọi lời hỏi han của người khác. Cứ trông bộ dạng ông đứng giữa phòng khách rộng thênh thang, cứ trông cung cách miễn cưỡng, lúng ta lúng túng trong bộ sắc phục cảnh sát may thửa vụng về cũng như bắt gặp ánh mắt bối rối của ông, thì rõ ràng, cái tướng ông lúc này chả dọa nổi ai.

Sau lưng ông, chợt bác Ditte cất tiếng hỏi: Có chuyện gì với ông Max nhà tôi à, chú Jens? Và, lúc bố tôi, không quay người lại, chỉ gật gật đầu, thì ông Tiến sĩ Busbeck nhổm dậy, tiến đến gần nắm lấy tay bác Ditte, rồi rụt rè hỏi: Lệnh từ Berlin lên phải không ông?

Thoáng chút do dự, bố tôi quay người lại, ngạc nhiên nhìn người đàn ông bé nhỏ đang luống cuống như thể muốn xin lỗi vì đã cất tiếng hỏi câu hỏi đường đột và vô duyên. Có điều, dường như bất cứ lúc nào và bất cứ ở đâu, ông đều có vẻ như ăn năn, muốn xin tha lỗi như thế hết. Bố tôi không đáp, đúng ra là ông chả cần đáp nữa, vì qua cái cách hai người đứng im không nói gì như thế, cả bác Ditte lẫn ông bạn già của bác họa sĩ đều ngầm báo cho bố tôi biết, họ đã rõ mọi chuyện, họ cũng đoán được lệnh bố tôi mang đến là lệnh gì rồi.

Nhẽ ra lúc này bác Ditte cũng có thể gạn hỏi thêm xem trong lệnh viết những gì và bố tôi chắc cũng sẽ sẵn lòng, thậm chí còn nhẹ nhõm là khác, nói rõ cho bác ấy biết nội dung lệnh là gì, nhưng bác ấy không hỏi gì thêm. Ba vị lặng yên đứng bên nhau một lát, rồi ông Busbeck nói, như thể tự nói với mình: Thế là cũng đến lượt ông Max rồi đây. Tôi chỉ lạ, sao không sớm hơn, như với mọi người khác thôi. Trong lúc ba người rốt cuộc cùng tiến về phía ghế sofa thì bác Ditte bảo: Ông Max nhà tôi đang vẽ ngoài kia, bên bờ mương sau vườn ấy.

Bác vừa nói vậy, vừa quay đi và trong câu nói đã ngầm chứa luôn cả lời tạm biệt, cho nên bố tôi chẳng còn cách nào hơn là ra khỏi phòng khách, sau khi đã nhún vai như muốn phân trần, chính ông, phải, chính ông cũng lấy làm tiếc phải thi hành nhiệm vụ này và vụ việc nào có phải do ông tự bịa ra đâu. Ông giật chiếc áo choàng treo trên giá xuống, ẩy nhẹ tôi một cái vào lưng rồi hai bố con tôi theo nhau bước ra ngoài.

Dáng điệu có vẻ nhiều lo âu hơn là tự tin, bố tôi chậm rãi men theo bờ tường trơ trọi ở mặt tiền ngôi nhà. Ông đẩy cánh cổng dẫn vào vườn, đứng khuất ra sau hàng rào, rồi mấp máy môi, lẩm nhẩm thử nói vài câu, như mọi lần, mỗi khi ông e ngại, trong cuộc gặp gỡ sắp tới với ai đó, ông sẽ phải nói nhiều hơn mọi ngày. Đoạn, ông đi len vào giữa mấy luống đất đã được xới rồi vun lên gọn ghẽ và vượt qua ngôi nhà vườn lợp rơm tiến ra bờ mương - con mương nước lặng, lau sậy mọc bên bờ và bao bọc lấy Bleekenwarf, khiến vẻ cô tịch của khu nhà càng đậm thêm vậy.

Bác họa sĩ Max Ludwig Nansen đang ở đó.

Bác đứng vẽ trên chiếc cầu gỗ không có hàng lan can, ở nơi khuất gió. Bởi biết bác ấy chăm chú thế nào lúc vẽ, nên tôi không muốn làm bác ấy bị bất ngờ. Tôi mách bố tôi phải đánh động, bằng cách gõ nhè nhẹ ngón tay lên vai bác ấy. Cứ hườm hượm cái đã, rồi tôi khắc kể về cuộc gặp gỡ này, bởi đây không phải là cuộc gặp tùy hứng, ngày nào cũng diễn ra. Trước hết, tôi muốn kể thêm chút chi tiết râu ria, rằng bác họa sĩ hơn bố tôi tám tuổi, người thấp hơn, nhưng nhanh nhẹn và nóng nảy hơn, có lẽ cũng ranh mãnh và cứng đầu cứng cổ hơn, mặc dù thời trai trẻ của cả hai ông đều trôi qua ở chốn Glüserup. Gớm, lạy Chúa! Cái chốn Glüserup ấy!

Bác Max đội mũ, mũ dạ, kéo sụp xuống trán, khiến vành mũ che gần khuất đôi mắt màu xám của bác. Áo măng tô bác mặc đã cũ, lưng áo sờn; đó chính là chiếc áo màu xám pha xanh da trời với không biết bao nhiêu là túi, những cái túi rộng đến nỗi - như bác ấy đã có lần dọa tụi nhóc chúng tôi, nếu cứ phiền quấy, không để yên cho bác làm việc, thì bác sẽ nhét hết cả bọn vào túi cho nó nuốt chửng. Mùa nào, bác cũng đánh độc một chiếc áo khoác màu xanh xám ấy, bất kể trong nhà hay ngoài trời, mưa hay nắng, không khéo đi ngủ bác cũng vẫn mặc nó trên người cũng nên; nói cách khác, chiếc áo với bác thuộc về nhau như hình với bóng. Song, cũng có những lúc, vào đôi buổi chiều tà mùa hạ nào đó, những khi các đám mây trĩu nặng, kéo nhau hàng đàn hàng lũ về tụ tập rồi bay lững lờ lơ lửng trên bãi cát bùn ven biển, người ta lại có cảm giác như chỉ có chiếc áo choàng, chứ không phải bác Max, đang lững thững trên mặt đê ngắm nghía chân trời vậy.

Chiếc áo choàng trùm kín toàn thân, chỉ lộ ra ngoài một đoạn ống quần nhàu nát cùng đôi giày, kiểu cổ lỗ sĩ, nhưng rất đắt tiền, cổ cao đến mắt cá chân và viền nẹp bằng da thú rừng.

Chúng tôi đã quen bắt gặp bác họa sĩ như thế này rồi, có điều lần này, tôi nghĩ bụng, hẳn bố tôi sẽ thấy thanh thản trong lòng hơn nếu ông không phải đứng ở đó, sau bờ giậu trông ra, hay ít ra không phải làm cái việc ông sắp phải làm, hoặc đứng đó, nhưng trong túi áo ngực ông không nhét mảnh giấy oái oăm, cũng như, đứng đó mà không phải nhớ lại chuyện hồi xưa. Bố tôi lặng lẽ đứng nhìn bác họa sĩ. Chỉ nhìn thôi, không ráo riết, không soi mói bằng con mắt một cảnh sát viên.

Bác họa sĩ đang vẽ. Hình như, bác ấy đang cố vẽ cái cối xay gió đã đổ nát, đã trụi hết cánh quạt và đứng trơ trơ bất động giữa bầu trời tháng Tư. Hơi nhô lên khỏi bệ quay, cái cối xay gió trông giống như một bông hoa xấu xí, cắm trên cuống hoa cũn cỡn - vâng, giống như một thứ hoa bí hiểm nào đấy đang chờ lúc héo tàn. Bác Max Ludwig Nansen định vẽ nó, bê hẳn nó sang một thời khắc khác, đặt nó giữa một bối cảnh khác, chen nó vào khung cảnh hoàng hôn chạng vạng hiện lên trong bức tranh. Và cũng như mọi khi, trong lúc tay bác vẽ, bác vẫn nói luôn mồm, không phải độc thoại với chính mình, mà chuyện trò với một gã tên là Balthasar nào đó đứng cạnh bác, anh bạn Balthasar vô hình của bác, một người chỉ mỗi mình bác nhìn thấy, chỉ mỗi mình bác trò chuyện, tán gẫu hay cãi vã được mà thôi; thỉnh thoảng bác còn huých vào sườn gã một cái, mạnh đến mức đứng bên ngoài, chúng tôi - dù chẳng thấy ông Balthasar, nhà phê bình tranh vô hình ấy đâu - bỗng dưng vẫn nghe thấy tiếng ông ta rên lên vì đau đớn, hay nếu không phải tiếng rên rỉ, thì cũng là một tràng văng tục kéo dài. Càng đứng lâu sau lưng bác họa sĩ, chúng tôi càng tin ông Balthasar đó có mặt ở đâu đây thật. Chúng tôi buộc phải tin như thế, bởi chúng tôi có thể nghe thấy rõ mồn một hơi thở hay tiếng xuýt xoa tiếc rẻ của ông ta. Và, cũng bởi vì bác họa sĩ không bao giờ ngừng chuyện trò với ông ta, sẵn lòng tin cậy ông ta, nhưng cũng lại bực bội ngay đấy vì đã cả tin nghe lời ông ta. Ngay cả bây giờ, lúc bố tôi đứng nhòm nhòm ngó ngó bác, bác ấy vẫn không ngớt lời cãi cọ với ông Balthasar; ông này - trên các bức tranh ông bị giam hãm - khoác áo lông chồn bù xù màu tím, mắt xếch, để râu màu da cam nóng bỏng và, từ bộ râu kỳ dị ấy, những giọt màu nung đỏ đang nhỏ giọt xuống. Tuy nhiên, bác họa sĩ chả mấy khi ngoái lại sau canh chừng ông Balthasar, bác bị lôi cuốn vào công việc của bác, hai chân hơi dạng ra, từ hông trở lên, thân người bác uyển chuyển, ngả sang hai bên, ưỡn ra trước, thụt ra sau đều nhẹ nhàng, và trong khi đầu bác ở tư thế nghiêng nghiêng một bên, lắc lư, vươn ra thụt vào, trông cứ như đầu búa hơi nâng lên giáng xuống, thì cánh tay phải của bác trông lại cứ như bị trúng phong, cứng đơ một cách quái lạ, vâng, mọi cử động đều khó nhọc, như đang phải chống lại một lực cản tinh vi bất thường nào đó vậy. Nhưng, dù cánh tay quan trọng bác dùng để vẽ này có vẻ như bị cứng đơ một cách kỳ lạ thế, thì toàn thân bác họa sĩ lại vẫn uyển chuyển cùng từng nét vẽ như thường.

Điệu bộ lạ lùng của bác như thể khẳng định và xác minh những gì bác vừa sáng tác. Và, vào một ngày lặng gió, nếu bác ấy có định tạo gió trong tranh, cho nó nổi lên giữa màu xanh da trời và màu xanh lá cây thì lập tức, người ta sẽ có thể nghe thấy tiếng lao xao của những hạm thuyền huyền ảo trong không trung, nghe tiếng cánh buồm phần phật và thậm chí mép áo choàng bác đang mặc cũng bay bay theo gió và, nếu lúc đó bác đang ngậm tẩu, thì khói thuốc bay lên sẽ bị tạt ngay sang một bên. Vâng, nói gì thì nói, cứ nhớ lại những giây phút như thế, bao giờ tôi cũng có ngay cảm giác đó.

Đúng thế, bố tôi lặng lẽ đứng nhìn bác họa sĩ vẽ tranh; ông cứ đứng như thế một lúc lâu, đầy vẻ do dự và chán nản, mãi đến khi, hình như ông cảm thấy những ánh mắt nhìn ra từ phòng khách trong nhà, nơi hai bố con chúng tôi vừa ra khỏi, như đang xoáy vào chúng tôi, thì hai bố con tôi mới chầm chậm bước dọc theo hàng giậu, và - trong lúc vẫn bị những ánh mắt từ trong nhà nhìn ra bám riết - chúng tôi chọn một khe hổng hẹp chui ra ngoài, đúng ngay một đầu chiếc cầu gỗ không có hàng lan can.

Bố tôi ngó xuống mương và nhận ra bóng mình giữa lác đác những dải lá sậy cùng lốm đốm bèo cám nổi lềnh bềnh. Và bác họa sĩ, lúc bước sang một bên để nhìn xuống mặt nước gạn lăn tăn, cũng nhận ra bố tôi. Hai người nhìn thấy nhau và nhận ra nhau qua bóng chiếu xuống mặt mương tối om om và, chẳng biết đâu được, việc họ nhận ra nhau như thế, nhanh như chớp, đã làm sống lại một kỷ niệm từng gắn bó hai người và chắc chắn sẽ mãi mãi gắn bó họ với nhau - một kỷ niệm đưa họ quay về bến cảng con con và tiều tụy ở Glüserup, nơi hai người từng nấp câu cá sau con đê chắn sóng - dựng bằng đá hộc, hoặc nhào lộn trên mặt cống ngăn nước thủy triều hay nằm ườn phơi nắng trên boong con thuyền câu tôm đã bạc thếch do phơi nắng dầm sương. Song, chưa chắc đó đã là những hình ảnh khiến hai người, khi nhận ra nhau qua hình bóng mình phản chiếu trên mặt nước mương, bất chợt nhớ đến; kỷ niệm mà hai người nhớ đến lúc này, có phần chắc, là làn nước ngầu đục ở bến cảng vào một ngày thứ Bảy, khi bố tôi - lúc bấy giờ mới chín mười tuổi gì đó chứ mấy - trượt chân, ngã từ trên cửa cống điều chỉnh thủy triều xuống nước, và bác họa sĩ lao xuống theo, lặn đi lặn lại mãi mới túm được vạt áo, và buộc lòng phải bẻ gãy một ngón tay bố tôi, trong lúc cùng đường tuyệt vọng, bấu cứng lấy bác để thoát thân, và nhờ thế, mới cứu được bố tôi thoát khỏi chết đuối.

Vâng, hai người tiến gần lại nhau, cả trên mặt cầu lẫn trên mặt nước con mương chảy dưới cầu, bắt tay nhau cả dưới mặt nước lẫn trên cầu, bên giá vẽ, cất tiếng chào hỏi nhau như mọi lần, tức là hai ông gọi tên nhau, với giọng hơi cao lên như người này muốn hỏi người kia vậy: Ông Jens? Ông Max? Rồi, trong khi bác Max Ludwig Nasen đã quay lại với công việc đang dở tay, bố tôi thọc tay vào túi áo ngực, lồi mảnh giấy trong đó ra, kẹp nó giữa hai ngón tay, vuốt vuốt cho phẳng và do dự đứng sau lưng bác họa sĩ, đắn đo nghĩ ngợi xem nên mở đầu thế nào. Có lẽ ông đang nghĩ, thôi thì cứ lẳng lặng trao tờ lệnh đã đóng dấu và có chữ ký cho ông ấy, cùng lắm chỉ cần nói thêm: Có cái này, họ gửi từ Berlin cho ông. Rõ ràng, ông thầm mong, nếu cứ để yên cho bác họa sĩ tự mình đọc tờ lệnh cái đã, thì chắc ông sẽ không bị hỏi han, căn vặn gì thêm. Mẹ kiếp, giá ông có thể giao hết việc này cho ông già đưa thư Okko Brodersen cụt tay thì có phải hay biết mấy không; nhưng cái lệnh cấm của khỉ này thuộc loại công văn buộc cảnh sát phải đích thân tống đạt tận tay người nhận, cho nên rốt cuộc việc lại rơi vào tay bố tôi, là viên cảnh sát đảm nhiệm chốt Rugbüll, mới khổ. Đã thế, bố tôi còn phải thông báo cho bác họa sĩ biết, rằng chính ông lại được chỉ định làm người giám sát việc thi hành lệnh cấm nữa kia.

Thành ra, tay cầm tờ lệnh đã mở sẵn trên tay, bố tôi đứng tần ngần như thế mất một lúc. Ông đưa mắt nhìn cối xay gió, rồi lại nhìn vào bức tranh, đoạn, quay lên cối xay gió, sau đó lại nhìn bức tranh. Ông ngẫu nhiên sán lại gần hơn, bây giờ thì nhìn từ bức tranh, ngước lên cối xay gió, trở lại bức tranh rồi lại nhìn lên cối xay gió cụt cánh, nhưng có vẻ không tìm thấy cái ông muốn tìm trong đó: Thế này là thế nào, hả ông Max? Bác họa sĩ bước sang một bên, vừa nói vừa chỉ tay vào Anh Bạn Lớn của cối xay gió: Anh Bạn Lớn của cối xay gió đấy, rồi cho thêm ít màu tối lên gò đất xanh màu cỏ. Bây giờ chắc bố tôi cũng đã nhận ra Anh Bạn Lớn của cối xay gió, lẳng lặng và sạm nâu, đang nhô lên ở chân trời - ông lão hiền lành, râu dài như một vị tiên ông, một sinh vật đầy vẻ khinh suất thiện lành, kỳ diệu sao, cứ vậy mà lớn phổng lên thành gã khổng lồ. Các ngón tay màu nâu, nhuốm đỏ của ông lão cong lại, trông như thể lão sắp búng nhẹ một cái lên một trong những cánh quạt mà hình như lão vừa tự tay mắc lên cối xay gió. Lão hẳn sẽ quay các cánh quạt, hiện đang nằm chìm sâu trong màu xám chết chóc phía dưới lão, khiến chúng quay trở lại, thật nhanh, mỗi lúc một nhanh, cho đến khi chúng sẽ cắt lớp dần bóng tối, vâng, cho đến khi chúng khắc vẽ nên một ngày sáng sủa, với nhiều ánh sáng hơn trước mắt tôi. Các cánh quạt sẽ dẹp được bóng tối, chắc chắn thế, bởi nét mặt ông lão đã chuyển sang vẻ hả hê, cho thấy rõ ông lão ngái ngủ này đã bắt tay vào việc gì hẳn sẽ làm xong việc đó. Mặc dầu cái ao cạnh cối xay gió ngả sang màu tím tỏ vẻ hoài nghi, nhưng mối hoài nghi này chắc chắn vô căn cứ và Anh Bạn Lớn của cối xay gió sẽ xua tan mối hoài nghi đó thôi.

Hết thời rồi, bố tôi nói, nó chẳng quay được nữa đâu. Nhưng bác họa sĩ khăng khăng: Ngày mai nó khắc quay, ông Jens ạ, ông cứ đợi đấy; mai ta xay hạt anh túc, xay cho nó bốc khói lên ấy chứ. Bác dừng tay, châm tẩu rồi nghiêng đầu sang bên này, nghiêng đầu sang bên kia ngắm nghía bức tranh. Không nhìn sang bố tôi, bác chìa cái bọc đựng thuốc cho ông. Rồi, cũng không nhìn xem bố tôi có nhồi tẩu hay không, bác lại nhét bọc thuốc vào túi áo choàng thùng thình không đáy. Bác lại nói: Ở đây còn thiếu chút giận dữ, ông nhỉ? Còn thiếu màu lục sẫm, thiếu màu giận dữ, thêm nó vào, cối khắc lạch cạch xay cho mà xem.

Bố tôi cầm bức thư trên tay, áp vào người, che nó đi theo bản năng và hẳn ông đang đắn đo, chờ gặp đúng dịp sẽ chìa nó ra, chứ tự ông, ông không dám đường đột. Ông chỉ nói: Ông ơi, chẳng còn gió nào quay nổi cái của nợ ấy nữa đâu, có giận dữ, thịnh nộ đến mấy cũng thế thôi. Bác họa sĩ bình thản đáp: Nó khắc xay, rồi ông xem, sáng mai, cánh quạt khắc sẽ quay.

Giá bác họa sĩ không quả quyết như thế, thì có lẽ bố tôi sẽ lần chần còn chán. Nhưng nghe nói vậy, ông chợt duỗi tay ra, rồi vừa chìa bức thư cho bác họa sĩ, vừa nói: Đây, ông Max, có cái này từ Berlin đây. Ông đọc ngay đi. Bác họa sĩ hờ hững đón bức thư từ tay bố tôi rồi nhét biến nó ngay vào túi áo choàng, đoạn bác quay về phía bố tôi, chạm vào vai rồi ẩy một cái và nói, mắt nheo nheo: Đi, ông Jens, ta chuồn thôi, lúc tay Balthasar vẫn luẩn quẩn trong cối xay kia. Tôi mới có chai gin, uống vào không khéo xoắn cả lưỡi. Rượu gin, lạy Chúa, không phải gin Hà Lan, mà gin Thụy Sĩ ông ạ, có tay bảo tàng bên Thụy Sĩ đem biếu tôi. Đi, ông vào xưởng vẽ với tôi.

Nhưng bố tôi không đi. Hai ngón tay vẫn kẹp vào nhau, ông chỉ vào túi áo khoác bác họa sĩ: Bức thư này - ông ngập ngừng trong giây lát, rồi tiếp - Ông Max, ông phải đọc ngay đi. Thư Berlin đấy. Rồi, hình như thấy chỉ nói miệng không đủ, ông bước một bước về phía bác họa sĩ, chắn ngang cầu và lối về nhà. Bác họa sĩ nhún vai, lôi lá thư từ trong túi áo ra, đưa mắt đọc hàng chữ ghi tên người gửi ngoài phong bì - như thể cốt chỉ chiều lòng bố tôi thôi - rồi bình thản gật đầu nói khinh khỉnh: Cái bọn đến ngu. Đoạn, bác liếc nhanh sang nhìn bố tôi và vẻ mặt bố tôi có vẻ làm bác phải ngạc nhiên, vẫn đứng nguyên trên cầu, bác lôi lá thư ra đọc. Và, bác đọc rất lâu - vâng, ý tôi nói là đọc rất chậm, mỗi lúc một chậm thêm - đọc xong, bác lại nhét nó vào trong túi áo choàng, và so người lại, quay mặt ngoảnh ra chỗ khác, ra dải đất bằng phẳng phơi mình trước gió, sang cối xay gió, như thể bác đang muốn tìm một lời khuyên từ đâu đó, từ trận đồ bát quái của chằng chịt những con mương với kênh đào, từ các bờ đất nhấp nhô lởm chởm, từ con đê hay từ những khóm nhà kiêu hãnh. À, mà nói là nói vậy thôi, chứ không khéo bác ấy ngoảnh nhìn ra chỗ khác, chỉ cốt khỏi phải nhìn bố tôi mà thôi.

Lệnh này, không phải tôi ban ra, bố tôi nói, và bác họa sĩ đáp: Phải! Tôi biết. - Có muốn, tôi cũng chẳng làm được gì, bố tôi lại nói. Phải! Tôi biết, bác họa sĩ đập đập tẩu thuốc vào gót giày cho văng tàn thuốc ra: Trong ấy viết những gì tôi hiểu cả, riêng có chữ ký của ai thì nhận không ra. - Ở đấy, họ bận ký đủ thứ giấy tờ, đâm ra vậy, bố tôi đáp; bác họa sĩ liền nổi cáu: Cái lũ đần độn, chính chúng nó cũng chẳng hiểu chúng nó làm trò gì: Cấm họa! Cấm hành nghề! Rồi cấm cả ăn, cấm cả uống nữa chắc! Lệnh liếc thế này, thảo nào không đứa nào dám ký rõ tên rõ tuổi. Nói rồi, bác cúi đầu trầm ngâm ngắm nghía Người Bạn Lớn của cối xay gió, như thể muốn xem lại cho chắc, xem ông lão còn ở đấy không, ông lão màu nâu tài ba - nếu không hôm nay chưa được thì ngày mai - sẽ đủ sức làm các cánh quạt lạch cạch quay. Bằng một giọng rất chi quan cách, bố tôi nói chen vào giây phút trầm ngâm ấy của bác: Nhận được lệnh này phải thi hành ngay; có đúng trong thư ghi như thế không, ông Max? Bác họa sĩ ngạc nhiên: Phải, trong thư ghi đúng như thế. Và, bố tôi tiếp lời, khẽ khàng nhưng đủ nghe: Thì tôi đã bảo phải thi hành ngay mà lại!

Bác họa sĩ xếp dụng cụ đồ nghề của bác lại, xếp một mình, không nhờ viên cảnh sát chốt Rugbüll giúp một tay. Nhưng, trông bộ điệu bác, thì có vẻ như bố tôi có muốn giúp, chắc gì bác đã chịu. Hai ông theo nhau chui qua hàng giậu, rồi khó nhọc băng qua hết khu vườn.

Họ đi về phía xưởng vẽ, cái xưởng vẽ do bác họa sĩ xây áp vào căn nhà chính đúng như ý bác muốn; xưởng chỉ cao đúng một tầng, cửa sổ trổ trên nóc nhà, với năm mươi nhăm ngóc ngách và xó xỉnh, giữa bao nhiêu là tủ đứng cũ kỹ cùng giá xếp sách đầy ứ ự, lại còn cơ man nào giường tầng, đệm cứng và tạm bợ, là nơi, đôi khi tôi đinh ninh thế, tất tật các nhân vật vui nhộn hay hung dữ do bác họa sĩ bịa ra tìm đến nghỉ đêm, đám thầy bói vàng khè, tụi buôn tiền đổi bạc, mười hai vị sứ đồ, hay lũ yêu tinh cùng bọn nhà buôn láu cá và xanh lè. Cả đám dân Slovene lẫn các vũ công bãi biển cũng ở đây, và đương nhiên, còn những người làm ruộng lom khom vì gió nữa, hình như họ đều trọ qua đêm ở đây cả. Thật tình mà nói, tôi chưa bao giờ đếm hết số giường nằm như thế trong xưởng vẽ. Thế nhưng, dựa vào vô số ghế băng dài với ghế vải dã ngoại mở ra gập vào được ấy cũng có thể đoán được, rằng cả đống những bóng người những con vật lấp lánh lân quang, kể cả những người đàn bà sa đọa, tóc vàng, mặt mày đờ đẫn, mà bác họa sĩ từng phóng thích từ óc tưởng tượng của bác ra kia, đều đã ngồi quây quần ở đây. Họ kê các thùng gỗ làm bàn, trên bàn đặt không biết bao nhiêu là lọ mứt cũ, chậu sành nặng nề dùng làm lọ hoa. Số chậu hoa nhiều đến nỗi, có lẽ phải cắt trụi cả khu vườn nào đó mới đủ hoa mà cắm; thế nhưng cứ bao giờ vào xưởng vẽ, tôi đều thấy lọ nào lọ nấy đầy hoa - mỗi bàn một bó, khoe màu lộng lẫy.

Trong góc nhà, cạnh chậu nước và đối diện cửa ra vào, là chiếc bàn dài: đây là nơi nặn đồ gốm. Trên một cái kệ kê trên mặt bàn, hàng loạt hình người đầu nhọn nặn bằng đất đang nằm phơi.

Hai ông bước vào xưởng vẽ, trút bỏ đồ nghề rồi bác họa sĩ đi lấy chai rượu gin trong thùng gỗ ra. Bố tôi vừa ngồi xuống, đã đứng ngay lên, vội cởi bỏ áo choàng rồi lại ngồi xuống. Ông nhìn sang mấy khung cửa sổ hẹp bên căn nhà chính. Các khung cửa này hơi vồng ra phía trước như muốn ôm chặt mọi thứ ở bên trong. Có tiếng vỏ bào lạo xạo trong cái thùng gỗ, rồi tiếng giấy bọc bị xé toạc và sau cùng là tiếng lệt sệt trên nền xưởng vẽ. Bác họa sĩ lôi chai rượu ra, đưa lên soi nhìn đối sáng, rồi hạ xuống chùi chùi cái chai lên áo choàng bác đang mặc, trước khi đưa chai lên soi trước ánh sáng lần nữa. Với vẻ rất hài lòng, bác đặt chai rượu xuống bàn, khéo léo nhón lấy hai ly thủy tinh từ trên giá xuống - hai ly thủy tinh dày dặn, màu xanh lá cây và chân rất dài. Bác rót rượu ra ly, trông có vẻ hơi lóng ngóng hơn mọi ngày, đẩy một ly về phía bố tôi rồi nâng ly mời uống.

Tôi nói đúng chưa? bác họa sĩ cất tiếng hỏi khà khà, ngay sau lúc hai người vừa cạn ly. Bố tôi gật gù: Phải, ông Max, ông nói phải! Khiếp thật! Bác họa sĩ lại rót đầy hai ly rồi vươn người cất cái chai lên một ngăn giá thật cao, để lần sau, nếu có muốn, cũng phải khó nhọc mới lấy xuống được. Rồi, hai người lặng lẽ ngồi mặt đối mặt nhau, rất chăm chú, nhưng không ra vẻ rình rập nhau gì cả. Họ nghe tiếng gió ầm ầm thổi phía trên nóc nhà rồi chui vào lò sưởi, xuống dò la đến tận dưới nền. Ngoài sân, cơn gió thổi tung một bầy chim sẻ lên trời, bắt chúng phải trà trộn vào đàn chim sáo đang lúc bay qua. Hai ông ái ngại, không biết gió máy thế này, liệu nóc nhà, nóc trại có sao không. Trong không trung phảng phất một mùi khen khét khó tả, nhưng quen thuộc với hai ông, họ yên chí bảo nhau, mấy vị dân Hà Lan đang đốt than bùn. Bác họa sĩ không nói không rằng chỉ vào ly rượu của bố tôi. Hai ông nâng ly uống một hơi, rồi bố tôi đứng dậy; trong người bừng bừng hơi ấm rượu gin, ông đi tới đi lui từ chỗ cái bàn đến giá sách kê ở góc một lúc, rồi đứng lại, ngước nhìn lên bức tranh Pierrot thử mặt nạ một lát, đưa mắt lướt từ bức Buổi tối của bầy ngựa non sang bức Người đàn bà bán chanh một lượt, rồi quay lại bàn, trong bụng biết chắc mình định nói gì rồi. Không chỉ hẳn vào bức tranh nào, ông vung tay một vòng rộng chỉ về phía các bức tranh, rồi nói: Ở Berlin họ tính cấm mấy tấm tranh này đấy. Bác họa sĩ nhún vai: Cũng còn khối thành phố khác. Còn Kopenhagen, Zurich, còn London, còn New York. Còn cả Paris nữa chứ! - Cơ mà Berlin vẫn là Berlin, bố tôi nói. Lát sau, ông nói tiếp: Chứ ông, thì ông bảo sao, ông Max? Sao họ lại đòi bắt ông thôi không vẽ vời gì nữa? Bác họa sĩ ngập ngừng mất một lúc mới đáp: Có nhẽ vì tôi lắm lời quá. - Sao, lắm lời? Ông mà lắm lời?, bố tôi ngạc nhiên.

Màu sắc, bác họa sĩ đủng đỉnh, màu sắc bao giờ cũng lắm chuyện. Đôi khi, chúng nó còn quả quyết sự thật này, sự thật khác nữa kia. Ai mà lường được màu với sắc ấy. Trong thư còn viết thêm gì nữa kia, bố tôi nói: Có viết cái gì đó về chất độc thì phải. - Tôi biết, bác họa sĩ mỉm cười chua chát. Ngừng một lát, bác nói tiếp: Bọn họ không ưa chất độc. Nhưng, pha một ít chất độc, lại cần. Nó làm mọi thứ minh bạch ra. Nói rồi, bác kéo một bông hoa xuống, bông tuy líp thì phải, búng tay nhẹ vào các nhánh hoa, giống như Người Bạn Lớn của cối xay gió búng vào các cánh quạt của cối xay vậy. Bác búng, hay dùng ngón tay trỏ gạt sạch các cánh hoa rồi lại buông cuống hoa đã trụi bông cho nó ngỏng lên. Bác liếc nhìn chai rượu, nhưng không với nó xuống nữa. Hẳn bố tôi cũng cảm thấy ông còn nợ bác họa sĩ một lời giải thích, nên cất tiếng phân trần: Ông Max, ông cứ tin giúp tôi, những trò này không phải do tôi đặt ra. Tôi chả dính dáng gì đến chuyện cấm đoán hành nghề thế này. Họ lệnh cho tôi mang thư trao tận tay ông thôi.

Tôi biết, bác họa sĩ nói. Rồi tiếp: Cái bọn đến là điên, đến là khùng ấy! Chúng nó làm ra bộ không biết rằng không thể cấm người ta vẽ được hay sao? Phải, chúng nó có thể có quyền, có thế, để làm được nhiều trò, có thể ngăn cấm chuyện này chuyện nọ thật đấy. Thế nhưng làm sao ngăn cấm người ta vẽ được ?! Ngày xưa, còn xưa hơn tụi chúng nó nhiều, cũng đã có bọn toan cấm đoán như thế. Chúng nó chỉ cần giở sách ra mà đọc lại thì khắc biết: từ xưa đến giờ chưa có cách nào chống lại các bức tranh “khó ưa” cả! Có đày người ta đi biệt xứ, có chọc mù mắt người ta đi, cũng không cấm được con người ta vẽ tranh, đến chặt cả hai tay họ đi, người ta vẫn cắn bút vào răng mà vẽ tiếp kia mà. Cái bọn chúng nó sao mà ngu đến thế! Chúng nó làm ra vẻ không biết, ở đời còn có cả các bức tranh vô hình nữa hay sao?

Bố tôi đi vòng vòng quanh cái bàn bác họa sĩ đang ngồi, đi vòng quanh nhưng không hỏi gì thêm, chỉ nhắc lại, cho chắc ăn: Gì thì gì, lệnh cũng ban rồi, ông Max ạ. Khỉ thế! - Phải, ban rồi, bác họa sĩ đáp: Nhưng ban là ban ở Berlin chứ. Nói rồi, bác chăm chăm nhìn bố tôi, nhìn không giấu giếm, nhìn thẳng, nhìn xoáy hỏi, nhìn không rời mắt khỏi bố tôi, như thể muốn buộc bố tôi phải tự nói ra cái điều mà bác đã thừa biết từ lâu. Và, hẳn bác cũng nhận ra một sự thật, rằng bố tôi, nói cho cùng, phải khó nhọc mới thốt lên được: Vâng, ông Max, họ giao tôi trông coi thi hành lệnh. Tôi nói trước thế, để ông biết.

Ông hả? bác họa sĩ cao giọng hỏi. Bố tôi đáp: Vâng! Tôi! Vì tôi đóng gần đây nhất.

Hai ông nhìn nhau, ông này ngồi, ông kia đứng, lặng lẽ lượng sức nhau trong giây lát; cũng có thể, họ đang lục lại trong đầu những gì lâu nay họ biết về nhau và thử hình dung, xem sắp tới đây, họ sẽ phải đối xử với nhau thế nào, hoặc ít ra cả hai đều đang tự hỏi, từ nay họ sẽ phải nói năng, trò chuyện với nhau ra sao, nếu chẳng may có chạm trán nhau đâu đó. Trông cái lối họ đứng đối diện và dò xét nhau như thế, tôi nghĩ thầm, hai ông đang dựng lại một bức tranh của bác họa sĩ, bức Hai người bên hàng rào, vẽ hai ông già đứng nhìn nhau, dò xét, giữa nền màu xanh ô liu. Hai người - do vườn người này cạnh vườn người kia - nên chắc phải quen biết nhau từ lâu, song, mãi đến thời điểm này, mới giật mình, giữ thế, trước sự hiện diện của người kia. Nhưng dù sao, khi bác họa sĩ rốt cuộc cất tiếng hỏi thì tôi cứ bụng bảo dạ, có lẽ bác ấy định hỏi chuyện gì khác cơ: Thế ông định làm thế nào, ông Jens? Ông định giám sát tôi thế nào? Đến lúc này, bố tôi đã cố tình tảng lờ cái giọng thân mật ẩn trong câu hỏi đó. Ông chỉ lạnh lùng đáp: cứ đợi đấy, rồi ông khắc biết thôi.

Bác họa sĩ liền đứng dậy, nghiêng nghiêng đầu và chằm chằm mắt nhìn bố tôi, như thể nhìn như thế, bác sẽ lường trước được các ngón bố tôi nay mai sẽ tung ra thi thố vậy. Đến lúc bố tôi thấy đã tới giờ ông phải lấy áo choàng trùm lên người, dạng hai chân và cúi người tìm cách kẹp mép áo vào nhau thì bác họa sĩ mới cất tiếng: Bọn trai Glüserup chúng mình, hả? Lạnh lùng, không buồn ngẩng cả đầu lên, bố tôi đáp: Đến cả bọn trai Glüserup chúng mình, cũng chẳng làm gì khác được. - Thế hả! Thế thì ông cứ liệu mà để mắt canh tôi cho kỹ, bác họa sĩ nói. Còn bố tôi: Được thôi! Sẽ như thế! Nói rồi, ông chìa tay cho bác Max Ludwig Nansen. Bác lắc lắc tay bố tôi, nhưng không buông ra ngay, mà cứ thế, tay trong tay, đẩy bố tôi ra đến cửa. Đến trước cánh cửa dẫn ra vườn, họ mới buông tay nhau. Bố tôi đứng áp lưng vào cánh cửa, như bị bác họa sĩ dồn vào đó vậy. Ông không thấy nắm cửa đâu cả, phải quờ tay ra sau lưng mấy lần, khoảng gần ngang hông, mãi mới nắm được nó để ấn xuống, quay lưng thoát khỏi bác họa sĩ, bước ra ngoài.

Cơn gió kéo bố tôi bật khỏi khung cửa. Ông bất giác giơ hai tay lên cao, rồi dang rộng hai tay ra. Song, trước khi cơn gió Tây-Bắc kịp nhấc bổng ông lên, ông đã đưa vai ra chống lại và nghiêng người bước về nơi dựng chiếc xe đạp.

Phải dùng sức cưỡng lại cơn gió, bác họa sĩ mới đóng được cửa. Rồi bác bước đến khung cửa sổ trông ra sân. Bác định, hay đúng hơn là bác phải nhìn theo xem bố con tôi đi xa dần trong gió như thế nào. Có lẽ, đây là lần đầu tiên vậy, lần đầu tiên bác thấy cần phải nhìn theo cho chắc, xem bố tôi có thật rời khỏi Bleekenwarf hay không. Bởi vậy, bác mới chăm chú nhìn theo bố con tôi đang chật vật ra về như thế.

Tôi đoán chừng, bác gái Ditte và ông Tiến sĩ Busbeck cũng nhìn theo bố con tôi, cho đến khi chúng tôi đến sát ngọn hải đăng sơn vạch trắng vạch đỏ thì bác Ditte sẽ hỏi: Có lệnh rồi à? Và, không quay người lại, bác họa sĩ sẽ đáp: Có lệnh rồi! Tay Jens sẽ giám sát. Bác Ditte sẽ hỏi lại: Sao, chú Jens? Bác họa sĩ sẽ gật đầu: Phải. Jens Ole Jepsen, dân Glüserup. Chốt hắn ta đóng gần nhà ta hơn cả.

Hoàng Đăng Lãnh (dịch).
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.