Lỗ nhòm khoét ở cửa phòng giam bị bịt lại từ phía ngoài. Có cái gì nhoi nhói như kim châm dọc sống lưng làm tôi nghĩ ngay ở bên ngoài đang có người ghé sát mắt vào lỗ nhòm, nhìn soi mói, đúng hơn là dán ánh mắt lạnh lùng, vào lưng tôi, trong khi tôi vẫn cặm cụi viết không ngừng tay. Thật ra, tôi bắt đầu có cảm giác bị nhìn trộm sau lưng từ lúc tôi đang mô tả cảnh bố tôi cùng bác họa sĩ nâng cốc uống rượu rồi kia. Từ lúc đó, ánh mắt chăm chú, gây cảm giác buồn buồn như cát mịn chuồi trên lưng cứ bám đến là khó chịu vào gáy tôi, như không muốn rời ra nữa. Tôi còn nghe tiếng chân rón rén, tiếng suỵt, tiếng soạt lẫn cùng tiếng nô đùa cố nén bên ngoài phòng giam, khiến tôi phải nghĩ bụng, ngoài hành lang thông thống gió kia, có lẽ phải có đến hai trăm hai chục nhà tâm lý học chứ không ít, đang chen chúc nhau, nóng lòng muốn ngó xem tôi xoay xở thế nào với bài luận.
Bộ dạng tôi họ nhìn thấy qua lỗ nhòm chắc phải làm họ hồi hộp lắm, đến mức người này, người kia bất giác thốt lên những lời chẩn đoán, kiểu như “triệu chứng Bulzer” hay “ngưỡng tương thích khách quan”. Và, ai mà biết được, không chừng hàng dài rồng rắn ấy còn lết qua lỗ nhòm phòng giam của tôi đến tận giờ vẫn chưa hết lượt, nếu tôi không thô bạo tìm cách chấm dứt cái trò ngó nghiêng vụng trộm đó đi: vẫn với cảm giác buồn buồn sau gáy và nhoi nhói sau lưng, tôi lôi cái gương con con bỏ túi ra, bắt ánh đèn chiếu từ bóng điện trong phòng vào đấy, rồi bất thình lình hắt thẳng ra lỗ nhòm ở cửa. Tia sáng hắt ra ấy làm thông lỗ nhòm ngay lập tức. Bên ngoài có tiếng ai khẽ kêu lên, như để báo động, nhưng bặt đi ngay, đoạn có tiếng sột soạt, lạch cạch và tiếng bước chân, mỗi lúc một lộn xộn, của hàng người nối nhau rời ra xa. Tôi lại thấy dễ chịu ở sau lưng, tuyệt không thấy đau thấy nhói gì nữa cả.
Tôi hài lòng vuốt vuốt tay lên bìa quyển vở tập làm văn, đoạn, tôi rời khỏi bàn, làm ít động tác thể dục cho dãn gân dãn cốt. Đang lúc đó thì có tiếng chìa khóa nhét vào ổ, rồi cánh cửa bật ra và viên giám thị Joswig bước vào. Lão ta vẫn giữ vẻ bực dọc, không nói không rằng chìa tay ra đòi hỏi. Lão đòi tôi nộp bài luận; ông Himpel hay thầy Korbjuhn, chắc ông giám đốc Himpel thì đúng hơn, bảo lão ta đến thu bài của tôi. Tôi ra bộ ngạc nhiên, rồi làm bộ hốt hoảng và không thể không nhìn ông ta với vẻ trách móc, song viên giám thị đáng mến của chúng tôi chỉ hất đầu ra hiệu, bảo tôi nhìn ra cảnh hoàng hôn đang buông xuống sông Elbe, rồi nói: Cậu đưa của nợ ấy đây, để rồi còn ra khỏi đây chứ. Vừa nói ông ta vừa nhấc quyển vở của tôi lên, bẻ cong nó lại rồi dùng ngón tay lật lật các trang giấy để cầm chắc rằng tôi đã không ngồi chơi không.
Xong đâu đấy, lão ta nói, với giọng của một ông bố hài lòng về cậu con trai: Cậu thấy chưa, Siggi, nếu đã bỏ công bỏ sức ra thì việc khó mấy cũng xong, đến cả bài luận viết cũng còn xong nữa là. Lão ta đặt tay lên vai tôi có vẻ nể nang, mỉm cười và gật gật đầu. Theo lời lão, thì tôi đã viết một mạch suốt cả đêm. Lão cũng bảo, thế nào ông giám đốc cũng sẽ khen ngợi tôi. Lão nhìn tôi với vẻ biết ơn, và nói, lão sẽ thay mặt tôi đem quyển vở này nộp cho ông giám đốc. Nói rồi, lão quay người, đã toan bước ra cửa. Nhưng tôi lên tiếng, xin lão trả lại quyển vở cho tôi. Viên giám thị bối rối nhìn tôi, không hiểu tôi muốn gì; nét mặt lão còn lộ rõ vẻ ngờ vực là đằng khác. Lão nắm chặt quyển vở đã cuộn tròn lại trong tay, đưa nó lên cao và nói: Cơ mà Siggi, bây giờ cậu hết bị phạt rồi còn gì.
Tôi lắc đầu, nói: Không ạ, bây giờ mới bắt đầu, tôi nói. Bây giờ tôi mới chuẩn bị xong “niềm vui bổn phận”. Mọi sự chỉ mới bắt đầu thôi ạ!
Viên giám thị Karl Joswig lật lật mấy trang đầu, nhẩm đếm số trang rồi hỏi với giọng đầy ngờ vực: Cậu viết suốt cả đêm mà vẫn chưa xong? - Mới mở đầu thôi ạ, tôi đáp. Tôi mới vào đề, mới bắt đầu kể niềm vui đã hình thành ra sao thôi. - Cậu phải vào đề lâu như thế hay sao? - lão ta hỏi, giọng lại có vẻ bực dọc. Vâng, niềm vui bao giờ kéo cũng dài, tôi đáp rồi nói tiếp: Với lại, đã bị phạt thì phải chịu phạt cho nghiêm, đúng không ạ. Lão gật đầu. Chịu phạt tốt thì việc hối cải mới tốt được. Tôi tiếp lời: Vâng, thì tôi cũng nghĩ đúng như thế. Cậu biết tôi mong gì ở cậu rồi đấy, lão ta nói. Dạ, vâng, tôi đáp. Thế tức là cậu vẫn còn nợ tôi bài luận ra đầu ra đũa đấy, lão nói. Đã vậy, thì cậu cứ ở lại đây, bao giờ làm xong bài mới thôi vậy. Cậu ăn uống ở đây một mình. Cậu ngủ nghê ở đây một mình. Tự cậu, cậu phải biết, bao giờ cậu muốn ra khỏi đây nhập bọn với mọi người khác.
Rồi lão nhắc tôi phải nhớ ông giám đốc Himpel đã nói những gì, rằng ông giám đốc không ấn định bao giờ tôi phải viết xong bài luận, vân vân và vân vân, và, sau rốt, trước khi rời phòng giam đi lấy bữa ăn sáng cho tôi, lão trả quyển vở cho tôi và hạ giọng hỏi rất chân tình: Những chuyện này ám ảnh cậu lắm hả? - Chỉ là niềm vui bổn phận thôi ạ, tôi đáp.
Tiếc nhỉ, lão nói. Ngừng một lát, lão ta lại tiếp, rất khẽ, gần như thì thầm: Siggi, đáng tiếc thật đấy, đoạn lão miễn cưỡng thọc tay vào túi, lôi hai điếu thuốc lá cong queo cùng hộp diêm mỏng dính ra, ném cả lên giường tôi và nói buông thõng: Cấm hút thuốc trong phòng. - Vâng, tôi đáp. Rồi viên giám thị cũng rời khỏi phòng.
Còn tôi, ăn sáng xong, tôi cứ đứng mãi bên khung cửa sổ - có lắp lưới mắt cáo - dán mắt ngắm buổi bình minh đang lên trên sông Elbe, trên dòng sông mặt nước bị băng đóng kín ấy và dõi theo những chiếc tàu kéo hùng dũng cùng tàu phá băng “Emny Guspel” đang lướt qua, để lại những vệt cắt mở ngoằn ngoèo chưa được mấy chốc trên mặt nước đã bị băng bịt kín lại ngay. Những chiếc phao thả trên mặt sông bị băng trôi xô nghiêng ngả. Chân trời phía Cuxhaven mở ra một vầng sáng màu đất son và trên đó, những đám mây tuyết đang tụ dần lại. Ngọn lửa nhỏ và rách bươm của ống khói xưởng lọc dầu run rẩy bò ra dưới những ngọn gió thổi mỗi lúc một mạnh, mỗi lúc một giận dữ và đưa cả tiếng búa gõ trong xưởng đóng tàu về đến tận chỗ tôi đang đứng.
Trong các xưởng nghề của chúng tôi, cả trong thư viện trên đảo này nữa, là nơi thằng Ole Plötz - chuyên nghề móc túi - đang thế chân tôi, lũ bạn tôi hẳn đã bắt tay vào việc từ lâu. Song, chuyện đó không mảy may làm tôi động lòng, lúc này tôi không muốn gặp tụi bạn tôi chút nào, đến thằng Charlie Friedländer - cái thằng ai nó cũng bắt chước được, cái gì nó cũng nhại được cả, từ giọng nói đến điệu bộ, như giọng lão Korbjuhn hay điệu bộ lão Himpel chẳng hạn - tôi cũng chả thiết gặp lúc này. Tôi muốn ở lại đây, một mình thôi, một mình trong phòng giam mà tôi có cảm giác giống như cái cầu nhảy bật lên bật xuống, cái cầu họ bắt tôi phải ra nhún nhảy rồi cắm đầu lao xuống. Tôi phải lao xuống rồi lặn thật sâu, một lần, hai lần, lặn mãi, cho đến khi nhặt được hết các con bài domino ký ức để mang lên bờ và xếp cả lên bàn, lần lượt hết con này đến con khác mới thôi.
Lại thêm một chiếc tàu chở dầu chạy xuôi dòng Elbe. Đây là chiếc thứ sáu kể từ lúc tôi ăn sáng. Chiếc tàu hình như mang tên “Kishu Maru”, hay “Kushi Maru”, thì cũng thế cả. Rồi nó cũng sẽ cập bến thôi, giống như tàu “Claire B. Napassis” hay “Betty Oetker” qua đây trước nó. Chúng nổi cao trên mặt nước, cánh quạt chân vịt quay cả lên trên không trung, khuấy thành một thứ bầy nhầy cả nước lẫn băng. Chúng nó sẽ chạy qua Glückstadt và Cuxhaven, để rồi, đến ngang cù lao chúng tôi, tôi nghĩ bụng, chúng sẽ theo tuyến đường đã định sẵn chạy về phía Tây.
Song tôi chẳng muốn lên tàu, chẳng muốn bám tàu cập bến Dhara hay Caracas làm gì. Tôi không thể để mặc cho dòng nước hay tâm trạng của chính mình cuốn đi, bởi tôi cũng phải theo tuyến đường đã vạch sẵn cho tôi, tuyến đường dẫn về Rugbüll ấy, cập bến của ký ức, nơi mọi thứ đã bày biện, xếp sẵn cả ra đó, chỉ còn chờ chở mang đi nữa thôi. Vâng, các kiện hàng của tôi chất đống cả ở Rugbüll. Rugbüll chính là bến cảng tôi phải cập đến, hoặc chí ít cũng phải là Glüserup. Bởi thế, không thể buông bánh lái, mặc cho tàu trôi về đâu thì trôi được.
Bây giờ, khi dây neo tháo ra rồi thì mọi thứ lại xồ tới, mời gọi; và, sắp xếp lại mọi thứ mới nhẹ nhàng làm sao. Tôi chỉ việc trải vùng đất phẳng lì của quê tôi ra trước mặt, phác lên đó vài con mương hay kênh đào sẫm màu với đôi đoạn âu thuyền kiểu Hà Lan, vẽ thêm năm cái cối xay gió dựng trên năm gò đất nhân tạo, những cối xay gió mà từ trong kho nhà nhìn ra, tôi vẫn thường trông thấy; trong số đó, tất nhiên cũng có cả cái cối xay trụi cánh tôi yêu quý nhất. Sau đó, tôi vẽ thêm con đê, trông như cánh tay khuỳnh ra che chở cho những cối xay gió và các trang trại quét vôi màu trắng và nâu xỉn; ở phía Tây, tôi dựng ngọn hải đăng chớp đỏ lên trước khi cho sóng Biển Bắc tràn tới, đập vào dãy cột phá sóng, vỡ vụn, sủi bọt ra rồi mới lùi lại, một cảnh tượng mà bác họa sĩ ngồi trong túp lều bằng gỗ vẫn quan sát hàng giờ liền. Và, bây giờ, tôi chỉ cần men theo con đường hẹp lát gạch là đến được Rugbüll của tôi, hay nói đúng hơn, lần đến tấm biển “Chốt cảnh sát Rugbüll” trước đã, tấm biển mà dưới đó, tôi vẫn thường đứng chờ bố tôi, hay đôi khi, chờ ông ngoại hoặc chị Hilke tôi.
Mọi thứ như thể bày sẵn ra đó, nằm bất động chờ tôi. Miền đất trải rộng, ánh sáng gắt gao, con đường lát gạch, ao than bùn, tấm biển đóng bằng đinh lên cây cột bạc thếch vì mưa gió. Tất cả mới yên bình làm sao, các gương mặt, cùng cảnh tượng những thân cây cong queo, những thời khắc xế chiều khi gió lặng nổi lên từ đáy nước nhập nhòe. Vâng, mọi thứ theo nhau trỗi dậy trong ký ức; đây, tôi đang chân không đứng dưới tấm biển để quan sát bác họa sĩ, hay đúng hơn là quan sát chiếc áo choàng của bác ấy trên mặt đê, vạt áo gió thổi phất phơ nom kỳ cục về phía bán đảo. Trời đang lúc sang xuân, ở phía Bắc gió trời lạnh giá và đượm mặn vị muối, và lúc này, tôi đang nấp trong cái thùng xe cũ kỹ, bánh đã long hết cả và đòn kéo ngỏng lên trên, để rình chị Hilke tôi cùng với chồng chưa cưới của chị ấy sắp sang bên bán đảo nhặt trứng chim hải âu.
Tôi mè nheo xin chị ấy cho tôi đi cùng sang bên đó mãi nhưng không được, chị Hilke không chịu, cứ một mực khăng khăng: Việc này mày không làm được. Bởi thế, tôi đành chui vào đây, ngồi thu mình trên mặt sàn nứt nẻ của chiếc xe thùng, định bụng chờ hai anh chị đi qua rồi sẽ lẳng lặng bám theo, càng kín đáo càng hay. Bố tôi ở nhà, ngồi trong gian văn phòng chật hẹp mà tôi bị cấm không được vào; đang viết các bản tường trình, các tờ báo cáo, bằng thứ chữ tròn trịa, ngoằn ngoèo của ông, còn mẹ tôi thì khóa trái cửa ngồi một mình trong phòng ngủ - cái lối bà vẫn làm vào mùa xuân không may năm ấy, dạo chị Hilke lần đầu đưa chồng chưa cưới, tức là anh “Addi” - chị vẫn gọi anh chàng Adalbert Skowronnek của chị như thế - về nhà. Tôi nghe hai người ra khỏi nhà, rồi nhìn thấy họ lách người qua khe hở cạnh nhà kho để bước ra đường. Là người cầm trịch, không chịu thua ai bao giờ, chị Hilke đi trước như mọi khi, còn anh Addi, cũng như mọi khi, chân cẳng cứng đơ đơ, đi lùi lại sau một bước. Ý tôi muốn nói, hai người không tay nắm tay, không khoác eo - tức là người này không đặt chéo tay lên eo người kia - hai anh chị cũng có vẻ không nhấm nháy nhau chút nào và trong tiếng sột soạt của áo mưa họ mặc trên người, anh chị không ngoảnh lại, cứ thế rảo bước trên con đường lát gạch về phía bờ đê. Như thể biết có người đang chăm chú nhìn theo mình, hai người bước đi với dáng điệu đến là ngượng nghịu, chị vung tay vung chân thế nào, anh cũng vung tay vung chân y như thế, và cả hai dường như cố làm ra vẻ họ chỉ muốn đi nhặt trứng hải âu mà thôi. Lưng hai người thẳng đơ, bước chân nặng nề, cứ như mang giày đúc bằng chì không bằng và cố tình không chạm vào nhau - mọi sự như thế chỉ vì họ biết rèm cửa sổ phòng ngủ đang hơi động đậy, vén lên lại thả xuống, kéo ra rồi lại kéo vào.
Tôi biết thừa mẹ tôi đang đứng ở đó. Tôi biết bà đang ngó xuống, ánh mắt đầy vẻ chê bai và trong lòng anh ách tức tối, theo kiểu của riêng bà - môi mím chặt, đầy kiêu ngạo, gương mặt bất động, nghiêm nghị và rựng đỏ. Đồ dân Digan, bà đã khẽ rít lên với bố tôi như thế, với vẻ đầy kinh dị, khi bà biết anh Addi Skowronnek là nhạc công kéo phong cầm, tại cùng khách sạn Pazifik ở Hamburg với chị Hilke, là nơi chị ấy làm hầu bàn. Đồ Digan, bà nói rồi vào phòng ngủ, khóa trái cửa lại. Vâng, đó chính là bà Gudrun Jepsen, một trong hai cột trụ chống đỡ đời tôi, tức thân mẫu tôi vậy.
Tôi cứ nằm yên trong thùng xe, áp má xuống sàn, co một chân lại. Tôi chăm chú nhìn tấm rèm cửa sổ và lắng nghe tiếng người nói mỗi lúc một rời xa về phía bờ đê, vâng, về phía biển. Chờ đến lúc không thấy có gì động đậy ở khung cửa sổ phòng ngủ nữa và tiếng người nói cũng rời rất xa rồi, tôi mới nhổm dậy, nhảy ra khỏi thùng xe rồi lủi ngay xuống con hào đào dọc lối đi, lom khom lần theo hai anh chị tôi.
Chị Hilke xách giỏ trên tay, dáng đi lúc này hơi chúi về phía trước, như thể đang định lấy đà nhảy một cú vọt ra khỏi khu vực nhà tôi vậy. Đôi giày vốn đã trắng, chị còn bôi bột phấn cho trắng thêm, bây giờ nổi bật trên mặt đường lát gạch đỏ. Mớ tóc dài ở trong nhà chị thường vẫn để xõa, nay chị nhét vào trong cổ áo khoác, nhưng nhét không đủ chặt và không đủ sâu, cho nên mớ tóc lại đùn lên, sổ một phần ra ngoài cổ áo, khiến từ đằng sau trông chị cứ như người rụt cổ và đầu chị trông giống như quả cầu dẹt vậy. Hai chân chị áp hơi sát vào nhau, hai bắp chân chắc nịch cứ như hơi lệch vào phía trong, thỉnh thoảng cọ vào nhau khiến chị chuệnh choạng như muốn vấp ngã đến nơi. Nhưng chị chẳng thấy làm sao! Mà chị có bao giờ thấy làm sao đâu! Vì, có lẽ, trong bước đi của chị cũng chứa đầy nhiệt huyết điên cuồng và không ngừng nghỉ như trong mọi việc chị làm, hay định làm. Giống như con kiến, vâng, đúng loài kiến lửa. Chị không nhìn quanh, dù chỉ một lần, xem xung quanh có gì lạ không, trong khi anh Addi, anh nhạc công chơi phong cầm, chốc chốc lại ngoái nhanh về phía sau, nhìn kỹ mọi thứ và trong bước đi của anh có vẻ gì như do dự, không dứt khoát khiến tôi đã thấy ngại, không khéo anh sẽ phát hiện ra tôi, hoặc sợ anh đổi ý, không đi nhặt trứng chim nữa. Hai tay đút túi, anh ấy phì phèo hút thuốc, vì bị lạnh, và làn gió thổi, thỉnh thoảng lại vốc một vốc khói ném qua lưng anh ra phía sau. Chốc chốc anh Addi lại nhảy nhảy lên rồi quay lưng về phía gió, đi vài bước, lom khom trong chiếc áo mưa làm tôi có thể nhìn thấy rõ mặt anh, gương mặt nhợt nhạt, sần sùi như trong con sốt, một gương mặt dường như chỉ thể hiện độc một vẻ hân hoan nhẫn nhục mà thôi, gương mặt anh phô ra lúc ra mắt bố mẹ tôi và vẫn giữ nguyên như thế, không gỡ xuống nữa, ngay cả khi mẹ tôi không buồn mời anh ấy ngồi; gương mặt đó anh cũng không dẹp đi, khi anh theo chân chị Hilke, gọi là đi chào hỏi hàng xóm láng giềng, nhưng chẳng ai nói với anh lấy một lời. Không ai có thể đoán xem anh đang buồn bã hay bực bội chuyện gì, cũng không ai có thể biết cớ sao anh vui vẻ hay vì sao anh sợ hãi, bởi lúc nào anh cũng chỉ phô độc một vẻ mặt hân hoan nhẫn nhục đó ra cho thiên hạ thấy mà thôi - vẻ mặt anh mang ngay từ ngày đầu tiên ra mắt và lưu lại mãi mãi trong trí nhớ mọi người trong nhà.
Ấy, nhưng tôi không được để anh chị ấy biến mất sau đê, tôi phải giữ họ trong tầm mắt, cho nên bây giờ tôi cứ phải lần theo hai người, đúng như hồi đó tôi đã theo: lom khom dưới hào, rồi nghiêng người khuất sau âu tàu, sau đó ung dung đứng lên đi thẳng sau vành đai lau sậy và sau rốt, khuất sau sườn đê. Ở chỗ này, nếu anh chị có quay lại nhìn, thì tôi chỉ cần khom người xuống là biến khỏi tầm mắt họ. Hai người băng qua đê đúng ở chỗ mà bố tôi, trong vô số các chuyến ông đến Bleekenwarf, vẫn đẩy xe đạp lên. Lên đến mặt đê, hai người thậm chí không dừng lại để ngắm biển mênh mông bỗng trải ra trước mặt, mà nhào xuống ngay, hướng tới con đường mòn bên bờ biển chạy men theo đê thành vòng cung dẫn tới nhà trọ “Wattblick”, rồi vươn tiếp mãi ra ngoài bán đảo.
Đến đây hai người dừng lại. Đứng ép sát vào nhau. Chị Hilke tựa vai vào ngực anh, vung tay rộng ra phía Biển Bắc. Tôi nhìn theo nhưng chẳng nhận ra cái gì đáng kể ngoài đó, song vòng tay chị vung rộng ra làm tôi đoán chị muốn tặng Biển Bắc cho anh, với tất tật những sò những hến, tất tật những ngọn sóng to, đợt sóng nhỏ, cùng bom mìn lẫn thủy lôi và vô số xác tàu chìm nằm ngổn ngang dưới đáy biển đục ngầu. Anh Addi đặt một tay lên vai chị tôi. Rồi anh hôn chị ấy. Sau đó anh đỡ cái giỏ trên tay chị, như muốn để chị rảnh tay ôm anh. Thế nhưng chị Hilke không ôm lấy anh, chỉ nói cái gì đó, anh ấy đáp lại, dáng người có vẻ cứng nhắc thế nào đó và chỉ tay về phía đuôi bán đảo, nơi màu cát chợt sáng lên dưới ánh nắng. Bây giờ, có lẽ đến lượt anh ấy cắt một mẩu Biển Bắc, khoảng nửa cây số vuông gì đó, tặng chị tôi.
Biển đập vào các khối đá hộc xếp ở chân đê chắn sóng, nước bắn lên tận chỗ hai anh chị đang đứng và, sóng nước, như những cái lưỡi sủi bọt, thò ra từ các khe hở giữa những hộc đá đó, rồi lại lạch bạch, óc ách thụt trở vào. Ngoài khơi xa, mây đen tụ lại như những cánh buồm tầng đủ loại, buồm chóp, buồm vẹt, buồm chủ đang căng gió xồ tới. Trước khung cảnh đó, có vẻ anh Addi nói câu gì khiến chị vừa cười vừa đáp lại và ngửa người ra sau, buộc lòng anh nắm lấy tay chị, làm bộ bẻ ra sau như bẻ tay kẻ phạm tội rồi đẩy chị bước lên lối đi gồ ghề ven bờ biển.
Ngay cạnh lối đi là một vệt dài, tạo thành từ những sợi rong biển, cọng cỏ khô lẫn đá cuội, còn sót lại sau mỗi đợt thủy triều lên. Chạy song song với vệt này là một vệt khác, cũ hơn. Mỗi con triều lên đều để lại một vệt riêng, đánh dấu, ghi nhớ và làm chứng cho sức mạnh hay cho các cơn giận dữ của biển cả vào mùa đông giá lạnh. Mỗi con triều cường để lại một thứ gì đó riêng. Con này ném cả một gốc cây kếch xù đã bạc thếch vì nước biển lên bờ, con khác để lại một lô nút bấc hay cái cũi nhốt thỏ đã vỡ tan tành; chỗ này mớ rong biển cùng vỏ sò, chỗ kia mảng lưới đánh cá rách nát cùng cây cỏ màu i ốt xếp dài với nhau, trông giống như đống quần áo rách nát kỳ dị. Thế mà chị gái tôi cùng anh nhạc công chơi phong cầm của chị chẳng hề để ý, cứ thế đi thẳng ra bán đảo. Hai người không đi lên chỗ nhà trọ “Wattblick”; bây giờ anh chị tay nắm tay đi dọc theo bờ biển, nước biển bắn lên hẳn làm nóng ran hai gương mặt. Ngoài xa, nơi bán đảo trải dài, đâm xoài ra Biển Bắc, những dải sóng nổi lên từ nơi xa xăm đen ngòm nào đó, sủi bọt trên ngọn giống như lông trên lưng cừu, nhấp nhô, xô nhau chạy vào rồi gục ngã trên bãi biển thoai thoải, kèm theo tiếng rì rào đùng đục không bao giờ dứt.
Bán đảo nhô ra biển như mũi chiếc tàu thủy, nổi dần lên đến một cồn cát gấp khúc, không cây cối gì mọc, chỉ phủ một lớp cỏ hoang thường thấy ở vùng ven biển. Cứ sang xuân, bọn hải âu lại làm tổ, thứ tổ tồi tàn đáng thương của chúng ở đấy, trên dải đất nằm giữa lều của người canh chim và lều bác họa sĩ, chiếc lều có khung cửa trổ thấp tè, nhưng rất rộng, dựng trơ trọi ở chân cồn.
Lúc này tôi đã đi trên đê, khuất sau ngôi nhà trọ, cho nên cũng tuột cả chị Hilke lẫn anh nhạc công chơi phong cầm khỏi tầm mắt. Anh này, chắc chắn là để chiều chị tôi, đã cõng cả chiếc đàn phong cầm về nhà chúng tôi và, nếu mẹ tôi không nói không rằng, khinh khỉnh bỏ ra khỏi phòng, mỗi khi thấy anh ấy định nhấc chiếc đàn có gắn hai chữ cái A. S. bằng bạc hay mạ bạc gì đó lên tay, thì hẳn anh ấy cũng đã chơi đôi bài rồi đấy. Bố tôi hẳn cũng khoái được nghe anh ấy kéo ông nghe bài ông ưa thích, và cả tôi chắc cũng xin được anh ấy chơi cho nghe một bài nào đấy rồi. Nhưng mẹ tôi rõ ràng không chịu cho phép anh làm việc đó, cho nên chiếc đàn phong cầm nặng trĩu ấy cứ nằm bẹp trong phòng chị Hilke, về đêm, nằm trong thùng xe cũ nọ, tôi đã suy tính nhiều lần, không biết làm thế nào để kéo thử được nó một cái.
Tôi dừng lại ở gian ngoài, sàn lát gỗ, của nhà trọ, và lén nhìn qua cửa sổ ra phía biển. Ở đây, độc mỗi một ông khách ngồi thành đống đen sì trong góc, bên chiếc bàn trống không. Ông ta thè lưỡi dọa tôi rồi làm ra vẻ định ném chiếc gạt tàn đựng mẩu xương cá gặm sạch tự lúc nào về phía tôi, nhưng tôi đã nhanh nhẹn trèo qua cửa sổ thoát ra ngoài. Ra đến bên ngoài, tôi đã ở ngay phía bờ đê đổ ra biển và nhìn thấy chị Hilke cùng anh Addi ngay. Hai người nối gót nhau đi trên các tảng đá xếp thành bờ chắn sóng cho đến đoạn mặt đường thoải dần xuống, nhập vào bãi biển phẳng lì và sáng màu của bán đảo. Và, khi hai người, tay lại nắm tay, đi chéo qua bãi biển, nổi lên giữa nền trời cao và biển cả, luồn lách giữa những khúc gỗ và rong tảo dạt lên bờ, vâng, khi hai anh chị vượt bãi biển trơ trọi tiến về bán đảo như thế, thoáng trông, có thể tưởng anh chị chính là Timm và Tine vậy - cặp tình nhân trong tiểu thuyết Đom đóm biển của Asmus Asmussen ấy mà.
Nhưng không, có lẽ không phải thế, bởi Timm chắc đã không chỉ tay đầy lo ngại như anh Addi về phía màn mưa dày đặc trên Biển Bắc đang tiến lại gần; Timm cũng sẽ không bị lạnh run lên như anh Addi đang lạnh run lên kia, Timm chắc chắn cũng không lo sợ, co người rúm ró như Addi thế kia, khi một con hải âu lưng đen chắp cánh, nhào xuống, nhanh như một viên đạn pháo trắng phau, cùng tiếng rít nghe mỗi lúc một gần trong không trung, bổ thẳng vào đầu anh. Anh Addi sợ cuống cuồng, chẳng những rúm người lại mà còn xoay lưng về phía con chim đang lao xuống. Bởi thế, anh không biết nó chỉ nhào xuống đến sát sạt đầu anh rồi thôi, vừa gần chạm đến đích, nó đã dang hai cánh hãm lại ngay và theo gió vút ngược lên đến một độ cao an toàn; từ độ cao an toàn đó, nó ngoạc mỏ kêu toáng lên, quang quác, giận dữ và hốt hoảng. Bao giờ cũng một cảnh ấy. Một con xông vào trước, không hải âu lớn lưng đen thì hải âu ngón cụt, không hải âu nhỏ lưng đen thì hải âu cá trích. Ở vùng biển quê tôi, không có giống hải âu nào chịu để mặc cho người ta nhặt trứng của nó cả. Chúng nó sẽ sấn sổ xông trận. Mắt đỏ ngầu, mỏ vàng khè. Chúng bổ nhào, nhưng chỉ tung mấy ngón đòn gió, dứ dứ dọa dẫm đến thế là hết vở.
Anh chàng nhạc công chơi phong cầm chắc chắn chưa bao giờ chứng kiến một cảnh tượng như thế này, tôi nghĩ. Một bầy chim hải âu, đông phải đến hai triệu con chứ chẳng vừa, bỗng dưng đồng loạt cất cánh bay lên cao, hốt hoảng, ầm ĩ, tạo thành một đám mây màu xám bạc khổng lồ trên bán đảo, quang quác, quang quác, phành phạch, phành phạch, điên loạn, hết đâm xuống lại vổng lên; bay bay lượn lượn, tản ra, chụm vào. Từ đám mây ấy, lông chim hải âu sa xuống như mưa, hay nói đúng hơn, như màn tuyết trắng, phủ đầy vùng đất trũng giữa các cồn cát, êm ái và ấm áp, đến mức chị gái tôi và bạn trai chị ấy, nếu muốn, hẳn có thể lăn ra nằm ngủ yên lành ở đấy cũng nên. Tôi phải thú thật, tim tôi bỗng rộn lên cùng ý nghĩ đó.
Vừa thấy bọn chim hải âu bay lên khỏi những cái tổ thảm hại của chúng nó và tạo nên đám mây ầm ĩ trên đầu, tôi liền chạy từ mặt đê xuống bãi biển, nấp ra sau chiếc thùng gỗ rúm ró và nằm nín thở giữa khoảng trời nháo nhác rối loạn như đang muốn ụp xuống đầu tôi đó. Tôi nắm lăm lăm một cây gậy trong tay. Dùng cây gậy này, nếu phải ra tay, tôi dám đánh bay đầu một con hải âu nhào xuống cho mà xem. Hay không, không đánh bay đầu nó, có lẽ chỉ đánh gãy một bên cánh thôi, rồi bắt mang về nhà, dạy cho nó biết nói cũng được.
Bọn hải âu phát hiện thấy tôi từ lâu; chúng cũng bắt đầu bay lượn vòng trên đầu tôi thành một đám mây, tiếng cánh vỗ cũng vang lên giận dữ và hằn học trên đầu tôi. Trong lúc tụi hải âu Bắc Cực màu lục xám ục ịch như máy bay ném bom hạng nặng đang lấy độ cao, bọn hải âu ngón cụt nhỏ con chỉ bay là là mặt bãi biển, nhanh nhẹn và uyển chuyển, kéo theo tiếng gió rít vèo vèo, lao thẳng vào tôi, rồi dạt ngay ra phía biển, sắp xếp đội hình cho đợt công kích mới.
Tôi chồm dậy, khua cây gậy thật nhanh trên đầu như ai đó - không biết ai nhỉ? - như ai đó từng múa kiếm trên đầu thật nhanh, nhanh đến mức, giữa trời mưa to mà không bị ướt. Tôi cứ vừa khua gậy, đánh bên này, đập bên kia như thế nhằm chống trả các cuộc tấn công bổ nhào nhanh như tên bắn của tụi hải âu, vừa băng qua bãi biển, lần theo hai lằn dấu chân, hai lằn dấu chân duy nhất nổi lên trên mặt cát ướt ấy mới chỉ chạy một đoạn ngắn giữa mấy cái rổ tuềnh toàng đựng trứng màu xanh lá đã lẫn xám của chúng, tôi lại thấy họ.
Anh Addi nằm ngửa, chết thẳng cẳng. Một con hải âu lông màu lục xám, hay chục con lưng đen và chín chục con nhạn biển thì phải, đã đánh gục anh ấy. Chúng nó xuyên, chúng nó khoan thủng lỗ chỗ thân mình anh. Chị gái tôi quỳ bên anh, chẳng nói chẳng rằng, vuốt vuốt ve ve lên quần áo anh ấy; chị tôi - người chị lúc nàọ cũng bình thản, lúc nào cũng biết tính trước, lường sau và sẵn sàng tha thứ mọi thói tật ở đời, trừ thói do dự và đắn đo - đang cúi xuống áp sát vào mặt anh ấy, ôm lấy người, rồi nằm lên anh ấy. Và, quả nhiên, chị ấy làm anh Addi sống lại thật. Đôi chân anh ấy lại co co, giật giật, anh ấy đưa hai tay lên cao, đôi vai cử động lên xuống, toàn thân động đậy.
Tôi như quên hết mọi sự. Vừa múa gậy xua bọn chim hải âu đang toang toác thay nhau bổ nhào, tôi chạy lao tới, quỳ xuống cạnh hai người. Tôi thấy gương mặt đã chuyển sang đo đỏ, xam xám của anh Addi đang giật giật, hai hàm răng cắn chặt vào nhau, răng nghiến nghe kèn kẹt. Ngón tay anh ấy co quắp, ngón tay cái gập hẳn vào lòng bàn tay. Mồ hôi ra đầm đìa trên mặt. Lúc anh Addi mở miệng ra, tôi nhìn thấy đầu lưỡi anh ấy toàn sẹo.
Kệ anh ấy, chị tôi nói, đừng động vào người anh ấy làm gì. Chị có vẻ không kịp ngạc nhiên, vì sao tôi bỗng dưng từ đâu chui ra đây. Chị cài cúc áo cho anh Addi, rụt rè xoa tay lên mặt anh ấy, vâng, không phải là xúc động, cũng chẳng phải là lo lắng, mà đúng là rụt rè. Trước mắt tôi, tôi thấy rõ ràng anh Addi nhờ được chị ấy âu yếm như thế mà dần trấn tĩnh trở lại, thở hắt ra và nhổm dậy với nụ cười nghi ngại trên mặt và thấy tôi đang khua gậy, cố đuổi bọn chim hải âu ra xa, không cho chúng sán lại gần anh, anh liền vẫy vẫy tay gọi tôi.
Cây gậy trong tay tôi quật bên này, đánh bên kia, làm bọn chim hải âu đang hung hăng nhào xuống hoảng hốt bay tản ra. Lúc này tôi làm bộ không thời gian đâu để chờ nghe chị tôi sắp quay ra mắng mỏ. Tôi đang bận bảo vệ anh Addi. Đúng thế, tôi khua gậy, tạo ra một khoảng trời an toàn phía trên đầu anh ấy. Tôi nhảy bên này, đá bên kia, không cho con chim nào đến gần, trong khi đó chị Hilke nhanh tay nhặt trứng chim cho vào giỏ, còn anh Addi thì cứ ngơ ngơ ngác ngác đứng trơ một chỗ, dùng tay xoa xoa lên gáy; gáy anh ấy làm tôi hơi ngạc nhiên, không rõ tại sao trông có vẻ già nua, nhăn nheo và đôi chỗ như hơi hóa sừng thì phải.
Bọn chim hải âu đột nhiên đổi chiến thuật. Hẳn chúng nó nhận ra bổ nhào tung đòn gió không ăn thua gì. Chỉ còn rời rạc đôi con - cảm tử kiểu Kamikaze, chân vịt xếp lại rất khéo, mỏ há ra, để lộ cuống họng màu san hô đỏ, cánh sải như cánh máy bay ném bom Junker Ju-87 - là vẫn liều lĩnh bổ nhào xuống chỗ chúng tôi thôi. Nhưng đấy là mấy con đến chậm, chưa hiểu đầu cua tai nheo gì, chứ đám đông còn lại đều tụ tập nhau ngay trên đầu ba chúng tôi, vỗ cánh phành phạch và con nào con nấy thi nhau ngoạc mỏ quang quác thật to. Ra là bay bổ nhào không dọa được ai, nên chúng nó quay ra kêu to hòng xua chúng tôi đây. Náo động, ầm ĩ. Rin rít, quàng quạc, kéc kéc, eo éo xoáy vào đầu, đâm vào óc, nhói tận xương tận tủy, làm nổi hết cả da gà người ta lên.
Anh Addi đứng cười, hai tay áp chặt hai bên tai. Chị Hilke cúi nhặt trứng chim cho vào giỏ, chốc chốc lại bị cứt chim rơi độp lên người. Tôi chỉ còn mỗi việc múa cây gậy lên trời, làm lông chim bay mù mịt. Đôi lúc, bọn chim nhào tới đông đến nỗi cây gậy như chìm hẳn vào giữa bầy chim. Tôi múa gậy đập trúng ngực một con hải âu lưng đen, nhưng nó không rơi bịch xuống chân tôi như tôi tưởng. Tôi không làm sao xua bọn chim hải âu hoảng loạn ấy ra xa; tôi chẳng dọa nổi chúng dạt ra, cũng không khiến chúng nó im mồm được. Chúng nó cứ thế làm ầm lên, đinh cả tai, nhức cả óc, nhưng anh em tôi cũng mặc kệ.
Một con liều mạng đớp vào chân tôi. Tôi dùng gậy đánh nó, nhưng trượt mất, tôi liền vớ một quả trứng ném theo, trúng bốp vào lưng nó. Quả trứng vỡ, lòng đỏ bết ra thành một mảng màu vàng trên lưng, khiến từ giờ nó được bay với quốc hiệu Brazil bết trên lưng.
Nhìn thấy thế, anh Addi gật gật đầu về phía tôi, tỏ ý thán phục; nhưng rồi anh ấy đến bên tôi, kéo tôi nấp vào dưới áo mưa anh đang mặc vì gió bỗng nổi lên mỗi lúc một mạnh. Những cơn gió vù vù ập từ ngoài biển vào, đè bẹp gí các búi cỏ mọc trên bãi biển và vốc cát ném từng đợt vào ống chân để trần của tôi.
Anh Addi gọi chị Hilke lúc ấy vẫn đang mải mê nhặt trứng chim. Anh chỉ tay về phía màn mưa dựng lên ngoài khơi Biển Bắc. Đường chân trời cong cong dường như rút ngắn lại, mờ nhạt hơn vì màn mưa trắng nhờ nhờ đùng đục đang lừng lững tiến dần về phía chúng tôi. Phía trước, sóng nước lấp lánh long lanh; các cơn gió mạnh chốc chốc lại hất tung bọt từ ngọn sóng lên cao.
Thôi, dừng thôi, anh Addi gọi to, nhưng chị tôi chưa chịu dừng, hoặc do không nghe thấy, hoặc có nghe thấy nhưng vẫn cố nhặt cho đầy giỏ. Hai anh em đành theo chị ấy, hay đúng hơn là tôi dọn đường giữa bầy chim hải âu đông đúc cho hai anh em lần về phía chị ấy. Nấp mình dưới áo mưa của anh Addi, tôi cảm thấy thật khoan khoái, mặc dù chỉ còn một khe hở nhỏ để tôi ngó ra ngoài và thò gậy đuổi tụi chim hải âu. Hơi ấm từ người anh Addi lan sang tôi, tôi nghe thấy tiếng anh thở gấp, và bàn tay anh đặt nhẹ lên vai tôi mới thân mật làm sao.
Thôi, dừng thôi. Anh Addi lại gọi to, bởi vì gió tự dưng ngừng thổi và trời rào rào đổ mưa. Trông chị Hilke nhỏ hẳn lại và như thể bị đẩy lùi ra xa trong làn nước mưa dày đặc. Thế nhưng chị ấy vẫn tiếp tục gập người, lom khom đi giữa những tổ chim khốn khổ, mãi đến khi một tia chớp bỗng lóe lên, hay đúng hơn, xé trời đâm xuống biển, chị mới dừng lại. Đuôi tia chớp lóe sáng phía chân trời sầm tối và tiếng sấm ngoan ngoãn, hay đúng hơn, tiếng sấm ấm áp thân tình, lăn lăn, lan dần ra trên mặt Biển Bắc. Chị Hilke đứng thẳng người, nhìn ra ngoài khơi trước, rồi mới ngoái lại nhìn chúng tôi; chị ấy chỉ tay về phía một cái gì đó đằng xa và cắm đầu chạy đi ngay, loạng chà loạng choạng, vì đôi bắp chân đầy đặn chìa hơi nhiều về phía trong của chị thỉnh thoảng lại cọ vào nhau. Hai anh em tôi chẳng còn cách nào khác, đành vội vàng nối gót chạy theo chị.
Bọn chim hải âu lại hốt hoảng cất cánh bay lên cao, con nào con nấy há mỏ, sẵn sàng chống trả. Tiếng kêu điên loạn của chúng ào ào trút xuống đầu chúng tôi như thác đổ, trong khi chúng tôi vội vàng chạy trốn cơn mưa giông đang ập đến, vượt qua bãi cát đến khoảng trũng giữa hai cồn cát và sau cùng, vượt qua cồn. Gió lại thổi mạnh, quất mưa vào chúng tôi - cơn mưa đầu năm ở Rugbüll, cơn mưa hễ đổ xuống là cho thấy ngay cả bấy nhiêu mương rạch lẫn kênh đào ở đây đều hẹp và nông choèn, không đủ thoát nước, cơn mưa làm ngập các cánh đồng cỏ và rửa sạch cả bùn đất lẫn cỏ khô đóng vảy trên lưng hay trên mông đít gầy gò của mấy con bò, con ngựa thả rông ngoài đồng ấy.
Ở quê tôi mà mưa, thì đồng quê mất hết vẻ cởi mở, mất hết bề sâu cảnh vật thường ngày vẫn phơi ra lộ liễu ấy vì sương mù buông xuống, phủ lên đồng quê và che kín tất tật; mọi thứ đều trở nên thấp tè, cụt lủn, hoặc chuyển màu thành thứ màu tối xin xỉn và biến dạng, phồng ra như củ hành, và, nếu có định chui vào xó nào đấy hòng chờ mưa tạnh, thì thật vô ích, bởi mưa sẽ không bao giờ tạnh nữa; phải đánh một giấc thật dài, sáng ra mới mừng rỡ thấy trời quang mây tạnh được mà thôi. Vâng, giá chỉ mưa không thôi, thì anh em chúng tôi cũng lần được về đến nhà rồi đấy. Thế nhưng cơn giông, với những tia chớp xé toang bầu trời trên mặt biển cùng tiếng sấm rền và những cơn gió thốc mạnh đã xua chúng tôi chạy vượt qua cồn cát; sức mạnh của cơn giông khiến chúng tôi không sao cất bước đi bình thường được nữa, mà loạng choạng qua lớp cát ướt sũng và xin xỉn, lần theo chị Hilke lúc này đã tiến đến sát túp lều bác họa sĩ. Vừa đến nơi, chị ấy liền kéo rộng cánh cửa ra, nhưng không đóng nó lại ngay mà đứng phía trong khung cửa tối om, nổi bật giữa làn mưa rơi thành vệt chéo hẳn sang một bên, đưa tay vẫy vẫy thúc giục chúng tôi nhanh chân. Chờ hai anh em chúng tôi đến nơi và bước vào bên trong xong xuôi, chị mới đóng cửa lại và khoan khoái thở đánh phào.
Cài chốt vào, bác họa sĩ nói to, cháu phải cài chốt vào mới được. Chị Hilke tôi đập lòng bàn tay một phát vào cái chốt cửa và - cả ba chúng tôi, ai nấy đều ướt sũng - đứng sững giây lát giữa túp lều bác họa sĩ.
Nhưng rồi tôi cũng chui từ dưới tà áo mưa của anh Addi ra, đi vòng quanh chiếc bàn làm việc của bác họa sĩ đến bên khung cửa sổ rộng nhìn ra ngoài, hệt như đã có lần tôi đã đứng đây nhìn như thế. Và, thầm mong, cũng như lần ấy, sẽ nhìn thấy một xác người rập rình giữa sóng biển đổ vào bờ -xác một viên phi công - bị sóng ném lên bờ rồi lại kéo ra xa. Có lẽ bác họa sĩ đoán ra tôi định tìm gì ngoài đó, nên bác vừa mỉm cười, vừa nói: Hôm nay, trời chỉ nổi dông, chỉ có dông thôi.
Tôi vẫn thường theo bác ra lán này, và vẫn hay ngồi trên mặt bàn cạnh bác ấy, mỗi khi bác lặng lẽ ngắm nhìn một ngọn sóng nổi lên hay đổ xuống, hoặc dõi theo các đám mây hay thứ tia sáng tham quyền thống trị nhảy múa trên mặt biển. Và dạo ấy, lúc hai bác cháu cùng phát hiện thấy xác viên phi công, bác giữ chặt tôi ngồi lại trên mặt bàn và đưa mắt dõi theo thi thể con người đang nhẹ nhàng trôi nổi, lật sấp, lật ngửa và dường như đã nhập vào nhịp lên xuống của các đợt sóng và trở thành một phần không tách rời của các ngọn sóng vậy, phải, bác ấy giữ chặt tôi, khiến tôi thấy lâu kinh khủng, trước khi hai bác cháu cùng chạy ra kéo xác viên phi công xấu số ấy lên bãi cát.
Chỉ có giông bão ngoài ấy thôi, bác họa sĩ nói và mỉm cười trong bóng tối chạng vạng; đoạn bác lôi một chiếc khăn lau rất rộng ra, lau khô mặt cho tôi, trong khi tôi vẫn cố tìm cách ngoảnh mặt ra ngoài dò xét các đợt sóng sủi bọt; thấy tôi ngọ nguậy không chịu yên, bác họa sĩ cứ lặp đi lặp lại mấy lần: Đứng yên nào, Witt-Witt. Duy có bác là gọi tôi như thế. Mà gọi thế cũng được chứ sao. Witt-witt là tiếng chim dẽ kêu mỗi khi chúng nó vội vã hay lo lắng chuyện gì đó; thì chúng nó chỉ biết kêu có thế, chứ biết kêu thế nào hơn. Có lẽ bác họa sĩ cũng chỉ nhớ tôi có vậy, nên bác cứ thế mà gọi tôi. Gì thì gì, nhưng cứ nghe thấy bác gọi witt-witt, tôi liền quay mặt lại, đến gần hoặc đứng yên chờ. Bác Max Ludwig Hansen cũng lau cho tóc tôi thật khô, rồi mới lau đến cổ, sau cùng lau xuống đôi chân. Xong đâu đó, bác chìa chiếc khăn tắm rộng cho chị Hilke. Chị ấy cũng lau cho thật khô người, trước khi dùng ngón tay tẽ những dải tóc dài và nắm bàn tay lại, bóp bóp nhè nhẹ cho nước chảy ra. Gió thô bạo xô từng cơn từ ngoài khơi vào đất liền, gây náo loạn phía bên ngoài. Không còn mống chim hải âu nào, đến cả những con chuyên việc canh gác cũng không thấy lượn trên trời nữa. Mặt biển ngầu bọt, lấp la lấp lánh. Tôi cúi người, nghiêng hẳn đầu sang một bên để nhìn ra mặt biển ngầu bọt và lấp lánh đó. Tôi chợt nghĩ, nhìn thế này, hóa ra mặt biển hóa thành trời và bầu trời tối sẫm kia biến thành mặt biển. Đến lúc thẳng người và ngước mắt trông lên, thì tôi phát hiện ra Jutta.
Jutta ngồi lặng thinh và bất động bên cạnh cái tủ; nó ngồi xếp bằng ngay trên nền nhà, tay đút trong vạt áo, hai cẳng chân gầy gò choãi rộng đến mức làm vạt váy căng hẳn ra. Tôi thấy nó mỉm cười, nhưng cũng là để đáp lại nụ cười đầy vẻ bối rối và lúng túng của anh Addi thôi. Tôi lấy làm lạ, hết nhìn người này lại nhìn người kia, từ gương mặt gầy gò, mang vẻ ranh mãnh giống như mặt chó săn greyhound[1] của Jutta sang anh Addi đang lóng ngóng, thừa chân, thừa tay, không biết làm gì ngoài đứng đực ra một chỗ như con manơcanh dùng để trưng quần áo và kinh ngạc trố mắt nhìn đứa con gái có cái cổ gầy khẳng khiu và đôi mắt tinh anh, nghịch ngợm ấy - vâng, đó chính là Jutta, đứa con gái chuyên nói một đường, làm một nẻo, đứa con gái đã bỏ bùa mê ở trại Bleekenwarf, ngay từ ngày đầu tiên, kể từ lúc bác họa sĩ nhận nó cùng thằng em đầu gấu đem về nuôi, sau khi bố mẹ đẻ chúng nó - cả hai cũng đều là họa sĩ - mất sớm.
Vâng, tôi cố đoán xem cái trò lặng lẽ nhận dạng nhau này của hai người có nghĩa gì, và đang định mở miệng nói, thì chị tôi đã cất tiếng: Khăn đây, anh lau người cho khô. Nước mưa lạnh đấy, anh phải lau thật khô vào. Nói rồi, chị dúi cái khăn vào tay anh ấy, và ra lệnh cho anh theo cách riêng của chị, là lấy cùi tay thúc thức vào người anh; anh Addi lặng lẽ nghe lời, lấy khăn lau người. Trong lúc anh Addi loay hoay cùng chiếc khăn to đùng, chị Hilke nói với bác họa sĩ: Đây là anh Addi, bác ạ, chồng chưa cưới của cháu. Anh ấy về thăm nhà. Bác họa sĩ mỉm cười, hất hàm chỉ vào góc nhà: Còn đây là Jutta. Jutta ở đây cùng cậu em trai. Chị Hilke chìa tay bắt tay Jutta, anh Addi chìa tay cho bác họa sĩ, và sau khi tôi bắt tay Jutta xong thì anh Addi cũng bắt tay nó. Tôi sực nhớ, tôi chưa bắt tay bác Max Ludwig Nansen, liền chìa tay cho bác ấy. Thấy vậy, sực nhớ mình quên chưa chào hỏi gì bác, chị Hilke cũng vội chìa tay cho bác ấy. Cứ luýnh quýnh như thế, làm tôi suýt nữa cũng chìa tay bắt luôn tay chị Hilke. Nhưng bác họa sĩ đứng dậy, chen vào giữa hai chị em để lấy cái tẩu bác ấy gác trên giá.
Mong cho cơn giông chóng qua, bác nhỉ, chị Hilke nói. Giông thì ngớt, bác họa sĩ đáp, nhưng mưa thì không ngớt đâu. - Mày đã thấy dại chưa, chị Hilke nói hướng về phía tôi. Cứ bám theo chúng tao cho bằng được cơ. Tôi đáp: Đằng nào em cũng ướt rồi. Tôi liếc thấy cả bác họa sĩ lẫn anh Addi đều có vẻ hơi ngạc nhiên, và - không cúi xuống tôi - hai người nháy mắt nhìn nhau cười ra chiều thú vị thấy tôi đối đáp như thế với chị Hilke. Anh Addi lôi thuốc lá ra mời bác họa sĩ, song bác hơi đưa cái tẩu bác đang giữ trong tay lên, ra hiệu khước từ. Bác họa sĩ châm lửa tẩu thuốc rồi bước đến bên cửa sổ căn lều nhìn ra ngoài, ngắm cơn gió quay cuồng trong bóng đêm ngoài biển. Ngoài đó, chắc lại đang có cái gì đấy diễn ra mà chỉ mình bác mới nhận thấy, bằng cặp mắt xám rất đỗi kiên nhẫn của bác. Tôi đã quen nhìn thấy bác như vậy, mỗi khi bác trầm ngâm ngắm những cảnh tượng, những hình bóng vô hình nào đó chạy đi chạy lại; tôi cũng đã quen nhìn tư thế bác thường có vào những lúc bác trò chuyện hay cãi vã với gã Balthasar của bác. Tôi chỉ cần nhìn bác ấy, chứ không cần để ý xem ánh mắt bác để vào đâu, là đủ biết bác đang để tâm đến đám nhân vật do bác tưởng tượng ra, đám nhân vật mà bác cứ đưa mắt nhìn vào, là họ bật dậy ngay: nào chúa gây mưa lẫn vua tạo mây, nào gã lướt sóng cùng kẻ khiển gió, nào lão phun sương mù lẫn cánh bạn bè chiến hữu của cối xay gió, của bãi biển hay mương rạch. Đám này chỉ chờ có ánh mắt bác nhìn đến và giải thoát họ ra khỏi cuộc sống bí hiểm, lúc nào cũng ẩn ẩn náu náu đó của họ, để tức khắc đứng dậy, hiện hình ra trước mặt bác.
Đứng trước khung cửa sổ, bác họa sĩ hút thuốc, mồm bập bập vào tẩu, và chăm chú nhìn ra biển động, mắt hơi nheo lại, cổ hơi rụt xuống như gắng sức làm gì đó, trong khi Jutta lặng lẽ chui từ xó nhà tranh tối tranh sáng ra, mỉm cười lộ cả răng cửa và khiến trên mặt anh Addi lại hiện thêm bao nhiêu câu hỏi tò mò.
Đúng lúc đó tôi nghe tiếng chị Hilke cười to. Chị phất phất một tờ giấy khổ to chị vừa kín đáo rút từ cặp giấy vẽ nằm trên bàn ra mà bác họa sĩ không biết. Cái gì thế, tôi hỏi. Lại đây mà xem, nói, Siggi, lại đây mà xem này. Chị nhìn vào tờ giấy rồi lại cười to. Tôi tò mò: Chị làm sao thế, thế là chị Hilke trải tờ giấy ra mặt bàn, dùng tay vuốt vuốt cho phẳng rồi hỏi: Mày có nhận ra ai không?
Chim hải âu, tôi đáp, toàn hải âu với hải âu, chứ là gì. Quả thật, thoạt tiên tôi không nhận ra cái gì khác, ngoài lũ chim hải âu, con bổ nhào, con nằm nguyên trong ổ, con đang lượn trên trời làm cảnh giới. Nhưng một lát sau thì tôi nhìn ra, đầu con chim nào cũng đội mũ cảnh sát, ngực con nào cũng ưỡn ra đeo phù hiệu đại bàng Đức. Mà không phải chỉ có thế: con nào con nấy trông đều giống bố tôi; con nào cũng mang bộ mặt dài ngoẵng và ngái ngủ của viên cảnh sát chốt Rugbüll, và chân ba ngón của chúng đều mang ghệt tí hon, giống hệt như đôi ghệt bố tôi vẫn mang vậy. Xếp nó vào cặp cho bác, bác họa sĩ nói, giọng hơi ngập ngừng. Nhưng chị Hilke đã không chịu xếp tờ giấy vào cặp, còn cất tiếng nài: Bác cho cháu, vâng, bác cho cháu xin nhá! Bác họa sĩ lại nói: Bác đã bảo cho nó vào cặp mà, và khi chị Hilke toan cuộn tròn tờ giấy lại thì bác nhẹ nhàng giật nó khỏi tay chị rồi nhét trở lại vào cặp: Không cho chúng mày được, bác còn cần đến nó. Đoạn, bác kéo cặp giấy vẽ về phía mình rồi đặt hộp giấy bồi đựng ống màu đã cũ lên trên. Chị Hilke chưa chịu thôi, lại hỏi: Thế tên bức tranh là gì hả bác.
Nó chưa có tên gì chắc chắn cả, bác họa sĩ đáp, chưa biết được, có lẽ gọi là “hải âu đầu đen thi hành công vụ” cũng được.
Bác không cho thì thôi vậy, chị Hilke chợt nói, nhưng sao bác không vẽ cháu? Đã có lần bác hứa như thế với cháu rồi mà! Hay bác vẽ cháu với anh Addi vậy. Anh Addi lại đây. Rồi chị nắm cánh tay anh Addi đẩy mạnh về phía bác họa sĩ - một cử chỉ dứt khoát, ngụ một ý duy nhất là: đây, bác vẽ đi, chân dung anh này dễ vẽ hơn chân dung bất kỳ anh đàn ông nào cùng hạng. Không vẽ được, bác họa sĩ đáp. Sao không được, chị tôi vặn vẹo, sao không được, hả bác? - Bác bị bỏng tay, bác họa sĩ đáp, còn chị Hilke: Nước nóng ạ? Bỏng? Bác họa sĩ gật đầu: Phải, nước nóng. Sẽ bỏng lâu đây!
Cơn giông lúc này đã đổ vào bán đảo. Có lẽ bây giờ là lúc tôi có thể mô tả các tia chớp lóe sáng, các cơn gió giật lẫn đủ các kiểu sấm rền như sách vở vẫn thường tả. Tôi cũng có thể tả túp lều trơ trọi thế nào dưới chân cồn cát, hoặc tôi có thể tả tiếng rên rin rít của túp lều gỗ mỗi khi gió giật, tôi có thể cho ván lát sàn rung lên bần bật, hay để ma tít gắn cửa sổ kính phải bật ra. Gì thì gì, chứ ở quê tôi, giông bão sầm sập kéo từ biển vào thế này là chuyện rất thường vậy.
Thế nhưng, ký ức tôi thấy không có gì đáng kể về cơn giông, đáng kể là chuyện chị tôi bỗng dưng phát hiện ra rằng túp lều từ lâu không được quét tước, dọn dẹp gì cả. Chỉ nhờ ánh chớp lóe lên thôi nhé, mà chị ấy đã phát hiện ra vậy, và - không phải ai cũng may mắn như chị ấy đâu - chị tìm ngay ra cái chổi cán ngắn, làm bằng lông thú rừng cứng ngắc nằm ở xó nhà. Thế rồi chẳng buồn hỏi xem có ai phản đối không, chị liền cởi bỏ áo khoác ra, đẩy mấy cái ghế đẩu sang một bên và ra tay quét dọn trong lều. Chị quét dồn hết cát vào một góc, xua chúng tôi lui về phía bàn làm việc của bác họa sĩ rồi bắt đầu quét từ cửa quét vào. Chị chồng ghế đẩu lên nhau, sắp xếp lại đồ đạc nằm ngả nghiêng trên giá. Chị phủi sạch bụi bám trên chiếc đèn dầu nằm chỏng chơ, từ lâu chẳng ai ngó ngàng đến. Chị sốt sắng quay đi quay lại, xoay tới xoay lui; túp lều rõ ràng quá chật cho công việc chị đang làm và chị chần chừ, không đặt ngay ghế đẩu về chỗ cũ, bởi làm thế thì cũng có nghĩa là hết việc cho chị vậy.
Còn Jutta? Jutta ngồi chồm hỗm trên cái giường gỗ, cười để lộ răng cửa trắng trong. Nó chăm chú nhìn anh Addi lúc này đang lúng túng, hết bị đẩy sang chỗ này lại bị xô sang chỗ khác. Anh ấy toan nói gì đấy, thậm chí anh có vẻ muốn đạp chân lên cái chổi chị Hilke đang thoăn thoắt đưa qua đưa lại thì phải - ấy là tôi đoán chừng thế - nhưng, rốt cuộc, anh lại chẳng nói chẳng rằng gì, cứ ngoan ngoãn nghe chị Hilke bảo sao làm vậy.
Tôi vẫn còn nhớ cái giây khắc anh ấy giật mình co rúm người lại - cái giây khắc từ phía ngoài bỗng có tiếng đập cửa. Ngay giữa cơn giông thế này mà từ bên ngoài lại có những tiếng đập cửa! Chúng tôi ai nấy đều sững người, ngơ ngác nhìn nhau không biết phải làm gì. Rốt cuộc - mặc dù anh Addi đang đứng ngay cửa - bác họa sĩ định thần, bước tới bên cánh cửa và tháo chốt cài ra. Bác vừa buông tay khỏi nắm cửa thì gió đã thổi bật cánh cửa đập mạnh vào tường.
Bên ngoài, bố tôi đứng ở lối vào lù lù như Thần Dionis, vâng, vị Thần Hy Lạp phì nộn, nhanh khóc, mau cười - nổi bật giữa nền cồn cát xám xịt, áo choàng bay phần phật, gương mặt lúc sáng lên lúc tối lại cùng ánh chớp. Ông đứng ở ngoài, không tỏ ý muốn bước vào trong, làm chúng tôi ai nấy phân vân, không rõ ông muốn gì. Bố tôi cứ trịnh trọng đứng nguyên một chỗ, thậm chí có vẻ khoái chí thấy chúng tôi lúng túng là đằng khác. Chợt ông cất tiếng, hỏi với giọng khô không khốc: Thằng Siggi đâu?
Đây ạ, tôi đáp rồi chạy vội đến bên ông. Ông mở vạt áo choàng, thò tay ra nắm chặt khuỷu tay tôi, lôi tôi từ trong lều ra ngoài rồi, không nói không rằng, ông quay đi, kéo tôi đội cơn mưa đang xối xả theo ông đi về phía bờ đê.
Không một lời mắng mỏ. Không một tiếng dọa nạt. Trong lúc hai bố con sấp ngửa vượt qua cồn cát rồi leo lên mặt đê, nơi ông để chiếc xe đạp công vụ nằm chỏng gọng, tôi chỉ nghe độc hơi ông thở phì phò và cảm thấy sự tức giận của ông truyền qua bàn tay nắm chặt khuỷu tay tôi. Bố tôi không nói đã đành, nhưng tôi cũng chẳng dám ho he gì, vì quá sợ, và trong cơn sợ, tôi vẫn đoán trước chuyện gì sẽ đến với mình; mà đã vậy, thì cố nói gì cũng vô ích thôi. Thành ra tôi cứ ngồi cứng đơ trên thanh ngang khung xe đạp, tay nắm chặt ghi đông, trong khi bố tôi đẩy, rồi nhảy lên xe và bất chấp các cơn gió mạnh thốc xiên hông, ông vẫn chạy được xe, rồi thả nó từ trên mặt đê băng xuống dốc mà không phải xuống khỏi yên lần nào. Tôi biết, bố tôi phải mất nhiều sức và phải rất tập trung mới đạp xe chạy nổi đoạn đường này. Ngay trên đầu, tôi nghe tiếng ông thở phì phò, hổn hển, tiếng ông rên lên khi phải lên gân sức cưỡng lại cơn gió mạnh. Giá bố tôi cũng lên tiếng chửi rủa lấy một tiếng! Giá ông bạt tai tôi lúc lôi tôi khỏi túp lều ra ngoài một cái! Thì mọi sự hẳn sẽ nhẹ nhàng hơn và có lẽ cũng sẽ đỡ sợ hơn cho tôi rồi đấy. Nhưng, suốt quãng đường, bố tôi chỉ một mực lầm lì, không nói không rằng. Đó là cách ông trừng phạt tôi; đó là cách ông báo trước cho tôi về hình phạt ông sẽ dùng để phạt tội. Thường vẫn vậy: ông không ưa chuyện bất ngờ, bao giờ ông cũng báo trước hay đánh tiếng trước về việc ông định làm; chẳng hạn, nếu có việc gì buộc ông phải can thiệp về mặt nghiệp vụ cảnh sát, thì hiếm có khi nào ông ra tay mà không gióng trước: Coi chừng đây này, tôi ra tay bây giờ đây này.
Vâng, thế là hai bố con lẳng lặng ngồi trên xe băng từ trên đê xuống đoạn đường lát gạch dẫn về nhà. Đến chân cầu thang, ông để yên cho tôi nhảy xuống, rồi dùng ngón tay trỏ, lệnh cho tôi đẩy xe cất vào nhà kho; tôi cất xe xong quay trở lại, thì ông lại nắm chặt lấy khuỷu tay tôi, lôi tuột vào nhà. Vừa đi, ông vừa tháo bỏ áo choàng và tránh không nhìn thẳng vào mắt tôi - như thể ông e cơn giận và nỗi thất vọng đang dồn chứa trong lòng ông sẽ bùng ra quá sớm vậy. Vâng, ông đẩy tôi đi trước, theo tôi lên cầu thang dẫn vào phòng tôi, lúc ấy đang sáng đèn. Từ ngày họ bắt anh Klaas mang đi vì tội tự gây thương tích cho mình, tôi được ở một mình trong căn phòng này. Cả bốn bức tường lẫn cái giường kê bên cửa sổ bây giờ đều thuộc về tôi; một mình tôi được dùng cái bàn kéo ra kéo vào được và vẫn phủ bằng tấm vải lanh màu xanh nước biển vẽ bản đồ các đại dương, trên đó nhiều trận thủy chiến táo bạo nhất từng diễn ra. Thậm chí tôi còn có cả chìa khóa và có thể tự khóa chặt cửa phòng nữa kia. Trong phòng tôi sáng ánh đèn. Tôi thấy ngọn đèn lung linh qua khe cửa và biết ngay ai đang ưỡn người đứng thẳng đơ trong phòng, bên cạnh cái tủ đứng, tóc búi cao và nghiêm nghị, môi mím chặt. Vâng, ngay cả khi cánh cửa vẫn còn đóng, tôi đã thấy mẹ tôi đứng phía trong ở tư thế cứng đơ, hách dịch đó rồi, cho nên lúc bố tôi mở toang cửa ra, tôi đứng dừng lại ngay ở bậc cửa mà không tỏ chút ngạc nhiên nào. Ông đẩy tôi vào trong. Với vẻ mặt chờ đợi, ông ngước nhìn mẹ tôi, bà Gudrun Jepsen. Mẹ tôi vẫn đứng yên một chỗ, không động đậy, nheo mắt nhìn tôi như thể tôi đang đứng đâu rất xa vậy. Bố tôi đợi một lúc khá lâu rồi mới cất tiếng nói: Đây, nó đây! Đoạn, rất sốt sắng, ông đi chéo ngang căn phòng, mắt không rời nhìn mẹ tôi với vẻ dò hỏi, rồi cúi người lôi cái roi nằm sẵn dưới giường tôi ra. Đứng thẳng người, ông lại ngẩng mặt nhìn mẹ tôi dò hỏi như lúc nãy đã, rồi mới quay về chỗ tôi và nói: Tụt quần ra! Mặc dù tôi đã trù liệu trước, thể nào ông cũng sẽ nói vậy, nhưng tôi không nhanh nhảu tụt quần ra vội. Chờ cho ông nói xong, tôi mới thong thả cởi quần, trao nó vào tay ông, đưa mắt nhìn theo ông cẩn thận vuốt phẳng phiu cái quần ướt mèm của tôi, trước khi đặt nó lên mặt bàn. Tôi không cúi người ngay, tôi chờ ông ra lệnh: Cúi xuống! đã, rồi mới cúi và đặt hai lòng bàn tay lên hai bắp đùi run rẩy. Song, đòn đầu tiên chưa kịp giáng xuống, tôi đã nhanh như chớp, vụt đứng thẳng dậy.
Với vẻ như thất vọng, vâng, thậm chí như phật ý là đằng khác, bố tôi hạ roi xuống và ngước nhìn mẹ tôi, như thể ông muốn bà tha lỗi cho hành động nhát gan đó của tôi. Song, mẹ tôi vẫn đứng nguyên, trân trân, không động đậy. Cái roi lại giơ lên cao, tôi lại cúi xuống, lên gân căng cặp mông để trần và, hai hàm răng nghiến chặt, tôi liếc nhìn nghiêng sang phía mẹ tôi. Cả lần này cũng vậy, vừa cúi xuống tôi đã lại nhanh như chớp đứng thẳng ngay lên, trước khi roi kịp giáng xuống. Đoạn, tôi bước lên trước hai bước cho dãn gân dãn cốt, lấy tay xoa xoa hai bên mông, rồi lùi lại, cúi người đưa mông ra dưới cái roi vẫn đang ở trên cao kia. Lần này, tôi tự nhủ, dứt khoát sẽ chịu đòn; song trước khi cái roi kịp vun vút vụt xuống, thì tự dưng đinh đóng ván lát nền bỗng động đậy, cua biển bỗng bò ở đâu ra chực cắp chặt vào đầu gối tôi, lại thêm một con hải âu bay đến mổ liên hồi vào gáy tôi, khiến tôi không biết làm sao hơn là quỵ hai đầu gối xuống và mếu máo khóc.
Mẹ tôi hình như hơi bị bất ngờ trước hành động đó của tôi, nên bà có vẻ như chợt bừng tỉnh. Bà buông thõng hai tay xuống, rồi, không còn màng gì tới việc đánh đòn tôi nữa, bà liếc nhìn vào mặt tôi với ánh mắt mệt mỏi, đầy vẻ coi thường, trước khi hờ hững, ngao ngán bước ra khỏi phòng. Bố tôi ngơ ngác nhìn theo bà, lẩm bẩm nói với theo cái gì đó như thể muốn níu bà lại. Song, mẹ tôi đã ra đến ngoài hành lang, rồi đến phòng ngủ, và sau rốt, đã nghe tiếng chìa khóa xoay loạch xoạch trong ổ.
Bố tôi nhún vai, chằm chằm nhìn tôi, hơi lúng túng và có vẻ chẳng ham hố gì lắm nữa. Tôi nhận ra dịp may, liền vừa mếu máo, vừa gượng mỉm cười với ông; thậm chí tôi còn cố nháy mắt với ông, như nháy mắt với một kẻ tòng phạm sau cơn hiểm nguy vậy. Song, rõ ràng, nháy mắt đã không thành, lại còn làm mặt mũi tôi thành ra nhăn nhó; bố tôi liếc nhanh, nhìn xuống chiếc đồng hồ quả quýt rồi hờ hững nắm cổ áo tôi, lôi xềnh xệch đến bên chiếc bàn. Ông cẩn thận ấn nửa thân trên của tôi xuống mặt bàn. Tôi cưỡng lại, cố đứng thẳng dậy. Ông lại ấn tôi xuống. Tôi cưỡng lại lần nữa. Ông lấy lòng bàn tay bợp một cái vào gáy tôi, bắt tôi gập người xuống bàn, nhưng tôi vẫn cưỡng lại. Mặt tôi áp lên tấm bản đồ bằng vải lanh vẽ biển cả; đại dương xanh mênh mông trải ra ngay trước mắt tôi, những miền đại dương tôi từng mơ tung hoành làm chủ mỗi khi diễn lại các trận thủy chiến lừng danh; đây, tôi vừa đánh thắng xong trận Lepanto, đây là trận Trafalgar, còn đây là các trận Skagerrak, Scapa Flow, Orkney hay Falkland vừa huy hoàng tái diễn. Ấy vậy mà lúc này, thuyền tan, buồm nát, tôi đang phải bơ vơ, trôi dạt vô định vào chính những vùng biển vinh quang hiển hách tôi từng mơ ước ấy.
Cứ tưởng cánh tay bố tôi đưa roi lên cao đã có vẻ thờ ơ và ít nhiều ủ rũ, nên quả thật tôi không ngờ miếng đòn đầu tiên giáng xuống đã lại nhói đau, nóng rẫy đến thế, và ngay miếng đòn đầu tiên đã hằn một lằn roi dài, nóng rát trên mông đít tôi. Tôi vùng bật dậy thì bố tôi dùng tay trái ấn xuống, dìm tôi chìm xuống biển sâu nóng bỏng nỗi đớn đau thất bại, còn cánh tay phải, ông giơ cao cây roi lên rồi giáng nó xuống, giáng khá mạnh, nhưng cũng lơ đễnh thế nào đó. Đến lúc tôi, cứ sau mỗi đòn ông giáng xuống lại kêu thét lên, bằng thứ tiếng kêu hơi the thé, hơi khè khè và cũng hơi phóng đại chút đỉnh, thì bố tôi chốc chốc lại ngừng để dỏng tai nghe ngóng ngoài hành lang, xem mẹ tôi có xuất đầu lộ diện không. Tiếng tôi kêu thét lên như thế, chắc ông nghĩ vậy, âu cũng là để đền bù cho nỗi thất vọng khi nãy của bà.
Bởi tiếng ồn ào của trận đòn dành cho tôi ở đây thể nào cũng phải lọt đến tai bà - đang một thân một mình ngồi trong căn phòng ngủ lạnh lẽo - thì ắt bà không thể làm ngơ mãi được, hẳn ông đinh ninh như thế, nên thỉnh thoảng ông lại quay đầu về phía cửa, dỏng tai nghe ngóng và chờ đón. Vâng, đây chính là bố tôi. Con người vĩnh viễn an phận kẻ thừa hành. Viên chấp pháp tuyệt hảo. Mẹ tôi không ra khỏi phòng ngủ nữa. Ngay cả khi tôi kêu thét lên một tiếng, rồi lập tức tắc nghẹn - một tiếng kêu mà khi nghe thấy, bà phải rất lấy làm lạ mới đúng - bà cũng không ra. Điều đó làm bố tôi chán nản ra mặt: cho nên những nhát roi sau cùng ông quất xuống xem ra cố vẻ chiếu lệ, hời hợt hơn chút ít, và lúc tôi ngoái đầu nhìn ông thì ông ngoắc ngoắc cái roi, ra hiệu bảo tôi sang bên giường mà nằm.
Tôi buông người nằm sấp xuống giường. Nhưng bố tôi dùng một đầu roi hất cằm tôi lên. Ông bắt tôi phải ngước lên nhìn ông. Qua làn nước mắt ràn rụa, tôi có cảm giác dường như ông bị kiệt sức và bất hạnh lắm; thế nhưng, như để xua cảm giác ấy của tôi, ông lên giọng hỏi: Bây giờ mày nói thế nào nào? Để ông khỏi phải hỏi thêm lần nữa, tôi vội đáp thật nhanh: Bao giờ có giông bão thì con phải ở nhà. Bố tôi gật đầu hài lòng, rồi rút cây roi khỏi cằm tôi. Phải, cứ có giông có bão là mày phải ở nhà, ông nói: Đúng thế! Mẹ mày bắt mày ở nhà. Tao cũng bắt mày ở nhà. Cứ có giông có bão là mày phải ở nhà.
Nói xong, ông giật mạnh tấm chăn dưới người tôi ra, đắp lên trên, rồi chẳng làm gì nữa, ngồi thù lù trên chiếc ghế gỗ trước tấm bản đồ vẽ các đại dương của tôi. Ông vẫn dỏng tai nghe ngóng, nên mặt ông trông méo xệch; ông bất lực, bởi không còn mệnh lệnh hay nhiệm vụ nào để ông thi hành nữa cả. Mà một khi đã không còn mệnh lệnh, không còn nhiệm vụ nào để ông thi hành, thì ông không còn là ông nữa. Dĩ nhiên, nói như vậy không có nghĩa là bố tôi không quen ngồi yên một chỗ, ruồi bâu không buồn đuổi đâu. Ông cũng biết tận hưởng những ngày tháng mùa đông rảnh rỗi lắm - những ngày tháng ông có thể ngồi yên hàng giờ liền nhìn ngắm bếp lò mà không biết chán ấy. Thế nhưng, hễ được giao một công việc rõ ràng, không rối rắm nào đó, thì chắc chắn ông mới thực sự là ông, ông khắc đem hết sức mình làm tròn, cho dù khi thi hành, cứ nói giả dụ thế, ông có phải tự mình nghĩ ra các loại câu hỏi mà ông sẽ phải đặt cho người khác cũng vậy .
Tôi vẫn lè nhè thút thít đầy vẻ thuyết phục. Nằm úp mặt lên hai cánh tay, tôi nheo một bên mắt, nhìn bố tôi qua cùi tay. Các lằn roi rát bỏng sau mông, tấm chăn trở nên nặng trình trịch đè lên người tôi và tôi chẳng còn mong ước, chẳng còn đòi hỏi gì hơn là được nằm đây một mình. Nhưng bố tôi cứ ngồi lì ra đó mãi, không chịu đi cho tôi nhờ; ông có vẻ bất chấp tất tật, kể cả tiếng rên khóc lè nhè của tôi. Được một lúc lâu, đột nhiên ông đứng dậy bước đến giường rồi lấy ngón tay gõ gõ vào vai tôi và nói: Ta bảo sao, mày cứ thế mà làm, hiểu chưa? Tôi đáp: Vâng ạ, rồi để ông ra khỏi đây cho nhanh, tôi lại nhanh mồm vâng dạ thêm lần nữa: Vâng ạ! - Người hữu ích là người biết nghe lời, bố tôi nói, và tôi vội đáp: Thưa bố, vâng ạ! Bố tôi lại nói tiếp, giọng đều đều, đầy cân nhắc: Ta sẽ biến mày thành người hữu ích. Mày khắc thấy! Rồi đột nhiên, ông hỏi độp một cái: Thế lúc nãy, lão họa sĩ có làm gì không? Tôi chưa kịp hiểu ông nói gì, thì ông đã hỏi lại: Thì lúc nãy ở trong lều, lúc chúng mày ở đấy, lão họa sĩ có vẽ vời gì không? Tôi ngạc nhiên ngước lên nhìn ông và sực hiểu, câu trả lời của tôi sẽ quyết định nhiều chuyện, và những gì tôi biết sẽ quan trọng lắm đây. Bởi thế, tôi làm ra vẻ cố vắt óc để nhớ lại mọi sự mà không được, hay có lẽ đúng hơn là, cố làm sao để ông hiểu rằng chính mấy đòn đau điếng ông giáng vào mông tôi đã làm tôi quên hết nhiều chuyện quan trọng ông muốn biết. Mãi một lúc, tôi mới nói: À, chim hải âu ạ. Bác ấy cho chúng con xem tranh vẽ chim hải âu, mà con nào trông cũng giống bố. Bố tôi còn muốn biết nhiều hơn, nhưng tôi chẳng biết kể thêm gì nữa. Thế nhưng, những gì bố tôi nghe được cũng đã đủ, để biến ông thành người khác hẳn: vẻ do dự ở con người ông bỗng biến đâu mất, bỗng dưng ông như bừng tỉnh, nhanh nhẹn, lanh lợi, gương mặt trở nên tỉnh táo, vẻ ngạc nhiên pha thêm chút cay đắng. Ông liếc nhìn nhanh ra cửa sổ, với ánh mắt - ít ra thì tôi cũng tưởng tượng như thế - hăm dọa pha lẫn thất vọng. Sau đó - tôi sẽ chẳng bao giờ quên hình ảnh này - ông ngồi xuống giường, nhìn tôi soi mói, dò hỏi, vâng, thậm chí có vẻ khẩn khoản là khác, rồi cất tiếng chậm rãi nói: Này Siggi, từ giờ bố con mình sẽ phải hỗ trợ nhau. Bố cần mày giúp thì mày sẽ phải giúp. Không đứa nào, kể cả lão, thoát nổi tay bố con mình. Mày sẽ giúp bố và bố sẽ luyện mày thành đứa ra hồn. Cần phải thế. Bây giờ thì nghe đây! Thôi, đừng lè nhè nữa. Nghe tao nói đây!
❀ ❀ ❀
[1] Greyhound là một giống chó săn hiền lành và thông minh, chủ yếu được nuôi để trình diễn và đua. Giống này có chân dài, mạnh mẽ, ngực nở, xương sống linh hoạt và thân hình mảnh mai. (Gago)