Họ phạt tôi, bắt viết bằng xong bài luận. Lão Joswig đích thân dẫn tôi về phòng giam kiên cố, gõ gõ tay lên lớp lưới chăng trước cửa sổ, xoa xoa tấm đệm rơm; sau đó, viên giám thị chúng tôi vẫn có cảm tình nhất ấy ngó nghiêng xem xét kỹ cả chiếc tủ sắt lẫn hốc tường bí mật của tôi lâu nay vẫn nằm khuất sau chiếc gương soi. Chẳng nói, chẳng rằng, hậm hà hậm hực, lão ta xem xét hết cái bàn đến chiếc ghế đẩu chằng chịt vết khía, vết rạch, tò mò soi mói chỗ thoát nước trong chậu rửa, thậm chí, còn gõ gõ ngón tay như dò hỏi bậu cửa sổ, săm soi lò sưởi xem có gì khác thường không, rồi, xong xuôi đâu đấy, lão ta mới đến bên tôi, thong thả sờ nắn người tôi từ vai đến đùi để cầm chắc tôi không mang vật gì có hại trong túi áo túi quần. Sau rốt, với vẻ đầy trách móc, lão đặt quyển vở lên bàn tôi, vở tập làm văn - trên bìa vở có dán miếng nhãn màu xám ghi rõ: vỏ tập làm văn của Siggi Jepsen - rồi không nói không rằng đi ra cửa, với vẻ mặt đầy thất vọng, của một kẻ nhân từ bị xúc phạm; bởi vì lão Joswig - viên giám thị chúng tôi vẫn có cảm tình nhất đó - chịu đựng các hình phạt thỉnh thoảng chúng tôi phải chịu như thế này còn khổ sở hơn, lâu hơn và cũng thấm thía hơn cả chính chúng tôi nữa kia. Lão ta để lộ cho tôi biết nỗi buồn phiền của lão không bằng lời, mà bằng cái cách lão khóa cửa. Lão loay hoay nhét chìa khóa vào ổ, hờ hững, bối rối và lưỡng lự trước khi quay vòng đầu tiên, rồi vặn ngược trở lại, khiến ổ khóa kêu cạch cạch, rồi, như thể đã vượt qua phút do dự, lão ta hằm hằm quay luôn hai vòng liên tiếp. Vâng, không phải ai khác, mà chính lão Karl Joswig, người đàn ông có vẻ ẻo lả và nhút nhát ấy, đã khóa tôi trong phòng giam để viết cho xong bài luận.
Ngồi thế này đã gần hết ngày mà tôi vẫn không sao bắt đầu viết cho được: nhìn qua cửa sổ ra ngoài, thấy sông Elbe đang chảy, dòng sông chảy xuyên qua bóng gương mặt tôi mờ mờ phản chiếu trên kính cửa sổ; tôi cố nhắm mắt lại, nước sông vẫn không ngừng chảy, mặt sông phủ đầy các tảng băng phơn phớt màu xanh da trời đang bồng bềnh trôi. Tôi cứ phải dõi theo mãi những chiếc tàu kéo; chúng từ từ chạy, mũi tàu xắn lên mặt băng những đường ngoằn ngoèo xám ngoét, cứ phải nhìn dòng nước mang theo các tảng băng trôi lổn nhổn, dồn những khối băng chồm lên bãi cát của chúng tôi, ken két xô đẩy chúng lên đến bãi lau sậy khô rồi để quên chúng ở đấy. Tôi miễn cưỡng dõi theo đám quạ đen; bọn chúng như thể hẹn hò nhau ở đây trước khi tạt về Stade không bằng. Chúng bay lẻ tẻ từ Wedel sang, từ Finkenwerder hay Hahnöfer-Sand tới, nhóm thành bầy đông nghịt trên đảo chúng tôi, rủ nhau cất cánh vút lên cao rồi lượn đi lượn lại, chờ ngọn gió thuận chiều sẽ hất chúng về phía Stade. Rặng liễu khẳng khiu, phủ lớp băng mỏng và đầy sương muối làm tôi để ý; hàng rào dây thép sơn trắng, khu xưởng, các biển cảnh báo cắm ở bãi cát, những luống đất đông cứng trong vườn rau mà ra năm chúng tôi sẽ phải tự gieo trồng và chăm bón theo hướng dẫn của giám thị: tất tật những thứ ấy, thậm chí cả mặt trời, ánh nắng như đang chiếu qua một lớp kính mờ, hắt bóng dài nghiêng nghiêng, đều làm tôi sao nhãng. Thỉnh thoảng tôi cứ vừa định bắt tay vào chuyện viết lách thì ánh mắt tôi như thể lại vô tình bắt vào bệ cầu tàu nổi méo mó, xây xước, neo bằng dây xích, cùng chiếc xuồng gắn máy rộng bè bè và sáng loáng đồng thau từ Hamburg vừa đến neo vào đó - chiếc xuồng mỗi tuần, thì cứ nói ang áng thế, thả chừng một ngàn hai trăm nhà tâm lý học xuống đảo, đám chuyên viên tâm lý học quan tâm đến mức bệnh hoạn tới đám vị thành niên khó dạy bảo như chúng tôi. Tôi không rời mắt nhìn theo họ lần bước trên lối đi gồ ghề qua bãi cát, trước khi họ được đưa vào ngôi nhà màu xanh của Ban Giám đốc, cử hành lễ nghi chào hỏi như thường lệ; ở đó chắc thể nào họ cũng được nhắc nhở phải thận trọng và kín đáo khi tiến hành nghiên cứu, trước khi họ hối hả chen nhau ra ngoài, tràn ra khắp đảo chúng tôi, rồi làm bộ rất vô tình, theo nhau sán vào bắt chuyện với bọn bạn bè tôi: thằng Pelle Kastner, thằng Eddi Sillus hay thằng Kurtchen Nickel nóng tính chẳng hạn. Có lẽ, họ quan tâm đến bọn chúng tôi như thế là vì, theo số liệu Ban Giám đốc đã thống kê, gần tám chục phần trăm những ai từng qua cải huấn trên đảo đây đều không tái phạm nữa. Nếu lão Joswig không khóa trái tôi vào phòng giam đây để viết cho bằng xong bài luận, thì bây giờ hẳn họ cũng đang bám theo tôi, dùng kính lúp khoa học của họ soi xét cuộc đời tôi và sẽ bóp đầu, xoa trán, cố vẽ cho bằng được một bức tranh về tôi. Nhưng tôi phải viết bù hai giờ Đức văn, phải nộp bài luận mà cả lão Tiến sĩ Korbjuhn gầy gò và rụt rè lẫn ông giám đốc Himpel của chúng tôi đang trông ngóng. Trên cù lao Hahnöfer-Sand cạnh đây - cũng nằm trên sông Elbe, hơi chếch về phía Twielenfleth Wischhafen, và cũng là nơi giam giữ và cải tạo tụi vị thành niên khó dạy giống như trên cù lao chúng tôi - chắc chuyện sẽ không thể như thế này. Mặc dù hai cù lao này rất giống nhau, mặc dù cả hai đều bị bao quanh bởi thứ nước loang váng dầu như nhau, mặc dù cả hai cù lao cùng chứng kiến những con tàu như nhau chạy qua, được cùng một đám hải âu ghé đậu, song trên cù lao Hahnöfer-Sand không có lão Tiến sĩ Korbjuhn, không có giờ Đức văn, không có những đề luận ghê gớm đến mức, tôi thề không nói ngoa chút nào, làm đa số bọn chúng tôi phải đau đớn về thể xác như thế này. Bởi vậy, nhiều đứa trong bọn chúng tôi mong được cải tạo trên cù lao Hahnöfer-Sand hơn, nơi tàu viễn dương trên đường ra biển chạy qua trước và cũng là nơi ngọn lửa phần phật ồn ào trên ống khói nhà máy lọc dầu luôn luôn vẫy chào từng người một ấy.
Trên hòn cù lao kế cận kia, tôi dám chắc thế, lẽ ra tôi chẳng phải làm bài luận như thế này, bởi ở đó không thể xảy ra chuyện như ở chỗ chúng tôi. Ở đây, chỉ cần một kẻ gầy gò, sực nức mùi dầu xoa đúng kiểu lão Korbjuhn bước vào lớp, dò xét nhìn chúng tôi với vẻ vừa như chế nhạo vừa như e dè, chờ chúng tôi đồng thanh chào “chúng-em- chào- thầy-ạ” xong, thì không một lời báo trước, không một tiếng đánh động, lão chia vở tập làm văn cho từng đứa chúng tôi. Lão không hé răng nói lấy một lời. Thay vào đấy, tôi nói thật đấy, lão bước đến bên bảng với một vẻ đầy khoái trá, nhón một viên phấn, rồi giơ cánh tay xấu xí lên cao, viết đề văn lên bảng. Và, trong lúc tay áo lão tụt xuống tới tận khuỷu, làm lộ cánh tay khô héo, vàng vọt, già nua đến cả trăm tuổi chứ không ít, thì dưới tay lão dần dần hiện lên hàng chữ nem nép, xiên xẹo của thói đạo đức giả. Đề bài viết “Niềm vui nghĩa vụ”. Tôi hoảng hốt nhìn quanh, nhưng chỉ thấy đứa nào đứa nấy gò lưng, mặt mũi hoang mang, tiếng xì xào lan từ bàn này sang bàn khác, tiếng chân đưa lệt sệt trên sàn nhà, các mặt bàn nóng ran hơi thở gấp. Ole Plötz, thằng bạn cùng bàn với tôi, mấp máy đôi môi dày lẩm nhẩm đọc đề bài và chuẩn bị lên cơn co giật. Charlie Friedländer là thằng có tài làm bộ ốm đau, tái nhợt, xanh xao bất kỳ lúc nào nó muốn, ai trông cũng tưởng nó nguy kịch đến nơi, khiến các thầy bao giờ cũng vội vàng cho nó nghỉ học ngay, không phải làm bài nữa, cho yên chuyện - Vâng, thằng Charlie bây giờ đang bắt đầu trổ tài nín nín thở thở của nó, mặt mũi tuy chưa đến lúc tái đi, song, nhờ sự hỗ trợ khéo léo của các động mạch ở vùng cổ, mồ hôi đã nảy thành giọt li ti trên trán và vành môi nó. Tôi lôi chiếc gương con khỏi túi quần, hướng nó về phía cửa sổ, bắt ánh nắng hắt lên bảng, khiến lão Tiến sĩ Korbjuhn giật mình quay người lại, bước đôi bước ra sau bục giảng, thủ thế cho chắc ăn, rồi từ trên cao, lão lệnh cho chúng tôi bắt tay làm bài. Lần nữa, cánh tay khô khốc của lão lại vung lên cao, ngón tay trỏ nghiêm khắc chỉ vào đề luận: “Niềm vui nghĩa vụ”, rồi để tránh mọi câu hỏi có thể nảy ra, lão nói thêm: Ai viết thế nào cũng được, tùy ý; chỉ cần bài luận xoay quanh đề tài niềm vui nghĩa vụ là được.
Tôi cho tôi bị phạt, phải viết bài luận, lại còn bị nhốt cách ly và tạm thời không được ai thăm viếng như thế này, là thật oan uổng; bởi tôi bị phạt không phải do tôi kém khả năng hồi tưởng hay nghèo trí tưởng tượng; tôi bị đẩy vào nơi biệt giam này, đúng ra, là vì trong lúc ngoan ngoãn tìm các niềm vui nghĩa vụ, đột nhiên tôi thấy có nhiều chuyện để kể quá, nhiều đến mức, dù có cố đến mấy, tôi vẫn không biết mở đầu thế nào. Bởi lão Korbjuhn đòi chúng tôi phải phát hiện, phải mô tả, phải trải nghiệm, phải chứng minh rõ ràng, không phải bất cứ thứ gì tùy ý, mà nhất thiết phải là niềm vui nghĩa vụ, cho nên tôi không thể nhớ đến ai khác ngoài bố tôi, ông Jens Ole Jepsen, cùng sắc phục cảnh sát, chiếc xe đạp công vụ, cái ống nhòm, chiếc áo mưa trùm đầu của ông lẫn hình bóng ông trên mặt đê, lồng lộng gió hướng Tây không bao giờ ngừng thổi. Bắt gặp ánh mắt hối thúc của lão Korbjuhn, tôi chợt nhớ đến một ngày xuân thì phải, không, phải sang thu rồi, à, cũng không phải nốt, chỉ mới mùa hạ, trời tối om, gió mát, bố tôi, như mọi khi, đẩy chiếc xe đạp lên con đường hẹp lát gạch, rồi dừng lại, như mọi lần, dưới tấm biển “Chốt cảnh sát Rugbüll”, nhấc bánh sau lên, gạt pê đan vào vị trí cần thiết, đặt một chân lên đó, rồi y như mọi khi, dùng chân kia đẩy đẩy xuống đất hai lần, lấy đà vắt người lên yên và đạp xe - mới đầu ngoằn ngoèo, nhấp nhổm, áo phồng to lên vì gió Tây thổi - một quãng về phía quốc lộ Husum, là đường quốc lộ dẫn tiếp về Heide và Hamburg, vòng qua cái ao than bùn, rồi bị gió thổi xiên hông, chạy dọc theo mấy con mương xám xịt như lông chuột chũi về phía đê và, cũng như mọi ngày, lăn bánh qua cỗ cối xay gió bị trụi cánh quạt, sau chiếc cầu gỗ lại xuống xe, đẩy nó xiên lên mặt đê, và trên đó, giữa nền chân trời trống trải ấy, bóng hình bất ngờ trở nên lồng lộng, ông lại nhảy trên yên xe và như một chiếc thuyền tjalk[1] đơn độc, với chiếc áo mưa phình ra, phồng lên như cánh buồm sắp nổ bục, ông lướt dọc theo đê về Bleekenwarf, như xưa nay vẫn vậy, về Bleekenwarf. Ông không bao giờ sao nhãng việc của ông. Nếu gió Tây có thổi đến mức bay cả tàu chiến qua bầu trời Schleswig-Holstein đi nữa, bố tôi vẫn lên đường. Dẫu buổi đầu năm đất đai còn loang lổ tuyết, dẫu mưa, dẫu Chủ nhật xấu trời, sáng sớm hay tối khuya, thời chiến hay thời bình, ông đều lên xe, đạp đến ngõ cụt của các chuyến công vụ ông vẫn thi hành, chuyến nào cũng như chuyến nào, mãi mãi và vĩnh viễn, chỉ đưa ông đến Bleekenwarf mà thôi. Amen! Lạy Chúa tôi!
Như tôi đã kể, tôi nhớ ngay đến cảnh tượng đó, cảnh tượng viên cảnh sát chốt Rugbüll nằm ở cực Bắc nước Đức, ngày ngày khó nhọc lên đường và, để hầu lão Korbjuhn, tôi còn cố tưởng tượng cảnh tôi quàng khăn quanh cổ, nhảy lên poóc ba ga chiếc xe đạp công vụ và cứ thế bám theo đến Bleekenwarf, như bao lần vẫn thế, mấy ngón tay lạnh cóng, như bao lần vẫn vậy, bám chặt vào thắt lưng bố tôi, trong khi cái poóc ba ga cứ thế hằn vào đùi tôi những vệt đo đỏ. Tôi vừa đi theo, vừa như người ngoài cuộc, dõi theo bóng hai bố con nổi giữa nền trời đầy mây buổi xế chiều, chạy xe dọc đê, vừa cảm thấy từng ngọn gió từ bãi biển ngập bùn cát mênh mông thổi vào, vừa từ đằng xa, nhìn thấy hai bố con chúng tôi chệnh choạng cũng bởi đúng những ngọn gió ấy. Tôi nghe tiếng bố tôi rên trong lúc gắng sức, nhưng khồng phải rên vì tuyệt vọng hay bực dọc với ngọn gió tai ác, mà rên cho phải nhẽ và tôi có cảm giác, ông còn rên rỉ một cách khoái trá nữa là đằng khác. Dọc theo bãi bùn cát phẳng lì ven biển, dọc theo bờ biển mùa đông đen ngòm, chúng tôi đạp xe về Bleekenwarf, một trang ấp quen thuộc với tôi không kém gì cái cối xay gió hỏng và ngôi nhà chúng tôi ở. Trước mắt tôi, khu trang ấp nằm đấy trên gò đất bẩn thỉu, bao quanh là rặng bạch dương rủ ngọn sang hướng Đông; tôi thấy tôi đứng trước cánh cửa gỗ đung đưa, rồi tôi đẩy cửa, đưa mắt dò xét nhìn vào ngôi nhà ở, chuồng gia súc, nhà kho, rồi xưởng vẽ, và vẫn như mọi khi, bác Max Ludwig Nansen từ trong xưởng đang đưa tay vẫy tôi, vừa ranh mãnh, vừa ra vẻ dọa dẫm một cách trìu mến.
Dạo đó người ta cấm bác ấy vẽ, và bố tôi, viên cảnh sát chốt Rugbüll, phải canh chừng, để lệnh cấm được tuân thủ ngày này qua ngày khác, mùa này qua mùa khác; bố tôi, thì tôi cũng cần nói cho rõ nhẽ, phải ngăn không cho bất cứ bức tranh nào được phác thảo hay vẽ ra, phải ngăn không cho nảy sinh bất cứ ước vọng bất chính nào dính dáng đến màu mè, hay ánh sáng, hoặc nói tóm lại, với tư cách cảnh sát, bố tôi phải giám sát, làm sao cho ông họa sĩ nọ ở Bleekenwarf không có vẽ vời gì nữa hết. Bố tôi với bác Max Ludwig Nansen quen nhau từ lâu, đúng ra là từ hồi còn trẻ con và, vì cả hai đều dân Glüserup, cho nên cả hai ông, ông này biết tỏng ruột gan, lòng dạ ông kia và, có lẽ, cả hai đều biết rõ những gì đang ở trước mắt họ, cũng như, về lâu dài, đều biết thừa ông này sẽ có thể gây ra cho ông kia những chuyện gì.
Ít có kỷ niệm nào được lưu giữ cẩn thận đến thế trong trí nhớ tôi như kỷ niệm về các cuộc gặp gỡ giữa bố tôi với bác Max Ludwig Nansen; bởi vậy, tôi mở quyển tập làm văn ra với vẻ đầy tự tin, đặt chiếc gương con bên cạnh, rồi thử viết về chuyến đi của bố tôi đến Bleekenwarf, không, không chỉ về các chuyến đi, mà về tất tật những mưu mẹo hay cạm bẫy ông nghĩ ra chỉ cốt để gài bẫy bác Nansen, về tất tật những toan tính, những đường đi nước bước, nảy ra từ cái đầu đầy nghi kỵ của ông, những mánh lới, những ngón bịp bợm. Và, vì lão Tiến sĩ Korbjuhn muốn vậy, tôi cũng định viết về các niềm vui khoan khoái trong lòng ông khi thực thi nhiệm vụ ấy. Nhưng, tôi viết không được. Không sao vào được đề. Tôi cứ loay hoay vào đề với cảnh bố tôi từ trên đê đi xuống, lúc thì cho ông khoác áo choàng, lát sau lại để ông không choàng áo nữa, lúc tôi cho gió thổi mạnh, lúc tôi lại để gió lặng, lúc này tôi vào đề bằng ngày thứ Tư, lát sau lại thay bằng thứ Bảy. Vào đề thế nào cũng không ổn. Chộn rộn quá, náo động và đông đúc quá; trước lúc bố tôi đến được Bleekenwarf thì tôi đã để ông biến mất khỏi tầm mắt tôi rồi, bởi đám hải âu nổi loạn, thoăn thoắt nhào lên lộn xuống, bởi chiếc thuyền buồm chở than bùn cũ kỹ bị lật hay bởi hình ảnh chiếc dù lơ lửng trên bãi bùn cát ven biển.
Song, gây nhiễu nhiều nhất vẫn là ngọn lửa nhỏ, ngọn lửa liều lĩnh và táo tợn, làm hư hại, tan chảy hay bốc cháy mọi hình ảnh lẫn sự kiện hiện lên trong trí nhớ và, nếu có không bị ngọn lửa kia liếm vào, thì những hình ảnh đó cũng bị cong queo hay hóa than hoặc, đôi khi còn bị vùi dưới đống than hồng lung linh run rẩy.
Vậy nên tôi thử từ phía bên kia vậy. Tôi tưởng tượng tôi ở Bleekenwarf để mở đầu câu chuyện ở đây và, bác Max Ludwig Nansen với đôi mắt xám và tinh nghịch khắc giúp tôi sàng lọc các luồng ký ức. Bác ấy khiến tôi phải đưa mắt nhìn về phía bác; để chiều tôi, bác bước ra khỏi xưởng vẽ, lững thững lê chân qua vườn hoa đến mấy khóm cúc ngũ sắc đã bao lần bác đưa vào tranh, chậm rãi trèo lên mặt đê, trên đó, vắt ngang nền trời là một áng màu vàng nặng trĩu và gay gắt, chỗ này chỗ kia chen đôi vệt màu xanh sẫm. Bác đưa ống nhòm lên, nhìn một lát về phía Rugbüll. Chỉ cần có thế thôi là bác đã đột nhiên quay người, xăm xăm quay trở lại nhà và biến hẳn vào trong. Chỉ một tẹo nữa thôi là tôi đã tìm được cách mở đầu câu chuyện, nhưng cánh cửa sổ bỗng dưng mở toang ra và bác gái Ditte, vợ bác Max Ludwig Nansen, như mọi lần vẫn vậy, chìa cho tôi miếng bánh nướng. Đơn giản là nhiều chuyện quá; tôi nghe văng vẳng đâu đó tiếng hát của tụi học trò ở Bleekenwarf, tôi lại thấy ngọn lửa, tôi lại nghe các tiếng động khe khẽ bố tôi gây ra mỗi lần đi tuần đêm. Jutta lẫn thằng Jobst, những đứa trẻ lạ mặt, bất ngờ gặp tôi trong đám lau sậy. Ai đó ném màu vẽ xuống ao, làm nước ao bỗng sáng rực màu da cam. Ông bộ trưởng nào đấy đang đọc diễn văn ở Bleekenwarf. Bố tôi đứng nghiêm giơ tay chào. Xe hơi mang biển số lạ dừng chân ở Bleekenwarf. Bố tôi đứng nghiêm giơ tay chào. Tôi nằm mơ trong cối xay gió bỏ hoang, nơi cất giấu các bức tranh, còn bố tôi nắm dây cương giữ ngọn lửa, cởi dây cương rồi ra lệnh cho ngọn lửa: “Sục!”
Mọi sự mỗi lúc một đan cài, chồng chéo, quấn quýt vào nhau, cho đến lúc ánh mắt thúc giục của lão Korbjuhn bỗng nhắm thẳng vào tôi; thế là tôi, nói một cách bóng bẩy, liền thu dọn, vuốt phẳng các lớp ký ức, lau sạch, rũ bỏ các kỷ niệm râu ria, phơi hết mọi chuyện ra trước mắt mình - nhất là hình ảnh bố tôi và niềm vui nghĩa vụ - cho dễ mô tả, dễ diễn giải. Tôi cũng gần làm được việc đó rồi đấy, đã sắp xếp các nhân vật quan trọng nhất thành hàng dưới chân đê, cũng đã định để họ diễu qua trước mắt tôi rồi đấy, thì thằng Ole Plötz ngồi cạnh tôi kêu thét lên một tiếng và lên cơn co giật nằm vật ra ghế dài. Tiếng kêu thế là cắt hết mọi dòng hồi tưởng của tôi, tôi không sao mở đầu bài văn được nữa; tôi đành chịu thua và, đến lúc lão Korbjuhn thu vở, tôi đành phải đưa nộp quyển vở trang nào trang nấy còn trắng nguyên của tôi cho lão.
Lão Julius Korbjuhn không chịu thông cảm với các khó khăn của tôi, lão không tin nỗi giày vò của tôi khi tìm cách mở đầu bài luận, vâng, nói tóm lại, lão không thể hình dung ra dù cho dây xích đã căng, chiếc mỏ neo của ký ức vẫn không móc vào đâu được cả mà chỉ kéo lê, lách cách, loảng xoảng, cùng lắm làm khuấy đục bùn dưới đáy sâu, khiến mọi sự không tĩnh lại được, sự yên lặng, tĩnh tại cần có, để tung lưới tóm được và giữ lại những gì đã trôi đi vào quá khứ ấy.
Cho nên, sau khi ngạc nhiên lật lật hết quyển vở của tôi, lão thầy môn Đức văn ấy bảo tôi đứng lên, nhìn tôi có vẻ vừa ghê ghê, vừa thật lòng băn khoăn, bắt tôi nói rõ sự tình, song lại tỏ ra không thể bằng lòng với lời tôi phân bua. Lão ta nghi ngờ ý định tốt đẹp của tôi - ý định toan vận dụng cả ký ức lẫn trí tưởng tượng ấy - lão phủ nhận nỗi khó nhọc của tôi khi tìm cách mở đầu bài luận. Lão chẳng nói gì hơn, ngoài câu: Này, Siggi Jepsen, trông cậu không có vẻ như thế tí nào, và khăng khăng, những trang giấy tôi để trống kia là nhằm chống lại lão. Thay vì tin vào sự chân thành trong lời tôi, lão lại đánh hơi thấy một thái độ chống đối, một ý đồ kháng lệnh… vân vân của tôi, và, vì người phụ trách những việc như vậy là ông giám đốc, cho nên sau giờ Đức văn, giờ học chẳng mang lại gì cho tôi hơn ngoài nỗi đau cùng các ký ức quay cuồng, lung lay, run rẩy và không sao nắm bắt được ấy, lão Korbjuhn dẫn tôi sang khu nhà quét vôi xanh của Ban Giám đốc trại, lên văn phòng giám đốc ở tầng một, nằm ngay cạnh cầu thang.
Ông giám đốc Himpel, trong bộ áo gió và quần lửng chẽn gối như mọi khi, lúc ấy đang được vây quanh bởi khoảng chừng ba mươi hai nhà tâm lý học - những vị điên cuồng quan tâm đến các vấn đề của đám tội phạm vị thành niên ấy. Trên bàn giấy của ông có chiếc bình đựng cà phê màu xanh và những trang giấy dính bẩn, dùng để ghi nốt nhạc, đôi trang đã thấy phủ đầy các sáng tác vội vã, đượm vẻ đồng quê của ông, những ca khúc ngắn, trong đó có nhắc đến sông Elbe, đến gió biển âm ẩm, đến những thân yến mạch bạt gió mọc gần bờ cát, đến những bầy hải âu bay lượn, song cũng đả động đến tiếng reo phần phật của khăn trùm đầu cũng như tiếng gọi giục giã của còi tàu trong sương: chính ban đồng ca của cù lao chúng tôi đã được ông chọn làm nơi cho những ca khúc như vậy khai sinh.
Hai thầy trò chúng tôi vừa bước vào phòng, đám chuyên gia tâm lý học liền nín bặt, cùng lắng nghe xem lão Korbjuhn thuật lại những gì cho ông giám đốc. Lời tường thuật rất khẽ, song tôi vẫn nghe được, rằng mọi sự xoay quanh thái độ chống đối và ý đồ kháng lệnh, và, như để chứng minh cho những lời mình nói, lão Korbjuhn trao quyển vở làm văn còn trắng trơn của tôi cho ông giám đốc; ông này ném nhanh một cái nhìn đầy vẻ lo âu về phía các chuyên gia tâm lý học, đoạn ông bước về phía tôi, cuộn tròn quyển vở của tôi lại, dùng nó đập đập đôi lần lên ống tay, rồi lên ống quần chẽn gối, sau đó yêu cầu tôi cho ông một lời giải thích. Trước mắt tôi là những gương mặt căng thẳng, sau lưng tôi lão Korbjuhn bẻ ngón tay kêu răng rắc do hồi hộp đợi chờ. Qua cánh cửa sổ trong góc, chỗ có đặt chiếc đàn dương cầm, tôi nhìn ra sông Elbe, nhận ra hai con quạ, trong lúc bay, đang giằng nhau cái gì bùng nhùng, lủng lẳng, trông như một khúc lòng thì phải, hết con này đớp, con kia giật, cho đến lúc miếng mồi tuột ra, rơi xuống tảng băng trôi, và bị ngay một chú hải cẩu đang chực sẵn ở đó đớp mất. Vừa lúc đó, ông Hiệu trưởng đặt tay lên vai tôi, gật đầu thân mật về phía tôi và lần nữa ông bảo, hãy nói ông nghe, trước mặt các chuyên gia tâm lý học đây, vì sao lại thế. Tôi liền kể ông ấy nghe nỗi khổ tâm của tôi: rằng mới đầu, tôi đã tìm ra cái quan trọng nhất quanh đề văn ấy, nhưng sau đó mọi sự lại lung lay như thế nào; rằng tôi đã không tìm được chỗ dựa cần thiết giúp tôi lần lại trong ký ức ra sao. Đứng trước bấy nhiêu khuôn mặt chăm chú, tôi kể ông ấy nghe về sự chen chúc, xô đẩy qua lại củạ các sự kiện trong ký ức tôi, làm mọi cố gắng mở đầu của tôi đều tan vỡ, lộn xộn, và tôi cũng không quên nói với ông ấy rằng niềm vui thực thi bổn phận của bố tôi vẫn còn bền vững lắm, cho nên, chính vì thế, mà cũng là để trung thành với các ký ức đó nữa, tôi không thể viết vắn tắt, càng không thể kể mọi chuyện theo lối tùy tiện được.
Ông giám đốc lắng nghe tôi nói với vẻ ngạc nhiên, thậm chí cảm thông là đằng khác, trong khi đám chuyên gia tâm lý học mới tốt nghiệp xì xào, bước xích lại gần hơn, chen chúc, xô đẩy, rỉ tai nhau, nào “rối loạn nhận thức theo Wartenburgischer”, đến “ảo giác khúc xạ” hay thậm chí, triệu chứng của căn bệnh “ức chế nhận thức”, là căn bệnh tôi nghe thấy ghê người nhất; song, đến đây thì tôi thấy ngán tận cổ rồi, cho nên, sau đó, trước mặt những con người nhất định tìm cách nhìn thấu ruột thấu gan tôi cho bằng được này, tôi không muốn giãi bày gì thêm nữa cả. Thời gian bị giam cầm trên cù lao này, ít gì, cũng đã đủ để dạy được tôi điều đó.
Ông giám đốc trầm ngâm bỏ tay khỏi vai tôi, ngắm nghía bàn tay mình thật cẩn thận, như thể xem nó còn lành lặn như cũ không, rồi dưới những ánh mắt chăm chú không khoan nhượng của khách khứa, ông quay ra phía cửa sổ, đứng yên nhìn ra bầu trời giữa tiết mùa đông đang trùm lên Hamburg một lúc lâu, như thể muốn tìm trên đó vài lời khuyên hay đôi điều gợi ý nào vậy, đoạn, ông quay mặt lại về phía tôi và, với ánh mắt nhìn xuống, ông cất lời phán quyết. Phải đưa tôi về phòng giam, ông nói, để “cách ly đàng hoàng”, và, cũng như ông nói, không phải để trừng phạt, mà là để tôi không bị phá rầy trong khi suy nghĩ, để tôi nhận ra một điều rằng, hễ đề tài đã được đưa ra, thì các bài luận môn Đức văn đều phải viết cho bằng xong. Có nghĩa là ông còn cho tôi một cơ hội.
Ông nói, tất cả những chuyện có thể làm tôi sao nhãng - như các buổi viếng thăm của chị Hilke tôi chẳng hạn - đều phải gạt bỏ đi, rằng các công việc ở xưởng làm chổi hay tại thư viện, tôi cũng không phải làm nữa, ông hứa không để bất cứ chuyện gì làm phiền tôi và ông mong tôi, với khẩu phần ăn không đổi như xưa nay, vẫn sẽ viết trọn bài luận. Ông bảo, việc này có thể kéo dài, dài bao lâu cũng được. Ông bảo tôi cần kiên nhẫn tìm ra các niềm vui khi thực thi bổn phận vậy. Ông cũng bảo, tôi cần thận trọng ươm mầm, để mặc cho nó lớn dần lên, đại loại như kiểu nhũ thạch dài dần ra theo thời gian vậy, bởi vì ký ức cũng có thể trở thành cạm bẫy, thành một mối nguy, nhất là khi thời gian không bao giờ làm nguôi, vâng, thời gian không bao giờ làm nguôi bất cứ một nỗi đau nào hết. Đám chuyên gia tâm lý học đứng ngây người ra nghe, còn ông thì bắt tay tôi, thân mật là đằng khác; gì chứ bắt tay, thì ông dày dạn kinh nghiệm, rồi ông cho gọi lão Joswig, viên giám thị đáng mến của chúng tôi vào, báo cho lão này biết lời phán quyết của ông, rồi nói đại khái rằng, ông nhé, cậu Siggi không cần gì hết, ngoài thời gian và sự cô đơn; ông gắng lo làm sao để cậu ta có thật nhiều hai thứ đó. Rồi ông trao quyển vở trắng trơn của tôi cho lão Joswig và hai chúng tôi được phép ra về, lững thững đi qua khu sân bị đóng băng lạnh cóng - lão Joswig vẻ đầy lo âu và trách móc, như thể tôi làm lão thất vọng vì bị phạt vậy. Người đàn ông này - một người chẳng còn hứng thú với bất cứ thứ gì khác ngoài sưu tập tiền cũ và nghe các bài hát của ban đồng ca trên đảo - lúc đưa tôi về phòng giam, đã thu mình lại, lầm lì như bị chạm tự ái không bằng. Bởi thế, tôi nắm lấy khuỷu tay lão ta và ngỏ lời xin, nếu có thể, lão đừng trách tôi nhiều quá. Thế nhưng, lão ta không đáp thẳng, mà chỉ nói: Cậu cứ nhớ đến thằng Philipp Neff ấy, có nghĩa là lão đe tôi đừng có mà làm như thằng Philipp Neff, cái thằng chột một mắt, cũng là đứa từng bị phạt, phải viết bù bài luận môn Đức văn như tôi. Nghe bảo thằng ấy suốt hai ngày hai đêm chỉ loay hoay khó nhọc - lý do có vẻ cũng giản đơn thôi - để tìm cách mở đầu bài luận, một bài luận mà như tôi biết, mang chủ đề theo kiểu rất Korbjuhn là “Hãy bàn về một con người anh từng để ý” song, sang ngày thứ ba, thằng ấy đánh gục giám thị, bỏ trốn, trên đường trốn chạy còn bóp cổ chết con chó của ông giám đốc - một hành động chúng tôi không bao giờ quên - chạy ra được đến bãi cát rồi, nhưng bị chết đuối khi định bơi vượt sông Elbe giữa trời tháng Chín. Một từ duy nhất thằng Philipp Neff - nhân chứng bi thảm cho các hoạt động gieo rắc tai họa của lão Korbjuhn ấy - đã viết và để lại cùng quyển vở là “mụn cóc”, một từ âu cũng cho phép thiên hạ suy đoán rằng con người nó để ý là một người mang mụn cóc ở đâu đó. Vâng, nói gì thì nói, thằng Philipp Neff cũng từng là đứa ở đây trước tôi, trong căn phòng họ cấp cho tôi lúc vừa đặt chân lên cù lao giam giữ tụi vị thành niên khó dạy này ít lâu, cho nên, khi lão Joswig đe tôi đừng có mà theo chân thằng Philipp, lão ta làm tôi nhớ ngay đến số phận đen đủi của nó, khiến cho nỗi sợ hãi chưa từng có bỗng xâm chiếm lòng tôi, một nỗi sốt ruột thôi thúc tôi, khiến tôi vừa chỉ muốn ngồi ngay vào bàn vừa sợ hãi, muốn đẩy nó ra, vừa muốn tìm lại đầu mối cũ, vừa lo không khéo tuột mất nó, tôi nửa do dự, nửa quả quyết, phần ngần ngại, phần hăm hở, vừa muốn lại vừa không - kết cục là tôi cứ đứng đực ra đó, thờ ơ nhìn theo lão Joswig lục lọi phòng tôi, không, nào có phải chỉ lục lọi mà thôi đâu, lão ta đang bàn giao căn phòng cho tôi, để tôi làm bài luận đấy.
Tôi ngồi thế này đã gần hết ngày, và có lẽ, tôi cũng bắt đầu được rồi cơ, nếu không bị sao nhãng bởi những con tàu trên mặt sông mùa đông đang chạy tới, mới đầu chưa thấy đâu, chỉ nghe tiếng động cơ rì rì báo hiệu tàu đang đến, tiếp theo là tiếng lộc cộc, răng rắc vang lên từ các tảng băng nổi bị gạt ra, vỡ vụn dọc theo hai bên sườn tàu bằng sắt thép, rồi sau đó, khi nhịp thình thịch vang lên mỗi lúc một mạnh, mỗi lúc một dứt khoát hơn, thì chúng chui ra từ chân trời xám xịt, mờ nhạt, ẩm ướt, run rẩy, một hình bóng dường như đang bơi trong không trung hơn là trên mặt nước, còn tôi phải đưa mắt đón chào và dõi theo chúng chậm rãi lướt qua trước khi biến mất. Mũi tàu, lan can lẫn ống khói đều phủ băng, chúng trôi lừng lững qua mặt tôi, cùng những khoang tàu cao rắc đầy sương muối nghiến vào mặt băng khô cứng. Cái chúng để lại là một lát cắt rộng, nham nhở trên mặt băng trôi, như một con kênh chạy ngoằn ngoèo mỗi lúc một thu hẹp lại về phía chân trời. Và, ánh sáng lẫn màu sắc - không thể tin cậy ánh sáng lẫn màu sắc trên mặt sông Elbe vào mùa đông lúc này chút nào - đang xám xịt đó lại thành xám trắng ngay, tím không tím mãi, đỏ lại có màu xanh lá đằng sau, còn nền trời nhìn về hướng Hamburg trông có vẻ như loang lổ bởi như thâm tím bầm giập.
Trên bờ phía bên kia, từ nơi tiếng búa nén đùng đục vọng đến tận chỗ tôi đây, lơ lửng một dải sương mù mảnh mai, bẩn thỉu, trông giống như lá cờ may bằng vải gạc trải rộng. Gần về phía tôi hơn, ngay giữa sông, lơ lửng làn khói đen nhả ra từ chiếc tàu phá băng nhỏ mang tên “Emmy Guspel”, chiếc tàu khoảng một giờ trước vừa dùng mũi tàu thô kệch cày qua lớp băng trôi ngả màu xanh lơ ấy: làn khói đen dài chẳng chịu chìm xuống, cũng không tản ra, bởi cái lạnh đang cưỡng lại, khiến nhiều thứ còn nằm phơi dở dang ra đó, đến hơi thở hắt ra cũng không tan đi ngay. Tàu “Emmy Guspel” đã hai lần phụt khói qua đây, bởi nó phải giữ cho các tảng băng luôn luôn di động, không cho chúng co cụm lại thành đống băng chặn giữa dòng, gây ra một thứ nghẽn mạch nguy hiểm khôn lường.
Các biển cảnh báo cắm dưới bãi cát bỏ hoang đều vênh vẹo; bị băng trôi va đập làm lung lay, bị nước dâng cao xô đẩy, bị gió mạnh thổi xiêu đi, chúng khiến cánh vận động viên đua thuyền và bơi lội, những người quan tâm đến các biển cảnh báo ấy nhất, phải nghiêng nghiêng đầu mới đọc được, rằng mọi việc, từ áp thuyền, đến thả neo hay cắm trại trên cù lao chúng tôi, đều bị cấm. Sang hè, chắc chắn như thế, họ sẽ dựng lại các biển cấm đó, bởi chính đám dân đua thuyền ấy là đám dễ ngăn cản công cuộc cải tạo bọn vị thành niên chúng tôi đang bị giam ở đây hơn cả; đấy là ý kiến của ông giám đốc và, như thiên hạ từng chứng kiến, cũng là quan điểm của con chó do ông nuôi dạy.
Chỉ riêng trong các xưởng của chúng tôi thì vòng quay công việc không hề đứt đoạn, mà cũng chẳng bao giờ suy giảm đi: bởi vì ở đây họ muốn chúng tôi làm quen với sự ưu việt của lao động, thậm chí họ còn phát hiện cả giá trị giáo dục của lao động nữa, cho nên họ rất để ý, sao cho công việc không bao giờ ngưng bặt. Tiếng rù rù của máy phát trong xưởng điện, tiếng búa nện ting- tong lên xuống trong xưởng rèn, tiếng bào cưa rột roạt trong xưởng mộc lẫn tiếng gõ tiếng cào từ xưởng làm chổi của chúng tôi, chẳng bao giờ ngừng vang lên, giúp chúng tôi quên khuấy mùa đông và nhắc nhở tôi còn có việc phải làm. Tôi phải bắt tay vào việc!
Chiếc bàn tôi ngồi sạch sẽ, chằng chịt vết khía, vết khắc, nào tên họ viết tắt, nào năm tháng, nào ký hiệu, ghi dấu, nhắc nhở những khoảnh khắc của sự đắng cay, của niềm hy vọng, nhưng cũng là của sự bướng bỉnh, ngoan cường nữa. Quyển vở nằm mở sẵn trước mặt tôi, sẵn sàng chờ bài luận tôi viết để chịu phạt. Tôi không thể sao nhãng nữa, tôi phải bắt đầu thôi, phải quay chiếc chìa khóa để rốt cuộc cũng mở kho ký ức chứa đựng mọi chuyện của tôi ra, lôi hết những thứ có thể làm thỏa mãn yêu cầu của lão Korbjuhn: tôi phải tỏ cho lão thấy được niềm vui nghĩa vụ, phải dõi theo tác động của niềm vui ấy lên chính cả tôi, và tôi phải làm việc đó một mình, trong phòng biệt giam này cho đến cùng. Tôi đã sẵn sàng. Và, bởi vì tôi phải đi lên trước, nên tôi muốn quay trở lại đã, để lựa chọn, để tìm một địa điểm nào đấy làm nơi xuất phát. Có lẽ cứ nhắm chốt cảnh sát Rugbüll? Hay tốt hơn, nên chọn ngay toàn bộ đồng bằng Schleswig-Holstein trải từ Glüserup đến quốc lộ Husumer và dọc theo bờ đê, một miền đất mà đối với tôi, chỉ có một con đường duy nhất vắt ngang, chạy từ Rugbüll đến Bleekenwarf mà thôi ấy? Dù tôi có phải đánh thức quá khứ đang ngủ yên dậy thì tôi cũng đành vậy: tôi phải bắt đầu thôi.
Nào, hãy bắt tay vào việc.
❀ ❀ ❀
[1] Một loại thuyền buồm của Hà Lan. (Gago)