Nếu có ai định chặn ông ta lại dọc đường, vâng, nếu có ai định chặn ông Okko Brodersen lại dọc đường mà hỏi xem, liệu trong cặp thư báo của ông có bức thư nào cho mình không, và nếu có, liệu ông ta có thể đưa ngay bức thư cho mình, để ông đỡ mất công không… vân vân và vân vân… thì người đó chỉ tổ mất công thôi, bởi vì ông đưa thư cụt một tay, ngồi xe đạp lúc nào cũng thẳng đơ người và ưỡn bụng ra phía trước ấy, bao giờ cũng chỉ khăng khăng một mực đòi trao thư từ hay bưu phẩm tận tay cho người nhận, hoặc tại nhà, hay ít ra cũng ở ngoài ngõ, và đương nhiên, bao giờ cũng kèm theo đôi lời bình phẩm, hay lắm lúc, thậm chí còn đưa ra đôi lời răn đe hay khuyên bảo người nhận, bằng một giọng như thể ông ta đã biết trước nội dung trong thư là gì rồi. Mặc dù người nhận có thể sẽ chưa có ngay cảm giác bức thư nào gửi đến cũng đều do ông tự tay viết cả đâu, nhưng hẳn sẽ phải nghĩ là ông ta ít ra đã có mặt lúc bức thư được viết ra; cứ nhìn cái lối ông trao thư cho người nhận, có lẽ ai cũng phải có cảm giác đó. Trông cái vẻ ông ta gõ gõ ngón tay lên phong bì mới điệu nghệ làm sao! Cái lối ông ta xoay đi xoay lại phong bì thư trên tay mới có vẻ bề trên làm sao! Đúng rồi, đã biết tính ông ta, thì không ai chặn ông ta giữa đường để hỏi xem mình có thư hay không, mà cứ để mặc cho ông vượt lên trước, rồi lon ton chạy theo ông ta - như tôi bây giờ đang chạy đây - vào trong sân, đến tận cửa vào nhà.
Có thư cho nhà cháu không ạ? - Ông ta gác cặp thư báo lên yên xe, mở nó ra, dùng ngón tay cái lật tập thư bị nhét chặt cứng trong ngăn cặp để nhìn dòng ghi địa chỉ. Không có gì cho nhà cháu ạ? - Chỉ thấy một phong bì màu nâu khổ lớn, viết chữ in bên ngoài, nhưng không có tên người gửi. Không có tên ai gửi cả, ông Okko Brodersen nói, rồi gật đầu có vẻ lưỡng lự, như thể ông đang suy tính có nên tạm giữ bức thư lại hay không đã; nhưng rồi ông cũng chìa nó ra cho tôi, chỉ tay vào trong nhà, và bảo: Đem vào nhà cho bố mày, và nhắn với ông già nhà mày là từ nay về sau, ông ấy chỉ nên nhận thư có tên người gửi thôi nhá. - Vâng ạ. Ông ta không nói gì, cứ thế đạp xe lên lối đi lát gạch, chạy về hướng Holmsenwarf.
Bố có thư bố ạ.
Bố tôi đang lúc lôi giày ra đánh. Mỗi tuần một lần, bố tôi đánh tất tật những đôi giày nào bố tôi tìm được ở trong nhà; ông lôi hết chúng vào bếp, xếp thành một hàng khá ngay ngắn, rồi bắt tay xử lý chúng theo ba khâu: lau bụi, bôi xi, đánh bóng.
Bố tôi bảo tôi để phong thư lên mặt bàn. Vừa dùng mảnh vải len đánh bóng thân một chiếc ủng, viên cảnh sát vừa đưa mắt liếc phong thư, rồi nhún vai trước khi nhìn ra chỗ khác, nhưng - như thể ông vừa sực nhớ ra chuyện gì - lại liếc nhìn lên phong thư lần nữa, lần này nhìn lâu hơn, đã lại toan quay nhìn ra chỗ khác, nhưng nỗi tò mò - nỗi tò mò mà sự xuất hiện của nó trên mặt ông được biểu thị rất rõ rệt - đã quá lớn, khiến ông bỏ chiếc ủng và mảnh vải xuống, nhấc phong thư lên, tìm địa chỉ người gửi, đứng dậy, mở phong bì, lôi thư ra, vừa đứng vừa đọc, có vẻ không hiểu đầu đuôi ra làm sao, lại buông người ngồi xuống ghế băng kê trong bếp, hai tay run run đọc tiếp, đọc lại lần nữa, đưa lên soi soi, nhưng vẫn có vẻ chưa hiểu gì, quay sang sững sờ nhìn tôi một lúc, rồi mới nói: Đi gọi mẹ mày! Mày đi gọi mẹ mày xuống đây! Nhanh lên.
Tôi tót lên gác, gõ cửa và kéo mẹ tôi, bà Gudrun Jepsen, ra khỏi phòng ngủ, để bà đi lên trước, nhưng ở cầu thang thì tôi lại vọt lên, nhìn bà bước vào bếp, đứng dừng lại trước bàn ăn, co ro vì lạnh trong chiếc áo mỏng khoác bên ngoài mỗi sáng, vẻ mặt tỏ ý hơi bực mình, nhưng cũng ra chiều độ lượng. Mới đầu, bố tôi hình như không nhìn thấy bà bước vào. Cũng có thể ông thấy, nhưng cố đọc nốt bức thư lần nữa cho chắc ăn, trước khi đưa nó cho bà. Đâm ra cảnh tượng lúc này trong bếp là, ông ngồi đọc, bà đứng chờ. Bà lặng im, có vẻ đoán ra là đang có chuyện gì đó làm ông lúng túng, khó xử. Ông xoay xoay tờ giấy trên mặt bàn, nghiêng đầu đọc. Đột nhiên, ông đẩy lá thư cùng cái phong bì to về phía bà, đứng phắt dậy, rồi nắm lấy hai vai bà, nhẹ nhàng ấn cho bà ngồi xuống, còn ông vẫn đứng nguyên sau lưng bà. Bây giờ đến lượt ông đứng chờ, bà ngồi đọc.
Ông có đứng yên không à? Không, ông không thể đứng yên chút nào. Ông nói luôn mồm. Lúc thì: Bà đọc đi; lúc khác lại: Bà xem đây này. Hay: Bà có thấy gì không? Hoặc: Nhìn vào đây chắc bà phải nổ con ngươi ra nhá. Nhưng bà không nghe ông nói, không để ông làm rối trí. Bà cũng xoay xoay tờ giấy trên mặt bàn, rồi bà ngẩng đầu lên, mắt trân trân nhìn vào bếp lò, há miệng toan nói gì đó, nhưng không ra tiếng.
Thôi, bây giờ tôi cứ tạm để yên cho hai ông bà rụng rời chân tay, hay đúng hơn là sững sờ, ngồi với nhau một lúc, vâng, trong lúc hai ông bà hổn hển, cố lấy lại hơi, tìm lại giọng như thế, tôi xin kể các vị nghe xem trong bức thư gửi theo đường bưu điện đến nhà tôi ấy có chứa cái gì. Vâng, như tôi đã nói, bức thư không ghi tên người gửi. Cái phong bì khổ lớn đó chứa một trang xé từ tờ tạp chí nào đấy ra. Trên toàn mặt trang tạp chí là bản sao bức tranh mang tên Vũ nữ trên ngọn sóng. Bên mép lề rất hẹp của bức tranh có dòng chữ viết bằng chữ in hoa: Hãy để ý đến nét giống nhau. Đó là bức tranh của họa sĩ Max Ludwig Nansen. Vũ nữ đang múa trong tranh là chị Hilke. Chị múa giữa những gọn sóng nhỏ, vừa nhô lên đã đổ xuống, nơi rìa một bãi biển sáng lòa, phía sau là nền trời rực đỏ; tóc chị để xõa, chỉ mặc trên người một chiếc váy ngắn, có kẻ sọc, đôi vú để trần như có vẻ vướng víu, nên chị đã hạ một cánh tay xuống, đè lên vú, cho nó nằm yên, và trên gương mặt ngả ra sau còn vương vẻ gì như thể chị đang phật ý và mệt mỏi. Chị vừa múa cùng với sóng, mà cũng ngược với sóng, nhịp sóng vỗ làm nhịp cho điệu múa, một nhịp điệu rõ ràng đang kéo chị xa bờ, ra ngoài biển, ở nơi mà điệu múa có lẽ cũng sẽ tắt dần. Vâng, vũ nữ trên ngọn sóng chính là Hilke, chị gái tôi. Có ai ký tên không à? Tất nhiên là không, trên phong bì không ghi tên người gửi, thì trên trang giấy cũng không có chữ ký. Còn dấu bưu điện? Phong thư gửi đi từ bưu điện Glüserup.
Bà bảo thế nào bây giờ nào? - bố tôi hỏi, gõ gõ ngón tay lên bức tranh. Nó đây chứ còn gì nữa! Con Hilke, không cãi vào đâu được, và như thế nghĩa là gì, thì bà với tôi thừa biết. -Phải, tôi nhận ra nó rồi, mẹ tôi nói. Ai mà chả nhận ra, bố tôi nói. - Thế tức là nó cởi áo cho ông ấy xem, mẹ tôi nói. - Nó phô ra mời lão ấy xem thì có, bố tôi hằn học. - Không biết tự trọng, mẹ tôi nói. - Không biết xấu hổ, bố tôi tiếp lời.
Nhìn xuống bức tranh, hai ông bà còn nhiều lời phải nói ra, còn phải kể lể nhiều thứ; tệ hại nhất là những gì chị Hilke đã gây cho ông bà, khiến hai ông bà không đừng được, tự thấy mủi lòng, tự thấy tủi thân, phải than thân, trách phận, và càng giận chị Hilke bao nhiêu, ông bà càng thấy tủi thân, càng tự thương mình bấy nhiêu. Làm sao mà nó lại dám gây chuyện như thế cho nhà mình chứ! Do đâu mà nó lại dám đẩy nhà ta đến chỗ nhục nhã thế này! Mà nó biến đi đâu rồi?
Bố tôi ra ngoài hành lang, ới gọi chị Hilke; ông dừng lại nghe ngóng, rồi gọi lần nữa, và lúc thấy cửa phòng chị Hilke mở ra, thì ông lại đi nhanh vào bếp, tìm một chỗ đứng sao cho oai, chỗ nào hơi cao lên một tí là tốt nhất, nhưng không có chỗ nào cao lên như thế cho ông, nên ông bèn chọn mép ngoài của bàn ăn, đứng giạng chân, ưỡn ngực, ngẩng mặt lên nhìn lạnh lùng, nghiêm nghị. Thế đấy, ông đứng chờ chị Hilke ở tư thế như thế đấy.
Con đây ạ, chị Hilke nói to ở cửa, nhưng ngẩng lên nhìn nét mặt mọi người trong bếp, chị liền hạ giọng, hỏi với vẻ lo lắng: Chết, có chuyện gì thế ạ?
Chị do dự bước vào, bối rối, cũng hơi e dè, đưa mắt dò hỏi nhìn vào mặt từng người. Nhưng mù tịt vẫn hoàn mù tịt. Chị chắp hai tay, xoa xoa vào nhau. Có chuyện gì mà cả nhà ngồi ngây cả ra đây thế này? Nhìn gì mà nhìn như con mắc tội không bằng ấy! Chị buộc lại tóc sau gáy. Chị liếm môi cho đỡ khô. Viên cảnh sát Rugbüll vẫn để mặc cho chị bồn chồn bối rối một lúc; đúng ra thì với bất kỳ ai khác cũng vậy, bao giờ ông cũng để mặc cho người ta bồn chồn bối rối một lát đã, và cũng như mọi khi, trước khi vào việc, ông cứ đủng đỉnh thưởng thức nỗi hoang mang, bối rối của người khác, nỗi hoang mang bối rối do chính cái lối lừ lừ, không nói không rằng có tính toán trước đó của ông gây ra. Vâng, có lúc tôi đã nghĩ - hay đúng hơn là bây giờ tôi mới nghĩ như thế - cái lối lừ lừ, không nói không rằng có tính toán trước đố của ông là một phần của hình phạt, vì một lẽ đơn giản là ông giấu kín, không tiết lộ ngay lời buộc tội ông đã định sẵn ra, thì ông cũng triệt luôn cả các cơ hội bào chữa của con nhà người ta rồi.
Chị Hilke đi thẳng về phía ông, dang hai tay ra với vẻ muốn xin bố tôi nói đôi lời; nhưng ông vẫn im lặng. Có chuyện gì thì bố cứ nói đi nào! Mãi đến lúc này chị mới bắt gặp ánh mắt của tôi ra hiệu cho chị; tôi đánh mắt, hướng chị nhìn lên mặt bàn ăn, lên bức thư nằm trên đó. Đứng sau lưng mẹ tôi, chị nhìn bức tranh rất lâu, thậm chí tôi còn có cảm giác chị nhìn quá lâu là đằng khác. Chị không dám đưa tay cầm tờ giấy lên.
Ra là thế. Vậy con hiểu rồi. Chị phẩy tay, mỉm cười hơi gượng gạo, nói với giọng muốn làm xí xóa cho nhẹ chuyện: Giời ạ, chỉ có thế mà bố mẹ đã hằm hằm thế kia. Chị thở phào, như trút được phần nào gánh nặng, rồi rời mắt khỏi mặt bàn, ngoảnh mặt nhìn ra chỗ khác: Bức tranh vẽ từ đời nảo đời nào đến giờ; phải vào quãng đầu năm ngoái gì đó, có khi lâu hơn. Nói vậy, hình như chị tưởng sẽ làm bố mẹ bớt giận, hay ít ra, sẽ làm dịu bầu không khí đang căng ra trong bếp.
Thế nhưng, mẹ tôi vẫn ngồi bất động, mắt trân trân dán vào các hình vẽ màu xanh in trên tấm vải dầu bọc mặt bàn ăn. Cả bố tôi, cũng đứng yên từ xa, đưa mắt nhìn từ trên xuống tờ giấy trên mặt bàn. Chỉ có thế thôi chứ gì…, chị Hilke thoáng ngập ngừng, rồi nói tiếp: Đúng rồi! Vũ nữ trên ngọn sóng - Lạy Chúa, có gì làm bố mẹ không vừa ý nào? Bác ấy cần có người làm mẫu; bác ấy bảo con làm được. Có thế thôi. Một lần đứng làm mẫu. Độc mỗi một lần thôi. Phải rồi, đứng làm mẫu cho bức Vũ nữ trên ngọn sóng. Làm gì mà bố mẹ đã nhảy dựng lên thế. Thì cũng như là đi khám bác sĩ chứ gì… Chị nói một thôi, và có vẻ như cảm thấy mình được hoàn toàn giải tội, tay chắn chị trông cũng có vẻ thoải mái và tự tin hơn.
Thế là đúng chứ gì, bố tôi nói đều đều, không lên giọng: Cái gì người ta viết trong thư đây là đúng chứ gì. Mày cởi áo xống ra trước mặt lão ấy; mày đúng làm dáng cho lão. Chỉ như thế thôi là đủ biết lòng tự trọng của mày đến đâu rồi.
Chị Hilke quay người, ngạc nhiên nhìn ông: Bố bảo sao, lòng tự trọng ấy à? Sao bố lại nói đến lòng tự trọng ở đây nhỉ? - Mày ở trong nhà này, ăn cơm nhà này, đúng không nào, bố tôi nheo mắt nói, thì mày cũng phải biết có chuyện gì giữa lão ấy với tao chứ. - Chuyện đó đã qua lâu rồi còn gì, chị Hilke thốt lên, ngày ấy đã qua rồi kia mà. Bố tôi nhếch mép, đáp với vẻ khinh bỉ: Chuyện đã đi xa đến thế, thì sẽ không bao giờ qua đi nữa cả. Nhưng đấy là chuyện khác. Chúng tao nói về mày kia, về mày trên bức tranh này này. Có lẽ mày cũng biết, chuyện gì đã xảy ra chứ.
Đúng rồi, trông cô vũ nữ giống con, chị Hilke nói. Đúng thế, cô vũ nữ đang múa trông giống con, phải rồi. Thì đã sao nào. Còn bố tôi, ông nói tiếp luôn: Chả riêng gì chúng tao, ai mà chả nhận ra đó là mày. Đây thôi, có người nào đấy không ghi địa chỉ gửi thư này đến đây; người này đã vậy, thì người khác, ai nhìn bức tranh mà chẳng nhận ra mày. Nếu là người nào khác cơ, nếu là người khác vẽ cơ, thì đã là một nhẽ, đằng này lại do lão ta vẽ. Cái lão tự đặt luật lệ riêng cho mình. Cái lão kiêu căng, tự phụ. Cái lão coi thường tất tật những ai chỉ biết tận tâm thi hành nghĩa vụ của mình. Chẳng lẽ mày không bao giờ nghe ở ngoài kia, người ta nói thế nào về lão với tao hay sao.
Chị Hilke từ từ đến đứng bên cửa sổ, cúi mặt đứng ở đó; chỉ cần nhìn chị là đủ biết, đã đến lúc chị không còn biết đáp lại thế nào nữa rồi. Bố tôi không nhìn theo chị, ông vẫn nhằm vào chỗ trống chị Hilke vừa đứng mà nói tiếp: Mày thử nghĩ mà xem, làm như thế thì mày đã gây ra chuyện gì cho cái nhà này nào.
Tôi không đừng được, tôi phải nhìn sang mẹ tôi. Bà khẽ cựa người, miệng lẩm bẩm nói: Thật kinh khủng, lão ấy đã biến mày thành thứ đến là kinh khủng. Thành thứ gì đó đến là lạ lẫm. Cuồng si. Điên dại. Mà lão đã biến thân thể mày thành cái gì kia chứ. Trông mông mày như bắt lửa thế kia kìa. Chân cẳng cong queo thế kia kìa. Rồi còn cái mặt mày nữa chứ. Làm sao mày lại bằng lòng với bộ mặt như thế mới được, đấy, xem bộ mặt lão gắn cho mày kìa. - Đúng là sỉ nhục, bố tôi nói chêm vào, còn mẹ tôi thản nhiên tiếp lời ông: Từ xưa đến giờ, lão vẽ ai, là lão sỉ nhục luôn người đó, bây giờ, đến lượt lão sỉ nhục mày. Chỉ con cái nhà digan mới múa như thế! - Phải rồi, bố tôi phụ họa: Con gái digan, lão biến mày thành con digan. - Đến nhục, mẹ tôi nói, còn viên cảnh sát cao giọng, làm tiếp luôn: Bây giờ chắc mày biết, mày phải làm gì rồi chứ. - Chỉ có một cách thôi, mẹ tôi lạnh lùng nói: Bức tranh đó, bức tranh như thế, phải làm sao hủy nó đi, lợi cho mày, mà cũng lợi cho chúng tao. - Mày đã giúp cho lão vẽ ra bức tranh, bố tôi nói, thì bây giờ mày phải lo làm sao cho nó biến đi. Mày làm việc này chắc không khó nhọc gì.
Chị Hilke kéo vội một cái ghế đẩu, và, như thể không làm chủ được mình nữa, chị vụng về buông mình ngồi phịch xuống, ngửa hai bàn tay ra nhìn, rồi đột nhiên ôm lấy mặt, rên lên và nấc to mấy tiếng. Ai không biết, lúc ấy hẳn sẽ tưởng chị bị nấc thật, nhưng chúng tôi trong nhà, ai cũng biết chị đang khóc. Mày đã nghe ra chưa? - bố tôi hỏi. Mày đã nghe ra là mày phải hủy bức tranh đi chưa?
Nhìn chị Hilke, thì khó mà biết chị đã nghe ra chưa hay không; chị nghiêng bên này bên kia, như thể muốn tìm chỗ dựa lưng. Mày cứ đòi lại bức tranh, mẹ tôi nói, hoặc mày có quyền đòi lão không cho ai xem bức tranh ấy nữa. - Lão ấy làm nhục mày, bố tôi tiếp lời, thì mày, thì chỉ có mày mới rửa được nhục thôi.
Ông bà thay nhau nói mới nhanh, mới trôi chảy làm sao chứ; người này nhấn mạnh hay giảng giải lời người kia, nhuần nhuyễn như thể ông bà đã luyện với nhau từ trước rồi, và do ông bà không nói thẳng với chị Hilke, những lời khẳng định, những lời buộc tội, những đòi hỏi của ông bà tung ra lưng lửng đâu đó phía trên đầu chị, không lọt vào tai chị, cho nên đứng ngoài mà nhìn rất dễ có cảm giác ông bà đã bàn tính sẵn từ trước với nhau, và bây giờ, những gì ông bà nói qua nói lại cũng không dính dáng đến chị Hilke là mấy, mà chỉ liên quan đến ông bà là chính thôi. Ông bà mớm lời cho nhau, người này gợi ý cho người kia, cùng phóng đại, cùng thổi phồng câu chuyện lên, trong khi chị tôi chỉ biết khóc - tôi phải nói thế - tiếng khóc bất lực, đều đều, chốc chốc chen thêm vài tiếng nấc. Ông bà không ai bảo chị thôi đừng khóc nữa, không, cũng không ai buồn để tâm xem liệu chị có hiểu ông bà muốn gì ở chị không. Bằng lời thôi, ông bà xô đẩy, xoay vần chị tôi, mãi đến lúc chuông điện thoại vang lên, gọi viên cảnh sát vào phòng giấy, ông bà mới thôi. Lúc này mẹ tôi cũng đứng dậy, ra khỏi bếp; à, không, không phải bà đi ngay, mà trước khi lên nhà trên, bà còn bước đến bên chị Hilke, đặt bàn tay lên vai chị, vỗ vỗ nhẹ, rồi sau đó mới ra khỏi bếp.
Tôi làm sao dỗ chị Hilke của tôi bây giờ? Tôi bắt chước mẹ tôi, đặt bàn tay lên vai chị, xoa xoa nhẹ, vỗ vỗ quấy quá theo nhịp bài “Em đẹp ở bên anh” hai bên xương quai xanh của chị, vâng, tôi phải thú nhận là tôi vỗ vai chị không tận tình lắm, bởi tôi chỉ mải dỏng tai nghe xem bố tôi đang nói gì vào điện thoại. Vâng, ông đang hét ầm ầm vào ống nói, vâng, ông là cảnh sát Rugbüll, vâng, số điện thoại của ông là hai - không - hai, vâng, chính ông đang cầm máy, vâng, giọng ông nghe như tiếng kèn trompet.
Tai nạn giao thông ạ? Vâng, tai nạn giao thông… Tai nạn trên đại lộ Husum… Xe chở sữa đâm xe đạp… À, xe Mercedes đâm xe ngựa, ba mươi tám người chết… Vâng, tôi hiểu rồi, xe Mercedes đời ba tám… Liệu các đồng nghiệp ở Glüserup… Vâng, hai người bị thương, như thế thì là chuyện khác rồi… Tại ngã tư đi Söllring, vâng… Rõ ạ!
Ông đặt ống nghe xuống, ra hành lang khoác áo choàng cảnh sát lên người, đeo thắt lưng. Nhìn qua gương, tôi thấy ông vớ cái cặp da đeo vai của cảnh sát, đội mũ, cài khuy túi áo khoác rất cẩn thận. Ông đứng dừng lại ở cửa, liếc nhìn chị em chúng tôi, không ra vẻ chê trách mà cũng chẳng ra vẻ răn đe, và dỏng tai nghe xem trên nhà có động tĩnh gì không một lát, rồi nói vọng lên: Tôi đi, hả. Đoạn, ông bước ra ngoài. Không nói thêm một lời, không thêm một cử chỉ nào thừa.
Tôi phải làm gì với chị Hilke bây giờ? Tôi tính xốc chị đứng dậy mà không được. Tôi thử kéo tay chị đang che mặt ra, cũng không được nốt. Thôi, đi nào, tôi nói, em đưa chị về phòng, lên đấy chị nằm nghỉ một lúc, rồi tính sau. Chị lắc đầu. Chị nói thì thầm: Em đừng đi đâu vội, ở lại đây với chị một lát; nhưng tôi bảo: Chị phải đi cơ, chị phải về phòng chị cơ. Một lát sau, chị cũng đứng dậy thật, đưa một tay cho tôi nắm, và tôi dắt chị Hilke tôi - lúc ấy chị vẫn chưa nín, một tay vẫn áp chặt lên mặt - ra hành lang, rồi về căn phòng nhỏ hẹp của chị. Lúc chị khóc, tôi cảm thấy toàn thân chị khẽ run lên, tôi bèn nói: Chị nín đi, nín đi chị, đừng khóc nữa, chẳng đáng phải khóc đâu. Chị ngồi xuống giường; tôi ngồi xuống bên chị, và thật nhẹ nhàng, tôi cố mãi rồi cũng gỡ được bàn tay chị đang áp lên mặt xuống; mặt chị đỏ ửng, đầm đìa nước mắt.
Thế rồi chị hỏi tôi, có phải từ lâu tôi cũng muốn đi khỏi căn nhà này không, tôi đáp: Phải. Rồi chị lại nói, chị đã nhiều lần định bỏ đi rồi, nhưng vì thương tôi, chỉ vì không nỡ để tôi lại một mình, nên chị chưa đi được thôi. Chị nói thêm: Tao chỉ muốn chết ngay cho rảnh, tôi lại tiếp luôn: Được, chị mà chết, thì em sẽ đem hoa đi đưa đám chị, hoa thuốc phiện đỏ nhá. Lát sau, chị hỏi tôi, tại sao cái nhà này lại xa lạ, lại độc địa thế, và ở đây, có bao giờ tôi thấy thoải mái không. Tôi đáp ngay: Không. Rồi tôi hỏi chị, không biết ai đã sinh ra họ như thế, thì chị lại hỏi: Sinh ra ai? Tôi bảo: Thì ông cảnh sát Rugbüll với vợ ông ấy chứ ai nữa. Chị lại hỏi tôi, hay hai chị em mình bỏ đi, đến Hamburg, ở đấy chị thông thạo nhiều thứ, và tôi cũng sẽ gặp may mắn ở đó. Tôi đáp: Được chứ, sao không? Lát sau, chị bảo tôi: Làm sao mà chị hủy bức tranh đi được, tôi liền đồng tình: Chị không hủy được đâu. Chị lại hỏi: Bác ấy nhìn mày để vẽ, thì đã làm sao? Tôi đáp: Chả làm sao cả. Rồi chị hỏi lần nữa, bây giờ chị phải làm gì, thì tôi nói: Em không biết, và hỏi tiếp luôn, không biết chị đã biết chuyện gì chưa, thì chị lại ngơ ngác: Chuyện gì? Tôi bảo, thì chuyện anh Klaas được giải thưởng nhiếp ảnh chứ chuyện gì, và chị nói: Chị không biết.
Bỗng dưng chị ngả lưng, nằm lăn ra giường, nghiêng người, co chân lên, và có vẻ như đang nín thở, lắng nghe cái gì đó. Tôi kéo dải băng buộc tóc chị ra. Chị nằm im một lúc, rồi nói: Anh Addi về lại Hamburg rồi, tôi hỏi: Thế à? Chị hỏi tiếp, phải tôi, thì tôi có cưới anh Addi không, còn tôi chỉ nói: Cưới thì cưới. Chị nói: Nếu không phải là bố mẹ chị em mình, thì mọi chuyện đã khác rồi không. Tôi đáp: Mình phải đem đi đổi. Chị ngơ ngác: Đổi ai cơ? Tôi nói: đổi ông cảnh sát Rugbüll với vợ ông ấy, chứ đổi ai. Chị tôi nói: Em không được nói như thế đâu, thì tôi vặn lại: Thế chị không muốn như thế chắc? Dừng một lát, chị mới đáp: ừ, chị cũng muốn thế.
Chị em tôi cứ chuyện trò qua lại như thế trong phòng chị; dần dà chị tôi cũng trấn tĩnh lại, xoay người, nằm lại ở tư thế thoải mái hơn, hay ít gì cũng đỡ căng thẳng hơn; tôi tháo giày cho chị, rồi rất cẩn thận, tôi rón rén kéo chăn đắp lên người chị. Nhưng chị Hilke không muốn nằm, nằm đắp chăn lại càng không, chị muốn cho cái gì đấy vào bụng, một khoanh bánh mì phết mứt mận chẳng hạn. Tôi nghĩ đây là dấu hiệu đáng mừng cho thấy chị tôi đã bình tâm, nên tôi hứa sẽ xuống bếp làm bánh cho chị ngay.
Thế nhưng tôi không vào được đến bếp, bởi ngay ngoài hành lang, bác Max Ludwig Nansen đội mũ rộng vành, hai tay đút sâu vào túi, đứng nhìn tôi với gương mặt nghiêm nghị và dò hỏi thúc bách; chỉ thoáng nhìn qua dáng đứng hết sức nôn nóng ấy của bác cũng có thể nhận ra ngay, với bác, đường dẫn đến nhà chúng tôi đã trở nên khó nhọc đến thế nào. Không mỉm cười như mọi khi, không thân mật ẩy nhẹ vào người tôi như mọi ngày, thay vào đó, môi mím chặt, cằm hất lên, đôi vai căng ra - kiểu này, tôi thầm nghĩ, chắc có chuyện không hay rồi đây. Nhưng trước hết, phải chịu cho được ánh mắt bác nhìn thẳng vào mặt, cũng như dáng đứng lừng lững, đòi hỏi của bác cái đã. Một lúc sau, bác nói: Bức tranh đâu? Đưa nó ra đây cho ta mang về. - Tranh nào ạ? Tôi hỏi: Bác nói bức tranh nào ạ? - Không nói lôi thôi, đừng giả vờ, đưa nó ra đây là xong; mày biết thừa bác nói bức tranh nào; bức Vũ nữ trên ngọn sóng chứ bức nào nữa - Nó biến mất rồi ạ? - Phải, nó biến mất rồi, nên bác mới phải đến đây lấy nó về, hiểu chưa. Thế nào bây giờ nào? - Cháu có lấy bức tranh đâu. - Mày muốn bác phải tự đi tìm hả? - Bác cứ tìm, nhưng bức tranh không có ở đây mà. - Này, nghe đây Siggi, nếu cháu không đưa ngay bức tranh ra đây, thì cháu không bao giờ được sang Bleekenwarf nữa đâu. Bác biết tại sao cháu lấy nó mang đi, nhưng bác phải lấy nó lại. Cho nên bác mới phải đến đây. - Nó không ở đây mà, cháu thề với bác đấy. - Để rồi xem, bác họa sĩ nói, nắm chặt lấy khuỷu tay tôi, kéo tôi lên gác, đến trước cửa phòng tôi. Phòng cháu đây đúng không? - Vâng ạ. - Thì mở ra ngay xem nào.
Bác xộc vào phòng tôi, đảo mắt làm một vòng mới ghê chứ! Bác đi ngay ra giữa phòng, ngồi xổm xuống, nhìn quanh một lượt để tìm những chỗ tôi có thể dùng làm nơi cất giấu! Trong lúc đó, tôi lùi ra đứng cạnh cửa sổ, nhìn bác lục lọi giá sách của tôi, lật bản đồ hải dương trên bàn tôi ra xem, khám xét giường tôi nằm với vẻ đầy nghi ngờ, tôi đứng nguyên một chỗ nhìn bác hết mở mấy cái hộp con lên xem - mặc dù chỉ liếc nhìn qua là đủ biết không thể giấu tranh vào đấy được, vì hộp quá nhỏ - lại quỳ xuống, lật tấm thảm vá chằng vá đụp của tôi lên. Mặc dù không tìm thấy gì, bác vẫn chưa chịu thôi. Bác có vẻ cầm chắc bức tranh đang nằm đâu đó trong phòng này, cho nên, sau khi đã lục lọi hết trong phòng rồi mà không thấy gì, bác đến bên tôi, lắc lắc người tôi và hỏi theo nhịp: Nó đâu rồi - Nó đâu rồi - Nó đâu rồi, còn tôi, tôi đáp cũng theo nhịp: Cháu không biết - Cháu không biết. - Mày giấu nó, chứ còn ai! - Không, cháu không giấu mà. - Mày nghĩ nó bị đe dọa, nên mày muốn giấu nó đi cho an toàn chứ gì. - Không phải bức đó, không phải bức Vũ nữ trên ngọn sóng. - Vậy thì phải ai đó trong nhà này. Nếu không phải cháu, thì phải có ai trong nhà này lấy nó đi.
Bác túm lấy cổ áo trước ngực tôi, hơi xoắn lại, rồi nhấc tôi lên cao bằng bàn tay to và rắn chắc, nhìn thẳng vào mắt tôi, nhắc lại câu hỏi, nhưng tôi vẫn chỉ một mực “Không”. Tôi gan lì chịu đựng được cả bàn tay bác túm chặt ở ngực áo lẫn ánh mắt của bác xoáy vào tôi. Nằm gọn trong tay bác và bị bác nhìn như xoáy vào người như thế, vậy mà tôi vẫn còn đủ tâm đủ trí để tự hỏi: Không biết ai đang bổ củi ngoài sân thế nhỉ. Đúng thật, đang lúc hai bác cháu còn bác căn vặn, cháu chối đây đẩy như thế, thì có tiếng rìu bổ củi chen vào. Bố tôi chứ còn ai vào đây! Về sau tôi mới biết, bố tôi đến được nơi xảy ra tai nạn giao thông thì người gặp nạn đã người nào đường người ấy rồi, và, bây giờ, ông ra tay chẻ đống củi chất đống chờ ông từ mấy tuần nay; có lẽ cũng cần nói thêm, củi này là gỗ thải ra từ nhà máy cưa ở Glüserup.
Bác họa sĩ nhìn qua đầu tôi xuống chỗ bố tôi dưới sân, và dần dần bỏ tôi xuống, gạt tôi sang một bên, rồi đi ra cửa. Bác xuống cầu thang, ra đến hành lang, và trước khi ra hẳn bên ngoài, bác châm tẩu thuốc cái đã, đoạn, với vẻ hơi trịnh trọng, bác theo bậc thềm đá bước xuống sân, và vừa bập bập tẩu thuốc, vừa quay ra phía nhà kho. Bố tôi chưa nhìn thấy bác, hoặc ông chưa muốn nhìn thấy bác; ông bận chẻ củi, chăm chú, mắm môi, mắm lợi. Ông cẩn thận đặt các khúc gỗ đã được cưa ngắn lên bệ, lùi lại một bước, nâng cái rìu lên lấy đà, rồi nện xuống, lúc giáng xuống, ông có vẻ không dồn hết sức mạnh vào đôi tay ông, mà chỉ như thả cho cái rìu rơi xuống thôi, rơi xuống đúng vào nơi ông đã nhắm trước, và vừa mức để các mảnh củi bửa ra vẫn nằm lại trên bệ, không bắn ra quá xa, chờ ông dùng mu bàn tay gạt cho rơi xuống đất. Bây giờ ông mới ngẩng đầu lên. Ông phải nhìn thấy ông họa sĩ đang đứng trước đống củi từ bao giờ rồi ấy chứ, mỗi lần ông quay sang nhặt một khúc gỗ chưa chẻ nằm bên cạnh, ông phải nhìn thấy đôi giày lẫn mép áo bác họa sĩ từ lâu rồi mới đúng, nhưng ông vẫn làm ra vẻ như thể chỉ có mỗi mình ông trong sân mà thôi. Tôi nghĩ thầm, để xem ông sẽ để bác họa sĩ đứng như thế bao nhiêu lâu, nhưng tôi cũng nghĩ, để xem bác họa sĩ sẽ im lặng đứng chờ bao lâu nữa. Ở quê tôi, người hay thử nhau như thế, ai chịu thua, ai chịu nhường, ai bỏ cuộc sẽ nhanh chuốc tiếng “thua cuộc” vào thân lắm. Bố tôi chưa ngừng chẻ củi, vung rìu lên - cái rìu cũ, lưỡi còn dính vết máu chim bồ câu ấy - thả nó xuống cho nó cắm phập vào khúc gỗ dùng làm bệ đỡ. Bác họa sĩ vẫn đứng nguyên một chỗ, bập bập hút thuốc, và nheo mắt nhìn bố tôi. Mãi vẫn không có gì thay đổi hay sao? Có, bố tôi chẻ nhanh tay hơn, có vẻ thách thức ương ngạnh hơn, vội vàng hơn, ông không còn ngắm cẩn thận như lúc đầu nữa. Chỉ mới thế thôi, ông cũng đã để lộ khá nhiều về những gì đang diễn ra trong lòng ông rồi.
Tôi có thể cứ để hai ông đứng đối nhau như thế cả tuần, bảy tám ngày liền cũng được; có thể viết thành chuyện mà chẳng ai bắt bẻ gì tôi; thế nhưng, rồi tôi cũng phải nhận ra là bác họa sĩ có vẻ chịu nhún trước thật; bác nhặt một khúc củi vô tình bắn ra về phía bác, ném nó trở lại vào đống củi, rồi nói: Ông chẳng cần vội, tôi đứng chờ lúc nào ông xong việc cũng không sao. Bố tôi không nói gì, ông có vẻ hơi lúng túng, dùng ngón tay cái thử xem lưỡi rìu cùn sắc thế nào, rồi lại tiếp tục chẻ, cắm phập rìu vào một khúc gỗ có nhiều mắt; khúc gỗ không bửa đôi ra ngay mà ôm chặt lấy lưỡi rìu; đến nước này thì viên cảnh sát phải dồn hết sức mới chẻ nó ra làm đôi được. Một khúc củi lại văng ra trước chân bác họa sĩ, bác lại nhặt, lại ném trở lại vào đống củi. Bác nói: Khúc nào vào chỗ nấy. Bố tôi không phụ họa, còn bác đứng nguyên một chỗ, tuy cũng kiên nhẫn thật đấy, nhưng khá bất lực, hơi lạc lõng, thậm chí có vẻ làm vướng víu ông chủ nhà. Bác nhận ra điều đó, và rốt cuộc, có lẽ bác cũng nhìn ra là bác phải khơi chuyện trước lần nữa thì mới đạt được điều bác muốn; bác tiến đến gần bố tôi hơn, hai ngón tay cái ngoắc vào mép túi áo choàng, bước sang một bên, rồi hỏi: Có lẽ tôi cũng còn được hỏi ông đôi điều chứ? Viên cảnh sát chẻ nốt một khúc củi to và khô khốc, cắm lưỡi rìu vào bệ gỗ, nhưng sau đó lại nhổ nó ra, và đứng chống người vào cán rìu, ngoảnh mặt, tỏ ý chờ câu hỏi.
Bác họa sĩ không dài dòng vòng vo gì cả, ông đòi lại bức tranh. Sau một lát sững người ra nghĩ ngợi, viên cảnh sát nhún vai, đáp với giọng khinh khỉnh, rằng ông không hiểu bác họa sĩ đòi như thế nghĩa là sao, rằng các bức tranh ông từng bị tịch thu bao giờ cũng có biên lai cả, vậy bây giờ, liệu ông có được xem biên lai tịch thu bức tranh đó không. Lúc này, ông mới ngước mắt nhìn bác họa sĩ; trong khi ông này kiên nhẫn và dứt khoát, rằng ông bị mất một bức tranh, bức tranh mang tên Vũ nữ trên ngọn sóng, và ông đến Rugbüll để lấy nó về.
Bố tôi lại ra chiều nghĩ ngợi, rồi hỏi, liệu ông, tức ông họa sĩ, có biết ông vừa đưa ra một lời buộc tội như thế nào không vân vân và vân vân, bởi những gì ông vừa nói ra, gì thì gì, nghe như thể ông, tức là viên cảnh sát, bị buộc tội đã lấy bức tranh vậy. Đáp lại, bác họa sĩ nhắc bố tôi hãy gắng nhớ lại, cách đây chưa phải là lâu lắm, bố tôi đã được lệnh phải tịch thu tất cả những bức tranh được vẽ ra trái với lệnh cấm, và ông đã răm rắp tuân lệnh tịch thu đó, thậm chí ngay cả khi những kẻ đẻ ra cái lệnh cấm ấy bị tiêu vong rồi, ông vẫn mù quáng và ngoan cố thi hành lệnh của bọn chúng, vẫn thu, vẫn phá hủy, vẫn thiêu đốt; liệu ông còn nhớ không? Ông còn nhớ, đã bao lần ông lảng vảng, rình mò ở Bleekenwarf không? Và chẳng lẽ ông, tức bác họa sĩ, sau bấy nhiêu chuyện, không có quyền hỏi cho rõ việc này việc khác hay sao. Bố tôi lắng nghe, sau đó ông nhấc cái rìu, cán rìu bằng gỗ áp sát, dọc theo cánh tay; cánh tay ông không run, ông chỉ ra lối đi lát gạch, rồi cất tiếng hỏi, liệu ông họa sĩ đã nói hết chưa, và liệu bây giờ ông có nên về nhà thì hơn hay không; những gì hai người cần nói với nhau, họ đã nói hết từ mấy năm nay rồi. Và, kia là lối đi để ông ra khỏi sân. Bác họa sĩ bảo, nếu viên cảnh sát không muốn nhớ lại mọi chuyện cũ, thì bác cũng hiểu thôi và bác cũng sẵn sàng ra khỏi đây ngay, thế nhưng trước khi về, ông muốn nhắc một điều là, cái thời cấm vẽ ấy đã thật sự qua rồi, và cái mà hồi đó ông, tức là viên cảnh sát, có thể đã tưởng là nghĩa vụ, thì ngày nay, chắc chắn phải gọi cái đó bằng tên gọi khác mới đúng.
Ông chỉ muốn nói ra một điều, muốn làm rõ đến nơi đến chốn và hết sức dứt khoát một điều là, đã có nhiều đổi thay so với hồi đó: hiện giờ ông không cần phải nằm chờ, không cần phải nín lặng chịu đựng, và ông cũng sẽ không chờ đợi, sẽ không làm thinh nín chịu nữa đâu.
Bố tôi chống cái rìu lên bệ đỡ, và hỏi với giọng châm chọc khó chịu, phải chăng đó là lời hăm dọa, và liệu ông họa sĩ, khi gặp dịp, sẽ cho ông một trận nên thân không; nguyên lời ông nói là: đánh vỡ mặt ông không. Bác họa sĩ bảo, bác sẽ không kiêng nể nữa, hết thời để kiêng nể rồi; cái thời mà bác kìm lòng nể nang ấy đã qua rồi. Bố tôi đáp lại, với ông, cái thời ấy cũng qua rồi; dần dần ông cũng nhận ra là ông - trái với lệnh trên - đôi khi đã quá ư nể nang, nể nang đến mức để bây giờ người ta có thể thản nhiên đứng đây với nhau. Chú hồi ấy, ông mà chẳng nghĩ ngợi gì, cứ y từng câu từng chữ ghi trong lệnh mà làm, thì bây giờ chả chắc người ta đã được đứng bên nhau thế này. Có lẽ ông họa sĩ còn chưa nhận ra điều đó cũng nên.
Ông nhận ra đủ rồi, bác họa sĩ nói, hay ít ra ông cũng nhận ra cái được gọi là “phận sự, hay nghĩa vụ” ấy là một căn bệnh như thế nào, và nếu ông có thể làm gì được để chống lại căn bệnh đó, thì ông sẽ hết sức làm; đó là điều mà các nạn nhân, nạn nhân của căn bệnh đó đang trông đợi ở ông. Đến lượt bố tôi, bố tôi muốn biết xem, đó đã phải là những lời cuối cùng chưa, bởi bây giờ ông còn phải làm nốt việc; ông nói, và nhếch mép đầy vẻ khinh ghét, cố sao cho bác họa sĩ cũng phải thấy. Ông cúi người nhặt một khúc củi lên, lúi húi mãi một lúc mới đặt được nó lên bệ, nhấc rìu lên, nhưng lại hạ nó xuống. Ông không giữ bức tranh ấy, ông nói, nhưng nếu ông quả thực có đang giữ nó trong tay, thì ông sẽ còn cân nhắc chán, xem ông có trả lại không; bởi nói gì thì nói, bức tranh cũng có phần dính dáng đến riêng ông. Nói xong, ông dùng cả hai tay giáng mạnh cái rìu xuống, khúc củi bửa làm đôi, văng ra hai bên, còn lưỡi rìu cắm phập vào bệ gỗ. Đến lúc này, bác họa sĩ có vẻ đã hỏi ra điều ông muốn biết, nhưng ông vẫn chưa đi ngay, ông muốn hỏi lại cho chắc, xem hai người đã thật sự hiểu rõ nhau chưa. Liệu ông, tức là viên cảnh sát Rugbüll, có hiểu hậu quả sẽ là thế nào, nếu như… Liệu ông, tức là bác họa sĩ, có cần nhấn mạnh lại là sẽ không còn…
Mặc dù không cố ý, nhưng mỗi câu bác nói ra bây giờ đều vang lên như một lời đe dọa. Tôi không thể nào nghe bác nói bằng giọng như thế nữa với viên cảnh sát đang cố tình quay ra hì hục chẻ củi tiếp. Tôi đi giật lùi vào nhà, mắt vẫn còn nhìn thấy bố tôi lại nâng cái rìu lên, chỉ ra lối đi lát gạch; tôi vẫn giật lùi lên bậc thềm, cảm thấy trong người lại lên cơn, lúc nóng, lúc lạnh, hai bên thái dương căng ra, co lại, ép vào, và lúc tôi đã vào đến phòng tôi rồi, tôi phải lấy tay xoa xoa mãi vào dưới lồng ngực mất một lúc. Hai ông vẫn còn đứng cạnh nhà kho à? Vâng, hai ông vẫn còn đứng ở dưới ấy, bác họa sĩ đã quay người, sắp bước đi; song, có lẽ ông muốn đã nói thì nói cho hết về nỗi thất vọng, về nỗi tức giận dồn nén lâu nay trong lòng ông, về những điều ông thấy cần lên án, cần cảnh báo trước. Bố tôi lúc đáp, lúc không, hoặc cố hỏi vặn lại, hoặc ông chỉ trọn mắt nhìn đối phương - tôi phải nói như thế - với vẻ mặt lúc thì ngạc nhiên, lúc lại cố tình khinh khỉnh. Ai nắm phần hơn ư? Có lẽ, tôi sẽ không nói được, ông nào đã nắm phần hơn trong cuộc đối đầu bên nhà kho trên sân nhà tôi dạo ấy.
Rốt cuộc họa sĩ Max Ludwig Nansen cũng bỏ đi. Thật tình, tôi không chịu được cảnh ấy nữa, tôi chỉ muốn sao cho bác đi khỏi đây thật nhanh, cho nên, lúc bác có vẻ như lưỡng lự, muốn dừng lại trên lối đi lát gạch, tôi phải thầm mong: bác đi đi bác, bác đi đi, đừng đứng lại. Ngoài hành lang thật yên ắng. Chị Hilke cũng không thấy ho hắng gì, có lẽ chị đã xuống bếp tự làm bánh phết mứt mận rồi. Bên trong buồng ngủ khẽ vang lên một thứ tiếng lẩm nhẩm đều đều, mà mẹ tôi có thể kéo hàng tiếng đồng hồ liền, một thứ tiếng lẩm nhẩm không những quen thuộc với tôi, mà còn làm tôi bình tĩnh lại. Tôi tháo sợi dây nối với cánh cửa trổ trên trần nhà, cửa dẫn lên gác xép; tôi chỉ cần kéo sợi dây một cái là cánh cửa mở ra, kéo lần nữa là cái thang cứu hỏa ông Hinnerk Timmsen lắp cho nhà tôi tụt xuống; giống như trong cối xay gió, sau khi đã trèo lên trên gác xép, tôi rút cầu thang lên, rồi đóng cánh cửa lại. Bình tĩnh, bình tĩnh lại nào, tôi tự nhủ. Ở đây có bao nhiêu là cách để trốn. Bao nhiêu là ngóc ngách để chui vào. Ở đây sẽ chẳng ai tìm thấy tôi! Bố mẹ tôi, nếu có lên đây, thì cũng chỉ mỗi năm một lần, để đem cất những đồ vật mà ông bà không muốn vứt đi; và, cũng cần nói thêm, ông bà Jepsen không bao giờ chịu vứt bỏ những đồ đạc cũ, đã hư hỏng, và không còn dùng được nữa. Nào chăn đệm cũ, nào ghế bành đã sờn rách, nào giỏ đựng quần áo cũ, nào bàn ăn, ghế ngồi đã tróc sơn, long mộng, rồi hàng xấp giấy cắt làm mẫu may quần áo, có cả sách cũ, cả vali đã hỏng khóa. Tất tật những thứ ấy ông bà khuân lên đây, để chúng nằm yên một chỗ trong bóng tối, âm thầm mục nát dần theo thời gian. Không sắp xếp, không chồng chất theo trật tự, hay hệ thống nào hết, cứ thế ném lên, quẳng vào, rồi thở phào nhẹ nhõm. Kia là cái lò sưởi dính đầy các vết dầu mỡ màu nâu. Kia là cái tủ, cửa không đóng kín được nữa. Kia nữa là ô cửa sổ con con chưa từng được ai mở ra, ô cửa sổ trổ trên nóc nhà, trông lên trời xanh.
Tôi cởi giày, cẩn thận bò luồn lách đến chỗ ô cửa sổ con trông lên trời ấy. Từ dưới sân vẫn vẳng lên tiếng rìu bổ vào khúc củi cùng tiếng các khúc củi bửa ra. Đây, cái rương của tôi đây, đậy giấy lên trên, quây lại giữa một lô những bao vải cũ và chân ghế gãy. Tôi gạt những thứ tôi dùng để ngụy trang ấy sang một bên, rồi bỏ nốt mấy cuộn giấy dầu ra, mở nắp rương và ngồi xuống. Và, lúc nhìn thấy bộ sưu tập mới của tôi vẫn còn nguyên, không suy suyển, thì hai bên thái dương tôi cũng bớt đau hẳn, không còn bị căng ra, co giật, dãn ra, ép vào nhiều lắm nữa.
Tôi lôi bức tranh Vũ nữ trên ngọn sóng ra, dựng nó vào thành rương; ánh sáng mảnh mai hắt chéo từ trên cao xuống bức tranh, chiếu cảnh chị Hilke múa giữa các làn sóng lăn lăn cho một mình tôi xem. Và, bỗng dưng chị trở nên thân thiết với tôi biết ngần nào, tóc để xõa, dưới nền trời đỏ ối. Bỗng dưng, tôi tha thiết muốn biết chị Hilke tôi đang nghĩ gì, lúc chị - trong chiếc váy kẻ sọc, với đôi vú nhô ra trước - không chịu ngừng múa, mặc dù đã kiệt sức, đơn độc một mình trên bãi biển chói lòa. Không ai, không ai được nhìn thấy bức tranh này nữa, chả phải bố mẹ tôi đòi như thế là gì. Cả những bức tranh khác nữa, bây giờ đều chỉ dành riêng cho tôi. Tôi đã học được đôi điều, tôi cũng tự hiểu, tôi cần gì để có thể tự xử trí với chính mình. Đúng lúc đó, tiếng gõ cửa bỗng vang lên.
Lần gõ cửa đầu, tôi đã nghĩ bụng, chắc tiếng viên cảnh sát Rugbüll đang chẻ củi, ông giáng xuống, cắm lưỡi rìu vào cái bệ gỗ, nhưng hóa ra không phải, đó là tiếng gõ cửa ở phòng giam của tôi, tiếng gõ không rụt rè như lão Joswig vẫn gõ, mà là tiếng gõ mạnh và tuyệt vọng - tiếng gõ cửa không những báo hiệu anh chàng Wolfgang Mackenroth đã có mặt phía ngoài cửa, mà còn để lộ tình thế khốn khổ của anh ta. Theo tôi, chỉ có kẻ nào đinh ninh hắn có quyền san các nỗi khốn khổ của mình sang cho người khác mới gõ cửa như thế mà thôi.
Tôi chậm rãi, vừa kịp quay người ra phía cửa, thì anh ta - khoác áo mưa trên người - đã xồng xộc xông vào rồi; anh ta chẳng buồn chờ cho cánh cửa sau lưng anh ta đóng hẳn lại, nhào thẳng đến chỗ tôi, có lẽ anh ta cũng chẳng kịp cân nhắc xem nên xử sự thế nào cho đúng mực trước mặt một thanh niên không những thuộc hạng khó dạy, mà còn là đối tượng nghiên cứu của luận án tốt nghiệp mình đang phải hoàn thành.
Khỉ quá đi mất, anh ta nói, bấy nhiêu trò khỉ cùng một lúc chắc anh chưa gặp bao giờ đâu, Siggi ạ. Tôi ngồi xuống được không? Nhà tâm lý học trẻ tuổi lơ đãng vỗ vai tôi, rồi ngồi xuống giường và, suốt một lúc khá lâu, anh ta phô ra trước mặt tôi bộ dạng một con người không những chỉ gặp rủi ro không thôi, mà đang thật sự chìm đắm trong nỗi bất hạnh khôn cùng. Lại có chuyện gì thế? - tôi hỏi. Tôi đưa anh thuốc lá cái đã này, hôm nay năm bao cả thảy, hai bao chị Hilke anh gửi. Anh ta ném một bao cho tôi, nhét mấy bao còn lại xuống dưới chăn trên giường tôi, rồi buồn bã phẩy tay, một cái phẩy tay ngụ ý: “thế là tiêu hết cả”, hoặc “mọi sự đều tiêu tan cả rồi” hay cũng có thể mang ý “đời sẽ chẳng bao giờ như ta muốn cả”. Anh ta lôi trong túi ra một cái hộp thiếc dèn dẹt, và thành thạo dốc hai viên thuốc trông có vẻ màu vàng lên mu bàn tay, rồi thè lưỡi liếm gọn vào miệng, trước khi nhẹ nhàng nuốt đánh ực.
Ý anh nói luận án của anh hay sao? Tôi hỏi. Anh ta đáp: Cô chủ nhà nhà tôi! Anh ta đứng bật dậy, bước mấy bước thật nhanh đo phòng giam của tôi từ cửa sổ đến cửa ra vào, hai tay ôm lấy đầu một lúc, rồi lại buông tay xuống và vươn ra làm mấy động tác bơi bơi trong không khí - chắc là các động tác thư giãn. Rồi, anh ta đột nhiên thở dài đánh sượt và thả người, ngả lưng cái rầm vào cửa ra vào, làm tôi đã lo lão Joswig thể nào cũng ghé mắt nhìn qua lỗ khóa vào trong này cho mà xem. Nhưng rồi anh ta đứng dừng lại bên bàn. Vâng, chuyện là chuyện cô chủ nhà anh ta, cựu nữ quán quân miền Bắc Đức về môn cầu thăng bằng. Anh chàng Wolfgang Mackenroth cười chua chát. Phải, cô chủ nhà anh ta có mang, và đứa con trong bụng cô ta có thể là của anh ta, mà cũng có thể là của anh chồng cô ta, tay thợ lái cần cẩu. Sự không rõ ràng về nguồn gốc đứa con làm anh ta bối rối nhiều chứ cô ta chỉ lúng túng vừa vừa thôi, vì cô ta chỉ muốn có đứa con, bố nó là ai cũng được, còn anh ta thì cứ khăng khăng đòi nó phải là con anh ta kia. Anh hiểu tôi chứ? Anh ta kể tôi nghe, anh ta đã bắt cô chủ nhà cố nhớ lại xem; cô này vắt óc cố nhớ, rồi lắc đầu chịu thua. Anh ta đòi cô ta tính lại ngày; cô ta cũng tính lại ngày, nhưng rồi lại chỉ nhún vai, không dứt khoát được bề nào. Hả, anh Siggi, anh hiểu như thế nghĩa là thế nào chứ, như thế có nghĩa là tôi chỉ làm bố một tẹo thôi, cùng lắm được một nửa. Tôi bảo anh ta có lý, rồi hiến kế, anh ta nên ở lại nhà ấy cho đến khi đứa bé đủ lớn, nó sẽ tự chọn trong số các ứng viên một ai đấy làm bố. Anh chỉ được cái nói vớ nói vẩn! Anh ta nói, rồi quay người, vươn cổ lên, phồng mồm thổi phù phù vào cổ tay trái như muốn làm mát. Anh Siggi, anh cứ thử viết luận án của anh trong tình cảnh ấy xem. Đây, bài viết đây.
Anh chàng Wolfgang Mackenroth đặt lên bàn cho tôi xấp giấy, tờ nào tờ nấy chi chít chữ; đây là một chương mới của luận án anh ta đang viết, thoáng nhìn cũng thấy anh ta đã sửa bản thảo khá mạnh tay. Tất nhiên đây chỉ là bản nháp thôi, nhưng tôi vẫn muốn nhờ anh đọc xem sao. Anh ta lấy tay vuốt vuốt cho phẳng mấy trang giấy nhăn nheo, dính bẩn và bị rách chỗ này chỗ khác cho tôi, rồi nói tiếp: Tôi không biết thế nào, nhưng để viết những thứ này, người ta phải thảnh thơi đầu óc kia, hoặc ít nhất cũng không phải mang gánh nặng này, gánh nặng khác. Anh có thế không?
Tôi lại khác, tôi nói, gánh càng nặng càng tốt; có lẽ anh cũng chả nên mong khỏe khoắn, thảnh thơi, nhẹ nhàng thoải mái; mong được như thế, chỉ tổ thất vọng. Anh ta lại cầm bản thảo lên tay, rồi hỏi, liệu anh ta đọc to lên cho tôi nghe được không. Không. Một đoạn thôi. Không. Liệu anh ta có được phép đề nghị tôi lúc đọc nên châm chước đến hoàn cảnh khốn khổ của anh ta lúc này không. Không. Tại sao không? - Không thể châm chước cho một công việc đang dở dang được, tôi đáp, và trong bụng đã thoáng mong anh ta sẽ đem bản thảo chưa hoàn chỉnh của mình đi, nhưng anh chàng tâm lý học tính khí bất thường này lại đẩy bản thảo cho tôi, và nói như sách, đại loại kiểu: phải thất bại đôi lần, người ta mới khôn lên được. Tôi đoán anh ta đã mong đợi ở tôi nhiều hơn, nhiều thông cảm, nhiều lời an ủi, động viên hơn, nhưng tôi, tôi đã không nói được những lời như thế, và cũng sẽ không bao giờ nói được, một khi anh ta cứ đeo cái sợi dây chuyền bằng vàng mảnh mai kia quanh cổ, rất có thể sợi dây chuyền ấy có đeo một mẩu mề đay con con, và trong mẩu mề đay con con ấy cũng rất có thể là bức ảnh nhỏ xíu chụp cô chủ nhà đang ngồi trên đu dây và nhoẻn miệng cười. Tôi vốn ghét đàn ông đeo dây chuyền vàng. Chỉ có một việc tôi có thể làm giúp anh ta là đọc bản thảo. Và sau khi nói như thế, tôi lại cầm cây bút lên tay, khiến anh ta không còn cách nào khác là chào tạm biệt, ra khỏi phòng giam với dáng dấp thiểu não của một con người đang chìm đắm trong tâm trạng thất vọng, buồn chán tột cùng.
Tôi không muốn đọc, ít ra cũng chưa muốn đọc trước bữa ăn tối; đầu óc tôi vẫn còn kéo tôi về Rugbüll, lên gác xép, về bên cái rương của tôi, về với bộ sưu tập tôi mới lập lại từ đầu, thế nhưng tôi càng muốn đẩy các tờ giấy của anh ta ra xa, chúng lại càng hiện ra trước mắt tôi; chúng chặn đường, không cho tôi quay lại chốn xưa, chúng che khuất hồi ức của tôi. Rốt cuộc, tôi đành miễn cưỡng kéo chúng lại phía mình, châm một điếu thuốc, rồi bắt đầu đọc.
Không biết anh ta đã lọc lựa, băm nghiền tôi, rồi đem hầm cho nhừ như thế nào nhỉ? Anh xiên tôi chỗ nào để đem nướng? Trông bộ dạng tôi sẽ thế nào, khi tôi đã được bơm nhồi, được sấy khô, hay nói đúng hơn, được gọt tỉa một cách khoa học nhỉ?
Vâng, ta đã biết đề tài luận án là “Nghệ thuật và tội phạm”, vân vân, và đây là chương nào đây? À, chương bốn, với tiêu đề là gì? Phần D: Các hình thức và nội đung của nỗi ám ảnh; kế dưới là dòng chữ viết bằng bút chì: tiêu đề tạm thời. Và sau đây là những dòng của Wolfgang Mackenroth viết:
Nỗi đau khổ từ thuở thiếu thời của Siggi J. - tức đối tượng nghiên cứu của công trình này - cũng như mối quan hệ bị méo mó của cậu với thế giới bên ngoài chỉ có thể được xem xét và nghiên cứu trong bối cảnh của các quan hệ giữa họa sĩ Max Ludwig Nansen với bố cậu, tức là với viên cảnh sát địa phương Jens Ole Jepsen. Nhiệm vụ giám sát việc thi hành lệnh cấm vẽ, một nhiệm vụ lúc đầu - tuy bất thường - vốn cũng chỉ là một nhiệm vụ thông thường của viên cảnh sát thôi, đã nhanh chóng biến thành một nỗi ám ảnh trong con người ông; nỗi ám ảnh đó, một mặt, bắt nguồn từ nhiều sự kiện đặc biệt, nhưng mặt khác, chắc chắn cũng hình thành từ cá tính của nhân vật này vậy; đối với ông, nhiệm vụ giám sát việc thi hành lệnh cấm vẽ đã biến thành một thứ việc riêng tư của ông, một việc mà ông đinh ninh ông phải thi hành đến cùng, thậm chí ngay cả khi lệnh cấm vẽ ấy, theo một lẽ tự nhiên của sự việc, không còn hiệu lực nữa.
Chà, âu cũng khó mà viết vô thưởng vô phạt hơn thế này được thật.
Nỗi ám ảnh của ông bố, một người có tài tiên tri - hay nói như dân địa phương, người có tài “nhìn xuyên nhiều tầng” - tương ứng với nỗi ám ảnh bắt nguồn từ nỗi sợ hãi của cậu bé, một nỗi ám ảnh mà ngày tháng xuất hiện của nó có thể được xác định một cách chính xác. Ở phần trên, bài viết này đã đề cập đến việc cậu bé ham mê sưu tập một cách lạ thường, một niềm ham mê không bị hạn chế bởi bất kỳ điều cấm kỵ mang tính đạo đức nào, và sẽ còn được phân tích thêm ở dưới; thêm vào đó còn là một nỗi ám ảnh đặc biệt. Nỗi ám ảnh đó xuất hiện đúng vào cái ngày mà cỗ cối xay gió cũ, nơi Siggi J. cất giấu bộ sưu tập của mình, bị cháy. Chính nỗi đau đớn trong lòng, bắt nguồn từ các tổn thất mà đám cháy gây ra đã đành, song còn bắt nguồn từ mối nghi ngờ bố cậu là người chủ tâm gây ra đám cháy, và thêm vào đó, mối lo bố cậu - trong lúc mù quáng thi hành nhiệm vụ - sẽ còn gây tiếp các đám cháy khác, đã tạo nên các ảo giác cho cậu, và đứng trước một số bức tranh cậu quen thuộc, cậu nhìn thấy các đốm lửa nằm sâu ở phía trong bức tranh đang tiến tới, mỗi lúc một gần. Cậu tin chắc các bức tranh này đang lâm nguy, và trong lòng cậu hình thành nỗi thôi thúc phải đưa các bức tranh này đến nơi an toàn, một niềm thôi thúc chưa gắn liền với ham muốn chiếm đoạt các bức tranh đó làm của riêng. Đúng hơn, nó gắn liền với một hiện tượng nảy sinh từ một nỗi khiếp sợ thuần túy, một phản ứng hiếm hoi, gắn liền với một nhân vật cụ thể, cho nên người viết, khi cần, sẽ gọi đây là hiện tượng khiếp sợ kiểu Jepsen. Thiết nghĩ, cũng cần nhắc lại ở đây, rằng cậu bé được chọn là đối tượng nghiên cứu của công trình này, một mặt, được bố cậu chỉ định làm kẻ do thám cho ông, mặt khác, cậu lại được bác họa sĩ tin cậy giao cho việc, khi cần, cất giấu các bức tranh của bác họa sĩ để các bức tranh đó không bị tịch thu và tiêu hủy. Cậu bé đã không bao giờ thoát khỏi các hậu quả tiêu cực, tức là các ám ảnh, nảy sinh ra từ tình thế khó xử đó. Các ám ảnh này, thoạt đầu chỉ được bộc lộ hời hợt và khó lường trước, nhưng càng về sau, càng xuất hiện thường xuyên và có thể được dự đoán khá chắc chắn: chúng xuất hiện mỗi khi hình thành mối quan hệ mật thiết giữa Siggi J. với một bức tranh nào đó. Ta có thể xem nỗi đau đớn nảy sinh từ mối quan hệ đó là một bi kịch.
Nỗi ám ảnh thôi thúc cậu phải giấu các bức tranh vào nơi an toàn không phải chỉ nổi lên tại chỗ ở của họa sĩ, nó có thể trỗi dậy ở khắp nơi, trong một trường học, một nhà băng, hay một viện bảo tàng nào đó. Quả vậy, đối tượng nghiên cứu của công trình này đã tuân theo sự thôi thúc đó suốt một thời gian dài, ở nhiều nơi, mới đầu chỉ ở Glüserup thôi, sau này, ở các thành phố lớn như Husum, Schleswig hay Kiel, và sau cùng, ở Hamburg. Ta có thể nhấn mạnh một sự thật là Siggi J. không bao giờ rao bán các bức tranh cậu cất giấu để thấy rõ một sự thật khác là các bức tranh đó quả thật được cậu cất giấu đi chỉ nhằm mục đích tránh một mối nguy nào đó do cậu tưởng tượng ra mà thôi. Các bức tranh đó được đóng gói cẩn thận và nằm nguyên tại nơi cất giấu cho đến khi cậu tin rằng các mối nguy đó đã qua.
Các biên bản của cảnh sát hình sự ở Schleswig và Hamburg có thể cung cấp thêm thông tin cho việc đánh giá các tác động của nỗi ám ảnh đó. Tại những nơi này, khi bị bắt quả tang, Siggi J. đều chống chế với lý do cậu phải cứu các bức tranh đang lâm nguy; các lập luận của cậu đều chứng tỏ một cách rõ ràng cậu bị nỗi ám ảnh ấy chi phối mạnh mẽ đến thế nào.
Ra là tay Mackenroth định lái mọi chuyện theo hướng này đây.
Hai biên bản trên đều thống nhất sử dụng các từ “ngây ngô” và “mù quáng”, ngoài ra, các biên bản này cũng nhấn mạnh rằng các vụ trộm này không phải là các vụ trộm cắp theo nghĩa thông thường, và, trong cả hai lần bị bắt, thủ phạm đều để lại cho nhà chức trách những ấn tượng tốt về một thiếu niên tuấn tú và khôi ngô. Sở dĩ hồi đó cậu chưa bị truy tố chính là nhờ các ấn tượng như thế của nhà chức trách.
Song, ở đây cần chỉ rõ ra rằng mối lo sợ cho sự an toàn của các bức tranh không phải là lý do duy nhất dẫn đến các hành động bị ám ảnh đó; không kém quan trọng chính là niềm say mê sưu tầm đã hình thành rất sớm ở đối tượng nghiên cứu, niềm say mê càng ngày càng mãnh liệt và gay gắt theo thời gian. Theo các nghiên cứu của Bengsch-Giese trong tác phẩm Đường dẫn đến tội ác (Darmstadt, 1924), niềm say mê sưu tập cũng nằm trong số các hoạt động có tác dụng khuếch trương bản năng: các khoảnh khắc say sưa có thể mạnh mẽ đến mức vượt quá cả các tiêu chuẩn pháp lý cho phép. Quả vậy, như đã trình bày ở phần trên, Siggi J. đã không từ cả việc trộm cắp nhằm hoàn thiện bộ sưu tập chìa khóa và ống khóa. Và, khi được hỏi về tính hợp pháp của các hành động này, cậu thừa nhận đó là các hành động xâm phạm tài sản tư nhân không thể tha thứ được.
Ngược lại, trong các trường hợp ăn trộm tranh, Siggi J. lại không có ý niệm rõ ràng về tính chất phạm pháp trong các hành động của mình, thậm chí, cậu còn biện hộ cho mình với lý do cho rằng cậu mang thiên mệnh phải sưu tầm và bảo vệ những thứ “bị đe dọa”. Đó cũng chính là lời giải thích của cậu cho niềm đam mê sưu tầm; cậu không đồng tình với quan điểm xem sưu tầm là một biện pháp đặc biệt, đôi khi mang tính nghệ thuật, tạo nên trật tự để chống lại sự hỗn loạn của thế giới. Khái niệm thiên mệnh cần đóng vai trò quyết định trong vụ án này. Dù sao, người ngoài cuộc cũng được hưởng quyền ngoại lệ. Tuy vậy, điều đáng để ta quan tâm là ở chỗ, người ta đã quá chậm trễ trong việc chẩn đoán các suy nghĩ và hành động bị ám ảnh đó của cậu là một căn bệnh.
Ở nhà cậu, sau khi bố mẹ biết Siggi J. đã phạm phải những lỗi lầm như thế nào, ông bà đã coi việc hành hạ về thể xác là biện pháp duy nhất đúng đắn để cải tạo cậu. Đối tượng nghiên cứu đã từng bị nhốt nhiều ngày liên tục trong phòng, cậu không được nói chuyện với bất cứ ai, ngoài ra, cậu còn thường xuyên phải chịu thêm hình phạt: đến bữa không được ăn. Cậu bị cấm lai vãng đến các thành phố lân cận. Việc học hành của cậu trong thời gian đó sa sút đi trông thấy; thế nhưng, khi các hình phạt được nói lỏng và Siggi J. lại có cơ hội sưu tầm “những thứ bị đe dọa” thì cậu lại học hành đâu vào đấy ngay. Nếu trong số các bức tranh được cậu xem là bị đe dọa đôi khi cũng có cả những bức quý giá, thì ta cũng chỉ nên đánh giá đó là sự tình cờ mà thôi. Sự thay đổi đáng chú ý trong quan hệ giữa hai bố con nhà Jepsen đã nảy sinh vào thời điểm viên cảnh sát Rugbüll được trao nhiệm vụ truy tìm một bức tranh màu nước của họa sĩ M. L. Nansen bị đánh cắp tại nhà băng Sparkasse ở Glüserup. Do các chứng cớ đều cho thấy Siggi J. là thủ phạm trong vụ này, viên cảnh sát địa phương Jepsen đã tìm cách gài bẫy nhằm bắt quả tang con trai mình; song, khi các bẫy gài đó đều không thành, giữa hai bố con đã nổ ra một cuộc xô xát gay gắt ngay trong đêm, mà kết quả là đối tượng nghiên cứu chính thức bị từ, bị đuổi hẳn khỏi gia đình.
Bị từ thôi còn là may: ông ấy muốn trừ khử tôi thì có. Ông chả nói thẳng thừng: “còn chưa trừ khử được mày thì tao còn chưa thôi” là gì.
Như thế, các hoạt động và các biện pháp nghiệp vụ của viên cảnh sát Rugbüll, từ một lúc nào đó, chỉ còn tập trung vào Siggi J. nữa mà thôi. Người duy nhất nhận ra căn bệnh của cậu bé là họa sĩ M. L. Nansen. Mặc dù ông buộc lòng phải cấm Siggi J. bước chân vào xưởng vẽ của ông, trước sau ông vẫn dành cho Siggi J. một tình thương mến vô bờ bến. Và chính điều đó lại càng khiến viên cảnh sát không ngơi rình mò, truy lùng, săn đuổi cậu không thương tiếc.
Không, anh Wolfgang Mackenroth ạ! Mọi sự đã như vậy thật, nhưng cũng không hẳn đã như vậy. Đến đây, tôi không đọc tiếp được nữa; anh ta cố tình bỏ qua nhiều thứ quá, anh ta tô điểm cho mặt đối lập nhiều quá; chỗ nào anh ta buộc tội tôi, anh ta lại tạo cho tôi một bối cảnh làm nhẹ tội. Thế mà, cái tôi cần là cái khác, chứ không phải bối cảnh giảm tội cho tôi đó. Tôi quyết định trả lại chương này cho anh ta, và sẽ bàn anh ta nên viết lại, mà viết lại theo quan điểm của tôi. Điều tôi mong đợi là sự mô tả một căn bệnh cùng các triệu chứng bệnh lý của nó, chứ không phải những dòng bào chữa anh khó nhọc viết dành cho tôi. Gì thì gì, chúng tôi đã bàn đi bàn lại khá kỹ về việc này rồi còn gì. Tôi đã hứa giúp anh ta. Và tôi sẽ giúp anh ta thật.