Tôi thú thật, trong tình thế của tôi - một kẻ phải ngồi một thân một mình để khơi lại các kỷ niệm rồi ghi hết vào bài luận người ta buộc hắn phải viết - mà lại được dúi bốn chục điếu thuốc vào tay, thì làm sao tôi có thể từ chối giúp. Vả lại, lúc anh ta rón rén đi trên đầu ngón chân vào phòng giam của tôi, trông anh chàng Wolfgang Mackenroth có vẻ ốm yếu, hay chí ít, cũng tỏ ra mệt mỏi, có khi còn ngây ngấy sốt, thậm chí anh ta còn hơi loạng choạng nữa kia, lúc tôi phủi vôi bám trên áo vét cho anh ta, vì có lẽ anh ta đã quệt người vào bức tường quét vôi trong nhà xí. Nhưng nói cho đúng, thì hầu hết các bức tường trong trại chúng tôi đều hả vôi ra như thế, chứ không riêng gì nhà xí. Hai chúng tôi lặng lẽ bắt tay nhau. Anh ta làm một động tác tỏ vẻ thán phục khối lượng công việc tôi hoàn thành, rồi quay mái đầu duyên dáng của nhà tâm lý học - vâng, tôi có thể thản nhiên nói như vậy được - về phía cửa sổ, nhìn ra ngoài, nơi mùa đông đang vật lộn với sông Elbe - đúng vậy, lại thêm một keo vật lộn mới rồi đấy - toan buông đôi lời bình phẩm về phong cảnh, nhưng lại thôi, và thay cho lời bình phẩm, anh ta chuyển lời chào của ông giám đốc Himpel, là người anh ta có quan hệ khá thân mật, gần như bạn bè. Ông Himpel đã nhận được thư của tôi - phải, chính anh ta, Wolfgang Mackenroth, đã có mặt ở đó, lúc ông ta mở thư, đọc lướt qua, rồi ngồi xuống và đọc lại bức thư lần nữa, và sau đó chỉ nói “cưỡng bách, cưỡng bách mang tính sư phạm”. Thay vì nổi nóng, hay sáng tác ngay một ca khúc cho dịu cơn bực bội, vẫn theo lời Wolfgang Mackenroth, ông ta chỉ đi mấy vòng trong phòng, rồi, sau khi quay lại bàn giấy, mới nói thêm, rằng bằng cách dùng biện pháp cuỡng bách đôi khi cũng thu được kết quả tốt đẹp. Nội dung bức thư của tôi thế nào, ông ta không cho anh ta biết; chỉ cần thế là tôi biết ông ta đồng ý cho tôi tiếp tục công việc, gối tiếp qua cả ngày Lễ Ba Vua.
Tôi chẳng biết mời anh chàng Wolfgang Mackenroth ngồi vào đâu, ngoài mép giường của tôi, song anh ta không muốn ngồi, bởi anh ta không muốn lưu lại lâu, anh ta muốn về nhà, lên đất liền, về căn phòng đầy đủ tiện nghi ở Altona của anh ta, ở đó, như anh ta nói, đã có sẵn tám chai bia, số chai bia đủ giúp anh ta làm một giấc say sưa suốt mười lăm tiếng liền. Anh ta cảm thấy phải làm việc quá nhiều. Anh ta bảo tôi, anh ta cảm thấy kiệt sức, và - anh ta lấy tay vỗ vỗ nhẹ ra sau lưng - cảm thấy mình như rỗng tuếch ở bên trong.
Anh còn giúp bà chủ nhà - nhà quán quân môn cầu thăng bằng miền Bắc Đức hôm xưa - sửa tư thế mỗi khi luyện tập ở nhà không, tôi hỏi anh ta. Còn, vẫn còn giúp, nhưng lúc này anh ta không muốn nói chuyện đó. Thế anh chồng bà ta, tay thợ lái cần cẩu, còn nhờ anh cứ thứ Sáu lại giấu một tờ hai chục mark, để sáng Chủ nhật lại tòi ra không? Vâng, vẫn vậy, thế nhưng, lúc này anh ta cũng không muốn kể gì thêm. Đã vậy thì một câu hỏi ắt phải nảy ra là, nếu anh ta đã cảm thấy kiệt sức đến mức không muốn nói gì nữa, thì anh ta đến đây làm gì mới được chứ; và, vốn nhạy cảm, anh chàng Wolfgang Mackenroth đáp lại câu hỏi nảy ra trong đầu nhưng không phát thành lời đó của tôi theo cách riêng: anh ta ngượng ngùng thò tay vào túi trong áo vét, lôi tập bản thảo gập đôi ra, đặt nó lên gối của tôi trên giường, rồi bỏ thêm hai gói thuốc lá lên tập bản thảo, và khoát tay chỉ một cách mời mọc vào cả hai bao thuốc lá lẫn tập bản thảo, với ý, xin anh cứ tự nhiên cho, hay đại loại thế. Gì thì gì, anh ta cũng chẳng buồn gắng công tuồn món quà mang đến xuống dưới tấm chăn thô màu xám, đêm đêm vẫn gây ngứa đến điên người của tôi nữa, và chỉ riêng hành động thiếu thận trọng đó đã cho tôi thấy, anh ta quả đã “bị rỗng tuếch ở bên trong” thật. Anh ta cũng chẳng giãi bày thêm, chỉ mỉm cười mệt mỏi, rồi gõ gõ ngón tay lên cánh tay tôi, thay lời tạm biệt. Anh chàng Mackenroth này có thể xử sự kiệm lời như thế đấy. Nhưng, không phải lúc nào cũng vậy đâu.
Mặc dù các vị đều đã biết rồi, tôi vẫn phải nhắc lại, rằng bản thảo anh ta đặt lên chiếc gối trên đầu giường tôi là một phần trong luận văn tốt nghiệp của anh ta - “Nghệ thuật và tội phạm, nghiên cứu thông qua trường hợp Siggi J.” - một chương chưa đánh số, nhưng mang tiêu đề rõ rệt, hay nói cách khác, chứa đựng nhiều thông tin là “B. Thời niên thiếu và các ảnh hưởng của môi trường xung quanh”. Thế này có nghĩa là anh ta mong chờ một lời nhận xét của tôi, một lời cho biết liệu tôi có bằng lòng với bài viết của anh ta hay không đây. Anh ta đã dùng kính lúp khoa học của anh ta soi lên một cậu nhóc tên là Siggi J.; bây giờ đến lượt tôi dùng kính lúp đó, soi lâu đến lúc nào ánh nắng chụm vào làm một trong hai chúng tôi phải bắt lửa bốc khói lên chắc. Còn phải làm gì nữa chứ? Mà làm bằng cái gì? Anh ta cần tôi góp ý hiệu chỉnh ư? Cần tôi đồng tình? Hay cần tôi phản bác? Thôi nào, tôi cầm bản thảo lên tay, châm một điếu thuốc.
Tôi đọc, và biết về mình như sau:
… cậu là đứa con thứ ba, và cũng là con út, của viên cảnh sát địa phương Ole Jepsen. Quê hương cậu là Rugbüll, một mẩu đất con con gần Glüserup, nằm ở cực Bắc nước Đức và không xa đường biên giới với Đan Mạch là mấy. Dòng dõi bên ngoại của Siggi - Siggi là tên cúng cơm, tên gọi đầy đủ đúng ra phải là Siegfried Kai Johannes - là gia đình nông dân lâu đời, sở hữu và tự canh tác, cày cấy trên ruộng vườn do chính mình
Sở hữu từ hàng trăm năm nay, trong khi bên nội thì đa phần - vâng, anh ta viết như thế: đa phần! - đều xuất thân từ giới tiểu thương, thợ thủ công hay quan chức nhỏ. Ở nhà cậu, nơi mọi sự đều diễn ra theo các trật tự định sẵn, cậu trưởng thành trong hoàn cảnh an bình, không biến động, và cậu cũng trải qua các giai đoạn phát triển tổng giác một cách bình thường. Với bố, cậu gắn bó, trong khi với mẹ, cậu lại dành một tình thương có thể gọi là rụt rè. Bởi vì anh chị cậu, anh Klaas và chị Hilke, đều lớn tuổi hơn cậu rất nhiều, cho nên cả hai anh chị không còn là bạn chơi ngang lứa với cậu nữa, điều đó khiến cậu phải tự tạo ra một môi trường chơi sống động cho riêng mình, một môi trường - theo lời mẹ cậu kể - do hai nhân vật tên là Kaes và Püch chế ngự. Hai nhân vật này cũng là nguồn gốc của mọi niềm vui lẫn các nỗi lo âu, phiền muộn vậy.
Hóa ra tay Wolfgang Mackenroth này đã về tận Rugbüll gặp mọi người kia đây; lại còn cậy được răng họ để họ kể chuyện cho mà nghe nữa chứ.
Mặc dù môi trường chơi riêng rẽ của cậu sống động và sôi nổi, các mối liên hệ giữa cái tôi con trẻ với thế giới bên ngoài không hề bị đứt đoạn; dựa vào sự đánh giá cách cư xử của cậu, người ta có thể thấy rằng ngay cả những giai đoạn dài cậu bị bỏ mặc một mình cũng không để lại hậu quả gì rõ rệt. Theo nhận xét của bố mẹ cũng như một số hàng xóm thì trong giai đoạn chưa đến trường đi học, đối tượng nghiên cứu của luận văn này tỏ ra là một đứa trẻ khiêm tốn, hiền lành, không nổi bật, và được mọi người yêu mến. Nét đặc biệt ở cậu mà nhiều nhân chứng vẫn còn nhớ là tính ưa sạch sẽ đến mức “bất thường”, và thói quen thường xuyên đặt ra những câu hỏi khiến người lớn cũng phải lúng túng; các nhân chứng cũng nhấn mạnh đến nhận thức được phát triển rất sớm về sự công bằng, thể hiện cụ thể nhất trong việc chia thức ăn đồ uống chẳng hạn. Duy có đánh giá của một vị hàng xóm già, cho rằng cậu bé ngay từ nhỏ đã tỏ ra láu cá, lắm mưu nhiều mẹo, lại hám của và có thiên hướng hay phóng đại quá mức là lệch ra ngoài các nhận xét chung mà thôi. Cứ theo các đánh giá chung thì ngay từ ngày đầu tiên đến trường, Siggi J. đã là học sinh xuất sắc nhất lớp; điều đáng nhắc đến là, suốt một thời gian dài, cậu rất thích đến trường. Cậu thường xuyên đến lớp một tiếng trước khi giờ học bắt đầu; và, theo lời bố mẹ cậu, sáng sớm ông bà không bao giờ phải lay cậu dậy cả. Cậu thấy các kỳ nghỉ hè kéo quá dài. Các thầy giáo ở trường gọi cậu là “thằng bé già trước tuổi”, một phần là vì cậu không những không bao giờ tham gia vào các trò tinh nghịch của bạn bè cùng lứa, mà còn thường xuyên khuyên can và ngăn cản chúng làm trò bậy bạ. Bao nhiêu cuộc thanh tra tại trường, cậu chẳng những được khen ngợi, mà còn được mọi người khâm phục, nể nang. Bạn bè cùng lớp với cậu trước đây, ai nấy đều thừa nhận tấm lòng hết mình vì bạn bè của cậu, thể hiện chẳng hạn ở chỗ cậu bao giờ cũng làm bài kiểm tra xong thật sớm, chỉ cốt để bạn bè cậu chép lại mà thôi.
Qua giới thiệu của thầy giáo chủ nhiệm lớp, đối tượng nghiên cứu của luận văn này đã nhiều lần xuất hiện tại buổi phát thanh dành cho trẻ em của đài phát thanh Hamburg, và theo ý kiến của bà nữ biên tập viên đài này, bao giờ cậu cũng gây nhiều ấn tượng khác thường tại các buổi phát thanh “Thế giới dưới con mắt trẻ em” hay “Lời đáp của trẻ em”. Tham gia các cuộc thi đố dành cho trẻ em, Siggi J. thường đoạt khá nhiều giải thưởng. Trừ môn học về tôn giáo, cậu có năng khiếu xuất sắc ở tất cả các môn học. Thầy giáo chủ nhiệm của cậu khen ngợi năng khiếu đặc biệt của cậu bé trong các giờ học vẽ và Đức văn, và nhân tiện, thầy cũng cho biết một số bài luận của cậu còn được đem ra đọc trước công chúng rộng rãi vào các dịp hội hè trong trường. Cậu có biệt tài mô tả tranh; bài văn mô tả bức tranh họa sĩ Paul Flehinghus vẽ con thuyền bị đắm của cậu đã thành công đến nỗi, bài luận còn được gửi lên tận Bộ ở Kiel. Sở dĩ Siggi J., về sau này, ở cấp học cao hơn tại Glüserup không còn giữ được mức giỏi nhất lớp luôn luôn nữa, là do cậu có xu hướng tham dự vào nhiều hoạt động ngoài trường học, những hoạt động mà ở đoạn sau của luận văn sẽ được đề cập kỹ hơn. Thế nhưng, tại đây, tài năng ai cũng đồng lòng nhấn mạnh chính là tài phán đoán chính xác của cậu, cũng như tính khí bướng bỉnh, ngang ngạnh, và, như ở đây người ta vẫn kháo nhau, cái gọi là linh tính nghệ sĩ sắc sảo của cậu.
Tất cả các thông tin và dữ liệu này, nói cho cùng, đều củng cố cho giả thuyết cho rằng nguyên do duy nhất dẫn đến sự lẻ loi, đơn độc cũng như vai trò kẻ ngoài cuộc của Siggi J. chính là các năng khiếu đặc biệt của cậu vậy. Bởi vì các thành viên của một cộng đồng bao giờ cũng cảm thấy bị kẻ lẻ loi đứng ngoài cuộc thách thức, đe dọa hoặc xúc phạm, cho nên, họ sẽ luôn luôn soi mói dò xét kẻ ngoài cuộc đó, nghi ngại, và rốt cuộc, sẽ dồn tất cả sự căm ghét của họ lên kẻ ngoài cuộc này.
Siggi J., đối tượng nghiên cứu của luận văn này, rút ra bài học đó ngay vào những lúc cậu được nêu lên làm tấm gương mẫu mực cho bạn bè cùng lớp; càng được nêu làm gương, Siggi. J. càng cảm thấy bị cô lập, và, cho dù các trò cùng lớp bao giờ cũng trông cậy vào sự trợ giúp của cậu trong các giờ kiểm tra, nhưng điều đó cũng không hề ngăn cản chúng, vào những lúc giải lao hay hết giờ học, lại tỏ thái độ - thậm chí bằng cả thượng cẳng chân, hạ cẳng tay - coi thường, khinh rẻ cậu. Ở nhà, bố mẹ cậu vẫn còn nhớ, đôi khi cậu phải lẩn vào đâu đó trốn bọn bạn học cùng lớp, đợi đến tận tối mới về nhà. Vai trò kẻ ngoài cuộc đó ở trường lại trùng hợp với vị trí đặc biệt của cậu ở nhà: do anh chị cậu đều đã trưởng thành và phạm vi trách nhiệm của bố mẹ cậu lại mỗi ngày một rộng ra, khiến cho không ai còn thời gian để tâm nhiều đến cậu nữa, nên rốt cuộc, cũng không phải hiếm những lúc mọi người trong gia đình đối xử với cậu như đối xử với người lớn vậy. Cậu chứng kiến mọi cuộc mà cả, các cuộc cãi cọ, cùng các hoạt động nghiệp vụ của cảnh sát. Cậu trực tiếp tham gia vào các hoạt động, mà về lâu về dài, không phải là không tác động lên khả năng nhận thức của cậu. Mặc dù cậu được bố cậu giao cho làm nhiều việc mang nội dung công vụ hẳn hoi, Siggi J. vẫn tỏ ra độc lập ở chỗ, nếu cậu tin cậu đúng, cậu sẵn sàng lặng lẽ vi phạm hay không thi hành các yêu cầu hay nhiệm vụ bố cậu đặt ra cho cậu. Nếu tự cậu, cậu nhận thấy mình đáng ăn đòn, thì cậu không hề gây khó khăn, mà còn đỡ gánh nặng cho người cầm roi trừng phạt cậu, bằng cách tự nguyện chịu đòn.
Tính tự lập khá sớm của cậu bé không những chỉ bắt nguồn từ chỗ bố cậu, trong thời buổi chiến tranh đang diễn ra, không đủ thời gian để hoàn thành các nhiệm vụ giáo dục con mình, mà chắc chắn còn bắt nguồn từ thiên hướng muốn đơn độc của chính cậu. Thế nhưng, như nhiều bằng chứng đã cho thấy, cậu lại gắn bó thân thiết với anh chị cậu, trong sự gắn bó ấy bao hàm cả lòng tin cậy hoàn toàn, cũng như ý muốn phục tòng tuyệt đối của cậu đối với anh chị cậu. Có lẽ chính mối quan hệ như thế đối với anh chị lớn tuổi hơn mình đã giúp cậu xem những người lớn tuổi khác cũng ngang hàng phải lứa với mình và dễ dàng kết thân với họ.
Song điều đó không góp phần giải thích các mối quan hệ giữa họa sĩ Max Ludwig Nansen với Siggi J., những mối quan hệ mà chính bố mẹ cậu không rõ nguyên do, thậm chí, hiểu mối quan hệ đó, họ cũng không hiểu nốt. Sau nhiều lần hỏi han tìm hiểu, có thể kết luận tình bạn giữa hai bác cháu đã hình thành vào dạo ông Nansen đang bận vẽ bức tranh nổi tiếng Chú ngựa non và cơn giông của ông, là dạo mà, lúc đầu, cậu chỉ giúp ông họa sĩ đôi việc lặt vặt, còn thì chỉ ngồi nguyên một chỗ, lặng lẽ quan sát sự hình thành của bức tranh. Điều làm bà con hàng xóm láng giềng không khỏi ngạc nhiên là, ông họa sĩ, từ xưa cho đến giờ, vốn không bao giờ chịu vẽ tranh trước mặt người khác, hoặc nếu có, thì thái độ ông khi đó có thể cục cằn, đến mức xúc phạm cả người xem, vậy mà nay, không những ông thản nhiên chấp nhận sự có mặt thường xuyên của thằng bé, mà về sau, thậm chí còn cần nó có mặt mới bắt tay làm việc được. Người ta vẫn thường bắt gặp hai bác cháu tay nắm tay đi đâu đó với nhau là vì vậy. Ông bố của đối tượng nghiên cứu không có cớ gì để phản đối tình bạn đó giữa hai bác cháu, bởi vì ông, giống như ông Nansen, cũng xuất thân từ Glüserup, và hai ông vốn đã là bạn bè với nhau - dù chỉ sơ sơ chứ không thật thân - từ thời niên thiếu.
Siggi J. - cũng như anh trai cậu, và về sau này, cả chị Hilke của cậu - từng đứng làm người mẫu cho ông họa sĩ. Thật ra, Siggi J. chỉ đứng hai lần làm mẫu, một lần cho bức Thằng bé Nis, một lần khác cho bức Con trai Quỷ đống rơm; trong hai bức tranh này, cậu tạo được vẻ thân thiện, thậm chí dễ gần gũi cho các hình ma bóng quỷ. Theo lời mọi người kể, thì có phần chắc là ông Nansen đã sáng tác một loạt truyện tranh tặng cậu, trong đó mỗi màu sắc kể lại câu chuyện về nguồn gốc của mình; bài viết “học cách nhìn” ông bỏ dở, không viết xong, nghe nói mới đầu cũng là dành tặng Siggi J. Đã nhiều lần ông Nansen còn đem giấy và màu vẽ cho cậu, và sau khi hai bác cháu bàn bạc với nhau về chủ đề để vẽ, ông mời cậu vẽ thi với ông. Hàng xóm láng giềng đôi khi vẫn thấy hai bác cháu cùng miệt mài vẽ là vì thế.
Nhiều lần, để lẩn trốn bọn bạn học, cậu trốn vào xưởng vẽ ông họa sĩ; một lần cậu còn bị khóa qua đêm trong đó; sau lần ấy, cậu tạm thời bị cấm bước chân vào xưởng vẽ, chỉ vì cậu không chịu nổi màu tím của bộ váy trong bức tranh Nina O ở H., nên cậu tự ý lấy màu vẽ chuyển nó sang màu lục một cách thô bạo.
Này anh Wolfgang Mackenroth ơi, không phải thành màu lục, mà thành màu vàng, anh ạ; nếu đã nói đến màu sắc thì ít nhất ta cũng phải chính xác chứ, còn những thứ khác, thì anh muốn phóng đại thế nào thì phóng cho luận văn tốt nghiệp của anh cũng được, tôi không phản đối.
Thật khó có thể suy ra một cách chắc chắn, do đâu mà cậu bé này lại có mối đam mê sưu tầm lượm lặt khác thường đến thế; có thể đó là biểu hiện của sự ganh đua, một cách hoàn toàn vô ý thức thôi, với ông họa sĩ. Trong một nơi ẩn náu kín đáo, cậu sưu tầm rồi trưng lên tường các bản sao của một số bức tranh kỵ sĩ; cậu cũng ham mê - nhưng cũng rất sành sỏi - sưu tầm các loại chìa và ổ khóa. Sau này, khi mọi chuyện lộ ra, đôi người cho rằng cậu chính là kẻ làm một lô các loại chìa khóa khác nhau biến đi bí hiểm như thế; ở Viện Bảo tàng Địa phương Glüserup, người ta cũng tin rằng họ đã nắm chắc, ai là kẻ từng thủ túi một loạt chìa với ổ khóa ở đây. Nói cho cùng, nếu người ta có nghi Siggi J. đôi lần ăn trộm như thế, thì cũng không phải là không có lý.
Vào những năm cuối của cuộc chiến, lúc họa sĩ M. L. Nansen bị cấm vẽ, một lệnh cấm mà viên cảnh sát địa phương Jepsen không những phải tống đạt tận nơi, mà còn phải giám sát để lệnh được thi hành, đối tượng nghiên cứu của luận văn bị rơi vào một tình huống khó xử. Một mặt bố cậu bắt cậu phải do thám cho ông, mặt khác cậu lại được ông họa sĩ thỉnh thoảng giao nhiệm vụ cất giấu để cứu các bức tranh khỏi bị tiêu hủy, thế nhưng, trong tình huống éo le đó, cậu cho thấy cậu, theo bản năng, vẫn hành động đúng như các yêu cầu của thời đại cậu vậy.
Hừm, chuyện này chắc cũng có thể kể cách khác được.
Thêm vào đó là sự rạn nứt trong gia đình, khiến cậu bé đau đớn và khổ tâm. Anh Klaas cậu tự gây vết thương cho mình rồi trốn khỏi trạm quân y; anh bị bà mẹ gần như thẳng thừng từ bỏ, bị ông bố giao nộp cho nhà chức trách ngay cả khi anh đang bị thương nặng. Từ đó, việc cậu xa rời bố mẹ cậu là điều không tránh khỏi, và rất có thể, nhân chuyện này mà Siggi J. nhận ra, rằng cậu thiếu thốn tình thương của bố mẹ.
Bây giờ thể nào cũng chuyển sang điệp khúc về hoàn cảnh đây.
Một thân, một mình, không được hưởng tình yêu thương, cậu bé lớn lên trong thời buổi mà các giá trị nhân đạo không còn đứng vững nữa,
Đấy, đã bảo mà.
Và, hơn nữa, cậu phải đối đầu với những chuyện mà đứa trẻ nào trải qua cũng khó tránh được sự tổn thương về nhiều mặt. Cuộc chiến khốc liệt đang diễn ra, và mặc dù Siggi J. không bị tác động bởi các hậu quả trực tiếp của chiến tranh, cậu vẫn bị các hậu quả gián tiếp của nó tác động mạnh mẽ hơn so với nhiều đứa trẻ cùng lứa khác, kể từ những tác động do sự khan hiếm hàng hóa tiêu dùng cho đến những tác động do phải tận mắt chứng kiến cái chết. Song, điều làm một cậu bé vốn nhạy cảm và tinh tường như Siggi J. luôn luôn bận tâm nhiều nhất - ở đây, ta có thể nói trước như thế - và đau đớn cũng nhiều nhất, chính là sự biến đổi trong các mối quan hệ giữa bố cậu với họa sĩ Max Ludwig Nansen.
Đến đây là đủ rồi, có dễ tính lắm thì cũng chỉ đến đây thôi, đến đây là đáng giá bốn chục điếu thuốc rồi. Những gì anh chàng Wolfgang Mackenroth viết về tôi ở đây cũng đúng thôi, tôi không muốn thêm thắt gì, mà tôi cũng không có quyền thêm. Cũng đúng thôi, như ý tôi, thì anh ta cứ việc đi tiếp theo hướng đã định ra, chẳng hại ai, chẳng làm ai phật lòng; chỉ có điều, nếu ai đó tìm đến dò hỏi về các địa danh lẫn những người được nhắc đến ở đây, ai đó muốn đến tận nơi gặp những con người này, và thậm chí muốn hòa đồng với họ, thì tôi phải khuyên thật người đó nên tìm hiểu thêm các nguồn khác. Nghe thêm những tiếng nói khác. Đọc thêm những tài liệu, sách vở khác. Chẳng hạn, các tài liệu mô tả mây hình thành ra sao, hay về các đàn cò bay, về các ký ức của chúng tôi, các mối thù ghét trong lòng dạ chúng tôi, về các đám cưới hay về mùa đông ở xứ chúng tôi. Nếu anh chàng Mackenroth này muốn đặt tôi xuống dưới kính lúp của anh ta mà soi, thì anh ta nên về Rugbüll và hỏi han cặn kẽ, càng kỹ càng tốt, anh ta nên tập hợp các chi tiết anh ta biết được, đánh số chúng, xâu chuỗi lên các đầu kim của bộ môn khoa học anh ta đang học; anh ta cần nấu quá khứ của tôi thành cao, để yên cho nó đông cứng lại rồi đem nó ra mà vượt qua mọi kỳ thi anh ta phải thi. Nhưng anh ta không giúp được tôi.
Tôi biết anh ta muốn gì, nhưng anh ta chẳng giúp được gì tôi, tôi không nhận ra bất cứ điều gì có ích cho tôi cả; câu chuyện anh ta kể cứ đều đều, từ đầu cho đến hết. Trong khi tôi lại thấy không có gì kết thúc cả, không dừng lại ở đâu cả, tôi cứ như muốn, một lần nữa, kể lại từ đầu, kể khác đi, cũng là để phạt mình; nhưng lão Himpel bây giờ chỉ toàn càu nhàu, cấp phép tháng một, tháng một cho tôi viết, cho nên tôi phải làm tiếp, lùi mãi về những năm xưa hơn. Còn bao nhiêu là chuyện phải nói. Có quay lại nhìn mới thấy, còn bao nhiêu thứ nằm đấy, chờ chực. Giây khắc hòa bình lập lại, chẳng hạn. Thế nhưng, trước khi hòa bình lập lại, còn cả một mùa đông, một mùa đông miền Bắc nước Đức, mùa đông với lớp tuyết mỏng, dễ vỡ, với những con mương đầy ắp nước và những ngọn gió ẩm ướt, làm lung lay mái ngói, làm hở keo dán giấy tường, khiến trên tường nhà nổi đầy bong bóng. Vâng, đúng mùa đông ấy.
Trời hết tuyết rơi, lại mưa không ngớt; các con đường không lát đá, lát gạch, đều nhão nhoét thành bùn trước khi bị ngập nước, sức cản của dòng nước đen ngòm, bị dồn ứ lớn đến mức cửa cống không mở ra được nữa. Dòng nước trong các con mương chảy nhanh chưa từng thấy, làm lớp cỏ chết hai bên bờ xòe như cánh quạt dưới nước. Các bãi thả gia súc đều trống trải, dây thép hàng rào ròng ròng nước. Nếu trên mặt tuyết có vết chân ai, thì chưa hết nửa ngày đã biến mất. Các tán cây đen ngòm, bãi cát ven biển trông đến ảm đạm, trên Biển Bắc dày đặc mây mù u ám. Ai không phải đi đâu ra ngoài trời, đều chui rúc hết trong nhà. Trong các dãy hành lang chỉ thấy rặt ủng cao su ướt sũng, và nếu có ai muốn ra khỏi nhà, người đó trước hết phải nhảy qua tấm màn do nước từ mái nhà nhỏ xuống tạo thành. Vôi quét mặt ngoài các nhà - màu nho đỏ hay màu xám nhạt - chảy ròng ròng trên tường xuống đất, cửa kính nào cũng suốt ngày mờ hơi nước. Đó chính là mùa đông bác Ditte lâm bệnh.
Chỗ này chỗ kia, mọi người cứ to nhỏ, bàn tán nửa kín nửa hở về căn bệnh lạ; nhưng tất cả những gì tôi biết được chỉ là bác gái vợ bác họa sĩ bị khát cháy cổ họng - có điều tôi không rõ bác khát do mang bệnh hay các cơn khát chính là căn bệnh. Gì thì gì, mùa đông năm đó bác ấy uống không biết bao nhiêu nước quả cơm cháy với nước chè; nước lã, cà phê mạch nha, sữa, nước canh cá, bác uống tất. Bất kể bình đựng, hay chai lọ chứa nước hay thứ gì sóng sánh như nước là bác thèm thuồng đưa lên miệng, và nếu có ai ngăn bác lại, bác lại rên lên: Tôi khát cháy họng rồi đây. Thật thế, bác không chừa bất cứ thứ gì trông có vẻ long lỏng. Mặc bộ váy dài may bằng vải thô, đầu ngửa ra sau, bác lùng sục khắp ấp Bleekenwarf xem có gì uống được không, đến thùng đựng nước mưa bác cũng không tha. Dường như cái khát vô độ ấy, cái khát điên cuồng ấy ghi dấu ấn trên gương mặt bác vậy, vâng, tôi có cảm giác gương mặt gầy gò tuyệt đẹp, nằm gọn trong vòng ôm của bộ tóc hoa râm của bác dường như nóng hừng hực và sưng húp lên.
Người nhà đón bác sĩ Gripp đến khám cho bác, và ông này tha cái cặp da khổng lồ có bộ khóa cổ lỗ sĩ của ông đến Bleekenwarf. Lúc đầu, ông ta chỉ nói chuyện riêng với một mình bác Ditte, sau đó bác họa sĩ mới được có mặt. Jutta cùng tôi lội qua bãi cỏ sũng nước đến hiệu thuốc ở Glüserup, rồi mang đủ các thứ thuốc nước với thuốc viên theo đơn bác sĩ kê về; nhưng thuốc hình như chỉ tổ làm bác gái khát thêm. Vừa uống hết mấy giọt thuốc, bác liền nói, mắt vẫn nhắm nghiền: Đưa thêm nước đây nào! Rồi bác đổ nước từ bình đựng nước rửa vào cái cốc lúc nãy bác uống thuốc mới vơi một nửa, làm luôn một hơi cạn sạch. Bác trai không nói gì nhiều, bác để yên cho bác gái uống và nhìn bác gái không rời mắt; con ngươi bác như nhỏ lại, nheo tròn và sắc nhọn. Bác gần như lúc nào cũng ở bên bác Ditte, và nếu như bác có phải đi đâu một lúc, bác lại vẫy tay ra hiệu nhờ ông Teo Busbeck trông chừng bác gái. Thằng Jobst dù vừa sửa xong chiếc máy hát cũ cũng không được phép bật máy lên; Jutta, dạo này trông có vẻ mập hẳn ra - nhưng, nói cho đúng ra, thì mùa đông nào nó chả mập ra - bị cấm không được tập nhảy ở phòng bên cạnh phòng bác gái đang nằm.
Như tôi được biết, điều làm bác sĩ Gripp lo ngại nhất là về đêm các cơn khát cũng không dứt: bác Ditte trở dậy nhiều lần trong đêm, và nếu bình nước rửa đã cạn, thì bác dò dẫm vào bếp hay vào kho chứa thức ăn tìm thức uống. Bác sĩ tiêm cho bác vài mũi tiêm; cũng chẳng giúp bác gái đỡ khát mà còn gia tăng; đến lúc bác gái lên cơn sốt, thì ông bác sĩ bắt bác phải nằm một chỗ. Bác gái ngồi trên giường, không chút thư thái mà gượng gạo tựa lưng vào gối, đôi mắt xám nhìn chằm chằm ra cửa, hai tai bác dường như đang căng thẳng lắng nghe cái gì đó đang xảy ra, không phải ở trong phòng bác, mà ở nơi xa xôi nào đó, trong quá khứ xa xưa hay tương lai vời vợi.
Thỉnh thoảng, khi có người đến thăm, nâng cánh tay gầy gò của bác lên, gật đầu với bác, thì tôi lại có cảm giác như nghe thấy tiếng gì thì thầm đâu đó, khẽ khàng hơn mưa phùn, mềm mại hơn bông tuyết, như thể ánh nắng đang nhẹ nhàng tràn qua bên ngoài cửa sổ.
Ông Teo Busbeck bao giờ cũng ngồi gần như thường trực ở cạnh đầu giường; ông ngồi ở đó, ăn mặc chỉnh tề, tận tụy làm mọi việc - nếu cần, ông xốc lại cái gối, nếu cần, ông chạy vội đi lấy nước hoa quả ép; và những khi bác Ditte thều thào muốn cái gì đó, thì có vẻ ông là người duy nhất hiểu người ốm muốn gì. Đến bác họa sĩ cũng không đoán được ý bác gái nhanh như ông Teo Busbeck - nếu quan sát ông lâu hơn một lát, người ngoài có thể có cảm giác ông Busbeck chỉ lạnh lùng, thờ ơ và lặng im ngồi đó, song, có lẽ, ông lặng im như thế chỉ cốt dồn hết tâm trí để hiểu xem bác Ditte muốn gì. Có lần tôi thấy bác họa sĩ nhẹ nhàng đặt tay lên vai ông Busbeck, rồi vỗ nhẹ, không phải để tỏ lòng cảm tạ, mà đúng hơn là để an ủi, và tôi có cảm giác, dường như ông Busbeck, chứ không phải bác họa sĩ, mới là người cần được an ủi nhiều hơn.
Đến một buổi tối nọ, bác sĩ Gripp - là người vốn vẫn nổi tiếng rộng rãi, lúc đầu đã chẩn đoán nhiều bệnh một lúc cho con bệnh tùy ý chọn - rốt cuộc đã đi đến kết luận dứt khoát: bác Ditte bị sưng phổi; tất nhiên, ông ta không loại trừ bác có thể còn mắc cùng một lúc nhiều bệnh khác, nhưng đến lúc này, thì ông cam đoan dứt khoát là căn bệnh sưng phổi đang hoành hành trong cơ thể đã khô đét của bác Ditte. Ông ta còn vênh vang ông biết do đâu mà bác gái bị sưng phổi. Bà ấy đã chuốc bệnh vào người, ông ta bảo, vì ban đêm cứ chân trần mà chạy khắp nhà, trên nền lát đá lạnh như băng để tìm nước uống. Từ đó ông ta điều trị bệnh sưng phổi cho bác gái, ông cấm bà không được trở dậy, ra khỏi giường. Bác Ditte cũng tuân theo lệnh ông, trừ một lần duy nhất bác trở dậy giữa đêm, lôi trong tủ ra bộ quần áo dùng để khâm liệm bác đã tự may từ lâu, một thắt lưng vải thêu và các vòng đeo tay giản dị bằng bạc, do bác họa sĩ tự tay làm tặng bác vào dịp hai người đính hôn. Bác xếp các thứ này thật ngay ngắn lên một chiếc ghế đẩu, và khăng khăng đòi phải để chúng ở chỗ nào dễ thấy và gần giường bác nằm. Chính mắt tôi không được thấy, nhưng tôi đinh ninh những gì tôi được nghe kể lại là có thật, rằng bác họa sĩ, một đêm nọ, đã vào phòng bác gái nằm, ngồi ngắm bác gái rất lâu, trước khi biến đi một lúc, rồi quay lại với bộ dụng cụ vẽ, vâng, tức là với quyển sổ vẽ nháp cùng bút chì than. Mùa đông năm ấy, chắc chắn bác họa sĩ đã hai lần vẽ chân dung bác Ditte, chỉ có điều bác vẽ theo trí nhớ hay vẽ ngay bên giường bệnh thì không rõ. Hai bức chân dung đó, sau này xuất hiện trong tập tranh Hai người đề tặng ông Teo Busbeck. Tranh vẽ bác gái nằm đó, thân mình thẳng đơ, nghiêm nghị, gương mặt khuất một phần trong bóng tối, miệng hé mở, như thể bác đang đòi uống nước - đó có lẽ cũng là mong ước và khát vọng duy nhất bác còn nghĩ tới mà thôi. Thân mình bác nằm bẹp gí, phẳng lì dưới chăn, hai tay duỗi tê cứng hai bên.
Bác Ditte ra đi một mình. Bởi bác sĩ Gripp đã chẩn đoán bệnh sưng phổi từ trước, cho nên ông ta cũng biết cần phải viết giấy chứng tử ra sao. Ngoài trời tuyết rơi, nhưng rồi cũng tan ngay. Cơn hấp hối hẳn đã qua đi rất nhanh, hay ít ra cũng lặng lẽ, không một tiếng động nào, đến nỗi ông Teo Busbeck ngồi trên ghế cạnh đầu giường mà không hề hay biết. Người ta tắm rửa cho bác Ditte, mặc áo liệm, thắt dây lưng thêu, và đeo vòng tay cho bác, trước khi mọi người đến viếng. Và khi mọi người đến viếng, không ai được lưu lại một mình bên người chết cả, bởi vì bác họa sĩ luôn ngồi ở phía sau, dưới tấm gương treo, và ông Busbeck - vẫn ngồi nguyên trên chiếc ghế kê cạnh đầu giường.
Vâng, họ đến viếng, và ai nấy đều cố cho thấy họ buồn đau thế nào. Cô Hilde Isenbüttel bước vào trong đôi ủng rách, tháo chiếc khăm trùm đầu ướt sũng ra, sụt sà sụt sịt một lúc, rồi bật lên một tiếng kêu - chắc chắn là tiếng kêu ngoài dự định của cô - và chạy vụt ra cửa, nhanh chóng kết thúc lượt viếng của mình. Ông già Holmsen von Holmsenwarf, ngay ở lối vào, đã đọc rất nhanh đôi lời cầu nguyện, nhưng không phải ông chắp hai tay lại, mà đúng hơn là đưa hai tay lên ngang ngực, xoay xoay vành chiếc mũ đẫm nước mưa của ông nhiều lần theo chiều kim đồng hồ, xong xuôi đâu đấy, ông bước tới bên xác bác Ditte, nắm tay người chết nâng lên, rồi lại cẩn thận đặt xuống và lắc lắc đầu đi tới gần bác họa sĩ; hai ông không bắt tay, chỉ đưa mắt nhìn nhau. Thầy giáo Plönnies thì ngược lại, tiến tới bên bác họa sĩ trước, bắt tay ông, rồi - phải nói là như thế - lượn một vòng cánh cung ra phía chân giường người chết nằm, và ở đó, người đàn ông trong chiến tranh từng hai lần bị vùi và chính mình đã rất cận kề cái chết này, quay người về phía bác Ditte, thẳng lưng, nghiêng mình chào rất nhanh. Ông gác chim Kohlschmidt chỉ chằm chằm nhìn vào trong góc nhà, gật đầu chào bác họa sĩ, liếc nhanh một cái về phía người chết nằm, rồi nhường ngay cho bà Holmsen von Holmsenwarf bước lên trước; bà này, trước khi đến gần giường người chết nằm đã quỳ gối xuống đất - hẳn bà đã tính nhầm, nên quỳ hơi sớm - phải lết thêm một đoạn đến gần, nắm lấy tay người chết và không kìm được nữa, chợt lên cơn nức nở, con nức nở bất chợt và kéo dài đúng như bà định từ trước.
Ấy thế nhưng tiếng bà than khóc nghe đến là thuyết phục, tiếng bà nấc to lên lúc đó không thể chê vào đâu được, và khi bà lùi ra xa, bà cũng lắc lắc đầu y như ông chồng bà vậy. Ở ngoài sân đã nghe có tiếng ông thuyền trưởng Andersen - do viên kiểm đê Bultjohann đánh xe ngựa đưa đến - đang lớn giọng càu nhàu sao bác Ditte lại chọn ngày thời tiết khốn khổ thế này mà đi: Sao con bé không đợi sang xuân hẵng đi? Ở tuổi ông, ông không được phép ngã, bởi nếu ngã mà không có ai giúp, ông sẽ không tự đứng dậy được nữa, cho nên lão Bultjohann phải đưa ông vào tận nhà, vừa đi, vừa phải cố gắng một cách tuyệt vọng nhắc nhở ông già ăn ảnh, có bộ râu xồm bạc trắng và mái tóc mượt này là nhà người ta đang có tang. Song, ông lão cao tuổi này không muốn tỏ ra đau buồn, thương tiếc. Đi cà nhắc cà nhắc, để nước nhỏ giọt thành vũng ra nền nhà, ông lão bước vào căn phòng đang yên ắng, nháy nháy mắt rồi hỏi: Cô gái của ta đâu? Đến khi nhìn thấy bác Ditte nằm, ông nặng nhọc bước tới bên cạnh, vụng về đưa tay vuốt lên má bác và lúng búng nói trong mồm: Sao không đợi sang xuân hẵng đi hả con? Quay sang bác họa sĩ, mà bây giờ ông già mới nhìn thấy, ông nói: Anh bạn trẻ của ta, hãy cố mà bình tâm.
Ở đây, tôi còn muốn nhắc đến ông nông dân và nhà địa phương học Per Arne Schessel, ông ngoại tôi; ông tôi ngật ngưỡng đeo theo gương mặt cau có, khô khan bước vào đứng giữa phòng, đầu ngẩng cao và đôi mắt nhắm nghiền. Ông làm bộ xúc động, pha chút đau buồn, bằng cách chắp hai tay ra trước bộ hạ. Chỉ bằng khóe miệng, ông tôi có vẻ thành công hơn khi ông làm bộ ủ ê, rầu rĩ; trước khi rời đi, ông đưa hai tay lên trời trong một cử chỉ tuyệt vọng hơi phóng đại, rồi lại buông xuống, cố thở dài thật to cho ai nấy đều nghe thấy. Còn mẹ tôi, bà Gudrun Schessel thì sao? Và viên cảnh sát Rugbüll nữa chứ? Tôi không có gì để kể về những người ở Rugbüll, bởi họ, không ai ló mặt đến Bleekenwarf cả.
Mới đầu, ông bà đã định đi, sau lại thôi; ông bà hẹn ông Okko Brodersen sẽ đến sau, nhưng đang lúc chuẩn bị đi lại có khách ở Husum đến; lúc ăn sáng ông bà đã bàn đi bàn lại mãi lúc nào sẽ lên đường, nhưng đến lúc cần đi, bố tôi lại phẩy tay, thôi không đi nữa. Ông bà hỏi dò xem hàng xóm sẽ nghĩ gì khi thấy họ đến viếng, nhưng mặc dù ai cũng bảo họ sẽ chẳng nghĩ gì cả, thế mà rốt cuộc ông bà vẫn thôi, dứt bỏ ý định đi viếng bác Ditte, một ý định tưởng đã dứt khoát sau khi bàn đi bàn lại mãi như thế. Vậy là ông bà không được thấy gương mặt bác Ditte một lần cuối cùng, gương mặt không còn sưng vù lên nữa ấy, một gương mặt mà, có lẽ, nhờ được giải thoát khỏi những cơn khát hành hạ khôn nguôi nọ, ngoài nét nghiêm nghị thường thấy, bây giờ còn phảng phất thêm cả một nụ cười thanh thản nữa. Và, ai mà biết được, không biết liệu bố mẹ tôi - mà lần này cũng có nghĩa là cả nhà chúng tôi ở Rugbüll - có đến dự đám tang bác Ditte hay không, nếu ông ngoại tôi, ông Per Arne Schessel, không nhắc khéo ông bà, nhân một bữa ăn tối kéo dài khá lâu; vâng, thì đương nhiên, ông tôi chọn giờ đến viếng bác Ditte ở Bleekenwarf sao cho kịp ghé ăn tối ở nhà tôi, hay cứ nói khéo là ông vô tình ghé thăm rồi gặp bữa ăn tối cũng được.
Buổi ăn tối hôm ấy có rau cải muối chua, thịt ba rọi xông khói cùng hai tô khoai tây đầy, và ông tôi, nhà địa phương học, còn bảo làm thêm cho món nước sốt mỡ màng cho ông rưới lên rau cải chua, và thế là, trong khi cả nhà ngồi nhìn ông chóp chép, khoái trá xơi trọn món ăn, rồi vừa bẻ bánh mì quẹt đĩa đưa lên miệng, vừa giảng giải vì sao bố mẹ tôi không được vắng mặt tại đám tang: Đứng trước áo quan, thì mọi thứ đều vô nghĩa - Đối mặt với cái chết, ta phải… - Ai đã từ giã cõi đời này, thì ta phải… vì, không ai… vượt qua cái chết… Hòa giải với nhau… bao giờ cũng đáng làm. Ông có nói gì đó về bài học - Trong lần chia tay cuối cùng, người ta không… Nghĩa vụ người còn sống là ở chỗ… - Bất kỳ ai, kể cả cảnh sát địa phương, trốn tránh nghĩa vụ ấy, thì sẽ bị thế này, thế kia.
Ông tôi ăn rất ngon lành, nói khá lâu, khá nhiều, và nhân dịp này, ông cũng nói được một câu đáng nhớ: Không phải bao giờ anh em bà con cũng phải chịu trận cho từng người riêng lẻ. Lúc ông tôi rời đi, thì cả nhà đều dứt khoát sẽ đến dự đám tang bác Ditte.
Đám tang đúng vào thứ Bảy, mười hai giờ trưa. Đây là đám tang đầu tiên tôi được dự; và tôi nóng lòng được dự, đến nỗi đêm hôm trước đám tang, tôi mơ thấy bác Ditte: hai bác cháu cùng nhau đắp một ngọn đồi bằng bánh ngọt, công việc vất vả nhưng đầy hứng thú; tôi với bác khuân bao tải đựng đầy đường bột lên cao, rồi rải xuống sườn đồi, sau đó chúng tôi lôi xe trượt tuyết lên đỉnh đồi, theo nhau ngồi lên, lao xuống như gió. Nếu xe bị đổ thì tôi lại có cớ để liếm nền đất, ngọt lừ. Bác Ditte ôm chặt tôi, khéo léo lái cho xe trượt tuyết lượn an toàn giữa hàng cây bạch dương, thân cây nào cây nấy phủ kín băng. Khăn quàng cổ của hai bác cháu bay phần phật trong gió.
Buổi sáng sớm ngày đưa tang, tôi sửa soạn xong trước tiên và nóng ruột chờ bố tôi lúc đó đang loay hoay với quần áo của ông. Thoạt đầu, ông khoác sắc phục cảnh sát lên người, nhưng lại chặc lưỡi cởi ra, miễn cưỡng mặc bộ đồ âu màu đen đã lỗi thời, bộ đồ mà ngay từ hồi đám cưới của ông, ông mặc đã chật vai, bây giờ mặc lại càng chật hơn, rồi rốt cuộc, ông thở phào trút bỏ bộ quần áo dân sự và quẳng nó lên giường, trước khi khoác bộ lễ phục của cảnh sát, bộ lễ phục mà như lời anh Klaas đã bảo, mỗi lần ông mặc vào, trông ông lại giống như con vượn trong vườn bách thú, vào ngày Chủ nhật nào đó, được phép khoác bộ quần áo của người canh chuồng thú lên mình. Trông bố tôi như thể hóa trang, chứ không phải đang mặc trang phục bình thường, mọi thứ trên người đều có vẻ giả tạo, chắp vá thế nào đó, và, nếu đã nói đến cái quần, thì phải tận mắt nhìn mới thấy cái đũng quần bộ lễ phục trễ xuống mức nào. Được cái áo thì vừa, có lẽ do lúc may đã tính trước số đo ông sẽ thay đổi theo thời gian.
Bố tôi vùng vằng, giật mạnh tay xuống phía dưới, rồi nhờ mẹ tôi xem ăn mặc thế này được chưa: Thế này được không bà? Ăn mặc thế này được chứ, hả? Mẹ tôi, bà Gudrun Jepsen, hờ hững nhìn ông; bà uống cạn cốc nước pha bột thuốc an thần, rồi tỏ ra đồng tình với ông, bằng cách chẳng nói gì; lát sau, bà ra đứng soi mình trước tấm gương treo ở mặt trong cánh cửa tủ quần áo để xốc lại không biết là lần thứ mấy bộ váy liền áo của bà - bộ váy may bằng lụa đen, không hợp cả với váy trong lẫn quần lót bằng len ở bên trong. Cứ như thế, bố mẹ tôi không khéo còn loay hoay hết cả ngày xem nên ăn mặc thế nào để đi dự đám tang, nếu ông bà không phát hiện ra kẻ đánh lạc hướng mối quan tâm của ông bà. Kẻ đó chính là tôi. Sao thằng nhỏ không mang tất dài màu đen? Mũ nó đâu? Nó mang ủng cao su thế kia, thì làm sao đưa nó ra trước mặt hàng xóm láng giềng được; có mưa có tuyết cũng không được đâu. Mà đã quàng khăn thì phải quàng kín đầu. Còn quần lót nữa? Nó có mặc quần lót không đấy? Đưa móng tay tao xem nào! Tóc với tai thế này này. Lẽ ra bà phải bắt nó đi cắt tóc mới đúng. Hai ông bà bổ nhào vào tôi, sờ chỗ này, nắn chỗ nọ trên người tôi, sửa sang tôi theo ý mỗi người, và khoảng mười một giờ trưa, thì ông bà mới ngã ngửa ra là, nhẽ ra ông bà phải để mắt đến tôi từ trước mới phải.
Thôi, bà để yên thằng nhỏ đấy, kẻo lại muộn mất bây giờ, ông nói với giọng đầy trách móc. Rồi, cả hai chui vào áo choàng, khoác áo mưa ra bên ngoài, và cả ba chúng tôi ì ạch theo nhau xuống dưới tầng dưới, chỗ chị Hilke - tôi phải nói ngay như thế - đang phấn khích và hồi hộp đứng chờ. Sự phấn khích, nỗi hồi hộp ấy, không hợp với quần tất màu đen, đôi giày cao cổ đen, và tấm khăn quàng rộng cũng màu đen nốt của chị. Chị tôi dùng đôi găng tay da chị được tặng hồi Lễ Giáng sinh, đập đập lung tung vào chỗ này chỗ kia trong phòng, đập nhẹ vào cổ tay mình, đập cả mấy con ruồi có lẽ chị tưởng tượng ra đang đậu trên giá treo áo khoác.
Chị làm sao thế? Tôi hỏi. Chắc chắn là để thay cho câu trả lời, chị tôi khẽ đập găng tay lên gáy tôi, rồi đẩy tôi đi trước, bước ra ngoài, giữa lúc trời đang rơi rỉ rả, cả tuyết lẫn mưa. Từ ngoài khơi Biển Bắc, những đám mây sũng nước, mang nặng tuyết, tạo thành một dải đen ngòm buông tấm màn nhờ nhờ trắng đang kéo tới thêm, mang theo tiếng lao xao mỗi lúc một gần. Vừa bước ra ngoài, gió trời lập tức ào tới thử sức chúng tôi, gió ép hai bên mạn sườn, luồn dưới áo choàng; nhưng do áo choàng ai nấy đều cài khuy cẩn thận, gió trời bèn tìm cách thổi phồng áo mưa của mọi người lên. Gió thế này, mặt đường lại trơn, tôi muốn nói cho rõ như vậy, thật khó đi; đến như đứng yên một chỗ trên mặt đường chờ bố tôi - vâng, bao giờ chả thế, tất nhiên ông lại quên cái gì đó, phải quay trở lại - còn vất vả nữa là.
Rốt cuộc, rồi cả nhà cũng lên đường; chị Hilke với tôi đi trước, ông bà Jepsen, bố mẹ tôi - tay nắm tay, không nói năng gì - đi sau hai chị em tôi khoảng năm thước, vâng, ai cũng nhận ra đây là một đoàn vợ chồng con cái, vừa đi qua con đường lát gạch, đang bì bõm vượt lối đi ngập ngụa bùn đất, trước khi bước qua cây cầu gỗ, rồi băng đồng đi về phía nghĩa địa Riepen; khu nghĩa địa này mang tên như thế không phải vì nó thuộc thôn Riepen - ở đây không có thôn nào mang tên như thế cả - mà nó thuộc đất Glüserup.
Nếu ngày thứ Bảy ấy có chiếc máy bay nào bay qua vùng đất chúng tôi, thì có lẽ viên phi công sẽ thấy một bức tranh mà ở giữa là một khu đất nhỏ, bao quanh bởi một dãy bờ giậu thủng lỗ chỗ và bị chia thành hai mảnh hình chữ nhật bởi một lối đi rải sỏi, và từ khắp nơi, từ nhiều phía, như đi theo các cánh sao, người người tụ về đây; họ đi riêng lẻ, hay thành từng nhóm, hoặc xuôi, hoặc cắt chéo hướng gió, hoặc gập người thật sâu đi ngược chiều gió thổi, vượt qua những quãng đồng lầy lội, phủ đầy tuyết đã xỉn màu; họ gặp nhau dọc các quãng đường mòn, hay trên những cây cầu gỗ bắc qua các con mương, dồn ứ lại, chào hỏi nhau qua loa lấy lệ, rồi dồn lại thành đám đông hơn, cùng đi về phía một khoảng đất rộng được đắp cao lên, trên đó dựng độc nhất một tòa nhà cao, nằm trải dài và lợp ngói đỏ. Thêm vào đó, hẳn viên phi công sẽ dễ nhận ra nét giống nhau của đám người dưới đất: ai nấy hối hả, nhưng không ai chạy, mà đều bước đi một cách trật tự đến ngạc nhiên về phía cánh cổng mở rộng, nơi có hai chiếc xe hơi đang đỗ và một chiếc thứ ba nữa đang chạy tới. Ở cổng, đám người dồn tụ lại. Tại đây, người ta chào hỏi nhau lâu hơn, một số còn bỏ những thứ họ mang trên tay xuống, bởi hầu như ai cũng mang thứ gì đó trên tay, tụm thành từng nhóm trò chuyện với nhau, che ô cho nhau. Từ trên không, có lẽ viên phi công vẫn còn nhìn thấy được cảnh này, cảnh nọ, nhưng không còn thấy hết được nữa.
Đến lúc cả nhà chúng tôi gặp ông bà Holmsen, ông Hinnerk Timmsen, cô Hilde Isenbüttel và ông Okko Brodersen trong bộ trang phục nhân viên bưu tá, thì bố tôi nói nhỏ với hai chị em tôi: Cả nhà bám vào nhau nhá, mà liệu chừng đấy, đừng để ai than phiền với tao về chúng mày, nghe không! Đoạn, ông quay sang ông chủ quán Wattblick, để mặc ông này bám lấy ông mà say sưa kể lể, như muốn rủ rê ông nhảy vào một dịch vụ làm ăn mới ông ta vừa nghĩ ra vậy. Sau chiến tranh, ông Jens ạ, ý tôi là sau khi chiến tranh kết thúc. Chị Hilke đeo găng lên tay, nhưng rụt ngón tay vào trong, còn tôi nắm lấy các đầu ngón trống rỗng và rất lạnh đó của găng tay chị; chẳng cần ai bắt, tôi vẫn muốn đứng cạnh chị tôi, bởi tôi thấy chị tôi chưa bao giờ xinh đẹp như thế. Màu đen thật hợp với chị. Càng tiến đến gần nghĩa trang, chị tôi càng có vẻ phấn khích và xúc động; chị luôn nhìn ra xung quanh, như thể muốn tìm ai đó hay cốt để mọi người nhìn thấy mình, cho nên, đôi khi chị lại vô ý giẫm lên vũng nước, làm bắn hết cả bùn lên đùi, thậm chí lên tận đầu gối hơi hơi mập của chị. Mà cũng chẳng riêng gì đùi chị Hilke tôi! Quần nào, bộ tất dài nào tôi thấy cũng đều dính bùn cả. Ông Okko Brodersen, bùn còn bắn đến tận mông. Riêng có bố tôi ít bị bắn bẩn nhất, có lẽ nhờ cách ông bước đi khéo léo hơn người khác.
Người kéo về phía chúng tôi mỗi lúc một đông, chào chào, hỏi hỏi: các ông Karl Wilhelm Bühning và Jens Lampe, bà Hedwig Struwe mà ở vùng này, mọi người chỉ gọi là Mẹ Struwe, các ông Anker Bulk và Detlev Hegewisch, cùng hai chị em Gierling lớn nhanh như thổi, ông kiểm đê Bultjohann cùng thầy giáo Plönnies, bà Söllring cưỡi con ngựa thiến gầy nhom từ trang trại của bà ta đến, hai ông Jap Leuchsenborn và Paul Flehinghus - cả hai đều là họa sĩ cùng hội cùng thuyền ở Glüserup, chuyên vẽ người lúc họ lang thang trên đường và các phong cảnh giàu kịch tính của biển cả, bà giáo Booysien và ông thợ mộc Heck, một người bị bệnh gút nặng, và cũng là ông thợ đã thửa áo quan cho bác Ditte.
Thật khó mà tin được rằng dân tình quê hương chúng tôi lại lắm dạng người như thế. Mọi người chen chúc, xô nhau leo lên con dốc đi về phía nghĩa địa, cảnh tượng này đến là trái ngược so với khung cảnh ảm đạm ở xung quanh. Nếu lấy vé vào cửa thì không biết sẽ còn thế nào! Người ta đứng trên lối đi chính, thành từng nhóm, nom đen sì bên các nấm mồ đã hơi lún xuống; họ đứng ra trước lẫn ra sau ngôi nhà nguyện nho nhỏ và buồn thảm, họ đứng dưới hàng cây bạch dương rỏ nước tong tỏng, họ đứng sát bên hàng giậu đã bị gió thổi làm nghiêng ngả. Không thấy, mà cũng không nghe thấy viên thuyền trưởng Andersen đâu, nhưng Jutta thì đã có mặt ở đó, gương mặt nhợt nhạt và chăm chú, đứng bên cạnh Jutta là thằng quỷ sứ béo ục ịch, bị người ta nhét vào một bộ quần áo đen, đan bằng thứ sợi gì đó mà tôi chỉ thầm mong sao sẽ làm nó phải ngứa ngáy càng nhiều càng hay. Bốn người nhà tôi chiếm được chỗ khá tốt trước nhà nguyện, nhưng dần dần lại bị đám đông lấn ra một lối đi phụ, trước mấy ngôi mộ trọc lóc, với mấy cây chữ thập bằng gỗ đã bạc thếch cắm ở đầu mộ, lún sâu xuống bùn; các cây thập tự đều khắc tên người nước ngoài. Đôi con quạ nhằm hướng nghĩa địa mà bay, song lúc đến gần, chúng lại bay ngoặt sang hướng khác; vâng, bao nhiêu chim chóc ở đây hôm nay chỉ có thế. Không thấy bóng một con hoét mỏ đỏ nào, không thấy con ác là hay con sẻ núi nào sà đến, đến chim bạc má cũng chẳng thấy bóng dáng con nào lảng vảng. Chị Hilke kéo tôi vượt dãy các ngôi mộ đến hàng giậu bằng cây nhai bách. Hai chị em chui qua được hàng giậu thì đâm ngay ra một khoảng trống, tuy có chật chội, nhưng nằm ngay trước nhà nguyện. Trên nóc nhà nguyện là con gà báo hướng gió cắt từ tôn tấm đang bị gió thổi nằm ngang ra, và trông có vẻ như đang chăm chú rình bắt giun dưới đất.
Bác họa sĩ ư? Tôi không thấy bác ấy đâu cả, cả ông Teo Busbeck cũng không thấy bóng dáng đâu; có lẽ hai ông đều đã ở bên trong nhà nguyện; tôi không biết tại sao, nhưng đến giờ cửa dẫn vào nhà nguyện vẫn đóng im ỉm; một người đàn bà đứng trước mặt chị em tôi - nhìn từ phía sau, trông bà ta giống như một chiếc bánh mì gối nướng quá lửa - nói với một người đàn ông gầy gò, cao nghều, chân vòng kiềng: Còn đứng lâu thêm ở đây, thì không khéo rồi đến lượt tôi đi cũng nên. Ai đứng gần nghe bà ta nói, đều tỏ ý đồng tình, riêng có ông khổng lồ chân vòng kiềng, cao lớn vọt hẳn lên, là chẳng buồn để ý đến thiên hạ ở phía dưới, và tỏ ra bằng lòng với mọi sự ở bên trên, nên không thấy phải than vãn ỉ eo điều gì. Cũng cần nói thêm, tên ông này là Fedder Magnusen, và nếu tôi nhớ không nhầm, thì ông ta là chủ xưởng đóng thuyền buồm ở Glüserup.
Thôi, tôi không muốn để người đàn bà trông giống như chiếc bánh mì gối lẫn cả đám người đi dự đám ma đang bị cóng này đứng lâu ngoài trời và bị nhiễm lao hay sưng phổi, cho nên tôi để ông gác nghĩa địa tên là Fenn, một người mà từ rất xa đã biết mắc bệnh thối mồm, mở cánh cửa sơn màu nâu đỏ ra vậy. Ông ta cài chốt chặn cánh cửa lại, rồi cúi đầu theo một kiểu khiến mọi người đều hiểu, ông mời họ bước vào bên trong. Thế là mọi người xô nhau đi vào nhà nguyện, rồi trèo lên và ngồi ép sát vào nhau trên những hàng ghế băng đã quá hẹp, lại quá cao.
Đến lúc này, thì tôi nhìn thấy bác họa sĩ và Tiến sĩ Busbeck. Hai ông ngồi ngay hàng ghế đầu, sát lối đi ở giữa nhà nguyện; hai ông đều nhìn trân trân vào đống hoa chất cao như núi, thỉnh thoảng mới để ló ra đôi mảng gỗ đánh véc ni nằm phía dưới. Nến cháy, ngọn không yên, lung lay bên này bên kia vì gió lùa. Linh mục Bandix đứng bên bàn thờ, và có lẽ, đang ngắm nghía móng tay mình thì phải. Trong nhà nguyện thoang thoảng hương nấm - hương nấm mào gà, pha hương nấm champignons. Chị Hilke tháo găng tay, cuộn lại nắm chặt trong lòng bàn tay, và hình như không còn sức để ngước mắt nhìn ra xung quanh với vẻ háo hức như lúc nãy nữa. Còn tôi, thì hai chân tê cứng, giống như mỗi khi tôi phải ngồi trên ghế băng nhà ông ngoại tôi ở Külkenwrarf.
Mà tại sao họ không đóng được cửa lại nhỉ?
Nhiều người, cả tôi cũng vậy, quay đầu nhìn ra cửa. Ông Fenn gác nghĩa địa có vẻ muốn đóng cửa lại lắm, nhưng không đóng được, bởi số người đến đưa đám, nhưng không tìm được chỗ trong nhà nguyện, nhao nhao phản đối vì họ không muốn phải đứng chầu rìa bên ngoài trước nhà nguyện. Cho nên, rốt cuộc, cánh cửa cứ để mở nguyên như thế. Và, ông Fenn ra hiệu cho linh mục Bandix; ông này ngẩng mặt cùng đôi kính mắt lấp lánh nhìn lên nóc nhà như thể tìm kiếm cái gì trên đó, rồi dang hai tay lên cao, cử tọa đứng lên cầu nguyện, ngồi xuống, rồi lại nhổm dậy ngay để cùng hát thánh ca: “Nếu con phải lìa khỏi cõi đời”. Chị Hilke tôi hát say sưa, giọng cất cao, và không cần liếc đọc lời in trên giấy. Bác họa sĩ cũng hát, cả bố tôi, đứng sau bác ba hàng ghế, cũng vậy. Chỉ mẹ tôi là không.
Trong mọi việc con làm ở đời, linh mục Bandix nói, con đều nghe theo ý Đấng Tối Cao răn dạy. Rồi, chờ cho mọi người ngồi yên chỗ trở lại, ông mới nói, vì sao ông hành động như vậy.
Vâng, ông phác họa một vị tướng quân, dĩ nhiên là dũng mãnh phi thường, và đương nhiên, cũng khôn ngoan nhất mực, một vị tướng quân đánh đâu thắng đó, bởi vậy nên hùng cường, một nửa thế giới - hay nói theo lời linh mục Bandix là một nửa địa cầu - đã lọt vào tay ông ta. Thế giới hay địa cầu thì cũng vậy thôi, song điều lạ lùng là ở chỗ, vị tướng quân mà danh tính không được lộ ra này càng chiến thắng nhiều, càng chinh phạt thành công, ông ta lại càng buồn bã; thậm chí đã có lần ông ta đâm ra u sầu, ủ dột ngay cả trước mặt kẻ hối hả đem tin về một cuộc hành quân nhân danh ông vừa đại thắng ở nơi nào đó; vâng, ông ta sinh ra u sầu, ủ dột như thế chỉ vì - chắc quý vị cũng đã đoán ra rồi - các cuộc chinh phục kết thúc thắng lợi càng nhiều, thì càng nghèo cơ hội cho các cuộc chinh phục mới.
Bây giờ thì mọi người đều vỡ nhẽ vì sao vị tướng quân này chậm trễ trong việc chinh phục những quốc gia còn sót lại, thế nhưng, dù cho ông ta có cố tình trì hoãn các cuộc chinh phạt thế nào đi nữa, ông vẫn không ngăn cản được việc, đến một ngày nào đó, toàn thế giới - tức là toàn bộ địa cầu, theo ý linh mục Bandix - sẽ lọt vào tay ông ta. Thôi, thế giới hay địa cầu cũng vậy, vào lúc nỗi chán chường lên đến tột đỉnh, vị tướng quân nọ bàn bạc với các nhà chiêm tinh học của ông ta, và các vị này quả đã tìm được phương kế làm vui lòng vị tướng quân đang lúc nản lòng; vâng, họ hiến kế với tướng quân, gọi là để giải trí, ông nên lên đường chinh phục các khoảng không gian rộng lớn của bầu trời. Tướng quân tươi tỉnh hẳn ra, kế hoạch chinh phục bầu trời lôi cuốn ông ta đến nỗi, ông ta ngang nhiên báo trước cho Thượng đế biết, ông ta sẽ đánh chiếm các khoảng không trên bầu trời của Người; thế nhưng, chuyện chẳng đi được xa đến thế, bởi vì Thượng đế lại cho rằng, tướng quân đánh chiếm như thế đủ rồi, bây giờ đã đến lúc phải chuẩn bị mà chết, về phần mình, tất nhiên tướng quân không vui vẻ gì với ý đồ đó của Thượng đế, và tìm cách cưỡng lại cho bằng được; ông ta báo cho Thượng đế biết, ông ta, hay đúng hơn là vô số lính gác của ông ta, sẽ dư sức cấm cửa Thần Chết bất cứ lúc nào. Ấy vậy, nhưng tướng quân đã rất đỗi kinh ngạc, khi ngay tối hôm sau Thần Chết điềm nhiên bước vào lều của ông mà không hề gây chút tiếng động nào. Ông ta chuyện trò với Thần Chết, xin Thần Chết cho ông được hưởng cơ hội cuối cùng. Thần Chết cho ông ta hưởng cơ hội đó, và ông ta sai thắng con ngựa nhanh nhất trần gian cho mình, rồi cưỡi ngựa phi tới vùng đất xa xôi hẻo lánh do ông ta sở hữu ở Libanon, nơi có các vườn cây vươn ra biển. Rốt cuộc, ai đang chờ ông ta trong vườn? Đúng rồi, Thần Chết chứ còn ai. Và Thần Chết còn xin lỗi vị tướng quân nọ vì đến đón ông ta quá sớm, sau đó Thần Chết mời ông ta bước lên trước. Vị tướng quân nọ ngoan ngoãn nghe lời, và trên quãng đường cuối cùng ấy, thậm chí lòng ông ta còn tràn ngập một niềm vui ngạo mạn, không, ý linh mục Bandix muốn nói là niềm vui trầm lặng, khiến ông phải nhún vai - hỏi ở giây phút cuối cùng này, rốt cuộc ông ta sực hiểu, dù các chiến công của ông có lớn lao hiển hách đến thế nào, ông vẫn phải cúi đầu tuân theo ý nguyện của Đấng Tối Cao.
Nói đến đây, linh mục Bandix ngừng lại lấy hơi, đưa mắt mạnh bạo soi mói nhìn đám cử tọa dự lễ tang từ trái sang phải, từ phía trước ra phía sau nhà nguyện, và lúc ông ta vung tay, đưa ngón tay trỏ chỉ qua đầu tôi ra sau, thì tôi cũng bất giác quay người nhìn theo, và nhận ra ngay hai cái áo choàng da ánh màu đùng đục lặng lẽ ngồi sát cánh bên nhau, tay áo xắn lên đều như hai hình nộm xuất từ cùng một lò ra vậy.
Thế nhưng, tình yêu thương, linh mục Bandix hô to, tình yêu thương sẽ không chấm dứt ở đâu cả! Nói xong, ông ta hạ tay xuống, chỉ vào núi hoa phủ lên nơi bác Ditte đang nằm; chờ một lúc không thấy có gì xảy ra, ông ta bèn thu tay lại, gật đầu với bác họa sĩ, rồi quay sang phía bác Ditte, ông nói tiếp với giọng sang sảng: Chuyến đi của con đến đây là hết! Đoạn, ông ta ngừng nói. Tiếng khóc thút thít, sụt sịt cất lên mỗi lúc một to, cả một tiếng khóc to thành tiếng hu hu rền rĩ, một tiếng khóc tôi nghe cứ như tiếng còi báo có mây mù, tiếng khóc chắc chắn chỉ của Mẹ Struwe mà thôi, chứ không thể của ai khác. Lúc này, với giọng dịu dàng từ tốn - một giọng nói mà lúc giảng đạo ông chẳng bao giờ dùng - linh mục Bandix vội chuyển sang điểm lại các chặng đường trong đời bác Ditte.
Ông ta để bác Ditte quay lại làm đứa bé gái, mặc váy trắng, mang giày trẻ con cũng màu trắng, ở trong ngôi nhà rộng rãi và yên tĩnh tại Flensburg; tiếng mẹ, tiếng bà dặn dò, con ơi, cháu ơi, đừng ra ngoài vườn lâu quá, đừng ra bãi biển, phải giữ giọng mà hát, Giáo sư Ziegel sắp đến rồi. Vị giáo sư thanh nhạc miệng luôn tươi cười, quần áo luôn trịnh trọng ấy, đệm đàn cho con bé hát bên cây đàn dương cầm chỉnh âm hơi cao, và ông ta có đủ cớ để hài lòng, bởi ít gì ông ta cũng được trả lương khá hậu. Và chính ông ta cũng là người nằm trong số các thành viên thuộc tầng lớp trên ở thành phố tỉnh lẻ này, những người thật sự xúc động mỗi khi được nghe đứa bé gái hát những ca khúc ngắn và duyên dáng, vào những lúc ăn tráng miệng, tại các buổi dạ tiệc mùa đông, còn tôi, tôi tự hỏi, tại sao đứa bé dịu dàng, đã quá mệt mỏi vì phải ca hát ấy không được làm trẻ con mãi, tại sao linh mục Bandix cứ bắt nó phải lớn lên, bắt nó phải vào học trường Cao đẳng âm nhạc, rồi đóng vai diễn đầu tiên trong vở Nàng dâu bị bán mới được chứ? Song, ông ta vẫn leo tiếp, từng nấc từng nấc, trên các nấc thang trong cuộc đời bác Ditte; ông nhắc đến các sân khấu nhỏ, đến tình bạn với nhạc sĩ Friedrich Drews, người từng sáng tác các ca khúc hát về đêm, các bản aria cho bác, đến mối lo khôn nguôi bác dành cho người em trai bị liệt, mãi cho đến khi rốt cuộc bác gặp ông Max Lugwig Nansen; lần gặp đầu tiên tại bưu điện, ở quầy phát tiền, nơi mà cả hai - dường như đã đoán trước như thế - hỏi gì cũng chỉ thấy viên nhân viên bưu chính lắc đầu; họ chỉ còn đủ tiền uống với nhau tách cà phê, nhưng một tuần sau, hai người đã tự tay viết giấy mời đám cưới đi khắp nơi. Linh mục nhắc đến đám cưới hai người, một đám cưới vắng mặt bố mẹ hai bên, đến chuyện bác Ditte bỏ việc, đến quãng thời gian dài chịu đựng nghèo khổ và cuộc sống tủi nhục của nghệ sĩ không tên tuổi, bị hiểu nhầm và ruồng rẫy, không nơi nương tựa của hai người. Bệnh tật khắc tự kéo đến trong hoàn cảnh đó, một hoàn cảnh khiến người đàn bà trẻ phải lam lũ, phải già trước tuổi - những điều dường như ai cũng hình dung được ấy - và về đêm, hẳn hai người cùng húng hắng ho, nhưng chẳng bao giờ than vãn, mè nheo; bác đã âm thầm, lặng lẽ chịu đựng cảnh sống lang thang, ăn nhờ ngủ đậu ấy thế nào, thì sau này, lúc vang danh nổi tiếng và chói lọi hào quang, bác cũng âm thầm lặng lẽ như thế; âu đó cũng là các bước thăng trầm trong cuộc đời mà linh mục Bandix gọi là “các đỉnh cao cùng vực thẳm trong cuộc đời nghệ sĩ chân chính” vậy. Đối với chồng con, ông ta nói hướng về phía bác Ditte nằm, con là hiện thân của tất cả những gì ai cũng khao khát, nhưng chỉ ít người mới tìm được, con là người đồng hành ở thời chồng con mở đường đột phá, là người an ủi cưu mang những lúc chồng con lầm đường lạc lối, là người chia sẻ yêu thương vào những năm tháng chồng con rơi vào cảnh lẻ loi, đơn độc.
Tiếng thút thít, sụt sịt lại cất lên, họa cùng Mẹ Struwe, từ bên ngoài vọng vào thêm một tiếng khóc ai oán nữa, cũng hu hu như còi báo động sương mù, trong khi linh mục Bandix đã bước lên đến các nấc thang cuối cùng trong cuộc đời bác Ditte và lên giọng nói về niềm hạnh phúc, về “niềm hạnh phúc lứa đôi”, niềm hạnh phúc nhất định sẽ để lại các dấu vết trên đời, cho dù các linh hồn đen tối - ông ta nói đúng như thế: các linh hồn đen tối - cất công tẩy xóa các dấu vết đó đi. Cuối cùng, ông kết thúc cuộc hành trình của ông bằng câu nói: Hãy trông đây, cuộc đời con đã không hề trôi qua vô ích. Sau đó, linh mục mời cử tọa một lần nữa cầu nguyện và cất tiếng hát thánh ca.
Và, sau khi mọi người cầu nguyện và hát thánh ca, ông Fenn gác nghĩa địa dẫn sáu người khênh quan tài bước vào, ông nào ông nấy đều già một lượt, bàn tay nứt nẻ và trên cổ ai cũng hằn những vết xước đen đen. Mọi người lặng yên đứng nhìn họ dẹp các vòng hoa lẫn bó hoa sang một bên. Bác họa sĩ và ông Teo Busbeck đi theo quan tài trước tiên, sau đó đến Jutta và thằng Jobst cùng linh mục Bandix, tiếp theo nữa là mấy người đàn bà đến từ Flensburg mà tôi chưa gặp mặt bao giờ; rồi đến lượt mọi người theo nhau, xoay mình rời ghế băng, người sau theo người trước, nhập vào hàng người đưa đám, như cô Hilde Isenbüttel, hay bà Holmsen chẳng hạn, còn bố tôi cố tình tụt lại phía sau, chờ mãi một lúc mới chen vào hàng, và hình như làm như thế chưa đủ, ông còn cúi mặt xuống, cốt để không ai nhìn thấy, hay nhận ra mình; cố tình kín đáo hơn nữa là hai cái áo khoác bằng da, họ nem nép đi sau rốt. Lúc bác họa sĩ bước qua chỗ tôi đứng, gương mặt bác râu cạo qua loa, nhợt nhạt, đăm chiêu, làn da có vẻ xù xì, ram rám do trời lạnh.
Tôi bỏ chị Hilke lại một mình, vòng bên trái dòng người để chạy lên trước và kịp đến miệng huyệt gần như cùng một lúc với mấy người khênh cỗ đòn. Huyệt không sâu như tôi tưởng, tứ bề miệng huyệt đều lát gỗ ván; dưới đáy có ít đất nhão và xâm xấp nước, nhưng không phải do nước nguồn ngấm lên, mà nước do tuyết tan. Bên các thành huyệt lộ ra những bộ rễ cây trăng trắng bị thuổng đào xắn đứt; mà nói chung, cứ nhìn lớp cát và đất sét dày chưa đầy nửa mét, là đủ nhận ra ngay rằng nghĩa địa Riepen này do dân tình đắp đất lên mà thành. Phía dưới là lớp đất bở màu nâu nâu, đen đen, nếu có xắn để lấy than bùn cũng vẫn được. Bác họa sĩ nhìn tôi, tôi chào bác, nhưng bác không đáp lại, bác đang mải đỡ ông Busbeck lúc này như sắp bị chiếc áo khoác nặng nề và sũng nước kéo ngã, trong đôi ủng cao su quá rộng, ông không đứng được vững trên nền đất sét trơn chuồi chuội. Ông Fenn ra tay làm hiệu, và những người khênh cỗ đòn hạ quan tài, luồn dây thừng xuống phía dưới, rồi giữ chặt đầu dây, và tôi phải nói thế, họ lăm lăm chuẩn bị hạ huyệt; song, trước khi họ hạ quan tài xuống huyệt, linh mục Bandix giơ một bàn tay lên bên trên miệng huyệt, phe phẩy như phe phẩy một tờ giấy mỏng, vâng, ông ta ban phúc lành cho chiếc áo quan, bàn tay cứ phe phẩy mãi không yên, mãi đến lúc cất tiếng cầu nguyện, ông mới xoay xoay hạ nó xuống. Dứt lời cầu nguyện, mấy người khênh áo quan hơi nâng áo quan lên, trước khi buông dây từ từ hạ nó xuống huyệt. Trong lúc đó, bác họa sĩ quàng tay lên vai ông Teo Busbeck, kéo ông này thật sát vào người bác, khiến thân mình hai người tạo thành một hình tam giác bên miệng huyệt.
Có sự cố nào không ư? Có tiếng ai kêu thét lên không ư? Hay một ca ngã ngất đầy ấn tượng bên miệng huyệt ư? Dù có muốn, tôi cũng không muốn vẽ ra đây những cảnh tượng đó, tôi cũng bỏ ý định nhắc lại những lời thề thốt, lời cáo biệt hay ước nguyện điên cuồng người ta thường vẫn cất lên bên miệng huyệt, nhất là trong cảnh tượng trời đất thế này; bởi vì, sau khi áo quan nằm lọt hẳn xuống huyệt, bác họa sĩ và ông Teo Busbeck thay nhau ném những vốc cát đầy xuống huyệt, rồi họ cùng bước ra đứng ở một góc hàng rào, một góc mà ai tiếp theo, sau khi ném một vốc cát lên nắp quan tài xong, đều phải đi ngang mặt hai ông. Và, nhiều người cúi xuống - mặc dù có một chiếc xẻng con nằm sẵn ở đó - khum khum bàn tay vốc mỗi người một vốc cát, rồi rải xuống rào rào, hay - nếu cát không may vón cục - ném bùm bụp lên nắp áo quan, trước khi đưa tay bắt tay bác họa sĩ và Tiến sĩ Busbeck, nói với họ đôi lời, hoặc chẳng nói năng gì.
Tôi chờ chị Hilke đến lượt, len vào ngay sau chị, dùng cả hai tay vốc hai vốc cát đầy thả lên bác Ditte nằm phía dưới, rồi tiếp theo chị tôi, tôi cũng bắt tay cả hai ông. Đến lượt bố tôi, đi từng bước chậm rãi giữa hai ông Brodersen và ông Bultjohann đến sát bờ huyệt, ném hai vốc cát đầy xuống đó, rồi bước tiếp - và tôi sẽ không bao giờ quên vẻ mặt khô khan, ra bộ dửng dưng lúc đó của ông - đến gần ông họa sĩ; ông này cũng lặng lẽ nhìn bố tôi, bình thản và chăm chú như nhìn những người khác mà thôi. Mọi sự đều có vẻ bình thường, có vẻ sẽ chẳng có gì xảy ra. Mọi sự có vẻ sẽ kết thúc bằng một cái bắt tay ngắn ngủi, và như thường lệ, bằng lối hơi lên giọng, gọi tên nhau thay cho lời chào. Ông Max? Ông Jens?
Thế nhưng, lúc ông họa sĩ nắm tay viên cảnh sát, và giữ lâu hơn giữ tay mọi người khác một tí, thì có thể nhận ra ngay, rằng trong đầu ông vừa nảy ra một ý nghĩ nào đó, rằng ông muốn nói điều gì đó ra, ngay lúc này, ngay vào thời khắc mọi người đang lần lượt tiến về phía ông để nói đôi lời chia buồn này. Ông còn sang nhà tôi một lát nữa chứ, ông Jens? Bác họa sĩ hỏi khẽ, và bởi vì bố tôi - như thể đã chờ sẵn câu hỏi đó - đáp rất nhanh: Không, tôi không sang đâu, nên bác lại nói tiếp: Có cái này, tôi phải cho ông xem, ông Jens ạ. Bố tôi nhún vai, tỏ thái độ không thiết tha lắm: Sao kia? Có cái gì mới được chứ? - Còn mấy bức chân dung cuối cùng của bà Ditte nhà tôi, bác họa sĩ nói, giọng không mang chút ác cảm nào, mà nhuốm vẻ giễu cợt một cách thân mật thì đúng hơn. Ông ghé sang, tôi cho ông xem.
Sau đó, viên cảnh sát Rugbüll thấy không cần thiết phải bắt tay cả ông Teo Busbeck nữa, nên ông mím môi quay người, bước gấp lên lối đi cắt giữa nghĩa địa, nơi một mình mẹ tôi đang đứng đợi ông. Ông hấp tấp khoác tay bà, toan kéo bà đi thì chợt nhớ đến hai chị em chúng tôi, liền quay ngoắt người, quay gấp đến nỗi làm mẹ tôi, lúc đó đang khoác tay ông, phải loạng choạng bước vòng mấy bước. Vâng, vâng, chúng con đây, chúng con đến ngay đây; tôi ngoan ngoãn chạy lon ton bên cạnh chị Hilke, tay bíu chặt vào găng tay chị tôi. Bây giờ thì ông bà già chúng tôi đi trước, không nói không rằng, thỉnh thoảng gật đầu chào lấy lệ, chẳng mấy niềm nở, người này người khác, và qua những bước đi hấp tấp đó của mình, viên cảnh sát Rugbüll để lộ cơn tức giận đang sục sôi trong lòng ông. Ông không bắt chuyện ai, cả trước nhà nguyện lẫn ngoài cổng nghĩa địa, và lúc nghe tiếng viên thuyền trưởng Andersen ới gọi: Thế ra mọi việc xong hết rồi à?, ông cũng chỉ gật đầu cho qua chuyện; đến dừng lại nói vài lời với ông già này - lúc đó vừa được người ta quấn chăn và đánh xe ngựa đưa đến đây - ông cũng chẳng buồn dừng.
Vẫn nhanh chân bước đều đều như thế, cả nhà chúng tôi theo nhau vượt qua các cầy cầu, các đoạn đường mòn, băng qua đồng, lội qua các vũng nước, chui cả hàng giậu, và, ở quê tôi bao giờ cũng trớ trêu thế, gió lại đổi chiều, khiến chúng tôi bây giờ lại phải ngược gió mà đi. Ấp Bleekenwarf phơi ra trước mắt chúng tôi, trên khu đất phủ tuyết, dưới những hàng cây bạch dương trụi sạch lá. Ở đó sắp có bữa tiệc cà phê bánh ngọt, vâng, tuy sẽ không có bánh ga tô trông như những ngọn tháp màu vàng của bác Ditte trên những chiếc bàn kéo ra kéo vào nữa, nhưng sẽ có bánh nướng, bánh mật, bánh hạnh nhân cùng bao nhiêu thứ khác, đang nằm phơi sẵn trên các bàn chính lẫn bàn phụ. Mấy bà từ Flensburg đến chắc chắn đã lo liệu, sắp xếp từ trước, và họ đương nhiên cũng biết cả nhà chúng tôi ai nấy đều ưa bánh ngọt. Nhưng lúc chúng tôi đi ngang Bleekenwarf, bố tôi không buồn cả đưa mắt nhìn sang. Nghiêng người, đưa một bên vai ra trước chống lại gió, ông thúc chúng tôi đi một mạch đến chỗ cửa cống. Ở đây, ông quay người, và chúng tôi cũng quay người, trong bụng ai nấy có lẽ đã thầm nghĩ, không khéo bố tôi đổi ý ở giây phút chót, và sẽ xua cả nhà quay lại Bleekenwarf cũng nên. Từ phía nghĩa địa, một đoàn người - đứt thành từng đoạn, đoạn này một người, đoạn kia một nhóm hai, ba người, hay đông hơn - đang nối đuôi nhau kéo về đó, về Bleekenwarf.
Nhưng hóa ra bố tôi chỉ quay người để tránh gió, đưa tay lau nước mắt, vì bị cay gió mà ứa ra trên khóe mắt, rồi bước tiếp lên lối đi lát gạch về nhà. Thường thường, sau mỗi chuyến đi như thế, có bao nhiêu chuyện để hỏi, để chia sẻ cho nhau, nhưng vừa đóng cửa vào, bố tôi đã bực dọc ôm ngay lấy cái lò sưởi, cho thêm than vào, chọc chọc, thổi thổi, và như thế, cho mọi người biết, ông không thiết chuyện trò gì lúc này. Chờ mẹ tôi và chị Hilke lui về phòng, ông lệnh cho tôi lên gác mang bộ sắc phục cảnh sát xuống cho ông, và trong lúc lò sưởi phun khói thành làn bay khắp nhà và làm mờ cả mắt, thì bố tôi bắt đầu thay quần áo. Ông thở phào, nhẹ cả người! Ông dần dần trở nên vui vẻ hơn, và có vẻ như cởi quần áo ngoài ra đến đâu thì băng giá trên người ông tan ra đến đó, khiến ông khoan khoái, thoải mái hơn, cho nên, lúc có tiếng ai gõ ở cửa bếp, ông không nói cộc lốc: Cứ vào, mà lại nói, với giọng pha trò: Ai không mang tin dữ, thì cứ vào.
Tôi vẫn nhớ, lúc ông Okko Brodersen bước vào, bố tôi vẫn còn nguyên bộ quần áo lót trên người; ông Brodersen vẫy vẫy tay chào rồi đi ngay đến bên bàn, lôi đồng hồ quả quýt ra đặt trước mặt. Như thế, ông báo cho bố con tôi biết, ông đã tự đặt cho mình một mốc thời gian - tuy không nói rõ là mốc thời gian dài bao lâu - để lưu lại đây. Xong đâu đấy, viên bưu tá ngồi xuống ghế. Cánh tay áo rỗng, ông nhét vào một bên túi áo khoác. Ông liếc nhìn đồng hồ, ngẩng lên nhìn bố tôi, rồi lại liếc nhìn xuống đồng hồ. Hẳn ông cũng băng đồng đến đây như chúng tôi lúc nãy.
Hôm nay ông không mang gì đến cho nhà tôi cả thế, bố tôi nói, lúc đang đứng trên chiếc ghế kê chân, hai tay căng lưng quần, chuẩn bị xỏ chân vào. Không, hôm nay không mang gì đến, viên bưu tá đáp, tôi đến đón… - Sao, đón ai? - Đón ông, chứ đón ai! Bố tôi loạng choạng lúc xỏ chân phải vào ống quần, rồi hạ quần xuống, nhấc chân trái lên, tính xỏ vào ống bên trái, nhưng trượt sang bên, ông lại hạ quần xuống, vùng vằng xỏ chân lần nữa vào ống quần bên trái, kéo cái quần lúc ấy đang vướng ở bắp chân lên đùi, để rốt cuộc xốc được nó lên che kín phần mông. Thế là ông mặc quần xong. Ông đón tôi đi đâu đấy? Bố tôi vẫn đứng trên ghế để chân hỏi vọng xuống. Chúng tôi đang ngồi cả ở Bleekenwarf, ông Brodersen nói, chỉ còn thiếu mình ông. Không ai bảo tôi đi đón ông cả, nhưng tôi nghĩ, chỉ còn thiếu mình ông, ông Jens ạ. Ông đi với tôi.
Bố tôi sửa sang lại dây nịt tất chân và nịt cổ tay áo, kéo vòng cao su vào đúng chỗ. Thiếu còn hơn thừa, bố tôi nói. Các ông nên nói với nhau đôi lời, ông Brodersen nói. Thì chúng tôi vừa nói với nhau đấy thôi, bố tôi đáp, có gì cần nói, chúng tôi đã nói hết rồi còn đâu. Bố tôi bước từ trên ghế kê chân xuống, tiến tới tấm gương treo trên chậu nước rửa, đứng giạng chân thắt lại cà vạt cho ngay ngắn. Ông Brodersen nói hướng vào lưng bố tôi: Thời buổi này, ai biết mọi sự còn kéo dài bao lâu. Lại đúng ngày hôm nay nữa. Các ông phải tự hỏi xem, nên làm cái gì bây giờ; mọi sự sẽ chẳng còn lâu nữa đâu.
Này ông Okko, bố tôi nói, ông vừa nói gì, tôi coi như không nghe thấy nhá. Và nếu ông muốn biết tôi nghĩ thế nào, thì tôi nói để ông nghe luôn: tôi không hỏi xem, nếu tôi thi hành nghĩa vụ của tôi thì tôi sẽ được hưởng những gì, liệu như thế có lợi cho tôi hay không. Rồi ta sẽ đi đến đâu chứ, nếu lúc nào ta cũng hỏi rồi cái gì sẽ đến với ta? Không biết ông có hiểu tôi không, nhưng tôi thì tôi nghĩ, đã có nghĩa vụ phải hoàn thành, thì người ta không thể hoàn thành nó tùy hứng hay phải thận trọng tùy theo hoàn cảnh được, ông ạ. Bố tôi khoác áo khoác lên người, cài khuy cẩn thận rồi bước tới bên bàn, nơi ông Brodersen đang ngồi. Thế nhưng, cũng có người chỉ thoát được nạn, viên bưu tá già chậm rãi nói, nếu biết ngừng thi hành nghĩa vụ đúng lúc đấy ông ạ. - Thế thì hắn ta chưa bao giờ thật sự thi hành nghĩa vụ của hắn cả, bố tôi đáp khô không khốc.
Ông Okko Brodersen đứng dậy, đút đồng hồ vào túi, rồi bước ra cửa; đứng ở đó, ông quay lại lần nữa, cất tiếng hỏi: Thế là nhất định không đấy phỏng? Tôi thấy bố tôi thoáng vẻ lưỡng lự, cân nhắc, nhưng chưa đáp, viên bưu tá hỏi lại lần nữa mà bố tôi vẫn chần chừ thêm một lát để nghĩ ngợi. Rốt cuộc, ông nói: À! Ông chờ tôi, tôi với ông đi cùng. Sau đó ông biến vào trong phòng giấy.
Chỉ còn lại hai bác cháu trong bếp, ông bưu tá nói với tôi: Cháu mỗi ngày một lớn nhỉ. Còn tôi, tôi đáp đại loại: Còn bác mỗi ngày một già. Ông già nói với chị Hilke lúc ấy vừa bước vào bắc bếp luộc khoai tây: Rồi hôm nào bác lại đem cho cháu bức thư tuyệt vời, nếu không gửi từ Hà Lan thì từ Bremen gửi về. Trước một lời hứa như thế, chị Hilke chỉ còn biết đáp lại: Nhưng, cháu có chờ thư ai ở đó đâu. - Những bức thư không mong chờ là những bức thư tuyệt nhất đấy cháu ạ, ông Brodersen nói, và rõ ràng, đây không phải lần đầu ông nói như thế.
Lúc quay lại, bố tôi đã choàng áo mưa còn ướt lên người, đầu đội mũ, ống quần nhét vào ủng cao su; ông đã sẵn sàng lên đường, và nói: Ông Okko, ta đi thôi. - Bố còn phải đi đâu à? Chị Hilke hỏi to. Tao sang Bleekenwarf, bố tôi đáp, có mấy bước chân ấy mà. - Con đã luộc khoai rồi đây này, chị tôi nói, và giọng của chị nghe như dọa dẫm. Tao chỉ cần đưa cái này sang đấy, viên cảnh sát đáp, rồi về ngay thôi. - Chứ mẹ hỏi thì sao cơ? - Bảo bà ấy, tao đem lệnh phạt sang bên Bleekenwarf; đến bữa ăn tao khắc về.